Mục đích luận án là xác định và làm rõ lớp từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện ngữ liệu thông quan nghiên cứu tổng quan tình hình và xác lập cơ sở lý luận nghiên cứu; phân loại và mô tả đặc điểm ngôn ngữ của các đơn vị từ ngữ; tìm hiểu hoạt động của lớp từ ngữ Công giáo trong tiếng Việt thông qua một số sáng tác văn học Việt Nam.
Trang 1VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
VŨ VĂN KHƯƠNG
TỪ NGỮ CÔNG GIÁO TRONG CÁC BẢN KINH NGUYỆN CỦA CÁC GIÁO PHẬN DÒNG
TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số : 9.22.01.02
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội, 2020
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Công Đức
Phản biện 1: GS.TS Nguyễn Thiện Giáp
Phản biện 2: PGS.TS Phạm Hùng Việt
Phản biện 3: PGS.TS Lê Thị Lan Anh
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại:
vào hồi ……… giờ … ngày … tháng ….năm………
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Trang 4
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công giáo (CG) là một trong những tôn giáo lớn tại Việt Nam (VN), có những đóng góp đáng kể cho tiếng Việt, đặc biệt là thành quả chữ Quốc ngữ Dầu vậy, hiện có ít nghiên cứu về từ ngữ CG trong tiếng Việt
Các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại VN vừa có các từ ngữ giáo lí, thần học…giống như thuật ngữ, vừa có những từ ngữ sử dụng trong đời sống mang đặc trưng của cộng đồng Công giáo; vừa có những từ ngữ mang dấu vết thời kì đầu chữ Quốc ngữ, vừa có những từ ngữ hiện đại… nên
có thể nói, phản ánh khá đầy đủ đặc trưng của từ ngữ CG tiếng Việt Vì vậy, việc chọn đối tượng này góp phần làm rõ lớp từ ngữ CG tại VN là hữu lý Kết quả nghiên cứu của luận án góp thêm vào thành quả các công trình nghiên cứu tiếng Việt nói chung, từ ngữ Công giáo tại Việt Nam nói riêng; đồng thời giúp cho việc hiểu biết và sử dụng kinh nguyện CG, hướng tới xây dựng tập ngữ vựng CG, góp phần chuẩn hóa từ ngữ CG tiếng Việt…Đây chính là những lí do để chúng tôi chọn đề tài
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích luận án là xác định và làm rõ lớp từ ngữ CG trong các bản kinh nguyện ngữ liệu Để đạt mục đích này, luận án có các nhiệm vụ sau: Tổng quan tình hình và xác lập cơ sở lý luận nghiên cứu; Phân loại và mô tả đặc điểm ngôn ngữ của các đơn vị từ ngữ; Tìm hiểu hoạt động của lớp từ ngữ CG trong tiếng Việt thông qua một số sáng tác văn học Việt Nam
3 Đối tượng, phạm vi và ngữ liệu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Từ ngữ CG trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại VN
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Chủ yếu thuộc ngành Từ vựng học, cụ thể, dưới các phương diện: sự hình thành, các đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa và hoạt động của từ ngữ CG
3.3 Ngữ liệu nghiên cứu:
Gồm 9 bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam, bao gồm các giáo phận: Hải Phòng, Bùi Chu, Bắc Ninh, Thái Bình, Lạng Sơn Bản
Trang 5kinh sớm nhất in năm 1865, bản muộn nhất in năm 2010, trừ bản kinh Giáo phận Lạng Sơn không có năm ấn bản
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Nhằm giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, luận án chủ yếu sử dụng phương pháp khảo sát văn bản để thu thập các từ ngữ CG được sử dụng trong các văn bản tư liệu, làm đối tượng nghiên cứu; Và phương pháp miêu
tả ngôn ngữ học để tìm hiểu, phân loại và miêu tả các từ ngữ CG trong các bản kinh nguyện
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Tìm ra các con đường hình thành, chỉ ra cơ chế tạo sinh, làm rõ các đặc điểm nguồn gốc và Việt hóa của các từ ngữ CG vay mượn
- Qua việc nghiên cứu hoạt động của từ ngữ CG trong đời sống tiếng Việt, luận án đánh giá mối tương quan hữu cơ giữa CG với nền văn hóa – xã hội tại Việt Nam được biểu hiện qua ngôn ngữ
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lí luận: Góp phần bổ sung những vấn đề mang tính lý luận của
Ngôn ngữ học qua một ngữ liệu cụ thể; góp phần làm rõ các đặc điểm ngôn ngữ của lớp từ ngữ CG trong các bản kinh nguyện ngữ liệu
6.2 Ý nghĩa thực tiễn: Luận án góp thêm một nghiên cứu cụ thể về biệt ngữ
cho Việt ngữ học Kết quả nghiên cứu của luận án có thể phục vụ cho công tác nghiên cứu ngôn ngữ CG
7 Cấu trúc luận án: Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết liên quan đến
đề tài nghiên cứu
Chương 2: Con đường hình thành từ ngữ CG trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại VN
Chương 3: Đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của các từ ngữ CG trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam
Chương 4: Từ ngữ CG trong đời sống tiếng Việt
Trang 6Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ
THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Đặt vấn đề
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.2.1 Các nghiên cứu từ ngữ CG trên thế giới
Ngay đầu Công nguyên, các tài liệu giải thích khái niệm CG đã xuất hiện [63] Nhưng sang thế kỷ XX, việc nghiên cứu từ ngữ CG mới được đề cập dưới khía cạnh học thuật của Ngôn ngữ học [138] Ban đầu, các công
trình chủ yếu theo quan điểm Từ vựng học, tìm hiểu nguồn gốc và giải thích
nghĩa từ ngữ, như O.Jesperson [139], Donald M Ayers [135]
Từ cái nhìn tôn giáo như bản chất con người, một số nhà ngữ học như Franz Boas, Edward Sapir, Benjamin Lee Whorf…đi tiên phong nghiên cứu
phạm trù ngôn ngữ và tôn giáo theo quan điểm Ngôn ngữ học nhân học [36]
Các tác giả đi sâu phân tích, chứng minh mối liên hệ nội tại giữa ý nghĩa cơ bản của từ ngữ với chính trị, tôn giáo… của nền văn hoá cổ đại hiện đang còn ảnh hưởng đến nền văn hoá hiện đại
Khuynh hướng thứ ba theo chuyên ngành Ngôn ngữ học xã hội, nghiên
cứu nhân tố tôn giáo can thiệp tới tiến trình chuyển biến hay ổn định của một cộng đồng ngôn ngữ, như: David Crystal [134], William Samarin [144]… Trong đó, nghiên cứu chức năng yếu tố tôn giáo trong ngôn ngữ, có: W Stewart [145], John F Swayer và J.M.Y Simpson ; nghiên cứu về vấn đề chính sách ngôn ngữ, có B Spolsky [143]…
1.2.2 Các nghiên cứu từ ngữ CG trong nước
Việc nghiên cứu từ ngữ CG tại VN không nhiều, chủ yếu dưới góc độ
Từ vựng học, đặc biệt xuất hiện nhiều trong các cuốn từ điển các loại: song ngữ, đa ngữ: [23], [31]…; từ điển chuyên môn đơn ngữ: [45], [80],
Các bài viết giải thích ý nghĩa từ ngữ CG, nhấn mạnh tới các từ ngữ CG
cũ, nay ít sử dụng: [154], [155] Các bài viết giải thích từ ngữ nhấn mạnh tới ý nghĩa thần học, khái niệm tôn giáo: [157], [148], [149]…; Một hướng khác nghiên cứu từ ngữ CG tại VN là đối tượng gián tiếp của các công trình nghiên cứu về lịch sử chữ Nôm, lịch sử chữ Quốc ngữ, lịch sử tiếng Việt dựa
Trang 7trên các văn bản CG: [66], [34], [108], [74] …
Gần đây, nhiều tác giả nghiên cứu tương quan CG với văn hoá, xã hội VN đã gián tiếp đề cập từ ngữ CG dưới quan điểm Ngôn ngữ học nhân chủng và Ngôn ngữ học xã hội [17], [99]…
Tổng quan tình hình nghiên cứu trên cho thấy chưa có công trình nào nghiên cứu về từ ngữ CG trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại VN
1.3 Cơ sở lí thuyết của việc nghiên cứu các từ ngữ CG trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại VN
1.3.1 Mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và tôn giáo
Ngôn ngữ và tôn giáo có mối tương quan hữu cơ mật thiết với nhau Tôn giáo phải nhờ ngôn ngữ để truyền tải thông điệp, giáo nghĩa Ngược lại, tôn giáo có giá trị làm giàu, quảng bá và bảo tồn ngôn ngữ
1.3.2.Định vị lớp từ vựng CG trong từ vựng tiếng Việt
Các từ ngữ CG nghiên cứu là các “biệt ngữ” nằm cạnh các lớp từ tiếng Việt khác như: thuật ngữ, từ nghề nghiệp, từ địa phương ; đồng thời khác với biệt ngữ của các tôn giáo khác, như: Phật giáo, Cao Đài
1.3.3.Quan niệm về con đường hình thành và phát triển từ vựng tiếng Việt
Theo Nguyễn Thiện Giáp (2002), tiếng Việt hiện có 8 con đường làm giàu từ vựng [28] Mai Ngọc Chừ (1997) cho rằng có hai con đường cơ bản làm xuất hiện từ mới là: dùng những yếu tố sẵn có trong ngôn ngữ để cấu tạo
từ mới; và vay mượn từ ngữ [18]
1.3.4 Quan niệm về tiếp xúc ngôn ngữ và vay mượn trong ngôn ngữ
Tiếp xúc ngôn ngữ là sự giao thoa giữa hai hoặc nhiều ngôn ngữ làm phát sinh các biến đổi ngôn ngữ; Vay mượn trong ngôn ngữ là hiện tượng yếu tố của ngôn ngữ này đi vào ngôn ngữ khác, được sử dụng và được đồng hoá bởi ngôn ngữ đó
1.3.5 Quan niệm về từ và ngữ
Trong tiếng Việt, có tác giả đồng nhất từ với “tiếng”, có tác giả căn cứ vào ý nghĩa, chức năng âm tiết giống như hình vị Có tác giả đồng ý có từ đơn, từ ghép, từ láy…; tác giả khác lại chỉ công nhận tiếng Việt có từ đơn
Trang 8Ngữ, tổ hợp, kết cấu hay cụm từ là sự kết hợp các từ thành nhóm từ có quan hệ với nhau về nghĩa từ vựng và ngữ pháp.” [124]
1.3.6 Quan niệm về nghĩa của từ và sự phát triển nghĩa của từ
- Nghĩa của từ “là toàn bộ nội dung tinh thần xuất hiện trong suy nghĩa của một người bản ngữ khi người đó tiếp xúc với một hình thức âm thanh ngôn ngữ nhất định” [49]
- Sự phát triển nghĩa của từ bao gồm hiện tượng mở rộng nghĩa, thu hẹp nghĩa, chuyển nghĩa ẩn dụ và chuyển nghĩa hoán dụ
1.3.7 Lí thuyết định danh
Định danh là sự cố định cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm – biểu niệm phản ánh những đặc trưng nhất định của một biểu vật – các thuộc tính, phẩm chất và quan hệ của các đối tượng và quá trình thuộc phạm vi vật chất
và tinh thần, nhờ đó các đơn vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn từ.” [98]
1.3.8 Sơ lược về CG và CG tại VN
CG ra đời ở vùng Tiểu Á, nhưng lại phát triển mạnh ở châu Âu từ sau năm 313 [57] Khoảng đầu thế kỷ XVI, CG vào VN và thành lập hai giáo phận đầu tiên năm 1659 Năm 1693, Giáo phận Đông Đàng Ngoài được trao cho Dòng Đa Minh phụ trách nên gọi là Giáo phận Dòng, nay gồm năm giáo phận: Hải Phòng, Bùi Chu, Bắc Ninh, Thái Bình, Lạng Sơn
1.3.9 CG với văn hóa Việt
Trong cách thế riêng của mình, CG tại VN đã có những đóng góp vào văn hoá Việt, nhất là liên quan đến phát minh chữ Quốc ngữ
1.4 Tiểu kết
Luận án trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề lý thuyết như: Mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và tôn giáo; Định vị lớp từ ngữ CG trong hệ thống từ vựng tiếng Việt nói chung; Quan niệm về con đường hình thành và phát triển từ vựng tiếng Việt, về tiếp xúc ngôn ngữ, về
từ và ngữ… làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài Cuối cùng, luận án trình bày sơ lược CG và CG tại VN, mối tương quan giữa CG với nền văn hoá– văn học Việt Nam làm bối cảnh của đối tượng nghiên cứu
Trang 9Chương 2: CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH TỪ NGỮ CG TRONG CÁC BẢN KINH NGUYỆN CỦA CÁC GIÁO PHẬN DÒNG TẠI VN 2.1 Đặt vấn đề
2.2 Con đường vay mượn từ ngữ CG nước ngoài
2.2.1 Lí do của việc vay mượn từ vựng CG nước ngoài
CG chính thức vào VN từ khoảng năm 1533 Trước thời gian này, tại
VN, chưa có các đơn vị từ vựng chuyển tải các khái niệm của CG Vì vậy, các nhà truyền giáo phải mượn các khái niệm CG trong tiếng mẹ đẻ của mình và trong tiếng La Tinh là ngôn ngữ chính thức của Giáo Hội
2.2.2 Nguồn gốc các từ ngữ CG vay mượn
2.2.2.1 Nguồn gốc từ tiếng Do Thái: Các từ ngữ gốc Do Thái thường được
vay mượn qua một ngôn ngữ trung gian như tiếng La Tinh, Bồ Đào Nha
hoặc Tây Ban Nha, chẳng hạn: Tội Ađam, Amen, Alleluia
2.2.2.2 Nguồn gốc Hy Lạp: Kinh Thánh được viết bằng tiếp Do Thái và
tiếng Hy Lạp Đây là lí do nhiều từ ngữ trong Kinh Thánh sau này được sử
dụng rộng rãi trong Giáo Hội có nguồn gốc Hy Lạp, ví dụ: ẩn tu, cánh chung,
2.2.2.3 Nguồn gốc La Tinh: Tiếng La Tinh là ngôn ngữ chính thức của Giáo
hội CG nên hầu hết các khái niệm trong CG đều được thể hiện cách chính
thức bằng ngôn ngữ này, ví dụ: Ảnh tượng thánh, Ấn tích, Bí tích…
2.2.2.4 Những từ ngữ CG Việt Nam vay mượn mang dấu vết tiếng Bồ Đào Nha: ví dụ: Sang-ta Câu-rút
2.2.2.5 Những từ ngữ CG Việt Nam vay mượn mang dấu vết tiếng Tây Ban Nha: ví dụ: Thánh Aphô-tô-li, A-r-can-khê-lô, Bao-ti-si-mô
2.2.2.6 Từ ngữ CG Hán Việt: Có 257/1132 đơn vị (23%) nhưngchỉ có 59
biệt ngữ CG Hán Việt tương đương với biệt ngữ CG trong tiếng Hán hiện đại (đối chiếu dựa trên âm đọc Hán Việt)
2.2.3 Cách thức tiếp nhận từ ngữ CG vay mượn
2.2.3.1 Phương thức giữ nguyên dạng từ ngữ trong ngôn ngữ nguồn: Có số
lượng từ ngữ được tiếp nhận chiếm tỉ lệ rất thấp, chỉ có 40/1132 từ ngữ CG
2.2.3.2 Phương thức phiên âm từ ngữ trong ngôn ngữ nguồn: Có 103/1132
Trang 10từ, (9,09%) Phần lớn các từ ngữ phiên âm gốc Ấn Âu biểu lộ tính đa tiết 2.2.3.3 Phương thức sao phỏng và dịch nghĩa từ ngữ trong ngôn ngữ nguồn:
có 689/1132 từ ngữ, chiếm hơn 60,86%, biểu thị theo bảng dưới đây:
Bảng 2.1: Tỉ lệ các tương đương dịch từ ngữ CG La Tinh-Việt
2.3 Con đường tự tạo các từ ngữ mới
2.3.1 Cách dùng hình thức mới để diễn đạt một nghĩa mới
Cách hình thành từ mới này chủ yếu bằng các phương thức: Tạo một vỏ
âm thanh mới gọi tên một khái niệm mới hình thành; Phương thức rút gọn; Phương thức vừa ghép vừa rút gọn
2.3.2 Cách dùng hình thức có sẵn để diễn đạt một nghĩa mới \
Đây chính là việc hình thành từ mới qua việc cấp thêm cho từ ngữ tiếng Việt có sẵn một nội dung CG nào đó, tương ứng phương thức mở rộng
nghĩa của từ, ví dụ: Chắp tay: 1 Úp hoặc nắm hai bàn tay vào nhau (Nghĩa thông thường) 2 Hai bàn tay úp vào nhau, ngón cái phải đè lên ngón cái trái
theo hình Thánh giá và để trước ngực (nghĩa biệt ngữ CG)
2.4 Tiểu kết
Luận án đã đề cập các con đường hình thành các từ ngữ CG trong các ngữ liệu Con đường vay mượn là con đường quan trọng và chiếm đa số các
Trang 11đơn vị từ vựng Đặt trong sự đối chiếu, chúng tôi nhận thấy biệt ngữ Phật giáo vay mượn có nguồn chủ yếu từ các ngôn ngữ Á Đông, biệt ngữ CG lại chủ yếu vay mượn từ các ngôn ngữ phương Tây
Con đường tự tạo từ mới với nhiều phương thức có thể chia ra làm hai loại cấu tạo: loại dùng hình thức mới để diễn đạt nội dung mới và loại dùng hình thức, chất liệu có sẵn để diễn đạt nội dung mới, hay chính là phương thức tạo từ mới bằng phát triển nghĩa
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ NGỮ NGHĨA CỦA CÁC TỪ NGỮ CÔNG GIÁO TRONG CÁC BẢN KINH NGUYỆN CỦA CÁC
GIÁO PHẬN DÒNG TẠI VIỆT NAM 3.1 Đặt vấn đề
3.2 Đặc điểm cấu trúc của các từ ngữ CG trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại VN
3.2.1.Đặc điểm từ đơn CG
3.2.1.1 Khái quát đặc điểm từ đơn:
Luận án phân loại được 95/1132 từ đơn (8,39%) Tỉ lệ này thấp hơn rất
nhiều con số 15,05% từ đơn trong khối từ vựng Phật giáo tiếng Việt [60]
3.2.1.2 Từ đơn CG xét dưới góc độ số lượng âm tiết:
Theo kết quả thống kê, từ đơn đa tiết (62,1%) có số lượng gần gấp đôi từ đơn một âm tiết (37,9%) Điều này được giải thích là do số các từ đơn
CG vay mượn gốc Ấn Âu chiếm đa số
3.2.1.3 Từ đơn CG xét dưới góc độ từ loại:
Dựa vào quan niệm Ngữ pháp truyền thống về từ loại, chúng tôi xác định đặc điểm từ loại của các từ ngữ như sau: Danh từ chiếm 67,36%, Động
từ chiếm 27,36%, Tính từ chiếm 3,15% Như thế, tỉ lệ của danh từ là trổi vượt, cho thấy hệ thống tên gọi các khái niệm, thực thể chiếm phần lớn trong kinh nguyện
3.2.1.4 Từ đơn CG xét dưới góc độ nguồn gốc các đơn vị cấu tạo:
Trang 12Bảng 3.4 Đặc điểm nguồn gốc đơn vị cấu tạo từ đơn CG:
Nguồn gốc yếu tố cấu tạo
từ đơn Công giáo
3.2.2 Đặc điểm từ ghép CG
3.2.2.1 Khái quát đặc điểm từ ghép CG
Bảng 3.5 Đặc điểm chung của từ ghép Công giáo tiếng Việt
3.2.2.2 Đặc điểm quan hệ từ pháp của các từ ghép CG:
Luận án thống kê được 163 từ ghép đẳng lập (23,21%), 569 từ ghép
chính phụ (77,79%) trong tổng số từ ghép
Trang 133.2.2.3 Đặc điểm từ loại của các từ ghép CG:
Trong số từ ghép CG có 33 tính từ (4,46%), 154 động (21,93%), 515 danh từ (73,40%)
3.2.2.4.Đặc điểm nguồn gốc các yếu tố cấu tạo từ ghép CG:
Từ ghép có các yếu tố cấu tạo thuần Việt có tỉ lệ trổi vượt với
337/702 đơn vị (chiếm 48,01%) Từ ghép Hán Việt: 119/702 (16,9%) Từ ghép lai: 246702 từ (35,04%)
3.2.3 Đặc điểm các tổ hợp định danh CG
3.2.3.1 Lý do hình thành các tổ hợp định danh CG:
Khi hệ thống các từ không đủ biểu thị các khái niệm thì các đơn vị ngôn ngữ mới được tạo ra trên cơ sở những từ đã có để gọi tên chúng Dựa vào đặc điểm cấu tạo, chúng tôi gọi chúng là các tổ hợp định danh
3.2.3.2 Đặc điểm từ loại và mô hình cấu tạo của các tổ hợp định danh CG:
Có 302/358 tổ hợp định danh có danh từ làm trung tâm (84,35%);
37 tổ hợp có động từ làm trung tâm (10,33%) chỉ các hành động cử hành nghi thức; 19 tổ hợp có tính từ làm trung tâm (5,30%), chỉ các sắc thái hay
tính chất được sử dụng mang tính đặc trưng trong sinh hoạt cộng đồng CG 3.2.3.3 Đặc điểm nguồn gốc các yếu tố cấu tạo của các ngữ định danh CG:
Trong 302 tổ hợp có danh từ làm trung tâm, 103 đơn vị có cấu tạo bằng các yếu tố thuần Việt, chiếm 34,10%; 29 đơn vị có các yếu tố cấu tạo Hán Việt, chiếm gần 9,61%; 169 đơn vị được cấu tạo bằng các yếu tố hỗn
3.3.1 Các đặc trưng cơ bản làm cơ sở định danh của từ ngữ CG
3.3.1.1 Đặc trưng về nội dung ý nghĩa việc cử hành lễ giáo: