1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích hồi cứu chỉ định phẫu thuật chấn thương cột sống ngực thắt lưng dựa trên ứng dụng thang điểm TLICS

6 339 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày đánh giá chỉ định mổ theo lâm sàng BN CTCS ngực thắt lưng bằng thang điểm TLICS. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu 68 BN CTCS ngực thắt lưng đã được phẫu thuật cố định cột sống qua cuống tại bệnh viện TƯQĐ 108 từ tháng 5 năm 2014 tới tháng 12 năm 2015.

Trang 1

Phần 1: Phẫu thuật cột sống

Phan Trọng Hậu

Phan Trong Hau

PHÂN TÍCH HỒI CỨU CHỈ ĐỊNH PHẪU THUẬT CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG NGỰC THẮT LƯNG DỰA TRÊN ỨNG DỤNG THANG ĐIỂM TLICS

RETROSPECTIVE ANALYSIS OF THE SURGICAL INDICATION FOR THORACOLUMBAR INJURY USING TLICS

TÓM TẮT

Mục tiêu: đánh giá chỉ định mổ theo lâm sàng BN CTCS ngực thắt lưng bằng thang điểm TLICS Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu hồi cứu

68 BN CTCS ngực thắt lưng đã được phẫu thuật cố định cột sống qua cuống tại

bệnh viện TƯQĐ 108 từ tháng 5 năm 2014 tới tháng 12 năm 2015 Kết quả:

điểm TLICS trung bình là 4,8 (từ 2-10) Có 22/68 BN (chiếm 31%) được phẫu thuật có TLICS 2 điểm bao gồm: 11/68 BN (chiếm 16,2%) vỡ xương gây biến dạng nề thân đốt sống, 2/68 BN (chiếm 2,9%) điều trị nội khoa thất bại, 9/68 BN

(chiếm13,2%) có thể điều trị nội khoa thành công Kết luận: Chỉ định mổ dựa

trên thang điểm TLICS chặt chẽ hơn chỉ định mổ theo lâm sàng TLISC chưa tính đến yếu tố mất vững do biến dạng gù tiến triển ở BN CTCS vùng ngực thắt lưng

SUMMARY

Objecitve: To analyze the surgical indication for thoracolumbar injury using TLICS Subject and method: A retrospective study of the patients who had thoracolumbar

injury were underwent surgical treatment by internal fixation with medical screws

in 108 hospital Result: The average of TLICS score is 4,8 (from 2 to 10) 22/68

patients (31%) were indicated surgical treatment with TLICS score of 2 In this group there were 11/68 patients (16,2%) who had severe burst fractures, 2/68 patients (2,9%) who had failure of conservative treatment, 9/68 patients (13,2%)

who maybe successful with conservative treatment Conclusion: The using of the

TLICS system for surgical indication is more proper than experimental clinical decision The TLICS system doesn’t take into account the progressive kyphosis in thoracolumbar injuries.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chỉ định phẫu thuật chấn thương cột sống (CTCS)

ngực thắt lưng vẫn còn chưa thống nhất Trên thế giới

đã phát triển nhiều hệ thống phân loại hướng dẫn điều trị

chấn thương cột sống ngực thắt lưng với mục đích đưa

ra chỉ định mổ hợp lý Phân loại của Denis được áp dụng

phổ biến tại Việt Nam, tuy nhiên chỉ định mổ dựa trên

tổn thương hai cột theo nguyên lý của Denis được cho là

quá rộng [1] Chỉ định mổ trên lâm sàng được áp dụng tại Bệnh viện TƯQĐ 108 bao gồm: bệnh nhân (BN) CTCS có tổn thương thần kinh, vỡ thân đốt có mảnh rời

di lệch làm hẹp từ 50% diện tích ống sống, xẹp từ 50% thành trước thân đốt sống hoặc góc gù thân đốt sống từ 25º, bệnh nhân điều trị nội khoa thất bại [1],[2],[4] Gần đây, chỉ định mổ dựa vào phân loại, cho điểm lượng hóa mức độ nặng CTCS ngực thắt lưng (Thoracolumbar

Trang 2

TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016

Injury Classification and Severity score - TLICS) của

Vaccaro và cs được đánh giá cao về mức độ tin cậy và có

giá trị tiên lượng tốt [5],[7] Chính vì vậy chúng tôi tiến

hành nghiên cứu hồi cứu ứng dụng TLICS để đánh giá

chỉ định mổ CTCS ngực thắt lưng đã được áp dụng tại

Bệnh viện TƯQĐ 108

SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu hồi cứu tất cả BN CTCS ngực thắt lưng

đã được phẫu thuật tại Bệnh viện TƯQĐ 108 từ tháng 5

năm 2014 tới hết tháng 12 năm 2015 68 BN bao gồm

45 nam (chiếm 66,2%) và 23 nữ (chiếm 33,8%), tuổi trung bình 43,26 (từ 17 đến 68) đáp ứng đầy đủ các chỉ tiêu nghiên cứu Các chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm: bệnh

án cung cấp đủ thông tin về tình trạng tổn thương thần kinh, biên bản phẫu thuật có mô tả tổn thương xương

và dây chằng, có lưu trữ phim X quang và phim cắt lớp

vi tính chup (CLVT) cột sống ngực thắt lưng Loại bỏ các trường hợp thiếu các thông tin để cho điểm mức độ nặng của chấn thương theo TLICS (bảng 1), BN CTCS

ở vùng cột sống khác, BN gãy xương bệnh lý

Bảng 1: Phân loại, cho điểm lượng hóa mức độ nặng CTCS ngực thắt lưng

Hình thái gãy xương

Tổn thương thần kinh

Hệ thống dây chằng phía sau

Hệ thống dây chằng phía sau (DCPS) bao gồm dây

chằng trên gai, dây chằng liên gai, dây chằng bao khớp

và dây chằng vàng Hệ thống dây chằng phía sau được

cho là nghi ngờ tổn thương khi có dãn rộng khoảng liên

gai sau trên X quang và CLVT trước mổ Mức độ dãn

rộng lớn hơn 7mm được đánh giá là đứt dây chằng trên

gai và liên gai Gãy mấu khớp, doãng rộng khe khớp,

gãy trật hoặc có biến dạng xoay là các dấu hiệu tổn

thương hệ thống dây chằng phía sau Thần kinh được

cho là tổn thương hoàn toàn khi bệnh nhân mất hết

vận động và cảm giác dưới mức gãy xương Thần kinh

được cho là bị tổn thương không hoàn toàn khi sức cơ

chi dưới yếu hoặc giảm cảm giác tương ứng dưới mức

gãy xương Tổn thương rễ thần kinh được xác định khi giảm hoặc mất cảm giác và vận động do rễ thần kinh đó chi phối

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong nghiên cứu, tổn thương đốt sống T11: 1 BN (1,5%), T12: 12 BN (17,7%), L1: 36 BN (52,9%), L2:

19 BN (27,9%) Tổn thương vỡ nhiều mảnh thân đốt sống gặp ở 52 BN (76,5%), gãy trật và gãy xoay có 3 BN (4,4%), gãy dãn cách 13 BN (19,1%) 48 BN (70,6%) không có tổn thương thần kinh, 20 BN (29,4%) có tổn thương thần kinh ở mức độ khác nhau (bảng 2)

Trang 3

Phần 1: Phẫu thuật cột sống

Bảng 3: Kết quả cho điểm theo TLICS

Điểm TLICS Số lượng Tỷ lệ %

Hình thái gãy xương

Tổng (Tỷ lệ %)

Tổng

(Tỷ lệ %) (75,5%)52 (75,5%)52 (19,1%)13 (100%)68

Kết quả phân tích, đo đạc trên phim x quang và

phim CLVT chụp cột sống trước mổ cho thấy có 26 BN

(chiếm 38,2%) không có tổn thương dây chằng phía

sau 17 BN (chiếm 25%) nghi ngờ có tổn thương, 25 BN

(chiếm 36,7%) có tổn thương dây chằng phía sau (xem bảng 4) Kết quả tổng hợp cho điểm mức độ nặng của chấn thương cho thấy điểm TLICS trung bình là 4,8

Từ số liệu bảng 3, có 22/68 BN (chiếm 31%) có

TLICS 2 điểm được điều trị phẫu thuật Quyết định mổ

bằng cách đánh giá mất vững cột sống trên lâm sàng

rộng hơn so với chỉ định mổ khi được lượng hoá mức độ

nặng của chấn thương Phân tích những BN có TLICS 2

điểm cho thấy tất cả đều có hình thái tổn thương vỡ vụn

thân đốt sống Chỉ định mổ cụ thể trên những BN này

như sau: 2/68 BN (chiếm 2,9%) điều trị nội khoa thất bại phải chuyển phẫu thuật cố định cột sống 11/68 BN (chiếm 16,2%) xương thân đốt bị vỡ vụn mức độ nặng làm xẹp thành trước thân đốt sống >50% và gây biến dạng gù thân đốt sống >25º hoặc xương thành sau thân đốt vỡ di lệch chèn ép >50% diện tích ống sống 9/68

BN (chiếm 13,2%) có thể điều trị bảo tồn thành công

Trang 4

TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016

1

7

2

8

3

9

4

10

5

11

6

12

BN Nguyễn Văn Q nam, 65 tuổi bị chấn thương vỡ

nhiều mảnh thân đốt sống L1, ống sống bị chèn ép 47%,

biến dạng gù thân đốt tối thiểu (ảnh 1 đến 4) Không

thấy có dấu hiệu tổn thương dây chằng, không có tổn

thương thần kinh, TLICS 2 điểm BN được điều trị bảo

tồn, sau 2 tháng, biến dạng gù tiến triển do thân đốt sống

L1 xẹp (ảnh 5, 6) Đau lưng dai dẳng điều trị nội khoa

không có kết quả, X quang sau 1 năm theo dõi thấy

chiều cao thành trước thân đốt sống xẹp hơn 50%, góc

gù thân đốt L1 là 250, ống sống hẹp (ảnh 7 đến ảnh 10)

Đã được phẫu thuật cắt cung sau L1 giải chèn ép, cố định cột sống và ghép xương phía sau (ảnh 11, 12) Tìm hiểu sự thay đổi điểm TLCS trước và sau mổ dựa vào ghi chép đánh giá tổn thương trong mổ cho thấy

có sự khác nhau khi cho điểm tổn thương dây chằng phía sau Điểm đánh giá tổn thương xương và tổn thương thần kinh không thay đổi trước và sau mổ Sau mổ có

sự thay đổi đánh giá tổn thương hệ thống dây chằng phía sau trong mổ so với đánh giá gián tiếp qua X quang và CLVT (bảng 4)

Bảng 4: So sánh tổn thương hệ thống dây chằng phía sau trước và sau mổ

Hệ thống DCPS trong mổ DCPS trước mổ Không tổn thương Tổn thương Tổng

Không tổn thương (36,7)25 (1,5%)1 (38,2)26

Nghi ngờ có tổn thương (16,2%)11 (8,8%)6 (25%)17

Trang 5

Phần 1: Phẫu thuật cột sống

thống dây chằng phía sau phát hiện có đứt dây chằng

trên gai và liên gai trong mổ 6/17 BN trong nhóm nghi

ngờ có tổn thương dây chằng phía sau (BN có TLICS

7 điểm) có đứt dây chằng trên gai và liên gai 11/17

BN cũng trong nhóm này (BN có TLICS 4 điểm) không

phát hiện thấy có tổn thương dây chằng trong mổ

BÀN LUẬN

Điều trị chấn thương cột sống đã có lịch sử lâu dài

tuy nhiên chỉ định can thiệp phẫu thuật còn nhiều qua

điểm chưa thống nhất Nguyên nhân chưa đạt được sự

đồng thuận trong chỉ định mổ là do có quan niệm khác

nhau trong đánh giá mất vững cột sống Theo phân loại

Denis, chấn thương gây tổn thương hai cột được cho

là mất vững cần phải phẫu thuật làm vững cột sống

Nghiên cứu của Choi cho thấy chỉ định mổ theo Denis

rất rộng so với chỉ định mổ được các tác giả Hàn Quốc

áp dụng trên lâm sàng [1] Hơn nữa, có tác giả áp dụng

phẫu thuật BN CTCS không có mất vững với mục đích

giúp người bệnh giảm đau nhanh chóng nhờ cố định

bên trong chắc chắn Dai điều trị bảo tồn cho 127 BN

gãy Denis loại B, trong đó có 17,3% có tổn thương thần

kinh, đạt tỷ lệ thành công 94,5% [3] Như vậy có thể

thấy khá nhiều yếu tố ảnh hưởng tới việc ra quyết định

phẫu thuật Từ khi bảng phân loại, cho điểm mức độ

nặng CTCS ngực thắt lưng ra đời quyết định can thiệp

được lượng hoá, dễ có sự đồng thuận giữa các tác giả và

ở các thời điểm ra quyết định khác nhau Ở Việt Nam,

bảng TLICS chưa được biết đến rộng rãi, chỉ định mổ

còn chưa có được sự thống nhất Đối chiếu với chỉ định

mổ theo TLICS, 31% BN (CTCS vỡ nhiều mảnh thân

đốt sống) trong nhóm phẫu thuật của chúng tôi được

mổ khi điểm TLICS dưới 4 Như vậy, chỉ định can thiệp

phẫu thuật theo TLICS chặt chẽ hơn chỉ định mổ theo

các tiêu chí lâm sàng Tuy nhiên, BN vỡ vụn nhiều mảnh

thân đốt sống là loại CTCS thường có quyết định điều

trị gây tranh cãi Do vỡ xương ở phần chịu lực chính

nên cột sống có biến dạng gù Những BN biến dạng gù

lớn ở vùng ngực thắt lưng nếu không được phẫu thuật

nắn chỉnh, cố định chắc chắn sẽ tiến triển biến dạng,

cột sống không vững nên nguy cơ thất bại cao nếu điều

trị bảo tồn Trên y văn đã thông báo những BN có biến

dạng gù cột sống, mặc dù điểm TLCS nhỏ hơn 4 vẫn có

thể thất bại khi điều trị bảo tồn [1],[8] Nghiên cứu hồi

cứu nhóm BN được điều trị bảo tồn của Shen cho thấy

25/129 BN có điểm TLICS <4 phải chuyển phẫu thuật

có TLICS 2 điểm điều trị nội khoa thất bại phải chuyển phẫu thuật Nghiên cứu của Machino cũng cho thấy nếu

áp dụng chỉ định mổ theo TLICS có thể bỏ sót 13% BN

có điểm LSC (Load-Sharing Classification) từ 7 trở lên- những BN được khuyến cáo phẫu thuật tái tạo lại thân đốt sống do vỡ vụn nặng nề Kinh nghiệm của Machino cho thấy kết hợp hai bảng phân loại CTCS tính điểm hiện nay (TLICS và LSC) có thể đưa ra phương pháp điều trị tốt nhất [6]

13,2% BN có TLICS 2 điểm của chúng tôi khi đánh giá lại được chỉ định mổ với các tiêu chí lâm sàng chưa chặt chẽ Những BN này có thể được điều trị bảo tồn thành công Do vậy, trên quan điểm thận trong khi xét chỉ định can thiệp, TLICS là công cụ rất tốt đối với phẫu thuật viên để tránh sự dễ dãi, cảm tính trong chỉ định mổ Những BN có mức độ chấn thương nhẹ có thể cần nhiều thời gian hơn để đánh giá đáp ứng với điều trị nội khoa

Tổn thương hệ thống dây chằng phía sau được thừa nhận là yếu tố làm tăng mức độ mất vững cột sống trong chấn thương [5] Dây chằng được đánh giá bằng

X quang, CLVT, cộng hưởng từ (CHT) và trong một số trường hợp qua khám lâm sàng X quang và CLVT là các phương pháp chẩn đoán rẻ hơn và được trang bị phổ biến hơn CHT do đó được sử nhiều nhiều hơn CHT là phương tiện chẩn đoán rất có giá trị trong đánh giá tổn thương phần mềm Hình ảnh tổn thương dây chằng có thể nhìn thấy trực tiếp trên phim CHT trong khi X quang

và CLVT chỉ cho hình ảnh gián tiếp do vậy có thể có tỷ

lệ nhất định chẩn đoán thiếu chính xác Số liệu trong nghiên cứu trong bảng … cũng cho thấy những hạn chế

đó TLICS là bảng phân loại CTCS đầu tiên xem xét các yếu tố tổn thương thần kinh và dây chằng thể hiện

sự toàn diện trong đánh giá sự mất vững của cột sống Tuy nhiên, tiêu chí cho điểm 2 và 3 với tổn thương dây chằng không rõ ràng gây khó khăn cho người áp dụng [1] Nghiên cứu của Peter cũng cho thấy đánh giá tổn thương dây chằng có độ tin cậy thấp hơn đánh giá hình thái tổn thương xương và đánh giá tổn thương thần kinh [10] Đối chiếu đánh giá tổn thương dây chằng trước

mổ trong nghiên cứu này cho thấy BN sự khác biệt xảy

ra tuyệt đại đa số trong nhóm nghi ngờ tổn thương dây chằng Chính vì vậy cần thận trọng khi cho điểm nghi ngờ tổn thương dây chằng Trong những trường hợp chưa rõ ràng cần tiến hàng chụp CHT để có thêm thang tin đánh giá về dây chằng

Trang 6

TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016

KẾT LUẬN

Ứng dụng phân loại CTCS ngực thắt lưng và cho

điểm mức độ nặng để đánh giá chỉ định mổ theo lâm

sàng 68 BN CTCS ngực thắt lưng tại bệnh viện TƯQĐ

108 cho thấy:

- Chỉ định mổ dựa trên thang điểm TLICS chặt chẽ hơn chỉ định mổ theo lâm sàng Có 31% BN được chỉ định mổ với điểm TLICS nhỏ hơn 4 điểm

- TLISC chưa tính đến yếu tố mất vững tiến triển ở

BN CTCS có biến dạng gù lớn

Tài liệu tham khảo

1 Choi HJ, Kim HS, Nam KH, Cho WH, Choi BK, Han IH

(2015) Applicability of thoracolumbar injury classification

and severity score to criteria of Korean health insurance

review and assessment service in treatment decision of

thoracolumbar injury J Korean Neurosurg Soc 57(3):

174-177.

2 Dai LY, Jiang SD, Wang XY, Jiang LS (2007) A review of

the management of thoracolumbar burst fractures Surgical

Neurology 67: 221-231.

3 Dai LY, Jiang LS, Jiang SD (2008) Conservative treatment

of thoracolumbar burst fractures Spine 33(23): 2536-2544.

4 Farrokhi MR, Razmkon A, Maghami Z, Nikoo Z (2010)

Inclusion of fracture level in short segment fixation of

thoracolumbar fractures Eur Spine J 19: 1651-1656.

5 Joaquin AF, Lawrence B, Daubs M, Brocke D, Tedeschi

H, Vaccaro AR, Patel AA (2014) Measuring the impact of

the thoracolumbar injury classification and severity score

among 458 consecutively treated patients The Journal of

Spinal Cord Medicine 37(1): 101-106.

6 Machino M, Yukawa Y, Ito K, Morita D, Kanbara S, Kato

F (2012) The complement of the load-sharing classification

for thoracolumbar injury classification system in managing thoracolumbar burst fratures J Orthop Sci Doi 10.1007/ s00776-012-0319-4

7 Machino M, Yukawa Y, Ito K, Morita D, Kato F (2013)

Posterior ligamentous complex injuries are related to fracture severity and neurological damage in patients with acute thoracic and lumbar burst fractures Yonsei Med J 54(4): 1020-1025.

8 Mattei TA, Hanovnikian J, Dinh D (2014) Progressive

kyphotic deformity in comminuted burst fractures treated non-operatively: the Achilles tendon of the Thoracolumbar Injury Classification and Severity Score (TLICS) Eur Spine J 23(11): 2255-2262

9 Shen J, Zhang B, Hu Z (2015) Rick factors for the failure

of spinal burst fractures treated conservatively according to the Thoracolumbar injury classification and severity score (TLICS): a retrospective cohort trial Doi 10.1371/journal pone.0135735.

10 Peter L, Elizabeth OP, Ken T (2012) Reliability of the

thoracolumbar injury classification and severity score and comparison ưith the Denis classification for injury to the thoracic and lumbar spine Spine 37(26): 2161-21

Ngày đăng: 06/08/2020, 12:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w