1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao tính hữu hiệu hệ thống kiểm soát nội bộ tại công ty cổ phần xây dựng và lắp máy trung nam

118 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn về kiểm soát nội bộ đối với chi phí xây lắp tại Công ty Cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam, đề tài đã giải quyết một số vấn đề sau: Thứ nhất, đưa r

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-*** -

BÙI THƯỢNG HẢI

NÂNG CAO TÍNH HỮU HIỆU HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI

BỘ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ LẮP MÁY

TRUNG NAM

Chuyên ngành: Kế toán (hướng ứng dụng)

Mã số: 8340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Bùi Văn Dương

Tp Hồ Chí Minh - Năm 2020

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu theo hướng ứng dụng của riêng tôi, quá trình thực hiện luận văn và kết quả là trung thực, chưa từng được công bố, sử dụng

để bảo vệ một học vị nào

Tác giả luận văn

Bùi Thượng Hải

Trang 3

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC SƠ ĐỒ

TÓM TẮT

ABSTRACT

NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.LÝ DO LỰA CHỌN VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT 1

2.MỤC TIÊU & CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2

2.1.Mục tiêu tổng quát 2

2.2.Mục tiêu cụ thể 2

2.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

3.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

3.2.Đối tượng nghiên cứu 2

3.2.Phạm vi nghiên cứu 2

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

5 Ý NGHĨA THỰC TIÊN CỦA LUẬN VĂN TẠI ĐƠN VỊ NGHIÊN CỨU…… 3

6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 3

CHƯƠNG 1: PHÁT HIỆN VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 4

1.1.“Giới thiệu tổng quan về Công ty cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam 4

1.1.1 Quá trình hình thành phát triển và cơ cấu tổ chức 4

Lịch sử phát triển 5

Trang 4

1.1.2 Tình hình tổ chức công tác kế toán tại Công ty 8

Sơ đồ 1.2.Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán 8

Sơ đồ 1.3 Hình thức sổ kế toán Nhật Ký Chung 9

1.2.Bối cảnh của ngành, doanh nghiệp và khẳng định vấn đề cần giải quyết 10

1.2.1.1 Đặc điểm của các doanh nghiệp xây lắp và sự cần thiết của kiểm soát nội bộ 10

1.2.1.2 “Doanh nghiệp xây dựng và phân loại doanh nghiệp xây dựng 12

1.2.1.3.Vị trí của doanh nghiệp xây dựng trong nền kinh tế quốc dân 14

1.2.1.4.Vấn đề kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp xây lắp 15

1.2.2 Khẳng định vấn đề cần giải quyết tại Công ty cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam 18

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 22

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 23

2.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài 23

2.1.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới 23

2.1.2.Các nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ tại Việt Nam 25

2.1.3.Định hướng nghiên cứu của tác giả 29

2.2 Tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp……… 29

2.2.1 Khái niệm về tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ……… 29

2.2.2 Biểu hiện của một hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động hữu hiệu: 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 30

CHƯƠNG 3: KIỂM CHỨNG VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT VÀ DỰ ĐOÁN NGUYÊN NHÂN TÁC ĐỘNG 31

3.1 Kiểm chứng vấn đề cần giải quyết……… 31

3.1.1 Môi trường kiểm soát……….31

3.1.2 Đánh giá rủi ro tại Công ty cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam…… 33 3.1.3 Hoạt động kiểm soát tại Công ty cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam…36

Trang 5

Nam………42

3.1.5 Giám sát tại Công ty cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam……….44

Sơ đồ 3.1 Sơ đồ thủ tục kiểm tra giám sát tại Trung Nam E&C 45

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 49

CHƯƠNG 4: KIỂM CHỨNG NGUYÊN NHÂN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 50

4.1 Khái quát về phương pháp khảo sát 50

4.2 Kết quả khảo sát 51

4.3 Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng Cronbach’s Alpha 52

Bảng 4.01: Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo MTKS 53

Bảng 4.02: Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo ĐG 54

Bảng 4.03: Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo TTKS 54

Bảng 4.04: Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo TT 55

Bảng 4.05: Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo GS 56

Bảng 4.06: Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả 56

4.5 Thực trạng tính hữu hiệu của HTKSNB Công ty cổ phần XD & LM Trung Nam 57

4.6 Đề xuất giải pháp……….59

4.6.1 Căn cứ và nguyên tắc xây dựng giải pháp 59

4.6.2 Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ Công ty cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam 60

4.6.2.1 “Hoàn thiện môi trường kiểm soát 60

4.6.2.2 Hoàn thiện đánh giá rủi ro 67

4.6.2.3 Hoạt động kiểm soát……….68

4.6.2.4 Thông tin và truyền thông 75

4.6.2.5 Giám sát 78

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 79

Trang 6

5.1 Mục tiêu và kế hoạch thực hiện 80

5.1.1 Mục tiêu………80

5.1.2.Kế hoạch thực hiện 82

5.2 Phân chia trách nhiệm 83

KẾT LUẬN 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: Bảng câu hỏi khảo sát

Phụ lục 2: Thống kê thang đo

Phụ lục 3: Kết quả phân tích dữ liệu

Phụ lục 3.1: Kết quả phân tích dữ liệu Cronbach Alpha

Phụ lục 3.1: Kết quả phân tích dữ liệu EFA

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HTKSNB Hệ thống kiểm soát nội bộ

Trung Nam E&C Công ty cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam

NLVL Nguyên liệu, vật liệu

NVLTT Nguyên vật liệu trực tiếp

CPNVLTT Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

CPĐTXD Chi phí đầu tư xây dựng

ERP Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 4.01: Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo MTKS 53

Bảng 4.02: Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo ĐG 54

Bảng 4.03: Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo TTKS 54

Bảng 4.04: Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo TT 55

Bảng 4.05: Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo GS 56

Bảng 4.06: Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả 56

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý………7

Sơ đồ 1.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán……….8

Sơ đồ 1.3 Hình thức sổ kế toán Nhật Ký Chung……… 9

Sơ đồ 3.1 Sơ đồ thủ tục kiểm tra giám sát tại Trung Nam E&C………45

Trang 10

TÓM TẮT

Kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay luôn

là vấn đề được các doanh nghiệp quan tâm Để ngày càng phát triển thì các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp xây lắp nói riêng phải luôn chú trọng hoàn thiện mình hơn trong công tác quản lý, tự đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành nhằm nâng cao sức cạnh tranh và khẳng định vị thế của mình trên thị trường Để làm được điều đó thì việc kiểm soát phí sản xuất kinh doanh có vị trí đặc biệt quan trọng và hết sức cần thiết cho các DN Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn về kiểm soát nội bộ đối với chi phí xây lắp tại Công ty Cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam, đề tài đã giải quyết một số vấn đề sau:

Thứ nhất, đưa ra những lý luận cơ bản về kiểm soát nội bộ chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng

Thứ hai, tìm hiểu thực trạng tình hình sản xuất kinh doanh và công tác kiểm soát nội bộ chi phí xây lắp tại Công ty Cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam Nêu ra những vấn đề còn tồn tại trong kiểm soát nội bộ chi phí xây lắp tại công ty

Thứ ba, thông qua quá trình khảo sát nghiên cứu để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại Công ty cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam

Thứ tư, xuất phát từ đặc điểm tổ chức, hoạt động sản xuất kinh doanh của công

ty, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ CPXL tại công ty trong các mặt như: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông và giám sát, giúp công ty kiểm soát chặt chẽ hơn các khoản chi phí, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh

Thứ năm, tác giả xây dựng kế hoạch hành động để thực hiện những giải pháp trên, xây dựng mục tiêu và kế hoạch thực hiện cho thời gian tới để cải thiện hoạt động kiểm soát nội bộ đối với Công ty

Từ khóa: Kiểm soát nội bộ, xây lắp, tính hữu hiệu

Trang 11

ABSTRACT

Internal control at enterprises in the current market economy is always a matter

of concern to businesses In order to grow more and more, enterprises in general and construction and installation enterprises in particular must always focus on improving themselves in the management, self-renewal, product quality improvement and lowering costs to improve competitiveness and affirms its position in the market To

do that, the control of production and business fees is particularly important and necessary for businesses Through theoretical and practical research on internal control

on construction costs at Trung Nam Construction and Installation Joint Stock Company, the topic has solved some of the following issues:

First, give basic arguments about internal control of production costs in construction enterprises

Secondly, to understand the current status of production and business situation and internal control of construction costs at Trung Nam Construction and Installation Joint Stock Company Point out the remaining problems in internal control of construction costs at the company

Thirdly, through the research and survey process to evaluate the factors affecting the effectiveness of the internal control system at Trung Nam Construction and Installation Joint Stock Company

Fourthly, stemming from the organizational characteristics and production and business activities of the company, proposing some solutions to improve internal control of CPXL at the company in such aspects as: environment of risk control and assessment ro, control, information and communication and monitoring activities, helping the company to control costs more closely, contributing to improving business efficiency

Fifthly, the author develops an action plan to implement the above solutions, builds the objectives and implementation plans for the coming time to improve internal control activities for the Company

Keywords: in software, software, rewards

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1.LÝ DO LỰA CHỌN VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT

Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) để kiểm soát được các mục tiêu đề

ra là yêu cầu tất yếu đối với mọi doanh nghiệp Ngược dòng lịch sử, khái niệm này đã

ra đời từ thế kỷ XIX, ngày càng được hoàn thiện nhằm phát hiện và ngăn chặn các gian lận, sai sót từ Công ty kiểm toán và Công ty có thẩm quyền Đến năm 1992, kiểm soát nội bộ (KSNB) phát triển thành một hệ thống lý luận tương đối hoàn chỉnh thông qua báo cáo của Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận khi lập Báo cáo tài chính (COSO)

Chủ đề KSNB và ảnh hưởng KSNB đến tính hữu hiệu và hiệu quả hoạt động

đã được quan tâm rất sớm, hàng loạt các nghiên cứu trên thế giới về đặc điểm chung của các doanh nghiệp có hệ thống KSNB yếu kém và ảnh hưởng của chúng đến giá trị doanh nghiệp, như nghiên cứu của Ge và McVay (2005), Doyle (2005), Ashbough-Skaife cùng cộng sự (2006), Bryan và Lilien (2005), Lin và Wu (2006), Shenkir và Walker (2006), Hammersley (2007) Nghiên cứu tác động của từng nhân

tố đến tính hữu hiệu và hiệu quả hoạt động, như nghiên cứu của Hooks cùng cộng

sự (1994), Ezzamel cùng cộng sự (1997), Lannoye (1996), Walker (1999), Steihoff (2001), Cohen (2002), Springer (2004) và Hevesi (2005) Tại Việt Nam, nghiên cứu

về Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB ở các doanh nghiệp khác nhau được nhiều tác giả quan tâm, như: Nguyễn Ngọc Lý (2016); Nguyễn Thị Phương Dung (2016); Nguyễn Hoàng Phương Linh (2017); Nguyễn Thị Ánh Nguyệt (2017)… Phạm vi của các nghiên cứu là rất đa dạng như: doanh nghiệp kinh doanh chuỗi cửa hàng bán lẻ, doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật bản, doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh,… Bên cạnh đó, các nghiên cứu phần lớn đều cho thấy Tính hữu hiệu của HTKSNB là chưa cao, giá trị nằm ở mức trung bình khá Và để đo lường Tính hữu hiệu của HTKSNB, các tác giả thường chủ yếu sử dụng 3 tiêu chí theo COSO 2013 là: mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo và mục tiêu tuân thủ Từ

đó, các tác giả đưa ra các kiến nghị và giải pháp để nâng cao sự hữu hiệu của HTKSNB

Qua quá trình công tác lâu dài tại Công ty cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam với vai trò phụ trách tài chính, tác giả nhận xét hệ thống KSNB của Công ty hoạt

Trang 13

động vẫn chưa thực sự hữu hiệu, thể hiện như: Hệ thống KSNB còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa kịp thời phát hiện và ngăn ngừa được các rủi ro tiềm năng dẫn đến nguy cơ hoạt động không liên tục hoặc thiếu bền vững, tính hữu hiệu của hệ thống KSNB chưa cao

2.MỤC TIÊU & CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Từ các cơ sở trên, đưa ra những định hướng nhằm nâng cao tính hữu hiệu hệ

thống kiểm soát của Công ty cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam

2.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam được đánh giá như thế nào?

- Các giải pháp nào sẽ giúp Công ty cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam Hoàn thiện nhằm nâng cao tính hữu hiệu hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam

3.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1.Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu về tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam

Trang 14

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn các nhà quản lý: Giám đốc điều hành, Kế toán trưởng, Trưởng ban kiểm soát, Trưởng các phòng ban/đơn vị/dự án, nhân viên/người lao động về những rủi ro và hạn chế ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của Kiểm soát nội bộ

- Nghiên cứu định lượng: Tiến hành đo lường tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ bằng khảo sát thực trạng kiểm soát nội bộ tại công ty được thực hiện trên các điều tra là nhà quản lý, trưởng các phòng ban/đơn vị/dự án, nhân viên/người lao động tại đơn vị

5 Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN TẠI ĐƠN VỊ NGHIÊN CỨU

Ý nghĩa về mặt khoa học: Luận văn là tài liệu nghiên cứu khoa học cho các vấn đề lý luận về hệ thống KSNB trong doanh nghiệp xây lắp Lý luận trong luận văn

có thể là tiền đề và cơ sở để hoàn thiện và bổ sung lý luận về hệ thống KSNB trong các doanh nghiệp nói chung và xây lắp nói riêng

Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Luận văn đã nghiên cứu các đặc điểm hệ thống KSNB tại Công ty CP xây dựng và lắp máy Trung Nam Kết quả đánh giá được những

ưu điểm cũng như những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế này Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, khảo sát và đánh giá, luận văn đề xuất được những phương hướng và giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện để nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty cổ phần xây lắp Trung Nam

6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Đề tài nghiên cứu này kết cấu bao gồm 5 chương như sau:

Chương 1: Phát hiện vấn đề cần giải quyết

Chương 2: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ

Chương 3: Kiểm chứng các vấn đề cần giải quyết và dự đoán nguyên nhân

Chương 4: Kiểm chứng nguyên nhân và đề xuất giải pháp

Chương 5: Xây dựng kế hoạch hành động

Trang 15

CHƯƠNG 1: PHÁT HIỆN VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT

1.1 “ Giới thiệu tổng quan về Công ty cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam

1.1.1 Quá trình hình thành phát triển và cơ cấu tổ chức

1.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Công ty Cổ phần Xây dựng và Lắp máy Trung Nam (Trungnam E&C) thành lập ngày 23/05/2008, trụ sở chính tại Thôn 2, Xã Tân Thượng, Huyện Di Linh, Tỉnh Lâm Đồng Trải qua hơn 10 năm xây dựng và phát triển, Trungnam E&C đã và đang ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong lĩnh vực xây lắp, thi công xây dựng, sửa chữa, bảo dưỡng, lắp đặt máy móc, cho thuê máy móc thiết bị

Tên công ty viết bằng tiếng việt: CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ LẮP

Tên công ty viết bằng tiếng Anh: TRUNG NAM CONSTRUCTION AND

ENGINEERING CORPORATION

Tên viết tắt: TRUNGNAM E&C

“Một hành trình phát triển liên tục không ngừng, và chiến lược kinh doanh đúng đắn, nắm bắt được nhu cầu của thị trường nên doanh thu, tốc độ tăng trưởng kinh doanh của công ty hằng năm luôn đat hiệu quả cao, thành quả đó là một phần không nhỏ của một đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật lành nghề trong các lĩnh vực xây dựng, lắp máy, điện, nước, điều hoà, thông gió…

Để tồn tại và phát triển trong xu thế cạnh tranh khốc liệt, Trungnam E&C không ngừng cập nhật, đổi mới, mua sắm trang thiết bị và công nghệ mới góp phần mang lại những dự án đảm bảo hiệu quả cao cho chất lượng công trình Cho đến nay đã có hơn

300 thiết bị cơ giới, với tổng trị giá hơn 500 tỷ đồng Tháng 9/2014, Trungnam E&C

đã được tổ chức đánh giá chứng nhận Quốc tế ABS (Hoa Kỳ) công nhận hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008

Con người chính là tài sản vô giá của mỗi doanh nghiệp Vì vậy bên cạnh nỗ lực hoạch định chiến lược kinh doanh mới, tạo niềm tin và năng lực với đối tác, Trungnam E&C còn chú trọng đến việc chăm lo đời sống, bảo vệ lợi ích cho người lao động, thực hiện chính sách nhân sự nuôi dưỡng nhân tài, thu hút nguồn nhân lực chất lượng được BLĐ đề cao thực hiện

Trang 16

Lịch sử phát triển

Trang 17

Nâng cao chất lượng sản phẩm, tính cạnh tranh cao của doanh nghiệp

Giá trị cốt lõi:

Đặt trách nhiệm lên mỗi cá nhân gắn liền với kết quả công việc và chất lượng sản phẩm, công trình

Chinh phục những công trình phức tạp, tiềm năng để tạo lợi thế về công việc và lợi ích kinh tế

Suy nghĩ Chính trực, Hành động Đúng đắn và không nhừng nâng cao năng lực và quan trọng nhất là tạo ra kết quả trên cơ sở tôn trọng giá trị đạo đức

Duy trì sự phát triển của Công ty theo hướng bền vững, quản lý Công ty minh bạch và sử dụng nguồn vốn hiệu quả

Lĩnh vực hoạt động:

Lắp đặt hệ thống điện, năng lượng

Xây dựng công trình giao thông cầu đường

Trang 18

Xây dựng công trình điện, thủy lợi, thủy điện

Giám sát thi công xây dựng

Phá dỡ công trình cũ”

Khai thác, buôn bán vật liệu, khoáng sản, nhiên liệu

Bán buôn, cho thuê máy móc

1.1.1.2 Sơ đồ và Cơ cấu tổ chức tại Công ty

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý

Trang 19

1.1.2 Tình hình tổ chức công tác kế toán tại Công ty

1.1.2.1 Tổ chức bộ máy kế toán tổng quát

Sơ đồ 1.2.Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán

1.1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ từng bộ phận

Chức năng, nhiệm vụ của bộ máy kế toán

Về mặt nhân sự, bộ máy kế toán gồm 8 người, tất cả đều có trình độ chuyên môn bậc đại học, trong đó được tổ chức thành 6 phần hành kế toán riêng

-Kế toán trưởng: Phụ trách và chỉ đạo chung cho hoạt động của phòng Tài chính

- Kế toán, kiểm tra, đôn đốc công tác hạch toán hàng ngày

-Kế toán tổng hợp: Tập hợp chi phí và tính giá thành; chốt số liệu, tổng hợp số

liệu, lập BCTC

-Chuyên viên tài chính: Các nghiệp vụ tiền vay, bảo lãnh ngân hàng, L/C,…

-Kế toán thanh toán 1: Kế toán tiền mặt, doanh thu, thuế, tiền lương, tạm ứng,

công nợ phải thu

-Kế toán thanh toán 2: Kế toán mua hàng và công nợ phải trả

-Kế toán tài sản, hàng tồn kho: Theo dõi, phản ánh về sự biến động, tăng giảm

TSCĐ, CCDC, vật tư, hàng hóa

KẾ TOÁN TRƯỞNG

Kế toán tổng hợp

Kế toán thanh toán 1

Kế toán thanh toán 2

Kế toán tài sản, hàng tồn kho

Kế toán ngân hàng

Thủ quỹ

Trang 20

-Kế toán ngân hàng: Các nghiệp vụ liên quan đến tiền gửi ngân hàng, trả lương

qua tài khoản, các nghiệp vụ gửi tiền, chuyển tiền

-Thủ quỹ: Quản lý, nhập - xuất quỹ tiền mặt

-Kế toán các Ban điều hành/công trình/dự án: Theo dõi chi phí phát sinh tại các công trình/dự án, lập kế hoạch và quyết toán chi phí công trình/dự án

1.1.2.3 Hình thức kế toán và chế độ kế toán áp dụng tại công ty

Hình thức ghi sổ kế toán

Hình thức ghi sổ mà phòng ban áp dụng là hình thức Nhật Ký Chung trên

Ghi hàng ngày Ghi cuối tháng Quan hệ đối chiếu

Sơ đồ 1.3 Hình thức sổ kế toán Nhật Ký Chung

Trang 21

toàn bộ máy trong phòng Sau đây là quy trình xử lý và cung cấp thông tin bằng phần mềm kế toán FAST tại phòng ban

Các chế độ và phương pháp kế toán áp dụng:

• Bộ máy kế toán được tổ chức theo mô hình tập trung

• Niên độ kế toán phù hợp với năm tài chính, từ ngày 01/01 tới 31/12 hàng năm

• Phương pháp tính thuế GTGT: Theo phương pháp khấu trừ

• Kỳ kế toán : tháng

• Hệ thống chứng từ, tài khoản, báo cáo áp dụng theo chế độ báo cáo tài chính doanh nghiệp ban hành theo TT200/2014/TT - BTC ngày 22/12/2014 của

Bộ Trưởng Bộ Tài Chính

• Phương pháp khấu hao TSCĐ: Phương pháp đường thẳng

• Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: Kê khai thường xuyên

• Phương pháp tính giá xuất kho: Phương pháp thực tế đích danh

• Phòng ban tiền tệ sử dụng: Đồng Việt Nam

• Hệ thống sổ sách: sổ nhật ký chung, sổ chi tiết, sổ cái

• Hệ thống báo cáo: Hệ thống báo cáo của công ty gồm báo cáo năm và báo cáo giữa niên độ (BCTC quý):

-BCĐKT(Mẫu B01- DN, B01a - DN),

-BC KQHĐSXKD (Mẫu B02 - DN, B02a - DN),

-BC LCTT (Mẫu B03 - DN, B03a - DN),

-BTMBCTC (Mẫu B09 - DN, B09a - DN)

1.2.Bối cảnh của ngành, doanh nghiệp và khẳng định vấn đề cần giải quyết

1.2.1 Bối cảnh của ngành và doanh nghiệp xây lắp tại Việt Nam

1.2.1.1 Đặc điểm của các doanh nghiệp xây lắp và sự cần thiết của kiểm soát nội bộ

Trang 22

Doanh nghiệp hình thành trên cơ sở pháp lý của mỗi quốc gia, “phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội nhất định

Đặc điểm của sản phẩm xây dựng

Sản phẩm xây dựng tuy là sản phẩm công nghiệp, nhưng nó có đặc thù riêng, đặc thù đó quyết định tới quá trình tổ chức quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp

Sản phẩm xây dựng mang tính chất đơn chiếc, đối với sản phẩm xây dựng thường được sản xuất theo đơn đặt hàng thông qua hợp đồng kinh tế giữa người mua

và người bán đó là những công trình kiến trúc Trong khi sản phẩm của những ngành khác thường sản xuất hàng loạt, trong điều kiện ổn đinh Sản phẩm xây dựng được phân bố ở khắp mọi nơi tuỳ theo địa điểm yêu cầu của người mua do vậy dẫn tới các chi phí cũng khác nhau cho cùng một loại sản phẩm

Nơi sản xuất sản phẩm xây dựng cũng là nơi tiêu thụ sản phẩm: Các công trình xây dựng đều được sản xuất , thi công tại một địa điểm nơi đó đồng thời gắn liền với quá trình tiêu thụ và thực hiện giá trị sử dụng Địa điểm thi công xây dựng thường do chủ đầu tư quyết định để thoả mãn các giá trị sử dụng của sản phẩm

Sản phẩm xây dựng chịu ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế , xã hội, môi trường…của nơi tiêu thụ Sản phẩm xây dựng bao giờ cũng gắn với địa điểm của một địa phương nhất định do vậy phải lựa chọn công trình phù hợp với điều kiện địa

lý, khí hậu, phong tục tập quán, môi trường Đặc điểm này chi phối tới các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng như là khảo sát, thiết kế , thi công Sản phẩm xây dựng thường kéo dài thời gian sản xuất, yêu cầu kỹ thuật và mỹ thuật cao Thời gian sử dụng sản phẩm xây dựng thường kéo dài, nhiều công trình kiến trúc có thể tới hàng trăm năm hoặc lâu hơn nữa Xuất phát từ mục đích của công trình xây dựng không những chỉ phục vụ cho mục đích hiện tại mà còn phục vụ cho tương lai Do vậy khi tiến hành sản xuất sản phẩm xây dựng chất lượng được coi là hàng đầu Mặt khác sản phẩm xây dựng cần phải có tính thẩm mỹ cao , bởi vì sản phẩm xây dựng là những ngôi nhà , khách sạn, sân bay…càng cần vẻ đẹp bề ngoài để gây sự chú

ý, thu hút lòng người Tính thẩm mỹ của các công trình còn là cơ sở quan trọng để

Trang 23

đánh giá trình độ phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, phong tục tập quán của một quốc gia

Sản phẩm xây dựng thường có giá trị lớn, tốn nhiều chi phí Chi phí đầu tư cho một công trình thường dải ra trong một thời gian dài, có thể do nhiều nguồn vốn hình thành Sản phẩm tuy đơn chiếc nhưng do nhiều hạng mục công trình hợp thành do vậy

có thể do nhiều bộ phận tiến hành, do đó công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cũng khác biệt với các ngành khác.”

Từ những đặc điểm nêu trên ta có thể thấy: Kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp xây lắp là điều không thể thiếu Nó được coi như kết cấu của một công ty, là nền tảng cho việc vận hành, cải tiến hệ thống quản lý, tác nghiệp khi doanh nghiệp tăng trưởng

về quy mô hoặc mở rộng ngành nghề Nhưng thật đáng buồn, kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp lại không được các doanh nghiệp Việt Nam chú trọng

Chúng ta cần hiểu được rằng, cơ chế kiểm soát nội bộ mạnh có thể mang đến rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, bao gồm:

• Cơ chế kiểm soát nội bộ giúp hạn chế và ngăn ngừa những rủi ro không cần thiết hoặc những thiệt hại không đáng có

• Cơ chế kiểm soát nội bộ giúp đảm bảo tính liên hoàn, chính xác của các

số liệu tài chinh, kế toán, thống kê cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh và đầu tư

• Cơ chế kiểm soát nội bộ giúp ngăn chặn các gian lận, tham nhũng, lợi dụng nguồn lực của doanh nghiệp để làm lợi cho cá nhân

• Cơ chế kiểm soát nội bộ giúp tạo ra cơ chế vận hành trơn chu, minh bạch

và hiệu quả trong công tác quản lý điều hành,…

• Cơ chế kiểm soát nội bộ giúp nhân viên trong doanh nghiệp hiểu và tuân thủ các quan điểm mà ban quản trị, điều hành doanh nghiệp đưa ra

1.2.1.2 Doanh nghiệp xây dựng và phân loại doanh nghiệp xây dựng

Theo khái niệm chung nhất, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, chủ yếu thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, trao đổi sản phẩm, hàng

Trang 24

hoá trên thị trường theo nguyên tắc tối đa lợi ích giữa các bên để đạt được mục đích của mình

Như vậy doanh nghiệp xây dựng cũng là một tổ chức kinh tế, có tư cách pháp nhân kinh doanh các sản phẩm đặc biệt (sản phẩm có giá trị lớn, thời gian sản xuất dài) trên thị trường xây dựng để đạt được mục đích tối đa hoá lợi nhuận

Trong kinh tế thị trường sự đa dạng, phong phú của loại hình doanh nghiệp xây dựng là một tất yếu khách quan nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Ta có thể chia doanh nghiệp xây dựng theo các tiêu thức sau:”

- Theo quyền sở hữu đối với vốn của doanh nghiệp:

Doanh nghiệp xây dựng Nhà nước, vốn kinh doanh do Nhà nước cấp

Doanh nghiệp xây dựng tư nhân , vốn kinh doanh của chủ tư nhân

Công ty xây dựng cổ phần , vốn kinh doanh của các cổ đông

“Công ty trách nhiệm hữu hạn về xây dựng, vốn kinh doanh của các thành viên thành lập doanh nghiệp

Công ty liên doanh về xây dựng, vốn kinh doanh do các bên tham gia liên doanh đóng góp

- Theo quy mô sản xuất kinh doanh:

Doanh nghiệp xây dựng có quy mô lớn : Các Tổng công ty xây dựng, các Tập đoàn xây dựng

Doanh nghiệp xây dựng có quy mô vừa : Các công ty xây dựng…

Doanh nghiệp xây dựng có quy mô nhỏ : Các doanh nghiệp xây dựng tư nhân, các công ty trách nhiệm hữu hạn về xây dựng

Quy mô của doanh nghiệp xây dựng thường được đánh giá thông qua vốn đầu tư, tình hình trang bị TSCĐ và số lượng lao động cho doanh nghiệp

- Theo ngành kinh tế kỹ thuật trong xây dựng:”

Doanh nghiệp xây dựng dân dụng

Doanh nghiệp xây dựng giao thông vận tải …

Trang 25

- Theo cấp quản lý đối với doanh nghiệp:

Doanh nghiệp xây dựng trung ương

Doanh nghiệp xây dựng địa phương

- Theo tính chất hoạt động (mục đích của doanh nghiệp theo yêu cầu của xã hội hoặc cơ chế thị trường):

Doanh nghiệp xây dựng phục vụ cho mục đích công cộng

Doanh nghiệp xây dựng vì mục tiêu lợi nhuận

“Việc phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối, khái quát, trong thực tế các doanh nghiệp xây dựng hoạt động kinh doanh mang tính chất tổng hợp, đa ngành hoặc

có sự đan xen nhau nhiều chủ sở hữu về vốn tạo lập doanh nghiệp

Trên phương diện quản lý vĩ mô của một quốc gia, các doanh nghiệp xây dựng đều được thành lập theo giấy phép của Công ty có thẩm quyền, tổ chức quản lý hoạt động theo pháp luật quy định để đạt được mục đích của mình

1.2.1.3.Vị trí của doanh nghiệp xây dựng trong nền kinh tế quốc dân

Lịch sử phát triển xã hội loài người đã trải qua hàng ngàn năm, trong mỗi thời kỳ

sự tồn tại của con người luôn gắn với các công trình kiến trúc để chứng tỏ sự văn minh của thời ký đó Do vậy nhu cầu về xây dựng là nhu cầu thường xuyên và ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia.”

“Ngày nay, sản xuất càng phát triển, phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc thì vị trí, vai trò của ngành xây dựng trong nền kinh tế quốc dân ngày càng được khẳng định Nếu như trong điều kiện kinh tế chưa phát triển, hoạt động xây dựng chỉ phục vụ cho các công trình nhỏ với hình thức đơn giản và kỹ thuật thô sơ Khi nền kinh tế phát triển, xây dựng đã trở thành một ngành sản xuất vật chất quan trọng phục vụ cho nền kinh tế

Các doanh nghiệp xây dựng cũng phát triển để đáp ứng nhu cầu của xã hội Khi nền kinh tế chưa phát triển, các doanh nghiệp xây dựng với số lượng lao động ít, trình

độ thấp, trang thiết bị kỹ thuật thô sơ, chủ yếu xây dựng thủ công Ngày nay với số lượng lao động dồi dào, trình độ tay nghề cao, trang thiết bị máy móc hiện đại, sử dụng các phương pháp thi công tiên tiến, áp dụng các thành tựu khoa học vào xây

Trang 26

dựng các công trình Xuất phát từ thực tế, do vậy hầu như các doanh nghiệp xây dựng hiện nay đủ sức đảm nhận thi công những công trình có quy mô lớn và kỹ thuật phức tạp trong và ngoài nước Về mặt tổ chức quản lý sản xuất, các doanh nghiệp xây dựng ngày càng thay đổi để phù hợp với nhu cầu của xã hội Từ những doanh nghiệp nhỏ, phân tán, hoạt động trong phạm vi hẹp, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, đến nay đã hình thành những Tổng công ty, các Tập đoàn xây dựng có tính toàn quốc và xuyên quốc gia Sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp xây dựng phụ thuộc vào từng quốc gia, ở các nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Anh, Pháp… chủ yếu là các doanh nghiệp xây dựng lớn phát triển Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp này tương đối gay gắt dẫn tới có sự chuyên môn hoá theo ngành xây dựng Công nghệ xây dựng thế giới hiện nay thường tập trung vào xây dựng nhà cao tầng, xây dựng đường hầm và ngoài biển với các khoản chi phí đầu tư nghiên cứu tương đối lớn ở các nước đã và đang phát triển.”

1.2.1.4.Vấn đề kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp xây lắp

“Hiện nay, với sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường toàn cầu cũng như các khó khăn từ nội lực của doanh nghiệp, các doanh nghiệp xây lắp ngày càng quan tâm nhiều hơn đến quản trị rủi ro và xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) nhằm giúp hạn chế những rủi ro, gian lận và tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Đối với loại hình DNXL, chi phí phát sinh nhiều và hầu như ở các công trình xây dựng, đặc biệt đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, rủi ro về thất thoát vật tư là rất lớn Do đó việc kiếm soát chi phí xây lắp khá khó khăn; các DNXL cần triển khai hệ thống KSNB trong cần theo những cách thức khác nhau và phù hợp với đặc thù kinh doanh của DN DNXL phải làm sao để tự xây dựng cho mình một hệ thống KSNB vừa đảm bảo tiết kiệm chi phí, vừa mang lại được độ hiệu quả tối ưu nhất, hệ thống phù hợp nhưng phải đầy đủ các chức năng? Dưới đây là các đặc tính của hệ thống KSNB đối với DNXL:

Môi trường kiểm soát:

“Đối với những doanh nghiệp xây lắp hiện nay, các cấp quản lý chưa thể nào thiết lập ngay một hệ thống quản lý chỉn chu và hoàn thiện được, họ chưa thể nào bắt buộc nhân viên của họ phải tuân thủ theo một bộ nguyên tắc cụ thể nào vì về cơ bản, bản thân họ cũng chưa thể nào xây dựng được một hệ thống nguyên tắc, quy trình hoàn

Trang 27

thiện và hiệu quả Trong khi đó, hàng loạt các vấn đề đi kèm theo có rủi ro rất lớn mà Ban giám đốc, các cấp quản lý luôn phải cân nhắc: đạo đức kinh doanh, hiệu quả công việc của nhân viên, gian lận trong quá trình làm việc…

Tuy nhiên, tại một thời điểm thì sơ đồ tổ chức của Công ty vẫn cần xác định cụ thể, các vị trí chủ chốt cần rõ ràng, có thể một cấp bậc quản lý có thể quản lý nhiều bộ

phận, hoặc có những bộ phận chưa có người mà hầu hết vẫn đang còn kiêm nhiệm

Đánh giá rủi ro:

Rủi ro của doanh nghiệp thì rất nhiều: rủi ro từ bên ngoài (cạnh tranh, thị trường, luật pháp, đối tác …), rủi ro từ bên trong (nhân sự, công nghệ, tài chính, gian lận, …) Các DNXL thường bắt đầu từ những rủi ro đơn giản mà có thể nhìn thấy dễ dàng

từ sơ đồ cấu trúc công ty, ví dụ:

– 1 nhân viên kế toán vật tư vừa nhập kho vừa xuất kho?

– Thủ quỹ tại chân công trình đứng ra thu mua vật tư luôn?

– 1 nhân viên kế toán vừa tính lương vừa trả lương?

Tất cả các vấn đề trên đều là rủi ro trong nội bộ doanh nghiệp xây lắp mà các cấp quản lý luôn phải tiên liệu được, thiết lập các điểm kiểm soát để hạn chế tới mức tối đa

rủi ro của doanh nghiệp Còn để có đủ người để thực hiện các nguyên tắc bất kiêm

nhiệm thì chỉ có cách… chờ doanh nghiệp đủ lớn."

“Mỗi rủi ro đều có những mức độ ảnh hưởng khác nhau, mức độ bạn muốn kiểm soát trong thời gian hiện tại là thế nào tùy vào mức độ rủi ro mà doanh nghiệp tự đánh giá là cao hay thấp Tuy vậy, không riêng chỉ các doanh nghiệp xây lắp, mà các doanh nghiệp lớn hơn cũng phải luôn trong tình trạng dự đoán và đối phó với nhiều loại rủi

ro khác nhau như: công nợ nhiều không thu hồi được, quản lý hàng tồn kho, sắp xếp lộn xộn, có thể dẫn tới mất trộm hoặc biển thủ, nhân sự nhiều nhưng mức độ hiệu quả của công việc lại không cao…

Với các rủi ro cao và cần thiết phải xử lý ngay, DNXL sẽ cần có cách kiểm soát

để có thể hoạt động liên tục trong tương lai Ví dụ các hoạt động kiểm soát công nợ là cực kỳ cần thiết cho DNXL để có đủ dòng tiền để tồn tại trong thời gian ngắn hạn, cũng như có thể tiếp tục hoạt động dài hạn và phát triển công ty

Trang 28

Các hoạt động kiểm soát:

Nói tới các hoạt động kiểm soát là thường nói tới các bộ quy trình của Công ty, như quy trình mua hàng, quy trình quản lý hàng tồn kho…

Mỗi doanh nghiệp có thể đưa ra rất nhiều quy trình, và trong quy trình sẽ cần nhiều điểm kiểm soát cơ bản (key controls) Các doanh nghiệp xây lắp thường chỉ cần chú trọng vào các điểm kiểm soát cơ bản để có thể xử lý các rủi ro hiện tại, tránh được các tổn thất hiện tại

Trong trường hợp với sơ đồ tổ chức là bộ phận kho do bộ phận mua hàng kiểm soát, trong đó nhân viên mua hàng cũng kiêm thủ kho, việc kiểm soát có thể áp dụng thông qua các hoạt động kiểm soát như: tăng thêm thủ tục kiểm tra chéo khi nhập kho, xuất kho Có thể kiểm kê thường xuyên/kiểm kê đột xuất với sự tham gia của một bên độc lập (có thể thuê ngoài cũng có thể là nhân viên một bộ phận khác)

Các hoạt động kiểm soát cũng sẽ phải tùy thuộc vào nhân lực mà doanh nghiệp

có, cũng như khả năng của các nhân lực mà DNXL có cách làm hiệu quả nhất Mỗi một doanh nghiệp sẽ cân nhắc và đưa ra phương án tốt nhất cho doanh nghiệp của mình, dựa trên các nguồn lực có sẵn và mong muốn kiểm soát của từng chủ doanh nghiệp.”

Hệ thống truyền thông và thông tin:

Hầu hết các báo cáo mà các doanh nghiệp xây lắp cần đều không quá phức tạp nhưng có tính đặc thù, trong khi các doanh nghiệp đang bị khuôn mẫu và cứng nhắc theo các mẫu báo cáo có sẵn, thông tin sẽ bị rời rạc khó liên kết, nhất là khi hệ thống phần mềm của doanh nghiệp rất đơn giản thậm chí không có Hãy bắt đầu từ những báo cáo cần thiết, dễ hiểu và dễ làm, những chỉ số đơn giản, dễ nhận thấy và phân tích

từ các bộ phận."

Hệ thống giám sát và thẩm định:

Doanh nghiệp xây lắp cũng như bất kỳ doanh nghiệp nào thì trước hết là việc giám sát nội bộ, giám sát lẫn nhau của các bộ phận nên được áp dụng triệt để, và vai trò kiểm tra kiểm soát của giám đốc/chủ doanh nghiệp cũng rất là quan trọng Thêm

đó, các nhân sự kiểm soát sẽ hỗ trợ kiểm tra đột xuất, ví dụ thực hiện các thủ tục sau: – Quản lý cho kiểm quỹ đột xuất

Trang 29

– Quản lý cho kiểm kho đột xuất, kiểm vài mặt hàng đột xuất (hoặc có thể ủy quyền cho các nhân sự kiểm soát kiểm tra)

– Bộ phận độc lập kiểm tra (ví dụ lấy bên kỹ thuật tham gia kiểm kê cùng kho) – Thuê kiểm toán tham gia kiểm kê hàng cùng cuối năm

Bởi vậy, DNXL cần có cách làm tiết kiệm mà vẫn hiệu quả, đạt các yêu cầu mà doanh nghiệp mong muốn Khi doanh nghiệp phát triển tới một mức độ đủ lớn nhất định chủ doanh nghiệp sẽ cân nhắc tới việc tuyển dụng và phát triển các bộ phận kiểm soát, kiểm toán nội bộ, ban kiểm soát như COSO có đề cập.”

1.2.2 Khẳng định vấn đề cần giải quyết tại Công ty cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam

1.2.2.1 Những vấn đề của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam

Từ thực tế tại công ty tác giả nhận thấy:

*Môi trường kiểm soát:

Một số lãnh đạo của Công ty chưa thực sự quan tâm đến công tác kiểm tra, kiểm soát Thông qua việc chưa nghiêm túc xem xét, chỉnh sửa các kiến nghị kiểm tra việc khắc phục các sai sót về thực hiện cơ chế, quy chế, xử lý kỷ luật cán bộ có sai phạm không đến nơi đến chốn, thực hiện qua loa đại khái, có nơi có lúc lãnh đạo bảo vệ cán

bộ một cách thiếu khách quan như bao che cho cán bộ sai sót trong một số vụ việc, có Công ty còn có biểu hiện đề phòng đối với phòng kiểm soát nội bộ Do đó, việc kiểm tra kiểm soát chưa được thừa nhận đúng đắn

Ban giám đốc của Công ty chưa thực sự là đại diện chủ sở hữu, vai trò thực sự trong Công ty về Hội đồng quản trị; Ban kiểm soát, thì hoạt động chưa hiệu quả

Bộ phận kiểm toán nội bộ hoạt động chưa hiệu quả như mong muốn, do nhiều nguyên nhân như trình độ, thẩm quyền nhưng chủ yếu do tính độc lập của bộ phận này chưa được đảm bảo Để làm tốt nhiệm vụ kiểm toán, bộ phận kiểm toán nội bộ phải độc lập với ban điều hành, trong khi đó bộ phận này tại Công ty đang bị trùng lặp Hoạt động xây lắp là hoạt động chủ yếu đem lại thu nhập cao nhất cho Công ty (khoảng 70% tổng thu nhập) Vì vậy, Công ty đã chú trọng qúa mức vào việc tăng trưởng phát triển các hoạt động xây lắp, kiểm soát hoạt động xây lắp hơn là các hoạt động khác trong Công ty, nhiều khi Công ty còn chấp hành không nghiêm túc chế độ xây lắp và điều kiện bán chịu

*Hoạt động kiểm soát:

Trang 30

Thủ tục kiểm soát chất lượng xây lắp tại Công ty tồn tại một số hạn chế sau: Công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra tình hình quản lý tài chính ngân sách vẫn mạng nặng hình thức, khi phát hiện những sai phạm chưa xử lý kịp thời, chế tài chưa

đủ mạnh, chủ yếu dừng ở mức nhắc nhở, rút kinh nghiệm hoặc khi phát hiện sai phạm chỉ xử lý thu hồi nộp ngân sách nhưng chưa quy trách nhiệm và xử lý quyết liệt đối với

cá nhân vi phạm

Nhìn chung công tác kiểm soát chi phí xây lắp còn nhiều hạn chế Cần tăng cường công tác lập kế hoạch thanh, kiểm tra, hướng dẫn cụ thể và tăng cường năng lực thành viên các đoàn thanh, kiểm tra/ kiểm tra nội bộ

Sự phối hợp việc kiểm tra kiểm soát với các phòng ban chức năng chưa được chặt chẽ, chưa có những cuộc họp thường xuyên với các lãnh đạo bộ phận chức năng

để thu thập ý kiến phản hồi từ các bộ phận này về công tác hoạt động của ban kiểm soát và những ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện kế hoạch kiểm toán hằng năm vào tháng 12 và nâng cao chất lượng của công tác kiểm toán nội bộ, chưa làm tốt mối quan

hệ giữa từ kiểm tra nghiệp vụ với kiểm toán nội bộ, chưa quy định họp giao ban định

kỳ giữa Ban kiểm soát với phòng kiểm toán nội bộ tại cơ sở nên sự trao đổi thông tin trong hệ thống kiểm soát nội bộ chưa được thường xuyên, các phòng kiểm toán nội bộ chưa có điều kiện phản ánh những khó khăn, vướng mắc, đề xuất kiến nghị Ban kiểm soát để từ đó Ban kiểm soát rà soát những bất hợp lý trong quá trình thực hiện nhiệm

vụ nhằm khắc phục kịp thời, sự phối hợp giữa kiểm tra nội bộ với hệ thống kiểm tra ngoài ngành chưa được chặt chẽ làm ảnh hưởng đến một phần kết quả và hiệu quả của công tác kiểm tra kiểm toán

Ban kiểm soát được trao trách nhiệm thực hiện toàn diện hoạt động kiểm toán nội

bộ Tuy nhiên, Ban kiểm soát về thực chất vẫn chưa có được sự độc lập tương đối với

bộ phận được kiểm tra, đặc biệt là ban giám đốc Hơn nữa sự hạn chế về nguồn lực con người đã hạn chế rất nhiều khả năng kiểm soát nội bộ của ban kiểm soát

*Thông tin và truyền thông

- Số lượng kế toán viên ít, một nhân viên kiêm nhiều phần hành kế toán khác nhau Công việc kế toán thường tập trung vào kế toán tổng hợp sẽ ảnh hưởng tới tiến

độ và hiệu quả công việc

- Bộ phận kế toán không thường xuyên được cử đi đào tạo, không cập nhật kịp thời sự thay đổi của chế độ kế toán xây lắp, dễ bị sai xót trong quá trình nhập dữ liệu

Hệ thống thông tin báo cáo còn chồng chéo, chưa kịp thời cung cấp cho các nhà lãnh đạo Công ty những biến động của lãi suất, tỷ giá cũng như những biến động u cầu

Trang 31

huy động vốn và bán chịu của thị trường tài chính dẫn đến các nhà lãnh đạo Công ty không có thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời để ra các quyết định quản lý hiệu quả Quy định về công bố thông tin và báo cáo tài chính với các Công ty còn rất hạn chế, thông tin nghèo nàn, và việc công bố thông tin phi tài chính Công ty hầu như không có trên thực tế

*Đánh giá rủi ro

Tất cả các hoạt động đang diễn ra liên quan đến doanh nghiệp đều có thể phát sinh những rủi ro (hoạt động, xử lý thông tin, nguồn lực hệ thống,…) và khó có thể kiểm soát tất cả Vì vậy các nhà quản lý cần phải thận trọng khi xác định và phân tích, đánh giá rủi ro

Nội dung của đánh giá rủi ro bao gồm: Thiết lập mục tiêu của doanh nghiệp; Nhận dạng và phân tích rủi ro; Kiểm soát rủi ro khi có thay đổi về kinh tế, công nghệ, kỹ thuật… các nội dung này thực tế tại đơn vị còn thiếu và yếu

*Giám sát:

Cán bộ được giao nhiệm vụ giám sát chuyên trách còn mỏng (năm 2018 Ban giám sát của phòng ban mới chỉ có 2 cán bộ) và chưa chuyên nghiệp, cán bộ làm công tác quản lý kiêm nhiệm hoạt động kiểm tra, giám sát; chưa có đầu mối chịu trách nhiệm chính về hoạt động kiểm tra, giám sát

Kế hoạch kiểm tra, giám sát hàng năm đề ra số lượng rất nhỏ đối tượng được kiểm tra giám sát là các phòng, ban cán bộ chuyên môn trực thuộc; chưa thực sự chủ động tổ chức thực hiện hoạt động tự kiểm tra nội bộ và giám sát nội bộ tại Công ty Công tác giám sát và quản lý hoạt động Công ty vẫn chưa phát triển và phải đối mặt với nhiều thách thức lớn

Công ty đã không thực hiện giám sát hợp nhất cũng như không tiến hành theo dõi toàn bộ Công ty một cách hiệu quả Khuôn khổ pháp lý có quy định về giám sát hoạt động Công ty xuyên biên giới nhưng vẫn còn nhiều bất cập về giám sát đối với các hoạt động xây lắp ở nước ngoài của Công ty

Công ty có nhiều mục tiêu tuy nhiên tính độc lập còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng của Công ty giám sát trong việc thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật Hiệu quả của công tác giám sát cũng bị ảnh hưởng bởi các lỗ hổng nghiêm trọng trong khuôn khổ pháp lý

Bên cạnh đó, luật và các quy định trao cho thanh tra viên thẩm quyền rộng trong

việc khắc phục và sửa chữa các sai phạm nhưng ít khi thẩm quyền này được sử dụng

Trang 32

1.2.2.2 Khái quát về quá trình phỏng vấn và khảo sát vấn đề của hệ thống KSNB về hoạt động kinh doanh xây lắp tại công ty Trung Nam

- Nội dung phỏng vấn: tìm hiểu các vấn đề tồn tại và hạn chế hiện có liên quan đến HTKSNB tại Công ty cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam trên các khía cạnh thuộc 5 thành phần cấu thành HTKSNB như: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi

ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông, giám sát

- Đối tượng tham gia phỏng vấn bao gồm : Giám đốc điều hành, Trưởng các phòng ban/đơn vị/dự án, nhân viên/người lao động trong công ty

- Nội dung khảo sát: khảo sát thực trạng tính hữu hiệu của HTKSNB tại Công ty cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam

- Đối tượng và phạm vi khảo sát:

Đối tượng khảo sát: Ban lãnh đạo, quản lý và nhân viên các phòng ban, người lao động đang làm việc tại Công ty

Mẫu khảo sát: Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu xác suất

Số phiếu phát ra: 140 Số phiếu thu về: 140 Số phiếu hợp lệ: 140

o Biểu diễn dữ liệu bằng đồ họa trong đó các đồ thị mô tả dữ liệu hoặc giúp so sánh dữ liệu;

o Biểu diễn dữ liệu thành các bảng số liệu tóm tắt về dữ liệu;

o Thống kê tóm tắt (dưới dạng các giá trị thống kê đơn nhất) mô tả dữ liệu.”

Trang 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Thông qua chương 1, tác giả đã giới thiệu tổng quan về Công ty cổ phần

xây dựng và lắp máy Trung Nam như: Quá trình hình thành phát triển và cơ cấu tổ chức; Tình hình tổ chức công tác kế toán tại Công ty; tổ chức bộ máy kế toán tổng quát, chức năng và nhiệm vụ từng bộ phận; hình thức kế toán và chế độ kế toán áp dụng tại công ty Khái quát quá trình khảo sát vấn đề của hệ thống KSNB về hoạt động kinh doanh xây lắp tại Công ty cổ phần XD&LM Trung Nam từ đó tác giả kết luận được vấn đề kiểm soát nội bộ tại đơn vị.”

Trang 34

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN KIỂM SOÁT NỘI BỘ

TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 2.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

2.1.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu của Lembi Noorvee (2006): nghiên cứu này hướng đến mục tiêu

là đo lường Tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ lên Báo cáo tài chính Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là phương pháp hỗn hợp bao gồm phương pháp định tính và định lượng Nghiên cứu được tiến hành ở ba công ty sản xuất vừa và nhỏ tại Estonian Thang đo Tính hữu hiệu của HTKSNB được tác giả xây dựng là thang đo bậc 2, bao gồm 5 thành phần bậc 1: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin và truyền thông, Giám sát

Nghiên cứu của Annukka Jokipii (2010): nghiên cứu này tập trung vào kiểm

soát nội bộ và Tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng ở đây là phương pháp nghiên cứu định lượng Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát thang đo likert 7 điểm Trong nghiên cứu này, thang đo Tính hữu hiệu của HTKSNB được tác giả xây dựng dựa vào nền tảng khuôn mẫu lý thuyết theo COSO 2013 Thang đo Tính hữu hiệu của HTKSNB

là thang đo bậc 2, bao gồm 8 thành phần bậc 1 là: Thành phần Môi trường kiểm soát (5 biến quan sát); Thành phần Đánh giá rủi ro (5 biến quan sát); Thành phần Hoạt động kiểm soát (5 biến quan sát); Thành phần Thông tin và truyền thông (5 biến quan sát); Thành phần Giám sát (5 biến quan sát); Mục tiêu Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả (4 biến quan sát); Mục tiêu Báo cáo tài chính đáng tin cậy (4 biến quan sát); Mục tiêu Tuân thủ pháp luật và quy định (4 biến quan sát) Nghiên cứu tiến hành đối với 741 công ty có quy mô vừa và lớn ở Phần Lan

Thang đo tính hữu hiệu của HTKSNB của Annukka Jokipii (2010) được minh họa tại Sơ đồ 2.1 sau đây:

Trang 35

Sơ đồ 2.1 Mô hình thang đo tính hữu hiệu của hệ thống KSNB của Annukka Jokipii

(2010)

Allegrini và D’Onza (2003): Đã cung cấp một cái nhìn tổng thể về tình trạng

của kiểm soát nội bộ tại Công ty lớn của Ý chủ yếu tập trung vào các hoạt động đánh giá rủi ro và thực hiện cách tiếp cận dựa trên rủi ro trong quá trình kiểm soát nội bộ Kết quả khảo sát cho thấy một số ít công ty (25%) thực hiện các hoạt động kiểm soát

Tuân thủ pháp luật và quy định (LAW)

Đánh giá rủi ro (RISK)

Hoạt động kiểm soát (COAC)

Thông tin và truyền thông (INTO)

Giám sát (MONI)

Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả (EFFI)

Báo cáo tài chính đáng tin cậy (RELI)

RISK (1,2,3,4,5) COEN (1,2,3,4,5)

Trang 36

nội bộ chủ yếu tuân thủ theo quy trình truyền thống theo một chu trình nhất định, chủ yếu là một năm một lần Hầu hết Công ty (67%) có quy trình kiểm soát nội bộ áp dụng

mô hình COSO và thực hiện theo cách tiếp cận dựa trên quản trị rủi ro Cuối cùng, nghiên cứu cho thấy rất ít công ty lớn (8%) áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên rủi

ro ở cả cấp độ vĩ mô và vi mô

Spira & Page (2003): Nghiên cứu khả năng áp dụng kiểm soát nội bộ điều chỉnh

theo hướng quản trị rủi ro theo các xí nghiệp thành viên tại Anh Bài báo này tìm hiểu

sự thay đổi này, sử dụng các quan điểm xã hội học về rủi ro và khái niệm hoá của nó

để đưa ra các cuộc tranh luận về kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro trong phạm vi quản trị doanh nghiệp của Vương quốc Anh Nghiên cứu cho thấy sự phát triển trong các yêu cầu về quản trị doanh nghiệp tạo cơ hội cho việc quản lý rủi ro phát triển theo hướng bền vững và liên tục Điều này được minh họa bằng việc xem xét những thay đổi trong kiểm soát nội bộ tại các xí nghiệp thành viên này hướng tới quản trị doanh nghiệp hiệu quả và năng động

Shin & Park (2017): Nhằm thảo luận các khái niệm và các vấn đề áp dụng

phương pháp luận về quản lý rủi ro doanh nghiệp (ERM) Nghiên cứu trường hợp của công ty A cho thấy ERM đã được triển khai và tích hợp với kiểm soát quản lý như một phương tiện giám sát công ty con Thứ nhất, hệ thống ERM được thực hiện thông qua đánh giá toàn diện các chính sách rủi ro của công ty, quy trình quản lý rủi ro, vai trò và trách nhiệm, và văn hoá rủi ro Thứ hai, công ty một ERM tích hợp với hệ thống quản

lý hiện có để đánh giá rủi ro của các hoạt động quản lý hiện tại Cuối cùng, việc triển khai ERM đã được mở rộng cho tất cả công ty con để mỗi phòng ban kinh doanh được

ủy thác để quản lý rủi ro riêng Bài báo này cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình làm thế nào để kiểm soát nội bộ có thể sử dụng ERM như một công cụ để quản lý rủi ro của công ty con, do đó làm cho khoảng cách giữa nghiên cứu và thực tiễn học tập gần lại Vì thế, công ty A có thể áp dụng quá dụng quản trị rủi ro và hệ thống kiểm soát nội

bộ của mình để cắt giảm chi phí và cải thiện các quy trình hoạt động

2.1.2.Các nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ tại Việt Nam

Trần Thị Giang Tân (2012): Trong nghiên cứu: “Gian lận trên BCTC và các

công trình nghiên cứu về gian lận” đã khẳng định kiểm soát nội bộ là một quá trình được thiết lập và vận hành bởi con người trong một phòng ban, hệ thống này nhằm

Trang 37

đem lại một sự đảm bảo hợp lý cho nhà quản lý trong việc đạt mục tiêu về hoạt động, mục tiêu tài chính, mục tiêu tuân thủ Các tác giả cũng chỉ ra HTKSNB gồm có 5 yếu

tố là Môi trường kiểm soát; Quy trình đánh giá rủi ro; Hệ thống thông tin và truyền thông; Các hoạt động kiểm soát; Giám sát các kiểm soát Như vậy, đến trước khi có

Hệ thống Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam ban hành năm 2012 thì trong nhiều tài liệu đều tiến hành nghiên cứu về HTKSNB theo cơ cấu là có 3 yếu tố gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát, mặc dù có một số nghiên cứu cũng đề cập mở rộng hơn về các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ nhưng chưa đầy

đủ Tuy nhiên, hiện nay theo Hệ thống chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam ban hành năm

2012, quan điểm về hệ thống kiểm soát nội bộ đã có sự thống nhất với COSO về 5 thành phần của hệ thống gồm: Môi trường kiểm soát; Quy trình đánh giá rủi ro của phòng ban; Hệ thống thông tin và truyền thông; Các hoạt động kiểm soát; Giám sát các kiểm soát Điều này đòi hỏi cần phải có nghiên cứu đầy đủ hơn về hệ thống kiểm soát nội bộ theo quan điểm có 5 thành phần

Nguyễn Đình Hựu (2016): Cũng có những nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội

bộ trên góc độ nghiên cứu chung về kiểm toán Tác giả đã coi hệ thống kiểm soát nội

bộ là một khái niệm cơ bản thuộc kiểm toán theo nội dung trình bày trong Chương hai của tài liệu (Các khái niệm cơ bản của kiểm toán) Tác giả cũng đưa ra nhận định khá ngắn gọn về hệ thống kiểm soát nội bộ, mục đích của xây dựng hệ thống, các yếu tố cấu thành hệ thống này gồm môi trường kiểm soát chung, hệ thống kế toán, các loại kiểm soát và các thủ tục kiểm soát Nghiêu cứu của tác giả khá tương đồng với Đậu Ngọc Châu và Nguyễn Viết Lợi (2009) trong việc coi công tác kế hoạch và kiểm toán nội bộ là một phần của môi trường kiểm soát nhưng còn chưa hợp lý trong mô tả về thành phần thứ ba của hệ thống kiểm soát nội bộ do không làm rõ trong tên gọi thành phần về các chính sách kiểm soát Đồng thời, các tác giả cũng chỉ ra hệ thống kiểm soát nội bộ có 4 yếu tố là môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, thủ tục kiểm soát và kiểm toán nội bộ Đây là điểm khác biệt so với các nghiên cứu của các tác giả trong nước Tuy nhiên, có một số bất cập là kiểm toán nội bộ thực chất có chức năng là một

bộ phận đánh giá độc lập được thiết kế trong một tổ chức để kiểm tra và đánh giá hoạt động của tổ chức và là một hoạt động phục vụ cho tổ chức

Trang 38

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Dung (2016): Nghiên cứu này hướng

đến mục tiêu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống KSNB tại các DN trong khu chế Linh Trung I Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp hỗn hợp bao gồm phương pháp định tính và phương pháp định lượng Dựa trên các tài liệu đã nghiên cứu của các chuyên gia và kế thừa các nghiên cứu khảo sát để rút ra các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ Từ

đó, tác giả xây dựng bảng câu hỏi khảo sát và được điều chỉnh, bổ sung sau khi đã thảo luận, tham khảo ý kiến chuyên gia có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu Dựa trên các tiêu chí về Tính hữu hiệu của HTKSNB được quy định bởi COSO (2013)

và những nghiên cứu thực nghiệm của Amudo & Inanga (2009), Jokipii (2010), tác giả đã tiến hành xây dựng thang đo đo lường Tính hữu hiệu của HTKSNB Thang

đo này là thang đo bậc 1, được đo lường bởi 4 biến quan sát Đối với các biến độc lập, tác giả sử dụng để đo lường mức độ tán thành của đối tượng khảo sát về ảnh hưởng của từng biến đến KSNB Còn đối với biến phụ thuộc, tác giả căn cứ để lựa chọn mức độ phù hợp cho Tính hữu hiệu chung của hệ thống này thông qua đánh giá của từng cá nhân khảo sát bằng việc chọn vào giá trị tương ứng trong thang đo Tác giả đã tiến hành khảo sát tại 25 doanh nghiệp trên tổng số 29 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại khu chế xuất Linh Trung 1 Kết quả cho thấy Tính hữu hiệu của HTKSNB tại các DN trong khu chế Linh Trung I có giá trị trung bình là 3,58 Bên cạnh đó, kết quả còn cho thấy Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB chịu tác động của cả năm yếu tố là: đánh giá rủi ro, môi trường kiểm soát, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của các yếu

tố đến Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB là khác nhau Và khi mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này càng cao thì Tính hữu hiệu của HTKNB của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong khu chế xuất Linh Trung I càng cao Từ thực trạng trên, tác giả đã kiến nghị một số giải pháp để nâng cao Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB

Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Lý (2016): nghiên cứu này hướng đến

mục tiêu xác định các nhân tố ảnh hưởng và đo lường mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp kinh doanh chuỗi cửa hàng bán lẻ Việt Nam Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp hỗn hợp bao gồm phương pháp định tính và phương pháp định lượng Dựa

Trang 39

trên các tài liệu đã nghiên cứu của các chuyên gia, kế thừa các nghiên cứu khảo sát

và trên nền tảng khuôn mẫu lý thuyết COSO 2013, tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu gồm các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp là: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát Từ đó, tác giả xây dựng bảng câu hỏi khảo sát và được điều chỉnh, bổ sung sau khi đã thảo luận, tham khảo ý kiến chuyên gia có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu Thang đo Tính hữu hiệu của HTKSNB trong nghiên cứu là thang đo bậc 1, được đo lường bởi 4 biến quan sát Để đo lường Tính hữu hiệu của HTKSNB, tác giả đo lường bằng cách tính điểm trung bình các biến độc lập ảnh hưởng và đo lường trực tiếp Tính hữu hiệu của HTKSNB thông qua việc tiến hành thực hiện 207 mẫu khảo sát với các đối tượng

là cửa hàng trưởng, nhân viên bán hàng và một số nhân viên bộ phận khác Kết quả đều cho thấy Tính hữu hiệu của HTKSNB tại các doanh nghiệp kinh doanh chuỗi cửa hàng bán lẻ Việt Nam nằm ở mức trung bình khá với giá trị là 3,66

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ánh Nguyệt (2017): Nghiên cứu này hướng đến

mục tiêu xác định các nhân tố ảnh hưởng đến Tính hữu hiệu hệ thống kiểm soát nội

bộ trong các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh, từ đó tác giả tiến hành kiểm định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp hỗn hợp bao gồm phương pháp định tính và phương pháp định lượng Dựa trên việc

kế thừa các kết quả các nghiên cứu trước, kết hợp với nghiên cứu các đặc điểm, đặc thù của nền kinh tế Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, tác giả đề xuất mô hình gồm 5 nhân tố ảnh hưởng đến Tính hữu hiệu của HTKSNB là: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát Dựa trên các tiêu chí về Tính hữu hiệu của HTKSNB được quy định bởi COSO (2013) và tham khảo những nghiên cứu trước đây, đặc biệt là từ bài nghiên cứu của tác giả Hồ Tuấn Vũ (2016), tác giả đã tiến hành xây dựng thang đo

đo lường Tính hữu hiệu của HTKSNB Thang đo Tính hữu hiệu của HTKSNB trong nghiên cứu là thang đo bậc 1, được đo lường bởi 5 biến quan sát Tác giả đã tiến hành thực hiện 195 mẫu khảo sát với ba nhóm đối tượng chính là Chủ doanh nghiệp, nhà quản lý và kế toán trưởng Kết quả cho thấy Tính hữu hiệu HTKSNB của các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh nằm ở mức khá Bên cạnh đó, tác giả đã xác định mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng

Trang 40

đến Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB theo thứ tự giảm dần lần lượt là: Hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, đánh giá rủi ro, giám sát, môi trường kiểm soát Lý giải cho kết quả này, tác giả không những đưa ra những số liệu cụ thể mà đi kèm với đó là những lập luận bám sát với thực tiễn Tác giả cho rằng khi các hoạt động kiểm soát được thực hiện chặt chẽ sẽ giúp doanh nghiệp sản xuất đúng tiến độ, chất lượng sản phẩm được đảm bảo, tránh tổn thất tài sản, hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất đã đề ra Từ đó, tác giả đã nêu ra giải pháp để phát huy Tính hữu hiệu của

hệ thống KSNB Đó là việc phải xác định rõ thực trạng và nhu cầu của đơn vị Điều này đòi hỏi nhà quản lý cần xem xét mối quan hệ giữa lợi ích của việc áp dụng hệ thống KSNB để có những quyết định phù hợp, định hướng đúng đắn, hướng đến mục tiêu phát triển lâu dài, bền vững trong môi trường cạnh tranh như hiện nay

2.1.3.Định hướng nghiên cứu của tác giả

Trên cơ sở những đánh giá trên, tác giả thấy rằng đo lường Tính hữu hiệu của

hệ thống KSNB trên cơ sở tuân thủ hoàn toàn quan điểm COSO 2013 về các thành phần cấu thành nên hiệu quả của HTKSNB: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát là một công việc cần thiết góp phần làm rõ ràng hơn quan điểm của COSO 2013 trong việc đo lường Tính hữu hiệu của HTKSNB Bên cạnh đó, để đánh giá hệ thống KSNB là hữu hiệu thì ngoài 3 tiêu chí về mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo, mục tiêu tuân thủ thì cần đánh giá thêm sự hữu hiệu của 5 bộ phận cấu thành của hệ thống KSNB (COSO, 2013)

Như đã trình bày cụ thể, một trong những mục tiêu của nghiên cứu này là đo lường tính hữu hiệu của HTKSNB, để tạo cơ sở đo lường tính hữu hiệu của HTKSNB, nghiên cứu này kế thừa thang đo của Annukka Jokipii (2010), bởi lẽ thang

đo này phản ánh đầy đủ các thành phần đo lường tính hữu hiệu của HTKSNB theo COSO 2013

2.2 Tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp

2.2.1 Khái niệm về tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ

Hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) đạt được tính hữu hiệu có nghĩa là HTKS

đó đã đạt được mục tiêu, mục đích đặt ra như bảo vệ tài sản công ty, đảm bảo tính

Ngày đăng: 06/08/2020, 18:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Đậu Ngọc Châu và Nguyễn Viết Lợi (1409), “Lý thuyết kiểm toán”, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết kiểm toán
Nhà XB: NXB Tài chính
1. Alvin a. Arens & James K. Loebbecke (1995), Audit,Internal Control - Integrated Framework Executive Summary, http://www.coso.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Audit
Tác giả: Alvin a. Arens & James K. Loebbecke
Năm: 1995
4. Second edition (7/1/2014), Commonwealth of Massachusetts, Internal Control Guide For Manager Department of Finance and Management, Internal Control Standards Sách, tạp chí
Tiêu đề: Commonwealth of Massachusetts
1. ACCA (2013), Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ để đánh giá rủi ro trong doanh nghiệp, Bài giảng tại lớp Kiểm soát nội bộ, Hà Nội Khác
3. Bộ Tài chính (2001), Quyết định số 143/2001/QĐ – BTC ngày 21 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành và công bố sáu chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam (đợt 3) Khác
4. Bộ Tài chính (2005), Thông tư 72/2005/TT-BTC ngày 01 tháng 09 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về Hướng dẫn xây dựng Quy chế quản lý tài chính của công ty Nhà nước hoạt động theo mô hình Công ty - Công ty con Khác
5. Bộ Tài chính (2007), Thông tư 115/2007/TT-BTC ngày 25 tháng 09 năm 2007 về Hướng dẫn một số nội dung về giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước Khác
6. Bộ Tài chính (2009), Thông tư 242/2009/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2009 về Hướng dẫn một số điều của Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác Khác
7. Bộ Tài chính (2010), Thông tư 117/2010/TT-BTC ngày 05 tháng 08 năm 2010 về Hướng dẫn cơ chế tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu Khác
8. Bộ Tài chính (2012), Thông tư 195/2012/TT-BTC ngày 15 tháng 11 năm 2012 Hướng dẫn chế độ kế toán phòng ban chủ đầu tư Khác
9. Bộ Tài chính (2012), Thông tư 214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 về Ban hành hệ thống chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Khác
10. Bộ Tài chính (2014), Thông tư 140/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 Hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp Khác
11. Bộ Tài chính (2014), Thông tư 202/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 Hướng dẫn lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất Khác
12. Bộ Tài chính (2014), Thông tư 21/2014/TT-BTC ngày 14 tháng 2 năm 2014 về Ban hành Quy chế hoạt động của Người đại diện theo uỷ quyền đối với phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp Khác
13. Bùi Trần Ánh Văn (2013), Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp sản xuất bao bì, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học kinh tế TP. HCM Khác
15. Hồ Đăng Bảo Tuấn (2013), Hoàn thiện kiểm soát nội bộ chu trình bán hàng và thu tiền tại Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ Minh Toàn, Luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng Khác
16. Mai Đức Nghĩa (2013), Kiểm soát nội bộ - Các thay đổi nền tảng của báo cáo, Trường Đại học Kinh tế TP. HCM Khác
17. Nguyễn Đình Hựu (2016), Kế toán doanh nghiệp từ lý thuyết tới thực hành, nhà xuất bản Chính trị quốc gia Khác
18. Nguyễn Thị Lan Anh (2014), Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tập đoàn hoá chất Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Khác
19. Nguyễn Thị Thanh Hương (2014), Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty TNHH Đồng Tâm, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w