Bài viết trình bày đánh giá hiệu quả lâm sàng của kỹ thuật giải ép, nắn trật, hàn xương cột sống cổ đường trước trong điều trị chấn thương cột sống cổ thấp trật cài diện khớp (TCDK).
Trang 1TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016
Đỗ Mạnh Hùng,
Nguyễn Lê Bảo Tiến,
Đinh Ngọc Sơn,
Nguyễn Văn Thạch.
Khoa Phẫu thuật cột sống,
Viện Chấn thương chỉnh
hình, Bệnh viện Việt Đức
Do Manh Hung,
Nguyen Le Bao Tien,
Dinh Ngoc Son,
Nguyen Van Thach
PHẪU THUẬT NẮN TRẬT ĐƯỜNG TRƯỚC TRONG CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG CỔ TRẬT CÀI DIỆN KHỚP
TÓM TẮT
Thiết kế nghiên cứu Đây là nghiên cứu phân tích hồi cứu trên nhóm bệnh nhân
được theo dõi liên tục
Mục tiêu Đánh giá hiệu quả lâm sàng của kỹ thuật giải ép, nắn trật, hàn xương
cột sống cổ đường trước trong điều trị chấn thương cột sống cổ thấp trật cài diện khớp (TCDK)
Tổng quan Phẫu thuật cố định cột sống đường trước cho chấn thương mất vững
cột sống cổ đang dần trở nên phổ biến Tuy nhiên, phương pháp nắn trật vẫn còn rất nhiều tranh cãi
Phương pháp Mưới bốn bệnh nhân bị chấn thương cột sống cổ thấp TCDK được
đưa vào nghiên cứu từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 10 năm 2015 Trong đó có
9 bệnh nhân nam, 5 bệnh nhân nữ, với tuổi trung bình là 42.3 (từ 21 đến 73 tuổi)
Kỹ thuật mổ nắn trật đường trước được thực hiện cho tất cả các bệnh nhân Chúng tôi đã tiến hành ghép xương tự thân lấy từ xương mào chậu của người bệnh và nẹp vít cố định cột sống cổ trước Bệnh nhân được đánh giá kết quả điều trị dựa vào các yếu tố: 1) tỷ lệ nắn trật thành công và độ liền xương làm vững cột sống; 2) Tỷ
lệ biến chứng, kết quả lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh
Kết quả Hai trong số mười bốn bệnh nhân (14.2%) đã thất bại trong phẫu thuật
nắn trật đường trước đơn thuần Nguyên nhân là do tổn thương gãy cuống sống dẫn đến khối bên xoay ngang trong quá trình nắn trật Tất cả bệnh nhân nghiên cứu đã được hàn xương thành công trong suốt quá trình theo dõi Chúng tôi không ghi nhận bất cứ trường hợp nào trật tái phát hoặc tổn thương tủy sống thứ phát sau nắn Triệu chứng thần kinh của bệnh nhân đã cải thiện có ý nghĩa sau mổ
Kết luận Phẫu thuật cột sống cổ đường trước, giải ép, nắn trật, hàn xương làm
vững cột sống là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị chấn thương cột sống cổ thấp TCDK
ABSTRACT
Study design Retrospective analysis of a prospectively followed cohort
Objective To discuss the clinical efficacy of anterior cervical surgery of decompression, reduction, stabilization and fusion in treating subaxial cervical facet dislocation.
Summary of Background Data Anterior stabilization of unstable cervical spine
injuries is gaining popularity However, the method of reduction is controversial.
Methods Fourteen consecutive patients with unstable dislocation of the subaxial
cervical spine were included from October 2013 to October 2015 There were 9 males and 5 females, with a mean age of 42.3 years (from 21 to 73 yr) An anterior open reduction was performed for all patients Tricortical iliac crest autograft and
Trang 2and stabilization using only the anterior surgical approach; 2) complications and long-term clinical and radiologic outcome
Results Two of fourteen (14.2%) anterior open reductions failed These patients
had associated pedicle fractures with horizontal rotation of the lateral masses All grafts had healed successfully at the most recent follow-up visit No redislocation
or symptoms of spinal cord injury occurred Significant neurologic improvement was observed.
Conclusions Anterior cervical surgery of decompression, reduction, stabilization,
and fusion is an effective and safe method for treatment of subaxial cervical facet dislocation.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong chấn thương cột sống cổ thấp, trật cài diện
khớp (TCDK) là một chấn thương mất vững cột sống
nghiêm trọng và thường dẫn đến tổn thương tủy sống
Nguyên nhân gây TCDK là do chấn thương quá cúi cột
sống cổ, dẫn đến một hoặc cả hai diện khớp dưới của
đốt sống phía trên bị trật ra sau và phủ lên diện khớp
trên của đốt sống phía dưới Hậu quả của loại chấn
thương này là ống sống bị thu hẹp lại, tủy sống bị chèn
ép, gây tổn thương thần kinh, có thể dẫn đến liệt tủy
hoàn toàn và tử vong Mặc dù TCDK không phải là
một tổn thương thường gặp trong chấn thương cột sống
cổ, chỉ chiếm khoảng 5 - 10%, tuy nhiên hậu quả của
nó lại vô cùng nghiêm trọng Khoảng 37% trường hợp
TCDK một bên và hơn 90% trường hợp TCDK hai bên
được chẩn đoán là tổn thương tủy sống khi nhập viện
(1, 12) Mục tiêu chính của phẫu thuật điều trị TCDK
là nắn trật, làm vững cột sống, duy trì sự thẳng hàng và
giải phóng chèn ép thần kinh Tuy nhiên, chiến lược nắn
TCDK thường rất khác nhau và còn nhiều tranh cãi, bao
gồm phẫu thuật đường trước đơn thuần, đường sau đơn
thuần, đường trước - sau, đường sau - trước, hoặc trước -
sau - trước Với mỗi cách tiếp cận phẫu thuật khác nhau
đòi hỏi mức độ phức tạp khác nhau, thời gian phẫu thuật
cũng khác nhau và từ đó ảnh hưởng đến kết quả điều trị
trên một nhóm bệnh nhân vốn rất mong manh Trong
các cách phẫu thuật nêu trên, phẫu thuật lối trước đơn
thuần với lấy bỏ đĩa đệm, nắn trật mở, và đặt dụng cụ
hàn xương được khuyến cáo hơn cả, đặc biệt với những
trường hợp kèm theo thoát vị đĩa đệm do chấn thương
nhưng không gây tổn thương tủy sống Tác giả đã thực
hiện phẫu thuật lối trước đơn thuật để nắn TCDK cho
14 bệnh nhân Mục tiêu của bài báo này là đánh giá hiệu
quả của phương pháp nắn trật lối trước đơn thuần
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đây là một nghiên cứu phân tích hồi cứu trên nhóm bệnh nhân được theo dõi liên tục, thực hiện trong 2 năm,
từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 10 năm 2015 Các bệnh nhân được theo dõi ít nhất 6 tháng theo mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất Chỉ những bệnh nhân bị chấn thương cột sống cổ có TCDK một hoặc hai bên, có hoặc không có tổn thương thần kinh kèm theo mới được đưa vào nghiên cứu Chúng tôi loại trừ những trường hợp TCDK do nguyên nhân khác như: tổn thương ung thư, nhiễm trùng, viêm cột sống dính khớp Tất cả các bệnh nhân đều được chụp phim XQ thẳng nghiêng lúc nhập viện để phát hiện TCDK và chụp phim CT scanner cột sống trước mổ
Phẫu thuật: Bệnh nhân được đặt ở tư thế nằm ngửa với cổ hơi gấp để dễ dàng hơn khi nắn chỉnh trật cột sống, gây mê đường nội khí quản thông thường Tác giả bộc lộ cột sống cổ theo đường vào Smith-Robinson Với kỹ thuật mổ nắn TCDK đường trước (hình 1), điều đầu tiên là phải lấy bỏ toàn bộ đĩa tổn thương Tiếp đó, chúng tôi đặt hệ thống giãn đốt sống Caspar với hai đinh cố định vào thân đốt sống trật phía trên và đốt sống trật phía dưới Các đinh này được đặt theo hướng hội
tụ nhằm tăng cường độ gù cột sống khi giãn hệ thống Caspar Lúc này, hai diện khớp trật cài sẽ tách rời và dễ dàng hơn cho việc nắn TCDK Nếu thất bại trong việc tách rời điện khớp, chúng tôi sử dụng dụng cụ giãn nẹp
cổ, đặt ở vị trí sâu nhất của đĩa đệm vừa lấy bỏ, từ từ giãn hai thân đốt sống để tách rời hai diện khớp Khi bờ
Trang 3TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016
dưới của khớp trật phía trên vừa chạm tới đỉnh bờ trên
khớp trật phía dưới, phẫu thuật viên sẽ tăng cường lực
ấn lên đốt sống phía trên từ trước ra sau để nắn TCDK
Kết quả nắn trật thành công, chúng tôi hàn xương vùng
đĩa đệm lấy bỏ bằng mảnh xương chậu tự thân của bệnh nhân và cố định cột sống cổ bằng nẹp cổ trước với bốn vít cố định Cuối cùng, ổ mổ được đặt hệ thống dẫn lưu liên tục và đóng cân cơ theo các lớp giải phẫu
Hình 1 Kỹ thuật nắn trật cài diện khớp đường trước (11)
A Đặt đinh Caspar theo hướng hội tụ B Giãn caspar và giãn 2 thân đốt sống
C Tăng cường lực ấn lên đốt sống trên D Cố định nẹp cổ trước
Bệnh nhân khi nhập viện được khai thác về cơ chế
chấn thương, thời gian phẫu thuật, mức độ tổn thương
thần kinh theo phân loại Frankel Tất cả đối tượng
nghiên cứu đều được phẫu thuật nắn TCDK đường
trước đơn thuần, cố định cột sống và ghép xương chậu
tự thân Sau phẫu thuật, người bệnh được chỉ định đeo
nẹp cổ cứng bên ngoài trong vòng 6 tuần
Các biến chứng sau mổ được ghi nhận là: các rối
loạn thông khí phổi, tim mạch, nhiễm trùng, tổn thương
thần kinh, di lệch dụng cụ cố định, mảnh xương ghép
hoặc khớp giả
Bệnh nhân được theo dõi phim XQ nghiêng sau mổ
cúi - ưỡn cứ sau 1 tháng, 3 tháng, và 6 tháng Phim XQ
này được sử dụng để đánh giá sự liền xương của mảnh
ghép, sự di lệch dụng cụ cố định Với bệnh nhân được
cố định liền xương thành công, trên phim XQ nghiêng
cúi - ưỡn không có di động của đơn vị cột sống cố định, dụng cụ cố định không di lệch, mảnh ghép ít thay đổi vị trí so với bề mặt thân đốt sống
KẾT QUẢ
Mười bốn bệnh nhân đã được phẫu thuật nắn TCDK đường trước đơn thuần Hầu hết tổn thương là TCDK C5-C6, C6-C7 (bảng 1) Trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi không có bệnh nhân nào bị TCDK
từ hai tầng trở lên Thời gian phẫu thuật trung bình sau chấn thương là 1.5 ngày (1 - 3 ngày) Thời gian mổ trung bình là 141.4 phút Thời gian theo dõi sau mổ trung bình của bệnh nhân là 7.5 tháng (6 – 12 tháng) Hai bệnh nhân nắn trật không thành công và không được phẫu thuật đường sau tiếp theo (hình 2)
Trang 4có 9 bệnh nhân nam và 5 bệnh nhân nữ Tình trạng tổn
thương thần kinh của bệnh nhân từ mức độ không liệt
tủy cho đến liệt tủy hoàn toàn dựa trên phân độ Frankel
(bảng 1) Trong 14 trường hợp TCDK có 8 bệnh nhân
TCDK 1 bên và 6 bệnh nhân TCDK 2 bên Có hai bệnh
nhân liệt tủy hoàn toàn trước mổ và tử vong sau mổ,
nguyên nhân được cho là suy hô hấp
Không có bệnh nhân nào bị các biến chứng liên quan
đến phẫu thuật như khó nuốt, khó nói, nhiễm trùng ổ mổ
mổ ít nhất một độ (bảng 1) Có bốn bệnh nhân liệt tủy hoàn toàn trước mổ và không có bất cứ cải thiện thần kinh nào sau mổ, và trong dó có hai bệnh nhân tử vong Trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi, không có bất cứ bệnh nhân nào bị di lệch dụng cụ cố định, không liền xương, miếng ghép di lệch Trên phim
XQ nghiêng sau mổ cúi - ưỡn, không ghi nhận bất cứ trường hợp nào có chuyển động tại đơn vị hàn xương
Bảng 1 Thông tin của bệnh nhân nghiên cứu
Số BN Tuổi Giới Tẩng tổn thương TCDK 1 bên/ 2
bên
Thời gian được mổ (ngày)
Thời gian mổ (phút)
Frankel trước mổ
Frankel sau mổ
6 tháng
BÀN LUẬN
Trong chấn thương cột sống cổ, chiến lược điều trị
cho bệnh nhân phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau
như: tình trạng tổn thương thần kinh, mức độ tổn thương
giải phẫu, lứa tuổi của người bệnh và các tổn thương
phối hợp Hiện nay, phương pháp điều trị tối ưu cho
TCDK trong chấn thương cột sống cổ thấp còn rất nhiều
tranh cãi Đặc biệt với các tổn thương giải phẫu như:
diện khớp bị khóa chặt, đĩa đệm gian đốt sống bị tổn thương, sự bong vặn và mắc kẹt của sụn tiếp hợp, hệ thống dây chằng dọc trước, dọc sau, dây chằng vàng, tất
cả đã tạo nên một thách thức vô cùng lớn trong quá trình nắn TCDK, mà vẫn bảo vệ tủy sống không bị tổn thương thêm Do đó, hiện nay vẫn chưa có một chiến lược điều trị quy chuẩn chung cho mọi bệnh nhân TCDK cột sống
cổ Các quyết định kỹ thuật nắn trật thường phụ thuộc
Trang 5TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016
vào kinh nghiệm cá nhân của từng phẫu thuật viên
như: nắn trật kín bằng khung kéo sọ dưới gây mê thông
thường, phẫu thuật mổ mở nắn trật với nẹp vít cố định
bên trong (phẫu thuật đường trước, phẫu thuật đường
sau, trước - sau, trước - sau - trước, sau - trước) Một
số tác giả ủng hộ việc tiền mê nắn trật kín sớm nhằm
làm giảm sự hẹp ống sống và cải thiện chức năng của
các rễ thần kinh (6) Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu
khác lại cho rằng trong quá trình nắn trật kín, các rễ
thần kinh sẽ tăng nguy cơ bị tổn thương do mảnh vỡ
đĩa đệm di trú sẽ chèn ép vào thần kinh Điều này càng
trở nên nghiêm trọng với những bệnh nhân không có
bất cứ thiếu hụt thần kinh nào sau tai nạn Do đó, một
số tác giả lại khuyến cáo nên kiểm tra tủy sống trước
mổ bằng chụp MRI, đặc biệt với những bệnh nhân bị
TCDK hai bên Lý do là khi dây chằng dọc sau bị xé
đứt, các mảnh vớ đĩa đệm có xu hướng chèn ép vào tủy
sống Hơn thế nữa, với TCDK hai bên thường gây tổn
thương phần mềm nặng nề Rizzolo và cộng sự (13) đã
thông báo khoảng 40% trường hợp tổn thương đĩa đệm
với bệnh nhân bị chấn thương cột sống cổ tư thế cúi, và
tỷ lệ này tăng lên tới 80% với bệnh nhân bị TCDK hai
bên Một khi đĩa đệm gian đốt sống bị tổn thương, có sự
liên quan có ý nghĩa với rối loạn chức năng của tủy sống
và rễ thần kinh Do đó, khi có bằng chứng của sự chèn
ép tủy sống từ phía trước, các tác giả thường khuyến
cáo nên phẫu thuật giải ép, lấy toàn bộ đĩa đệm thoát vị
đường trước trước khi nắn trật, để tránh nguy cơ chèn ép
tủy thứ phát do phẫu thuật viên gây nên
Với TCDK, để nắn trật thành công thì bờ dưới diện
khớp của đốt sống trật phía trên phải nằm trên đỉnh của
bờ trên diện khớp đốt sống trật phía dưới Tuy nhiên,
nếu lực kéo của quá trình nắn trật kín quá mạnh sẽ kích
thích vào tủy sống, động mạch đốt sống và dẫn đến tổn
thương thần kinh, đặc biệt với những trường hợp TCDK
hai bên Thêm vào đó, chấn thương cột sống cổ cấp tính
có thể gây tổn hại các cấu trúc tạo sức căng cho cột sống
(dây chằng dọc trước, dọc sau, bao xơ đĩa đệm, dây
chằng vàng, sụn tiếp hợp) Do đó, việc nắn trật kín bằng
khung kéo sọ có thể gây tổn thương nặng thêm cho tủy
sống Shapiro đã thông báo 50% trường hợp bị vỡ diện
khớp sau nắn trật kín trên phim CT scanner, như là một
biến chứng của quá trình nắn trật (15)
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra kết
quả điều trị tốt của kỹ thuật nắn trật hàn xương đường
cổ sau Những nghiên cơ sinh học đã chứng minh được
điểm mạnh của cấu hình cố định lối sau là ngăn chặn
được lực cúi - ưỡn, xoay bên của cột sống, dễ nắn trật
do tiếp cận trực tiếp với diện khớp cài nhau, dễ khôi phục lại sức căng cho cột sống Tuy nhiên cấu hình này cũng có những nhược điểm như: Không lấy được mảnh đĩa đệm thoát vị phía trước, dẫn đến nguy cơ tổn thương thần kinh sau nắn trật, phải cố định nhiều đơn
vị cột sống, làm cứng cột sống, vần đề kinh tế tốn kém nhiều hơn khi so sánh với cố định một tầng cột sống đường trước đơn thuần Thêm vào đó, bệnh nhân cũng
có thể gặp các tai biến do bắt vít cột sổng cổ lối sau đem lại (4) Xuất phát từ những lý do nêu trên, cấu hình cố định cột sống cổ lối trước đơn thuần cho TCDK đang ngày càng trở nên phổ biến, nhờ kết quả nắn trật tốt và giảm tỷ lệ các biến chứng liên quan (2, 3) Cũng vì vậy, chúng tôi đã sử dụng phẫu thuật đường trước đơn thuần,
sử dụng đinh Caspar đặt hội tụ và dụng cụ giãn nẹp để nắn trật cho tất cả 14 bệnh nhân Trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi có 2 trường hợp (14.2%) nắn trật đường trước không hoàn toàn thành công Nguyên nhân của thất bại này là do bệnh nhân có tổn thương vỡ cuống sống một bên phối hợp, dẫn đến khối bên của đốt sống trên bị xoay ngang trong quá trình nắn trật, mắc kẹt
ở giữa 2 đốt sống như Levine và cộng sự đã miêu tả (10) (hình 2) Với dạng tổn thương này đòi hỏi phải cố định
cả đốt sống phía trên và đốt sống phía dười kèm theo (3 đơn vị đốt sống) Trong tình huống này, phẫu thuật
cố định cột sống cổ đường sau được chỉ định, tuy nhiên
do tình trạng tổn thương thần kinh của bệnh nhân, hoàn cảnh kinh tế và mong muốn của gia đình người bệnh nên phẫu thuật lối sau đã không được tiến hành
Tỷ lệ liền xương cao và di lệch dụng cụ thấp trong cố định cột sống cổ lối trước đã được công bố trong nhiều nghiên cứu, bao gồm cả kết quả của tác giả Việc ứng dụng dụng cụ cố định hiện đại đã đóng một phần vai trò trong thành công này, tuy nhiên kỹ thuật mổ chuẩn xác mới là bản chất của vấn đề Không giống như kỹ thuật hàn xương được thực hiện cho bệnh lý thoái hóa đĩa đệm, khoảng trống đĩa đệm không nên được “nhồi” bởi một miếng xương ghép quá dầy Điều này có thể làm tách rời diện khớp mới nắn trật, làm mất ưỡn cột sống, dẫn đến mất vững và có thể làm thất bị trong cấu hình cố định cột sống
Trong nghiên cứu của chúng tôi không có bệnh nhân nào bị tổn thương thần kinh nặng lên sau mổ như
là biến chứng của qúa trình phẫu thuật, biểu hiện bằng
sự giảm độ Frankel Đặc biệt là với những trường hợp Frankel E, không bệnh nhân nào bị giảm độ sau mổ Ngoài ra, 6 bệnh nhân được cải thiện ít nhât 1 độ sau phẫu thuật, điều này phần nào phản ánh hiệu quả an toàn
Trang 6toàn, Frankel A, bị tử vong sau mổ, nguyên nhân được
cho là suy hô hấp Với những bệnh nhân bị liệt tủy hoàn
toàn do chán thương cột sống cổ, việc chỉ định phẫu
chúng ta làm tất cả mọi thứ có thể, bệnh nhân vẫn có nguy cơ tử vong do mức độ trầm trọng của tổn thương tủy sống gây nên
Hình 2 Trật cài diện khớp C6-C7 kèm theo vỡ cuống sống C6, làm khối bên xoay ngang, ngăn chặn nắn trật đường trước
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy phẫu
thuật mổ mở nắn trật đường trước đơn thuần là an toàn
và hiệu quả với bệnh nhân bị chấn thương cột sống cổ
TCDK (tỷ lệ thành công 85.8%) Với bệnh nhân nghi
ngờ có thoát vị đĩa đệm kèm theo trên phim MRI, cần phải lấy bỏ tất cả mảnh đĩa đệm thoát vị trước khi nắn trật để bảo đảm an toàn cho tủy sống Trong trường hợp TCDK có kèm theo vỡ cuống sống, nên chỉ định nắn trật
và cố định cột sống cổ đường sau
Tài liệu tham khảo
1 Andreshak J, Dekutoski M Management of unilateral facet
dislocations: a review of the literature Orthopedics 1997; 20:
917 - 26
2 Aebi M, Mohler J, Zach GA, et al Indication, surgical
technique, and results of 100 surgically-treated fractures and
fracture-dislocations of the cervical spine Clin Orthop 1986;
203: 244 –57.
3 Blauth M, Schmidt U, Dienst M, et al Long-term outcome
of 57 patients after ventral interbody spondylodesis of the
lower cervical spine Unfallchirurg 1996; 99: 925–39.
4 Do Koh Y, Lim TH, Won You J, et al A biomechanical
comparison of modern anterior and posterior plate fixation of the cervical spine Spine 2001; 26: 15-21.
5 Ganjun Feng, Ying Hong, et al Anterior decompression
and nonstructural bone grafting and posterior fixation for cervical facet dislocation with traumatic dics hernation
Spine 2012; 37: 2082-2088.
6 Grant G, Mirza SK, Chapman JR, et al Risk of early closed
reduction in cervical spine subluxation injuries J Neurosurg Spine 1999; 90 (1 suppl): 13 – 8.
Trang 7TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016
7 Đỗ Mạnh Hùng, Nguyễn Văn Thạch, Nguyễn Lê Bảo Tiến
Ứng dụng nguyên lý “chìa khóa - ổ khóa” trong điều trị
chấn thương cột sống cổ trật cài thân đốt sống C6-7: báo
cáo nhân một trường hợp và nhìn lại y văn Tạp chí Chấn
thương chỉnh hình Việt Nam 2014; Số đặc biệt: 36-44.
8 Jefferson R Wilson, Alexander Vaccaro, et al The impact
of facet dislocation on clinical outcomes after cervical spinal
cord injury Spine 2013; 38: 97-103.
9 Trịnh Đình Lợi, Nguyễn Đình Tùng Kết quả bước đầu của
phẫu thuật nắn chỉnh và làm cứng lối trước trong điều trị gãy
trật cột sống cổ thấp Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2014; tập 18, số 6: 63-67.
10 Levine AM, Mazel C, Roy-Camille R Management of
fracture separations of the articular mass using posterior
cervical plating Spine 1992; 17(suppl 10): 447-54.
11 Max C Lee, Daniee H Kim Subaxial cervical spinal
injuries and faect dislocation injuries Surgical anatomy &
techniques to the spine 2006; Chapter 40: 337-343.
12 Payer M, Schmidt M Management of traumatic bilateral
locked facets of the subaxial cervical spine Contemp Neurosurg 2005; 27: 1 - 4
13 Rizzolo SJ, Piazza MR, Cotler JM, et al Intervertebral disc
injury complicating cervical spine trauma Spine 1991; 16: S187 – 9.
14 Satyen Mehta, Ben Goss, et al Computed tomographic
artifact suggesting cervical facet subluxation Spine 2011; 36: E1038-E1041
15 Shapiro SA Management of unilateral locked facet of the
cervical spine Neurosurgery 1993; 33: 832 – 7.
16 Wei Du, Cheng Wang, et al Management of subaxial
cervical facet dislocation through anterior approach monitored
by spinal cord evoked potential Spine 2013; 39: 48-52.
17 Zhengfeng Zhang, Chao Liu, et al Anterior facetectomy
for reduction of cervical facet dislocation Spine 2016; 41: E403-E409.