1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kết quả lâu dài điều trị ghép thần kinh trong liệt đám rối thần kinh cánh tay trẻ em do sanh

8 47 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 9,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày xác định tỉ lệ phục hồi chức năng của vai, khuỷu và bàn tay trong liệt đám rối thần kinh cánh tay (ĐRTKCT) do sanh ở mức độ nặng của những trường hợp phải dùng kỹ thuật ghép thần kinh Sural tại TP.HCM theo hướng dẫn của GS. A. Gilbert.

Trang 1

Phan Đức Minh Mẫn*

Võ Chiêu Tài*

Phạm Kim Thiên Long*

Đặng Khải Minh**

BV.CTCH*

BV.NĐ1**

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ LÂU DÀI ĐIỀU TRỊ GHÉP THẦN KINH TRONG LIỆT ĐÁM RỐI THẦN KINH CÁNH TAY TRẺ EM DO SANH

LONG RESULTS IN EVALUATING TO TREATMENT WITH SURAL NERVEGRAFT IN OBSTETRIC

BRACHIAL PLEXUS PALSY

TÓM TẮT Mục tiêu: Xác định tỉ lệ phục hồi chức năng của vai, khuỷu và bàn tay trong liệt

đám rối thần kinh cánh tay ( ĐRTKCT) do sanh ở mức độ nặng của những trường hợp phải dùng kỹ thuật ghép thần kinh Sural tại TP.HCM theo hướng dẫn của GS

A Gilbert

Phương pháp: Hồi cứu tất cả trường hợp bị liệt ĐRTKCT do sanh từ 3 tháng đến 7

tháng tuổi mà không có dấu hiệu phục hồi hoạt động cơ hai đầu cánh tay được chỉ định mổ thám sát cắt bỏ khối neurinom và ghép thần kinh Sural tại BV CTCH và

BV NĐ1 trong giai đoạn 2010 - 2014 Đánh giá các kết quả về chức năng phục hồi của dạng vai, gấp khuỷu và hoạt động bàn tay sau mổ những trường hợp tái khám trên 2 năm dựa trên phân loại Mallet

Kết quả: ghi nhận có 42 trường hợp đã được thực hiện mổ thám sát và ghép thần

kinh Sural cho trẻ <8 tháng tuổi; trong đó ghi nhận liệt hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn trước mổ có 18 trường hợp và 6 trường hợp có ghi nhận có dấu hiệu Horner kèm theo, 18 trường hợp còn lại được xem như liệt nặng khi quá trình theo dõi dấu hiệu phục hồi cơ hai đầu và cơ ba đầu cánh tay không phục hồi sau 3 tháng đầu sau sanh Biến chứng tử vong không có Liệt cơ hoành sau mổ có 1 trường hợp phải mổ treo cơ hoành

Ghi nhận kết quả chức năng lâu dài trong những lần tái khám sau 1 - 5 năm tổng cộng có 28 trường hợp Trong đó có 3 trường hợp tìm ghép được 3 rễ cho các bó thần kinh phía dưới, 16 trường hợp chỉ ghép được 2 rễ và 9 trường hợp chỉ ghép được 1 rễ cho các bó thần kinh Kết quả phục hồi chức năng có dạng vai đạt 100%, mức độ dạng trên 90 độ có 25/28 trường hợp (89.3%) ; gấp khuỷu tới mức độ 90 độ trở lên 15/28 trường hợp ( 53.6%) và bàn tay có hoạt động các ngón tay cầm nắm chủ động 20/28 trường hợp (71.4%) Kết quả chức năng tốt có chiều hướng tỉ lệ với

số lượng rễ thần kinh được ghép

Kết luận: Thám sát thần kinh và ghép thần kinh sớm cho kết quả hiệu quả về chức

năng tốt chủ yếu cho vai , kế đến chức năng khuỷu tùy theo mức độ số lượng rễ thần kinh ghép và chức năng bàn tay có lẽ phụ thuộc vào mức độ tổn thương ban đầu là chủ yếu

Trang 2

TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016

TỔNG QUAN:

Liệt đám rối thần kinh cánh tay trẻ em ( LĐRTKCT

TE) có tỉ lệ xuất hiện 0,38 – 1,56/ 1000 trẻ sanh [11,13]

Tại Việt Nam tỉ lệ thăm dò khoảng chừng 0,56/ 1000 trẻ

sanh [13 ]

Yếu tố của sự khác biệt này tùy thuộc vào cân nặng

trẻ lúc sanh, hình thức kỹ thuật sanh ngã dưới âm đạo,

trong đó những nguyên nhân làm cản trở chuyển dạ

thuận lợi là yếu tố gây nên liệt TK như sanh ngược,

sanh phải dùng kềm, giác hút [4,3]… thậm chí thủ thuật

Ceasar cũng có thể gặp liệt (LĐRTKCT TE) [7] Hầu

hết các trường hợp( LĐRTKCT TE) xảy ra ở mức độ

C5-C6, một số trường hợp có thể kèm liệt C7 (được xem

là liệt nặng) và một số ít xảy ra liệt hoàn toàn ( bao gồm liệt C8-T1)

Theo Naraska và một số tác giả [2,15] đã phân lập tổn thương thành 4 nhóm: nhóm nhẹ nhất chỉ có liệt C5-C6 đơn thuần ( hội chứng Erb) có khả năng tự phục hồi 90% Nhóm 2 kèm liệt C7 có tiên lượng xấu hơn Phần lớn nhóm này có tổn thương đứt sau hạch thần kinh (postganglion) Nhóm 3 bao gồm liệt hoàn toàn tay nhưng không có hội chứng Horner và nhóm 4 là liệt hoàn toàn và có hội chứng Horner Trong tổn thương liệt, nếu khám lâm sàng có kèm xuất hiện hội chứng Horner, liệt thần kinh hoành, liệt thần kinh ngực dài ( xương bả vai nhô cao, liệt nhóm cơ trám, cơ trên vai, cơ lưng rộng là

Pham Duc Minh Man

Vo Minh Tai Pham Kim Thien Long

Dang Khai Minh

Objective: definite incidences of shoulder, elbow and hand reconstruction in

surgeryusing Sural nerve grafts for Obstetric brachial plexus (OBP)injury in HCMC Vietnam under Pr A Gilbert group’ s guide.

Methods: retrospective from 2010 to 2014 all of OBP cases in which is recommended

the surgery for the exploration on the brachial plexus injuries withrecovery stop

in children from 3 months to 8 months old This technique consists of resection

of the neuroma then makes the interpositional nerve grafts from the Sural nerve sources This surgery takes place at the HTO and Pediatric Hospital No.1 HCMC Evaluating to the results of surgery which based on the restauration of the shoulder function, useful elbow function and regain hand function we choice the cases which followed-up more 1 year

Results: recorded 42 cases surgery was performed the procedures in children

that noted improvement in elbow flexion; there are 18 cases got complete and nearly complete palsy in which got 6 cases concerning to the Horner sign No fatal complications One case got pulmonary problem with the phrenic nerve paralysis after surgery

The long-term functional results of the cases follow-up visit during 1-5 years, there are total of 28 cases Of the 3 cases practiced the bundles of nerve graft on the 3 stump of roots to superior or inferior trunks that depends on the goals to reinnervate the biceps muscle or the hand, 16 cases had nerve graft on 2 roots and 9 cases only found out nerve graft only the 1 root Results rehabilitation of shoulder got 100% with abduction movement (level up > 90 o with 25/28 cases

or 89.3%), elbow flexion to > 90 o with 15/28 cases or 53.6 % and useful active hands and fingers gripping appears in 20/28 cases or 71.4% Recovery functional outcome tends to be proportional to the number of transplanted nerve roots.

Conclusion: Nervous exploration and early nerve grafting for effective results on

the available functions primarily for the shoulder, then for elbow function, and hand function may depend on the level of the initial injury is in severe or not.

ABTRACT

Trang 3

kinh ( preganglion) hay còn được xem là tổn thương nhổ

rứt[3 Tổn thương này đòi hỏi phải sử dụng chuyển ghép

thần kinh từ vị trí khác đến để phục hồi một phần chức

năng của các rễ thần kinh tại nơi tổn thương dù trên

thực tế quan sát các rễ này có dấu hiệu trông như bình

thường [2,6 ,5,8,9,12]

Chỉ định chọn lựa thời điểm thám sát và chọn lựa

kỹ thuật điều trị, dựa theo nhận xét Gilbert và Tassin

[5,6,7], tùy thuộc vào giai đoạn đánh giá mỗi 3 tháng

với cơ hai đầu là chỉ thị của dấu hiệu phục hồi, nếu cơ

hai đầu có biểu hiện co cơ trong 3 tháng đầu được xem

như dấu hiệu tiên lượng tốt Nếu dấu hiệu phục hồi xảy

ra tiếp tục đến với cơ ba đầu, cơ delta vai là dấu hiệu

phục hồi hoàn toàn tốt Nếu hiện tượng phục hồi các cơ

này bị dừng lại trong thời gian 3 tháng tiếp được xem

như là dấu hiệu cho chỉ định mổ ghép thần kinh Bản

xuất hiện ở mức độ M3 trong hai tháng đầu được xem như có khả năng phục hồi hoàn toàn Nếu cơ hai đầu không xuất hiện co cơ ở mức M3 ở tháng thứ 5 và 6 được xem như cần thiết phẫu thuật nối ghép thần kinh hơn là để diễn tiến tự nhiên Nếu khả năng phục hồi một phần của các cơ thuộc C5 đến C7 ở mức M3 xảy ra từ tháng thứ 3 đến tháng 6 sẽ có nguy cơ hạn chế tầm vận động khớp thường xuyên và dẫn đến co rút khớp Trong tình huống này, nhiều tác giả còn bàn cải về việc nên chọn lựa phẫu thuật thám sát và ghép thần kinh hay là chờ đợi phục hồi tự nhiên và chuyển gân về sau này Tuy nhiên, nếu mất cân bằng của cơ dạng vai và xoay ngoài khớp vai phục hồi ở mức độ yếu so với nhóm cơ khép

và xoay trong vai ở mức độ bình thường sẽ dẫn đến biến dạng khớp vai sau này[11,16] Tóm tắt chỉ định có thể xem ở sơ đồ 1

Sơ đồ1: chọn lựa chỉ định phẫu thuật thám sát thần

kinh, trong liệt hoàn toàn dù có dấu hiệu đang phục hồi

cơ biceps nhưng không có dấu hiệu phục hồi bàn tay vẫn

quyết định mổ thám sát

Đánh giá mức độ phục hồi chức năng của liệt (

LĐRTKCT TE) được dựa vào bảng phân loại Mallet[14]

Phần lớn chức năng phục hồi thần kinh ghép chỉ xảy ra

từ sau tháng thứ 6 đền tháng thứ 18 Trong đó sự thiếu

vắng phục hồi cơ hai đầu trong thời gian từ tháng thứ 6

đến tháng thứ 9 được xem như là thất bại của phẫu thuật

và có thể chỉ định mổ thám sát lại từ tháng thứ 9 đến tháng 12 [2,9,10]

Dựa trên những tổng quan của các nghiên cứu về liệt đám rối thần kinh cánh tay trẻ em ( ĐRTKCT ), các tài liệu đều ghi nhận công trình có số liệu phẫu thuật lớn nhất đó là tác giả Gilbert [5] đánh giá 436 bệnh nhân được phẫu thuật cho liệt ĐRTKCT trẻ em Chủ yếu dựa trên phân loại Malllet [14] để nhận định chức năng vai

là chủ yếu ( do liệt ĐRTKCT trẻ em mất chức năng dang vai là chủ yếu, và các chức năng khác có thể phục

Trang 4

TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016

hồi một phần nhờ kỹ thuật phối hợp chuyển gân hoặc

chuyển thần kinh) ghi nhận có 2 nhóm tổn thương với

mức độ phục hồi khác nhau Nhóm liệt C5C6 có kết quả

sau 2 năm theo dõi với 52% phục hồi cấp độ IV và V

của Mallet, 40% cấp độ III, chỉ 8% cấp độ II Nhóm liệt

hoàn toàn có mức độ phục hồi kém hơn sau 4 năm theo

dõi có 49% chức năng đạt cấp độ IV, 29% đạt cấp độ III,

à 22% cấp độ II Trong đó chuyển ghép được ưu tiên cho

bàn tay cũng có kết quả kém tương tự với 50% đạt chức

năng khá và tốt Nhìn chung tổng thể các trường hợp mổ

cho kết quả tốt đạt 2/3 tốt vế chức năng so với những

báo cáo phục hồi tự nhiên mà không có phẫu thuật

Ngoài ra, những nghiên cứu khác cho thấy phẫu thuật

cho nhóm liệt C5C6 có nhiều khả năng phục hồi về chức

năng dạng vai và gấp khuỷu, tuy nhiên chưa có thống

kê nào khẳng định có sự khác biệt giữa 2 nhóm có phẫu

thuật và không phẫu thuật, nhưng với nhóm phẫu thuật

bằng kỹ thuật vi phẫu có thuận lợi cho khả năng chuyển

gân thì hai tốt hơn [1] Mặt khác những trường hợp liệt

hoàn toàn, phẫu thuật góp phần phục hồi chức năng bàn

tay nắm chặc tốt hơn cho những tình huống bàn tay còn

có khả năng vận động một ít trước khi mổ, nhất là phục

hồi cảm giác luôn đạt kết quả cao

KẾT QUẢ:

Dựa trên tổng kết chương trình chuyển giao công

nghệ do hội Chain de l’espoir tài trợ từ năm 2009 -

2013, GS Gilbert và Raimondi đã giúp đỡ huấn luyện

và đào tạo nhóm phẫu thuật chuyên về liệt ĐRTKCT

trẻ em do sanh, ghi nhận có thực hiện khám cho hơn 200

trường hợp liên quan liệt ĐRTKCT do sanh, trong đó có

42 trường hợp liệt nặng nguy cơ phục hồi kém đã được

mổ thám sát và ghép thần kinh Sural cho đối tượng trẻ

từ 3 – 7 tháng tuổi, trong đó ghi nhận liệt hoàn toàn hoặc

gần hoàn toàn trước mổ có 18 trường hợp và 6 trường

hợp có ghi nhận có dấu hiệu Horner kèm theo, 18 trường

hợp còn lại được xem như liệt năng khi quá trình theo

dõi dấu hiệu phục hồi cơ hai đầu và cơ ba đầu cánh tay

không phục hồi sau 3 tháng đầu sau sanh; ngoài ra còn

có 21 trường hợp chuyển đổi thần kinh (neurotisation)

và 24 trường hợp xử lý di chứng liệt ĐRTKCT Biến

chứng tử vong không có Biến chứng sau mổ ghi nhận

có 1 trường hợp suy hô hấp do liệt cơ hoành phải mổ

treo cơ hoành

Đánh giá hồi cứu kết quả lâu dài chủ yếu dựa vào

những thời điểm tái khám của bệnh nhân với đoàn phẫu

thuật cho hội chẩn những trường hợp theo dõi sau mổ và

khám mới Tổng cộng có 28 trường hợp được theo dõi lâu dài hơn 2 năm, lâu nhất 5 năm , trung bình >2,5 năm ( bảng 1), chúng tôi ghi nhận kết quả lâu dài như sau:

♦ Mức độ dạng vai dựa theo phân loại Mallet, ghi nhận Mallet 2 ( 3 trường hợp), Mallet 3 ( 9 trường hợp)

và Mallet 4 ( 16 trường hợp)

♦ Mức độ gập khuỷu > 90 độ và đối kháng tốt trọng lực ( 18 trường hợp) , gấp khuỷu yếu chưa đến 90 độ (16 trường hợp) và chỉ có 2 trường hợp gấp khuỷu dưới

60 độ do kết quả tái khám chỉ trong vòng 2 năm

♦ Đánh giá chức năng hoạt động bàn tay chủ yếu dựa vào khả năng cầm nắm các đồ vật bằng các ngón tay chủ động như cầm bánh kẹo và đưa tay vào miệng, hoặc cầm được các vật dụng khác như đồ chơi… do trẻ nhỏ nên chưa thể đánh giá sức cơ và các tét thử khác về khả năng

sử dụng tay như người lớn Trong nhóm này chúng tôi xếp hoạt động bàn tay chia làm 2 nhóm: nhóm 1 có sử dụng được bàn tay như trên và nhóm 2 không thể cầm nắm dễ dàng với đồ vật xung quanh Tổng cộng có 19 trường hợp tay sử dụng thuộc nhóm 1 và 9 trường hợp tay yếu thuộc nhóm 2

♦ Trong 28 trường hợp theo dõi lâu dài, ghi nhận ở tường trình mổ có 3 trường hợp tìm được 3 rễ để ghép tk Sural ( 10,71%), 2 rễ có 16 (57,14%) và 1 rễ có 9 trường hợp (32,14%) Kết quả này cho thấy khoảng hơn một nửa nhóm liệt năng hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn được theo dõi có tỉ lệ tìm được 2 rễ để ghép Điều này rất khác

so với người lớn khi xảy ra liệt nặng thường khó tìm được nhiều rễ để ghép như ở trẻ em Những trường hợp tìm được 1 nguồn rễ TK cho ghép sẽ luôn ưu tiên ghép vào bó sau để phục hồi bàn tay Dang vai và gấp khuỷu

sẽ tìm những nguồn khác như TK XI hoặc neurotisation

từ những TK lân cận cho những lần phẫu thuật sau

♦ Trong nhóm đánh giá kết quả lâu dài có 4 trường hợp có dấu hiệu Horner khi khám và ghi nhận trước

mổ Đây là dấu hiệu rất xấu vì tiên lượng nhổ rứt rễ thần kinh và khả năng mổ thám sát sẽ rất khó trong phát hiện nhiều nguồn rễ để sử dụng cho ghép Cụ thể, nhóm nghiên cứu này có 2/4 trường hợp có dấu hiệu Horner chỉ tìm được 1 rễ cho ghép và 2 /4 trường hợp còn lại chỉ tìm được 2 rễ cho ghép Nhữngtrường hợp tìm thấy

có 3 rễ sử dụng được để ghép, ghi nhận có 2 trường hợp thuộc nhóm liệt hoàn toàn và 1 trường hợp thuộc nhóm liệt nặng ( liệt C5,C6,C7 # bàn tay còn cử động chút ít) Đối với nhóm liệt nặng có 8/9 trường hợp tìm được >2

rễ và chỉ có 1 trường hợp tìm thấy 1 rễ do tính chất tổn thương mổ sau tháng thứ 6 nên khả năng tìm nhiều rễ

Trang 5

♦ Nhóm có chức năng dạng vai tốt với kết quả Mallet

3,4 có tỉ lệ 25/28 # 89.3% nói lên khả năng phục hồi rất

tốt của kỹ thuật mổ ghép thần kinh

♦ Hoạt động gấp khuỷu ghi nhận có kết quả co khuỷu

dưới ảnh hưởng trọng lực và gập khuỷu hơn 90 độ có tỉ

lệ 15/28 # 53.6% và gấp khuỷu yếu dưới 90 độ có 12/28

# 42.8% và chỉ có 1 trường hợp gấp khuỷu rất kém khi

lực gấp khuỷu chỉ là M3 Tuy nhiên trong số các trường

hợp khuỷu gập yếu có 2 trường hợp được mổ bổ sung

kỹ thuật Steindler nhằm tăng cường gập khuỷu có hiệu

quả hơn

♦ Hoạt động bàn tay chỉ ghi nhận hai thông số sử

( tương đượng thang điểm 4 và 5 của Raimondi) và ngón tay cử động được nhưng không có lực hoặc cử động ngón tay yếu không có lực cầm nắm chiếm tỉ lệ 8/28 # 28.6% ( tương đượng thang điểm 1,2 và 3 của Raimondi) Hầu hết các trường hợp tay có chức năng gấp khuỷu và cầm nắm bàn tay yếu xảy ra chủ yếu trong nhóm chỉ ghép được 1 nguồn rễ là chính và một ít chỉ ghép từ 2 nguồn rễ và không có trường hợp nào xảy ra trong nhóm ghép được 3 nguồn rễ

♦ Ghi nhận cảm giác chưa đánh giá vì bệnh nhi còn nhỏ không hợp tác thăm khám

Bảng 1: danh sách và kết quả chức năng 28 trường hợp được theo dõi kết quả lâu dài ≥ 2 năm

STT Họ tên BV Mức độ tổn thương Dạng vai khuỷu Gấp Chức năng

bàn tay

Nguồn

rễ được ghép

1 Đặng Minh Th ** nặng Mallet 3 gấp tốt khá 2 rễ

2 Hà V Phúc Ư ** hoàn toàn Mallet 3 gấp yếu yếu 1 rễ

3 Hh Minh Trinh H ** hoàn toàn Mallet 3 gấp yếu khá 1 rễ

4 Hh Thiên Đ ** hoàn toàn Mallet 4 gấp tốt khá 2 rễ

5 Hoàng Nhất T ** hoàn toàn Mallet 4 gấp tốt khá 2 rễ

6 Hồ Ngọc Thanh B ** nặng Mallet 4 gấp tốt khá 2 rễ

7 Ka Nh * Hoàn toàn Mallet 4 gấp tốt khá 2 rễ

8 Lâm gia B ** hoàn toàn Mallet 4 gấp yếu yếu 1 rễ

9 Lê Hồng Ph ** hoàn toàn Mallet 2 gấp yếu yếu 1 rễ

10 Lê Minh V ** nặng Mallet 4 gấp tốt khá 2 rễ

11 Lê Vân Nh ** Hoàn toàn Mallet 2 gấp yếu yếu 1 rễ

12 Ng Đàm Gia KH ** Horner Mallet 4 gấp yếu yếu 1 rễ

13 ng Hh Tâm N ** hoàn toàn Mallet 4 gấp tốt khá 1 rễ

14 NG Mai Đức T ** hoàn toàn Mallet 3 gấp yếu khá 2 rễ

15 ng Tuấn Ph ** hoàn toàn Mallet 2 gấp kém yếu 1 rễ

16 Ng Tr Linh A ** Horner Mallet 4 gấp tốt khá 2 rễ

17 Ng V ân Qu ** hoàn toàn Mallet 3 gấp yếu yếu 2 rễ

18 Ng Vũ Gia Kh ** hoàn toàn Mallet 4 gấp tốt khá 3 rễ

19 Phạm Băng Ch * Horner Mallet 3 gấp yếu khá 2 rễ

20 Phạm Gia H ** nặng Mallet 4 gấp yếu khá 2 rễ

Trang 6

TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016

21 Phan Bảo N ** hoàn toàn Mallet 4 gấp tốt khá 3 rễ

22 Phan Thanh H * nặng Mallet 3 gấp tốt khá 2 rễ

23 Trần Hoàng P ** nặng Mallet 4 gấp tốt khá 2 rễ

24 Tr Ngoc N ** hoàn toàn Mallet 3 gấp yếu khá 2 rễ

25 Tr Phúc th ** nặng Mallet 4 gấp tốt khá 1 rễ

26 Tr Quốc M * nặng Mallet 4 gấp tốt khá 3 rễ

27 Trương Gia B * Horner Mallet 3 gấp yếu yếu 2 rễ

28 Dương Ng Xuân H * nặng Mallet 4 gấp tốt khá 2 rễ

BÀN LUẬN:

1 Trong 28 trường hợp liệt ĐRTKCT dạng nặng và

hoàn toàn, phần lớn tổn thương do kéo kẹt vai sẽ có mức

độ sang thương trên rễ C5 C6 C7 là chủ yếu, kết hợp tổn

thương sẽ bao gồm liệt một phần hoặc hoàn toàn C8 và

T1, tùy có dấu hiệu phục hồi cử động trên bàn tay sau

3-6 tháng Nếu kèm dấu hiệu Horner, mức độ tiên lượng

càng xấu hơn do khả năng nhổ rứt rễ của đám rối thần

kinh làm cho khả năng tìm nguồn rễ TK cho ghép sẽ khó

khăn và số lượng ít hơn tổn thương đứt rễ ( chỉ có thể

thấy nguồn rễ TK sử dụng ghép ≤ 2 rễ) và khả năng ghép

phải ưu tiên ghép TK cho các bó sau hoặc thân dưới

Kết quả phục hồi dạng vai 100% ( Mallet >2) trong đó

dạng vai > 60 độ ( Mallet 3,4) chiếm tỉ lệ 89.3% là một

kết quả rất khả quan và nói lên mức độ phục hồi rất tuyệt

vời và ý nghĩa so với tổn thương phục hồi tự nhiêndưới

dạng tổn thương liệt nặng > 3 rễ TK ( có khoảng 28%

phục hồi dạng vai kém Mallet < 2 và có nhiều biến

chứng của khớp vai như mất xoay ngoài và biến dạng

khớp vai, ngoài ra hầu hết phải phối hợp chuyển gân

mới có kết quả dạng vai khá tốt về sau) [14] Hơn nữa,

theo nhận định của một số tác giả ghi nhận kết quả phẫu

thuật ghép TK sẽ giúp cho khả năng chuyển gân cơ về

sau cũng được thuận lợi hơn [4,9,15,16]

2 Kết quả gấp khuỷu tốt chiếm tỉ lệ 53.6% và gấp

được nhưng yếu nói lên mức độ thành công khá tốt của

kỹ thuật ghép cho trẻ em.Theo Birch và cs, trong những

trường hợp liệt nặng , phẫu thuật ghép TK luôn đem lại

mặt tích cực trong phục hồi chức năng, nếu so sánh với

tình trạng điều trị bảo tồn sẽ gặp nguy cơ co rút khớp,

teo cơ và mất khả năng chuyển gân trong tương lai[16]

Ngoài ra để tránh nguy cơ biến dạng khớp do sự mất cân

bằng cơ, đòi hỏi phải tập vật lý trị liệu sớm và lâu dài Kết quả kém chức năng khuỷu trong 42.8% chủ yếu liên quan đến kỹ thuật do nguồn ghép thiếu ( 7/12 trường hợp nguồn ghép chỉ có 1 rễ, không có trường hợp nào gấp khuỷu kém xảy ra sau khi ghép 3 rễ)

3 Đối với chức năng bàn tay, chỉ những trường hợp

có khả năng nhúc nhích các ngón tay trước mổ mới có tiên lượng phục hồi tốt chức năng bàn tay về sau này, nếu không có dấu hiệu này khi mổ ghép thần kinh luôn

ưu tiên ghép cho thân sau để giúp phục hồi chức năng bàn tay là cần thiết trong liệt hoàn toàn Ngoài ra do khoảng cách quá xa khi TK phục hồi, đòi hỏi thời gian qúa lâu làm ảnh hưởng chức năng của sợi cơ dễ teo và

xơ hóa cơ trong bàn tay, càng làm mất chức năng nhiều hơn [16]

4 Mức độ phục hồi chức năng có tính chất liên quan đến số lượng rễ TK dùng cho nguồn ghép Dựa vào bảng 1 cho thấy nguồn ghép từ 3 rễ luôn cho kết quả rất khả quan ( 3/3 trường hợp Mallet 4) và 1 rễ có kết quả luôn kém ( 3/ 9 là Mallet 2)

KẾT LUẬN:

Phẫu thuật ghép thần kinh cho những trường hợp liệt năng đã mang lại phục hồi chức năng có giá trị khá cao chủ yếu cho vai và một phần cho khuỷu, còn bàn tay chức năng vẫn còn hạn chế và tùy thuộc nhiều vào số lượng rễ TK dùng làm nguồn ghép, tuy nhiên kết quả này còn thay đổi tốt hơn nếu thời gian thần kinh phục hồi phát triển và phối hợp thêm nhiều kỹ thuật khác như cấy nối chuyển TK, chuyển gân cơ

Hình ảnh minh họa:

Trang 7

cổ tay lần 2 lúc 4 tuổi.

Tài liệu tham khảo

1 Berger AC, Hierner R, Becker MH,: Early microsurgical

revision of the brachial plexus in traumatic birth injuries

Patient selection and outcome { in German} Orthopade

1997; 26: 710-718

2 Birch R: Surgery for brachial plexus injuries J Bone Joint

Surg [Br] 1993; 75:346-348.

3 Dodds SD, Wolfe SW: Perinatal brachial plexus palsy Curr

Opin Pediatr 2000; 12:40-47.

4 Geutjens G, Gilbert A, Helsen K: Obstetric brachial plexus

palsy associated with breech delivery: A different pattern of

injury J Bone Joint Surg Br 1996; 78:303-306.

5 Gilbert A: Long-term evaluation of brachial plexus surgery

in obstetrical palsy Hand Clin 1995; 11:583-594.discussion

594-595

6 Gilbert A, Tassin JL: Reparation chirurgicale du plexus

brachial dans la paralysie obstetricale Chirurgie 1984;

110:70.

7 Gilbert A, Tassin JL: Obstetrical palsy: A clinical, pathologic

and surgical review In: Terzis JK, ed Microreconstruction of

Nerve Injuries, Philadelphia: WB Saunders; 1987:529-553.

8 Gilbert A, Whitaker I: Obstetrical brachial plexus lesions J

Hand Surg [Br] 1991; 16:489-491.

9 Gilbert A, Hentz VR, Tassin JL: Brachial plexus

reconstruction in obstetrical palsy: Operative indications and postoperative results In: Urbaniak JR, ed Microsurgery for Major Limb Reconstruction, St Louis: CV Mosby; 1987.

10 Gilbert A, Razaboni R, Amar-khodja S: Indications and

results of brachial plexus surgery in obstetrical palsy Orthop Clin North Am 1988; 19:91-105.

11 Kay SP: Obstetrical brachial palsy Br J Plast Surg 1998;

51:43-50.

12 Kawabata H, Kawai H, Masatomi T, Yasui N: Accessory

nerve neurotization in infants with brachial plexus birth palsy Microsurgery 1994; 15:768-772

13 Phan Đức Minh Mẫn, Đặng Khải Minh, Võ Chiêu Tài, Alain Gilbert, Pierre Raimondii, Bước đầu đánh giá điều trị

liệt đám rối thần kinh cánh tay trẻ em do sanh tại Việt Nam,

Y học TP.HCM, hội nghị ngoại nhi khoa toàn quốc lần thứ 8, phụ bản của tập 17, số 3 , 2013, tr.215- 220

Trang 8

TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016

14 Mallet J: Paralysie obstetricale du plexus brachial

Traitement des sequelles Primaute du traitemente de

l'epaule—Methode d'expression des resultats Rev Chir

Orthop Reparatrice Appar Mot 1972; 58(Suppl 1):166-168.

15 Narakas AO: Thought on neurotization or nerve transfers in

irreparable nerve lesions Clin Plast Surg 1963; 11:153-159.

16 Waters PM: Comparison of the natural history, the outcome

of microsurgical repair, and the outcome of operative reconstruction in brachial plexus birth palsy J Bone Joint Surg 1999; 81:649-659.

Ngày đăng: 06/08/2020, 12:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w