Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất một số giải pháp có tính khả thi và phù hợp nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La trong những năm tới.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả luận văn
Trần Hồng Thanh
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Đề tài: “ Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với các khu công
nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La” được tác giả hoàn thành tại trường Đại học Thuỷ
lợi - Hà Nội Trong suốt quá trình nghiên cứu, ngoài sự phấn đấu nỗ lực của bản thân, tác giả đã nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo, của bạn bè
và đồng nghiệp
Có được kết quả này, lời cảm ơn đầu tiên, xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Thầy giáo TS Lê Văn Chính người trực tiếp hướng dẫn, dành nhiều thời gian, tâm huyết hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã giảng dạy trong thời gian học cao học tại Trường Đại học Thuỷ lợi, các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và Quản lý thuộc Trường Đại học Thuỷ lợi đã tận tình giúp đỡ và truyền đạt kiến thức để tác giả
có thể hoàn thành được luận văn này
Những lời sau cùng xin dành cho gia đình, cùng các đồng nghiệp trong cơ quan đã chia sẻ khó khăn và tạo điều kiện tốt nhất để tác giả hoàn thành được luận văn tốt nghiệp
Vì thời gian thực hiện Luận văn có hạn nên không thể tránh được những sai sót, tác giả mong được tiếp thu các ý kiến đóng góp của các Thầy, Cô, bạn bè và đồng nghiệp
Trang 3
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC HÌNH ẢNH vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 4
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của các khu công nghiệp 4
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến khu công nghiệp 4
1.1.2 Các đặc điểm của khu công nghiệp 7
1.1.3 Vai trò kinh tế - xã hội của các khu công nghiệp 8
1.2 Quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp tại địa phương 13
1.2.1 Khái niệm 13
1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp 13
1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp 14
1.2.4 Tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp 16
1.3 Cơ sở pháp lý quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp 20
1.3.1 Hệ thống luật 20
1.3.2 Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước liên quan đến KCN 20
1.3.3 Các chính sách của Nhà nước: Như chính sách khuyến khích đầu tư, ưu đãi đầu tư, xúc tiến đầu tư, chính sách lao động việc làm, 21
1.4 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước đối với các khu công nghiệp 21
1.4.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp tại tỉnh Bình Dương 21
1.4.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp tại tỉnh Đồng Nai 23
1.4.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp tại thành phố Đà Nẵng 24
Trang 41.4.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp tại thành phố
Hải Phòng 25
1.4.5 Các bài học kinh nghiệm 26
1.5 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 27
Kết luận chương 1 28
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA 30
2.1 Khái quát các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Sơn La .30
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 30
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 34
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp tỉnh Sơn La 47
2.2.1 Năng lực lãnh đạo, quản lý điều hành, trình độ, năng lực của cán bộ, công chức, đặc biệt là cán bộ, công chức tại Ban quản lý các KCN tỉnh Sơn La 47
2.2.2 Quy hoạch, kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Sơn La 51
2.2.3 Cơ chế, chính sách và môi trường đầu tư 52
2.2.4 Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý 53
2.2.5 Kinh phí cho hoạt động quản lý nhà nước đối với các KCN trên địa bàn tỉnh Sơn La 53
2.3 Thực trạng quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp tỉnh Sơn La 54
2.3.1 Công tác lập, điều chỉnh và quản lý quy hoạch xây dựng 55
2.3.2 Công tác xây dựng và quản lý cơ sở hạ tầng khu công nghiệp 57
2.3.3 Công tác xúc tiến và quản lý đầu tư 60
2.3.4 Công tác quản lý môi trường 63
2.3.5 Công tác quản lý lao động và đào tạo nguồn nhân lực 65
2.3.6 Công tác an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ 66
2.4 Đánh giá công tác quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La 67
2.4.1 Những kết quả đạt được 67
Trang 52.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 70
Kết luận chương 2 75
CHƯƠNG 3 NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA 76
3.1 Định hướng phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La 76
3.1.1 Định hướng tổng quát 76
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 76
3.2 Cơ hội, thách thức với đầu tư và phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La 78
3.2.1 Cơ hội 78
3.2.2 Thách thức 78
3.3 Các giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp tỉnh Sơn La 78
3.3.1 Nâng cao chất lượng quy hoạch chi tiết, tiến độ xây dựng, phát triển khu công nghiệp 78
3.3.2 Hoàn thiện cơ sở hạ tầng đồng bộ, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp 80
3.3.3 Đa dạng và cụ thể hoá các biện pháp hỗ trợ vận động đầu tư vào khu công nghiệp 82
3.3.4 Giải pháp tăng cường công tác bảo vệ môi trường 84
3.3.5 Phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước về đào tạo và quản lý lao động theo quy định của pháp luật về lao động 85
3.3.6 Giải pháp bảo đảm an ninh trật tự, tăng cường phòng chống cháy nổ trong các khu công nghiệp 87
3.3.7 Về hoạt động và bộ máy quản lý khu công nghiêp .89
Kết luận chương 3 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Bản đồ vị trí tỉnh Sơn La bản đồ hành chính huyện Mai Sơn 31
tỉnh Sơn La 31
Hình 2.2 Bản đồ vị trí, mối liên hệ vùng của Khu công nghiệp Mai Sơn 32
Hình 2.3 Nhà máy xử lý nước thải KCN Mai Sơn 64
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.2 Tổng hợp tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp KCN
(thời kỳ 2015-2017) 55
Bảng 2.3 Quy hoạch phát triển các KCN tỉnh Sơn La 57
Bảng 2.4 Tình hình đầu tư xây dựng KCN bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước .59
Bảng 2.5 Bảng tỷ lệ lấp đầy Khu công nghiệp Mai Sơn 62
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
- Tại Việt Nam, trải qua trên 25 năm phát triển (1991 – 2017), Về quy hoạch và thành lập Khu công nghiệp, Khu chế xuất: cả nước có 325 Khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên gần 95 nghìn ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt 64 nghìn ha, chiếm khoảng 67% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó,
220 Khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên gần 61 nghìn
ha và 105 Khu công nghiệp đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng diện tích đất tự nhiên 34 nghìn ha Tổng diện tích đất công nghiệp đã cho thuê của các Khu công nghiệp đạt 31,8 nghìn ha, tỷ lệ lấp đầy các Khu công nghiệp đạt 51%, cao hơn 2% so với cuối năm 2017, riêng các Khu công nghiệp
đã đi vào hoạt động, tỷ lệ lấp đầy đạt 73%, cao hơn 6% so với cuối năm 2016
Trên địa bàn tỉnh Sơn La, có 01 KCN tập trung được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, trong đó có 01 KCN đi vào hoạt động với tổng số vốn đầu tư đã đăng ký khoảng 285
tỷ đồng Các KCN đã đạt được những thành tựu quan trọng: góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đóng góp ngân sách nhà nước tăng không ngừng, tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động
Những kết quả đã đạt được một phần là do công tác quản lý nhà nước đối với các KCN đã được đổi mới theo hướng năng động phù hợp với luật pháp và môi trường đầu
tư trong nước và quốc tế, phù hợp với với đặc điểm phát triển của KCN trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên quản lý nhà nước đối với các KCN hiện hành của Việt Nam nói chung
và tỉnh Sơn La nói riêng vẫn còn khá nhiều bất cập hạn chế Chất lượng công tác quy hoạch KCN và triển khai thực hiện quy hoạch đã được phê duyệt chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển; Công tác đền bù giải phóng mặt bằng, xây dựng kết cấu hạ tầng còn gặp nhiều khó khăn vướng mắc; Hàm lượng công nghệ, tính phù hợp về ngành nghề trong cơ cấu đầu tư chưa cao; Công tác bảo vệ môi trường KCN vẫn còn bất cập; Đời sống công nhân trong KCN còn nhiều khó khăn Do đó cần thiết có nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý nhà nước trong thực tiễn phát triển KCN của tỉnh cùng với nguyên nhân của những thành công và hạn chế là cơ sở khoa học đưa ra những giải
Trang 10pháp quản lý nhà nước nhằm phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Sơn La trong thời
gian tới Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La” cho Luận văn tốt
nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất một số giải pháp có tính khả thi và phù hợp nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La trong những năm tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động quản lý của các cấp chính quyền tỉnh Sơn La (UBND tỉnh và các Sở, ban ngành có liên quan) đối với các KCN trên địa bàn tỉnh Sơn
La và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác này
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi về nội dung và không gian
Đề tài nghiên cứu QLNN đối với các KCN trên địa bàn tỉnh Sơn La Luận văn nghiên cứu công tác quản lý của chính quyền cấp tỉnh nhưng đặt trong khuôn khổ các chính sách, chế độ quản lý các KCN của Nhà nước ta
- Phạm vi thời gian:
Luận văn phân tích thực trạng xây dựng và phát triển các KCN và vấn đề quản lý nhà nước đối với các KCN ở Sơn La trong giai đoạn 2015 – 2017 và đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2018-2023
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài áp dụng phương pháp nghiên cứu như: Hệ thống các văn bản pháp quy và cơ sở
lý thuyết; Phương pháp điều tra, thu thập số liệu; Phương pháp thống kê; Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh; Phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia và một số
Trang 11phương pháp nghiên cứu kinh tế khác để giải quyết các vấn đề liên quan đến công tác quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp
Trang 12CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của các khu công nghiệp
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến khu công nghiệp
Để có cái nhìn khái quát, chính xác về khu công nghiệp, tác giả đề cập đến khái niệm khu công nghiệp và các khái niệm liên quan, dễ nhầm lẫn với khu công nghiệp như khu kinh tế, cụm công nghiệp, khu chế xuất
1.1.1.1 Khái niệm khu công nghiệp, khu chế xuất
Trên thế giới loại hình khu công nghiệp đã có một quá trình lịch sử phát triển hơn 100 năm nay bắt đầu từ những nước công nghiệp phát triển như Anh, Mỹ cho đến những nước có nền kinh tế công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore,…và hiện nay vẫn đang được các quốc gia học tập và kế thừa kinh nghiệm để tiến hành công nghiệp hóa Tùy điều kiện từng nước mà KCN có những nội dung hoạt động kinh tế khác nhau và có những tên gọi khác nhau nhưng chúng đều mang tính chất và đặc trưng của KCN Hiện nay trên thế giới có hai mô hình phát triển KCN, cũng từ đó hình thành hai định nghĩa khác nhau về KCN
Định nghĩa 1: Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ rộng lớn, có ranh giới địa lý xác định, trong đó chủ yếu là phát triển các hoạt động sản xuất công nghiệp và có đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ đa dạng; có dân cư sinh sống trong khu Ngoài chức năng quản lý kinh tế, bộ máy quản lý các khu này c n có chức năng quản lý hành chính, quản lý lãnh thổ KCN theo quan điểm này về thực chất là khu hành chính – kinh tế đặc biệt như các công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu Định nghĩa 2: Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập trung các doanh nghiệp công nghệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống và được tổ chức hoạt động theo cơ chế ưu đãi cao hơn so với các khu vực lãnh thổ khác Theo quan điểm này, ở một số nước và vùng lãnh thổ như Malaysia, Indonesia, …đã hình thành nhiều KCN với quy mô khác nhau và đây cũng là loại hình KCN nước ta đang áp dụng hiện nay
Trang 13Tại Việt Nam, KCN được đề cập đến từ khi miền Bắc xây dựng khu Gang thép Thái Nguyên (1959); miền Nam xây dựng KCN Biên Hòa (1963); nhưng chỉ đến khi có Quy chế Khu công nghiệp ban hành kèm theo Nghị định số 192/CP ngày 28/12/1994, khái niệm KCN mới chính thức được nêu ra như sau: "Khu công nghiệp quy định trong Quy chế này là Khu công nghiệp tập trung do Chính phủ quyết định thành lập,
có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống." [1] "Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, do Chính phủ thành lập hoặc cho phép thành lập; Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp
và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, do Chính phủ thành lập hoặc cho phép thành lập." [2] Trong Quy chế KCN, KCX, khu công nghệ cao (KCNC) ban hành kèm theo Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ, khái niệm KCN được nêu tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 2 như sau: "Khu công nghiệp" là khu tập trung các doanh nghiệp KCN chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất; "Khu chế xuất" là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập [3]
Theo Luật đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 thì KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa
lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ [4]
Hiện nay, khái niệm KCN và KCX được quy định tại các văn bản pháp luật đang có hiệu lực thi hành là Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 (Luật Đầu tư số 67) và Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ như sau:
Khoản 10, Khoản 11 Điều 3 Luật Đầu tư số 67 quy định: " Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu
và hoạt động xuất khẩu"; " Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp" [5]
Trang 14"Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định"; "Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định Khu công nghiệp, khu chế xuất được gọi chung là khu công nghiệp, trừ trường hợp quy định cụ thể." [5].
1.1.1.2 Khái niệm khu kinh tế, cụm công nghiệp
- Khu kinh tế: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 2 Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế thì Khu kinh tế được hiểu như sau:
Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này Khu kinh tế được tổ chức thành các khu chức năng gồm: khu phi thuế quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng khu kinh tế." [2]
Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 164/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế bổ sung một số nội dung về khu kinh tế như sau:
" Khu kinh tế ven biển là khu kinh tế hình thành ở khu vực ven biển và địa bàn lân cận khu vực ven biển, được thành lập theo các điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP
Khu kinh tế cửa khẩu là khu kinh tế hình thành ở khu vực biên giới đất liền và địa bàn lân cận khu vực biên giới đất liền có cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu chính và được thành lập theo các điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP
Trang 15Khu kinh tế ven biển, khu kinh tế cửa khẩu được gọi chung là khu kinh tế, trừ trường hợp quy định cụ thể.” [6]
- Cụm công nghiệp: Theo khái niệm cụm công nghiệp được hiểu như sau:
1 Cụm công nghiệp là nơi sản xuất, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, được đầu tư xây dựng nhằm thu hút, di dời các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã,
tổ hợp tác vào đầu tư sản xuất kinh doanh
Cụm công nghiệp có quy mô diện tích không vượt quá 75 ha và không dưới 10 ha Riêng đối với cụm công nghiệp ở các huyện miền núi và cụm công nghiệp làng nghề
có quy mô diện tích không vượt quá 75 ha và không dưới 5 ha
2 Cụm công nghiệp làng nghề là cụm công nghiệp phục vụ di dời, mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, cơ sở sản xuất hộ gia đình, cá nhân trong làng nghề nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, phát triển nghề, làng nghề ở địa phương
3 Chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp là doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam thực hiện đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp." [7]
1.1.2 Các đặc điểm của khu công nghiệp
1.1.2.1 Đặc điểm tự nhiên của khu công nghiệp
Đối với mỗi KCN tại các vùng lãnh thổ khác nhau sẽ có đặc điểm tự nhiên đặc trưng của vùng lãnh thổ đó; tuy nhiên, nhìn chung KCN ở nước ta có những đặc điểm tự nhiên đặc thù như sau:
KCN thường được xây dựng ở những nơi có vị trí địa lý thuận lợi như gần các đường giao thông, thuận tiện trong giao lưu với các trung tâm kinh tế lớn, gần cảng, biển, sân bay… KCN đòi hỏi phải có diện tích đất khá lớn, tập trung tại một địa điểm, địa hình tương đối bằng phẳng, thích hợp cho xây dựng các công trình công nghiệp, gần nguồn nước, có cơ sở hạ tầng thích hợp
Trang 161.1.2.2 Đặc điểm kinh tế-kỹ thuật của các khu công nghiệp
KCN thường tập trung nhiều nhà máy, doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp chế tạo khác nhau, đồng thời cũng sử dụng lượng lớn nguyên, nhiên vật liệu, năng lượng
và thải ra lượng chất thải khổng lồ Do tính tập trung sản xuất công nghiệp ở mật độ cao như vậy nên các KCN thường gây ra các tác động môi trường tiêu cực như tiếng
ồn, ô nhiễm nguồn nước, không khí
Các KCN thường được xác định ranh giới cụ thể bằng hệ thống hàng rào KCN Cơ sở
hạ tầng kỹ thuật trong KCN được chủ trương xây dựng đồng bộ nhằm hướng đến lợi ích chung, phục vụ tối ưu cho hoạt động sản xuất công nghiệp và kinh doanh dịch vụ phục vụ mục đích công nghiệp, không phục vụ mục đích sống dân cư, kể cả người Việt Nam, người nước nước ngoài làm việc tại KCN
1.1.2.3 Đặc điểm xã hội và hành chính của các khu công nghiệp
KCN sử dụng lượng lao động lớn nên kéo theo nhiều hậu quả xã hội Dễ thấy nhất là vấn đề người lao động ngụ cư Những người này vừa không có nhà ở, không có sự hỗ trợ của gia đình, không ổn định nên rất khó quản lý Hơn nữa, sự biến động đột biến của lượng lao động ngụ cư có thể gây sức ép lên hệ thống giáo dục, y tế và nhà ở của địa phương
Hơn nữa, trong quá trình vận hành các KCN thường xuất hiện các xung đột giữa người
sử dụng lao động và người lao động, dễ dẫn đến các cuộc đình công, bãi công lớn do tính chất lây truyền và do các doanh nghiệp ở gần nhau Nếu các tổ chức chính trị, xã hội không khéo léo giải quyết các xung đột này có thể gấy bất ổn cho cả vùng
Ngoài ra, các KCN cũng đòi hỏi có cơ quan quản lý và điều hành chung các vấn đề trong khu Nếu cơ quan này không được thiết kế và vận hành tốt thì hiệu quả hoạt động của KCN sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng
1.1.3 Vai trò kinh tế - xã hội của các khu công nghiệp
Kinh nghiệm thực tế cho thấy, các KCN có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, nhất là các nước đang phát triển thì việc hình thành các KCN đã tạo ra được cơ hội phát triển công nghiệp và thực hiện công nghiệp hóa rút ngắn bởi có thể kết hợp và học tập được những thành tựu mới nhất về khoa học công
Trang 17nghệ, về tổ chức và quản lý doanh nghiệp, đồng thời tranh thủ được nguồn vốn đầu tư
từ nước ngoài để phát triển, cụ thể:
1.1.3.1 Thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước để phát triển nền kinh tế
- KCN với đặc điểm là nơi được đầu tư cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ, hiện đại
và thu hút các nhà đầu tư cùng đầu tư trên một vùng không gian lãnh thổ, do vậy đó là nơi tập trung và kết hợp sức mạnh nguồn vốn trong và ngoài nước Với quy chế quản
lý thống nhất và các chính sách ưu đãi, các KCN đã tạo ra một môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài; hơn nữa việc phát triển các KCN cũng phù hợp với chiến lược kinh doanh của các tập đoàn, công ty đa quốc gia trong việc mở rộng phạm vi hoạt động trên cơ sở tranh thủ ưu đãi thuế quan
từ phía nước chủ nhà, tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận và khai thác thị trường mới ở các nước đang phát triển Do vậy, KCN giúp cho việc tăng cường huy động vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho phát triển kinh tế xã hội và là đầu mối quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước và là giải pháp hữu hiệu nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là một trong những nhân tố quan trọng giúp quốc gia thực hiện và đẩy nhanh sự nghiệp CNH,HĐH đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mặt khác sự hoạt động của đồng vốn có nguồn gốc từ đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đã tác động tích cực thúc đẩy sự lưu thông và hoạt động của đồng vốn trong nước
- Việc khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước đầu tư vào KCN bằng nhiều hình thức, đa dạng sẽ thu hút được một nguồn vốn lớn trong nước tham gia đầu tư vào các KCN Đây là nguồn vốn tiềm tàng rất lớn trong xã hội chưa được khai thác và sử dụng hữu ích Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong nước tham gia xây dựng
hạ tầng KCN và đầu tư sản xuất trong KCN sẽ tạo sự tin tưởng và là động lực thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào KCN Thực tế trong thời gian vừa qua, các KCN
đã thu hút được khá nhiều các nguồn vốn cho mục tiêu đầu tư phát triển kinh tế xã hội của quốc gia nói chung và từng địa phương nói riêng
1.1.3.2 Đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thu và giảm chi ngoại tệ và góp phần tăng nguồn thu ngân sách
Trang 18Sự phát triển các KCN có tác động rất lớn đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu Hàng hóa sản xuất ra từ các KCN chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng số lượng hàng hóa xuất khẩu của địa phương và của
cả nước Khi các KCN mới bắt đầu đi vào hoạt động, lúc này nguồn thu ngoại tệ của các KCN chưa đảm bảo vì các doanh nghiệp phải dùng số ngoại tệ thu được để nhập khẩu công nghệ, dây chuyền, máy móc thiết bị … nhưng cái lợi thu được là nhập khẩu nhưng không mất ngoại tệ Khi các doanh nghiệp đi vào sản xuất ổn định, có hiệu quả thì lúc đó nguồn thu ngoại tệ bắt đầu tăng lên nhờ hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN Ngoài ra, hình thức xuất khẩu tại chỗ thông qua việc cung ứng nguyên vật liệu của các doanh nghiệp trong nước cho các doanh nghiệp chế xuất hoạt động trong KCN và việc một số doanh nghiệp chế xuất tổ chức gia công một số chi tiết, phụ tùng, một số công đoạn tại các doanh nghiệp trong nước góp phần vào quá trình nội địa hóa trong cơ cấu giá trị sản phẩm của các doanh nghiệp Ngoài ra, các KCN cũng đóng góp đáng kể vào việc tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương và đóng góp chung cho nguồn thu của quốc gia
1.1.3.3 Tiếp nhận kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, phương pháp quản lý hiện đại và kích thích sự phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và doanh nghiệp trong nước
Kinh nghiệm phát triển của nhiều nước trên thế giới cho thấy việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ tiên tiến của các nước đi trước là một trong những bí quyết để phát triển và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa Việc tiếp cận và vận dụng linh hoạt
kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia là một trong những giải pháp mà các nước đang phát triển áp dụng nhằm rút ngắn thời gian của quá trình công nghiệp hóa Cùng với sự hoạt động của các KCN một lượng không nhỏ các
kỹ thuật công nghệ tiên tiến, dây chuyền sản xuất đồng bộ, kỹ năng quản lý hiện đại…đã được chuyển giao và áp dụng thành công trong các ngành công nghiệp; Việc chuyển giao công nghệ của khu vực FDI tới các doanh nghiệp trong nước đã góp phần thúc đẩy vào việc tăng năng suất, mang lại hiệu quả kinh tế cao trong các ngành công nghiệp KCN thúc đẩy sự phát triển năng lực khoa học công nghệ góp phần tạo ra những năng lực sản xuất mới, ngành nghề mới, công nghệ mới, sản phẩm mới, phương thức sản xuất, kinh doanh mới… giúp cho nền kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế và phục vụ cho sự nghiệp
Trang 19CNH-HĐH của quốc gia
KCN là nơi tập trung hóa sản xuất cao và từ việc được tổ chức sản xuất khoa học, trang bị công nghệ kỹ thuật tiên tiến của các doanh nghiệp FDI, các cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật làm việc tại các KCN sẽ được đào tạo và đào tạo lại về kinh nghiệm quản lý, phưong pháp làm việc với công nghệ hiện đại, tác phong công nghiệp
… Những kết quả này có ảnh hưởng gián tiếp và tác động mạnh đến các doanh nghiệp trong nước trong việc đổi mới công nghệ, trang thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi phương pháp quản lý … để nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao Sự có mặt của các tập đoàn công nghiệp, các tập đoàn đa quốc gia, các công ty có uy tín trên thế giới trong các KCN cũng là một tác nhân thúc đẩy phát triển công nghiệp phụ trợ theo hướng liên doanh, liên kết Thông qua đó cho phép các công ty trong nước có thể vươn lên trở thành các nhà cung cấp đạt tiêu chuẩn quốc
tế và trở thành những tập đoàn kinh tế mạnh, các công ty đa quốc gia [8]
1.1.3.4 Tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo và phát triển nguồn nhân lực
Xây dựng và phát triển KCN đã thu hút một lượng lớn lao động vào làm việc tại các KCN và đã có tác động tích cực tới việc xóa đói giảm nghèo và giảm tỷ lệ thất nghiệp trong cộng đồng dân cư đồng thời góp phần làm giảm các tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây nên Phát triển KCN góp phần quan trọng trong việc phân công lại lực lượng lao động trong xã hội, đồng thời thúc đẩy sự hình thành và phát triển thị trường lao động
có trình độ và hàm lượng chất xám cao Quan hệ cung cầu lao động diễn ra ở thị trường này diễn ra gay gắt chính là động lực thúc đẩy người sử dụng lao động, người lao động phải rèn luyện và không ngừng học tập, nâng cao trình độ tay nghề Như vậy, KCN đóng góp rất lớn vào việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật phù hợp với công nghệ mới áp dụng vào sản xuất đạt trình độ khu vực và quốc tế
và hình thành đội ngũ lao động của nền công nghiệp hiện đại thông qua việc xây dựng các cơ sở đào tạo nghề, liên kết gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm giữa các doanh nghiệp KCN với nhà trường [8]
1.1.3.5 Thúc đẩy việc hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng và là hạt nhân hình thành đô thị mới
Trang 20Xây dựng và phát triển các KCN trong phạm vi từng tỉnh, thành phố, vùng kinh tế và quốc gia là hạt nhân thúc đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa và hiện đại hóa kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN tại các địa phương, cụ thể:
Cùng với quá trình hình thành và phát triển KCN, kết cấu hạ tầng của các KCN được hoàn thiện; kích thích phát triển kinh tế địa phương thông qua việc cải thiện các điều kiện về kỹ thuật hạ tầng trong khu vực, gia tăng nhu cầu về các dịch vụ phụ trợ, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh cho các cơ sở kinh doanh, dịch vụ trong khu vực; góp phần rút ngắn khoảng cách chênh lệch phát triển giữa nông thôn và thành thị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân;
Việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật trong KCN không những thu hút các dự án đầu
tư mới mà còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô để tăng năng lực sản xuất và cạnh tranh, hoặc di chuyển ra khỏi các khu đông dân cư, tạo điều kiện để các địa phương giải quyết các vấn đề ô nhiễm, bảo vệ môi trường đô thị, tái tạo và hình thành quỹ đất mới phục vụ các mục đích khác của cộng đồng trong khu vực; Quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN còn đảm bảo sự liên thông giữa các vùng, định hướng cho quy hoạch phát triển các khu dân cư mới, các khu đô thị vệ tinh, hình thành các ngành công nghiệp phụ trợ, dịch vụ… các công trình
hạ tầng xã hội phục vụ đời sống người lao động và cư dân trong khu vực như: nhà ở, trường học, bệnh viện, khu giải trí…;
Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đón bắt và thu hút đầu tư vào các ngành như điện, giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, cảng biển, các hoạt động dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, phát triển thị trường địa ốc… đáp ứng nhu cầu hoạt động
và phát triển của các KCN;
Phát triển KCN là hạt nhân hình thành đô thị mới, mang lại văn minh đô thị góp phần cải thiện đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội cho khu vực rộng lớn
1.1.3.6 Phát triển KCN gắn với bảo vệ môi trường sinh thái
Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần phải khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Do vậy để một doanh nghiệp đơn
Trang 21lẻ xây dựng các công trình xử lý chất thải rất tốn kém, khó có thể đảm bảo được chất lượng nhất là trong điều kiện hiện nay ở nước ta phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ KCN là nơi tập trung số lượng lớn nhà máy công nghiệp, do vậy có điều kiện đầu tư tập trung trong việc quản lý, kiểm soát, xử lý chất thải và bảo vệ môi trường Chính vì vậy việc xây dựng các KCN là tạo thuận lợi để di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm
từ nội thành, khu dân cư đông đúc, hạn chế một phần mức độ gia tăng ô nhiễm, cải thiện môi trường theo hướng thân thiện với môi trường phục vụ mục tiêu phát triển bền vững
Ngoài ra, KCN còn là động lực thúc đẩy việc đổi mới, hoàn thiện thể chế kinh tế, hệ thống pháp luật, thủ tục hành chính, góp phần cơ cấu lại lĩnh vực phân phối, lưu thông
và dịch vụ xã hội; tạo điều kiện cho các địa phương phát huy thế mạnh đặc thù của mình, đồng thời hình thành mối liên kết, hỗ trợ phát triển sản xuất trong từng vùng, miền và cả nước; từ đó tạo ra những năng lực sản xuất, ngành nghề và công nghệ mới, làm cho cơ cấu kinh tế của nhiều tỉnh, thành phố và khu vực toàn tuyến hành lang kinh
tế nói chung từng bước chuyển biến theo hướng một nền kinh tế CNH, thị trường, hiện đại
1.2 Quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp tại địa phương
1.2.1 Khái niệm
Quản lý nhà nước đối với các KCN có thể được hiểu theo các cách như sau:
Quản lý nhà nước đối với các KCN là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên các KCN nhằm đảm bảo cho các KCN được phát triển theo quy định, chủ động phối hợp mục đích riêng của từng doanh nghiệp nhằm đạt tới mục đích chung của nền kinh tế
Quản lý nhà nước đối với KCN là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực tác động vào
sự hình thành các KCN, hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp và điều chỉnh các hoạt động tại các KCN diễn ra theo đúng quy định của pháp luật [9]
1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp
Nội dung quản lý nhà nước đối với KCN được quy định như sau:
Trang 22- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch và chính sách về phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế
- Ban hành, hướng dẫn, phổ biến và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật và tiêu chuẩn quy phạm kỹ thuật có liên quan đến việc thành lập, đầu tư, xây dựng, phát triển
và quản lý hoạt động của khu công nghiệp, khu kinh tế; xây dựng và quản lý hệ thống thông tin về khu công nghiệp, khu kinh tế; tổ chức thực hiện hoạt động xúc tiến đầu tư vào khu công nghiệp, khu kinh tế
- Cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các loại giấy phép, chứng chỉ, chứng nhận, tổ chức thực hiện các thủ tục hành chính nhà nước và dịch và hỗ trợ có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân trong khu công nghiệp, khu kinh tế
- Tổ chức bộ máy, đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho cơ quan quản lý nhà nước về khu công nghiệp, khu kinh tế
- Hướng dẫn, hỗ trợ, đánh giá hiệu quả đầu tư, kiểm tra, giám sát, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm và giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình hình thành và phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế [10]
1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp
1.2.3.1 Tư duy, nhận thức của người lãnh đạo và cán bộ quản lý
- Người lãnh đạo là nhân tố tích cực nhất, chủ động nhất trong quá trình quyết sách,
là người có quyền lớn nhất trong việc điều khiển quá trình xây dựng và thi hành chính sách Sự thành bại của chính sách phụ thuộc nhiều vào người lãnh đạo
- Đội ngũ cán bộ trong các cơ quan quản lý Nhà nước về KCN đóng vai trò quan trọng trong triển khai hoạch định chính sách KCN Năng lực được thể hiện trong các mặt như phân tích và dự báo phát triển kinh tế - xã hội; năng lực lựa chọn vấn đề phải giải quyết; năng lực đề xuất mục tiêu và biện pháp giải quyết vấn đề
- Đội ngũ cán bộ hoạch định chính sách KCN có trình độ, năng lực tốt sẽ có khả năng hoàn thành các đề án chính sách KCN với khối lượng công việc phân tích lớn, đạt độ chính xác cao trong một thời gian ngắn Do vậy người tham gia hoạch định cần
Trang 23phải có khả năng ứng dụng và làm chủ những công nghệ hiện đại, có khả năng tiếp cận thực tế để có được thông tin xác thực cho quá trình phân tích và hoạch định chính sách KCN Đồng thời họ còn có khả năng nhận thức chính trị tốt
1.2.3.2 Bối cảnh kinh tế - xã hội trong và ngoài nước
- Các chính sách KCN ở nước ta hiện nay được hoạch định và thực thi trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và quốc tế có nhiều biến động phức tạp Xu hướng toàn cầu hóa về nền kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức WTO Tiến trình này đặt các KCN nước ta trước những thời cơ và thách thức mới, đó là cơ hội thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tiếp thu công nghệ tiên tiến của thế giới nhằm đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH – HĐH) và thách thức trước áp lực cạnh tranh hết sức gay gắt do thị trường được mở cửa, hàng rào bảo hộ doanh nghiệp trong nước ngày càng giảm bớt
1.2.3.3 Sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin
- Thời đại toàn cầu hóa hiện nay là thời đại mà thông tin, tri thức của thế giới được
triển khai với tốc độ không gì so sánh được, nhu cầu xã hội ngày càng đa dạng, chu kỳ thay đổi ngày càng ngắn Điều đó đòi hỏi các quyết sách của Chính phủ phải nhạy bén, kịp thời Các thông tin, tin tức được truyền đi nhanh chóng, khoảng cách không gian giữa các cá nhân, giữa các tổ chức được thu hẹp Quyền được thông tin, quyền được tham gia của người dân vào các quyết định chính sách của Chính phủ không ngừng phát triển
- Sự ra đời của internet và việc tự động hóa công việc đang dần thay đổi tập quán quản lý và điều hành theo cách truyền thống, công tác quản lý của Chính phủ ngày càng cần sử dụng nhiều công nghệ thông tin, thực hiện số hóa “chính phủ trên mạng”,
“chính phủ điện tử” đang xuất hiện
1.2.3.4 Kinh phí cần thiết
Các hoạt động quản lý nhà nước nào cũng đòi hỏi phải có một nguồn kinh phí nhất định Nguồn kinh phí để chi phí cho các hoạt động này thường được lấy từ ngân sách Nhà nước, do các tổ chức Nhà nước và tư nhân đóng góp, hoặc do nước ngoài tài trợ
Trang 24Do vậy nguồn kinh phí phải đủ để duy trì hoạt động
1.2.4 Tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp
1.2.4.1 Tính phù hợp của chiến lược, quy hoạch và các chính sách quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp
Việc đánh giá tổng hợp tính phù hợp quản lý nhà nước đối với các KCN phải trên cơ
sở tổng hợp nội dung của chính sách gắn với từng chuỗi kết quả của quá trình thực thi, điều này phải dựa vào khâu hoạch định chính sách và trong hoàn cảnh cụ thể thực thi chính sách quản lý nhà nước các KCN
Vị trí KCN là thước đo quan trọng đánh giá tính phù hợp của quản lý nhà nước các KCN từ giai đoạn xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và vận hành chúng, nó cho thấy tính hợp lý, đồng bộ, khoa học và hiệu quả của KCN Các tiêu chí cụ thể bao
gồm: (i)Sự bố trí khoa học các KCN trong phạm vi không gian vùng (đây là điều kiện thúc đẩy tăng cường sự liên kết giữa các KCN); (ii)Bố trí vị trí KCN trong không gian
địa phương: vị trí so với khu dân cư; so với vị trí đường giao thông; (iii)và Nguồn gốc đất đai cho phát triển KCN nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế, bảo vệ và cải thiện môi trường và thu hút lao động
Mặt khác, đây là dấu hiệu dẫn đến sự thành công của quản lý nhà nước các KCN Các tiêu chí cụ thể là: KCN đặt ở vị trí thuận lợi hay khó khăn về cơ sở hạ tầng kỹ thuật như đường sá, bến cảng, nhà ga, sân bay, hệ thống viễn thông; chất lượng các dịch vụ
xã hội của địa phương Ngoài ra, khi xét đến vị trí của KCN cũng cần xem xét đến yếu tố tác động kinh tế - xã hội và môi trường mà KCN có thể mang lại Tất cả những dấu hiệu này phải cần được xem xét cả ở hiện tại và khả năng duy trì nó trong tương lai lâu dài của KCN
1.2.4.2 Tính khả thi chính sách và biện pháp quản lý nhà nước đối với các KCN
Đánh giá quản lý nhà nước đối với các KCN dựa vào tiêu chí đảm bảo các yếu tố công bằng khác sự phát triển của các KCN
Đánh giá quản lý nhà nước đối với các KCN cũng tính tới mối quan hệ tương quan giữa mục tiêu chính trị, kinh tế và xã hội cụ thể trong giai đoạn đổi mới ở từng nước, phù hợp với quá trình hội nhập mà những áp lực mà từng nước cam kết trong lộ trình
Trang 25hội nhập, sự ra đời các chính sách quản lý nhà nước đối với các KCN phải đảm bảo hợp với quy luật của sự phát triển, phải dựa vào tiến trình chuyển giao, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật của đất nước, phải hướng tới các mục tiêu tăng trưởng kinh tế để tạo ra cơ sở vật chất, phúc lợi xã hội, tiếp tục thực thi bền vững các chính sách khác
Để kết quả thu được như mong muốn khi đánh giá quản lý nhà nước đối với các KCN, nhất là tính bền vững, thích đáng thì khi xây dựng chính sách trong mỗi giai đoạn phát triển phải xác định đầy đủ mức độ hợp lý giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội, sự phù hợp, hỗ trợ cho nhau càng cao thì hiệu quả để đạt được các mục tiêu càng lớn, bản thân mỗi một chính sách cũng hàm chứa đầy đủ các nội dung và ý nghĩa của chính sách kinh tế và chính sách xã hội
1.2.4.3 Tính hiệu lực của các chính sách và biện pháp quản lý nhà nước đối với các KCN
Hiệu lực của quản lý nhà nước đối với các KCN phản ánh tác động ảnh hưởng của chính sách quản lý trong quá trình thực thi, khả năng duy trì hay biến đổi trên thực tế
so với mong muốn của nhà nước
Đánh giá hiệu lực của quản lý nhà nước đối với các KCN nhằm đưa ra kết luận về các kết quả của từng nội dung của chính sách có giá trị hay không? Cụ thể:
- Quy mô diện tích KCN: Quy mô diện tích tự nhiên KCN phù hợp được đánh giá dựa trên tính hợp lý của quy mô so với mục đích và tính chất hoạt động của KCN
- Tỷ lệ diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê trong diện tích đất tự nhiên KCN Tiêu chí này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất trong KCN; nó thể hiện mật độ của các doanh nghiệp sản xuất trong KCN Nếu tỷ lệ này quá thấp sẽ gây lãng phí về mặt bằng, việc khai thác kém hiệu quả; còn nếu tỷ lệ này quá cao thì phần diện tích dành cho giao thông, sân chơi, cây xanh và môi trường… sẽ thấp gây ảnh hưởng đến khả năng hoạt động cũng như môi trường thông thoáng trong KCN
- Tỷ lệ lấp đầy KCN: Chỉ số này được đo bằng tỷ lệ giữa diện tích đất KCN đã cho
Trang 26- các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ thuê và tổng diện tích đất có khả năng cho thuê của KCN Chỉ số này cho phép đánh giá mức độ thành công về thu hút đầu tư của KCN và so sánh giữa KCN với các KCN khác trong việc khai thác, sử dụng đất đai Một KCN có tỷ lệ diện tích được lấp đầy là 100% là KCN đã khai thác triệt để phần diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê, không còn phần diện tích đất trống Tất nhiên tỷ lệ lấp đầy không thể đạt cao ngay từ đầu mà nó phải được đánh giá theo từng giai đoạn
- Sự gia tăng ổn định về mặt sản lượng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN: Đây là tiêu chí quan trọng nhất đánh giá tính ổn định lâu dài
về kinh tế đảm bảo hoạt động sản xuất của KCN Đo lường tiêu chí này có thể dựa trên các chỉ số cụ thể về quy mô và tốc độ tăng trưởng các chỉ số đầu ra: (i) Quy mô, tốc độ tăng trưởng về GTSX, (ii) giá trị gia tăng và (iii) đóng góp với ngân sách nhà nước của các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong KCN
- Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong KCN: Có nhiều chỉ số để đánh giá tiêu chí này như: Tổng số lao động thu hút; tổng vốn kinh doanh; tỷ lệ giá trị gia tăng so với tổng doanh thu nhưng nổi bật lên trên hết là hai chỉ số có thể thu thập và xác định khá dễ dàng là (i) Doanh thu trên một đơn vị lao động (Năng suất lao động) và (ii) Doanh thu trên một đơn vị diện tích Việc đánh giá các chỉ số này phải dựa trên mức và tốc độ tăng trưởng của các con số đó Điều đó cho phép kết luận về khả năng duy trì tính bền bỉ trong hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp
- Trình độ công nghệ của doanh nghiệp và các hoạt động triển khai khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh Tiêu chí này phản ánh khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong KCN, giữa KCN với các KCN khác trong nước và quốc tế Tiêu chí này thể hiện bằng các chỉ số: (i) cơ cấu trình độ công nghệ của máy móc thiết bị sử dụng trong KCN theo tỷ lệ vốn sản xuất trên 1 lao động và tỷ lệ vốn đầu tư trên một
dự án; Quốc gia đầu tư, tính chất công nghệ; (ii) Tỷ lệ đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và triển khai trong tổng vốn đầu tư của các doanh nghiệp, tỷ lệ doanh thu từ hoạt động nghiên cứu và triển khai so với tổng quy mô hoạt động của doanh nghiệp và của toàn KCN
Trang 27- Hoạt động liên kết sản xuất của các doanh nghiệp trong KCN: Đây cũng là tiêu chí phản ánh tính hiệu quả trong hoạt động của toàn KCN, tính chất tiên tiến trong tổ chức sản xuất và sự phù hợp với xu thế phát triển của phân công lao động xã hội theo hướng hiện đại Tiêu chí này thể hiện trên các khía cạnh: (i) Tính chất chuyên ngành của KCN hay số ngành kinh tế trong KCN; (ii) Tỷ lệ số doanh nghiệp có liên kết sản xuất với nhau trong tổng số doanh nghiệp nằm trong KCN; (iii) Tỷ lệ số doanh nghiệp có liên kết sản xuất với doanh nghiệp trong KCN khác và các doanh nghiệp khác bên ngoài KCN
1.2.4.4 Tính hiệu quả của các chính sách và biện pháp nhà nước đối với các KCN
Hiệu quả của quản lý nhà nước đối với các KCN thường được xác định từ hiệu quả tổng hợp cả về kinh tế và xã hội, để xác định tương quan định lượng giữa chi phí thực thi chính sách bỏ ra và lợi ích thu lại thì hiệu quả phải tính thêm những tác hại phụ khi thực thi chính sách, ví dụ như độ thỏa mãn nhu cầu của các nhà đầu tư Nhóm tiêu chí này phản ánh sức hấp dẫn của các KCN đối với các nhà đầu tư cả trong giai đoạn thu hút đầu tư và quá trình hoạt động của doanh nghiệp trong KCN Nó bao gồm một nhóm các yếu tố phản ánh mức độ tiện lợi của hệ thống dịch vụ trong KCN tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư Cụ thể là: (i) Mức độ bảo đảm của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật của KCN: Hệ thống cung ứng điện, nước,
hệ thống hạ tầng trong, ngoài KCN: đường xá, kho bãi… (ii) Năng lực các ngành công nghiệp hỗ trợ, chất lượng hoạt động các ngành logistics phục vụ hoạt động cho các doanh nghiệp trong KCN như: bưu chính, thông tin, tài chính, ngân hàng, (iii) Các chỉ số về nguồn nhân lực với tư cách là nguồn lực đầu vào cho hoạt động của KCN, bao gồm khả năng tuyển dụng lao động hay tính sẵn có về số và chất lượng lao động địa phương khi doanh nghiệp cần tuyển dụng và giá nhân công của địa phương này so với các địa phương khác trong cả nước và nước ngoài
Trong quá trình thực thi quản lý nhà nước đối với các KCN, do có nhiều nội dung của nhiều chỉ tiêu không thể lượng hóa được vì các nội dung này mang tính xã hội cao bên cạnh nền kinh tế thị trường, do vậy hiệu quả vừa được xác định theo định tính (hiệu quả xã hội) vừa được xác định theo định lượng (hiệu quả kinh tế) Hiệu quả theo định lượng được đánh giá cao khi nó phù hợp với hiệu quả của các chính sách khác, thậm
Trang 28chí nó bổ sung cho nhau để tăng thêm lợi ích chung cho xã hội
1.3 Cơ sở pháp lý quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp
1.3.1 Hệ thống luật
- Luật chung như: Luật Đầu tư; Luật Doanh nghiệp; Luật Xây dựng; Luật Bảo vệ Môi trường; Luật Đất đai; Luật Lao động; Luật Thương mại, các Luật chuyên ngành khác và các văn bản hướng dẫn thi hành các Luật trên
- Quy định pháp lý riêng cho KCN: Tuỳ mỗi nước, các quy định này có thể được ban hành thành luật hoặc văn bản pháp lý dưới luật Ở nước ta, KCN được chế định bằng Nghị định 36/CP ngày 23/4/1997 về ban hành quy chế KCN, KCX, KCNC; Nghị định 29/2008/NĐ-CP, ngày 14 tháng 3 năm 2008 Quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế; Các nghị định bổ sung điều chỉnh: Nghị định số 164/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013, Nghị định số 114/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 11 năm 2015; Nghị định 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư Các Nghị định này chứa đựng nội dung, phương thức quản lý, trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước đối với KCN
1.3.2 Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước liên quan đến KCN
Thủ tướng Chính phủ (1999) Quyết định số 152/QĐ-TTg, ngày 10/7/1999 phê duyệtChiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm
Trang 29Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020
Và một số quy hoạch, kế hoạch khác liên quan đến các lĩnh vực quản lý khu công nghiệp
1.3.3 Các chính sách của Nhà nước: Như chính sách khuyến khích đầu tư, ưu đãi đầu tư, xúc tiến đầu tư, chính sách lao động việc làm,
Quyết định 43/2009/QĐ-TTg ngày 19/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách Trung ương để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật KCN tại các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và Quyết định 126/2009/QĐTTg ngày 26/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách trung ương đối với đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng KKT ven biển Ngày 30/11/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2127/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong đó nêu rõ quan điểm, định hướng giải quyết nhà ở cho công nhân lao động tại các KCN, cụm công nghiệp và các cơ sở sản xuất, dịch vụ ngoài KCN
Nhằm quy định các chính sách hỗ trợ, chính sách ưu đãi phát triển công nghiệp hỗ trợ Ngày 3/11/2015 vừa qua Chính phủ đã ban hành Nghị định số 111/2015/NĐ-CP về phát triển công nghiệp hỗ trợ Nghị định này bãi bỏ Quyết định số 12/2011/QĐTTg ngày 24 tháng 02 năm 2011 về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ; Quyết định số 1483/QĐ-TTg ngày 26 tháng 8 năm 2011 về việc ban hành Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản liên quan
1.4 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước đối với các khu công nghiệp
1.4.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp tại tỉnh Bình Dương [11]
Trong thời gian qua, các khu công nghiệp (KCN) Bình Dương được xây dựng và phát triển trong bối cảnh thuận lợi và khó khăn đan xen nhau Song với sự chỉ đạo kịp thời của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, các Bộ, ngành Trung ương, sự quyết tâm cao của các chủ đầu tư và sự chủ động, linh hoạt của các doanh nghiệp KCN đã giúp cho các KCN tiếp
Trang 30tục giữ vững ổn định và phát triển, góp phần thực hiện hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Dương, đưa Bình Dương trở thành điểm sáng của cả nước trong phát triển các KCN
1.4.1.1 Đầu tư tốt hạ tầng KCN
Thực hiện chủ trương đổi mới, mở cửa, Bình Dương đã tiến hành thành lập các KCN
từ năm 1995 để thu hút các dự án đầu tư, đến nay Bình Dương đã có 28 KCN được thành lập với tổng diện tích quy hoạch gần 10.000 ha
Về quy mô KCN, bình quân diện tích khoảng 336 ha/khu KCN lớn nhất là KCN Việt Nam - Singapore II mở rộng thuộc thị xã Tân Uyên với diện tích 1.008 ha, KCN nhỏ nhất là KCN Bình Đường với diện tích 16,5 ha So với cuối năm 2005, quy mô KCN tăng gấp 1,85 lần (182 ha/khu) Theo quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đến năm 2020, dự kiến toàn tỉnh sẽ có tổng cộng 35 KCN với tổng diện tích gần 14.000 ha
Việc quy hoạch hình thành, xây dựng và phát triển các KCN đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc thu hút các thành phần kinh tế vào đầu tư, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá Điểm đặc biệt của Bình Dương là không sử dụng vốn ngân sách để đầu tư phát triển hạ tầng trong các KCN Hiện tại, có 19 doanh nghiệp tham gia đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng KCN
Đến nay các chủ đầu tư đã đầu tư đáp ứng yêu cầu thu hút đầu tư và hoạt động của các doanh nghiệp tại các KCN
1.4.1.2 Phát triển KCN gắn với phát triển đô thị, dịch vụ
Quan điểm phát triển KCN gắn với khu dân cư và đô thị lần đầu tiên được Bình Dương thực hiện từ năm 2002 Các mô hình quy hoạch KCN gắn với đô thị như hiện nay đã đánh dấu sự phù hợp của quan điểm mới và cách nhìn mới về phát triển công nghiệp gắn với phát triển đô thị và dịch vụ
Đặc biệt, việc hình thành Khu Liên hợp Công nghiệp - Đô thị - Dịch vụ với diện tích khoảng 4.196 ha; trong đó đã quy hoạch 7 KCN và xây dựng Khu đô thị mới với diện tích 1.000 ha
Trang 31nghiệp Việc sử dụng đất vào phát triển KCN Đồng Nai đạt hiệu quả cao, tỷ lệ sử dụng đất tự nhiên của 32 KCN chiếm 1,67% diện tích đất của tỉnh, đóng góp trên 40% GDP của tỉnh Tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp của các KCN hiện nay đạt 67,49%, trong đó có nhiều KCN đạt tỉ lệ lấp đầy cao như KCN Bàu Xéo, Định Quán, Biên H a
I, Biên H a II, Amata, Loteco, Tam Phước, Hố Nai, Sông Mây, Nhơn Trạch I, Nhơn Trạch II…
1.4.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp tại tỉnh Đồng Nai [12]
Những năm gần đây, Đồng Nai đã đạt kết quả cao trong việc thu hút vốn FDI cho công nghiệp, đặc biệt là trong các KCN Tại 32 KCN Đồng Nai hiện có 42 quốc gia và vùng lãnh thổ hoạt động đầu tư với tổng số 1.510 dự án, trong đó có 1.100 dự án có vốn đầu
tư nước ngoài (FDI) với tổng vốn đầu tư xấp xỉ 21 tỷ USD và 410 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư 48.000 tỷ đồng
Tổng số lao động Việt Nam tại các KCN Đồng Nai là khoảng 450.000 người, trong đó lao động nữ khoảng gần 280.00 người Điều đó góp phần quan trọng trong việc giảm
tỷ lệ thất nghiệp lao động Đồng Nai
Về công tác bảo vệ môi trường trong các KCN: Qua gần 20 năm hoạt động, đến năm
2014, trong 31 KCN có tổng lượng nước thải thực tế là 55.368 m3/ngày đêm; trong đó
có 28 KCN đã cơ bản xây dựng hoàn thành hệ thống xử lý nước thải tập trung với công suất thiết kế 117.500 m3/ngày
Bên cạnh những kết quả đạt được, Đồng Nai đã gặp không ít khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển các KCN như:
- Một số KCN còn gặp nhiều khó khăn trong công tác triển khai xây dựng hạ tầng
do vướng việc giải phóng mặt bằng
- Công tác quản lý môi trường trong các KCN trong việc kiểm soát nước thải: thời gian đầu do chú trọng ưu đãi thu hút đầu tư nên chưa quan tâm đến yếu tố môi trường Bên cạnh đó, một số quy định còn chưa thống nhất trong việc giao cơ quan quản lý về lĩnh vực môi trường trong KCN
Trang 32- Tình hình đình công đã và đang xảy ra trong các doanh nghiệp tại các KCN Đồng Nai Bên cạnh đó, một số chính sách xây dựng nhà ở, ưu tiên trợ giá điện nước cho nhà trọ công nhân; xây dựng khu vui chơi học tập; nhà trẻ… cho người lao động trong KCN còn chưa phát huy được hiệu quả trong xã hội
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến các hạn chế trên, trong đó có một số nguyên nhân chính sau:
- Công tác đền bù giải tỏa còn gặp khó khăn
- Do kinh tế nước ta bị ảnh hưởng suy thoái kinh tế thế giới nên việc sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn Hơn nữa, trong KCN tập trung mật độ về con người, tài sản cao, do đó công tác quản lý về an ninh trật tự, an sinh xã hội chưa đáp ứng đầy đủ
và chưa theo kịp tốc độ phát triển các KCN
- Mô hình quản lý KCN “một cửa, tại chỗ” với Ban Quản lý KCN là cơ quan quản
lý trực tiếp các KCN dù có nhiều đổi mới tích cực từ sau Nghị định 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ, đóng góp vào phát triển và xây dựng KCN, nhưng nhìn chung vẫn còn lúng túng trong việc hoàn thiện mô hình này cho phù hợp giai đoạn phát triển hiện nay
Trong những năm qua, với sự đầu tư và hỗ trợ từ Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương, việc phát triển hạ tầng kỹ thuật đã được các cấp chính quyền quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện cho nhà đầu tư hoàn thiện theo tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế
Tính đến hết quý I/2017, trong các KCN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có 445 dự án đầu tư, trong đó có 338 dự án tại nước với vốn đầu tư 15.480,7 tỷ đồng và 107 dự án
Trang 33đầu tư trực tiếp nước ngoài với số vốn 1.079,3 triệu USD Giải quyết việc làm cho hơn
74 nghìn công nhân lao động, trong đó có 244 lao động là người nước ngoài
Những thành quả đạt được đối với xây dựng, phát triển KCN đã thực sự đóng góp tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố, nâng cao kim ngạch xuất khẩu, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động, đồng thời góp phần đưa thành phố Đà Nẵng dẫn đầu cả nước trong bảng xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)
1.4.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp tại thành phố Hải Phòng [10]
Nhận thức và đánh giá được vai trò, vị trí quan trọng của các KCN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới, Hải Phòng đã có những biện pháp, giải pháp quản lý tích cực, đẩy mạnh và nâng cao công tác quản lý nhà nước các KCN Tính lũy
kế đến ngày 20 tháng 12 năm 2016, trong các Khu công nghiệp và Khu kinh tế tại Hải Phòng có 105 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đạt 55.600,3 tỷ đồng; 226
dự án FDI với tổng vốn đầu tư đạt 10.754,2 triệu USD Đạt được các thành tựu trên là
do Hải Phòng đã thực hiện các biện pháp quản lý sau:
1.4.4.1 Về hoạch định, quy hoạch các KCN:
Quy hoạch KCN đổi mới và thay đổi lớn: Đến nay trên địa bàn thành phố Hải Phòng
có 17 KCN được quy hoạch với tổng diện tích đất khoảng 10.000 ha Đặc biệt, ngày 10/1/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 06/2008/QĐ-TTg thành lập KKT Đình Vũ - Cát Hải với quy mô 21.640 ha (nay được điều chỉnh bổ sung thành 22.140 ha) Đây là KKT có nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng một KKT tổng hợp được vận hành theo quy chế riêng biệt; là một trung tâm kinh tế biển, đa ngành, đa lĩnh vực
1.4.4.2 Về tổ chức thực hiện triển khai quy hoạch
Bằng các hoạt động tích cực, trong vòng gần 5 năm (từ năm 2011 đến 2015), KCN của Hải Phòng đã khởi sắc với những kết quả rõ nét ở nhiều mặt
1.4.4.3 Kết quả xây dựng KCN và thu hút đầu tư tăng nhanh
Trong 4 năm 2007-2011, có 7 Công ty xây dựng cơ sở hạ tầng KCN được cấp Giấy chứng nhận đầu tư (gấp hơn 2 lần của 13 năm trước đó), nâng tổng số các KCN được
Trang 34thành lập và đi vào hoạt động là 10 khu với tổng diện tích gần 4.000 ha, tổng vốn đầu
tư cơ sở hạ tầng quy đổi 1,26 tỷ USD, loại hình công ty xây dựng và kinh doanh cơ sở
hạ tầng KCN đa dạng hơn (có 4 công ty liên doanh với nước ngoài, 1 công ty 100% vốn nước ngoài, 5 công ty 100% vốn trong nước) Trong số này có 2 KCN đã lấp đầy diện tích giai đoạn I và đang triển khai giai đoạn II (Nomura - Hải Phòng, Đình Vũ) Năm 2015, có 93 dự án có vốn đầu tư nước ngoài được Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, trong đó có 16 dự án điều chỉnh tăng tổng vốn đầu tư 192,776 triệu USD; 08 dự án có vốn đầu tư trong nước được Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, trong đó
có 03 dự án điều chỉnh tăng tổng vốn đầu tư 6.551 tỷ VNĐ
KCN đã đóng góp tích cực đối với sự phát triển KT - XH: Các KCN, KKT Hải Phòng
đã góp phần tạo ra kết cấu hạ tầng kỹ thuật mới, huy động được nguồn lực đáng kể của các thành phần kinh tế để mở rộng, nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố theo hướng CNH, HĐH, đa dạng hoá ngành nghề, nâng cao trình độ công nghệ và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tăng cường xuất khẩu, mở rộng hợp tác quốc tế; tham gia giải quyết việc làm, nâng cao dân trí, thực hiện chính sách xã hội, bảo vệ môi trường đảm bảo đầu tư bền vững, đóng góp cho ngân sách địa phương ngày một gia tăng
1.4.5 Các bài học kinh nghiệm
Một là, cùng với những chủ trương chính sách của Nhà nước khuyến khích các thành
phần kinh tế phát triển, hệ thống chính sách của Nhà nước không ngừng được sửa đổi,
bổ sung hoàn thiện tạo môi trường thuận lợi trong việc thu hút đầu tư; sự ủng hộ của Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương; cần có sự thống nhất cao trong Đảng bộ, chính quyền và các ngành, các cấp trong việc chỉ đạo, điều hành, quản lý KCN; đặc biệt là sự đồng thuận của phần lớn người dân trong vùng giải tỏa, tạo điều kiện để KCN được triển khai nhanh chóng, thuận lợi đáp ứng yêu cầu phát triển
Hai là, quy hoạch hình thành KCN phải dựa trên lợi thế so sánh của vùng, có vị trí địa
lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, gắn với sự phát triển hệ thống giao thông trong và ngoài hàng rào KCN, đấu nối các hạ tầng kỹ thuật (điện, nước, bưu chính viễn
Trang 35thông ), đào nguồn lao động cung cấp cho KCN
Ba là, lựa chọn chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN phải có năng lực tài chính,
kinh nghiệm hoạt động sản xuất kinh doanh và kinh nghiệm quản lý, có mối quan hệ khách hàng rộng; đặc biệt là đội ngũ cán bộ kinh doanh phải có sự am hiểu về hoạt động của KCN, để từ đó có khả năng tiếp thị, xúc tiến kêu gọi đầu tư vào KCN
Bốn là, duy trì, tăng cường công tác tiếp xúc với doanh nghiệp, duy trì nắm bắt thông
tin, tình hình hoạt động nhằm sớm có những giải pháp, phương án hỗ trợ, tạo điều kiện cho Doanh nghiệp hoạt động sản xuất ổn định, phát huy hết công suất thiết kế
1.5 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Về công tác quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp có thể đưa ra một số công
trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
- Trần Ngọc Hưng (2006), luận án tiến sĩ “Các giải pháp hoàn thiện và phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam”, nghiên cứu theo tiếp cận quản lý vĩ mô về giải pháp hoàn
thiện và phát triển KCN ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 [14]
- Tác giả Lê Tuyển Cử với luận án Tiến sĩ (2003) “Những biện pháp phát triển và hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp ở Việt Nam” đi sâu nghiên cứu hiện trạng phát triển các KCN ở Hà Nội; đánh giá ưu, khuyết điểm, nguyên
nhân và phương hướng cải tạo; xác lập cơ sở khoa học ảnh hưởng quyết định đến việc phát triển cải tạo các KCN ở Hà Nội; đề xuất nội dung, phương hướng cải tạo các KCN tập trung ở Hà Nội đến năm 2010 [15]
- Vũ Đại Thắng (2011), đề tài cấp Bộ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư “Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển KCN, KCX, KKT” đã chỉ ra những tồn tại trong việc áp dụng cơ chế, chính sách vào mỗi địa phương, như hội chứng ồ ạt thành lập các KCN khi chưa được chuẩn bị kỹ lưỡng; Sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương về thu hút đầu tư nước ngoài vào KCN; Các vấn đề về ô nhiễm môi trường, vấn đề quản lý [16]
- Bùi Thế Cử (2016), luận án tiến sĩ "Tác động của phát triển các khu công nghiệp đến nông thôn qua nghiên cứu thực tiễn tại tỉnh Hưng Yên" Luận án đã bổ sung một
Trang 36vấn đề quan trọng trong khung phân tích về tác động của KCN đến nông thôn so với khung phân tích mà các nghiên cứu trước đây thường áp dụng; đó là xem xét sự tác động qua lại của phát triển KCN đến chính sách phát triển nông thôn nhằm làm rõ sự thay đổi của chính sách do tác động của phát triển các KCN và ngược lại Đồng thời, luận án đã nghiên cứu sâu kinh nghiệm phát triển KCN của một số nước và một số địa phương ở nước ta, từ đó khái quát bài học bổ ích về phát huy những tác động qua lại tích cực và hạn chế những tác động qua lại tiêu cực giữa phát triển KCN với phát triển KT-XH nông thôn và giữa phát triển KCN với chính sách phát triển nông thôn có thể
áp dụng trong thực tiễn phát triển KCN ở nước ta [17]
Các nghiên cứu này cũng đề xuất thay đổi cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo cho phát
và bảo vệ môi trường các KCN trên phạm vi cả nước
Ngoài ra, còn phải kể đến rất nhiều công trình chuyên khảo, bài viết của các cá nhân
và tập thể xung quanh nội dung này Năm 2002, Hội đồng khoa học Bộ kế hoạch và
đầu tư (Bộ KH&ĐT) đã nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Nghiên cứu
mô hình tổ chức quản lý nhà nước về khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam”
Công trình có những nghiên cứu chung đánh giá hoạt động của KCN trong thời gian qua; về mô hình tổ chức Nhà nước ở KCN; vai trò của KCN đối với nền kinh tế đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường hội nhập, mở cửa của một nước đang phát triển như Việt Nam; về quy hoạch phát triển KCN từ góc độ cơ cấu ngành, vùng… [18]
Có thể thấy, đó là những nội dung hết sức phong phú với nhiều hướng tiếp cận đến một vấn đề phức tạp còn tồn tại các quan điểm khác nhau Những kết quả đạt được trong các công trình nghiên cứu trên là hết sức quý báu, gợi mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới, nhằm trực tiếp phục vụ cho sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế của đất
nước
Kết luận chương 1
Trong chương này, luận văn đã hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề khái niệm về KCN, vai trò của KCN đối với nền kinh tế Hệ thống hóa và làm rõ khái niệm quản lý nhà nước đối với các KCN; Nội dung quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp gồm:
Trang 37Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách quản lý nhà nước các KCN;
Tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách quản lý nhà nước các KCN; Thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các KCN Chỉ ra tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước đối với các KCN bao gồm: Tính phù hợp; Tính hiệu lực; Tính khả thi; Tính hiệu quả Đưa ra các công cụ tác động và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp
Giới thiệu sơ lược về công tác quản lý nhà nước tại các địa phương của Việt Nam, như: Bình Dương, Đồng Nai, Đà Nẵng, Hải Phòng Từ đó rút ra bào học có thể áp dụng cho tỉnh Sơn La trong công tác quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA
2.1 Khái quát các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Sơn La
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Điều kiện địa lý
Tỉnh Sơn La có diện tích 14.125 km² chiếm 4,27% tổng diện tích Việt Nam, đứng thứ
3 trong số 63 tỉnh thành phố Toạ độ địa lý: 20o00'39'’ - 22o00'02'’ vĩ độ Bắc và 10o30'11’ - 10o50'02'’ kinh độ Đông
Địa giới: phía bắc giáp các tỉnh Yên Bái, Điện Biên, Lai Châu; phía đông giáp các tỉnh Phú Thọ, Hoà Bình; phía tây giáp với tỉnh Điện Biên; phía nam giáp với tỉnh Thanh Hóa và tỉnh Huaphanh (Lào); phía tây nam giáp tỉnh Luangprabang (Lào) Sơn La có đường biên giới quốc gia dài 250 km, chiều dài giáp ranh với các tỉnh khác
là 628 km
Sơn La nằm cách Hà Nội 320 km trên trục Quốc lộ 6 Hà Nội - Sơn La - Điện Biên, Sơn La là một tỉnh nằm sâu trong nội địa Tỉnh này có 3 cửa khẩu với Lào là cửa khẩu quốc tế Chiềng Khương, Cửa khẩu Lóng Sập và Nà Cài
Sơn La có độ cao trung bình 600 - 700m so với mặt biển, địa hình chia cắt sâu và mạnh, 97% diện tích tự nhiên thuộc lưu vực sông Đà, sông Mã, có 2 cao nguyên là Cao nguyên Mộc Châu và Cao nguyên Sơn La, địa hình tương đối bằng phẳng Cùng với các tỉnh Hòa Bình, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La là mái nhà của đồng bằng Bắc Bộ Địa hình phần lớn là đồi núi, trong đó các đồi núi cao tập trung ở các huyện Sốp Cộp, Thuận Châu, Bắc Yên, Sơn La có dòng sông Mã, sông Đà đi qua, phù sa từ hai con sông này đã bồi nên những thung lũng, 2 dòng sông này còn gây ra tình trạng xâm thực, sức nước mạnh khoét sâu vào các ngọn đồi, làm sụp những phần đất cao và mở rộng thung lũng ra Phía Đông là các cao nguyên rộng lớn như cao nguyên Mộc Châu, đây là nơi có đồng cỏ lớn, là nơi chăn nuôi gia súc phù hợp Địa hình cao, sông suối nhiều, lắm thác ghềnh, nên đây là nơi có nguồn thủy điện dồi dài, nhà máy thủy điện Sơn La được xây dựng ở đây là nhà máy lớn nhất Đông Nam Á
Trang 39hiện tại Phía Bắc và Đông là những dãy núi cao vắt ngang chắn lại các lối giao thông,
vì thế đã tạo ra các đèo như đèo Pha Đin, đèo Tà Xùa,
Dự án Khu công nghiệp nằm trong địa giới hành chính của huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn
La
Hình 2.1 Bản đồ vị trí tỉnh Sơn La bản đồ hành chính huyện Mai Sơn
tỉnh Sơn La
Trang 40Hình 2.2 Bản đồ vị trí, mối liên hệ vùng của Khu công nghiệp Mai Sơn
Ranh giới cụ thể như sau:
- Theo trục đường đi ra Quốc lộ 6: Phía Tây Nam giáp khu dân cư đội Tiến Xa, xã Mường Bon; phía Đông Bắc giáp khu đất sản xuất của Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên Nông nghiệp Tô Hiệu;
- Theo trục đường đi ra Thị trấn Hát Lót: Phía Đông Nam giáp bản Tiến Xa, xã Mường Bon; phía Tây Bắc giáp bản tái định cư Mai Châu, xã Mường Bằng
2.1.1.2 Đặc điểm địa chất
Địa chất của huyện chia cắt phức tạp, núi đá cao xen lẫn đồi đất, thung lũng, lòng chảo
và cao nguyên Độ cao trung bình so với mực nước biển từ 700 – 800m với 2 hệ thống dãy núi chính chạy dọc theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và dãy chạy theo hướng Tây Bắc – Tây Nam có độ cao từ 1.200 – 1.500 m tạo ra nhiều tiểu vùng với các ưu thế khác nhau Là địa bàn thuộc cao nguyên Nà Sản có hướng dốc thoải theo hướng Đông Nam – Tây Bắc khu vực Trung tâm có địa hình tương đối bằng phẳng (cao độ thay đổi