1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phẫu thuật cắt xương chậu và ghép xương mác đồng loại điều trị trật khớp háng bẩm sinh

7 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 562,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu là: Đánh giá kết quả điều trị trật khớp háng bẩm sinh ở trẻ em độ tuổi từ 1 đến 3 tuổi với phẫu thuật cắt xương kết hợp ghép mác.

Trang 1

TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2012

Hồng Hải Đức,

Nguyễn Ngọc Hưng

Khoa Chỉnh hình

Bệnh viện Nhi TƯ

PHẪU THUẬT CẮT XƯƠNG CHẬU VÀ GHÉP XƯƠNG MÁC ĐỒNG LOẠI ĐIỀU TRỊ TRẬT KHỚP HÁNG BẨM SINH

Phẫu thuật cắt xương chậu sử dụng rộng rãi như một thành phần không thể thiếu của phẫu thuật điều trị loạn sản khớp hông ở trẻ em Các vấn đề như trượt mảnh ghép, dịch chuyển và hấp thụ, dẫn đến mất chỉnh sửa ổ cối được ghi nhận trong các trường hợp được điều trị tại Bệnh viện của chúng tôi Nghiên cứu hồi cứu kết quả lâm sàng và X quang 79 trường hợp btrật khớp háng bẩm sinh điều trị bằng cắt xương chậu và sử dụng xương mác đồng loại Trật khớp háng được phân loại theo Tonnis Chỉ số ổ cối là số đo cơ bản để theo rõi chính Thời gian theo dõi tối thiểu là 2 năm Giữa tháng giêng Năm 2009 và tháng 12 năm 2011, 79 khớp háng được phẫu thuật trên 73 bệnh nhân 63 trẻ gái (86,3%) và 10 trẻ trai (13,7%); 13 bệnh nhân (17,8%) tuổi từ 12 đến

18 tháng tuổi tại thời điểm phẫu thuật, 60 bệnh nhân (82,2%) tuổi từ 18 đến 36 tháng tuổi, với tuổi trung bình 22,4 tháng tại thời điểm phẫu thuật

Có 6 bệnh nhân (8,2%) có trật khớp hai bên 67 bệnh nhân (91,8%) bị trật khớp háng một bên 17 khớp háng bên phải (23,3%) và 56 khớp háng bên trái (76,7 %) Phân loại theo Tonnis: độ III có 26 khớp háng (32,9%), và độ IV có 53 khớp háng 67,1%) Tất cả bệnh nhân được phẫu thuật cắt xương theo Hung và ghép xương mác đồng loại Chỉ số ổ cối đã được cải thiện trước mổ trung bình là 42,50 và ngay sau mổ trung bình là 18,90, đồng tâm ổ cối đạt 96,2% Liền xương giữa mảnh ghép và xương chậu trung bình là 14 tuần (từ 12 tuần - 17 tuần) sau phẫu thuật Có 4 (5,1%) khớp háng trật khớp lại và bán trật khớp, có 3 (3,8%) khớp háng có hoại tử vô mạch chỏm xương đùi và 2 (2,5%) coxa magna Không có nhiễm khuẩn với ghép xương, phẫu thuật không cần cố định mảnh ghép bằng đinh Kirshner

Kết quả: Rất tốt 53 (67,1%); Tốt 20 (25,3%); Trung bình 3 (3,8%); Kém 3 (3,8%)

Phẫu thuật cắt xương chậu theo Hung cho phép các sử dụng vật liệu xương mác đồng loại với đường mổ ngắn, làm cho mảnh xương ghép ổn định không cần thiết phải cố định xương bên trong Kỹ thuật phẫu thuật an toàn và hiệu quả cho trẻ em từ 12 đến

36 tháng tuổi

TĨM TẮT

Nguyen Ngoc Hung

SUMARY

Background: Innominate osteotomy procedures have been widely used as an integral

component of combined surgery to treat developmental dysplasia of the hip in children Autograft concern is further supported by authors who suggest the routine use of internal fixation Problems such as graft extrusion, rotation and absorption, leading to loss of acetabular correction, were often noted in cases previously treated at our National Hospital for Pediatrics

Methods: This retrospective study reviewed the radiographs of 79 hips presenting with

developmental dislocation which were treated by modified Salter’s innomiate osteotomy and using a fibular allograft as the interposition material Dislocations of the hip were

Trang 2

variable The minimum follow up period was 2 years Possible complications such as loss of acetabular correction, hip redislocation, graft extrusion or resorption, the need for osteotomy internal fixation, adelayed or non union, infection or avascular necrosis (AVN) were documented in this series

Results: Between January 2009 and December 2011, 79 surgeries were performed in

73 patients Sixty-three (86.3%) of the patients were girls and ten (13.7%) were boys, thirteen patients (17.8%) were between twelve and eighteen months old at the time of the operation, the remaining sixty (82.2%) patients being between eighteen and thirty-six months old, with the mean age of 22.4 months at the time of surgery There were thirty-six (8.2%) patients had bilateral dislocation Sixty - seven (91.8%) patients were affected unilaterally The right hip was involved in seventeen (23.3%) and the left hip in fifty-six (76.7%) cases Tönnis system Type III was in 26 hips (32.9%), and Type IV was in

53 hips (67.1%) All patients combined open reduction and modified Salter’s innomiate osteotomy, inserting a fibular allograft as the interposition material Acetabular index was improved, preoperation was 42.5˚, and latest follow-up 18.9˚, concentrical acetabulum 96.2% All of the fibulat allografts were completely incorporated mean 14 weeks (range, 12 weeks - 17 weeks) post-surgery There were four (5.1%) redislocation and subluxation, three AVN (3.8%) and two (2.5%) coxa magna Without graft infections, none of the osteotomies required internal fixation for stability Final results: Excellent 53 (67.1%), Good 20 (25.3%), Fair 3 (3.8%), Poor 3 (3.8%)

Conclusion: Open reduction and modified Salter’s innomiate osteotomy allow

interposition material by fibular allografting with a short operative incision, renders excellent osteotomy stability that eliminates the need for internal fixation Surgical technique are safe and effective for Children between twelve and thirty-six months old.

I ĐặT VấN Đề

Trật khớp háng bẩm sinh (Developmental dysplasia

(dislocation) of the hip - DDH) là một bệnh lý khó khăn

của ngành Chỉnh hình Nhi Chẩn đoán và nắn chỉnh sớm

trật khớp háng bẩm sinh là rất quan trọng, để có được một

tiên lượng tốt

Salter mô tả một cắt xương mà chuyển hướng ổ cối để

sửa khớp háng chứng loạn sản và báo cáo kết quả tốt hoặc

rất tốt 92% bệnh nhân [1] dựa vào phim Xquang

Phẫu thuật mở khớp háng và cắt xương của Salter đã

trở thành một phẫu thuật phổ biến trong điều trị DDH [2]

[3] Những thất bại vẫn là một vấn đề lâm sàng có liên

quan đến tỷ lệ cao cứng khớp, loạn sản tồn dư, và hoại tử

vô mạch (AVN) [4], [5]

Ở Việt Nam, đa số bệnh nhân đến muộn, việc phẫu

thuật là cần thiết để đặt lại chỏm xương đùi vào ổ cối tạo

mối quan hệ phù hợp của chúng

Bệnh nhân cần được theo dõi để phát hiện những

biến dạng khác trong quá trình phát triển và điều trị khi cần thiết

Ghép xương đồng loại đã được các tác giả thế giới đề nghị sử dụng cho trẻ em, đặc biệt là ở trẻ lớn với độ an toàn và hiệu quả [6]

Mục đích nghiên cứu là: Đánh giá kết quả điều trị trật khớp háng bẩm sinh ở trẻ em độ tuổi từ 1 đến 3 tuổi với phẫu thuật cắt xương kết hợp ghép mác

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng

Lựa chọn bệnh nhân: Nghiên cứu này chỉ bao gồm trẻ

em có DDH, tuổi từ 12-36 tháng tại thời điểm phẫu thuật,

và phẫu thuật mở cắt xương chậu và ghép xương mác đồng loại

Theo dõi thời gian tối thiểu 2 năm sau phẫu thuật và tại thời điểm theo dõi cuối cùng đánh giá kết quả để đưa vào nghiên cứu này

Trang 3

TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2012

Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

- Các bệnh nhân được lựa chọn vào nghiên cứu

là các bệnh nhân có chẩn đoán xác định là trật khớp

háng bẩm sinh và có chỉ định mổ Bệnh nhân > 12

tháng tuổi đến < 36 tháng tuổi

- Chẩn đoán xác định dựa vào lâm sàng và X

quang: góc AI > 350

Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm:

-Những trường hợp chưa đủ điều kiện để thực

hiện phẫu thuật như mắc bệnh toàn thân Bệnh nhân

trật khớp háng kèm bại não thể co cứng 2 chi dưới và

các bệnh lý thần kinh cơ khác Có loạn sản khớp háng

không có trật khớp Viêm dính đa khớp bẩm sinh

2 Phương pháp nghiên cứu

Tiến cứu, mô tả cắt ngang

Lâm sàng:

Khai thác bệnh sử bao gồm các yếu tố nguy cơ:

- Con so (con thứ mấy); Trẻ gái; Ngôi mông (kiểu

sinh); Thiểu ối; Bên trái > Phải; Tiền sử gia đình;

Tuổi sinh của mẹ; Tình trạng lúc sinh

* Khám lâm sàng trước và sau mổ

- Khám mất vững khớp; Ngắn chi; Đo tầm vận

động khớp háng các góc: Giang/ khép, Gấp/ duỗi,

Xoay trong/ xoay ngoài; Dáng đi tập tễnh; Đau; Chức

năng sinh hoạt hàng ngày

* Các bệnh lý kết hợp

- Vẹo cổ bẩm sinh; Bàn chân khoèo; Bàn chân

khép

*Cận lâm sàng:

Dấu hiệu X quang

- Bệnh nhân được ghi nhận trật khớp theo phân

độ Tönnis [7]

Độ 1 Tâm cốt hóa chỏm xương đùi nằm trong

đường Perkin

Độ 2 Tâm cốt hóa chỏm xương đùi nằm ngoài

đường Perkin nhưng dưới gờ trên ổ cối

Độ 3 Tâm cốt hóa chỏm xương đùi nằm ngang

gờ trên ổ cối

Độ 4 Tâm cốt hóa chỏm xương đùi nằm trên gờ

trên ổ cối

- Dấu hiệu hoại tử chỏm trên X quang

- Góc AI (Acetabular Index) được đo trước mổ,

ngay sau phẫu thuật và 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm

- Cổ xương đùi xoay trước

- Góc thân xương và cổ xương đùi

- Ổ cối nghiêng trước (AAV) Đánh giá MRI ổ cối nghiêng trước

Chúng tôi không sử dụng góc CE của Weiberg

- Đánh giá hoại tử vô mạch (AVN) của chỏm xương đùi được phân loại theo

Kalamchi và Mac- Ewen của [8]

Kỹ thuật phẫu thuật tạo hình khớp háng Phẫu thuật

Vào khớp theo đường mổ mặt trước khớp hông Bệnh nhân nằm ngửa, kê độn mông bên bệnh Rạch da dưới gai chậu trước trên 1 cm, theo dọc nếp bẹn, dài 4 cm Tách vào giữa cơ may và cơ thắt lưng chậu, tách và bảo vệ dây thần kinh đùi Tách theo cơ thắt lưng chậu xuống dưới, cắt gân cơ thắt lưng chậu sát với mấu chuyển bé Tiến hành bộc lộ điểm bám của nguyên ủy cơ thẳng đùi, cắt gân cơ sát với gai chậu trước dưới Bộc lộ bao khớp hông Cắt nguyên

uỷ cơ thẳng đùi sát với gai chậu trước dưới

Mở khớp hông Mở khớp theo hình “T” theo sát với mép trên ổ cối, đường vuông góc hình “T” theo dọc cổ xương đùi Nếu mép sụn ổ cối phì đại, tiến hành cắt bỏ Xác định, cắt dây chằng tròn, cắt dây chằng ngang ổ cối, lấy bỏ tổ chức mỡ và làm sạch

ổ cối Phẫu thuật viên kiểm tra ổ cối bằng ngón tay, nếu làm được dễ dàng là đạt yêu cầu Nắn chỉnh đưa chỏm xương đùi vào ổ cối

Cắt xương chậu Trong tất cả khớp hông, vị trị vững khớp khi khớp hông giang 450, gấp 300 Nếu khớp hông khép và duỗi, khớp hông không vững và chỉ số ổ cối trên 350 sẽ được tiến hành cắt xương chậu Tiến hành bộc lộ bản trong xương chậu, không bộc lộ bản ngoài Cắt xương chậu: (1) Đường thứ nhất ngay mép trên và vuông góc với gai chậu trước dưới dài 5 mm; (2) Đường thứ hai tạo với đường thứ nhất một góc 1350, dài 7 mm; (3) Đường thứ ba nối với đường thứ nhất (theo dấu đường cắt xương của Salter), chếch lên trên 600, dài 15 mm, về tới đường thứ nhất; (4) Đường thứ tư, tiếp nối và vuông góc với đường thứ ba, đi xuống ngoại vi dài 10 mm; (5) Đường thứ năm, vuông góc với đường thứ tư dài 10

mm (Hình 1)

Trang 4

Tiến hành giãn đường cắt xương Sử dụng nạo xương

nhỏ tạo rãnh nhận xương ghép tại hai mặt cắt xương của

xương chậu Đặt mảnh ghép xương mác đồng loại vào

giữa hai mặt cắt Tháo bỏ dụng cụ giãn xương chậu, mảnh

ghép xương mác đồng loại được ép giữa hai mảnh xương

chậu Kiểm tra mảnh ghép ổn định, vững, không có khả

năng xoay hoặc dịch chuyển vào trong hoặc ra ngoài

Nắn chỉnh nhẹ nhàng đưa đầu xương đùi và ổ cối Sau

khi tạo hình bao khớp bằng chỉ Vicryl 3/0, tiến hành chụp

X quang Kết quả phẫu thuật đạt yêu cầu, tiến hành đóng

vết mổ bằng chỉ Vicryl 3/0

Chăm sóc sau phẫu thuật

Ngay sau mổ, bênh nhân được bột chậu chân tại bàn

mổ, gấp hông 300, giang 450, xoay trong 200

- Thay bột chậu lưng chân đùi sau 12 tuần

Sau thời gian bó bột như trên bệnh nhân được chụp

phim X quang đánh giá

Bệnh nhân tiếp tục được mang nẹp bột chậu - lưng -

đùi một nửa phía sau 3 tháng, trong

thời gian ban đêm Sau thời gian trên bệnh nhân được

mang nẹp giang cho tới khi ổ cối ổn định., liền xương thấy

được trên film Xquang

Đánh giá kết quả

- Khám định kỳ 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm

- Đánh giá lại lâm sàng: độ vững khớp, dáng đi, chiều

dài chân, đau, tầm vận động khớp, chức năng sinh hoạt

hàng ngày

- Chụp X-quang đánh giá: Vị trí chỏm khớp, dấu hiệu hoại tử chỏm, liền xương, góc AI, đường Shenton

Đánh giá kết quả theo tiêu chuẩn cải biên của Barrett [28]:

- Kết quả rất tôt: Ổn định, khớp háng không đau, không khập khiễng, dấu hiệu

Trendelenburg âm tính, vận động hết tầm

- Kết quả tốt: Ổn định, không đau khớp háng, khập khiễng nhẹ, hạn chế nhẹ tầm vận động

- Kết quả khá: Ổn định, khớp háng đau, khập khiễng, dấu hiệu Trendelenburg

dương tính, và hạn chế phạm vi của vận động, hoặc kết hợp các yếu tố này

- Kết quả kém: khớp háng không ổn định hoặc đau đớn, hoặc cả hai; dấu hiệu

Trendelenburg dương tính

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Có 73 bệnh nhân (79 khớp hông) đã được phẫu thuật theo phương pháp này

63 trẻ gái (86,3%) và 10 trẻ trai (13,7%); 13 bệnh nhân (17,8%) tuổi từ 12 đến 18 tháng tuổi tại thời điểm phẫu thuật, 60 bệnh nhân (82,2%) tuổi từ 18 đến 36 tháng tuổi, với tuổi trung bình 22,4 tháng tại thời điểm phẫu thuật

Có 6 bệnh nhân (8,2%) có trật khớp hai bên 67 bệnh nhân (91,8%) bị trật khớp háng một bên 17 khớp háng bên phải (23,3%) và 56 khớp háng bên trái (76,7 %)

Trang 5

TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2012

Theo phân loại của Tưnnis: độ III cĩ 26 khớp

háng (32,9%), và độ IV cĩ 53 khớp háng (67,1%)

Tất cả các trường hợp đều được phẫu thuật cắt

xương chậu và ghép xương mác đồng loại

Cắt ngắn xương đùi thực hiện trong 8 trường hợp

(10,1%)

Phẫu thuật khơng cố định mảnh ghép và xương

chậu bằng đinh Kirshner (100% )

Liền xương giữa mảnh ghép và xương chậu trung bình là 14 tuần (từ 12 tuần - 17 tuần) sau phẫu thuật Thời gian phẫu thuật trung bình là 90 phút (80 -

100 phút)

Mất máu từ phẫu thuật là chấp nhận được Sau phẫu thuật, truyền máu khơng cần thiết

Bảng 1: So sánh chỉ số ổ cối trước và sau phẫu thuật

Chỉ số ổ

cối

Chỉ số ổ cối trước phẫu thuật

Chỉ số ổ cối sau phẫu thuật

Ngay sau mổ

3 tháng 6 tháng 12 tháng 24 tháng Thời điểm

cuối

Khoảng 36.17 -

51.56

18.92 - 20.52

18.36 - 28.10

16.64 - 26.35

15.26 - 25.38

16.14 - 23.43

14.08 - 21.83

Cĩ 6 khớp háng (7,6%) chỉ số ổ cối > 500 Trước

phẫu thuật chỉ số ổ cối trung bình là 42,4630, dao

động từ 35,070 đến 52,090 (SD = 4,582) So chỉ số

ổ cối trước phẫu thuật và chỉ số ổ cối ngay sau phẫu

thuật với Pvaluate là 0.0000001; chỉ số ổ cối ngay sau

phẫu thuật và sau phẫu thuật 3 tháng với Pvaluate là

0.0000001; chỉ số ổ cối sau mổ 3 tháng và chỉ số ổ

cối sau phẫu thuật 6 tháng với Pvaluate là 0,0000001;

chỉ số ổ cối 6 tháng sau phẫu thuật và chỉ số ổ cối sau

phẫu thuật 12 tháng với Pvaluate là 0.0000001; chỉ

số ổ cối sau phẫu thuật12 tháng và sau phẫu thuật 24

tháng với Pvaluate là 0.0000001; chỉ số ổ cối sau phẫu

thuật 24 tháng và chỉ số ổ cối sau cùng với Pvaluate

là 0,102205

Gĩc cổ xương đùi xoay trước: Trung bình 27,7260

(SD = 12,153)

Gĩc Thân-cổ xương đùi: Trung bình 149,6490

(SD = 5,815)

Ổ cối nghiêng trước: Trung bình: 21,2330 (SD =

5.264)

AVN: Độ III: 2, Độ IV: 1 Cĩ 2 của 79 khớp háng

(2,5%) trường hợp to chỏm, cổ xương đùi (coxa

magna) theo dõi lâu nhất bằng Xquang, 1 cas độ III

và 1 cas độ IV

Tại thời điểm mới nhất theo dõi, 73 trong số 79

bệnh nhân (92,4%) cĩ chức năng khớp háng tốt và rất

Chức năng khớp háng trung bình và kém ở 5 bệnh nhân vì hạn chế vận động, chủ yếu là liên quan đến xoay trong/ xoay ngồi của khớp háng; chỏm xương đùi biến dạng trong 3 khớp háng

Về kết quả X-quang, 56 khớp háng được phân loại như Severin độ I, 17 khớp háng độ II và 6 khớp háng

độ III

Kết quả : Rất tốt 53 (67,1%); Tốt 20 (25,3%); Trung bình 3 (3,8%); Kém 3 (3,8%)

Thời gian theo rõi sau mổ: Trung bình 32 tháng (26-42 tháng)

Các biến chứng khác Bệnh nhân của chúng tơi khơng cĩ nhiễm trùng vết mổ, tổn thương thần kinh, gãy xương đùi, cứng khớp, và loạn sản tồn dư

IV BÀN LUẬN

Ghép xương được sử dụng trong phẫu thuật chỉnh hình nhi khoa Một số tác giả đã tiến hành ghép xương đồng loại cho Sai khớp háng bẩm sinh như: Trevor

D L J và Fixen J A 1975 [10] tạo hình ổ cối với sử dụng xương ghép là xương sườn; Kessler và cộng sự

2001 ghép xương bánh chè đồng loại cắt xương theo Pemberton; Grudziak và Ward 2001 ghép xương mác cắt thành nhiều phần hình thang trong cắt xương theo Dega; Wade năm 2010, sử dụng xương chậu điều trị trật khớp háng Trong nghiên cứu này, chúng tơi sử

Trang 6

trước, chỏm xương đùi xoay trước Dunn, Notley 1952

cho rằng kiểm tra thực tế lâm sàng của khớp háng là chính

xác hơn Tác giả nói rằng để xác định góc xoay trước cần

phẫu thuật mở khớp háng Massie và Howorth 1951, cũng

như Durham 1915 khuyến cáo xương đùi với xoay trước

lớn hơn 450 nên được sửa chữa bởi cắt xương; Sankar

2011 cho rằng cắt xương đùi nếu xương đùi xoay trước

> 500 Trong khi Warndorf 1912 chỉ làm một cắt xương

nếu có góc ≥ 600, Berkeley 1984 với xoay trước xương

đùi > 600 được xác định tại thời điểm phẫu thuật được

coi là một dấu hiệu cho cắt xương xoay trục Điều này

đã được thực hiện trước hoặc sau khi nắn chỉnh Hibbs

1915 cũng ủng hộ việc cắt xương, thường trước nắn chỉnh

Tuy nhiên, Farrell, Von Lackum, và Smith năm 1926 đã đề

nghị cắt xương không nên thực hiện cho đến sau khi khớp

háng đã nắn chỉnh Những tác giả khác, Lorenz 1905,

Bradford 1923, Soutter 1924 cho rằng một cắt xương là

không cần thiết và xoay trước của cổ xương đùi thường sẽ

tự sửa chữa Lorenz 1905, cho lại rằng tác động điều chỉnh

của xoay trước có thể dẫn đến sai khớp ra sau Chúng tôi

đồng ý với Kumar và cộng sự năm 1999 cho rằng cắt ngắn

xương đùi có thể kéo dài thời gian phẫu thuật, tăng mất

máu, hoặc tăng tỷ lệ của AVN

Mảnh ghép xương mác có hình chêm phù hợp với hình

cắt xương chậu Xương hình tam giác có chiều rộng của

nó góp phần vào sự ổn định vị trí gếp xương, và tiếp tục

tăng cường ổ định của trần ổ cối Có hai cầu xương và hai

rãnh của mảnh trên và dưới của xương chậu, sự ổn định

này giúp cho mảnh ghép không xoay, hoặc trượt Ổn định

của mảnh ghép đặc biệt này là cơ sở để không cần cố định

trong cắt xương Trong nghiên cứu này, trượt mảnh ghép

không đã không xẩy ra Tất cả các mảnh ghép xương

mác đều liền hoàn toàn 14 sau tuần phẫu thuật, với thời

gian này được coi là đủ để đánh giá ghép xương mác đồng

loại cho xương chậu

Phương pháp phẫu thuật này đã giúp nắn chỉnh đồng

tâm và khớp háng ổn định ở 96,2% Trung bình điều chỉnh

của ổ cối loạn sản là 18,90 Các chỉ số ổ cối đã được duy

trì trong giai đoạn hậu phẫu và được duy trì một cách tự

nhiên theo thời gian, 6 tháng trung bình là 21,070 và trong

giai đoạn theo rõi sau 2 năm là 19,450, tại thời điểm theo

dõi sau cùng là 19.150

Sau chuyển hướng của cắt xương, mảnh trên của xương

chậu trở nên đường ngang, làm cho các chêm xương ổn

định hơn Chúng tôi cho rằng đây là yếu tố chính làm tăng

ổn định Đánh giá qua Xquang đã chứng minh rằng thay

quả của chúng tôi Chỉ số ổ cối được cải thiện trong giới hạn bình thường ngay trong giai đoạn sau mổ và tiếp tục cải thiện về sau Lin và các cộng sự năm 2000 báo cáo sửa chữa trung bình là 130, Bohm và Brzuske 2002 trung bình 11,90 với kỹ thuật cắt xương Salter Kết quả của chúng tôi trung bình là 16,80

Phẫu thuật Salter bộc lộ cả hai bản xương xương chậu làm tăng chảy máu trong phẫu thuật [11] Kỹ thuật của chúng tôi không bộc lộ bản ngoài nên giảm chảy máu trong phẫu thuật, số lượng máu mất là có thể chấp nhận được Thêm nữa, cơ giang không bị tổn thương nên dấu hiệu Trendelenburg không gặp trong những bệnh nhân này Trật khớp và bán trật khớp tái phát

Trong trật khớp bẩm sinh (DDH) xảy ra ở khoảng 3% phẫu thuật cho đường mổ trước và 5% đến 14% cho đường mổ trong [7] Trong bất kỳ loại trật khớp bẩm sinh, nguyên nhân gây ra thất bại của điều trị có thể được thấy một trong những nguyên nhân: Thời gian: 1) Tại thời điểm nắn chỉnh; 2) thời gian bất động, và 3) sau khi cố định Một trật khớp tái phát lại xảy ra sau khi nắn chỉnh mở thành công và sau khi tháo bỏ bất động bột (3 tháng) Ba trường hợp bán sai khớp xảy ra sau khi nắn chỉnh mở thành công, một trong thời gian cố định, hai trong ba tháng đầu sau

mổ, và một sau ba tháng Thời gian trung bình để nhận thấy thất bại là bốn tháng Tuy nhiên, một trong những trật khớp lại bên phải, những bệnh nhân phẫu thuật khớp háng hai bên, không duy trì cố định, có thể là do mô mềm trong

ổ cối không được lấy hết gây cản trở việc nắn chỉnh Phát hiện của chúng tôi trong những trường hợp một bên tương tự với một số tác giả khác (Hsiech S M, Huang

S C 1998) Chúng tôi cho rằng thất bại do không lấy hết

mô mềm trong ổ cối là nguyên nhân cho trật khớp lại trong trường hợp bị một bên [12]

Thất bại tạo hình bao khớp Trong ba bệnh nhân, có bao khớp lỏng lẻo và mỏng ở phần trước có thể tạo hình bao khớp thất bại Thành công của việc sửa chữa bao khớp

là rất quan trọng trong vài tuần đầu tiên sau khi phẫu thuật

mở, căng và chặt quá mức có thể có tác dụng ngược lại Phẫu thuật làm chặt bao khớp có thể dẫn đến bán trật ra sau của chỏm xương đùi, đặc biệt trong phẫu thuật theo Salter

Biến chứng và hoại tử vô mạch chỏm xương đùi (AVN) Trong năm 1960, điều trị trật khớp háng bẩm sinh được cải thiện rõ rệt Trước thời gian này tỷ lệ hoại tử vô mạch liên quan đến chỏm xương đùi là 70% sau nắn chỉnh kín

Trang 7

TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2012

(Rafael E 1960) Hoại tử vô mạch được hiểu như là

phần lớn do điều trị và do mô mềm căng [11] Kết

quả là tỷ lệ hoại tử vô mạch đã được báo cáo là nhỏ

nhất là 5% sau khi điều trị nắn chỉnh kín và 0% sau

khi nắn chỉnh mở (Rafael E 1960)

KẾT LUẬN

Trật khớp háng bẩm sinh là một bệnh lý khó khăn

của ngành chấn thương chỉnh hình

Tạo hình ổ cối sử dụng mảnh xương ghép là

xương mác đồng loại có nhiều ưu điểm, đảm bảo kết

quả phẫu thuật, an toàn Tất cả các trường hợp ghép mác liền xương hoàn toàn 17 tuần sau phẫu thuật, thời gian trung bình là 14 tuần Chỉ số ổ cối đã được cải thiện trước phẫu thuật trung bình là 42,50, ngay sau phãu thuật trung bình là 18,90, đồng tâm ổ cối đạt 96,2%

Kết quả cuối cùng: Rất tốt 53 (67,1%); Tốt 20 (25,3%); Trung bình 3 (3,8%); Kém 3 (3,8%)

Tài liệu tham khảo

1 Salter R B (1961) Innominate Osteotomy in the

Treatment of Congenital Dislocation and Subluxation

of the Hip The Journal of Bone AND Joint Surg; 43 (3): 518-539.

2 Gulman B, Tuncay I C, Dabak N and Karaismailoglu

N (1994) Salter’s Innominate Osteotomy in the

Treatment of Congenital Hip Dislocation: A Long-Term Review Journal of Pediatric Orthopaedics; 14 (5):

662-666

3 Morin C, Rabay and G Morel (1998) Retrospective

Review at Skeletal Maturity of the Factors Affecting the Efficacy of Salter’s Innominate Osteotomy in Congenital Dislocated, Subluxed, and Dysplastic Hips Journal of Pediatric Orthopaedics; 18 (2):

246-253

4 McCluskey W P, Bassett G S, Mora-Garcia D and MacEwen G D (1998) Treatment of Failed Open

Reduction for Congenital Dislocation of the Hip

Journal of Pediatric Orthopaedics; 9 (6): 633-639

5 Hsiech S M and Huang S C (1998) Treatment of

Developmental Dysplasia of the Hip after Failed Open Reduction Journal of the Formosan Medical Association; 97 (11): 763-769.

6 Tavares JO and Molinero K (2006) Elevation of

Medial Tibial Condyle for Severe Tibia Vara Journal

of Pediatric Orthopaedics B; 15 (5): 362-369.

7 Tönnis D (1987) Review of the Literature on Open

Reduction of the Hip in Congenital Dysplasia and Dislocation of the Hip in Children and Adults Springer, Berlin Heidelberg New York 332-342.

8 Kalamchi A and MacEwen G D (1980) Vascular

Necrosis Following Treatment of Congenital Dislocation of the Hip The Journal of Bone and Joint Surgery; 62 (6): 876-888.

9 Barrett W P, Staheli L T and Chew D E (1986) The

Effectiveness of the Salter Innominate Osteotomy in the Treatment of Congenital Dislocation of the Hip The Journal of Bone & Joint Surgery; 68 (1): 79-87.

10 Trevor D L J and Fixen J A (1975) Acetabuloplasty

in the Treatment of Congenital Dislocation of the Hip The Journal of Bone and Joint; 57-B (2): 167-174.

11 Salter R B, Kostuik J and Dallas S (1969) Avascular

Necrosis of the Femoral Head as a Complication

of Treatment for Congenital Dislocation of the Hip

in Young Children: A Clinical and Experimental Investigation Canadian Journal of Surgery; 12 (1): 44-61.

12 Nguyen Ngoc Hung (2013) Congenital Dislocation

of the Hip in Children between the Ages of One and Three: Open Reduction and Modified Salter Innominate Osteotomy Combined with Fibular Allograft Open Journal of Orthopedics; 3: 137-152

Ngày đăng: 06/08/2020, 12:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w