Dựa trên dữ liệu định tính được thu thập từ cuộc điền dã dài ngày tại cộng đồng, bài viết tập trung phân tích cách thức tổ chức cộng đồng và quan hệ xã hội ở quê nhà cũng như tại nơi ở m
Trang 1ĐỜI SỐNG LAO ĐỘNG KHMER NHẬP CƯ Ở ĐÔ THỊ - TIẾP CẬN
XU HƯỚNG TÁI CẤU TRÚC CỘNG ĐỒNG CỦA NHÓM CƯ DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Lê Anh Vũ (1)
(1)Trường Đại học Thủ Dầu Một Ngày nhận bài 12/12/2019; Ngày gửi phản biện 20/01/2020; Chấp nhận đăng 30/03/2020
Liên hệ email: vula@tdmu.edu.vn
https://doi.org/10.37550/tdmu.VJS/2020.02.024
Tóm tắt
Dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, làn sóng di cư từ nông thôn ra thành thị đã trở nên phổ biến Là một trong những địa phương năng động trong phát triển kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, Bình Dương đã và đang là điểm đến của nhiều làn sóng di dân trong đó có người lao động Khmer từ Đồng bằng sông Cửu Long Dựa trên dữ liệu định tính được thu thập từ cuộc điền dã dài ngày tại cộng đồng, bài viết tập trung phân tích cách thức tổ chức cộng đồng và quan hệ xã hội ở quê nhà cũng như tại nơi ở mới của lao động Khmer Kết quả nghiên cứu cho thấy việc cư trú thành cộng đồng dựa trên mối quan hệ thân tộc - đồng hương và cố gắng duy trì truyền thống văn hóa như một chiến lược ứng phó với những khó khăn khi mưu sinh nơi đất khách Những người lao động nhập cư Khmer có xu hướng “tái cấu trúc cộng đồng” thông qua việc tổ chức các lễ hội truyền thống, giao tiếp với nhau bằng tiếng Khmer, hình thành và phát triển các điểm dịch vụ ăn uống, buôn bán tạp hóa, chăm sóc sắc đẹp dành cho người Khmer Những phân tích này gợi ý cho việc phát huy vai trò của mạng lưới đồng hương trong những hoạt động
hỗ trợ dành cho người lao động Khmer nhập cư trong thời gian tới
Từ khóa: cấu trúc cộng đồng, lao động Khmer nhập cư, mạng lưới xã hội
Abstract
THE LIFE OF KHMER IMMIGRANTS IN URBAN AREAS– APPROACH FROM COMMUNITY RESTRUCTURING TENDENCY OF A RESIDENTIAL GROUP IN THUAN AN CITY, BINH DƯƠNG PROVINCE
Affected by industrialization and urbanization, the campaign of emigration from rural area to urban area becomes more and more popular As a dynamics in economic development, attracting foreign investment, Binh Duong province has been a good destination of many movements of emigration among which there are a lot of Khmer people from Mekong delta Based on the qualitative data in the long-term fieldwork in the community, the article focuses on organize community and social relations in their home country as well as in the new place of migrant Khmer workers The research
Trang 2results show that residence as a community is based on a kinship-country system and trying to maintain cultural identity as a living strategy to cope with the difficulties of living in a foreign land The laborers immigrated have trending to restructure their community through traditional festivities, mutual communication in ethnic minority language Khmer people shape and develop drinking and eating points, purchasing grocery, taking care of beauty just for Khmer people These analyses suggest speeding
up the role of the website of countrymen for the activities supporting for immigration of Khmer people in upcoming time
1 Đặt vấn đề
Cộng đồng và cấu trúc cộng đồng ở đô thị là một chủ đề được nhiều nhà xã hội học quan tâm nghiên cứu Họ thường đặt trọng tâm vào mối liên hệ giữa các định chế xã hội với các nhóm xã hội trong một địa bàn đô thị nhất định Theo Trịnh Duy Luân (2009) khi nghiên cứu cộng đồng, nhà nghiên cứu không chỉ chú ý đến quan hệ trong nội bộ cộng đồng mà còn phải quan tâm đến các tác động ngoài cộng đồng Dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, làn sóng di cư từ nông thôn ra thành thị đã trở nên phổ biến Trong dòng di cư, có người lao động Khmer từ đồng bằng sông Cửu Long lên các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam như thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương để tìm kiếm việc làm Tính riêng tại Bình Dương, theo
số liệu của Ủy ban Nhân dân tỉnh tính đến 8/8/2018 có 18.655 người thiểu số nhập cư đến từ Tây Nam Bộ (UBND, 2018), trong đó ước tính có khoảng 90% là người Khmer
Sự chuyển đổi không gian sống từ nông thôn sang đô thị, cùng với những thay đổi
về việc làm tạo nên những khác biệt về lối sống và phong tục tập quán Đây chính là những thách thức của người lao động Khmer nhập cư ở Bình Dương Chiến lược thích nghi của họ là sống tập trung trong những khu trọ và hình thành mạng lưới xã hội trong nội bộ cộng đồng để hỗ trợ nhau trong quá trình mưu sinh nơi đất khách Vấn đề là việc
cư trú tập trung đó mang lại những lợi ích gì cho họ? Và có hay không những rào cản đối với việc hòa nhập xã hội khi lựa chọn cách cư trú này? Việc tổ chức mạng lưới được hình thành như thế nào và đóng vai trò gì trong đời sống vật chất và tinh thần của người lao động Khmer? Vai trò của quan hệ đồng hương có liên quan gì trong việc hình thành mạng lưới cộng đồng? Những câu hỏi này rất cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc để có những hàm ý cho việc đề xuất những biện pháp hỗ trợ, tạo điều kiện để giúp người lao động Khmer có thể sinh sống, làm việc ổn định tại Bình Dương Đồng thời nghiên cứu cũng đóng góp cho sự phát triển bền vững của vùng đất này, phù hợp với chính sách dân tộc của Đảng cũng như định hướng phát triển Kinh tế - Xã hội của Bình Dương Bài viết này dựa trên nguồn tư liệu định tính thu thập được qua nghiên cứu điền dã dài ngày tại một cộng đồng người lao động Khmer tại Bình Dương (thuộc địa bàn phường Bình Hòa, thành phố Thuận An) Bài viết phân tích cách thức tổ chức cộng đồng và quan hệ
xã hội của người lao động Khmer ở quê nhà cũng như tại nơi ở mới
Trang 32 Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu
2.1 Khái niệm tái cấu trúc cộng đồng
Về mặt khái niệm, cấu trúc cộng đồng theo Ferdinand Tönnies (1855 – 1936) thể hiện những đặc trưng sau: thứ nhất, về tính quan hệ xã hội mang tính chất tinh thần, thân thiện Thứ hai, là tính bền vững theo nghĩa là tính cộng đồng phải được khẳng định qua dòng chảy của lịch sử Thứ ba, tính cộng đồng khi được xét bởi các vị thế xã hội gán nhãn và cuối cùng tính cộng đồng lấy quan hệ dòng họ làm quan niệm cơ bản và mang cả hai đặc trưng: dòng họ là huyết thống và dòng họ trở thành khuôn mẫu văn hóa của sinh hoạt cộng đồng (Tô Duy Hợp - Lương Hồng Quang, 2000) Đề cập đến tái cấu trúc cộng đồng, tác giả Nguyễn Đức Lộc còn đề xuất khái niệm về cấu hình xã hội rất đáng chú ý Theo đó, cấu hình xã hội được coi như một cấu trúc xã hội đa hệ thống mà trong đó các cá nhân hay nhóm xã hội tương tác với nhau, phụ thuộc lẫn nhau tạo nên một tổng thể đời sống xã hội (Nguyễn Đức Lộc, 2015) Như vậy, trong cấu trúc cộng đồng, mối quan hệ tương tác qua lại của các tác nhân như cá nhân, nhóm trong cộng đồng không hoàn toàn thụ động và không chỉ phụ thuộc vào cộng đồng mà còn tác động ngược trở lại Mặt khác, dựa trên quan điểm của Nguyễn Đức Lộc (2015), chúng tôi cho rằng tái cấu trúc cộng đồng được hiểu là việc thiết lập một cấu trúc cộng đồng mới thường gắn liền với các điều kiện sau: thứ nhất, là sự di cư của một hay nhiều nhóm dân
cư có cùng chung các đặc điểm văn hóa, tôn giáo, dân tộc Thứ hai, họ cùng tới định cư tại một địa vực cư trú mới và có điều kiện cố kết cộng đồng, tái thiết lập các mô hình tổ chức làng xã cũ nhằm duy trì các chức năng sinh tồn của các thành viên trong cộng đồng Khái niệm người lao động trong bài viết này dựa vào khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao
động năm 2012: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động,
làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”
2.2 Tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Về mặt tư liệu, những nghiên cứu về người lao động Khmer nhập cư trong thời gian vừa qua cũng đề cập đến những đặc trưng văn hóa – xã hội của họ như là những tác nhân giúp họ thích ứng với sinh kế ở nơi đến Ngô Văn Lệ (211), cho rằng giá trị văn hóa có vai trò rất quan trọng trong gắn kết cộng đồng và tạo nên bản sắc dân tộc của người Khmer nhưng văn hóa cũng có thể trở thành một lực cản gây hạn chế trong việc phát triển nguồn nhân lực trong một xã hội hiện đại Nhận định sâu sắc này được minh chứng bằng những nghiên cứu thực nghiệm của Ngô Thu Trang và cộng sự (2016); Trương Hoàng Trương và Vũ Ngọc Thành (2016) Khi phân tích sự thích ứng sinh kế của người nhập cư Khmer tại phường Bình Trị Đông B và phường An Lạc, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh, Ngô Thu Trang và cộng sự đã phát hiện sinh kế của dân nhập cư Khmer là kết quả của một mạng lưới xã hội với sự dẫn dắt và hướng dẫn từ những người dẫn đường, những người thực hiện di dân trước đó đã ổn định công việc hay cả những mạnh thường quân là người Khmer sẵn sàng giúp đỡ, hỗ trợ cho những
Trang 4người mới đến Ngoài ra, phần lớn người dân nhập cư Khmer vẫn còn “co cụm” trong các khu cư trú của họ và ít tham gia các tổ chức và các mạng lưới xã hội chính thức Ở một khía cạnh khác liên quan đến văn hóa, nghiên cứu của Trương Hoàng Trương và
Vũ Ngọc Thành về việc làm của thanh niên dân tộc người Khmer ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng cho thấy việc phải về quê tham gia vào các lễ hội truyền thống có ý nghĩa thiêng liêng trong đời sống tinh thần trong nhiều ngày cũng ảnh hưởng lớn đến tính ổn định việc làm của người Khmer nhập cư
Trên địa bàn tỉnh Bình Dương, Trần Hạnh Minh Phương (2017) cho biết nhóm người Khmer An Giang di cư các năm 1975, 1976, 1978 sống tại Long Hòa (Dầu Tiếng) Nhóm Khmer quê ở Bình Phước di cư năm 1960 hiện cư ngụ tại An Bình (Phú Giáo) Tại các địa phương này, người Khmer sống theo cộng đồng nên lưu giữ được khá nhiều nét văn hóa truyền thống Theo tác giả, chính ba mối quan hệ dòng họ, láng giềng
và đồng tộc người thể hiện qua việc có cùng thời gian di cư, địa điểm định cư đầu tiên,
và đôi khi có cùng sinh kế Ba mối quan hệ này là định chế phi chính thức quy định và điều chỉnh các hành vi ứng xử trong cộng đồng
Đối với người lao động Khmer đến Bình Dương từ khi tái lập tỉnh (1997), nghiên cứu của Lê Anh Vũ (2019) cho thấy người Khmer đến Bình Dương thường tìm kiếm việc làm thông qua mạng lưới đồng hương và quan hệ dòng họ Họ cư trú tập trung trong các khu trọ ở Thuận An, Bến Cát hay cư trú tại nơi làm việc trong các cơ sở sản xuất gạch, gỗ ở Phú Giáo Nhìn chung, các nghiên cứu về lao động Khmer nhập cư đều khẳng định tính cố kết cộng đồng, bản sắc văn hóa là nguồn vốn quan trọng trong quá trình di cư nhưng cũng chính yếu tố này cũng là rào cản cho họ khi thích nghi với cuộc sống mới Tuy nhiên, có phải người Khmer luôn chọn lối sống “khép kín”, “co cụm” ở nơi ở mới hay lựa chọn này còn phụ thuộc vào đặc điểm của cộng đồng mà họ sẽ có những cách thích ứng khác nhau? Bài viết này là một trường hợp nghiên cứu cho thấy
xu hướng tái cấu trúc cộng đồng và cố gắng hòa nhập ở nơi ở mới dựa trên mối quan hệ đồng tộc, đồng hương trong cộng đồng và sự gắn kết với các hoạt động do chính quyền địa phương tổ chức
Về phương pháp, dữ liệu của nghiên cứu này được trích ra từ kết quả khảo sát điền dã dài ngày bằng phương pháp quan sát tham dự từ 2013 đến 2019 tại một cộng đồng người lao động Khmer ở đường Bình Hòa 20, phường Bình Hòa thuộc thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương Những cuộc phỏng vấn chỉ được tiến hành sau khi tác giả
đã có quá trình làm quen, thiết lập mối quan hệ để tạo sự tin cậy và đồng thuận Trong bài viết này có trích dẫn tám cuộc phỏng vấn sâu và để đảm bảo tính riêng tư, các nhân vật được đề cập đều được mã hóa bằng cách đổi tên Ngoài ra, chúng tôi còn thực hiện các công cụ PRA như lược sử cộng đồng, sơ đồ tổ chức cộng đồng ở quê nhà và nơi ở mới Bên cạnh dữ liệu định tính là chủ yếu, chúng tôi có sử dụng bản câu hỏi để làm rõ những đặc điểm của cộng đồng thông qua khảo sát 200 lao động Khmer trên tổng số
267 người đang tạm trú tại khu trọ
Trang 53 Kết quả và thảo luận
3.1 Mô tả khu trọ có cộng đồng người Khmer nhập cư sinh sống ở thành phố Thuận An
Khu trọ 30/4 nằm cuối đường Bình Hòa 20 được xây dựng từ năm 2007 với 40 phòng trọ, thuộc sở hữu của chú Thuận Tới năm 2010, khu trọ được mở rộng thêm 2 dãy với 43 phòng do cô Thu là em ruột của chú Thuận làm chủ Sự ra đời của khu trọ này nhằm đáp ứng nhu cầu về chỗ ở của công nhân các khu công nghiệp trên địa bàn như khu công nghiệp Đồng An, khu chế xuất Linh Trung I Theo lời kể của chú Thuận, người ở trọ ban đầu chủ yếu là lao động đến miền Trung và miền Bắc Nhưng từ khoảng 2008, lao động người Khmer bắt đầu chiếm đa số Tính đến thời điểm tháng 4/2019, khu trọ được
mở rộng lên 1000m2, gồm bốn dãy nhà với 83 phòng Khu trọ hiện có khoảng 267 người thuê, trong đó chiếm tỷ lệ trên 90% là người Khmer Đáng chú ý hơn, tất cả họ đều đến từ huyện Long Phú và huyện Trần Đề thuộc tỉnh Sóc Trăng Sự quen biết, mối quan hệ họ hàng chính là lý do đưa đến việc hình thành nên một cộng đồng người Khmer tại khu trọ 30/4 Như câu chuyện của anh Xiêm 44 tuổi, quê ở huyện Trần Đề Là lao động Khmer ở lâu năm tại khu trọ, lại có khả năng sửa chữa điện, nước, xây dựng nên anh được chủ trọ tin cậy giao phó việc bảo trì và được trả thù lao hàng tháng Anh kể lại việc mình lên Bình
Dương và ở tại khu trọ này: “anh lên khu trọ này từ tháng 10/2010, lúc lên là do có thằng
em vợ giới thiệu, em vợ lên đây làm trước từ hồi 2007 rồi mới giới thiệu lên đây có công việc gì để làm, dễ kiếm công việc làm hơn mới quyết định lên đây Hồi lên có 2 vợ chồng lên à, con còn nhỏ bỏ cho ông bà ngoại giữ, sau này nó lớn lên rồi mới đưa nó lên”
(PVS, Nam, lao động tự do, 44 tuổi)
Câu chuyện của anh Thạch Ni cũng có những nét tương đồng cho thấy vai trò của
bà con, họ hàng trong việc giới thiệu việc làm và chỗ ở cho người thân ở quê Anh Thạch Ni 32 tuổi, lên Bình Dương từ năm 2012 và sau đó một năm thì vợ anh cũng lên
ở chung với anh, là người có uy tín trong cộng đồng khi nằm trong nhóm nòng cốt của
chi hội thanh niên công nhân xa quê, anh chia sẻ: “Anh em ở đây phần lớn là cùng quê
ở Sóc Trăng mà biết nhau nên dễ nói nhau nghe, anh em có khó khăn thì mình cùng đi chia sẻ rồi thông báo bà con trong khu thương nhau để giúp nhau, cũng như mình xa quê, xa nhà mà ở đây có bà con anh em thì đỡ lắm anh Như em lúc mới lên khó khăn lắm, đâu có xin việc được đâu, thất nghiệp cũng hai tháng mà nhờ ở chung với chị hai nên cũng đỡ tiền ăn, tiền trọ rồi nhờ ông chú ổng làm trước trong công ty Đại Tây Dương mới bảo lãnh em nên em mới có công việc đó” (PVS, Nam, công nhân, 29 tuổi)
Có thể nói, đây là đặc điểm rất đáng chú ý, khi hầu như tất cả những người ở trong khu trọ này đa phần có mối quan hệ quen biết ở quê nhà và có quan hệ bà con họ hàng Chính đặc điểm này đã tạo nên tính cố kết và tương trợ khá chặt chẽ Họ thật sự là
một cộng đồng Theo Ferdinand Toennies (1885) , “cộng đồng là nhóm người dựa trên
tình cảm gắn kết và có mối quan hệ ràng buộc nhau Duy trì tình cảm gắn kết và quan
hệ ràng buộc là mục tiêu của cộng đồng”
Trang 6Khi nhìn sơ đồ tổ chức cộng đồng ở khu trọ 30/4 trong hình 1, chúng ta thấy hệ thống đồng hương có mức độ gắn bó, gần gũi và có tác dụng tích cực nhất đối với người dân ở cộng đồng Ngoài ra, mức độ gắn bó và gần gũi còn là các nhóm nòng cốt, tiệm tạp hóa và có sự xuất hiện của Đoàn thanh niên thông qua chi hội thanh niên công nhân
xa quê tại khu trọ Các nhóm nhậu, nhóm chơi game được đánh giá là những nhóm có ảnh hưởng tiêu cực Anh Vi Lai là người tham gia thực hiện cuộc đánh giá này cho biết:
“có những anh em ra ca xong rồi nhậu nhẹt, hát hò gây ồn ào không cho ai nghỉ ngơi, chủ nhà trọ và anh em ra nhắc thì có khi không vui, rồi nhây nhây mệt lắm” (PVS,
Nam, công nhân, 35 tuổi)
Quy ƣớc:
: tổ chức phi chính thức
: tổ chức chính thức : gần gũi
: bình thường - : xa cách Màu đen : tích cực Màu trắng : bình thường Màu trắng có chấm: tiêu cực
Hình 1 Sơ đồ tổ chức cộng đồng ở khu trọ 30/4
Bảng 1 là thông tin khảo sát về đặc điểm lao động Khmer trong cộng đồng, kết quả khảo sát từ 200 người ở trong khu trọ 30/4, thực hiện tháng 8 năm 2018
Bảng 1 Đặc điểm lao động Khmer ở khu trọ 30/4
Học vấn
Tuổi
30 tuổi trở xuống 72 36.0
41 tuổi trở lên 39 19.5
Độ tuổi trung bình 33.54 Công việc hiện tại Công nhân 184 92.0
Mức lương
Mức lương trung bình 6.32 triệu
5 triệu đến dưới 7 triệu 132 66.0
Trang 7Tình trạng hôn nhân
Chưa lập gia đình 54 27.0
Bảng 1 cho thấy người lao động Khmer có trình học vấn tương đối thấp và chủ yếu là ở trình độ cấp một và cấp hai (31.5% và 48.5% Họ có tuổi đời khá trẻ với độ tuổi bình quân là 33.54 nhưng đa số là đã lập gia đình (139 người với tỷ lệ 69.5%) Về việc làm, đa phần là làm công nhân ở các khu công nghiệp gần nơi ở trọ như khu công nghiệp Đồng An, khu chế xuất Linh Trung 1 Mức lương trung bình của người lao động Khmer tại cộng đồng là 6.32 triệu đồng cao hơn khảo sát của chúng tôi về mức lương của người lao động Khmer trên địa bàn Bình Dương và mức lương trung bình của lao động thiểu số trong trong báo cáo của Ủy ban Nhân dân tỉnh về tình hình di dân của đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Nam Bộ ở Bình Dương năm 2018 là 5,8 triệu Cộng đồng người Khmer tại khu trọ được đề cập trong nghiên cứu này được hình thành trên mười năm (từ 2007 đến nay) Việc hình thành cộng đồng dựa vào việc quen biết nhau trong dòng họ và đồng hương Người lao động Khmer trong cộng đồng là những người xa quê, có cùng nhu cầu mưu sinh, khá tương đồng về trình độ học, nghề nghiệp (công nhân và lao động tự do) nên dễ kết thân và tương trợ nhau Mặt khác, chính những điểm tương đồng về đời sống tinh thần, tâm linh thông qua những phong tục, tập quán truyền thống cũng là chất keo kết dính cộng đồng mà chúng tôi sẽ phân tích sâu hơn ở phần sau
3.2 Xu hướng tái cấu trúc cộng đồng như là một chiến lược thích ứng với cuộc sống nơi đất khách
Chuyển từ không gian sống quen thuộc ở nông thôn để tìm kiếm việc làm tại một không gian sống mới ở đô thị đối với những người lao động Khmer là những thách thức rất lớn Sự khác biệt của thói quen sinh hoạt, con người, môi trường văn hóa, ngôn ngữ, tính chất công việc dễ làm họ trở nên lạc lõng và khó hội nhập Chính vì thế, xu hướng
cư trú cùng nhau dựa trên mối quan hệ đồng hương, dòng họ để tái hình thành lại một cộng đồng cũ ở nơi mới giúp họ có thể duy trì được phần nào tập quán, sinh hoạt văn hóa truyền thống Cách thức thích nghi với cuộc sống mới này của họ có thể được coi như là một chiến lược sống nơi đất khách
Trong truyền thống, người Khmer sinh tụ lâu đời ở đồng bằng sông Cửu Long Để tồn tại và phát triển, duy trì truyền thống văn hoá tộc người, người Khmer đã tập hợp nhau lại thành những khu vực cư trú và tổ chức thành những đơn vị xã hội tự quản truyền thống với hai thiết chế xã hội là “phum” và “sóc” (srok) Về đại thể, “phum” là đơn vị xã hội nhỏ nhất, “sóc” là đơn vị xã hội hoàn chỉnh của người Khmer do nhiều phum hợp thành gắn liền với đất ở và đất canh tác, ràng buộc nhau bởi các phong tục, lễ nghi mà ở đó ngôi chùa là trung tâm sinh hoạt văn hóa (Bùi Thị Hồng Loan, 2010) Kết quả nghiên cứu về tổ chức cộng đồng ở quê nhà được thể hiện ở hình 2
Trang 8Quy ƣớc:
: tổ chức chính thức
: tổ chức chính thức
: gần gũi : bình thường -: xa cách Màu đen: tích cực Màu trắng: tiêu cực
Hình 2 Sơ đồ tổ chức cộng đồng quê nhà
Kết quả cũng cho thấy tầm quan trọng của nhà chùa, gia đình và họ hàng trong cuộc sống ở quê nhà Họ đã sắp xếp nhà chùa là gần nhất và có ảnh hưởng tích cực đối với đời sống của họ Trong những câu chuyện về quê nhà, chùa luôn được lao động Khmer xa quê nhắc đến với một sự gắn bó và trân trọng Anh Thạch Hol cùng vợ lên Bình Dương làm công nhân được bảy năm Khi kể về ký ức ở quê nhà, anh nhớ về
khoảng thời gian tám năm đi tu: “Lúc nhỏ thì mình tu báo hiếu cho mẹ đến hơn 22 tuổi
thì mình tu báo hiếu cho cha Tu để đền ơn cho mẹ thì tu đến bậc Tỳ kheo còn tu báo hiếu cho cha thì tới Sa di Mình vô chùa, sáng mình đi học, tới trưa đi bưng bát mà từ trưa đến chiều là không được ăn đồ mặn chỉ uống nước, uống sữa đồ thôi Vô chùa thì chủ yếu là đi học, cũng như bên tiếng Việt thì mình cũng học một năm một lớp vậy đó Trong chùa, mình học được nhiều thứ không chỉ học chữ Khmer mà còn học vi tính, học làm thuốc nữa Nói chung, phong tục bên người Khmer thì người con trai được khuyến khích đi chùa để tu cũng giống như là mình đi tu để đền ơn cha mẹ cũng như tu tâm, dưỡng tánh để sống cho tốt hơn vậy đó Mà bên người mình, chùa quan trọng lắm, ngày tết, ngày gì cũng tổ chức ở chùa nên ai cũng gắn bó với chùa từ nhỏ đến lớn Đến khi chết cũng mang vô chùa để cúng Bên mình có câu: sống vô chùa gửi thân, chết vô chùa gửi cốt mà” (PVS Nam, công nhân, 32 tuổi) Là người cùng quê với anh Hol, chị Trang
khi kể về cuộc sống ở quê chị nhớ nhiều đến những ngày lễ tết Chị cho biết dù điều kiện kinh tế còn khó khăn, đa số bà con đều nghèo nhưng vào ngày tết thì nhà cửa và chùa được các phật tử dọn dẹp sạch sẽ để đón tết cổ truyền “Chôl Chhnăm Thmây” (diễn ra vào khoảng trung tuần tháng 4 Dương lịch) Trong dịp này, họ làm những món
ăn truyền thống của dân tộc để cúng tiễn Chư Thiên cũ về trời và đón Chư Thiên mới
giáng trần Chị kể “tết bên em vui lắm, mọi người làm bánh tét để cúng rồi kiếm đồ đẹp
mặc mang theo bánh trái rồi nhang đèn lên chùa làm lễ, đông lắm, ai mà đi làm ăn xa
Trang 9cũng cố mà về quê những ngày này Hầu như ngày nào, em cũng ở chùa vì có nhiều trò chơi dân gian, rồi hát múa nhạc Khmer nữa” (PVS, nữ công nhân, 32 tuổi)
Những mô tả dựa trên lời của những nhân vật trong nghiên cứu này thể hiện trong tâm thức của mình, người Khmer luôn gắn bó với Phật giáo mà hiện thân là ngôi chùa trong cộng đồng của họ với một tình cảm sâu sắc Với họ, chùa không chỉ là nơi để tu dưỡng đạo đức, cách làm người mà còn là trung tâm tổ chức sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, là nơi lưu giữ những truyền thống văn hóa mà họ luôn nhớ về với những hoài niệm tốt đẹp trong bước đường mưu sinh gian khó nơi đất khách
Quê nhà trong ký ức của lao động Khmer nhập cư là cuộc sống thanh bình với những lễ hội truyền thống gắn liền với ngôi chùa và giáo lý nhà Phật Những lời chia sẻ của họ cho thấy mọi buồn vui trong cuộc sống đều gắn liền với ngôi chùa mà câu nói
của anh Hol “sống vô chùa gửi thân, chết vô chùa gửi cốt” đã như là một sự đúc kết về
sự gắn bó này Quê nhà trong ký ức của họ còn là tình làng, nghĩa xóm là khung cảnh bình yên của quê nhà, trong ký ức đó còn là những khốn khó trong đời sống thường nhật buộc họ phải rời quê hương để mưu sinh Trong hành trang nơi đất khách, những ký ức
về văn hóa cộng đồng là yếu tố cố kết để hình thành các nguồn vốn quan trọng giúp họ thích nghi và thích ứng
Tính từ thời điểm thành lập khu trọ vào năm 2007 cho đến nay đã được 13 năm,
từ 40 đến 83 phòng trọ Trong đó, người Khmer đến từ huyện Long Phú và huyện Trần
Đề từ số lượng rất ít khoảng 30 người đến nay đã chiếm hơn 90% số lượng người ở trọ Một điểm đáng lưu ý hơn, đa phần người Khmer ở tại khu trọ 30/4 từ lúc mới lên Bình Dương cho đến nay và hầu như không chuyển đi nơi khác, trừ phi họ về lại quê nhà Những đặc điểm này cho thấy tính ổn định và phát triển của cộng đồng lao động Khmer,
dù thời gian hình thành không phải quá dài Khi bàn về tái cấu trúc cộng đồng, người ta thường quan tâm đến sự cố kết cộng đồng dựa trên mối quan hệ đồng hương, bà con họ hàng, những niềm tin tôn giáo và phong tục tín ngưỡng dân gian Chính những ký ức về truyền thống ở quê nhà với những nghi lễ tôn giáo đã góp phần tạo nên sự đoàn kết, thống nhất về mặt tinh thần để tạo nên những sức mạnh cố kết cộng đồng mới giúp họ vượt qua trở ngại, khó khăn khi mưu sinh trên đất khách
Với người Khmer, những ngày lễ tết có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Đó là những dịp thể hiện tình cảm với niềm tin tôn giáo, ông bà, cha mẹ, tưởng nhớ tổ tiên và nối kết cộng đồng Tuy nhiên, khi rời quê lên Bình Dương lập nghiệp, họ buộc phải thích nghi với lối sống công nghiệp, vì thế việc trở về quê trong những dịp lễ tết là trở ngại lớn Thấy được điều này, những người có uy tín trong cộng đồng như anh Xiêm, anh Ni, anh
Vi Lai đã quyết định vận động bà con quyên góp và đứng ra tổ chức Tết Chol Chnam Thmay lần đầu tiên vào năm 2013 Địa điểm tổ chức là bãi đất trống đằng sau khu trọ và người tham gia là bà con trong khu trọ Dù với quy mô nhỏ nhưng vì không nắm rõ những thủ tục xin phép tổ chức nên bị nhắc nhở và xử phạt Tuy nhiên, từ đó chính quyền địa phương cũng nhận ra đây là nhu cầu chính đáng của bà con nên đã đồng
Trang 10thuận và giao Đoàn Thanh niên phối hợp với nhóm thanh niên nòng cốt của cộng đồng
tổ chức thường niên hàng năm Việc tổ chức tết truyền thống được chúng tôi ghi chép
lại trong nhật ký điền dã: “Hôm nay là lễ mừng Chol Chnam Thmay do Đoàn phường
phối hợp với chi hội Thanh niên công nhân Khmer tổ chức Bản thân tôi cũng có sự bất ngờ trước sự tham gia rất đông của thanh niên công nhân Khmer, ước tính có khoảng 3.000 người tham gia Buổi lễ diễn ra trang trọng với nhiều tiết mục truyền thống như điệu Apsara rồi biểu diễn thời trang trong ngày cưới của người Khmer Các nghi lễ
“tắm núi cát” và “tắm Phật” đều được thực hiện một cách tôn nghiêm và xúc động Tôi thấy mọi người tham gia rất vui trong tiếng nhạc truyền thống Khmer réo rắt, nhìn ai cũng thấy phấn khởi Tôi hỏi anh Triệu La là chi hội phó chi hội thanh niên công nhân Khmer cho biết: tụi em ở đây cũng được sự quan tâm của chính quyền địa phương cũng như bên Đoàn Thanh niên cũng hỗ trợ anh em làm lễ tết cho bà con, mọi người cũng phấn khởi tham gia, làm xa quê mà những ngày lễ tết được tổ chức trang trọng như vậy
là niềm vui của những người con xa quê Rồi tổ chức lễ như vậy cũng là dịp để tụi em giới thiệu truyền thống văn hóa của dân tộc mình đến với người dân địa phương để cùng giao lưu, học hỏi” (trích tư liệu điền dã của Lê Anh Vũ ngày 15/4/2017)
Có thể nói, việc tổ chức lễ tết truyền thống và nỗ lực tái hiện đầy đủ các nghi lễ như ở quê nhà là một trong những điều tự hào của cộng đồng công nhân Khmer ở đây Điều đặc biệt hơn với họ, trong những dịp lễ tết đó, đều có các sư thầy từ chùa Phnota Nieu ở xã Lịch Hội Thượng lên để thực hiện các nghi lễ tôn giáo Việc tổ chức lễ tết một cách trang trọng, có sự tham gia của các nhà sư ở quê hương đã giúp cho cộng đồng lao động Khmer ở đây vơi bớt đi nỗi nhớ nhà và yên tâm làm việc Để tổ chức thành
công, họ phân công nhiệm vụ một cách cụ thể như lời chia sẻ của anh Thạch Ni: “tụi em
chia ra thành các nhóm, như mình với Vi Lai thì chịu trách nhiệm liên hệ với bên Phường, nhóm liên hệ với các sư thầy và lo đón tiếp, nhóm lo sân khấu, nhóm lo văn nghệ, MC, nhóm chịu trách nhiệm hậu cần, tụi em cũng làm giống như ở dưới quê khi
tổ chức tết lễ vậy thôi Mỗi lần như vậy, anh em lại đoàn kết hơn và tới bây giờ thì quen rồi Trước một tháng, anh em họp lại với những người lớn tuổi trong khu trọ để thống nhất chương trình là triển khai thôi” (PVS, Nam, công nhân, 31 tuổi)
Không chỉ trong những dịp lễ tết, ở sinh hoạt đời thường, lao động Khmer luôn có tâm thức hướng về quê nhà nhất là trong những hoạt động sinh hoạt văn hóa, tinh thần
Ở khu trọ, có thành lập các đội bóng đá mini, trong đó đội nòng cốt có tên “Maspero”,
đó là tên con sông nổi tiếng ở Sóc Trăng, nơi thường tổ chức các hội đua ghe ngo vào các ngày lễ tết Việc lấy tên này cũng là một cách để nhớ về quê nhà như lời anh Thạch
Đôn là đội trưởng của đội tâm sự: “Lấy tên Maspero là để anh em đội bóng luôn nhớ về
quê hương, cố gắng động viên nhau lo làm ăn rồi ngày nghỉ thì đi đá banh rèn luyện chơi cho vui để hạn chế ăn nhậu vừa tốn tiền, vừa mất sức không làm việc được Đội tụi
em đá hàng tuần và cũng hay tham gia các giải cho phường tổ chức” (PVS, Nam, công
nhân 38 tuổi)