Theo Luật kiểm toán độc lập 2011 thì “KTĐL là việc KTV hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mì
Trang 1HỨA VIẾT MINH
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA KIỂM TOÁN VIÊN
VÀ DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỐI VỚI BÁO CÁO KIỂM TOÁN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2020
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2 LỜI NÓI ĐẦU 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
HỨA VIẾT MINH
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA KIỂM TOÁN VIÊN
VÀ DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỐI VỚI BÁO CÁO KIỂM TOÁN
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Hứa Viết Minh, là học viên lớp Cao học Khóa 28_2_Luật kinh tế Bình Dương, chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế TP
Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn Thạc sĩ Luật học với đề tài “Trách nhiệm
pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán đối với báo cáo kiểm toán "
(Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và
có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực
Học viên thực hiện
HỨA VIẾT MINH
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ
DANH MỤC CÁC BẢNG
TÓM TẮT LUẬN VĂN
ABSTRACT
LỜI NÓI ĐẦU……… 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Câu hỏi nghiên cứu: 2
3 Tổng quan về tình hình nghiên cứu: 2
4 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Mục đích nghiên cứu: 3
4.2 Đối tượng nghiên cứu: 3
4.3 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu 4
6 Kết cấu dự kiến của Luận văn 4
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VÀ DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỐI VỚI BÁO CÁO KIỂM TOÁN 5
1.1 Khái quát về kiểm toán và kiểm toán độc lập 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Những mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của kiểm toán độc lập 7
1.1.3 Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động kiểm toán độc lập 9
1.2 Doanh nghiệp kiểm toán và tổ chức nghề nghiệp kiểm toán 10
1.2.1 Khái niệm về doanh nghiệp kiểm toán và tổ chức nghề nghiệp kiểm toán 11
1.2.2 Hình thức tổ chức hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán 11
1.2.3 Một số đặc điểm về doanh nghiệp kiểm toán và tổ chức nghề nghiệp kiểm toán trên thế giới 13
1.3 Kiểm toán viên và trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và DN kiểm toán 15
1.3.1 Khái niệm và vai trò của kiểm toán viên 15
Trang 51.3.2 Trách nhiệm nghề nghiệp của kiểm toán viên 17
1.3.3 Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán 20
1.4 Tham khảo một số kinh nghiệm về trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên ở nước khác 28
1.4.1 Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên ở Mỹ 28
1.4.2 Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên ở Anh 31
CHƯƠNG 2: TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VÀ DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN QUA THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG NGHỀ NGHIỆP 34
2.1 Tổng quan về thực tiễn hoạt động kiểm toán độc lập từ sau khi có Luật kiểm toán độc lập 2011 34
2.1.1 Tổng quan thực tiễn hoạt động kiểm toán độc lập 34
2.1.2 Những mặt đạt được 37
2.1.3 Những mặt hạn chế của hoạt động KTĐL hiện nay 39
2.2 Trách nhiệm pháp lý của tổ chức hành nghề kiểm toán qua vụ việc cụ thể 42
2.2.1 Trường hợp KTV đã có sai phạm trong quá trình thực hiện kiểm toán 45
2.2.2 Trường hợp KTV đã tuân thủ đúng các quy định của Chuẩn mực kiểm toán và quy định pháp luật về KTĐL 49
2.3 Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên đối với báo cáo kiểm toán sai sót qua trường hợp cụ thể 52
2.3.1 Trường hợp BCKT sai do KTV có hành vi vi phạm quy định pháp luật kiểm toán hoặc chuẩn mực kiểm toán 55
2.3.2 Trường hợp BCKT sai mặc dù KTV đã tuân thủ đúng chuẩn mực kiểm toán và quy định pháp luật 58
2.4 Phân định trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và tổ chức hành nghề: những vấn đề đặt ra 61
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VÀ DOANH NGHIỆP
KIỂM TOÁN 66
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT 66
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán 67
3.3 Một số kiến nghị nhằm đảm bảo thực thi có hiệu quả trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán 70
PHẦN KẾT LUẬN 76
DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
KTV : Kiểm toán viên
DNKT : Doanh nghiệp kiểm toán
BCKT : Báo cáo kiểm toán
BCTC : Báo cáo tài chính
KTĐL : Kiểm toán độc lập
VACPA : Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam
VSA : Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 : Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng của kiểm toán viên
Sơ đồ 1.2 : Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng của kiểm toán viên
Sơ đồ 2.1 : Trách nhiệm pháp lý của DNKT đối với BCKT sai sót
Sơ đồ 2.2 : Trách nhiệm pháp lý của KTV đối với BCKT sai sót
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng số 2.1 : Xếp hạng 10 DNKT lớn nhất theo doanh thu năm 2018 Bảng số 2.2 : Xếp hạng 10 DNKT lớn nhất theo số lƣợng NV năm 2018
Trang 7TÓM TẮT LUẬN VĂN
Hoạt động kiểm toán độc lập là một nhân tố quan trọng bảo đảm cho sự phát triển bền vững của thị trường tài chính doanh nghiệp Ở Việt Nam, mặc dù lĩnh vực kiểm toán độc lập mới có lịch sử hình thành khoảng 30 năm, nhưng quy mô về doanh số và số lượng kiểm toán viên đã tăng lên nhanh chóng Tuy nhiên thời gian gần đây đã xảy ra một số vụ “lùm xùm” về chất lượng kiểm toán làm cho công chúng rất lo ngại về độ tin cậy của báo cáo kiểm toán Vậy vấn đề đặt ra là: Nếu báo cáo kiểm toán sai thì trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán sẽ như thế nào? Bằng luận văn của mình, tác giả đã đi sâu phân tích những mặt còn tồn tại của thực tiễn hoạt động kiểm toán ở Việt Nam và ảnh hưởng của nó đến chất lượng báo cáo kiểm toán Tác giả đưa ra hai tình huống thực tế xảy ra để làm ví
dụ sinh động cho vấn đề phân tích pháp luật Dựa trên hệ thống quy định pháp luật hiện hành, luận văn phân tích trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán trên cả ba góc độ: trách nhiệm dân sự; trách nhiệm hành chính; trách nhiệm hình sự Sau cùng, tác giả mạnh dạn đưa ra một số đề xuất góp phần hoàn thiện vấn đề trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán đối với báo cáo kiểm toán Kết quả nghiên cứu của luận văn hy vọng sẽ khơi gợi một số suy ngẫm cho các nhà làm luật để cân nhắc sửa đổi quy định pháp luật, đặc biệt là luật kiểm toán độc lập trong thời gian tới
TỪ KHÓA
Trách nhiệm pháp lý; kiểm toán viên; doanh nghiệp kiểm toán; báo cáo
kiểm toán; chất lượng kiểm toán
Trang 8ABSTRACT
Independent auditing is an important factor to ensure the sustainable development of the corporate financial market In Vietnam, although the new independent audit field has a history of about 30 years, the size of the sales and the number of auditors has increased rapidly However, recently there have been some
"scandals" about the quality of the audit, which makes the public very concerned about the audit reports So the issue is: If the audit report is wrong, what will the legal responsibilities of auditors and auditing firms be? In his thesis, the author has
in depth analyzed the outstanding aspects of audit practice in Vietnam and its impact on the quality of audit reports The author gives two actual situations to create vivid examples for legal analysis Based on the current legal system, the thesis analyzes the legal responsibilities of auditors and auditing firms on all three aspects: civil liability; administrative liability; criminal liability Finally, the author makes a number of proposals that contribute to the completion of the liability of auditors and auditing firms for audit reports The research results of the thesis hope
to provoke some suggestion for lawmakers to consider amending the legal regulations, especially the independent audit law in the coming time
KEY WORD
Legal liability; auditor; auditing firm; audit report; audit quality
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường đang phát triển hiện nay ở Việt Nam, thị trường chứng khoán ngày càng đóng vai trò là kênh huy động vốn quan trọng Nhằm cung cấp thông tin tài chính tin cậy cho các nhà đầu tư vốn vào các doanh nghiệp nói chung và các công ty cổ phần trên sàn giao dịch chứng khoán nói riêng, hoạt động kiểm toán độc lập đóng vai trò quan trọng làm gia tăng mức độ tin cậy đối với báo cáo tài chính của doanh nghiệp Dựa vào báo cáo kiểm toán mà các nhà đầu tư có cái nhìn trung thực, khách quan về tình hình tài chính của doanh nghiệp để đưa ra quyết định đầu tư sáng suốt hơn Bên cạnh đó, trong quá trình kiểm toán các kiểm toán viên cũng đưa ra khuyến nghị giúp cho khách hàng nâng cao hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ và cảnh báo khách hàng về rủi ro tài chính có thể đối mặt
Tuy nhiên cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng chất lượng của dịch vụ kiểm toán độc lập trong thời gian gần đây chưa đáp ứng được kỳ vọng của các chủ thể trong nền kinh tế Dư luận không khỏi băn khoăn khi có những trường hợp báo cáo tài chính đã được kiểm toán nhưng vẫn còn sai sót trọng yếu, gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhà đầu tư Ví dụ điển hình như: Công ty TNHH Kiểm toán DFK kiểm toán BCTC năm
2015 của Công ty CP Tập Đoàn Kỹ Nghễ Gỗ Trường Thành DFK đã phát hành báo cáo kiểm toán chấp nhận toàn phần BCTC của khách hàng Nhưng đơn vị kiểm toán năm sau lại phát hiện số liệu BCTC có sai sót thiếu hụt 980 tỷ tiền hàng tồn kho Đây
là một sai sót cực kỳ nghiêm trọng của kiểm toán viên Nó gây ảnh hưởng lớn đến quyết định đầu tư và lợi ích của các cổ đông công ty Gỗ Trường Thành
Vậy trường hợp báo cáo kiểm toán (BCKT) mà có sai sót gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích bên liên quan thì các kiểm toán viên (KTV) và doanh nghiệp kiểm toán (DNKT) phải chịu trách nhiệm pháp lý như thế nào? Các bên bị thiệt hại khi sử dụng kết quả kiểm toán sai có thể khởi kiện các KTV và DNKT hay không? KTV và DNKT cần phải đối phó như thế nào khi bị bên thứ ba kiện ra Tòa đòi bồi thường vì thiệt hại khi sử dụng BCKT sai sót? Kinh nghiệm của các nước trên thế giới quy định về vấn đề này như thế nào? Phân tích nhằm làm rõ và nâng cao trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối với BCKT, cũng đồng thời là nâng cao uy tín của ngành kiểm toán độc lập bối cảnh kinh tế thị trường ngày càng cạnh tranh khốc liệt ở nước ta hiện nay
Trang 10Là một kiểm toán viên và đang theo học Thạc sĩ chuyên ngành Luật kinh tế, tác giả nhận thức được rõ tầm quan trọng của vấn đề này dưới cả góc độ lý luận và
thực tiễn Do vậy tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài “Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán
viên và doanh nghiệp kiểm toán đối với báo cáo kiểm toán” làm đề tài cho Luận văn
Thạc sĩ của mình
2 Câu hỏi nghiên cứu:
Luận văn được thực hiện với mục tiêu nhằm làm rõ các câu hỏi nghiên cứu như sau:
Thứ nhất: Cơ sở lý luận về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối với
BCKT như thế nào?
Thứ hai: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối
với BCKT có gì bất cập?
Thứ ba: Có thể sửa đổi quy định pháp luật như thế nào để góp phần hoàn thiện
về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối với BCKT?
3 Tổng quan về tình hình nghiên cứu:
Cho đến nay, vấn đề về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT vẫn còn là vấn đề còn khá mới mẻ và và thách thức nghiên cứu ở cấp luận văn thạc sĩ Có một số tác giả đã nghiên cứu chủ đề liên quan về kiểm toán như:
Tác giả Nguyễn Thị Khuyên (2014) đã có luận văn thạc sĩ nghiên cứu về
“Pháp luật về dịch vụ kiểm toán độc lập ở Việt Nam” Luận văn nghiên cứu về tổng
thể các quy định pháp luật về hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam Trong đó, luận văn chỉ đề cập rất sơ bộ về trách nhiệm của kiểm toán viên dưới góc độ Luật kiểm toán độc lập
Tác giả Nguyễn Ngọc Khánh Dung (2015) đã có luận án tiến sĩ nghiên cứu về
“Nghiên cứu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán: trách nhiệm kiểm toán viên trong kiểm toán BCTC ở Việt Nam” Đề tài có đề cập đến trách nhiệm của KTV nhưng đứng trên
góc độ đòi hỏi nghề nghiệp kiểm toán, không đi sâu vào phân tích về trách nhiệm pháp
lý
Tác giả Lê Thị Thu Hà (2019) có bài viết về “Trách nhiệm pháp lý của kiểm
toán viên”, trong đó tác giả có chia sẻ thông tin tham khảo về vấn đề này ở một số
nước trên thế giới Tuy nhiên bài viết có nội dung khá ngắn gọn trong phạm vi 06
Trang 11trang A4, và tác giả không đề cập đến vấn đề trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp kiểm toán, vốn dĩ là chủ thể luôn gắn liền với kiểm toán viên trong hoạt động kiểm toán
Như vậy có thể nói đã có một số luận văn hoặc bài viết nghiên cứu về pháp luật trong lĩnh vực kiểm toán nói chung và kiểm toán viên nói riêng Mỗi một công trình nghiên cứu một góc độ khác nhau về pháp luât trong lĩnh vực kiểm toán Tuy nhiên chưa có một tác phẩm nào nghiên cứu chuyên sâu về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối với BCKT Trong luận văn của mình, tác giả đi sâu vào phân tích
từ cơ sở lý luận, quy định pháp luật thực tiễn có những ưu điểm và còn những tồn tại
gì, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT trong bối cảnh ở Việt Nam hiện nay
4 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.2 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề về lý luận và thực tiễn quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối với BCKT Những giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối với BCKT
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối với BCKT trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam Hoạt động kiểm toán được giới hạn trong lĩnh vực kiểm toán độc lập, không bao gồm các loại hình kiểm toán khác như kiểm toán nhà nước, kiểm toán nội bộ
- Về thời gian: Phân tích, đánh giá thực trạng về quy định pháp luật liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập trong giai đoạn từ sau khi luật kiểm toán độc lập được ban hành năm 2011 cho đến nay
Trang 125 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu
Luận văn có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
Chương 1: Đề cập đến lý luận chung về hoạt động kiểm toán độc lập và trách
nhiệm pháp lý của KTV & DNKT Do vậy luận văn chủ yếu phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh để làm rõ các khái niệm chung trong lĩnh vực đặc thù kiểm toán và trách nhiệm pháp lý của KTV, DNKT
Chương 2: Đề cập đến hai khía cạnh trong thực tiễn là pháp luật và tình hình
thực hiện pháp luật liên quan đến trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT Trong chương này, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích , phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp để làm rõ những điểm còn bất cập trong thực tiễn
Chương 3: Đề cập đến định hướng, giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về
trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT Trong chương này luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, phương pháp logic để hình thành các đề xuất cải thiện quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT
6 Kết cấu dự kiến của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm ba chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và
doanh nghiệp kiểm toán đối với báo cáo kiểm toán
Chương 2: Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán
qua hoạt động thực tiễn
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật liên quan đến trách nhiệm
pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
CỦA KIỂM TOÁN VIÊN & DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN
ĐỐI VỚI BÁO CÁO KIỂM TOÁN
1.1 Khái quát về kiểm toán và kiểm toán độc lập
1.1.1 Khái niệm
Có thể nói hoạt động kiểm toán đã hình thành từ thời Ai Cập, La Mã cổ đại Nguồn
gốc từ xa xưa của kiểm toán (audit) nghĩa là thông tin được phê chuẩn bằng cách các tài
khoản về tài sản được đọc to lên và được một bên độc lập phê chuẩn Trong thời kỳ Trung
cổ, hoạt động kiểm toán chủ yếu là thẩm tra độ chính xác của thông tin tài chính được thực hiện bởi các kiểm toán viên của Nhà nước Sau này đến thế kỷ 18, các công ty cổ phần ra đời và phát triển cùng với sự hình thành của thị trường chứng khoán Từ đó xuất hiện nhu cầu của chủ sở hữu cổ phần muốn kiểm tra tài chính nhằm tránh gian lận của người quản lý doanh nghiệp Kiểm toán được ra đời phục vụ chủ yếu cho mục đích này.2
Hiện nay tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về hoạt động kiểm toán:
Theo định nghĩa của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) thì “hoạt động kiểm toán là
Các chuyên gia trong lĩnh vực kiểm toán đưa ra định nghĩa khá bao quát về kiểm
toán như sau: “Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông
tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các tiêu chuẩn đã được thiết lập Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các
Họat động kiểm toán có nhiều hình thức khác nhau Nếu phân loại kiểm toán theo chủ thể thực hiện, kiểm toán được chia thành ba loại hình như sau:
● Kiểm toán nhà nước
Là hoạt động kiểm toán do các cơ quan chức năng của nhà nước tiến hành để kiểm tra sự tuân thủ quy định pháp luật về tài chính của đơn vị được kiểm tra (có sử dụng vốn
2 Nguyễn Thị Khuyên, Luận văn Thạc Sĩ Luật, Hà Nội, 2014, tr 5
3 Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM, Giáo trình Kiểm Toán, Nxb Lao động, TP.HCM, 2019, tr 23
Trang 14của Ngân sách nhà nước) Chủ thể tiến hành kiểm tra có thể là: Kiểm toán nhà nước,
Thanh tra nhà nước, Thanh tra tài chính chuyên ngành v.v Ở Việt Nam, Cơ quan Kiểm
toán nhà nước là cơ quan kiểm toán cấp cao nhất, trực thuộc Quốc hội Cơ quan này kiểm
tra việc thực hiện ngân sách, quản lý sử dụng tài sản công
● Kiểm toán nội bộ
Là việc kiểm toán trong nội bộ doanh nghiệp theo yêu cầu của Ban quản trị hay Ban quản lý doanh nghiệp Kiểm toán nội bộ do nhân viên của đơn vị tự thực hiện kiểm tra, đánh giá về các quy trình quản trị tài chính, quản lý rủi ro trong đơn vị mình Mục tiêu của kiểm toán nội bộ thường là sự hiệu quả và hữu hiệu của quy trình quản trị doanh nghiệp, phòng ngừa rủi ro, đánh giá việc thực hiện kế hoach của đơn vị
● Kiểm toán độc lập
Là hoạt động kiểm toán được tiến hành bởi các kiểm toán viên thuộc các doanh nghiệp kiểm toán độc lập
Theo Luật kiểm toán độc lập 2011 thì “KTĐL là việc KTV hành nghề, doanh
nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính (BCTC) và công việc kiểm toán khác
Ở Việt Nam hoạt động KTĐL xuất hiện từ đầu những năm 1990, vài năm sau khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường với sự tham gia của các thành phần kinh
tế Đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nước ngoài phát triển nhanh chóng kéo theo nhu cầu dịch vụ KTĐL về báo cáo tài chính Tháng 5/1991 đánh dấu mốc hình thành một công ty KTĐL đầu tiên ở Việt Nam là Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) Sau đó các công ty kiểm toán cũng dần hình thành và phát triển Vào năm 2011 Luật kiểm toán độc lập ra đời, đánh dấu một bước phát triển quan trọng về mặt pháp lý cho hoạt động KTĐL và chấm dứt một thời kỳ dài thiếu một luật chuyên ngành điều chỉnh hoạt động KTĐL Hiện nay có khoảng 160 doanh nghiệp kiểm toán với hơn 11 ngàn nhân viên đang hoạt động trong lĩnh vực KTĐL trên phạm vi toàn quốc 5
4 Khoản 1 điều 5 luật Kiểm toán độc lập 2011
5 Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM, Giáo trình Kiểm Toán, Nxb Lao động, TP.HCM, 2019, tr 29
Trang 15Các doanh nghiệp kiểm toán (DNKT) cung cấp các dịch vụ kiểm toán BCTC, soát xét thông tin theo thỏa thuận, tư vấn thuế và các dịch vụ khác có liên quan đến chuyên môn v.v Trong đó dịch vụ kiểm toán BCTC thường chiếm tỷ trọng doanh thu và nhân sự lớn nhất Kiểm toán báo cáo tài chính (còn gọi tắt là kiểm toán tài chính) của khách hàng
là việc kiểm tra nhằm đưa ra ý kiến về tính hợp lý và trung thực về BCTC của khách hàng, dựa trên các tiêu chuẩn là chế độ kế toán, chuẩn mực
Hiện nay hiểu theo nghĩa thông dụng thì thuật ngữ “kiểm toán” tức là kiểm toán
báo cáo tài chính của khách hàng Do vậy, trong phạm vi bài luận văn này, tác giả cần lưu
ý thuật ngữ “kiểm toán” hay “kiểm toán độc lập” đề cập đến hoạt động kiểm toán BCTC
của doanh nghiệp Đây là dịch vụ mang tính điển hình và quan trọng nhất của các doanh nghiệp KTĐL hiện nay
Căn cứ theo điều 37 của Luật kiểm toán độc lập 2011, một số loại hình doanh nghiệp có ảnh hưởng quan trọng đến lợi ích công chúng thì bắt buộc phải kiểm toán BCTC hàng năm, bao gồm: tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bảo hiểm, công ty đại chúng, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp kiểm toán, doanh nghiệp nước ngoài v.v…
1.1.2 Những mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của kiểm toán độc lập
1.1.2.1 Mục tiêu của kiểm toán độc lập:
KTĐL (hay còn gọi là kiểm toán BCTC) nhằm tăng độ tin cậy của người sử dụng
báo cáo tài chính Mục tiêu của cuộc kiểm toán là “Đạt được sự bảo đảm hợp lý rằng liệu
BCTC, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không, từ đó giúp kiểm toán viên đưa ra ý kiến liệu BCTC có được lập phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng dựa trên khía cạnh trọng yếu hay không” 6
Do đặc thù của lĩnh vực kiểm toán nên mục tiêu của kiểm toán là phát hiện các sai sót có tính trọng yếu chứ không phải tất cả các sai sót Tùy vào xét đoán của KTV mà họ
sẽ đặt ra mức trọng yếu khác nhau khi tiến hành kiểm toán tại khách hàng “Mức trọng
yếu thông thường được tính dựa trên 0,5%-1% doanh thu; 5%-10% lợi nhuận, 1%-2% tổng tài sản”.7
6
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 200), đoạn 3
7 Nguyễn Thị Nên, 2018 Xác định quy mô tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC Tạp chí Tài Chính, số 7/2018, tr 3
Trang 16Mặt khác, cuộc kiểm toán chỉ cung cấp mức độ bảo đảm hợp lý, chứ không bảo đảm tuyệt đối là báo cáo tài chính không còn nhưng sai sót trọng yếu vì lý do luôn tồn tại
một số mặt hạn chế vốn có của hoạt động kiểm toán như sau:
Một là việc lập, trình bày BCTC đòi hỏi những xét đoán của đơn vị phù hợp với
đặc điểm hoạt động kinh doanh thực tế Có những nghiệp vụ kế toán mang tính nhận định chủ quan không chắc chắn tuyệt đối như: ước tính khấu hao, dự phòng…Do vậy mà không có gì ngạc nhiên khi đưa một bộ chứng từ phát sinh của doanh nghiệp cho ba nhân viên để hạch toán, họ có thể lập ra ba bộ BCTC với kết quả khác nhau (tất nhiên là mức khác biệt không nhiều)
Hai là khi tiến hành các thủ tục kiểm toán, có thể các bằng chứng kiểm toán bị giới
hạn bởi các lý do như: Khách hàng cung cấp thông tin hoặc tài liệu không đầy đủ; Hành
vi gian lận được che dấu kỹ; KVT không phải là cán bộ điều tra hay thanh tra viên của cơ quan nhà nước nên không được thẩm quyền điều tra, xét hỏi như cơ quan công quyền
Đặc điểm hạn chế vốn có này ảnh hưởng rất lớn đến sự thừa nhận về giới hạn trách nhiệm của KTV đối với kết quả của báo cáo kiểm toán Kết quả sau cùng của một cuộc kiểm toán là Báo cáo kiểm toán được ký xác nhận bởi kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán Báo cáo kiểm toán chính là ý kiến chính thức của kiểm toán viên về BCTC của đơn vị được kiểm toán
1.1.2.2 Những nguyên tắc cơ bản của kiểm toán độc lập
Để cuộc kiểm toán đạt được mục tiêu đề ra, theo quy định tại Điều 8 của Luật kiểm toán độc lập 2011, hoạt động KTĐL cần phải tuân theo một số nguyên tắc cơ bản như sau:
● Thứ nhất, hoạt động kiểm toán cần tuân thủ các pháp luật chuyên ngành về
KTĐL như Luật kiểm toán độc lập, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn Luật kiểm toán độc lập Bên cạnh pháp luật chuyên ngành, một số luật khác cũng có thể có quy định về hoạt động kiểm toán như Luật chứng khoán, Luật doanh nghiệp v.v…
● Thứ hai, hoạt động kiểm toán thực hiện trong khuôn khổ của chuẩn mực kiểm
toán Việt Nam, bao gồm chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực chuyên môn Mặc dù không phải là Luật, song các chuẩn mực nghề nghiệp rất cần thiết để hướng dẫn chi tiết các thủ tục kiểm toán mà không được quy định ở cấp độ Luật Ở các nước, chuẩn mực nghề nghiệp kiểm toán thường là do Hội nghề nghiệp ban hành Trong khi đó ở Việt Nam, các chuẩn mực này được ban hành dưới dạng Thông tư của Bộ Tài chính
Trang 17● Thứ ba, hoạt động kiểm toán phải bảo đảm tính độc lập, trung thực, khách quan
Ba yêu cầu này này được coi như tôn chỉ của nghề nghiệp KTĐL Trong đó, nguyên tắc độc lập của của hoạt động kiểm toán là yêu cầu quan trọng nhất và phản ánh ở tên gọi của
kiểm toán “độc lập” Nó đòi hỏi hoạt động kiểm toán phải độc lập cả về nội dung (cách
thức tiến hành) và về hình thức (mối quan hệ) đối với đơn vị được kiểm toán Thiếu đi tính độc lập, các KTV khó mà có thể đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu cuộc kiểm toán
● Thứ tư, hoạt động kiểm toán phải giữ bí mật thông tin của khách hàng Nguyên
tắc này luôn được ghi nhận trong hợp đồng kiểm toán như một sự mặc định Thông tin được cung cấp cho KTV là vấn đề rất quan trọng, nhạy cảm với khách hàng Do vậy ngay
cả khi không đề cập trong hợp đồng thì quy tắc đạo đức nghề nghiệp cũng yêu cầu kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán phải bảo mật thông tin khách hàng
1.1.3 Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động kiểm toán độc lập
Sau khi Việt Nam mở cửa phát triển nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế từ cuối những năm 1980, dịch vụ KTĐL bắt đầu hình thành và phát triển Khách hàng có nhu cầu về dịch vụ kiểm toán ngày càng đa dạng như các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, ngân hàng thương mại, doanh nghiệp có vốn nhà nước, công ty cổ phần đại chúng…Do vậy, Nhà nước cũng đã dần ban hành có quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động KTĐL Khởi điểm đầu tiên phải kể đến là Nghị định 07/CP của Chính Phủ ban hành ngày 19/01/1994 và Thông tư 22/TC/CĐKT của Bộ Tài Chính ban hành ngày vào hai tháng sau đó Đây là những văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên về Quy chế KTĐL Mười năm sau đó, Chính phủ và Bộ Tài chính đã lần lượt ban hành Nghị định 105/2004/NĐ-CP (ngày 30/03/2004) và Thông tư 64/2004/TT-BTC (ngày 29/06/2004) để thay thế cho Nghị định 07/CP và Thông tư 22/TC/CĐKT nêu trên để đáp ứng với thực tiễn về hoạt động của KTĐL
Cho đến nay, hoạt động KTĐL đã có khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoàn thiện hơn khá nhiều so với trước đây Đó là các luật, các nghị định, thông tư hướng dẫn và chuẩn mực nghề nghiệp kiểm toán, bao gồm:
● Thứ nhất là những quy định mang tính pháp lý là những quy định bắt buộc của
Nhà nước được quy định bởi các văn bản pháp luật như: Luật, Nghị định, Thông tư liên quan để bảo đảm việc quản lý thống nhất nhà nước trong lĩnh vực KTĐL trên toàn bộ quốc gia Các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực hiện hành bao gồm:
Luât KTĐL số 67/2011/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 29/03/2011 Có thể nói đây là khung pháp lý cao nhất về hoạt động KTĐL ở Việt Nam Bên cạnh đó còn có
Trang 18một số văn bản quy phạm pháp luật dưới luật như: Nghị định 17/2012/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết Luật kiểm toán độc lập; Nghị định 151/2018/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 17/2012/NĐ-CP; Nghị định 84/2016/NĐ-CP về tiêu chuẩn KTV hành nghề, DNKT được phép kiểm toán cho các tổ chức có lợi ích công chúng; Nghị định 41/2018/NĐ-CP quy định về xử phạt thuộc lĩnh vực KTĐL…
Thông tư 203/2012/TT-BTC quy định về thủ tục kinh doanh dịch vụ kiểm toán; Thông tư số 214/2012/TT-BTC quy định về hệ thống chuẩn mực kiểm toán; Thông tư 183/2013/TT-BTC về KTĐL đối với doanh nghiệp có lợi ích công chúng; Thông tư số 157/2014/TT-BTC quy định về kiểm toán chất lượng dịch vụ KTĐL; Thông tư số 91/2017/TT-BTC quy định về việc thi, cấp chứng chỉ KTV; Thông tư số 202/2012/TT-BTC quy định về đăng ký hành nghề kiểm toán
● Thứ hai là những quy định mang tính chuẩn mực nghề nghiệp về hoạt động
KTĐL, hay còn gọi là Chuẩn mực kiểm toán Về cơ bản thì chuẩn mực kiểm toán là những quy định chuyên môn về thủ tục, trình tự KTĐL, đạo đức nghề nghiệp mà KTV và DNKT phải tuân thủ…Vì lý do đặc thù của công việc kiểm toán khá phức tạp, nên chuẩn mực kiểm toán là yêu cầu tất yếu để làm cho người sử dụng BCTC an tâm hơn với chất lượng báo cáo kiểm toán
Ở nhiều nước trên thế giới, chuẩn mực kiểm toán do hội nghề nghiệp kiểm toán ban hành Chuẩn mực kiểm toán lần lượt được ban hành ở các nước như Mỹ (1948), Đức (1964), Pháp (1971), Anh (1980)…Tổ chức Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) cũng cho ban hành chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA) và các nước là thành viên của IFAC (hiện
có gần 90 nước) áp dụng ISA như là chuẩn mực kiểm toán của quốc gia mình Vào năm
1999, Việt Nam ban hành các chuẩn mực kiểm toán đầu tiên Bộ Tài Chính là cơ quan
nhà nước có trách nhiệm ban hành chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (Vietnam Standard of
Auditing-VSA) Các chuẩn mực này được ban hành dưới dạng Thông tư Hiện tại Việt
Nam có tổng cộng 47 chuẩn mực kiểm toán hiện đang có hiệu lực, được ban hành trong sáu Thông tư của Bộ Tài Chính “Hệ thống VSA dần được sửa đổi bổ sung để tiệm cận với chuẩn mực kiểm toán quốc tế Đây là một bước phát triển hành lang pháp lý để hoạt động KTĐL phát triển, giúp các KTV hành nghề thuận lợi và chuyên nghiệp hơn”.8
1.2 Doanh nghiệp kiểm toán và tổ chức nghề nghiệp kiểm toán
8 Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM, Giáo trình Kiểm Toán, Nxb Lao động, TP.HCM, 2019, tr 45
Trang 191.2.1 Khái niệm về doanh nghiệp kiểm toán và tổ chức nghề nghiệp kiểm toán
Tham chiếu quy định tại khoản khoản 5, điều 5 Luật kiểm toán độc lập 2011 thì
khái niệm doanh nghiệp kiểm toán được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp kiểm toán là
doanh nghiệp có đủ điều kiện để kinh doanh dịch vụ kiểm toán theo quy định của Luật
Như vậy có thể thấy DNKT trước hết có đặc điểm cũng như một doanh nghiệp thông thường, thành lập và hoạt động theo sự điều tiết của Luật doanh nghiệp DNKT là một tổ chức kinh tế thông thường có tên gọi riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký để thực hiện kinh doanh Tuy nhiên điểm đặc thù của doanh nghiệp kiểm toán để phân biệt với các doanh nghiệp thông thường khác, là được thực hiện chức năng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ kiểm toán độc lập và các dịch vụ có liên quan Doanh nghiệp không đủ điều kiện doanh trong lĩnh vực kiểm toán thì trong tên gọi
của doanh nghiệp không được phép dùng cụm từ “kiểm toán” trong tên gọi của tổ chức
mình
Cũng tương tự như các loại hình tổ chức nghề nghiệp khác, tổ chức nghề nghiệp kiểm toán là tổ chức xã hội nghề nghiệp của các doanh nghiệp kiểm toán, các kiểm toán
viên hành nghề Ở Việt Nam, tổ chức nghề nghiệp kiểm toán là Hội kiểm toán viên hành
nghề Việt Nam, gọi tắt là VACPA Tổ chức này được chính thức thành lập vào tháng
4/2005 và chịu sự quản lý nghề nghiệp bởi Cơ quan quản lý Nhà nước là Bộ Tài Chính Mục đích của VACPA là đoàn kết và tập hợp những người hành nghề KTV để nâng cao
uy tín và chất lượng của hoạt động KTĐL Ngoài ra, VACPA cũng góp phần mở rộng quan hệ hợp tác và hội nhập với các nước trong lĩnh vực KTĐL
1.2.2 Hình thức tổ chức hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán
Doanh nghiệp kiểm toán ở Việt Nam chỉ được phép thành lập và hoạt động dưới ba
hình thức: “Doanh nghiệp tư nhân; Công ty trách nhiệm hai thành viên trở lên; Công ty
hợp danh”10 DNKT không được góp vốn nhằm mục đích thành lập DNKT khác, trừ trường hợp DNKT trong nước góp vốn với DNKT nước ngoài để thành lập một DNKT mới
9 Khoản 5 điều 5 Luật kiểm toán độc lập 2011
10 Điều 20 Luật kiểm toán độc lập 2011
Trang 20Lĩnh vực KTĐL nằm trong hệ thống các ngành kinh doanh có điều kiện tham chiếu theo quy định của Luật đầu tư 2014 Do vậy trước khi chính thức hoạt động kinh doanh
thì DNKT phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán được cấp
bởi Bộ Tài Chính Hai trong số các điều kiện quan trọng nhất để có được Giấy chứng nhận này là DNKT phải có tối thiểu năm kiểm toán viên hành nghề, và các chức vụ đại diện pháp luật, giám đốc phải là KTV hành nghề trong DNKT.11
Quyền và nghĩa vụ của DNKT được quy định tại điều 28 và điều 29 Luật kiểm toán độc lập 2011, bao gồm các nội dung chính như sau:
Quyền của DNKT Nghĩa vụ của DNKT
Bổ nhiệm KTV thực hiện kiểm tra
BCTC của khách hàng theo chuẩn mực
kiểm toán
Phát hành báo cáo kiểm toán sau khi
thực hiện kiểm toán BCTC của khách
hàng
Yêu cầu khách hàng cung cấp thông tin
liên quan phục vụ kiểm toán
Yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan
cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho
việc kiểm toán
Nhận phí dịch vụ theo thỏa thuận
Tham gia các tổ chức nghề nghiệp về
Có nghĩa vụ trích lập dự phòng quỹ rủi
ro nghề nghiệp hoặc mua bảo hiểm nghề nghiệp cho KTV
Phải bồi thường thiệt hại cho khách hàng dựa trên cơ sở hợp đồng kiểm toán và quy định pháp luật có liên quan
Thông báo cho khách hàng khi phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật về kế toán tài chính trong quá trình kiểm toán
Chịu trách nhiệm pháp lý về kết quả kiểm toán với khách hàng và người sử dụng có liên quan
Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
Bảng 1.1 Quyền và nghĩa vụ của Doanh nghiệp kiểm toán
11 Điều 21 Luật Kiểm toán độc lập 2011
Trang 21Hoạt động kiểm toán độc lập được tiến hành bởi các KTV hành nghề Tuy nhiên chỉ có các DNKT mới được phép cung cấp dịch vụ KTĐL cho khách hàng Do vậy để nâng cao uy tín và chất lượng kiểm toán, các DNKT cần phải một mặt tuyển chọn những KTV có trình độ tốt, một mặt cần xây dựng quy trình kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán Từ đó giúp DNKT giám sát hoạt động của KTV và phát hiện kịp thời các sai phạm của KTV trong quá trình kiểm toán Kinh nghiệm cho thấy DNKT nào càng chú trọng khâu kiểm soát chất lượng, DNKT đó càng có uy tín cao trong lĩnh vực dịch vụ kiểm toán
1.2.3 Một số đặc điểm về doanh nghiệp kiểm toán và tổ chức nghề nghiệp kiểm toán
trên thế giới
● Doanh nghiệp kiểm toán
Ở các nước trên thế giới, DNKT có thể được thành lập dưới nhiều hình thức khác nhau: doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, thậm chí cả công ty cổ phần, trong đó hình thức công ty hợp danh khá phổ biến với loại hình DNKT quy mô nhỏ DNKT các nước đã có lịch sử phát triển lâu đời, phạm vi hoạt động rộng khắp không chỉ trong địa phương mà có thể có đến hàng chục ngàn nhân viên làm việc ở toàn cầu Xét theo phạm vi hoạt động kinh doanh thì các DNKT chia thành bốn nhóm:
Văn phòng kiểm toán địa phương: Có vài kiểm toán viên phục vụ cho vài doanh
nghiệp trong địa phương Tất nhiên họ có thể cung cấp các dịch vụ khác như tư vấn thuế,
kế toán quản trị…
Doanh nghiệp kiểm toán khu vực: Có số lượng nhân viên đông hơn, hoạt động trên
phạm vi vài tỉnh thành, không chỉ ở địa phương
Doanh nghiệp kiểm toán quốc gia: Có quy mô lớn hơn, hoạt động phạm vi rộng
khắp trên cả nước Họ có thể liên kết với các công ty kiểm toán ở nước ngoài để mở rộng kinh doanh
Doanh nghiệp kiểm toán quốc tế: Có quy mô về nhân sự và phạm vi hoạt động rất
lớn Cơ cấu tổ chức pháp lý ở các nước thường không theo mô hình công ty mẹ-con mà theo mạng lưới hợp tác kinh doanh Chủ sở hữu và quản lý riêng biệt song họ cùng thỏa thuận chia sẽ về thương hiệu và chuyên môn Hiện có bốn công ty kiểm toán lớn nhất
(Big 4) là KPMG, Ernst & Young, PwC, Deloitte “Theo số liệu công bố cho năm tài
chính 2019, công ty kiểm toán lớn nhất là Deloitte, có tổng doanh thu năm 46,2 tỷ USD
do 312 ngàn nhân viên tạo ra” 12Qua số liệu trên có thể thấy tiềm năng thị trường về dịch
12 https://big4accountingfirms.com/big-4-accounting-firms-ranking, truy cập ngày 02/04/2020
Trang 22vụ KTĐL trên thế giới có tiềm năng phát triển rất cao Do vậy thị trường dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam còn nhiều dư địa để phát triển
● Tổ chức nghề nghiệp kiểm toán
Tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán được thành lập ở các quốc gia trên thế giới Có quốc gia còn có nhiều hơn một tổ chức nghề nghiệp kiểm toán Hội viên của các tổ chức nghề nghiệp kiểm toán thường là các KTV, kế toán viên tự nguyện tham gia sau khi đạt được tiêu chuẩn nhất định về chuyên môn Hiện nay có một số tổ chức nghề nghiệp kiểm toán lớn ở các quốc gia như: Hiệp hội giám định viên kế toán Anh quốc (ICAEW), Hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hội kế toán viên công chứng Nhật (JICPA), Hội
kế toán viên công chứng Úc (CPA AU)…”Các tổ chức nghề nghiệp nêu trên đóng vai trò
quan trọng trong việc việc phát triển ngành kế toán và kiểm toán tại các quốc gia Họ có các ủy ban chuyên môn và ban hành các chuẩn mực về kế toán, kiểm toán, đạo đức nghề nghiệp…để hướng dẫn và kiểm soát chất lượng của hoạt động KTĐL Bên cạnh đó, các tổ
Ở phạm vi toàn thế giới, các tổ chức nghề nghiệp về kế toán, kiểm toán ở các quốc gia là thành viên của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) Đây là tổ chức phi chính phủ, được thành lập vào tháng 10/1977 Cho đến nay IFAC đã có 175 thành viên đại diện cho khoảng 2,5 triệu kế toán viên toàn cầu từ 130 quốc gia Hội kiểm toán viên hành nghề Viện Nam đã chính thức là hội viên của IFAC từ năm 2015 IFAC có sứ mệnh là đóng góp vào sự phát triển chuẩn mực kế toán, kiểm toán quốc tế với chất lượng cao, từ đó góp phần nâng cao uy tín của người hành nghề kế toán, kiểm toán và bảo vệ lợi ích của công chúng IFAC có bốn Ủy ban giúp việc, trong đó có Ủy ban quốc tế về chuẩn mực kiểm toán (IAASB), chịu trách nhiệm ban hành các chuẩn mực quốc tế về kiểm toán (ISA) Các chuẩn mực kiểm toán quốc tế do IFAC ban hành luôn được khuyến nghị các quốc gia sử
dụng để nâng cao tính thống nhất áp dụng trên toàn cầu “Mặc dù phần lớn các quốc gia
hiện đã chấp nhận IAS, ISA cho nước mình, tuy nhiên một số nước do đặc thù riêng vẫn
13
Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM, Giáo trình Kiểm Toán, Nxb Lao động, TP.HCM, 2019, tr 38
14 Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM, Giáo trình Kiểm Toán, Nxb Lao động, TP.HCM, 2019, tr 40
Trang 231.3 Kiểm toán viên và trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán
1.3.1 Khái niệm và vai trò của kiểm toán viên
● Khái niệm về kiểm toán viên
Để đạt tiêu chuẩn là một KTV ở các nước thì các KTV phải có trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức tốt Họ phải trải qua kinh nghiệm thực tiễn về nghề nghiệp,
phải thi đậu kỳ thi để lấy chứng chỉ hành nghề và phải đăng ký hành nghề ở một DNKT Tại Việt Nam, theo khoản 2 và khoản 3 Luật kiểm toán độc lập 2011 định nghĩa như sau:
“Kiểm toán viên là người được cấp chứng chỉ kiểm toán viên theo quy định của pháp luật hoặc người có chứng chỉ của nước ngoài được Bộ Tài chính công nhận và đạt
kỳ thi sát hạch về pháp luật Việt Nam
Kiểm toán viên hành nghề là kiểm toán viên đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề kiểm toán”
Để trở thành kiểm toán viên, cá nhân phải có đủ các tiêu chí sau: 15
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b) Có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, khách quan;
c) Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc chuyên ngành tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán hoặc chuyên ngành khác theo quy định của Bộ Tài chính;
d) Có Chứng chỉ kiểm toán viên theo quy định của Bộ Tài chính
Theo quy định pháp luật về KTĐL hiện hành ở Việt Nam, KTV không được đăng
ký hành nghề dưới tư cách cá nhân, mặc dù có pháp luật cho phép thành lập doanh nghiệp
tư nhân cung cấp dịch vụ kiểm toán Kiểm toán viên bắt buộc phải đăng ký hành nghề ở một doanh nghiệp kiểm toán
15 Theo khoản 1 điều 14 Luật kiểm toán độc lập 2011
Trang 24Quyền và nghĩa vụ của kiểm toán viên được quy định cụ thể trong điều 17 và điều
18 của Luật kiểm toán độc lập 2011 Một số nội dung chính về quyền, nghĩa vụ của KTV được tóm lược ở bảng mô tả dưới đây
Được quyền độc lập về chuyên môn
nghiệp vụ trong hành nghề
Yêu cầu đơn vị được kiểm toán, tổ
chức cá nhân liên quan khác cung cấp
đầy đủ tài liệu, thông tin phục vụ kiểm
có năng lực chuyên môn phù hợp
Tuân thủ các quy định khác của Luật kiểm toán độc lập và chuẩn mực kiểm toán
Bảng 1.2 Quyền và nghĩa vụ của Kiểm toán viên
Qua bảng mô tả quyền và nghĩa vụ của KTV như trên, có thể thấy nghề nghiệp KTV
là nghề đòi hỏi chuyên môn cao và do vậy họ được quyền độc lập về chuyên môn nghiệp
vụ Tuy nhiên các KTV cũng phải có nghĩa vụ tuân thủ nghiêm ngặt quy định pháp luật chuyên ngành và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Nếu vi phạm thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý rất nghiêm khắc
● Vai trò của kiểm toán viên
Ngày nay khi mà loại hình hoạt động công ty cổ phần ngày càng phát triển mạnh
mẽ, đặc biệt là các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán thì vai trò của KTV ngày càng được công chúng kỳ vọng rất cao
Đứng ở góc độ xã hội, vai trò của các KTV là những người góp phần bảo vệ sự ổn định của nền kinh tế tài chính doanh nghiệp Họ là những thẩm định viên tài chính bảo đảm sự tin cậy của thông tin BCTC của các công ty được kiểm toán, đặc biệt là các công
ty được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán KTV giúp lành mạnh hóa môi trường đầu tư, bảo vệ lợi ích của công chúng thông qua báo cáo kiểm toán xác nhận các công ty
cổ phần có BCTC trung thực hoặc cảnh báo các công ty cổ phần có biểu hiện làm ăn gian
Trang 25yếu kém hoặc gian dối Từ đó nhà đầu tư tài chính thêm tự tin khi bỏ vốn đầu tư cổ phiếu trên thị trường tài chính
Đối với cơ quan quản lý Nhà nước, hoạt động của các KTV như cánh tay nối dài của
Cơ quan nhà nước giúp quản lý tài chính doanh nghiệp hiệu quả hơn KTV giúp Cơ quan Thuế soát xét báo cáo thuế của khách hàng để nộp đúng đủ vào ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật Thuế KTV giúp Ủy ban chứng khoán Nhà Nước (UBCKNN) có thông tin trung thực về tài chính của các doanh nghiệp được phép hoạt động trên sàn chứng khoán Mặc dù UBCKNN có chức năng kiểm tra tài chính doanh nghiệp niêm yết nhưng với nhân lực hạn chế, cơ quan này không thể thẩm tra tài chính tất cả các doanh nghiệp trên sàn giao dịch chứng khoán Thông qua hoạt động của các KTV, UBCKNN đã kịp thời loại bỏ các doanh nghiệp niêm yết không còn đủ tiêu chuẩn hoạt động trên sàn chứng khoán cả nước Ngoài ra trong quá trình kiểm toán, nếu KTV phát hiện có hành vi
vi phạm pháp luật ở mức nghiêm trọng của Lãnh đạo doanh nghiệp, KTV cũng có trách nhiệm phải thông báo với Cơ quan có thẩm quyền để xử lý doanh nghiệp vi phạm
Đối với các doanh nghiệp kiểm toán, có thể nói KTV là người lao động đồng thời là tài sản quý giá nhất của của doanh nghiệp Dịch vụ KTĐL không đòi hỏi phải đầu tư nhiều về máy móc, thiết bị hay nguồn vốn Chất lượng của báo cáo kiểm toán phụ thuộc rất nhiều vào các KTV thực hiện hợp đồng kiểm toán Vì công tác kiểm toán là công việc mang tính chuyên môn cao, đòi hỏi Giám đốc DNKT phải là KTV Các KTV là người trực tiếp tham gia cuộc kiểm toán DNKT có trách nhiệm thiết lập hệ thống quản lý chất lượng kiểm toán Tuy nhiên hệ thống quản lý chất lượng khó có thể kiểm soát được các thủ tục kiểm toán chi tiết diễn ra ở đơn vị được kiểm toán nếu như năng lực chuyên môn các KTV không tốt hoặc KTV vi phạm đạo đức nghề nghiệp Chính vì vậy để báo cáo kiểm toán có chất lượng tốt thì đòi hỏi cả KTV và DNTK đều phải có nghĩa vụ tuân thủ nghiêm các nghĩa vụ của mình Theo quy định pháp luật kiểm toán, báo cáo kiểm toán
yêu cầu bắt buộc phải có chữ ký xác nhận của hai người là KTV và Giám đốc DNKT
1.3.2 Trách nhiệm nghề nghiệp của kiểm toán viên
Bên cạnh việc cung cấp dịch vụ kiểm toán cho khách hàng, sứ mệnh của KTV còn quan trọng hơn nữa là đáp ứng kỳ vọng của công chúng về việc kiểm toán báo cáo tài chính nhằm phát hiện ra các sai sót trọng yếu hoặc hành vi không tuân thủ pháp luật của đơn vị được kiểm toán Trong quá trình hoạt động, một doanh nghiệp có thể có các sai phạm ảnh hưởng nghiêm trọng đến BCTC của doanh nghiệp và KTV có trách nhiệm nghề nghiệp với sai phạm như sau:
1.3.2.1 Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với việc phát hiện gian lận
Sai sót của thông tin trên BCTC có thể phát sinh từ một số nguyên nhân như: Ước tính kế toán chưa hợp lý; bỏ sót số liệu; thu thập và xử lý số liệu chưa chính xác; áp dụng sai phương pháp kế toán; giả mạo chứng từ v.v…Nếu sai sót không phải do hành vi cố ý
Trang 26thì đó là “nhầm lẫn” Còn sai sót do hành vi cố ý gian dối của người trong doanh nghiệp hoặc của bên thứ ba thì gọi là “gian lận” Hành vi gian lận thường khó phát hiện hơn
nhầm lẫn vì nó thường được che đậy một cách tinh vi Hậu quả là BCTC được ngụy tạo hình ảnh tốt đẹp bằng việc khai khống doanh thu hay khai thiếu chi phí…
Trách nhiệm của KTV nói chung là đưa ra ý kiến để bảo đảm hợp lý rằng BCTC
không còn sai sót trọng yếu do nhầm lẫn hay gian lận Điều này có nghĩa là KTV không
phải chịu trách nhiệm về việc phát hiện và ngăn chặn các gian lận trong quá trình kiểm
toán Vấn đề này cũng được quy định rõ trong chuẩn mực kiểm toán như sau: “Việc ngăn
ngừa và phát hiện gian lận trước hết thuộc về trách nhiệm của Ban quản trị và Ban giám
đơn vị được kiểm toán chỉ giới hạn trong phạm vi tiến hành các thủ tục kiểm toán được quy định trong chuẩn mực chuyên môn Một trong những yêu cầu của chuẩn mực kiểm
toán là “KTV phải duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong suốt cuộc kiểm toán”.17
KTV phải ý thức được khả năng tồn tại sai sót trọng yếu vì lý do hành vi gian lận của đơn
vị được kiểm toán Điều này trong thực tế là khó khăn vì khả năng hoài nghi nghề nghiệp của từng KTV là khác nhau
Khi phát hiện có gian lận xảy ra trong quá trình kiểm toán, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (đoạn 40, 41, 42) hướng dẫn kiểm toán viên cần xử lý như sau:
Nếu đó là gian lận do nhân viên cấp dưới gây ra: Kiểm toán viên cần thông báo với Ban giám đốc và Ban quản trị đơn vị về phát hiện này
Nếu gian lận có liên quan đến Ban GĐ thì KTV cần thông báo với Ban quản trị đơn vị
Nếu không có cấp cao hơn để thông báo hoặc trong một số trường hợp nhất định theo yêu cầu của quy định pháp luật có liên quan, KTV có trách nhiệm báo cáo về hành vi gian lận với Cơ quan chức năng có thẩm quyền Mặc dù KTV phải bảo mật thông tin theo hợp đồng kiểm toán, tuy nhiên trong một số trường hợp thì trách nhiệm pháp lý của KTV cao hơn trách nhiệm giữ bí mật thông tin Trong trường hợp này, KTV nên tham khảo ý kiến của chuyên gia tư vấn pháp luật trước khi thực hiện để bảo vệ lợi ích công chúng do ảnh hưởng tiêu cực do gian lận được phát hiện
Ngoài ra nếu đơn vị được kiểm toán không có giải pháp phù hợp với gian lận, để bảo vệ uy tín và giảm rủi ro, KTV cần cân nhắc đến việc rút khỏi hợp đồng dịch vụ kiểm toán
16 Đoạn 04 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240
17 Đoạn 15 chuẩn mực kiểm toán VN số 200
Trang 271.3.2.2 Hành vi không tuân thủ
Hành vi không tuân thủ được hiểu là hành vi của khách hàng, do vô tình hay cố ý, trái với pháp luật hoặc quy định hiện hành Kiểm toán viên cần đánh giá hành vi không tuân thủ có ảnh hưởng trọng yếu như thế nào đến báo cáo tài chính của đơn vị Ví dụ khi KTV phát hiện đơn vị có hành vi bán hàng không xuất hóa đơn đầu ra để trốn thuế Như vậy khách hàng đã không tuân thủ pháp luật về thuế và có rủi ro bị cơ quan có thẩm quyền truy thu và phạt thuế, dẫn đến chi phí thuế của doanh nghiệp tăng cao, có thể ảnh hưởng sai sót trọng yếu đến BCTC của doanh nghiệp
Về trách nhiệm của kiểm toán viên đối với hành vi không tuân thủ của đơn vị được kiểm toán, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 250 18 quy định như sau:
“Kiểm toán viên không có trách nhiệm ngăn ngừa và không thể kỳ vọng kiểm toán viên phát hiện hành vi không tuân thủ của đơn vị được kiểm toán đối với tất cả các luật
và quy định có liên quan” 19
“Trách nhiệm của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán, dưới sự giám sát của Ban quản trị, là đảm bảo rằng các hoạt động của đơn vị được thực hiện theo các điều khoản của pháp luật và các quy định, bao gồm việc tuân thủ các điều khoản của luật và các quy định về các số liệu và thuyết minh được trình bày trên báo cáo tài chính”
Như vậy cần xác định rõ trách nhiệm trong việc ngăn ngừa và phát hiện hành vi
không tuân pháp luật thủ thuộc về đơn vị được kiểm toán Trong quá trình kiểm toán, nếu
KTV phát hiện đơn vị có hành vi không tuân thủ pháp luật, KTV thực hiện thủ tục tương
tự như khi phát hiện sai sót do gian lận Kiểm toán viên cần thông báo cho quản trị cấp trên của đơn vị khi có hành vi không tuân thủ của cấp dưới Ví dụ nếu KTV phát hiện có hành vi không tuân thủ của Giám đốc thì KTV thông báo với Ban quản trị của đơn vị
Nếu KTV cho rằng không có cấp quản trị cao hơn để thông báo hoặc đơn vị không thể giải quyết được vì hành vi không tuân thủ ở mức nghiêm trọng, KTV cần cung cấp thông tin/tài liệu cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin Mặc dù KTV có nghĩa vụ bảo mật thông tin của khách hàng theo hợp đồng kiểm toán, song theo quy định của pháp luật và quy định có liên quan, KTV vẫn phải báo cáo về hành vi không tuân thủ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền Vì lý do rất nhạy cảm và phức tạp trong trường hợp này, kiểm toán viên được khuyên nên tham khảo
ý kiến của các chuyên gia tư vấn pháp luật trước khi thực hiện
18 Đoạn 3 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 250
19 Đoạn 4 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 250
Trang 281.3.3 Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán
1.3.3.1 Khái niệm trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán
Trong quá trình hành nghề, KTV và DNKT nhận thức rủi ro nghề nghiệp cao và họ
có thể phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý nếu có thiệt hại xảy ra cho khách hàng hoặc bên thứ ba có lợi ích liên quan đến báo cáo kiểm toán mà họ ký phát hành Để thực hiện hoạt động kiểm toán độc lập, hai chủ thể là KTV và DNKT luôn có mối quan hệ gắn bó khăng khít về quyền và trách nhiệm Chủ thể KTV thực hiện nghiệp vụ kiểm toán tại khách hàng theo các chuẩn mực nghề nghiệp Chủ thể DNKT có nghĩa vụ quản lý, giám sát công việc của KTV Báo cáo kiểm toán phát hành cần được thông qua bởi chữ ký xác nhận của cả hai chủ thể là KTV và DNKT Do vậy khi phát sinh trách nhiệm pháp lý do BCKT sai sót thì thông thường cả hai chủ thể này có thể bị xử lý với tư cách là đối tượng
Tùy từng quốc gia, trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT có thể được quy định mức độ nặng nhẹ khác nhau Nhìn chung, theo mức độ nghiêm trọng tăng dần thì trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT được phân thành ba loại: Trách nhiệm dân sự; Trách nhiệm hành chính; Trách nhiệm hình sự
1.3.3.2 Trách nhiệm dân sự:
Trách nhiệm dân sự hình thành khi tổ chức hoặc cá nhân có gây thiệt hại đến sức khỏe, tài sản, danh dự…của chủ thể khác (mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình
sự) thì phải bồi thường thiệt hại “Trách nhiệm dân sự không phải là một sự trừng phạt
mà là một biện pháp buộc người có hành vi vi phạm pháp luật vào nghĩa vụ bồi thường cho người bị tổn hại do hành vi đó gây ra20” Có thể nói trách nhiệm dân sự chính là trách
20 Ngô Huy Cương, 2009 Trách nhiệm dân sự: So sánh và phê phán Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 03/2009, tr 5
Trang 29nhiệm pháp lý mang tính tài sản Nói cách khách nó là “hậu quả pháp lý bất lợi về mặt tài
sản mà chủ thể pháp lý gây thiệt hai phải gánh chịu bằng cách phải bù đắp bằng tài sản
Tinh thần này thể hiện rõ ở khoản 5 điều 3 Bộ luật dân sự 2015 “Cá
nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự”
Trách nhiệm dân sự là một loại hình trách nhiệm pháp lý có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, trách nhiệm dân sự chỉ áp dụng khi có hành vi vi phạm pháp luật hoặc vi phạm
thỏa thuận hợp đồng Thứ hai, vì nó là trách nhiệm pháp lý nên sẽ có chế tài của Nhà nước cưỡng chế chủ thể vi phạm phải thực hiện Thứ ba, chủ thể vi phạm sẽ phải gánh
chịu hậu quả pháp lý bất lợi thông qua việc bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình
Liên hệ đến nghề nghiệp kiểm toán, các sai phạm của KTV và DNKT liên quan đến trách nhiệm dân sự chủ yếu là do bất cẩn khi hành nghề gây thiệt hại cho chủ thể khác Thông thường KTV phải chịu trách nhiệm dân sự đối với các chủ thể là Khách hàng hoặc Bên thứ ba liên quan, bao gồm các chủ thể như cổ đông, ngân hàng, nhà đầu tư…Họ căn cứ trên báo cáo tài chính được kiểm toán để ra quyết định kinh doanh như bán/mua cổ phần hoặc cho vay, giao dịch thương mại… Xem xét căn cứ hình thành trách nhiệm dân
sự, có thể phân chia thành hai loại khác nhau:
i) Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh do các chủ
thể (tổ chức hoặc cá nhân) không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng Đây là mối quan hệ giữa hai bên trong hợp đồng gồm bên vi phạm hợp đồng và bên bị vi phạm hợp đồng Điểm đáng lưu ý là cơ sở phát sinh trách nhiệm dân sự trong hợp đồng là do hành
vi vi phạm các nghĩa vụ mà hai chủ thể hoàn toàn tự nguyện giao kết trong hợp đồng Do
đó ngay cả khi không có thiệt hại thực tế phát sinh nhưng nếu có thỏa thuận trong hợp đồng thì bên vi phạm vẫn phải bồi thường cho bên bị vi phạm Mức bồi thường có thể khác với thiệt hại thực tế nếu hai bên có thỏa thuận trong hợp đồng Chủ thể có liên quan trong trách nhiệm dân sự trong hợp đồng chỉ là các bên quy định trong hợp đồng Trường hợp có nhiều chủ thể cùng có hành vi gây thiệt hại thì các bên vi phạm chỉ chịu trách nhiệm liên đới nếu có quy định cụ thể trong hợp đồng
21 Bùi Thị Thanh Hằng, 2017, Trách nhiệm dân sự, chế tài hay biện pháp khắc phục đối với hành vi vi phạm hợp đồng Tạp chí Nghiên Cứu Lập Pháp, số 2/2017, tr.3
Trang 30Các đặc điểm chính của trách nhiệm dân sự trong hợp đồng được tóm lược ở Sơ đồ bên dưới đây:
Đối với hoạt động kiểm toán độc lập, chủ thể của hai bên là DNKT và Khách hàng được hình thành do quan hệ hợp đồng dịch vụ kiểm toán Theo quy định của Luật kiểm
toán 2011, “KTV bị nghiêm cấm hành nghề kiểm toán độc lập với tư cách cá nhân”.22 Chỉ
có DNKT mới có chức năng kinh doanh dịch vu kiểm toán KVT đóng vài trò là người lao động của DNKT và thực hiện kiểm toán tại khách hàng
Nếu có phát sinh tranh chấp do hành vi vi phạm hợp đồng kiểm toán của KTV hay DNKT, Tòa án sẽ ưu tiên căn cứ vào hợp đồng kiểm toán đề giải quyết Ví dụ như KTV
để lộ thông tin bảo mật của khách hàng hoặc DNKT phát hành báo cáo kiểm toán trễ hạn…Trong những trường hợp này, DNKT với tư cách là chủ thể ký hợp đồng kiểm toán
với khách hàng, sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự với khách hàng KTV không phải chịu
22 Khoản 2 điều 13 Luật kiểm toán độc lập 2011
Sơ đồ Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng
Không thỏa thuận bồi thường
Có thỏa thuận bồi thường
(không là đk bắt buộc)
Đền bù tổn thất
Vô ý
Trang 31trách nhiệm dân sự trực tiếp với khách hàng vì KTV chỉ là người lao động của DNKT và
thực hiện công việc mà DNKT giao phó Mọi hoạt động nghề nghiệp của KTV đều chịu
sự phân công, kiểm tra giám sát của DNKT Có thể KTV phải hoàn trả một phần hoặc
toàn bộ thiệt hại mà DNKT đã bồi thường cho khách hàng Số tiền nhiều hay ít tùy thuộc vào nội quy lao động của DNKT hoặc hợp đồng trách nhiệm (nếu có) giữa KTV và DNKT Theo quy định của pháp luật về kiểm toán ở Việt Nam, DNKT có nghĩa vụ bồi
thường thiệt hại cho khách hàng khi BCKT có sai sót và “mức bồi thường thiệt hại cho
khách hàng do sai sót kiểm toán tối đa không quá 10 lần phí kiểm toán năm của hợp đồng kiểm toán”.23
ii) Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự không ràng buộc
bằng quan hệ hợp đồng Khi một chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật quy định ngoài hợp đồng, gây ra thiệt hại cho chủ thể khác thì phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
mình gây ra Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì “Người nào có hành vi xâm
phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” 24
Khác với trách nhiệm dân sự trong hợp đồng, chủ thể của trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng có thể là bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào miễn là họ có hành vi vi phạm pháp
luật gây thiệt hại cho tổ chức hoặc cá nhân khác “Trong trường hợp này, trách nhiệm
được hiểu là bổn phận, nghĩa vụ của bên gây thiệt hại phải bồi thường cho bên bị thiệt hại”25 Việc phát sinh và mức độ bồi thường đều là do pháp luật quy định Tuy nhiên bên
bị thiệt hại (người có quyền) cần phải chứng minh được ba điều kiện như sau: Một là, bên
bị thiệt hại có thiệt hại thực tế phát sinh; Hai là, chủ thể gây thiệt hai có hành vi vi phạm pháp luật; Ba là, tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại thực
tế
Như vậy, khi gây tổn thất về tài sản hoặc tinh thần cho chủ thể khác, chủ thể gây
thiệt hại (người có nghĩa vụ) phải bồi thường theo nguyên tắc “kịp thời, toàn bộ” 26 Người gây thiệt hại dù có lỗi vô ý hay cố ý thì cũng phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra Tuy nhiên nếu hành vi trái pháp luật do lỗi vô ý thì chủ thể có thể được xem xét giảm nhẹ
23 Điểm 6.2 phần B Thông tư 64/2004/TT-BTC
24
Khoản 1 điều 584 Bộ luật dân sự 2015
25 Lê Văn Sua, 2018 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Tạp chí Luật Sư, số 11/2018, tr.3
26 Khoản 1 điều 605 Bộ luật dân sự 2015
Trang 32mức bồi thường nếu giá trị thiệt hại là quá lớn so với khả năng có thể bồi thường Trường
hợp có nhiều chủ thể cùng có hành vi gây thiệt hại thì các chủ thể phải chịu trách nhiệm
liên đới Mỗi chủ thể phải gánh chịu mức bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi
Trách nhiệm ngoài hợp đồng thường rất khó xác định vì bên thứ ba và DNKT/KTV không có hợp đồng ràng buộc nào Các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán rất đông đảo,
27 Điều 587 Bộ luật dân sự 2015
Sơ đồ Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng
Tài sản Hành vi trái luật Thiệt hại thực tế
Tinh thần
Đền bù tổn thất
phát sinh hành vi gây hại
Bên gây thiệt hại
(có thể giảm bồi thường)
(bất cứ cá nhân, tổ chức)
Bên bị thiệt hại
Sơ đồ 1.2 Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng của KTV và DNKT
Vô ý
Trang 33trong khi khả năng tài chính của KTV và DNKT hạn chế Do vậy khi thiệt hại giá trị lớn thì KTV và DNKT khó có thể gánh chịu trách nhiệm bồi thường theo giá trị thực tế Nên chăng pháp luật chuyên ngành KTĐL nước ta cần có quy định khống chế mức bồi thường tối đa phù hợp, tương tự như trường hợp trách nhiệm dân sự trong hợp đồng (10 lần giá trị hợp đồng kiểm toán) Ở Việt Nam, theo quy định của Luật kiểm toán độc lập 2011, khi báo cáo kiểm toán có sai sót gây thiệt hại cho bên thứ ba sử dụng BCKT thì DNKT phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (khoản 12, điều 29 Luật kiểm toán độc lập 2011 về
trách nhiệm của DNKT) KTV không có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại cho bên thứ
ba ngay cả khi KTV bất cẩn gây ra BCKT sai sót Điều này cũng phù hợp với tinh thần
của điều 597 Bộ luật dân sự 2015, theo đó “Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người
của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao” Còn việc KTV có
nghĩa vụ hoàn trả tiền để bù đắp thiệt hại như thế nào cho DNKT lại là một câu chuyện khác Nó phụ thuộc vào mối quan hệ lao động giữa người lao động (KTV) và người sử dụng lao động (DNKT) được điều chỉnh bởi pháp luật về lao động Để giải quyết vấn đề này cần căn cứ vào Bộ luật lao động; hợp đồng lao động; nội quy lao động; hợp đồng trách nhiệm…
1.3.3.3 Trách nhiệm hành chính
Trách nhiệm hành chính là trách nhiệm thi hành các nghĩa vụ do pháp luật về hành chính quy định Đó là những hậu quả bất lợi mà Nhà nước bắt buộc các tổ chức, cá nhân phải gánh chịu do thực hiện không đúng những yêu cầu của pháp luật hành chính Nếu chủ thể vi phạm phạm luật sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước để đền
bù thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra Hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý hành chính là hành vi chưa tới mức truy cứu trách nhiệm hình sự Có thể nói trách nhiệm hành chính có tính ít nghiêm khắc hơn trách nhiệm hình sự
Theo điều 21 Luật xử lý vi phạm hành chính 2011, có các hình thức xử phạt vi
phạm hành chính áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật hành chính như sau: “a)
Cảnh cáo; b) Phạt tiền; c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; d) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính (sau đây gọi chung là tang vật, phương
Trang 34tiện vi phạm hành chính); đ) Trục xuất.”28 Trong đó hai hình thức Cảnh cáo và Phạt tiền
là hình thức xử phạt chính Các hình thức còn lại là hình thức xử phạt bổ sung
Theo pháp luật kiểm toán Việt Nam, khi KTV hoặc DNKT vi phạm các quy định pháp luật về kiểm toán mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, sẽ bị xử phạt hành chính vì những vi phạm của mình Các hành vi vi phạm pháp luật về kiểm toán độc lập được quy định tại điều 59 của Luật kiểm toán độc lập 2011 gồm có 19 hành vi, trong đó đáng chú ý là một số hành vi sau: Cá nhân ký báo cáo kiểm toán khi không đủ điều kiện hành nghề; Do thiếu cẩn trọng dẫn đến sai lệch báo cáo kiểm toán; Cố tình xác nhận báo cáo tài chính có gian lận hoặc sai sót…
Kiểm toán viên hoặc doanh nghiệp kiểm toán vi phạm quy định pháp luật về
KTĐL có thể bị xử phạt ở các hình thức sau: “a) Cảnh cáo; b) Phạt tiền; c) Ngoài hình
thức xử lý quy định tại điểm a và điểm b của khoản này, tổ chức, cá nhân vi phạm có thể
bị thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán, chứng chỉ kiểm toán viên, Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề kiểm toán, đình chỉ đăng ký hành nghề
Ngoài Luật kiểm toán độc lập, Quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán hiện hành là Nghị định số 41/2018/NĐ-CP ban hành ngày 13 tháng 03 năm 2018 Trong đó tại điều 6 của Nghị định này quy định mức phạt tối đa là 100 triệu đối với tổ chức, 50 triệu đối với cá nhân đối với một hành vi vi phạm trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán Ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt như trên,
người vi phạm còn bị áp dụng chế biện pháp khắc phục hậu quả bổ sung như sau: “a)
Buộc nộp và công khai báo cáo kiểm toán đính kèm báo cáo tài chính; b)Buộc nộp lại số
Vì sự ảnh hưởng nghiêm trọng của báo cáo kiểm toán đối với công chúng, đặc biệt
là các đối tượng liên quan đến công ty đại chúng niêm yết trên sàn chứng khoán, quy định pháp luật về xử phạt hành chính trong lĩnh vực kiểm toán ngày càng nghiêm khắc hơn so với trước đây Bên cạnh chế tài quy định trong pháp luật về kiểm toán, KTV và DNKT có sai phạm cũng có thể bị xử phạt vi phạm hành chính bởi các luật chuyên ngành khác như
Trang 35pháp luật về chứng khoán (kiểm toán công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán) v.v…Chế tài xử phạt vi phạm hành chính nặng nhất đối với KTV là thu hồi vĩnh viễn chứng chỉ KTV, đồng nghĩa là cá nhân này vĩnh viễn bị tước bỏ nghề nghiệp KTV hành nghề Còn đối với DNKT thì chế tài xử phạt hành chính nặng nhất là thu hồi vĩnh viễn Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán
1.3.3.4 Trách nhiệm hình sự
Hiểu theo nghĩa chung, trách nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp lý mà một cá nhân hoặc pháp nhân phải chịu hậu quả về hành vi phạm tội của mình được quy định cụ thể trong Bộ luật hình sự Đây là mức trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất trong ba loại
trách nhiệm pháp lý kể trên Người phải chịu trách nhiệm hình sự được gọi là “tội phạm”
Như vậy, nếu KTV hoặc DNKT có hành vi gian lận, lừa dối gây hậu quả nghiêm trọng cho tổ chức hoặc cá nhân khác thì cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự Ở các nước trách nhiệm hình sự của kiểm toán viên liên quan đến sai phạm với BCTC có thể được quy định ở các luật chuyên ngành khác như luật chứng khoán, luật công ty Còn
ở Việt Nam, Luật kiểm toán độc lập với tư cách là luật chuyên ngành, có quy định khá chung chung về chế tài xử lý hình sự đối với cá nhân vi phạm pháp luật về KTĐL với nội
dung sau: “Cá nhân vi phạm pháp luật về kiểm toán độc lập tùy theo tính chất, mức độ vi
Tuy nhiên pháp luật hình sự ở Việt Nam, trong Bộ luật hình sự 2015 không có điều khoản riêng quy định về xử lý hình sự đối với hành vi vi phạm quy định pháp luật về kiểm toán Do vậy có thể hiểu là KTV chỉ bị xử lý hình sự cho sai phạm của mình khi là người đồng phạm ở một tội danh khác có quy định trong Bộ luật Hình sự Có lẽ cũng một phần vì chưa có khuôn khổ pháp lý hình sự rõ ràng, cụ thể điều chỉnh vi phạm trong lĩnh vực kiểm toán mà tác giả chưa thấy có trường hợp ở Việt Nam trong vòng 09 gần đây, kể
từ khi Luật kiểm toán độc lập được ban hành năm 2011 mà KTV bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì sai phạm trong lĩnh vực KTĐL
DNKT cũng được coi là pháp nhân thương mại vì là loại hình doanh nghiệp hoạt động với mục đính sinh lợi Theo quy định tại điều 75 Bộ luật hình sự 2015, DNKT phải chịu trách nhiệm hình sự khi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân, có sự điều hành của pháp nhân Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật hình sự
31 Khoản 2 điều 60 Luật kiểm toán độc lập 2011
Trang 362015 thì pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự với 33 tội danh như: Tội buôn lậu (điều 188); Tội trốn thuế (điều 200); Tội rửa tiền (điều 324)….mà chưa có
tội danh “Vi phạm quy định về kiểm toán độc lập gây hậu quả nghiêm trọng” Do vậy mà
DNKT chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự với tư cách là đồng phạm ở 33 tội danh quy định trong điều 76 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) Mặc dù DNKT có thể chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự, KTV thực hiện hành vi phạm tội cũng không được miễn trừ trách nhiệm Hai chủ thể DNKT và KTV là hoàn toàn độc lập nhau và từng chủ thể riêng rẽ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu vi phạm các quy định của Bộ luật hình sự
1.4 Tham khảo một số kinh nghiệm về trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán ở nước khác
Từ đầu thế kỷ 20, hoạt động KTĐL ở các nước tư bản lớn như Anh, Mỹ… đã phát triển đi kèm với sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán Thực tiễn đã phát sinh các tranh chấp về trách nhiệm pháp lý của KTV hoặc DNKT mà phải nhờ đến Tòa án giải quyết Trách nhiệm pháp lý trong hợp đồng thì đã khá rõ ràng vì đã có hợp đồng dịch vụ kiểm toán là cơ sở quan trọng để giải quyết Vấn đề phức tạp là tranh chấp về trách nhiệm pháp lý của KTV/DNKT với bên thứ ba như nhà đầu tư, bên cho vay…Dưới đây là một
số điểm nổi bật về trách nhiệm pháp lý của KTV/DNKT ở nước Mỹ và Anh
1.4.1 Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên ở Mỹ
Án lệ Ultramares
Năm 1924 ở Mỹ, Công ty Fred Stern được các kiểm toán viên của Công ty Touch Niven xác nhận báo cáo tài chính là trung thực và hợp lý Căn cứ vào kết quả báo cáo kiểm toán, Công ty Ultramares đã cho Công ty Fred Stern vay một số tiền để hoạt động kinh doanh Tuy nhiên năm 1925 Công ty Fred Stern này không có khả năng trả nợ và tuyên bố phá sản Các chủ nợ sau đó phát hiện ra ra báo cáo tài chính của Fred Stern đã bị sai sót nghiêm trọng, BCTC đã ghi nhận có một khoản phải thu khống (không có thật) khoảng 700.000 USD Kiểm toán viên đã không phát hiện ra sai sót trọng yếu này trong quá trình kiểm toán nên vẫn phát hành BCKT xác nhận số liệu của BCTC Do đó chủ nợ (Ultramares) đã kiện kiểm toán viên ra Tòa án Liên bang Mỹ
Trang 37Sau quá trình điều tra, năm 1931 Tòa án Liên bang Mỹ đã ra phán quyết rằng: Kiểm toán viên đã có sai sót do bất cẩn nhưng không phải do cố ý gian lận trong quá trình kiểm toán Tuy nhiên KTV không phải chịu trách nhiệm đối với chủ nợ (Ultramares) vì trách nhiệm này không nằm trong phạm vi của hợp đồng kiểm toán Do vậy, chỉ có khách hàng kiểm toán mới có thể kiện kiểm toán viên vì lý do sai sót của KTV
Đây là một vụ án khá nổi tiếng được nhiều Tòa án áp dụng như án lệ sau này Nó được gọi là Học thuyết Ultramares (Ultramares rules) Học thuyết này có hàm ý như sau:
“Kiểm toán viên không phải chịu trách nhiệm với bên thứ ba không có lợi ích liên quan
trong hợp đồng kiểm toán (contract privity) về những sai sót do bất cẩn của kiểm toán viên Tuy nhiên kiểm toán viên vẫn có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý với bên thứ ba nếu báo cáo kiểm toán có sai sót do lỗi gian lận do cố ý.”32
Tư tưởng của học thuyết Ultramares về trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên đã tồn tại trong một thời gian dài Tuy nhiên sau này người ta nhận thấy cần phải mở rộng
trách nhiệm pháp lý của KTV đối với bên thứ ba lên mức độ cao hơn Đó là nguyên tắc “có
thể được dự đoán” (Reasonably Foreseeable) Hiện nay có bốn bang của Mỹ đã áp dụng
nguyên tắc này Theo đó, kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm pháp lý vì bất cẩn với bên thứ ba sử dụng kết quả kiểm toán có sai sót trọng yếu nếu KTV có thể nhận thức được trước hoặc cần phải biết trước là BCTC được kiểm toán có thể được sử dụng bởi bên thứ ba nào đó
Nội dung vắn tắt của Án lệ này như sau:
Vào năm 1972, Công ty Rosenblum đã quyết định mua rất nhiều cổ phiếu của công ty Giant Stores Họ căn cứ vào báo cáo tài chính Giant Stores được kiểm toán bởi công ty Touche Ross & Co (Touche) Sau đó người ta phát hiện ra Công ty Giant Stores đã có hành vi gian lận “xào nấu” BCTC mà các kiểm toán viên đã không phát hiện ra do kiểm toán viên đã mắc lỗi bất cẩn tổng thể (gross negligence) Công ty Giant Stores nộp đơn xin phá sản vào năm 1973 Giá trị cổ phiếu đã không còn giá trị sau đó dẫn đến việc thua
lỗ đầu tư của Harry và Barry Do vậy nhà đầu tư này đã quyết định kiện kiểm toán viên ra Tòan án để đòi bồi thường thiệt hại
32 touche, truy cập ngày 25/03/2020
Trang 38https://www.casebriefs.com/blog/law/torts/torts-keyed-to-epstein/misrepresentation/ultramares-corporation-v-Vào tháng 6/1983 Tòa án nhận tối cao bang New Jersey đã đưa ra phán quyết là:
“Kiểm toán viên phải bồi thường cho nguyên đơn vì những bất cẩn tổng thể của mình
Đạo luật Sarbanes-Oxley
Đạo luật này được ra đời sau bối cảnh vụ bê bối gian lận tài chính của các tập đoàn lớn ở Mỹ như Enron, WorldCom, Tyco… diễn ra vào đầu những năm 2000 Các lãnh đạo công ty này đã cố tình gian lận báo cáo tài chính làm cho công ty có lãi ảo rất nhiều BCTC được kiểm toán xác nhận bởi Công ty Anthur Anderson, công ty kiểm toán lớn thứ
5 trên thế giới lúc bấy giờ
Sự sụp đổ của lớp nêu trên kéo theo sự sụp đổ của công ty kiểm toán Anthur Anderson, năm 2002 nước Mỹ đã ban hành đạo luật Sarbanes-Oxley quy định chặt chẽ hơn về công tác kế toán, kiểm toán, quản trị của các công ty đại chúng niêm yết trên sàn chứng khoán Mục đích của đạo luật là ngăn chặn những gian dối tài chính và bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn thông qua việc nâng cao hiệu quả hệ thống quản trị nội bộ doanh nghiệp Hoạt động kiểm toán cũng được đề cao vai trò qua một số quy định trong đạo luật này như:
- Các công ty kiểm toán không được cung cấp dịch vụ kế toán, tư vấn…cho khách hàng của họ Các dịch vụ này phải do công ty khác cung cấp (Tránh nguy cơ tự kiểm tra, hoặc nguy cơ lợi ích bị lung lay)
- Các công ty niêm yết phải có Báo cáo kiểm soát nội bộ, báo cáo này phải có chứng thực của công ty kiểm toán
“Sau khi đạo luật Sarbanes-Oxley có hiệu lực, hơn một ngàn công ty niêm yết ở
cho việc hoàn thiện bộ máy quản trị về kế toán, kiểm toán cực đắt đỏ nhưng cũng rất cần thiết để bảo vệ lợi ích của công chúng Vị trí và vai trò của các kiểm toán viên và kế toán viên được nâng lên rõ rệt vì hoạt động của họ có thể ảnh hưởng đến thực trạng tài chính doanh nghiệp của cả một quốc gia
Trang 391.4.2 Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên ở Anh
Hoạt động của KTV và DNKT được đề cập trong Luât công ty năm 2006 của Anh Nhìn chung, KTV ở Anh sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý cho cả trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự Càng ngày công chúng kỳ vọng càng nhiều vào trách nhiệm của KTV
về chất lượng và uy tín nghề nghiệp kiểm toán Song cũng cần cân đối với chi phí kiểm toán mà khách hàngcó thể chấp nhận được
Trách nhiệm hình sự phát sinh khi KTV có những hành vi gian lận hoặc giao dịch nội gián Một điểm lưu ý trong Luật công ty của Anh quy định là KTV có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp báo cáo kiểm toán sai sót do KTV cố tình hoặc thiếu thận trọng khi hành nghề
Trách nhiệm dân sự của KTV bao gồm trách nhiệm dân sự trong hợp đồng và trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng Đây là cơ sở để hình thành trách nhiệm pháp lý của KTV Khách hàng hoặc bên thứ ba có thể khởi kiện KTV nếu họ bị thiệt hại do sử dụng kết quả kiểm toán có sai sót do bất cẩn của KTV khi kiểm toán Tuy nhiên, mức độ bồi thường của KTV là bao nhiêu? Vấn đề này còn có nhiều tranh cãi khác nhau Nhìn chung, KTV chỉ có trách nhiệm pháp lý khi họ đã không tuân thủ các thủ tục kiểm toán hoặc vi phạm
tính độc lập khách quan Pháp luật dân sự Anh có khái niệm “chung và liên đới” (Joint
thì nguyên đơn có thể khởi kiện đòi bất kỳ một bên nào bồi thường toàn bộ thiệt hại Ví
dụ như Giám đốc đơn vị cố ý lập BCTC có sai sót trọng yếu, Ban quản trị đơn vị và KTV đều không phát hiện ra Như vậy cả ba bên đều có lỗi và có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Và như vậy khi có thiệt hại giá trị lớn do BCKT gây ra, nguyên đơn thường chọn khởi kiện công ty kiểm toán thay vì kiện KTV vì năng lực tài chính của cá nhân KTV là có hạn
Khi công chúng đặt quá nặng trách nhiệm pháp lý của KTV sẽ kéo theo chi phí kiểm toán tăng cao do các DNKT phải dự trù cả chi phí bồi thường do kiện tụng (nếu có) hoặc phí mua bảo hiểm nghề nghiệp Do vậy các DNKT nhỏ sẽ rất khó cạnh tranh được
do tiềm lực tài chính thấp Để hài hòa vấn đề trên, “Luật công ty Anh đã cho phép KTV áp
dụng Thỏa thuận giới hạn trách nhiệm (LLA-Liability Limitation Agreement) nhằm giảm
35
Tim Bush, Stella Fearnley and Shyam Sunder, 2007 Auditor Liability Reforms in the UK and the US, Comperative Review, Nr 8/2007, page 8
Trang 40mối đe dọa kiện tụng từ khách hàng Thỏa thuận này sẽ khống chế mức tối đa mà KVT phải bồi thường cho khách hàng LLA cần được phiên họp đại hội đồng cổ đông hàng
Tóm lại, qua tham khảo các vụ tranh chấp pháp lý về trách nhiệm pháp lý của
KTV và DNKT ở hai nước Mỹ và Anh, chúng ta có thể thấy lịch sử về trách nhiệm pháp
lý nghề nghiệp kiểm toán viên đã có thay đổi lớn qua thời gian Từ khởi đầu KTV chỉ chịu trách nhiệm bồi thường cho khách hàng ký hợp đồng kiểm toán mà không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho bên thứ ba Sau đó đã phát sinh trách nhiệm bồi thường đối với bên thứ ba trong một số trường hợp nhất định Bên cạnh trách nhiệm dân sự, KTV có thể phải chịu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi cố ý vi phạm quy định về hành nghề kiểm toán gây hậu quả nghiêm trọng DNKT/KTV có quyền thỏa thuận với khách hàng để giới hạn mức độ bồi thường thiệt hại để hạn chế hậu quả của rủi ro kiểm toán Đây là những bài học đắt giá mà các DNKT/KTV ở Việt Nam có thể tiên lượng ứng phó rủi ro nghề nghiệp Trong tương lai với xu thế hội nhập kinh doanh quốc tế, cơ quan quản lý nhà nước cũng có thể đưa ra các quy định pháp luật nhằm nâng cao trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối với sai phạm trong hoạt động KTĐL
36
https://www.accaglobal.com/an/en/student/exam-support-resources/professional-exams-study-resources/p7/technical-articles/auditor-liability.html, truy cập ngày 04/04/2020