Bên cạnh những kết quả đạt được, việc tuyên truyền phổ biến Luật Hợp tác xã năm 2012 cũng như pháp luật về HTX vẫn còn những tồn tại hạn chế nhất định; một số quy định chưa phù hợp với đ
Trang 1HUỲNH HOA THIÊN LÝ
PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP
VÀ THỰC TRẠNG TẠI TỈNH TÂY NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2020
Trang 2HUỲNH HOA THIÊN LÝ
PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP
VÀ THỰC TRẠNG TẠI TỈNH TÂY NINH
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS VÕ TRÍ HẢO
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Huỳnh Hoa Thiên Lý là học viên lớp Cao học Khóa 28 chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Pháp luật về hợp tác xã nông nghiệp và thực trạng
tại tỉnh Tây Ninh”(Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một
số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực
Tác giả luận văn
HUỲNH HOA THIÊN LÝ
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, PHỤ LỤC
TÓM TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 3
3.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu: 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu: 4
4.2.1 Về không gian 4
4.2.2 Về thời gian: 5
5 Câu hỏi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 6
8 Cấu trúc của luận văn 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP 7
1.1 Khái quát về Hợp tác xã nông nghiệp 7
1.1.1 Khái niệm của Hợp tác xã 7
1.1.2 Đặc điểm của Hợp tác xã theo pháp luật Việt Nam 8
1.1.3 Các giá trị và nguyên tắc hoạt động của Hợp tác xã 10
1.1.3.1 Các giá trị của Hợp tác xã 10
1.1.3.2 Các nguyên tắc hoạt động của Hợp tác xã 11
Trang 51.1.4 Vai trò của Hợp tác xã trong phát triển nông nghiệp, nông thôn 13
1.1.4.1 Vai trò của Hợp tác xã đối với thành viên 13
1.1.4.2 Vai trò của Hợp tác xã đối với nông nghiệp 14
1.2 Lịch sử phát triển mô hình Hợp tác xã và pháp luật Hợp tác xã ở Việt Nam 15
1.2.1 Giai đoạn trước khi ban hành Luật Hợp tác xã năm 2003 15
1.2.2 Giai đoạn sau khi ban hành Luật Hợp tác xã năm 2003 23
1.2.3 Giai đoạn sau khi ban hành Luật HTX năm 2012 24
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của Hợp tác xã nông nghiệp 25
1.4 Kinh nghiệm hoạt động của mô hình Hợp tác xã trên thế giới 28
1.4.1 Thực trạng phát triển Hợp tác xã ở một số nước Châu Âu 28
1.4.2 Thực trạng phát triển Hợp tác xã tại một số nước ở Châu Á – Thái Bình Dương 29
1.4.2.1 Tại Nhật Bản 30
1.4.2.2 Tại Thái Lan 31
Tiểu kết Chương 1 34
CHƯƠNG 2: HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP, THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG Ở VIỆT NAM, CỤ THỂ TẠI TỈNH TÂY NINH 35
2.1 Thực trạng pháp luật về hợp tác xã nông nghiệp và những hạn chế, bất cập, nguyên nhân 35
2.1.1 Thực trạng pháp luật và những hạn chế, bất cập 35
2.1.2 Nguyên nhân của những hạn chế 38
2.2 Thực trạng hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp tại Việt Nam 39
2.3 Thực trạng hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp tại tỉnh Tây Ninh hiện nay 43
Trang 6Tiểu kết Chương 2 50
CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM, CỤ THỂ TẠI TỈNH TÂY NINH 52
3.1 Định hướng chung hoàn thiện pháp luật về hợp tác xã ở Việt Nam52 3.2 Hoàn thiện Luật Hợp tác xã và các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển Hợp tác xã nông nghiệp 52
3.2.1 Hoàn thiện Luật Hợp tác xã nhằm thúc đẩy phát triển Hợp tác xã nông nghiệp 52
3.2.1.1 Về quyền, nghĩa vụ của Hợp tác xã, liên hiệp Hợp tác xã 52
3.2.1.2.Giới hạn tỷ lệ góp vốn điều lệ không quá 20% 53
3.2.1.3 Điều kiện trở thành thành viên của Hợp tác xã 53
3.2.1.4 Quy định về sáng lập viên 53
3.2.1.5 Quy định số lượng đại biểu tham dự đại hội thành viên 54
3.2.1.6.Quy định điều kiện tiêu chuẩn của giám đốc (tổng giám đốc) Hợp tác xã nông nghiệp 54
3.2.2 Hoàn thiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ hợp tác xã nông nghiệp phát triển, phù hợp bản chất (tránh bao cấp), nhu cầu, trình độ của tổ chức hợp tác xã và phù hợp với khả năng nguồn lực của Nhà nước 55
3.2.3 Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước nhằm phát triển Hợp tác xã nông nghiệp 55
3.2.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về Hợp tác xã 57 3.3 Các giải pháp cụ thể cần triển khai ở Tây Ninh 59
Tiểu kết Chương 3 62
KẾT LUẬN 63
DANH MỤC TÀI LIỆU
Trang 7A Danh mục văn bản pháp luật:
B Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 8NTM: Nông thôn mới
QTDND: Quỹ tín dụng nhân dân
THT: Tổ hợp tác
TTCN: Tiểu thủ Công nghiệp
UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, PHỤ LỤC
Biểu đồ 2 1 Phân bố các hợp tác xã nông nghiệp của các vùng kinh tế 41 Biểu đồ 2 2 Phân bổ các HTX trên địa bàn các huyện, thị xã trong tỉnh Tây Ninh 43
Biểu đồ 2 3 Biến động số lượng thành viên HTX nhiệm kỳ 2013 - 2018 47 Phụ lục 1: Phân loại các HTX đến tháng 9 năm 2018
Phụ lục 2: Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ hợp tác xã nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2003-2018
Bảng phỏng vấn nông hộ
Trang 10TÓM TẮT
Phát triển Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp là mô hình ra đời sớm nhất của khu vực kinh tế tập thể, Hợp tác xã nông nghiệp đóng vai trò nòng cốt trong phát triển nông nghiệp của Việt Nam Trãi qua nhiều biến động trong công cuộc đổi mới, cải cách nền kinh tế đất nước, đặc biệt định hướng phát triển kinh tế thị trường, do chậm thích nghi nên các Hợp tác xã nông nghiệp đang gặp phải rất nhiều khó khăn để duy trì hoạt động sản xuất Mặc dù đã có sự cải thiện về lượng và chất nhưng chưa đồng đều giữa các lĩnh vực, vùng miền, chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất hàng hóa
và thị trường Chính sách hỗ trợ Hợp tác xã ban hành nhiều nhưng thiếu nguồn lực để thực hiện và rất ít các Hợp tác xã tiếp cận được các chính sách đó Phần lớn Hợp tác xã nông nghiệp quy mô sản xuất nhỏ, chưa tiếp cận thị trường Nhiều Hợp tác xã vẫn trong tình trạng “bình mới, rượu cũ”, mô hình Hợp tác xã cũ còn nặng nề, còn mang nặng tính bao cấp, trong khi Hợp tác xã kiểu mới chưa đáp ứng yêu cầu, công tác quản
lý nhà nước đối với Hợp tác xã nông nghiệp còn chồng chéo Để có thể tìm ra được các vấn đề nêu trên cũng như đưa ra các giải pháp hoàn thiện, tác giả đã sử dụng phương pháp phỏng vấn, phân tích, đánh giá, tổng hợp và phương pháp so sánh Trên
cơ sở dữ liệu điều tra xã hội học được thực hiện tại tỉnh Tây Ninh, tác giả đã có thêm
cơ sở để nhận xét và đánh giá về việc áp dụng pháp luật Hợp tác xã trong mô hình Hợp tác xã nông nghiệp Cuối cùng, tác giả đã đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về Hợp tác xã và nâng cao hoạt động mô hình Hợp tác xã nông nghiệp đạt hiệu quả hơn trong giai đoạn tới
Các từ khóa: Hợp tác xã, Hợp tác xã nông nghiệp, Luật Hợp tác xã
Trang 11ABSTRACT
Development of an agricultural cooperative is the earliest model of the collective economic sector The agricultural cooperative plays a pivotal role in Vietnam's agricultural development Overcoming many changes in the renovation and reforming of the national economy, especially the orientation of developing a market economy, due to slow adaptation, agricultural cooperatives are facing a lot of difficulties to maintain maintain production activities Although there has been an improvement in quantity and quality, it is uneven among sectors and regions, failing to meet the requirements of commodity production and the market Policies to support cooperatives are issued but there is a lack of resources to implement and very few cooperatives have access to those policies Most of agricultural cooperatives are small-scale production and do not have market access Many cooperatives are still in the situation of "new bottles and old wine", the old model of cooperatives is still heavy and still heavily subsidized, while new cooperatives have not met the requirements and management The state for agricultural cooperatives is still overlapping In order to find out the above issues as well as complete solutions, the author has used the method
of interview, analysis, evaluation, synthesis and comparison method Based on the sociological survey database conducted in Tay Ninh province, the author has more bases to comment and evaluate the application of the law of cooperatives in the model
of industrial cooperatives Finally, the author has made a number of proposals to improve the legal provisions on cooperatives and improve the operation of the model
of agricultural cooperatives more effectively in the coming period
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hợp tác xã (HTX) đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của nhiều quốc gia, ngay cả ở những nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Thuỵ Điển, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc…
Phát triển kinh tế tập thể (KTTT) mà nòng cốt là hợp tác xã (HTX) là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam Chủ trương này được thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, trong nhiều Nghị quyết của Đảng Từ năm 1996 đến năm 2012, Luật HTX đã được ban hành và sửa đổi 3 lần cho phù hợp với thực tiễn sản xuất nông nghiệp và nông thôn
Có thể thấy rằng sự phát triển của phong trào HTX hội tụ nhiều lợi ích, đáp ứng được các nhu cầu kinh tế, xã hội và văn hóa của xã viên Xã viên tham gia vào HTX
để tiết kiệm chi phí, gia tăng giá trị và nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm làm ra hoặc để có việc làm ổn định HTX là một phương tiện thiết thực nhằm huy động các nguồn lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp, đồng thời đóng góp lớn trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là ở khu vực nông thôn
Sau khi triển khai Luật HTX năm 2012, Kết luận số 56-KL/TW ngày 21/02/2013 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, nhìn chung các HTX thành lập mới hay chuyển đổi đều tổ chức theo đúng nguyên tắc tự nguyện, xuất phát từ nhu cầu thực tế của thành viên
Trong thời gian qua, nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ HTX nông nghiệp đã được ban hành, đóng góp vào sự phát triển của HTX nông nghiệp ở Việt Nam nói chung, cụ thể ở tỉnh Tây Ninh nói riêng HTX ngày càng có vai trò quan trọng đối với thành viên trong việc cung cấp vật tư đầu vào (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật) và dịch vụ nông nghiệp (thủy lợi, làm đất…)1 Nhiều mô hình HTX hoạt động hiệu quả, giúp thành viên tổ chức sản xuất và cạnh tranh tốt hơn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế
1 Trong số các HTX nông nghiệp cả nước hiện có 80% HTX làm dịch vụ thủy lợi; 30% số HTX làm dịch vụ cung ứng vật tư, phân bón; 97% HTX làm dịch vụ chuyển giao tiến bộ kỹ thuật; 11% số HTX nông nghiệp làm dịch vụ điện; dịch vụ giống cây trồng 53%; dịch vụ làm đất bằng máy 20%; dịch vụ thú y 21%
Trang 13Cả nước thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng
và phát triển bền vững Trong các giải pháp thực hiện tái cơ cấu có giải pháp phát triển HTX nông nghiệp và thúc đẩy hợp tác, liên kết theo chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp, HTX và hộ gia đình Mặc dù có nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ tạo thuận lợi cho HTX nông nghiệp hợp tác, liên doanh với doanh nghiệp và hộ nông dân; thế nhưng, số HTX
có liên kết với doanh nghiệp còn rất ít Doanh nghiệp có nhu cầu liên kết với nông dân thông qua HTX, nhưng khó tìm thấy HTX hoạt động hiệu quả để kí hợp đồng liên kết
Phát triển HTX nông nghiệp trong thời gian qua còn có nhiều tồn tại Bên cạnh một số ít HTX hoạt động hiệu quả, mang lại lợi ích cho HTX và các thành viên, đa phần các HTX còn lại hoạt động kém hiệu quả Tính đến hết ngày 30/6/2019, cả nước
đã có 14.502 HTX nông nghiệp, trong đó có 55% hoạt động hiệu quả (trước năm 2015 chỉ có khoảng 15% tổng số HTX nông nghiệp hoạt động có hiệu quả)2 Theo đó, đã giải thể 3.600 đơn vị, chỉ còn 600 HTX yếu kém đang đợi giải thể hoặc cải tổ trong thời gian tới Nhiều HTX nông nghiệp gặp khó khăn trong chuyển đổi tổ chức và hoạt động theo Luật HTX 2012 (Bộ NN&PTNT, 2014)
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc tuyên truyền phổ biến Luật Hợp tác xã năm 2012 cũng như pháp luật về HTX vẫn còn những tồn tại hạn chế nhất định; một
số quy định chưa phù hợp với đặc thù riêng về tổ chức bộ máy, sản xuất kinh doanh dịch vụ của các HTX nông nghiệp; một số cơ chế chính sách chưa được hướng dẫn cụ thể nên quá trình thực hiện còn gặp nhiều khó khăn; các chính sách ưu đãi, hỗ trợ HTX
đã được ban hành nhiều nhưng thiếu nguồn nhân lực để thực hiện; chỉ mội số ít các HTX tiếp cận được các chính sách, hỗ trợ về tín dụng, đất đai, hạ tầng sản xuất, phong trào HTX chậm phát triển, năng lực nội tại của nhiều HTX còn yếu kém, thiếu nguồn lực cho đầu tư sản xuất kinh doanh, công tác quản lý nhà nước đối với HTX nông nghiệp còn chồng chéo Nguyên nhân chủ yếu do nhận thức về vai trò, giá trị và bản chất của mô hình HTX kiểu mới ở một số nơi còn chưa thống nhất, dẫn đến công tác quản lý, ban hành cơ chế, chính sách, tư vấn, hỗ trợ…chưa trọng tâm, chưa đúng, chưa
đi vào cuộc sống của các HTX và người dân Vì vậy, cấp thiết cần có những công trình nghiên cứu nghiêm túc và toàn diện về những vấn đề pháp lý thông thoáng cho các HTX thành lập và hoạt động hiệu quả, việc phân tích của luận văn là cần thiết và là cơ
sở góp phần hoàn thiện pháp luật HTX, bổ sung các chính sách, giải pháp phát triển
2 Thành Chung-Đỗ Hương, 2019, tuyengiao.vn>hieu qua kinh te kieu moi-12298
Trang 14các HTX nông nghiệp trong giai đoạn tới Mặt khác, việc nghiên cứu chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quy định về thành lập, hoạt động của HTX nông nghiệp đáp ứng nhu cầu thực tiễn sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam nói chung và tại tỉnh Tây Ninh nói riêng
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, đã có rất nhiều nghiên cứu quan tâm đến hoạt động HTX nông nghiệp dưới góc độ khác nhau Tuy nhiên, việc nghiên cứu chuyên sâu pháp luật
về HTX nông nghiệp vẫn còn ít, mang tính chung nhất được đề cập đến trong một số luận văn, bài báo, hội nghị tiêu biểu như sau:
- Những vấn đề pháp lý về đổi mới hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ của doanh nghiệp tập thể, Luận văn Cao học của Nguyễn Đức Long, 1996
- Chế độ pháp lý xã viên HTX – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Cao học Luật của Nguyễn Thị Ngọc Hà, 1997
- Một số vấn đề pháp lý cơ bản trong quá trình chuyển đổi HTX, Luận văn Cao học của Hoàng Thị Vịnh, 1999
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự tham gia vào HTX trong xây dựng nông thôn mới tại Tây Ninh, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của Lê Văn Tuyển (2015) Trường Đại học kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh
- Đánh giá yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động HTX nông nghiệp tỉnh An Giang, Luận văn Cao học của Hà Thị Thu Hà (2017) Trường Đại học Cần Thơ
- Đánh giá yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động HTX nông nghiệp tỉnh Trà Vinh, Luận văn Cao học của Huỳnh Kim Nhân (2017) Trường Đại học Trà Vinh
- Hoàng Vũ Quang: Phát triển HTX nông nghiệp, Hiện trạng, khó khăn và giải pháp Bài trình bày tại Hội thảo “HTX và các tổ chức kinh tế hợp tác khác trong lĩnh vực nông nghiệp” tại Hà Nội, ngày 20-21/5/2015 do Bộ Nông nghiệp và PTNT; Bộ Kế hoạch và đầu tư; Liên minh Hợp tác xã Việt Nam; Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam tổ chức
- Nguyễn Tiến Định: Thực trạng và giải pháp phát triển HTX nông nghiệp vùng Tây Bắc trong xây dựng nông thôn mới Bài Trình bày tại Hội thảo “Thực trạng hoạt động của hTX nông nghiệp các tỉnh vùng Tây Bắc trong xây dựng nông thôn mới” tại Hòa Bình, ngày 15/12/2015 do Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tổ chức
Trang 153.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan về hợp tác xã nông nghiệp và thực trạng pháp luật về Hợp tác xã, thực tiễn hoạt động của HTX nông nghiệp tại Việt Nam, cụ thể tại địa bàn tỉnh Tây Ninh Phân tích, làm rõ những tồn tại, vướng mắc và nguyên nhân
Từ đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện Luật Hợp tác xã và nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX nói chung và HTX nông nghiệp nói riêng ở Việt Nam, cụ thể tại tỉnh Tây Ninh
- Luận văn sẽ làm rõ một số vấn đề lý luận, những quy định của pháp luật về HTX
- Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động của mô hình HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh; kết quả đạt được; tìm ra những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân
- Đề ra các giải pháp, chính sách bổ sung để nâng cao hoạt động của HTX, HTX nông nghiệp trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về hoạt động của HTX nông nghiệp tại Việt Nam và cụ thể tại tỉnh Tây Ninh Về pháp luật Luận văn tập trung nghiên cứu Luật Hợp tác xã và các văn bản hướng dẫn thi hành
Đối tượng khảo sát của luận văn là các HTX nông nghiệp, hộ gia đình chuyên sản xuất nông nghiệp có tham gia hoặc không tham gia vào mô hình HTX trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, từ năm 2013 đến nay Từ đó, nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng quyết định sự tham gia của người dân vào mô hình HTX, THT và các HTX thuộc lĩnh vực khác không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 164.2.2 Về thời gian:
Những thông tin thứ cấp dùng để phân tích đề tài được thu thập từ các báo cáo của Liên minh Hợp tác xã tỉnh Tây Ninh, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Tây Ninh từ năm 2013 đến nay
Những số liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp từ bảng câu hỏi phỏng vấn 150 hộ gia đình trong 02 tháng, từ tháng 11/2019 đến tháng 12/2019 Để đánh giá phong trào phát triển của các HTX nông nghiệp ở các địa phương, các thông tin, số liệu sẽ được thu thập trong thời gian 05 năm (2013-2019) Các chính sách ưu đãi, hỗ trợ HTX nông nghiệp được nghiên cứu, đánh giá là các chính sách còn hiệu lực tại thời điểm 2013
5 Câu hỏi nghiên cứu
- Hợp tác xã nói chung và hợp tác xã nông nghiệp có những đặc điểm và vai trò gì? Mô hình HTX vận hành và hoạt động trên thế giới như thế nào?
- Pháp luật HTX nông nghiệp được quy định như thế nào tại Việt Nam?
- Thực trạng hoạt động HTX nông nghiệp Việt Nam và trên địa bàn tỉnh Tây Ninh diễn ra như thế nào? Những khó khăn, bất cập, nguyên nhân là gì?
- Cần hoàn thiện pháp luật và bổ sung những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp trong thời gian tới?
6 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để hoàn thành luận văn bao gồm:
Thứ nhất, phương pháp phân tích, diễn giải: Phương pháp này được sử dụng nhiều tại Chương 1 và Chương 3 của luận văn Phương pháp này dùng để phân tích tài liệu, các văn bản quy phạm pháp luật, các nghiên cứu có liên quan
Thứ hai, phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng nhiều tại Chương 2, Chương 3 Phương pháp này được sử dụng khi phân tích các quy định của pháp luật về HTX; phân tích các phiếu điều tra bằng bảng hỏi Qua kết quả phân tích, tiến hành đánh giá và tổng hợp những ưu điểm, khó khăn, hạn chế còn tồn tại, từ đó đề xuất các giải pháp để hoàn thiện các quy định pháp luật về HTX
Thứ ba, phương pháp điều tra xã hội học: Phương pháp này được sử dụng trong Chương 2 để thu thập dữ liệu, thông tin hoạt động của HTX nông nghiệp tại tỉnh Tây Ninh Tác giả phát phiếu lấy ý kiến 29 đơn vị (trong đó có 01 liên minh HTX, 7 cơ
Trang 17quan QLNN về HTX cấp huyện, 01 thị xã, 20 UBND xã và các HTX nông nghiệp) để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cũng như sự phát triển của HTX nông nghiệp Từ đó tiến hành phân tích các thông tin, số liệu thống kê, số liệu điều tra liên quan đến hoạt động của các HTX nông nghiệp Việc phân tích cũng làm
rõ các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của HTX nông nghiệp
Thứ tư, các phương pháp khác: phương pháp chứng minh, đánh giá, logic… cũng được sử dụng trong luận văn
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của đề tài, trước hết sẽ góp phần bổ sung, nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX tại địa phương Ngoài ra, luận văn cũng có thể trở thành tài liệu tham khảo ở một mức độ nhất định cho hoạt động nghiên cứu và học tập pháp luật
về hợp tác xã nông nghiệp
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục Nội dung luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Tổng quan về Hợp tác xã nông nghiệp
Chương 2: Hợp tác xã nông nghiệp - thực trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động ở Việt Nam và trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
Chương 3: Kiến nghị về hoàn thiện Luật Hợp tác xã nông nghiệp và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp ở Việt Nam và tại địa bàn tỉnh Tây Ninh
Trang 18CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP 1.1 Khái quát về Hợp tác xã nông nghiệp
1.1.1 Khái niệm của Hợp tác xã
Có nhiều định nghĩa về HTX được sử dụng Thứ nhất đó là định nghĩa về HTX được Liên minh HTX Quốc tế (ICA) và Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra trên cơ
sở tổng kết kinh nghiệm phát triển HTX trên thế giới trong gần 200 năm qua, đó là:
“HTX là tổ chức tự chủ của các cá nhân liên kết với nhau một cách tự nguyện nhằm đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một doanh nghiệp được sở hữu chung và được kiểm soát một cách dân chủ”.3
Tại Hoa Kỳ, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ năm 1987 đưa ra định nghĩa “HTX là
một doanh nghiệp do người sử dụng sở hữu, người sử dụng kiểm soát và phân bổ lợi ích dựa trên tỷ lệ sử dụng”.4
Philipin có khái niệm HTX như sau: “HTX là tổ chức được đăng ký, tập hợp
những người dân có cùng lợi ích, những người cùng nhau tham gia một cách tự nguyện để đạt được nhu cầu kinh tế và xã hội chung hợp pháp, đóng góp vốn bình đẳng và chấp nhận chia sẽ những rủi ro và lợi ích công bằng theo đúng nguyên tắc HTX quốc tế”.4
Thái Lan xác định HTX: “là một nhóm người mà cùng nhau triển khai các hoạt
động, hỗ trợ nhau và được đăng ký theo Luật”
Inđônêxia xác định: “HTX là tổ chức kinh tế - xã hội của người dân có tư cách
pháp nhân hoặc thể nhân HTX là một phần trong khu vực kinh tế để nâng cao mức sống của người dân; giúp dân chủ hóa nền kinh tế quốc dân; là một phần kinh tế chủ đạo của người dân Inđônêxia; là một công cụ cho các tổ chức quần chúng theo đúng nền kinh tế quốc dân ổn định và thúc đẩy sự thống nhất của người dân, tổ chức quản
lý nền kinh tế”5
Tại Việt Nam, theo quy định tại khoản 1, Điều 3, Luật HTX năm 2012 thì
“HTX là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07
3 https://www.ilo.org/global/topics/cooperratives/lang en/index.htm
4 Lược dịch ICA.COOP, Khái niệm Hợp tác xã theo quan điểm của Quốc tế và Việt Nam, http://www.vapcf.org.vn/modules.php?name=News&op=newsdetail&catid=15&subcatid=14&id=6676 , truy cập ngày 15/03/2020.
5 Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, 2019, Kinh nghiệm quốc tế về phát triển mô hình kinh tế tập thể, hợp tác xã
Trang 19thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ
sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý HTX”6 Định nghĩa này cũng thể hiện các nguyên tắc hoạt động của HTX
1.1.2 Đặc điểm của Hợp tác xã theo pháp luật Việt Nam
Không giống như các loại hình kinh tế khác, HTX là một tổ chức kinh tế tập thể được thành lập nhằm mục đích tương trợ lẫn nhau trong quá trình hoạt động sản xuất
và kinh doanh Dựa trên khái niệm, chúng ta có thể nhận thấy HTX có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, HTX là tổ chức kinh tế tập thể được thành lập nhằm phục vụ lại cho
chính lợi ích chung của các thành viên, trong quá trình hoạt động thể hiện hai đặc tính
là vừa hoạt động mang tính kinh doanh, vừa mang tính xã hội Đặc điểm này thể hiện bản chất đặc thù của HTX hoàn toàn khác với các loại hình doanh nghiệp Bởi lẽ, sứ mệnh quan trọng nhất của HTX không phải là tối đa hóa lợi nhuận mà nhằm tối đa hóa lợi ích trước mắt và lâu dài của thành viên bằng cách đáp ứng nhu cầu chung của thành viên về sản phẩm, dịch vụ và tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho thành viên đơn lẻ không thực hiện được hoặc thực hiện kém hiệu quả trong điều kiện kinh tế thị trường
Thứ hai, HTX là một tổ chức kinh tế mang tính tập thể được thành lập và hoạt
động theo nguyên tắc hợp tác, tự nguyện, bình đẳng Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng pháp luật, các nhà làm luật khẳng định HTX hiện tại và tương lai là không phải một tổ chức kinh tế thông thường, mà là tổ chức kinh tế mang đậm tính tập thể Trong thực tế, HTX được thành lập hoạt động theo nhiều ngành, nghề khác nhau, để huy động nguồn vốn lớn đòi hỏi số lượng thành viên của HTX đa phần là rất đông Từ đó,
có thể nhận thấy tính tập thể, tính bình đẳng không phân biệt vốn nhiều hay ít khi tham gia biểu quyết, đó là sự khác biệt so với mô hình doanh nghiệp
Thứ ba, để thành lập HTX theo Luật Việt Nam cần có từ bảy thành viên trở lên,
đây là đặc điểm cơ bản trong quá trình thành lập Thành viên HTX có thể là cá nhân,
hộ gia đình và cũng có thể là pháp nhân Trong đó, nếu là cá nhân phải từ đủ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nếu là hộ gia đình thì phải có người đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật
6 Khoản 1, Điều 3, Luật Hợp tác xã năm 2012
Trang 20Thứ tư, HTX hoạt động dựa trên nguồn vốn góp của thành viên nhưng cũng có
thể có một loại vốn đặc thù là vốn từ sự trợ cấp, hỗ trợ của Nhà nước hay tổ chức, cá nhân Sự tác động của nhà nước vào doanh nghiệp chủ yếu được thực hiện thông qua
cơ chế ưu đãi đầu tư có điều kiện cho doanh nghiệp khi đầu tư, kinh doanh tại địa bàn
ưu đãi đầu tư và ngành nghề, lĩnh vực ưu đãi đầu tư Đối với HTX, các chính sách hỗ trợ của nhà nước Việt Nam dành cho HTX được xác định rõ ngay từ đầu trong Luật HTX năm 2012 Cụ thể HTX đã được nhà nước hỗ trợ trong việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, trong hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, trong hoạt động ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới, tiếp cận vốn và quỹ hỗ trợ phát triển HTX cũng như tạo điều kiện cho HTX tham gia các chương trình mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế-xã hội, trong việc thành lập mới HTX
Thứ năm, HTX thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo mức độ sử dụng sản
phẩm, dịch vụ, theo lao động và theo góp vốn Như vậy, sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật, thu nhập của HTX được phân phối để trích lập quỹ đầu tư phát triển với tỷ lệ tối thiểu 20% trên thu nhập, trích lập quỹ dự phòng tài chính với tỷ lệ tối thiểu 5% trên thu nhập cũng như trích lập các quỹ khác do Đại hội thành viên quyết định Sau khi trích lập quỹ còn lại sẽ được phân phối cho thành viên chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên, theo công sức lao động đóng góp của thành viên đối với HTX tạo việc làm
Thứ sáu, HTX có tư cách pháp nhân HTX là một pháp nhân thương mại, hội
đủ các điều kiện của một pháp nhân theo quy định tại Điều 74 Bộ Luật dân sự năm
2015 HTX là chủ thể độc lập trong các quan hệ dân sự, chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và nghĩa vụ tài sản của HTX phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh trong phạm vi vốn khác của HTX, cụ thể như sau:
HTX là tổ chức được thành lập hợp pháp theo quy định của Luật HTX HTX được thành lập dưới sự tự nguyện thành lập của các sáng lập viên thông qua hội nghị thành lập hợp tác xã HTX có điều lệ, có tên, biểu tượng riêng của HTX và có đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi chính thức đi vào hoạt động
HTX có cơ cấu tổ chức như cơ cấu tổ chức của một pháp nhân, có cơ quan điều hành, có điều lệ theo quy định của pháp luật
HTX có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình Tài sản của HTX không chỉ là tiền (vốn góp, vốn huy động, vốn
Trang 21hình thành trong quá trình hoạt động, các khoản trợ cấp, lợi nhuận) mà còn là các phần vật chất khác như tài sản hiện hữu cố định, quyền sử dụng đất Những tài sản của HTX được quản lý và sử dụng theo nguyên tắc, quy định trong điều lệ, trong quy chế quản
lý tài chính và hoàn toàn độc lập với tài sản riêng của các thành viên Mọi giao dịch liên quan đến hoạt động của HTX đều do HTX chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản của mình
Thứ bảy, theo khoản 3 Điều 7 Luật HTX 2012, mỗi thành viên, hợp tác xã
thành viên hoặc đại biểu thành viên tham dự đại hội thành viên có quyền biểu quyết bình đẳng ngang nhau, không phụ thuộc vào số vốn góp hay chức vụ của thành viên, hợp tác xã thành viên hoặc đại biểu thành viên Như vậy, việc biểu quyết trong đại hội thành viên là một trong những sự khác biệt cơ bản giữa loại hình hợp tác xã và loại hình doanh nghiệp
1.1.3 Các giá trị và nguyên tắc hoạt động của Hợp tác xã
Khi thành lập và điều hành một HTX, các thành viên HTX và các cố vấn của họ thường áp dụng các giá trị và nguyên tắc để định hướng hoạt động của HTX Tương
tự, các Chính phủ cũng sử dụng các giá trị và nguyên tắc này để soạn thảo Luật HTX Giá trị và nguyên tắc hoạt động của HTX có thể được xem xét như thể hiện giá trị thực tiễn đằng sau mối quan hệ hợp tác trong HTX
Những giá trị và nguyên tắc này được phát triển trong một thời gian dài, từ khi HTX đầu tiên được thành lập vào năm 1844 bởi những người tiên phong Rochdale ở Vương quốc Anh Đến nay, các giá trị và bảy nguyên tắc HTX được Liên minh HTX quốc tế công bố có tính định hướng trong việc thành lập và hoạt động của HTX trên toàn thế giới, cụ thể như sau:
1.1.3.1 Các giá trị của Hợp tác xã
Các HTX hoạt động dựa trên những giá trị tự lực, tự chịu trách nhiệm, dân chủ, bình đẳng và đoàn kết Theo truyền thống của những nhà sáng lập, thành viên HTX tin tưởng vào các giá trị đạo đức, cởi mở, trung thực, có trách nhiệm xã hội và quan tâm đến người khác
HTX mở ra mô hình kinh tế “dân chủ” hơn, khi yếu tố vốn không đóng vai trò then chốt, mà yếu tố uy tín, ý tưởng, khả năng thuyết phục của hợp tác xã viên đóng vai trò quan trọng, bởi mỗi HTX viên có quyền biểu quyết ngang nhau, độc lập với
Trang 22phần vốn góp Bởi vậy, mô hình HTX dù có một vài bất lợi về kinh tế trong cạnh tranh, nhưng có thể hạn chế bớt hiện tượng dùng “vốn” để “người bóc lột người” Tuy nhiên thế này chỉ là tương đối và sẽ biến mất khi HTX vay vốn ngân hàng hay huy động tín dụng, ký hợp đồng BBC
1.1.3.2 Các nguyên tắc hoạt động của Hợp tác xã
Trong bất kỳ tổ chức nào, muốn hoạt động hiệu quả thì tổ chức đó cần phải xây dựng bộ nguyên tắc cho quá trình tổ chức, hoạt động của mình Đối với HTX cũng không ngoại lệ, những nguyên tắc tổ chức hoạt động của HTX được xây dựng theo nét riêng mang tính đặc trưng vốn có của loại hình kinh tế tập thể Tại Việt Nam, 7 nguyên tắc tổ chức, hoạt động của HTX được quy định tại Điều 7, Luật HTX năm
2012 cụ thể như sau:
Một là, cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi
HTX HTX tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi liên hiệp HTX.7 Đây là nguyên tắc
cơ bản nhất của HTX, liên hiệp HTX, nghĩa là các thành viên khi có nhu cầu hợp tác, nhu cầu sử dụng dịch vụ mà không bị ép buộc hay cản trở
Hai là, HTX, liên hiệp HTX kết nạp rộng rãi thành viên, HTX thành viên.8
Không giống như thành viên các loại hình doanh nghiệp khác, thành viên HTX được xem là cốt lõi, là đối tác, là khách hàng, là thị trường của HTX hay liên hiệp HTX Làm tốt công tác phát triển thành viên là làm tăng nguồn lực, sản phẩm, sử dụng dịch
vụ, tăng thị trường…góp phần phát triển bền vững cho nền kinh tế thị trường và công cuộc hội nhập quốc tế
Ba là, thành viên, HTX thành viên có quyền bình đẳng, biểu quyết ngang nhau
không phụ thuộc vốn góp trong việc quyết định tổ chức, quản lý và hoạt động của HTX, liên hiệp HTX; được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác về hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối thu nhập và những nội dung khác theo quy định của điều lệ.9 Đối với mô hình doanh nghiệp, tỷ lệ vốn góp có ảnh hưởng khá nhiều đến việc biểu quyết của các thành viên, còn ở loại hình kinh tế HTX thì khác Bình đẳng được xem là bản chất, nét đặc trưng là giá trị ưu việt của mô hình HTX, thành viên HTX bình đẳng trong quyết định mọi việc như: quyết định về tổ chức, quản
7 Khoản 1, Điều 7, Luật HTX năm 2012
8 Khoản 2, Điều 7, Luật HTX năm 2012
9 Khoản 3, điều 7, Luật HTX năm 2012
Trang 23lý, hoạt động, kế hoạch phát triển và phân phối, chiến lược chung của HTX mà không phụ thuộc vào vốn góp hay vị trí của thành viên HTX
Bốn là, HTX, liên hiệp HTX tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình
trước pháp luật.10 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm về việc tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh trước pháp luật, trước thành viên, trước HTX, liên hiệp HTX và cộng đồng xã hội Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của HTX và liên hiệp HTX được xem vừa là quyền vừa là nghĩa vụ
Năm là, thành viên, HTX thành viên và HTX, liên hiệp HTX có trách nhiệm
thực hiện cam kết theo hợp đồng dịch vụ và theo quy định của điều lệ Thu nhập của HTX, liên hiệp HTX được phân phối chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên, HTX thành viên hoặc theo công sức lao động đóng góp của thành viên đối với HTX tạo việc làm.11 Các hợp đồng dịch vụ không phải là một điều mới trong luật nhưng Luật HTX năm 2012 quy định cụ thể là thành viên của HTX phải cam kết
sử dụng sản phẩm, dịch vụ của HTX, liên hiệp HTX bằng hợp đồng Điểm quy định mới này là phân chia lợi nhuận dựa trên mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của HTX, liên hiệp HTX Có nghĩa là thành viên nào có doanh thu sử dụng dịch vụ nhiều hơn thì được phân phối lợi nhuận nhiều hơn
Sáu là, HTX, liên hiệp HTX quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho thành
viên, HTX thành viên, cán bộ quản lý, người lao động trong HTX, liên hiệp HTX và thông tin về bản chất, lợi ích của HTX, liên hiệp HTX.12 Để nâng cao năng lực quản
lý, điều hành thì đòi hỏi HTX, liên hiệp HTX phải quan tâm đến việc thông tin phổ biến, giới thiệu những giá trị, lợi ích của thành viên khi tham gia vào HTX Đồng thời HTX, liên hiệp HTX tập trung vào đào tạo hay gửi đi đào tạo để nâng cao trình độ nghiệp vụ, kỹ năng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ điều hành, nhân viên nghiệp vụ, xem việc đào tạo, bồi dưỡng là việc làm thường xuyên tại HTX
Bảy là, HTX, liên hiệp HTX chăm lo phát triển bền vững cộng đồng thành viên,
HTX thành viên và hợp tác với nhau nhằm phát triển phong trào HTX trên quy mô địa phương, vùng, quốc gia và quốc tế.13 Chăm lo cho thành viên, hợp tác xã thành viên là trách nhiệm của HTX, liên hiệp HTX Đây là nguyên tắc quan trọng, vì thành viên
10 Khoản 4, Điều 7, Luật HTX năm 2012
11 Khoản 5, Điều 7, Luật HTX năm 2012
12 Khoản 6, Điều 7, Luật HTX năm 2012
13 Khoản 7, Điều 7, Luật HTX năm 2012
Trang 24được tạo điều kiện càng nhiều về nhu cầu, quyền lợi thì thành viên đó sẽ càng gắn bó lâu dài đối với HTX, liên hiệp HTX
1.1.4 Vai trò của Hợp tác xã trong phát triển nông nghiệp, nông thôn 1.1.4.1 Vai trò của Hợp tác xã đối với thành viên
Theo TS.Chu Tiến Quang (2012)14, vai trò của HTX đối với thành viên được xem xét trên hai khía cạnh về kinh tế và xã hội
Vai trò về kinh tế được xem là vai trò cơ bản và quan trọng nhất, điều này xuất phát từ các chức năng, nhiệm vụ của HTX là nhằm giúp thành viên phát triển kinh tế, sau đó mới đến các chức năng khác Theo đó, tất cả hoạt động của HTX có mục đích trợ giúp thành viên phát triển kinh tế có thể được xem là vai trò kinh tế của HTX đối với thành viên Cụ thể gồm:
Một là, vai trò tổ chức hoạt động tín dụng nội bộ trong HTX;
Hai là, vai trò tổ chức các dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp của thành viên: cung cấp dịch vụ cày, bừa; dịch vụ tưới, tiêu nước theo nhu cầu;
Ba là, cung cấp các vật tư đầu vào của sản xuất nông nghiệp;
Bốn là, các dịch vụ bảo vệ cây trồng, vật nuôi;
Năm là, cung cấp các dịch vụ tiêu thụ sản phẩm của thành viên làm ra;
Sáu là, vai trò tạo việc làm thông qua tổ chức sản xuất và kinh doanh mang tính tập thể
Không những tạo ra lợi nhuận và giúp cho tăng trưởng kinh tế của đất nước mà còn có vai trò, vị trí quan trọng đối với đời sống kinh tế, xã hội của cả nước nói chung hay của địa phương nói riêng Vai trò của HTX được thể hiện trong việc giải quyết việc làm cho thành viên, đảm bảo đời sống cho người lao động, tạo sự ổn định chính trị-xã hội
Trong Hội nghị toàn quốc tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể khẳng định: mô hình HTX kiểu mới từng bước thay đổi nhận thức của nhân dân, hiểu rõ bản chất của HTX kiểu mới, gắn với lợi ích của từng thành viên, thấy được vị trí, vai trò, tính tất yếu khách quan của kinh tế tập thể, phát triển kinh tế hộ thành viên, kinh tế địa phương nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung
14 TS.Chu Tiến Quang, 2012, Vai trò và giải pháp nâng cao vai trò của HTX đối với xã viên trong nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam
Trang 25Ngoài ra, HTX có một số vai trò xã hội đối với thành viên, xuất phát từ các chức năng mang tính xã hội của HTX như: giải quyết, xử lý các vấn đề xã hội trong cộng đồng thành viên đặt ra, làm gia tăng địa vị, lợi ích xã hội của thành viên; nâng cao năng lực hợp tác, liên kết thành viên để cùng nhau xây dựng phát triển HTX
HTX theo quy định của Luật HTX năm 2012 đang là mô hình kinh tế phù hợp, giúp cho nông dân liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và duy trì sinh kế bền vững Luật HTX năm 2012 cũng đã thể hiện rõ hơn bản chất của HTX là được thành lập trên
cơ sở tự nguyện, hợp tác, bình đẳng, đồng sở hữu, tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên HTX, nhằm mang lại lợi ích cho thành viên thông qua đáp ứng nhu cầu chung của thành viên về kinh tế, xã hội và văn hóa
1.1.4.2 Vai trò của Hợp tác xã đối với nông nghiệp
Việt Nam với đa số hộ nông dân có quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, chất lượng không đồng đều nên làm giảm tính cạnh tranh của nông sản trong điều kiện cạnh tranh quốc tế, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Trong bối cảnh đó, HTX đóng vai trò trung gian, là cầu nối giữa doanh nghiệp và hộ nông dân cá thể HTX giúp cho sản xuất sản phẩm có chất lượng đồng đều, áp dụng các quy trình kỹ thuật có chứng nhận chất lượng và với kinh tế quy mô,
có thể giảm chi phí sản xuất, tăng giá bán sản phẩm Từ đó, giúp tăng tính cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp với tác nhân khác
Vai trò của HTX còn được thể hiện mạnh mẽ trong quá trình xây dựng nông thôn mới Các HTX nông nghiệp đã phát huy vai trò trong việc vận động, tập hợp, thay đổi cách nghĩ, cách làm của nông dân, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật một cách hiệu quả trong quá trình hoạt động sản xuất Trên một số lĩnh vực, HTX mở rộng thêm nhiều ngành nghề, đầu tư trang thiết bị tiên tiến để nâng cao chất lượng sản xuất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh góp phần không nhỏ trong việc giảm nghèo tại địa phương
Bên cạnh đó, HTX đã thích nghi với nền kinh tế chủ động tạo sự liên kết với các HTX hay với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác mang lại hiệu quả cho HTX
và thành viên, góp phần vào sự thay đổi của người dân và bộ mặt nông thôn trong xây dựng nông thôn mới, giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp trong nền kinh tế, cung cấp các yếu tố đầu vào như vốn, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật, giảm thiểu rủi ro và chia sẻ thông
Trang 26tin kiến thức, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, thiết bị kỹ thuật hiện đại; phát huy hiệu quả kinh tế trên lĩnh vực nông nghiệp nhờ quy mô hoạt động
1.2 Lịch sử phát triển mô hình Hợp tác xã và pháp luật Hợp tác xã ở Việt Nam
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 65 năm qua, trải qua các thời kỳ phát triển khác nhau, phong trào HTX ở Việt Nam có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp cách mạng ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, đặc biệt là những đóng góp cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền nam, thống nhất đất nước Liên minh HTX Việt Nam (2012) trong “Đề cương hướng dẫn tuyên truyền ngày HTX Việt Nam” đã khái quát lịch sử hình thành phong trào HTX ở Việt Nam qua các thời kỳ:
1.2.1 Giai đoạn trước khi ban hành Luật Hợp tác xã năm 2003
Sau Cách mạng tháng Tám (1945), hưởng ứng lời kêu gọi kháng chiến kiến quốc của Hồ Chủ Tịch, phong trào kinh tế hợp tác được hình thành và phát triển ở nhiều vùng tự do và căn cứ địa cách mạng Trong phong trào đó, ngày 08/3/1948, tại chiến khu Việt Bắc, HTX thủy tinh Dân chủ được thành lập, mở đầu cho sự ra đời và phát triển của phong trào HTX ở Việt Nam.15
Thời kỳ này, các hình thức hợp tác chủ yếu là tổ đổi công, HTX phát triển chưa nhiều, năng lực sản xuất cũng hạn chế nhưng đã thu hút hàng chục vạn nông dân, thợ thủ công vào con đường làm ăn tập thể Sự phát triển của phong trào kinh tế hợp tác, HTX đó góp phần giải phóng nông dân thoát khỏi sự ràng buộc của các phương thức sản xuất phong kiến, đưa nông dân lên vị trí người làm chủ, có những đóng góp tích cực trong việc đảm bảo hậu cần cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, động viên sức người, sức của cho tiền tuyến
Từ những cơ sở kinh tế hợp tác, HTX được hình thành trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, ngay sau khi miền Bắc được giải phóng, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng chỉ đạo xây dựng, phát triển HTX trong các ngành kinh tế Chỉ trong một thời gian ngắn, sau giai đoạn thí điểm xây dựng các HTX và các hình thức hợp tác giản đơn, trong 3 năm (1958-1960), cả nước đã có hơn 50.000 HTX được
15 Trung tâm Thông tin HTX Việt Nam (Vicocen), 2018, “Lịch sử hình thành và phát triển phong trào HTX ở Việt Nam”
Trang 27thành lập, trong đó có 40.422 HTX nông nghiệp, thu hút 2,4 triệu hộ nông dân, chiếm 85,8% tổng số hộ với 76% diện tích ruộng đất.16 Đến năm 1960, về cơ bản miền Bắc
đã hoàn thành việc hợp tác hóa bậc thấp trong nông nghiệp Có 2.760 HTX TTCN, hơn 250 HTX mua bán cấp huyện, 5.294 HTX trong lĩnh vực tín dụng và hơn 520 HTX ngư nghiệp.17
Việc vận động xây dựng, phát triển HTX trong giai đoạn này trở thành phong trào cách mạng rộng lớn, thu hút đại bộ phận hộ nông dân, hộ kinh tế cá thể và người lao động tham gia Kết quả hoạt động của các HTX những năm này đã góp phần to lớn vào công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, góp phần thúc đẩy kinh
tế phát triển với tốc độ cao Thông qua việc xây dựng và phát triển HTX đã hình thành quan hệ sản xuất mới, khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn tư liệu sản xuất nhỏ, thợ thủ công, tiểu thương vào làm ăn hợp tác trong các HTX theo đường lối của Đảng, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc cải tạo XHCN ở miền Bắc Với quan hệ sản xuất mới phù hợp cùng các yếu tố chính trị, xã hội mới đã tạo ra sự hăng hái, phấn khởi sản xuất trong nông dân, sản xuất phát triển, đời sống nông dân và bộ mặt nông thôn có bước phát triển rõ rệt cả về kinh tế, văn hóa, xã hội
Cùng với quá trình phát triển HTX, từ rất sớm, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến việc hình thành các cơ quan, tổ chức quản lý, trợ giúp và đại diện cho các HTX Năm 1955, Chính phủ chỉ đạo thành lập hệ thống tổ chức Ban quản lý HTX mua bán
từ Trung ương đến các tỉnh, thành phố và giao cho các Bộ, ngành quản lý Nhà nước nhiệm vụ hỗ trợ phát triển HTX Năm 1961, Liên hiệp các HTX TTCN Trung ương được thành lập Các tổ chức này đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền vận động phát triển mở rộng mạng lưới các HTX, hướng dẫn giúp đỡ về nghiệp vụ và hỗ trợ đào tạo cán bộ cho các HTX, góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của các HTX thuộc các ngành, lĩnh vực
Phát huy thành quả đạt được, phong trào kinh tế hợp tác, HTX giai đoạn này tiếp tục được đẩy mạnh Cùng với việc thực hiện cuộc vận động cải tiến quản lý, xây dựng các HTX bậc cao với quy mô được mở rộng trong lĩnh vực nông nghiệp, hàng
16 Nhóm chuyên gia Socencoop, 2015, “Cẩm nang hướng dẫn đào tạo cán bộ chủ chốt hợp tác xã”
17 BN, 2019, “Vài nét cơ bản về lịch sử hình thành và phát triển phong trào HTX ở Việt Nam”,
lmhtx.baclieu.gov.vn
Trang 28nghìn HTX trong lĩnh vực phi nông nghiệp được thành lập, thu hút hàng triệu người dân tham gia
Các HTX nông nghiệp với hình thức tổ chức lao động tập thể, nhanh chóng chuyển phương thức sản xuất từ tự cung tự cấp, phân tán thành sản xuất tập trung, đưa máy móc, công cụ và kỹ thuật canh tác mới vào sản xuất Cơ sở vật chất kỹ thuật trong các HTX được tăng cường, giá trị tài sản cố định của các HTX năm 1965 tăng gấp 6,5 lần Các công trình thủy lợi được xây dựng, đồng ruộng được cải tạo, khai hoang phục hóa được đẩy mạnh Vì vậy, giai đoạn này đã có 17.562 HTX nông nghiệp bậc cao được thành lập, thu hút 90,3% số hộ nông dân khu vực miền Bắc, trong đó có 80% số
hộ tham gia HTX nông nghiệp bậc.18
Các HTX TTCN cũng phát triển các cơ sở sản xuất tập trung, tích cực cải tiến
kỹ thuật nâng cao chất lượng sản phẩm Giá trị sản lượng công nghiệp, TTCN do các HTX sản xuất năm 1965 tăng gấp 8,4 lần so với năm 1960 Lần đầu tiên khu vực kinh
tế hợp tác, HTX ở nước ta tổ chức sản xuất được hàng xuất khẩu và xuất khẩu đến thị trường nhiều nước trên thế giới
Các HTX mua bán cơ sở chuyển về xã và mạng lưới mua, bán được mở rộng đến tận thôn, bản Chỉ trong 3 năm (1962-1965), hơn 3.000 HTX mua bán xã được thành lập Các HTX đã làm tốt vai trò trợ thủ đắc lực của thương nghiệp quốc doanh trong việc đại lý hàng công nghệ phẩm và thu mua ủy thác lương thực, nông sản thực phẩm cho Nhà nước
Các HTX tín dụng cũng được phát triển mạnh ở khắp các vùng, miền trên miền Bắc Với gần 2.500 cơ sở, các HTX tín dụng đã tạo điều kiện hỗ trợ nông dân về vốn, góp phần hạn chế, xóa bỏ dần nạn cho vay nặng lãi
Cùng với những đóng góp về kinh tế, phong trào HTX cũng có vai trò quan trọng về mặt xã hội, như giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động, hỗ trợ các hộ xã viên phát triển sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống Các HTX đã chú trọng giáo dục tinh thần yêu nước, yêu CNXH, nâng cao giác ngộ chính trị cho đông đảo quần chúng lao động, đồng thời là nơi đào tạo đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm thực tiễn để bổ sung cán bộ cho địa phương Trong giai đoạn này, các HTX có vai trò quan trọng trong việc
18 BN, 2019, “Vài nét cơ bản về lịch sử hình thành và phát triển phong trào HTX ở Việt Nam”,
lmhtx.baclieu.gov.vn
Trang 29xây dựng lối sống mới, có văn hóa ở nông thôn thông qua việc tổ chức các dịch vụ phục vụ các nhu cầu xã hội như tang lễ, hiếu hỷ, giữ trẻ…
Các phong trào thi đua của HTX cũng được đẩy mạnh Phong trào thi đua học
và làm theo HTX Đại phong (Quãng Bình), HTX Thành Công (Thanh Hóa)…được các địa phương phát động sâu rộng và đạt kết quả thiết thực
Cùng với việc củng cố hệ thống tổ chức quản lý HTX nông nghiệp, mua bán…từ Trung ương đến các huyện, thị, năm 1961, Đại hội đại biểu toàn quốc các HTX tiểu thủ công nghiệp được tổ chức, Liên hiệp HTX TTCN từ Trung ương đến các địa phương được thành lập; hệ thống quản lý, đại diện, hỗ trợ của các HTX mua bán, HTX tiểu thủ công nghiệp đã trở thành chỗ dựa của các HTX, hỗ trợ các HTX về nguồn hàng, cung ứng nguyên liệu để HTX tổ chức sản xuất, kinh doanh; tạo ra mối quan hệ liên kết giữa các HTX, hướng dẫn giúp đỡ các HTX về chuyên môn, nghiệp
vụ và đào tạo cán bộ, dạy nghề cho lao động
Năm 1965, khi Đế quốc Mỹ đưa máy bay ra ném bom phá hoại miền Bắc, quy
mô chiến tranh mở rộng, với khẩu hiệu “tất cả để chiến thắng”, “tất cả để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước”, “Vì miền Nam ruột thịt”…, khu vực HTX được củng
cố, phát triển và trở thành một lực lượng kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của hậu phương lớn miền Bắc
Trong lĩnh vực nông nghiệp, cuộc vận động cải tiến quản lý, tổ chức lại sản xuất được phát động và tổ chức thực hiện như một cuộc cách mạng lớn Các HTX tiến hành củng cố chế độ sở hữu tập thể trong HTX, tổ chức các đội sản xuất kết hợp với các đội chuyên khâu, đầu tư tăng cường cơ sở vật chất Nhiều phong trào sản xuất được phát động như phong trào xây dựng những cánh đồng 5 tấn/ha, phong trào học tập HTX nông nghiệp Đại Phong (Quãng Bình), HTX nông nghiệp Vũ Thắng (Thái Bình)…
Các HTX được củng cố và từng bước chuyển dần thành HTX bậc cao, tiếp tục đẩy mạnh sản xuất đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, cung cấp hàng hóa cho chiến trường, đồng thời đã sản xuất ra nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị xuất khẩu
Các HTX mua bán cũng đã tổ chức tốt việc tham gia lưu thông hàng hóa trong thị trường, đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng, chống nạn đầu cơ, nâng giá, ép giá
Trang 30Các HTX vận tải ngoài việc đáp ứng các nhu cầu vận chuyển hàng hóa, hành khách còn trực tiếp tham gia vận chuyển lương thưc, vũ khí ra tiền tuyến phục vụ chiến đấu
Mặc dù phải hoạt động trong điều kiện chiến tranh vô cùng ác liệt, phong trào HTX giai đoạn này vẫn được củng cố và phát triển Đến cuối năm 1974, toàn miền Bắc có hơn 46.000HTX trong các ngành, lĩnh vực, trong đó hầu hết các HTX nông nghiệp đã tổ chức lại theo quy mô toàn xã, thu hút 96% số hộ nông dân tham gia/ Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vẫn đạt tốc độ tăng trưởng khá, trong những năm 1970-1974 bình quân tăng 11,8%, chiếm hơn 32% giá trị sản lượng công nghiệp địa phương Các HTX mua bán cũng nâng tỷ trọng chiếm lĩnh thị trường bán lẻ xã hội lên 21%.19
Trên cơ sở giáo dục lòng yêu nước và căm thù giặc Mỹ sâu sắc, các HTX đã động viên được sự lao động quên mình của các xã viên, vừa sản xuất vừa chiến đấu, với khẩu hiệu “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “tay cày tay súng”, vừa sản xuất nhiều lương thực, thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng chi viện cho miền nam, vừa tổ chức các đơn vị tự vệ, tham gia chiến đấu, đánh trả máy bay địch, bảo vệ quê hương Nhờ có HTX, chúng ta đã huy động cao độ được sức người, sức của cho tiền tuyến, hàng triệu thanh niên trai tráng nông thôn ra mặt trận, đánh giặc cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Các HTX còn làm nòng cốt trong cuộc vận động toàn dân thực hiện công tác hậu phương quân đội, trực tiếp chăm sóc gia đình thương binh, liệt sĩ; tiếp nhận các chiến sĩ, thương bệnh binh từ mặt trận
về tham gia sản xuất với các công việc phù hợp, tạo điều kiện ổn định cuộc sống Và còn là nơi giáo dục, nâng cao ý thức chính trị cho quần chúng nhân dân, xây dựng nếp sống văn hóa, đề cao tình làng nghĩa xóm, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, đóng góp tích cực vào những thành tựu của cuộc cách mạng tư tưởng văn hóa ở nông thôn
Trong giai đoạn này, Liên hiệp HTX TTCN đã xây dựng hoàn chỉnh hệ thống
tổ chức từ Trung ương đến các huyện, thị xã Tập trung hướng dẫn hỗ trợ các HTX phát triển sản xuất, nhất là phát triển sản xuất hàng xuất khẫu; hỗ trợ các HTX về kỹ thuật, thị trường, cung ứng nguyên liệu tổ chức gia công sản xuất cho các xí nghiệp quốc doanh Hệ thống quản lý HTX mua bán cũng được củng cố tăng cường, vừa
19 Trung tâm Thông tin HTX Việt Nam, 2018, “Lịch sử hình thành và phát triển phong trào HTX ở Việt Nam, vca.org.vn
Trang 31hướng dẫn, giúp đỡ các HTX về nghiệp vụ, vừa trực tiếp tổ chức các hoạt động sản xuất, chế biến, kinh doanh các mặt hàng ngoài kế hoạch để có thêm nguồn hàng cung ứng cho các HTX cơ sở, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội Các tổ chức quản lý, đại diện, hỗ trợ cho HTX còn làm tốt vai trò tham mưu cho Đảng, Nhà nước đề ra những chủ trương, chính sách, tạo điều kiện cho HTX phát triển; đồng thời làm tốt nhiệm vụ giáo dục chính trị, động viên tinh thần yêu nước trong cán bộ, xã viên HTX, tham gia tích cực vào việc thực hiện các nhiệm vụ cách mạng trong mỗi giai đoạn lịch
sử của đất nước
Sau chiến thắng lịch sử mùa xuân năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng,
cả nước thống nhất cùng đi lên CNXH, phong trào HTX được phát triển và lan rộng tới các tỉnh, thành phố phía Nam
Thực hiện chính sách cải tạo theo tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ 24 (khóa III) và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, với mục tiêu đến năm 1980 hoàn thành cơ bản việc cải tạo XHCN ở các tỉnh, thành phố phía Nam Chỉ trong 4 năm (1976-1980), phong trào HTX được phát triển mạnh tại các tỉnh phía Nam, đến năm 1986, năm được coi là thời kỳ phát triển cao nhất của phong trào HTX
ở Việt Nam, cả nước có 76.000 HTX trong các ngành, lĩnh vực kinh tế, thu hút hơn 20 triệu xã viên tham gia Trong đó có 16.740 HTX nông nghiệp, 40.228 tập đoàn sản xuất với 94% số hộ nông dân và 80,8% tổng số ruộng đất canh tác nông nghiệp, sản xuất hơn 80% sản phẩm lương thực, thực phẩm của cả nước; đã xây dựng được 4.000
tổ đoàn kết sản xuất, 5.000 tổ hợp tác sản xuất và gần 1.000 HTX TTCN, thu hút 70% lực lương lao động trong các ngành nghề quan trọng và địa bàn sản xuất tập trung Trong thương nghiệp đã xây dựng được HTX mua bán ở 92% xã, lực lượng HTX mua bán cũng đã giúp Nhà nước nắm 80% nguồn hàng TTCN của địa phương và 30% nguồn hàng nông sản.20
Ở miền Bắc, phong trào cải tiến quản lý, tổ chức lại sản xuất trong các HTX nông nghiệp được đẩy mạnh Quy mô các HTX nông nghiệp tiếp tục được mở rộng và tiến hành tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, chuyên môn hóa và cơ giới hóa HTX trong các lĩnh vực TTCN, tín dụng, xây dựng tiếp tục được củng cố và phát triển, hoạt động có hiệu quả
20 Trần Văn Thành, 2016, “70 năm xây dựng và phát triển HTX”, www.baohoabinh.com.vn
Trang 32Trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, cả nước có 32.000 HTX, với 1,27 triệu lao động, sản xuất ra một khối lượng hàng hóa chiếm 30% giá trị sản lượng công nghiệp toàn quốc và gần 50% giá trị sản lượng công nghiệp địa phương Trong lĩnh vực thương mại, cả nước có 9.600 HTX mua bán cơ sở xã, phường, 10 vạn điểm mua, bán hàng Các HTX mua bán đã chiếm gần 20% tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ của thị trường xã hội và đại lý thu mua ủy thác hơn 60% sản lượng hàng hóa nông sản, thực phẩm cho cả nước Trong những năm này, hơn 9.900 HTX vận tải với hàng chục ngàn phương tiện đã vận chuyển hơn 45% khối lượng hàng hóa và 50% khối lượng hành khách vận chuyển của các địa phương Trong lĩnh vực xây dựng, cả nước đã có 3.913 HTX xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng, góp phần quan trọng trong phục vụ cho việc xây dựng các công trình công cộng và nhà ở cho nhân dân Trong lĩnh vực tín dụng với 7.100 HTX, đã thể hiện vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ vốn phục vụ nhu cầu phát triển sản xuất của các hộ xã viên, khắc phục tình trạng cho vay nặng lãi ở nông thôn
Trong giai đoạn này, Liên hiệp HTX tiểu thủ công nghiệp Trung ương và Ban quản lý HTX mua bán Việt Nam đã được tổ chức ở các tỉnh, thành phố phía Nam, hình thành tổ chức quản lý, đại diện, hỗ trợ trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp và mua bán thống nhất trong toàn quốc Các cơ quan, tổ chức quản lý và hỗ trợ phát triển HTX trong các ngành nông nghiệp, ngư nghiệp, tín dụng và các lĩnh vực khác cũng được củng cố Các tổ chức này có vai trò quan trọng trong việc làm tham mưu cho Đảng và tuyên truyền, phổ biến đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế hợp tác, HTX; vận động nông dân, thợ thủ công, các hộ kinh tế cá thể, tiểu chủ tích cực tham gia xây dựng các cơ sở kinh tế hợp tác, HTX; hướng dẫn, hỗ trợ các HTX phát triển sản xuất, kinh doanh, tập trung đào tạo hàng vạn cán bộ cho các HTX cơ sở Liên hiệp HTX TTCN và ban quản lý HTX mua bán cũng đã chi viện hàng ngàn cán
bộ có kinh nghiệm cho các tỉnh, thành phố phía Nam xây dựng phong trào HTX
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, khu vực kinh tế hợp tác, HTX đã có những biến đổi quan trọng Khi cơ chế quản lý tập trung bao cấp được xóa bỏ, cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước từng bước được hình thành và điều tiết các quan hệ kinh tế; phần lớn các HTX trong các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế rơi vào tình trạng khó khăn, lúng túng, nhiều HTX sản xuất kinh doanh thua lỗ bị tan rã, giải thể Tuy nhiên, trong khó khăn, một bộ phận HTX đã kịp thời chuyển đổi thích ứng
Trang 33với cơ chế mới, hoạt động có hiệu quả Từ kinh nghiệm thành công của các HTX trong
cơ chế thị trường, quá trình đổi mới kinh tế HTX được đẩy mạnh trong những năm 1990-1996 Cuối năm 1996, Quốc Hội thông qua Luật HTX, có hiệu lực thi hành từ 01/01/1997
Thực hiện Luật HTX, các HTX được thành lập từ trước năm 1997 đã được từng bước chuyển đổi và đăng ký lại Quá trình chuyển đổi đã tạo điều kiện củng cố lại tổ chức, đổi mới quan hệ sản xuất và tăng cường lực lượng sản xuất trong các HTX; vai trò tự chủ của HTX được đề cao, xã viên tham gia HTX một cách tự nguyện, nhiều HTX đã xây dựng được phương án hoạt động phù hợp, huy động được sự tham gia đóng góp của xã viên; mô hình HTX mới được hình thành và khẳng định Giai đoạn này là giai đoạn thực hiện chuyển đổi hợp tác xã từ mô hình HTX kiểu cũ (mang nặng tính hành chính, bao cấp) sang mô hình HTX kiểu mới (mang nặng tính tự chủ, thị trường) theo Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 18/3/2002 về tiếp tục đổi mới, phát triển
và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể Giai đoạn này chứng kiến sự chuyển đổi và thu hẹp của HTX Số lượng HTX đã giảm từ 18.607 năm 1986 xuống còn 14.207 năm
2003.21
Bên cạnh việc chuyển đổi, củng cố các HTX củ, xuất phát từ nhu cầu hợp tác của kinh tế hộ, trong những năm qua, cả nước đã có hơn 8.000 HTX mới được thành lập trong các ngành, lĩnh vực kinh tế với các hình thức tổ chức và phương thức hoạt động đa dạng Nhiều HTX, thành viên tham gia không chỉ bao gồm cá nhân mà còn gồm các chủ trang trại, hộ tiểu chủ, nhà khoa học, các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ
và vừa, một số HTX có cả thành viên là doanh nghiệp Nhà nước tham gia Trong các HTX mới thành lập có nhiều mô hình HTX mới như HTX dịch vụ điện, HTX vệ sinh môi trường, HTX nước sạch, HTX dịch vụ tang lễ…
Trong quá trình hoạt động, nhiều HTX đã mạnh dạn huy động các nguồn đầu tư
mở rộng sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, hình thành những HTX có quy mô lớn, hiện đại, có tốc độ tăng trưởng cao Sản phẩm của các HTX sản xuất ra không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn được xuất khẩu ra thị trường thế giới Nhiều HTX đã từng bước khắc phục được những tồn tại, yếu kém, vươn lên trở thành những HTX khá, giỏi
21 Chu Hảo, 2012, “Sự phát triển của HTX và vai trò của HTX đối với an sinh xã hội”, www.neu.edu.vn>Docs>SubDomaim>viennghiencuuktpt
Trang 341.2.2 Giai đoạn sau khi ban hành Luật Hợp tác xã năm 2003
Năm 2003, Quốc hội ban hành Luật HTX năm 2003, tuy nhiên số lượng HTX nông nghiệp vẫn không tăng, chỉ có khoảng 6.500 hợp tác xã, trong khi hợp tác xã phi nông nghiệp lại tăng nhẹ22 Luật HTX năm 2003 đã khuyến khích hợp tác xã đi theo
mô hình “doanh nghiệp”, vì thế khu vực phi nông nghiệp đã tận dụng thời cơ để thành lập chuyển đổi; trong khi đó khu vực nông nghiệp lại không phù hợp và với sức ép triển khai Luật HTX năm 2003, các địa phương đẩy mạnh giải thể các HTX nông nghiệp yếu kém
Giai đoạn 2004 đến năm 2012, Hợp tác xã bắt đầu có những bước chuyển mình đáng kệ, đánh dấu sự phục hồi của kinh tế Hợp tác xã cả về chất và lượng Số lượng HTX đã tăng từ 14.207 năm 2003 lên 18.244 năm 2010 Sự tăng lên về mặt số lượng HTX ở giai đoạn này là kết quả của việc chuyển đổi mô hình ở 8.500 HTX thành lập trước năm 1997, thành lập mới 9.744 HTX và giải thể 5.7070 HTX23 Sự phục hồi này phần nào phản ánh những tác động tích cực của Luật HTX sửa đổi năm 2003 đến khu vực kinh tế hợp tác và HTX
Các HTX đã tham gia ngày càng sâu rộng vào nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau Trong tổng số 18.244 HTX có 8.918 HTX nông nghiệp, 389 HTX thủy sản, 2.479 HTX công nghiệp, 939 HTX xây dựng, 1.070 HTX vận tải, 981 HTX thương mại, dịch vụ, 1.053 quỹ tín dụng nhân dân và 2.020 các loại hình khác…
Trong tổng số 18.244 HTX khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên có 4.974 HTX; khu vực Nam Bộ có 1.726 HTX; khu vực Trung Bộ có 4.726 HTX và khu vực Đồng bằng sông Hồng có 6.023 HTX
Các hình thức liên kết giữa các HTX cũng phát triển mạnh trong giai đoạn này
Cả nước có 53 liên hiệp HTX, trong đó có 18 liên hiệp HTX nông nghiệp, 2 liên hiệp HTX thủy sản, 8 liên hiệp HTX GTVT, 4 liên hiệp HTX công nghiệp, 5 liên hiệp HTX xây dựng, 13 liên hiệp HTX thương mại, dịch vụ Các liên hiệp thu hút sự tham gia của 1.492 HTX, các đơn vị thành viên
22 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2018 “Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết NQ/TW Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Lần thứ 5 (khóa IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể”
13-23 Nhà xuất bản tri thức, 2012, “Sự phát triển của hợp tác xã và vai trò của hợp tác xã đối với an sinh xã hội”
Trang 35Sự hồi phục và phát triển của HTX trong giai đoạn này phản ánh xu thế phát triển tất yếu của kinh tế hợp tác trong giai đoạn mới Ngoài ra, sự phát triển của liên hiệp HTX ngành nghề trong thời kỳ này phần nào phản ánh yêu cầu hợp tác ở trình độ cao của kinh tế hội nhập
1.2.3 Giai đoạn sau khi ban hành Luật HTX năm 2012
Ngày 20/11/2012 Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 4 thông qua Luật HTX năm
2012 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2013 tạo hàng lang pháp lý thuận lợi hơn cho khu vực HTX phát triển
Đến cuối năm 2015, cả nước có khoảng 150.000 THT, 18.024 HTX và 56 liên hiệp HTX Trong đó, có 10.452 HTX nông nghiệp, 2.187 HTX công nghiệp, thủ công nghiệp, 1.424 HTX thương mại – dịch vụ, 965 HTX giao thông vận tải, 1.145 quỹ tín dụng nhân dân, 438 HTX thủy sản, HTX dịch vụ điện nước có 1.709 và 1.005 HTX ngành nghề khác Tổng số có 41 liên hiệp HTX, chủ yếu trong lĩnh vực thương mại – dịch vụ, vận tải và nông nghiệp, thu hút khoảng 13 triệu thành viên và người lao động24 Với sự đóng góp của khu vực hợp tác xã hết sức quan trọng cả về kinh tế, xã hội và văn hóa Thu hút phần lớn lao động xã hội; hỗ trợ tích cực cho kinh tế hộ phát triển; góp phần tăng thu nhập cho xã viên và người lao động; góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên chất lượng hoạt động HTX nông nghiệp chưa có nhiều chuyển biến
Kể từ năm 2016 đến nay, HTX nông nghiệp đã có sự chuyển biến mạnh cả về
số lượng và chất lượng hoạt động nhờ các nhân tố như: sự ra đời của Ban chỉ đạo kinh
tế tập thể, hợp tác xã hoạt động tổng kết Kết luận số 56-KL/TW của Bộ Chính trị; tổng kết Nghị quyết số 13-NQ/TW đã định hướng và thúc giục các địa phương tập trung chỉ đạo; Quốc hội ban hành Nghị quyết 32/2016/QH14 ngày 23/11/2016 và Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 461/QĐ-TTg ngày 27/4/2018 phê duyệt Đề án phát triển 15.000 hợp tác xã nông nghiệp hoạt động hiệu quả đến năm 2020; các Chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp…đẩy mạnh thu hút đầu tư vào nông nghiệp, phát triển công nghiệp chế biến và xuất khẩu, xây dựng vùng nguyên liệu…đã mở đường cho kinh tế tập thể, HTX nông nghiệp phát triển Ngoài việc thành lập các HTX kiểu
24 Trần Văn Thành, 2016, “70 năm xây dựng và phát triển HTX”, www.baohoabinh.com.vn
Trang 36mới, các địa phương đã chú ý đến việc giải thể HTX hoạt động kém hiệu quả, giúp cho HTX tăng đáng kể
Năm 2018, cả nước có 13.856 HTX nông nghiệp, tăng 5.769 HTX so với năm
2002 (trong đó thành lập mới 9.391 HTX, giải thể 3.643 HTX, 21 HTX chuyển từ phi nông nghiệp sang)25 Bình quân 01 tỉnh có 220 HTX Các HTX hoạt động tổng hợp (chiếm 49,47%), số còn lại (50,53%) hoạt động theo chuyên ngành, trong lĩnh vực trồng trọt lớn nhất, tiếp đó là chăn nuôi và thủy sản, thấp nhất là diêm nghiệp Số HTX yếu kém đã ngừng hoạt động là 625 HTX Các HTX nông nghiệp được phân loại khá, tốt là 55%, tăng hơn 2 lần so với trước khi thực hiện Luật HTX năm 2012
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của Hợp tác xã nông nghiệp
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về sự phát triển HTX và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của HTX, điển hình là:
Mellor&Mel (2009) chỉ ra rằng sự phát triển của HTX bị chi phối bởi 4 yếu tố là: quá trình toàn cầu hóa; quá trình thương mại hóa nhanh chóng của các hộ nông dân nhỏ; sự phát triển mạnh mẽ của siêu thị và cuộc cách mạng trong lĩnh vực truyền thông
Garnevska và cộng sự (2011) đã xác định rằng môi trường pháp lý ổn định, người sáng lập và người lãnh đạo tận tâm, có sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của Chính phủ, sự am hiểu của thành viên, sự tham gia tích cực của thành viên vào hoạt động của HTX và các hỗ trợ bên ngoài từ các tổ chức NGOs là các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển thành công của HTX ở vùng Tây Bắc Trung Quốc
Michael Bratton (1986), khi nghiên cứu về tổ chức nông dân ở Zimbabwe đã tổng kết rằng để một nhóm nông dân phát triển thành công và hoạt động hiệu quả cần đảm bảo 09 yếu tố cơ bản là: (1) các thành viên có cùng mối quan tâm, hiểu rõ về mục đích, mục tiêu và kế hoạch hành động; (2) có điều lệ hoạt động và ghi rõ mục tiêu, nguyên tắc, được xây dựng bởi các thành viên để định hướng hoạt động và giúp cho
họ có trách nhiệm thúc đẩy phát triển nhóm; (3) có một nhà lãnh đạo tốt được các thành viên trong nhóm bầu ra, giúp các thành viên đoàn kết, phát triển; (4) có tên, địa chỉ, văn phòng và được đăng ký với cơ quan pháp lý; (5) có hồ sơ, sổ sách ghi chép, đảm bảo tính minh bạch; (6) các thành viên đóng góp quỹ và huy động tiết kiệm giúp
25 Ban chỉ đạo đổi mới, phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã, 2019, “Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết 13-NQ/TW”
Trang 37hình thành tính cộng đồng, sở hữu chung; (7) các thành viên trung thực và có tính xây dựng; (8) đảm bảo các cuộc họp thường kỳ; (9) tất cả thành viên tham gia vào quá trính ra quyết định, hoạt động và chia sẻ lợi ích
Ngoài việc đánh giá cơ sở lý luận, tác giả đi sâu vào nghiên cứu thực tế, ngoài
ra, còn có các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách và giải pháp phát triển của HTX như: yếu tố con người (năng lực cán bộ lãnh đạo và cán bộ tham mưu hoạch định chính sách); yếu tố tiến bộ khoa học kỹ thuật; yếu tố cơ sở vật chất; yếu tố tổ chức quản lý; yếu tố môi trường
Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách và giải pháp phát triển HTX nông nghiệp, đó là: bản chất của HTX; bối cảnh thực thi chính sách trong thực tế; tiềm lực chính trị và kinh tế của nhóm đối tượng chính sách (HTX, thành viên HTX); công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách; bộ máy cán bộ tổ chức thực thi chính sách (công tác quản lý của Nhà nước đối với HTX); thủ tục hành chính; nguồn kinh phí/ngân sách thực hiện; thái độ thực thi chính sách của HTX, thành viên HTX
Một là, nhóm các yếu tố nội sinh
Tác giả đã tiến hành phỏng vấn, lấy phiếu ý kiến 29 đơn vị (trong đó có 01 liên minh HTX, 7 cơ quan QLNN về HTX cấp huyện, 01 thị xã, 20 UBND xã và các HTX nông nghiệp) để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cũng như sự phát triển của HTX nông nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm các yếu tố bên trong (yếu tố nội sinh) ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp gồm:
(1) Nhóm yếu tố phản ánh mục tiêu thành lập của HTX và sự tham gia của các thành viên, kết quả cho thấy: đa số các thành viên HTX đều hiểu, thống nhất mục tiêu thành lập và tự nguyện tham gia
(2) Nhóm yếu tố phản ánh trình độ và năng lực quản lý HTX: thành viên HTX nông nghiệp do đa số hộ nông dân tham gia hoạt động, trình độ hạn chế, năng lực không đáp ứng nhu cầu phát triển của HTX
(3) Nhóm yếu tố về tổ chức và quản trị HTX: tổ chức bộ máy và cán bộ quản lý HTX thực hiện đúng theo Luật HTX năm 2012, một số HTX có Giám đốc kiêm Chủ tịch Hội đồng quản trị, có kế toán riêng Số còn lại phải nhờ cán bộ kế toán của UBND các xã, phường phụ trách
Trang 38(4) Nhóm yếu tố về tài sản và vốn của HTX: một số HTX có cơ sở vật chất, số còn lại mượn nhà của thành viên HTX để hoạt động hoặc mượn trụ sở UBND xã; vốn góp còn hạn chế
(5) Nhóm yếu tố về tổ chức các hoạt động dịch vụ của HTX nhằm đem lại lợi ích cho thành viên
Hai là, nhóm các yếu tố ngoại sinh
Đó là các yếu tố tác động từ bên ngoài (yếu tố ngoại sinh), ảnh hưởng đến sự phát triển của cả phong trào HTX trên phạm vi tỉnh hoặc vùng lãnh thổ hoặc cả nước Những yếu tố bên ngoài bao gồm:
(1) Sự quan tâm của hệ thống chính trị cơ sở và các chính sách hỗ trợ: người đứng đầu các cơ quan Đảng, hệ thống MTTQ và các đoàn thể chính trị-xã hội ở địa phương ít quan tâm đến việc tuyên truyền, phổ biến Luật HTX năm 2012, các văn bản
có liên quan và hoạt động của mô hình hoạt động HTX, chưa tranh thủ tận dụng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ HTX phát triển
(2) Vai trò, trách nhiệm của các cơ quan QLNN, đơn vị hỗ trợ HTX: xuất hiện biểu hiện buông lỏng kéo dài của các cơ quan quản lý Nhà nước đối với hoạt động mô hình HTX
(3) Sự thay đổi của thể chế và các quy định pháp luật về bản chất HTX: đa số các HTX dần đi vào chuyển đổi, thành lập mới; một số HTX biểu hiện tình trạng trì trệ, chậm phát triển
(4) Quá trình triển khai chính sách và pháp luật: công tác tuyên truyền còn mang tính hình thức, chưa thu hút được sự tham gia của người dân vào HTX
(5) Yếu tố khác (điều kiện thị trường, sự phát triển KHCN)
Ba là, nhóm nhân tố về đặc điểm xã hội
Thành viên hiệp hội, đoàn thể, các nông hộ vì đặc điểm chuyên sản xuất nông nghiệp nên đa số là thành viên của Hội nông dân Ngoài ra, tùy vào giới tính, độ tuổi…họ còn là thành viên của các tổ chức Hội, đoàn thể khác như Hội Liên hiệp phụ
nữ, Đoàn Thanh niên Công sản Hồ Chí Minh, thành viên Mặt trận Tổ quốc…Việc tham gia các tổ chức Hội, đoàn thể giúp các nông hộ dễ tiếp cận và cập nhật thông tin
về các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; có cơ hội giao lưu, chia sẻ, học tập kinh nghiệm lẫn nhau; cùng hợp tác, liên kết để sản xuất cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập hộ…
Trang 391.4 Kinh nghiệm hoạt động của mô hình Hợp tác xã trên thế giới
Theo Tổ chức Liên minh HTX Quốc tế, đến tháng 6/2019 trên thế giới có 1 tỷ người là thành viên và khách hàng của HTX, tổng số hơn 3 triệu HTX Các HTX đóng góp vào tăng trưởng kinh tế bền vững và việc làm ổn định, chất lượng, sử dụng 280 triệu người lao động trên toàn cầu, tương ứng với 10% người lao động trên thế giới
Trong tổng số 2.575 tổ chức đại diện HTX trên toàn cầu vào năm 2018, 300 HTX hàng đầu thế giới hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, bao gồm: bảo hiểm (32%), nông nghiệp (35%), thương mại bán buôn và bán lẻ (19%), dịch vụ tài chính ngân hàng (8%), công nghiệp và tiện ích (2%), y tế, giáo dục và chăm sóc xã hội (2%)
và các dịch vụ khác (2%) và có tổng doanh thu 2.100 tỷ USD
Kết quả hoạt động HTX của năm 2018 cho thấy các tổ chức lớn nhất trong phong trào HTX đều hoạt động tốt Trong bảng xếp hạng Top 300 dựa trên doanh thu, HTX Groupe Credit Agricole và Groupe BPCE, cả hai đều đến từ Pháp, lần lượt xếp thứ nhất và thứ hai, với HTX BVR của Đức đứng thứ ba Các doanh nghiệp HTX đã
và đang cùng phát triển các dự án và sáng kiến để đảm bảo lao động công bằng, bảo vệ môi trường và nhiều hơn nữa để đáp ứng các mục tiêu phát triển bền vững SDGS Nổi bật là những hành động được thực hiện bởi HTX Grupo Sancor Seguros (Argentina), HTX Metsa Group (Phần Lan) và HTX Sicredi (Brazil), ba trong số 300 HTX hàng đầu
1.4.1 Thực trạng phát triển Hợp tác xã ở một số nước Châu Âu
Năm 2014, Châu Âu có 356.380 HTX với 368 triệu thành viên và khách hàng HTX, chiếm 45,5% dân số của khu vực, tạo ra 5,2 triệu việc làm, có tổng giá trị sản lượng 11,68 nghìn tỷ USD, đóng góp 7% GDP của khu vực26 Tại các nước, khu vực HTX đóng góp từ 2-20% GDP, tiêu biểu như ở Hà Lan, HTX đóng góp 18% GDP Vùng Emilia-Romagna của Ý là nơi có khu vực HTX đóng góp lên tới 30% GDP Năm 2017, CHLB Đức có tổng số 5.514 HTX cơ sở, trong đó có 915 quỹ tín dụng nhân dân cấp cơ sở, 2099 HTX nông nghiệp, 1342 HTX dịch vụ vừa và nhỏ, 862 HTX năng lượng tái tạo, 379 HTX dịch vụ tiêu dùng và 1931 HTX nhà ở, đóng góp 5% GDP của cả nước, tuyển dụng 800.000 việc làm, với 19,7 triệu thành viên HTX Tại Pháp, năm 2010, 21.000 HTX tạo ra trên 1 triệu việc làm, chiếm 3,5% lực lượng lao
26 Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, 2019, Lý luận và thực tiễn phát triển HTX trên thế giới
Trang 40động Năm 2007, Đan Mạch, HTX tiêu dùng chiếm 36,4% thị trường bán lẻ tiêu dùng Với dân số 4,8 triệu người, Nauy có tới 2 triệu thành viên HTX Tại Tây Ban Nha, 15% dân số, tương ứng với 6,7 triệu người là thành viên của HTX năm 2008 Khu vực HTX tại Vương Quốc Anh cho thấy tỷ lệ 80% HTX khởi nghiệp đều tồn tại sau 5 năm
so với tỷ lệ bình quân 44% ở khu vực khác Hà Lan có 2.500 HTX trong đó 100 HTX tài chính, 200 HTX nông nghiệp, 100 HTX thu mua nông sản, 2.100 HTX các loại hình khác, gồm 145 HTX nhà ở, 352 HTX y tế Hà Lan có 17 triệu dân nhưng có tới
30 triệu thành viên HTX, tương ứng một người dân Hà Lan trung bình là thành viên của 1,8 HTX
Trong lĩnh vực nông nghiệp, Liên minh Châu Âu (EU) có khoảng 30.000 HTX nông nghiệp với doanh số khoảng 210 tỷ đô Các HTX nông nghiệp lớn nhất hoạt động trong các ngành chế biến bơ sữa, thịt và thương mại nông nghiệp Lĩnh vực ngân hàng cũng là nơi các HTX có thị phần lớn Các HTX bán lẻ rất mạnh ở các nước Bắc
tỷ USD(20) Năm 2018, khu vực HTX của Nhật Bản có 65 triệu thành viên, doanh thu trên 145 tỷ USD, hiện diện ở trên 35.600 địa phương; 37% các hộ gia đình sử dụng hàng hóa và dịch vụ của HTX tiêu dùng; ¼ dân số, trên 38 triệu thành viên sử dụng bảo hiểm do HTX cung cấp; ¼ các khoản tiền gửi của Nhật Bản, trên 2,4 nghìn tỷ USD, được gửi tại ngân hàng HTX; 50%, trên 49 tỷ USD/năm là tổng doanh thu của nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp trong hệ thống HTX Năm 2017, Trung Quốc
có số HTX là 1,933 triệu và hơn 100 triệu hộ gia đình đã tham gia vào HTX Năm
2018, cả nước Thái Lan có 6.626 HTX đang hoạt động, trong đó có 3.527 HTX nông nghiệp, chiếm 53,23%; 3.099 HTX phi nông nghiệp, chiếm 46,77% Tổng số thành viên HTX là 12.021.465 thành viên, chiếm khoảng 17,3% dân số Thái Lan Tại New Zealand, HTX đóng góp 20% GDP, chịu trách nhiệm 95% thị trường sữa và 95% kim ngạch xuất khẩu sữa Philippin năm 2011 có 7,29 triệu thành viên HTX Singapore