1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh tế: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn

104 74 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 885,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu tổng hợp của đề tài Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn là nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông trên địa bàn huyện Na Rì.

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tác giả Các

số liệu sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây

Tác giả

La Cảnh Toàn

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo đại học và Sau đại học cùng các thày giáo, cô giáo giảng dạy tại Khoa Kinh tế và Quản lý, trường Đại học Thủy lợi- những người đã trang bị những kiến thức quý báu để tác giả có thể hoàn thành luận văn này

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Lê Văn Chính – người đã dành nhiều thời gian tâm huyết, trực tiếp hướng dẫn tận tình và giúp đỡ để tác giả có thể hoàn thành công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên của mình

Tác giả xin chân thành cảm ơn các phòng ban chức năng, đặc biệt là Phòng Kinh tế -

Hạ tầng thuộc UBND huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập dữ liệu cùng với những ý kiến đóng góp bổ ích để tác giả có thể hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn gia đình, những người bạn đã cùng đồng hành, hỗ trợ, giúp đỡ và động viên tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v

PH N M Đ U 1

CHƯƠNG 1: CƠ S LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 6

1.1 Cơ sở lý luận về công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông 6 1.1.1 Một số khái niệm 6

1.1.2 Vai trò, đặc điểm của đầu tư xây dựng các công trình giao thông 17

1.1.3 Nội dung của công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông trên địa bàn cấp huyện 20

1.1.4 Tiêu chí đánh giá công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông 26

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông 28

1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông 31

1.2.1 Kinh nghiệm về quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông tại một số địa phương 31

1.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông trên địa bàn huyện Na Rì 34

1.3 Tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 35

Kết luận chương 1 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG TẠI HUYỆN NA RÌ 38

2.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của huyện Na Rì 38

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 38

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Na Rì 39

2.2 Tình hình hệ thống giao thông huyện Na Rì 42

2.2.1 Đánh giá hiện trạng hạ tầng giao thông tại huyện Na Rì 42

2.2.2 Đánh giá chung về hệ thống giao thông của huyện Na Rì 49

2.3 Công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông trên địa bàn huyện Na Rì 50

2.3.1 Thực trạng công tác xây dựng và quản lý quy hoạch phát triển giao thông 52

2.3.2 Thực trạng công tác tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng công trình giao thông 55

Trang 4

2.3.3 Thực trạng công tác tổ chức quản lý, bảo trì, bảo vệ công trình giao thông

59

2.3.4 Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm 63

2.4 Đánh giá chung về công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông 66

2.4.1 Kết quả đạt được 66

2.4.2 Những tồn tại và nguyên nhân 67

Kết luận chương 2 69

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG TẠI HUYỆN NA RÌ 71

3.1 Định hướng và mục tiêu phát triển huyện Na Rì từ nay đến 2025 71

3.1.1 Định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội 71

3.1.2 Dự báo tình hình quy hoạch, đầu tư phát triển giao thông vận tải của huyện Na Rì đến năm 2025 72

3.1.3 Thời cơ, thách thức phát triển giao thông vận tải của huyện Na Rì 73

3.2 Căn cứ để đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông của huyện Na Rì 74

3.2.1 Quan điểm, định hướng phát triển hệ thống giao thông huyện Na Rì 74

3.2.2 Mục tiêu phát triển hệ thống giao thông 75

3.3 Các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông của huyện Na Rì 76

3.3.1 Hoàn thiện quy hoạch và quản lý tốt thực hiện quy hoạch về giao thông 76

3.3.2 Hoàn thiện, tổ chức tốt thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý xây dựng công trình giao thông 80

3.3.3 Tăng cường công tác quản lý bảo trì, sửa chữa công trình giao thông 85

3.3.4 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra 89

Kết luận Chương 3 91

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC 97

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Các tuyến đường giao thông huyện và xã tại huyện Na Rì 44

Bảng 2.2: Các công trình giao thông được xây dựng giai đoạn 2014 - 2018 45

Bảng 2.3: Danh mục ưu tiên các dự án xây dựng đường bộ năm 2019 - 2020 53

Bảng 2.4: Đánh giá về công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch phát triển giao thông 54

Bảng 2.5: Đánh giá về công tác tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng công trình giao thông 57

Bảng 2.6: Phân bổ nguồn kinh phí thực hiện duy tu, sửa chữa công trình đường bộ 60

Bảng 2.7: Đánh giá về công tác quản lý, bảo trì, bảo vệ công trình giao thông 61

Bảng 2.8: Công tác kiểm tra, giám sát 64

Bảng 2.9: Đánh giá về công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm 65

Bảng 3.1: Thời gian tiến hành sửa chữa định kỳ các công trình giao thông 87

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Viết đầy đủ

Trang 7

H N M Đ U

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đầu tư xây dựng các công trình giao thông giữ vai trò quan trọng trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, cần ưu tiên phát triển đi trước một bước với tốc độ nhanh, bền vững nhằm tạo tiền đề cho phát triển kinh tế xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng,

phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Phát huy tối đa về vị trí địa

lý và điều kiện tự nhiên của đất nước để phát triển hệ thống giao thông, xây dựng, thủy

lợi hợp lý Xây dựng các công trình giao thông nhằm phát triển cơ sở hạ tầng giao

thông một cách đồng bộ, hợp lý, từng bước đi vào hiện đại, tạo nên mạng lưới giao thông hoàn chỉnh, liên hoàn, liên kết giữa các phương thức vận tải, giữa các vùng lãnh

thổ, giữa đô thị và nông thôn trên phạm vi toàn quốc

Tỉnh Bắc Kạn là một tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa vùng Đông Bắc Phía bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía nam giáp tỉnh Thái nguyên, phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang, phía đông giáp tỉnh Lạng Sơn Với vị trí địa lý như vậy việc đẩy mạnh phát triển đầu

tư xây dựng mạng lưới giao thông có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển kinh

tế - xã hội, góp phần giữ vững an ninh quốc phòng đồng thời hoàn thiện mạng lưới giao thông của địa phương nói riêng cũng như của khu vực nói chung

Huyện Na Rì là một huyện của tỉnh Bắc Kạn Huyện Na Rì nằm ở phía Đông Bắc tỉnh

Bắc Kạn, cách trung tâm tỉnh lỵ hơn 72 km; tiếp giáp với các huyện Ngân Sơn, Bạch Thông, Chợ Mới và tỉnh Lạng Sơn Na Rì có 22 xã, thị trấn với tổng diện tích tự nhiên

là 85.300ha, chiếm 17,54% diện tích tự nhiên tỉnh Bắc Kạn, gồm 21 xã và 01 thị trấn với 233 thôn, bản, dân số trên 40 nghìn người với 5 dân tộc anh em Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông cùng sinh sống

Na Rì có hệ thống đường giao thông thuận lợi với đường trục 256 qua xã Hảo Nghĩa sang huyện Chợ Mới; Quốc lộ 279 nối 3 huyện Na Rì, Ngân Sơn, Ba Bể với huyện Bình Gia - tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Tuyên Quang; Quốc lộ 3B thông thương trực tiếp đến cửa khẩu Pò Mã - tỉnh Lạng Sơn Hiện nay, hệ thống đường giao thông đã và đang

Trang 8

được cải tạo nâng cấp, đầu tư hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển, thông thương hàng hoá

Hiện nay, huyện Na Rì đang tích cực xây dựng cơ sở hạ tầng, chính sách ưu đãi để thu hút nguồn đầu tư vào một số thế mạnh của huyện, tình hình đầu tư xây dựng của huyện những năm qua được chú trọng từ những nguồn vốn khác nhau cơ sở hạ tầng được cải thiện như bệnh viện, trường học, kênh mương hồ đập phục vụ sản xuất… nhất là các công trình xây dựng giao thông như đường nội thị, đường liên xã, đường giao thông nông thôn… Trong xu thế đó để thực hiện hiệu quả vốn đầu tư, xây dựng công trình được đảm bảo cho việc sử dụng, không gây thất thoát, lãng phí, UBND huyện Na Rì được giao quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện từ khi chuẩn bị đầu tư đến khi hoàn thành đưa vào sử dụng

Tuy nhiên, kinh nghiệm quản lý các dự đầu tư xây dựng công trình giao thông của huyện Na Rì còn bộ lộ nhiều tồn tại, hạn chế, để có thể quản lý các dự án xây dựng cơ

sở hạ tầng một cách có hiệu quả nhất Do đó, tôi đã chọn đề tài “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn” làm luận văn Thạc sỹ để giải quyết những vấn đề, tồn tại

nêu trên

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu tổng hợp của đề tài là nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông trên địa bàn huyện Na Rì Các mục tiêu cụ thể sẽ đạt được bao gồm:

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về công trình giao thông và quản lý nhà nước

về xây dựng công trình giao thông;

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn;

- Đề xuất giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới

Trang 9

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:

a Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số vấn đề lý luận và

thực tiễn liên quan đến công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

b Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung: Đề tài đi sâu nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với xây dựng công trình giao thông đường bộ với các nội dung về đầu tư xây dựng công trình giao thông

và quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông bao gồm: công tác quy hoạch

và quản lý quy hoạch xây dựng công trình giao thông, việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng các công trình giao thông, tổ chức quản lý, bảo trì công trình giao thông, công tác kiểm tra, giám sát việc xây dựng công trình giao thông

- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên về công tác quản lý về xây dựng công trình

giao thông đường bộ trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn

- Về thời gian: Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước trên địa bàn huyện Na

Rì thời gian từ 2015 - 2018 Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước

về xây dựng công trình giao thông trong giai đoạn 2019 - 2022

4 hương pháp nghiên cứu:

Để đánh giá về công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn, đề tài thực hiện thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp Các số liệu sơ cấp được thu thập dựa trên phương pháp phỏng vấn có sử dụng bảng hỏi Tác giả tiến hành điều tra khảo sát đối với các cán bộ, công chức thuộc Ủy ban nhân dân huyện Na Rì, các cán bộ công chức thuộc các xã trên địa bàn huyện Na Rì và các cán bộ thuộc Ban quản lý dự án huyện Na Rì

Luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả với các chỉ tiêu như giá trị trung bình,

độ lệch chuẩn,…để lượng hóa mức độ đánh giá của các đối tượng tham gia khảo sát

Từ việc phân tích này giúp đưa ra các nhận xét, kết luận một cách khách quan về những vấn đề liên quan đến nội dung và mục đích nghiên cứu Việc xử lý và tính toán

Trang 10

số liệu được thực hiện trên máy tính theo các phần mềm thống kê thông dụng của EXCEL

Các số liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tổng kết của Ủy ban nhân dân huyện Na

Rì, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2015 – 2018 và nguồn tài liệu được thu thập từ sách, báo, tạp chí, các tài liệu đã công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, internet, số liệu được công bố bởi Cục thống kê tỉnh Bắc Kạn…Trên các cơ sở các tài liệu đã được tổng hợp, đề tài vận dụng các phương pháp: Phương pháp thống kê mô tả, so sánh bằng số tuyệt đối, số tương đối nhằm phân tích, đánh giá công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

5.1 Ý nghĩa khoa học

Hệ thống hóa cơ sở lý luận làm cơ sở cho việc quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông trên địa bàn cấp huyện Kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo cho học tập, nghiên cứu các vấn đề quản lý nhà nước và xây dựng công trình giao thông

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài đã hệ thống hóa các giải pháp có căn cứ khoa học về công tác quản lý nhà nước

về xây dựng công trình giao thông trên địa bàn huyện Na Rì Các giải pháp đề tài đề xuất sẽ góp phần hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về xây dựng công tình giao thông trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn Bên cạnh đó, các kết quả nghiên cứu của đề tài là một tham khảo rất hữu ích đối với các huyện khác trong tỉnh Bắc Kạn và các địa phương khác trong cả nước có cùng điều kiện kinh tế - tự nhiện – xã hội

6 Kết quả dự kiến đạt được

Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về xây dựng Phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông trên địa bàn huyện Na Rì

Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông trên địa bàn huyện Na Rì

Trang 11

7 Kết cấu của luận văn:

Nội dung nghiên cứu được thể hiện trong các chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông

Chương 2: Thực trạng về công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông tại huyện Na Rì

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông tại huyện Na Rì

Trang 12

CHƯƠNG 1 CƠ S LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN

LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG

1.1 Cơ sở lý luận về công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm đầu tư và đầu tư xây dựng cơ bản

Đầu tư là việc bỏ vốn hôm nay để mong thu được lợi nhuận trong tương lai Đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, lao động, nguyên liệu, đất đai,… nói chung là sử dụng tài nguyên cho mục đích sản xuất – kinh doanh, mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật, phát triển kinh tế nói chung của một ngành, một lĩnh vực, một địa phương,… nhằm thu về sản phẩm, lợi nhuận và các lợi ích kinh tế xã hội khác

Mục tiêu của đầu tư là hiệu quả Nhưng ở những vị trí khác nhau, người ta cũng nhìn nhận vấn đề hiệu quả không giống nhau Với các doanh nghiệp thường thiên về hiệu quả kinh tế, tối đa hoá lợi nhuận Còn đối với nhà nước lại muốn hiệu quả kinh tế phải gắn liền với lợi ích xã hội và môi trường Trong nhiều trường hợp lợi ích xã hội được đặt lên hàng đầu [1]

Vì vậy một cách tổng quát ta có thể đưa ra khái niệm về lĩnh vực đầu tư như sau: Đầu

tư là một hình thức bỏ vốn vào hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội nhằm thu được những lợi ích kì vọng trong tương lai Cần lưu ý rằng nguồn vốn đầu tư này không chỉ đơn thuần là các tài sản hữu hình như: tiền vốn, đất đai, nhà xưởng, máy móc, thiết bị, hàng hoá….mà còn bao gồm các loại tài sản vô hình như: bằng sáng chế, phát minh nhãn hiệu hàng hoá, bí quyết kĩ thuật, uy tín kinh doanh, bí quyết thương mại, quyền thăm dò khai thác, sử dụng tài nguyên [2]

Xây dựng cơn bản (XDCB) và đầu tư XDCB là những hoạt động với chức năng tạo ra tài sản cố định cho nền kinh tế thông qua các hình thức xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hoá hoặc khôi phục các tài sản cố định

XDCB là hoạt động cụ thể tạo ra các tài sản cố định (khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị) kết quả của các hoạt động XDCB là các tài sản cố định, với năng lực sản xuất phục vụ nhất định

Trang 13

Như vậy, có thể hiểu đầu tư XDCB là một hoạt động đầu tư nói chung, đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân thông qua các hình thức xây dựng mới, xây dựng lại, xây dựng mở rộng hay khôi phục các tài sản cố định

Đầu tư XDCB có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Đặc điểm của đầu tư XDCB: Hoạt động đầu tư XDCB là một bộ phận của đầu tư phát

triển do vậy nó cũng mang những đặc điểm của đầu tư phát triển như: Diễn ra trong thời gian dài, đầu tư nhằm tìm kiếm lợi nhuận, thường mang tính rủi ro Ngoài những đặc điểm của đầu tư nói chung thì đầu tư XDCB có những đặc điểm riêng thể hiện tính đặc thù trong hoạt động XDCB [3]

- Đầu tư XDCB đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn: Sản phẩm của đầu tư XDCB là những tài sản cố định cho xã hội, thường có vốn đầu tư lớn Vốn đầu tư cho hoạt động đầu tư xây dựng lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện dự án Quy mô vốn đầu

tư lớn nên đòi hỏi chủ đầu tư phải có giải pháp huy động vốn hợp lý, xây dựng kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ thực hiện dự

án Lao động cần sử dụng cho các dự án rất lớn, đặc biệt là đối với những dự án quan trọng quốc gia Hoạt động đầu tư XDCB đòi hỏi một số lượng vốn lao động, vật tư lớn, kéo dài trong suốt quá trình đầu tư Vì vậy trong quá trình đầu tư chúng ta phải có

kế hoạch huy động và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý đồng thời có kế hoạch phân

bổ nguồn lao động, vật tư thiết bị phù hợp đảm bảo cho công trình hoàn thành trong thời gian ngắn chồng lãng phí nguồn lực [4]

- Thời gian dài, nhiều biến động: Hoạt động đầu tư phát triển là sự tác động liên tục có

tổ chức, có định hướng (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư cho đến khi thanh lý tài sản do đầu tư tạo ra) bằng một hệ thống các biện pháp kinh tế xã hội và tổ chức kỹ thuật, cùng các biện pháp khác nhằm đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao trong điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những qui luật khách quan nói chung và các qui luật đặc thù của đầu tư nói riêng Nói một cách khác, hoạt động đầu tư phải diễn ra trong một thời gian khá dài, thậm chí rất dài [4]

Trang 14

- Tạo ra tài sản cố định có giá trị sử dụng lâu dài: Thời gian XDCB và thời gian tồn tại sản phẩm XDCB tồn tại lâu dài, thời gian vận hành kết quả đầu tư xây dựng tính từ khi đưa công trình vào khai thác sử dụng cho đến khi hết thời hạn sử dụng Nhiều thành quả đầu tư phát huy tác dụng lâu dài như: Hệ thống giao thông, cầu cống, sân bay, bến cảng, nhà ga [4]

- Liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực: Do sản phẩm xây dựng thường có quy

mô lớn, cấu tạo phức tạp nên hoạt động đầu tư trong XDCB là quá trình phối hợp của nhiều ngành, nhiều bộ phận do nhiều đơn vị cùng tham gia thực hiện Để thực hiện một dự án đầu tư XDCB thường có nhiều hạng mục, nhiều giai đoạn Trên một công trường xây dựng có thể có nhiều đơn vị tham gia, các đơn vị này cùng hoạt động trên một không gian, thời gian, trong tổ chức thi công cần có sự phối hợp chặt chẽ với nhau

để tạo ra sản phẩm cuối cùng Do đó quy trình sản xuất quản lý, điều phối đòi hỏi tính cân đối, nhịp nhàng, liên tục giữa các ngành, giữa các bộ phận [4]

Vai trò của đầu tư XDCB: Tất cả các lý thuyết từ trước tới nay, từ cổ điển đến hiện đại

đều coi đầu tư là nhân tố quan trọng đề phát triển kinh tế là chìa khoá của sự tăng trưởng Hoạt động đầu tư là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng [2] Với tính chất đặc thù của mình, đầu tư XDCB vai trò riêng đối với nền kinh tế đó là:

- Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật: Đầu tư XDCB nó tạo ra tài sản cố định cũng có nghĩa là sẽ tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội, cho các ngành kinh tế quốc dân Tác động trực tiếp này đã làm cho tổng tài sản của nền kinh tế quốc dân không ngừng được gia tăng trong nhiều lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, thuỷ lợi, các công trình công cộng khác, nhờ vậy mà năng lực sản xuất của các đơn vị kinh tế không ngừng được nâng cao, sự tác động này có tính dây chuyền của những hoạt động kinh tế nhờ đầu tư XDCB [1]

- Là điều kiện phát triển và thay đổi tỷ lệ, cân đối các ngành kinh tế: Khi đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành tăng sẽ làm tăng sức sản xuất vật chất và dịch vụ của ngành Phát triển và hình thành những ngành mới để phục vụ nền kinh tế quốc dân Như vậy đầu tư làm thay đổi cơ cấu và quy mô phát triển của ngành kinh tế, từ đó

Trang 15

nâng cao năng lực sản xuất của toàn bộ nền kinh tế Đây là điều kiện tăng nhanh giá trị sản xuất và tổng giá trị sản phẩm trong nước, tăng tích luỹ đồng thời nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân lao động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cơ bản về chính trị, kinh tế xã hội [1]

- Tạo công ăn việc làm, nâng cao trình độ đội ngũ lao động: Đầu tư XDCB có tác động rất lớn đến việc tạo công ăn việc làm, nâng cao trình độ đội ngũ lao động, trong khâu thực hiện đầu tư số lao động phục vụ cần rất nhiều đối với những dự án sản xuất kinh doanh thì sau khi đầu tư dự án đưa vào vận hành phải cần không ít công nhân, cán bộ cho vận hành khi đó tay nghề của người lao động nâng cao, đồng thời những cán bộ học hỏi được những kinh nghiệm trong quản lý, đặc biệt khi có các dự án đầu tư nước ngoài [4]

1.1.1.2 Khái niệm công trình và công trình xây dựng

a Công trình:

Công trình là một nhiệm vụ mang tính chất một lần, có một mục tiêu đặc biệt và yêu cầu phải được hoàn thành trong một điều kiện ràng buộc nhất định như thời gian, tiền vốn, nguồn lực [5] Như vậy, một công trình đầu tư bao gồm bốn đặc trưng chính [5]:

- Mục tiêu công trình được thể hiện ở hai phạm vi mục tiêu phát triển và mục tiêu trước mắt Mục tiêu phát triển là những lợi ích kinh tế xã hội do thực hiện công trình mang lại được xét ở tầm vĩ mô Mục tiêu trước mắt là các mục đích cụ thể cần đạt được của việc thực hiện công trình, được xem xét ở tầm vi mô

- Công trình có chu kì phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạn Công trình là một

sự sáng tạo, giống như các thực thể sống, công trình cũng trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu, kết thúc… Công trình không kéo dài mãi mãi Mọi công trình đều có chu kì sống, nó bắt đầu khi một mong muốn hoặc một nhu cầu của người yêu cầu và nếu mọi việc tốt đẹp nó sẽ được kết thúc sau khi bàn giao cho người yêu cầu một sản phẩm hoặc dịch vụ như là một sự thỏa mãn cho nhu cầu của họ

Sản phẩm của công trình mang tính chất đơn chiếc, độc đáo (mới lạ) Khác với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của công trình không phải là sản phẩm sản

Trang 16

xuất hàng loạt, mà có tính khác biệt cao Sản phẩm và dịch vụ do công trình đem lại là duy nhất, hầu như không lặp lại Tuy nhiên, ở nhiều công trình khác, tính duy nhất ít

rõ ràng hơn và dễ bị che đậy bởi tính tương tự giữa chúng Nhưng điều khẳng định là chúng vẫn có thiết kế khác nhau, vị trí khác nhau, khách hàng khác… Điều ấy cũng tạo nên nét duy nhất, độc đáo, mới lạ của công trình [1]

- Công trình liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án Công trình nào cũng có sự tham gia của nhiều bên như chủ đầu tư, người hưởng thụ công trình, các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý nhà nước… Tùy theo tính chất của công trình và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nhau Giữa các bộ phận quản lý chức năng

và bộ phận quản lý dự án thường xuyên có quan hệ với nhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ nhưng mức độ tham gia của các bộ phận không giống nhau Tính chất này của công trình dẫn đến hai hậu quả nghiêm trọng: (1) không dễ các bên tham gia

có cùng quyền lợi, định hướng và mục tiêu; (2) khó khăn trong việc quản lý, điều phối nguồn lực… Để thực hiện thành công mục tiêu của công trình, các nhà quản lý dự án cần duy trì thường xuyên mối liên hệ với các bộ phận quản lý khác [4]

- Tính bất định và rủi ro cao Hầu hết các công trình đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư và lao động rất lớn để thực hiên trong một khoảng thời gian nhất định Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các công trình đầu tư phát triển thường có độ rủi

ro cao Tuy nhiên các công trình không chịu cùng một mức độ không chắc chắn, nó phụ thuộc vào: Tầm cỡ của công trình, mức độ hao mòn của công trình, công nghệ được sử dụng, mức độ đòi hỏi của các ràng buộc về chất lượng, thời gian, chi phí, tính phức tạp và tính không thể dự báo được của môi trường công trình…[4]

Để công trình đầu tư đảm bảo chất lượng, có sức thuyết phục cao đòi hỏi phải có những yêu cầu về tính khoa học hệ thống và tính pháp lý như sau:

- Tính khoa học và hệ thống: được biểu hiện ở chỗ số liệu được lấy chính xác, trung thực, phương pháp tính toán phải khoa học

- Tính pháp lý: được biểu hiện ở chỗ công trình không chứa đựng những điều sai trái với pháp luật và chính sách ban hành của Nhà nước

Trang 17

Ngoài ra, sự chuẩn mực của công trình: Được biểu hiện ở chỗ công trình đầu tư từ các bước lập đến nội dung hình thức trình bày phải được tuân theo một quy chuẩn nhất định

Ngoài ra, mỗi công trình phải đảm bảo các yêu cầu sau [4]:

- Các hoạt động: là những nhiệm vụ hoặc hoạt động được thực hiện trong công trình

b Công trình xây dựng:

Công trình xây dựng là một loại công trình phổ biến nhất trong các loại công trình Một công trình xây dựng chính là một công trình đầu tư tài sản cố định, trong đó bao gồm công trình đầu tư xây dựng cơ bản (công trình xây dựng mở rộng khả năng sản xuất như xây mới, xây dựng mở rộng…) và công trình cải tạo kỹ thuật (là loại công trình coi việc tiết kiệm, tăng cường chủng loại sản phẩm, nâng cao chất lượng, xử lý chất phế thải và an toàn lao động là mục đích chính) Công trình xây dựng là công việc mang tính chất một lần, cần có một lượng đầu tư nhất định, trải qua một loạt các trình

tự như ra quyết định và thực thi (thiết kế, thi công…)

Theo Nghị định 46/2015/ND-CP thì “Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp

Trang 18

và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác” [5], [6] Công trình xây dựng có những đặc trưng cơ bản sau đây [6]:

- Là đơn vị xây dựng được cấu thành bởi một hoặc nhiều công trình đơn lẻ có mối liên

hệ nội tại, thực hiện hạch toán thống nhất, quản lý thống nhất trong quá trình xây dựng trong phạm vi thiết kế tổng thể hoặc thiết kế sơ bộ

- Coi việc hình thành tài sản cố định là mục tiêu đặc biệt trong một điều kiện rằng buộc nhất định Điều kiện ràng buộc thứ nhất là ràng buộc về thời gian, tức là một công trình xây dựng phải có mục tiêu hợp lý về kỳ hạn của công trình xây dựng; thứ hai là ràng buộc

về nguồn nhân lực, tức là một công trình xây dựng phải có mục tiêu nhất định về tổng lượng đầu tư; thứ ba là ràng buộc về chất lượng, tức là công trình xây dựng phải có mục tiêu dự định về khả năng sản xuất, trình độ kỹ thuật và hiệu quả sử dụng

- Cần phải tuân theo một trình tự xây dựng cần thiết và trải qua một quá trình xây dựng đặc biệt, tức là một công trình xây dựng là cả một quá trình theo thứ tự từ lúc đưa ra ý tưởng xây dựng và đề nghị xây dựng đến lúc lựa chọn phương án, đánh giám quyết sách, điều tra thăm dò, thiết kế, thi công cho đến lúc công trình đi vào hoàn thiện, đi vào sản xuất hoặc đi vào sử dụng… Dựa theo nhiệm vụ đặc biệt để có được hình thức

tổ chức có đặc điểm dùng một lần Điều này được biểu hiện ở việc đầu tư duy nhất một lần, địa điểm xây dựng cố định một lần, thiết kế và thi công đơn nhất

- Có tiêu chuẩn về hạn ngạch đầu tư Chỉ khi đạt đến một mức độ đầu tư nhất định mới coi là công trình xây dựng, nếu không đạt được tiêu chuẩn về mức đầu tư này thì chỉ được coi là đặt mua tài sản cố định đơn lẻ Trong thời kỳ đổi mới, hạn ngạch này ngày càng được nâng cao, ví dụ như đầu tư 1 tỷ trở lên mới được coi là công trình xây dựng

Có nhiều cách phân loại công trình khác nhau, tùy theo mục đích của công tác tổ chức, quản lý và kế hoạch hóa vốn đầu tư, người ta chọn các tiêu thức khác nhau để phân loại Về cơ bản có những cách phân loại như sau:

- Căn cứ vào ngành bỏ vốn đầu tư bao gồm [4]: Công trình đầu tư phát triển Công nghiệp; Công trình đầu tư phát triển Nông nghiệp; Công trình đầu tư phát triển Giao thông vận tải …

Trang 19

- Căn cứ vào địa phương (vùng lãnh thổ) bao gồm: Công trình đầu tư trong Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương; Công trình đầu tư trong từng khu vực

- Căn cứ vào quy mô vốn đầu tư và tính chất quan trọng của công trình bao gồm: Công trình đầu tư thuộc nhóm A; Công trình đầu tư thuộc nhóm B; Công trình đầu tư thuộc nhóm C

- Căn cứ vào lĩnh vực đầu tư [4]: Công trình đầu tư mới; Công trình đầu tư mở rộng; Công trình đầu tư thay thế thiết bị

Trên đây là những cách phân loại chủ yếu Theo các cách phân loại này thấy được vị trí của các công trình đầu tư từ đó phục vụ cho việc phân cấp thẩm định, xét duyệt công trình đầu tư để ra quyết định đầu tư

c Công trình giao thông: Công trình giao thông là một loại công trình xây dựng Công

trình công trình xây dựng giao thông có thể là loại công trình đầu tư mới, đầu tư mở rộng quy mô và cũng có thể là nâng cấp cải tạo từ công trình giao thông cũ

Theo Nghị định 46/2015/ND-CP thì công trình giao thông bao gồm các công trình đường bộ, công trình đường sắt, công trình đường thủy, công trình cầu, công trình hầm

và công trình sân bay Công trình giao thông thực chất là những công trình nhân tạo do con người tạo nên nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển, giao thông đi lại của mình Đó

là các công trình vượt qua các chướng ngại thiên nhiên, các chướng ngại vật nhân tạo, một tuyến giao thông khác hoặc những công trình chắn đất Các công trình giao thông trên một tuyến nào đó có thể là cầu, hầm, tường chắn và các công trình thoát nước như đường tràn, cầu tràn và cống

Theo Nghị định 46/2015/ND-CP và Luật Xây dựng 2014 thì công trình giao thông bao gồm [5], [6]:

- Công trình đường bộ: Là các loại đường bao gồm đường ô tô cao tốc các loại, đường

ô tô, đường trong đô thị, đường giao thông nông thôn, bến phà phục vụ vận tải và đi lại trên mặt đất cho người đi bộ, ô tô, xe máy và các phương tiện vận chuyển khác trừ xe lửa, xe điện bánh sắt

Trang 20

- Công trình đường sắt: Bao gồm đường sắt cao tốc và cận cao tốc; đường sắt đô thị, đường sắt trên cao, đường tầu điện ngầm (Metro); đường sắt quốc gia; đường sắt chuyên dụng và đường sắt địa phương

- Công trình cầu: cầu đường bộ, cầu bộ hành (không bao gồm cầu treo dân sinh); cầu đường sắt; cầu phao; cầu treo dân sinh

- Công trình hầm: Hầm đường ô tô; hầm đường sắt; hầm cho người đi bộ

- Công trình đường thủy nội địa: Công trình sửa chữa/đóng mới phương tiện thủy nội địa (bến, ụ, triền, đà, .); cảng bến thủy nội địa; âu tầu; đường thủy chạy tàu (trên sông, hồ, vịnh và đường ra đảo, trên kênh đào)

- Công trình hàng hải: bến cảng biển; công trình sửa chữa/đóng mới phương tiện thủy nội địa (bến, ụ, triền, đà ); luồng hàngD hải (chạy tàu 1 chiều); công trình chỉnh trị (đê chắn sóng/chắn cát, kè hướng dòng/bảo vệ bờ)

Các công trình hàng hải khác: bến phà/cảng ngoài đảo, bến cảng chuyên dụng, công trình nổi trên biển; hệ thống phao báo hiệu hàng hải trên sông/biển; đèn biển, đăng tiêu

- Công trình hàng không: Khu bay (bao gồm cả các công trình đảm bảo bay)

Do sự đa dạng của các công trình giao thông, trong phạm vi luận văn này chỉ đi sâu nghiên cứu về quản lý đối với các công trình giao thông đường bộ

1.1.1.3 Khái niệm Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng

Các nguồn lực thực hiện dự án đều có giới hạn và các tiến trình phải thỏa mãn tất cả các điều kiện ràng buộc, nên các tiến trình cần được hoạch định cẩn thận để không dư thừa, điều khiển để thực hiện đúng, giám sát để phát hiện bất thường, đo lường để biết mức độ hoàn thành được gọi chung là quản lý Theo nghĩa chung nhất, quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật Quản lý là một hoạt động có tính chất phố biến, mọi nơi, mọi lúc, trong mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và liên quan đến mọi người Đó là một hoạt

Trang 21

động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác làm một công việc để đạt được mục tiêu chung Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người Ọuán lý là hoạt động do một hay nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm đat được một mục tiêu nào đó một cách có hiệu quả Như vậy, quản lý là sự áp dụng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm để điều khiển nguồn lực thực hiện các tiến trình để giải quyết các vấn đề [4]

Nhà nước là một phạm trù lịch sử ra đời trong điều kiện xã hội có phân chia giai cấp

và đấu tranh giai cấp, là công cụ quyền lực của giai cấp thống trị để quản lý xã hội, phục vụ quyền lợi của giai cấp thống trị Nhà nước là cơ quan quyền lực có những đặc trưng và đặc quyền riêng nhằm thực hiện vai trò và chức năng quản lý: quản lý xã hội, quản lý hành chính, quản lý kinh tế của nhà nước Quản lý nhà nước (QLNN) là một dạng quản lý đặc biệt mang tính thực hiện quyền lực nhà nước Theo nghĩa chung nhất

có thể hiểu: QLNN là sự tác động có tổ chức, thể hiện ở việc thiết lập các mối quan hệ

xã hội, hình thành các tổ chức, phối hợp các khâu để hoạt động theo đúng mục tiêu định trước QLNN là sự tác động có điều chỉnh, bằng pháp luật, nhằm tạo sự phù hợp giữa chủ thể - khách thể và sự cân bằng của hệ thống QLNN còn là sự tác động mang tính quyền lực nhà nước tức là mang tính pháp lệnh, đơn phương và bắt buộc bằng pháp luật và theo nguyên tắc pháp chế

QLNN đối với hoạt động đầu tư xây dựng là sự tác động của bộ máy QLNN vào các quá trình, các quan hệ kinh tế - xã hội trong đầu tư xây dựng từ bước xác định dự án đầu tư để thực hiện đầu tư và cả quá trình đưa dự án vào khai thác sử dụng đạt mục tiêu đã định nhằm đảm bảo hướng các ý chí và hành động của các chủ thể kinh tế vào mục tiêu chung, kết hợp hài hoà lợi ích các nhân, tập thể và lợi ích của nhà nước [4] đây có thể hiểu sự tác động của bộ máy QLNN chính là nhà nước với hệ thống các

cơ quan hành chính chấp hành và điều hành, là tác động của chủ thể QLNN lên đối tượng bị quản lý là quá trình đầu tư xây dựng và khách thể quản lý là con người với hành vi hoạt động của họ trong quá trình đầu tư xây dựng

Quản lý đầu tư xây dựng là sự tác động liên tục, có tổ chức, định hướng, mục tiêu vào quá trình đầu tư xây dựng bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế -

Trang 22

xã hội, tổ chức kỹ thuật và các biện pháp khác nhằm đạt được kết quả và hiệu quả đầu tư cao nhất

Quản lý đầu tư xây dựng bao gồm: quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng và quản lý đầu tư xây dựng của chủ đầu tư Quản lý nhà nước và quản lý của chủ đầu tư có sự khác nhau cơ bản Về thể chế quản lý, Nhà nước là chủ thể quản lý chung nhất hoạt động đầu tư xây dựng của đất nước còn chủ đầu tư là chủ thể quản lý hoạt động đầu tư xây dựng ở đơn vị mình Về phạm vi và quy mô quản lý đầu tư xây dựng, quản lý đầu

tư xây dựng của nhà nước là hoạt động ở tầm vĩ mô, bao quát chung còn quản lý đầu

tư xây dựng của chủ đầu tư chỉ bó hẹp ở phạm vi từng tổ chức, cá nhân riêng lẻ Quản

lý nhà nước tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tư thông qua pháp luật, các chiến lược, kế hoạch, định hướng , còn chủ đầu tư được hoạt động trong môi trường và khuôn khổ pháp luật do nhà nước đặt ra Về mục tiêu quản lý, quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng nhằm mục tiêu chủ yếu là bảo vệ các quyền lợi quốc gia, bảo

vệ những lợi ích chung nhất cho mọi thành viên trong cộng đồng còn quản lý của chủ đầu tư thì xuất phát chủ yếu từ lợi ích trực tiếp của mình Về phương pháp quản lý, nhà nước quản lý vừa bằng quyền lực thông qua pháp luật vừa bằng các biện pháp kinh tế thông qua chính sách đầu tư còn chủ đầu tư quản lý bằng phương pháp kinh tế

và nghệ thuật đầu tư Quản lý nhà nước đóng vai trò hướng dẫn, hỗ trợ, giám sát và kiểm tra còn chủ đầu tư là người bị quản lý và bị kiểm tra đây Nhà nước (gồm bộ máy quản lý và cán bộ quản lý) là chủ thể quản lý và ngành xây dựng là đối tượng quản lý Ban đầu Nhà nước tiếp nhận thông tin từ môi trường bên ngoài (tình hình kinh tế trong nước và thế giới), vận dụng các quy luật khách quan để đề ra các mục tiêu và nguyên tắc quản lý Các quy luật khách quan, đặc biệt là các quy luật kinh tế (ví dụ các quy luật thị trường như: quy luật cung, cầu, cạnh tranh ) tác động vào cả chủ thể và đối tượng quản lý Các quy luật này hoạt động không tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Chủ thể quản lý cần nhận thức được và vận dụng các quy luật này bằng cách đề ra các nguyên tắc quản lý Đây là những quy tắc cần tuân thủ để đảm bảo rằng hoạt động quản lý đã đáp ứng đúng yêu cầu của các quy luật khách quan Quản lý Nhà nước khởi đầu với việc xác định mục tiêu Nó là cái đích cần hướng tới của của hoạt động quản lý, là trạng thái cần đạt được của nền kinh tế và của ngành sau một khoảng thời gian nhất định Các nguyên tắc, mục tiêu này sẽ làm căn cứ để lựa chọn các công cụ, phương pháp quản lý Kết quả lựa chọn này được thể hiện bằng các

Trang 23

quyết định quản lý tác động vào hoạt động xây dựng Thông tin phản hồi được Nhà nước thu nhận để tiếp tục điều chỉnh hoạt động quản lý cho thích hợp

Quản lý Nhà nước về xây dựng phải thoả mãn các yêu cầu sau:

- Bảo đảm đúng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu tư, khai thác các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường, chống tham ô lãng phí

- Xây dựng theo quy hoạch kiến trúc và thiết kế được duyệt, bảo đảm mỹ quan, bền vững, chất lượng, thời gian và hiệu quả tối thiểu cho phép

Nội dung quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng theo Luật Xây dựng 2014 bao gồm các công việc [6]: (1) Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển các hoạt động đầu tư xây dựng; (2) Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng; (3) Ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về xây dựng; (4) Quản lý chất lượng, lưu trữ hồ sơ công trình xây dựng; (5) Cấp, thu hồi các loại giấy phép trong hoạt động đầu tư xây dựng; (6) Hướng dẫn, hỗ trợ nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư và giải quyết những vướng mắc, yêu cầu của nhà đầu tư; (7) Hướng dẫn, đánh giá hiệu quả đầu tư, kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý

vi phạm trong hoạt động đầu tư xây dựng; (8) Tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ trong hoạt động đầu tư xây dựng; (9) Tổ chức đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động đầu tư xây dựng; (10) Tổ chức hoạt động xúc tiến đầu tư; (11) Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đầu tư xây dựng

1.1.2 Vai trò, đặc điểm của đầu tư xây dựng các công trình giao thông

1.1.2.1 Vai trò của đầu tư xây dựng các công trình giao thông

Các công trình giao thông là một bộ phận quan trọng của kết cấu hạ tầng Việc xây dựng các công trình giao thông có các vai trò quan trọng sau đây:

- Đẩy mạnh phát triển kinh tế:

+ Các công trình giao thông góp phần thu hút đầu tư trong nước cũng như đầu tư nước ngoài, rút ngắn được khoảng cách địa lý giữa các tỉnh thành trong cả nước do đó làm

Trang 24

chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng, rút ngắn trình độ phát triển kinh tế giữa các địa phương, tạo điều kiện phát huy lợi thế so sánh của từng địa phương và thúc đẩy các địa phương phát triển kinh tế

+ Các công trình giao thông góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế thông qua kích thích tạo việc làm và tăng năng suất lao động Các công trình giao thông sẽ thu hút một lượng lớn lao động do đó góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp cho quốc gia, mặt khác khi vốn đầu tư cho hệ thống giao thông đường bộ (GTĐB) lớn

sẽ kích thích thu hút vốn đầu tư cho các ngành trực tiếp sản xuất sản phẩm phục vụ cho sự phát triển của các công trình giao thông như sắt, thép, xi măng, gạch

+ Các công trình giao thông đặc biệt là các công trình đường bộ phát triển sẽ đóng góp tích cực vào việc tiết kiệm chi phí và thời gian vận chuyển, từ đó tạo điều kiện giảm giá thành sản phẩm, kích thích tiêu dùng và phát triển của các ngành khác

- Phát triển văn hoá-xã hội: Nhờ có hạ tầng giao thông phát triển mà khoảng cách

địa lý ngày càng được xoá bỏ, sự giao lưu văn hoá giữa các vùng ngày càng được tăng cường và làm phong phú thêm đời sống của người dân Việt từ đó kích thích người dân hăng say lao động đóng góp vào sự phát triển của đất nước Hệ thống đường bộ phát triển sẽ nảy sinh các ngành nghề mới, các cơ sở sản xuất mới phát triển từ đó tạo cơ hội việc làm và sự phát triển không đồng đều giữa các vùng cũng được giảm, hạn chế sự di cư bất hợp pháp từ nông thôn ra thành thị, hạn chế được

sự phân hoá giàu nghèo và từ đó giảm được các tệ nạn xã hội góp phần tích cực vào bảo vệ môi trường sinh thái

- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Hạ tầng giao thông sẽ

đóng góp đáng kể vào việc giảm chi phí của doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp có chi phí vận tải chiếm một tỷ trọng lớn Khi mạng lưới giao thông phát triển thì các doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được chi phí nhiên liệu, chi phí vận chuyển hàng hoá tới nơi tiêu thụ, chi phí nhập nguyên liệu; ngoài ra doanh nghiệp cũng có thể tiết kiệm được một số chi phí khác như chi phí quản lý và bảo quản hàng hoá, chi phí lưu trữ hàng tồn kho… Mặt khác khi giao thông đường bộ phát triển thì sản phẩm dễ dàng đến tay người tiêu dùng do đó hàng hóa sẽ được tiêu thụ nhanh hơn, điều này sẽ rút ngắn

Trang 25

thời gian quay vòng vốn và làm tăng hiệu quả sử dụng vốn cũng như tăng hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp

- Bảo đảm an ninh quốc phòng: Hệ thống các công trình giao thông đóng góp tích cực

vào việc giữ gìn trật tự an ninh xã hội, và bảo vệ quốc phòng Với mạng lưới giao thông hiện đại sẽ giảm thiểu được tình trạng ùn tắc đường đang xảy ra trong thời gian qua đặc biệt là ở các thành phố lớn, giảm tai nạn giao thông, giữ gìn trật tự xã hội Đây

là một trong những vấn đề mà Đảng và Chính phủ đang rất quan tâm

- Đẩy mạnh hội nhập và giao lưu quốc tế: Hội nhập và giao lưu kinh tế về mọi mặt

đang là xu hướng diễn ra mạnh mẽ giữa các nước trong khu vực và trên toàn thế giới

và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó Hiện nay thì hạ tầng giao thông của nước ta còn ở mức yếu so với các nước trong khu vực nên ảnh hưởng lớn khả năng hội nhập và giao lưu với các nước Chính vì vậy mà Việt Nam đang xúc tiến để xây dựng các hệ thống đường xuyên quốc gia góp phần mở rộng giao lưu kinh tế và văn hóa giữa các nước

1.1.2.2 Đặc điểm của đầu tư xây dựng công trình giao thông

Các công trình giao thông là các kết quả của các dự án đầu tư phát triển nên nó mang đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển là :

- Công trình giao thông là các công trình xây dựng nên nó có vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài và thường thông qua các hoạt động kinh tế khác để có thể thu hồi vốn Do đó vốn đầu tư chủ yếu để phát triển giao thông ở Việt Nam là từ nguồn vốn NSNN

- Thời kì đầu tư kéo dài: Thời kì đầu tư được tính từ khi khởi công thực hiện dự án cho đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động, nhiều công trình có thời gian kéo dài hàng chục năm

- Thời gian vận hành kết quả đầu tư kéo dài: thời gian này được tính từ khi công trình

đi vào hoạt động cho đến khi hết hạn sử dụng và đào thải công trình

- Các thành quả của hoạt động đầu tư thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được xây dựng

Trang 26

- Vì đầu tư phát triển, các công trình giao thông đòi hỏi cần có vốn đầu tư lớn cùng với thời kì đầu tư kéo dài nên nó thường có độ rủi ro cao trong đó có nguyên nhân chủ quan là do công tác quy hoạch ở nước ta còn nhiều hạn chế nên nhiều công trình xây dựng không phát huy được hiệu quả cần thiết

1.1.3 Nội dung của công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông trên địa bàn cấp huyện

Như đã trình bày ở trên, theo Luật xây dựng 2014, quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng bao gồm 11 nội dung Đây là những nội dung quản lý tổng thể của nhà nước Đối với cấp huyện chỉ thực hiện một số nội dung quản lý theo phân cấp Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ đề cập đến một sô nội dung quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng các công trình giao thông đường bộ đối với cấp huyện

1.1.3.1 Xây dựng và quản lý quy hoạch xây dựng công trình giao thông

Việc quy hoạch xây dựng công trình giao thông nằm trong quy hoạch xây dựng chung nên các nội dung về quy hoạch xây dựng công trình giao thông là các nội dung của quy hoạch xây dựng nói chung

Quy hoạch xây dựng là công tác bố trí mặt bằng cụ thể để thi công xây dựng một công

trình cụ thể, một dự án cụ thể khi dự án đó đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, đã được cấp đất để xây dựng như: mặt bằng xây dựng, khu hành chính, khu sản xuất, khu kho tàng, khu bảo vệ… Trên cơ sở sơ đồ quy hoạch đó, các đơn vị thi công sẽ bố trí lực lượng xây dựng phù hợp để tiến hành thi công xây dựng theo yêu cầu của tiến độ xây dựng dự án đã được phê duyệt Quy hoạch xây dựng càng cụ thể, chi tiết, quản lý mặt bằng xây dựng càng đảm bảo, chặt chẽ thì việc triển khai thực hiện dự án càng thuận lợi Trong quá trình lập dự án, tùy từng loại dư án khác nhau mà mức độ quan tâm nghiên cứu đối với từng loại quy hoạch có thể khác nhau

Quy hoạch các công trình giao thông thuộc quy hoạch giao thông đường bộ - là quy hoạch lĩnh vực chuyên ngành, gồm kết cấu hạ tầng, quy hoạch phương tiện giao thông

và vận tải đường bộ Quy hoạch giao thông đường bộ được lập trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đồng bộ với quy hoạch ngành, lĩnh vực; gắn kết chặt chẽ với quy hoạch các chuyên ngành giao thông vận tải khác Quy hoạch giao thông đường bộ được lập cho ít nhất 10 năm và định hướng phát triển cho ít nhất 10 năm tiếp theo;

Trang 27

được điều chỉnh phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn của địa phương Việc điều chỉnh quy hoạch phải bảo đảm tính kế thừa của các quy hoạch đã được phê duyệt Quy hoạch giao thông đường bộ bao gồm mục tiêu, quan điểm, tính chất và quy mô phát triển; nhu cầu sử dụng đất, nhu cầu vốn, nguồn vốn, nguồn nhân lực; xác định danh mục các dự án, dự án ưu tiên; đánh giá tác động của quy hoạch; xác định cơ chế, chính sách và giải pháp thực hiện quy hoạch Căn cứ quy hoạch chung của cả nước, Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh tổ chức lập, trình Hội đồng nhân dân (HĐND) cùng cấp quyết định quy hoạch giao thông đường bộ do địa phương quản lý Nguồn vốn cho quy hoạch giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước và huy động từ các nguồn khác

1.1.3.2 Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng công trình giao thông

Pháp luật được ban hành tự thân nó không thể đi vào cuộc sống mà phải thông qua việc tổ chức thực hiện pháp luật trên thực tế đời sống xã hội Hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật về đầu tư xây dựng trong đó có các công trình giao thông là giai đoạn nối tiếp của hoạt động soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng Tổ chức thực hiện pháp luật về đầu tư xây dựng rất rộng và phức tạp, được tiến hành bởi nhiều chủ thể trong xã hội Nội dung thực hiện pháp luật về đầu tư xây dựng bao gồm [5], [7], [8], [9]:

- Thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý quy hoạch xây dựng Việc tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch xây dựng là vấn đề cốt lõi nhất của công tác quản lý quy hoạch xây dựng Trong việc thực hiện nhiệm vụ này, Uỷ ban nhân dân, Hội đồng nhân dân các cấp phải giữ vai trò chính Chính phủ chỉ quyết định những quy hoạch chung của các đô thị lớn, quy hoạch tổng thể xây dựng các vùng trọng điểm có tính liên vùng và liên ngành, còn quy hoạch chung xây dựng các đô thị còn lại, quy hoạch chi tiết xây dựng phải do Uỷ ban nhân dân, Hội đồng nhân dân các địa phương xem xét quyết định

Trên cơ sở quy hoạch xây dựng được duyệt, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố phải lập kế hoạch thực hiện tổ chức công bố quy hoạch xây dựng, đưa mốc giới, chỉ giới quy hoạch xây dựng ra ngoài thực địa, cấp chứng quy hoạch xây dựng, huy động các

Trang 28

nguồn đầu tư, cấp giấy phép xây dựng và giám sát kiểm tra việc thực hiện, bảo đảm việc xây dựng đô thị có kỷ cương trật tự

- Thực hiện quy định của pháp luật về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm: Lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự

án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình trong đó có công trình giao thông Việc tổ chức thực hiện quy định của pháp luật về quản lý dự án đầu tư xây dựng xuyên suốt quá trình triển khai thực hiện dự án Dự án đầu tư xây dựng có điểm đầu và kết thúc, việc triển khai thực hiện dự án thông qua các giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị dự án, giai đoạn thực hiện dự án, giai đoạn đưa dự án vào khai thác sử dụng

Tổ chức thực hiện quy định của pháp luật trong giai đoạn chuẩn bị dự án bao gồm các nội dung: nghiên cứu, khảo sát, lập dự án; thẩm định dự án; phê duyệt dự án

Tổ chức thực hiện quy định của pháp luật trong giai đoạn thực hiện dự án bao gồm các nội dung: khảo sát, thiết kế, xây dựng công trình; lựa chọn nhà thầu; tổ chức thi công xây dựng; quản lý dự án; nghiệm thu; bàn giao; quyết toán

Tổ chức thực hiện quy định của pháp luật trong giai đoạn đưa dự án vào khai thác sử dụng bao gồm: bảo hành; bảo trì; khai thác, sử dụng; hoàn vốn (nếu có) Theo tinh thần của Luật Xây dựng là phân cấp tối đa quyền và trách nhiệm cho chủ đầu tư, người quyết định đầu tư nên nhà nước tổ chức thực hiện những quy định của pháp luật thông qua việc tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; ban hành, công bố các định mức kinh tế, quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng, thực hiện hậu kiểm

1.1.3.3 Tổ chức quản lý, bảo trì, bảo vệ công trình giao thông

a Yêu cầu về quản lý, khai thác, bảo trì công trình giao thông (đường bộ) [10], [11]:

Bảo trì công trình đường bộ là tập hợp các công việc nhằm bảo đảm và duy trì sự làm việc bình thường, an toàn của công trình đường bộ theo quy định của thiết kế trong quá trình khai thác, sử dụng Nội dung bảo trì công trình đường bộ có thể bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các công việc sau: kiểm tra, quan trắc, kiểm định chất lượng,

Trang 29

bảo dưỡng và sửa chữa công trình nhưng không bao gồm các hoạt động làm thay đổi công năng, quy mô công trình đường bộ

Quản lý, khai thác, bảo trì công trình đường bộ cần đảm bảo các yêu cầu sau đây:

- Công trình đường bộ khi đưa vào khai thác, sử dụng phải được quản lý, khai thác và bảo trì theo quy định của pháp luật về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng, pháp luật về giao thông đường bộ…

- Bảo trì công trình đường bộ phải thực hiện theo quy định của quy trình bảo trì, quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo trì công trình đường bộ được cơ quan có thẩm quyền công bố áp dụng

- Quy trình quản lý, vận hành khai thác, quy trình bảo trì công trình đường bộ được lập phù hợp với các bộ phận công trình, thiết bị lắp đặt vào công trình, loại công trình (đường, cầu, hầm, bến phà, cầu phao và công trình khác), cấp công trình và mục đích

sử dụng công trình

- Việc quản lý, vận hành khai thác, bảo trì công trình đường bộ phải đảm bảo duy trì tuổi thọ công trình, bảo đảm giao thông an toàn và thông suốt, an toàn cho người và tài sản, an toàn công trình, phòng, chống cháy nổ và bảo vệ môi trường

b Nội dung bảo trì công trình giao thông (đường bộ) [10], [11]:

- Kiểm tra công trình đường bộ: Kiểm tra công trình đường bộ bao gồm kiểm tra theo quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình bảo trì được duyệt; kiểm tra thường xuyên, định kỳ và đột xuất nhằm phát hiện các dấu hiệu xuống cấp, hư hỏng của công trình, thiết bị lắp đặt vào công trình làm cơ sở cho việc bảo trì công trình Việc kiểm tra công trình đường bộ có thể bằng trực quan hoặc bằng thiết bị chuyên dụng;

- Quan trắc công trình đường bộ: Quan trắc công trình đường bộ là hoạt động theo dõi,

đo đạc, ghi nhận sự biến đổi về hình học, biến dạng, chuyển vị và các thông số kỹ thuật khác của công trình và môi trường xung quanh theo thời gian Quan trắc công trình đường bộ phục vụ công tác bảo trì bắt buộc phải được thực hiện trong các trường hợp: công trình đường bộ khi xảy ra sự cố có thể dẫn tới thảm họa theo quy định của

Trang 30

pháp luật; công trình, bộ phận công trình đường bộ có dấu hiệu lún, nứt, nghiêng và các dấu hiệu bất thường khác có khả năng gây sập đổ, mất an toàn trong quá trình khai thác sử dụng hoặc theo yêu cầu của chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng công trình

Các bộ phận công trình cần được quan trắc bao gồm các kết cấu chịu lực chính của công trình mà khi bị hư hỏng có thể dẫn đến sập đổ công trình (kết cấu nhịp cầu; mố

và trụ cầu có chiều cao lớn; trụ tháp cầu treo; vỏ hầm)

- Kiểm định xây dựng công trình đường bộ: là hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng hoặc nguyên nhân hư hỏng, giá trị, thời hạn sử dụng và các thông số kỹ thuật khác của sản phẩm xây dựng, bộ phận công trình đường bộ hoặc công trình đường bộ thông qua quan trắc, thí nghiệm kết hợp với việc tính toán, phân tích Kiểm định chất lượng công trình phục vụ công tác bảo trì được thực hiện trong các trường hợp sau:

+ Kiểm định định kỳ theo quy trình bảo trì công trình đã được phê duyệt theo quy định của pháp luật

+ Khi phát hiện thấy chất lượng công trình có những hư hỏng của một số bộ phận công trình, công trình có dấu hiệu nguy hiểm, không đảm bảo an toàn cho việc khai thác, sử dụng

+ Khi có yêu cầu đánh giá chất lượng hiện trạng của công trình phục vụ cho việc lập quy trình bảo trì đối với những công trình đã đưa vào sử dụng nhưng chưa có quy trình bảo trì theo quy định

+ Khi cần có cơ sở để quyết định việc kéo dài thời hạn sử dụng của công trình đối với các công trình đã hết tuổi thọ thiết kế hoặc làm cơ sở cho việc cải tạo, nâng cấp công trình theo quy định

- Bảo dưỡng công trình đường bộ: được thực hiện theo kế hoạch bảo trì hàng năm và quy trình bảo trì công trình được phê duyệt

- Sửa chữa công trình đường bộ: là các hoạt động khắc phục hư hỏng của công trình được phát hiện trong quá trình khai thác, sử dụng nhằm đảm bảo sự làm việc bình thường, an toàn của công trình đường bộ Sửa chữa công trình đường bộ bao gồm:

Trang 31

+ Sửa chữa định kỳ công trình đường bộ bao gồm sửa chữa hư hỏng hoặc thay thế bộ phận công trình, thiết bị lắp đặt vào công trình bị hư hỏng được thực hiện định kỳ theo quy định của quy trình bảo trì;

+ Sửa chữa đột xuất công trình đường bộ được thực hiện khi bộ phận công trình, công trình bị hư hỏng do chịu tác động đột xuất như gió, bão, lũ lụt, động đất, va đập, cháy

và những tác động đột xuất khác hoặc khi bộ phận công trình, công trình có biểu hiện xuống cấp ảnh hưởng đến an toàn sử dụng, vận hành, khai thác công trình Việc sửa chữa đột xuất do bão, lũ, lụt thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải về phòng, chống, khắc phục hậu quả bão, lũ, lụt trong ngành đường bộ

c Trách nhiệm quản lý, khai thác và bảo trì công trình giao thông (đường bộ) [10], [11]:

Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện quản lý, vận hành khai thác và bảo trì các tuyến đường trên địa bàn theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cụ thể: Tổ chức thực hiện công tác quản lý, vận hành khai thác và bảo trì các tuyến đường thuộc phạm vi quản lý; Thực hiện quyền, trách nhiệm khác đối với công tác quản lý, vận hành khai thác và bảo trì công trình đường

bộ thuộc hệ thống đường địa phương theo quy định của pháp luật

Trách nhiệm quản lý, khai thác và bảo trì công trình giao thông (đường bộ) của cơ quan quản lý nhà nước các cấp được quy định như sau:

- Tổ chức tuần kiểm đường bộ trên các tuyến đường được giao trực tiếp quản lý theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải;

- Thực hiện các quy định về quản lý, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ;

- Tổ chức lập, trình kế hoạch bảo trì sử dụng vốn ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; tổ chức lập, trình duyệt thẩm định, phê duyệt báo cáo kinh tế - kỹ thuật hoặc dự án sửa chữa công trình đường bộ theo quy định của pháp luật; tổ chức lập, trình duyệt dự toán bảo dưỡng thường xuyên công trình đường bộ, nhiệm vụ và dự toán kiểm tra, quan trắc, kiểm định chất lượng phục vụ công tác bảo trì công trình đường bộ được giao quản lý tổ chức đấu thầu, đặt hàng và ký kết hợp đồng với nhà thầu thực hiện quản lý, bảo trì công trình, nhà thầu vận hành công trình; thực hiện các

Trang 32

nhiệm vụ đánh giá an toàn chịu lực, an toàn vận hành trong khai thác, sử dụng; xử lý đối với công trình có dấu hiệu nguy hiểm, không bảo đảm an toàn cho khai thác, sử dụng; xử lý đối với công trình hết thời hạn khai thác có nhu cầu sử dụng tiếp;

- Tổ chức kiểm tra, giám sát các nhà thầu bảo dưỡng, các nhà thầu khác thực hiện hợp đồng đã ký;

- Kiểm tra, giám sát doanh nghiệp dự án trong việc quản lý, vận hành khai thác công trình dự án theo quy định của pháp luật

1.1.3.4 Công tác thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm

Hoạt động này nhằm ngăn chặn, hạn chế, phòng ngừa bất kỳ hành vi nào vi phạm pháp luật về đầu tư xây dựng, xử lý nghiêm minh, công bằng các hành vi vi phạm, bảo đảm hiệu lực quản lý, bảo đảm trật tự, kỷ cương Xử lý vi phạm pháp luật về đầu tư xây dựng là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành bằng các biện pháp cưỡng chế đối với các hành vi vi phạm pháp luật về đầu tư xây dựng Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, người có hành vi vi phạm pháp luật về đầu tư xây dựng và pháp luật có liên quan bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, trường hợp gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường thiệt hại

Việc kiểm tra và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật về đầu tư xây dựng không những

có tác dụng răn đe đối với những người vi phạm mà còn có tác dụng ngăn chặn, giáo dục, phòng ngừa đối với những tổ chức, cá nhân khác Kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về đầu tư xây dựng còn nhằm phát hiện những sơ hở, yếu kém trong công tác đầu

tư xây dựng, hoàn thiện cơ chế chính sách, góp phần sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư, đưa hoạt động đầu tư xây dựng đi vào nề nếp, có trật tự, có kỷ cương, tuân thủ các quy định của pháp luật

1.1.4 Tiêu chí đánh giá công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông

1.1.4.1 Tiêu chí về xây dựng và quản lý quy hoạch xây dựng công trình giao thông

Quản lý nhà nước về xây dựng và quản lý quy hoạch xây dựng công trình giao thông được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau:

Trang 33

- Sự phù hợp của việc xây dựng công trình giao thông với mục tiêu của chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

- Quy hoạch xây dựng công trình giao thông tạo điều kiện khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đất đai, di tích lịch sử, di sản văn hóa và nguồn lực phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đặc điểm lịch sử, văn hóa, trình độ khoa học và công nghệ

- Công trình giao thông đáp ứng nhu cầu sử dụng hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật; đảm bảo tính kết nối, thống nhất công trình hạ tầng kỹ thuật khu vực, vùng, quốc gia

1.1.4.2 Tiêu chí về thực hiện các văn bản pháp luật về xây dựng công trình giao thông

Việc thực hiện các văn bản pháp luật về xây dựng công trình giao thông được đánh giá thông qua các nội dung quản lý dự án ở giai đoạn chuẩn bị dự án, giai đoạn thực hiện

dự án, giai đoạn đưa dự án vào khai thác sử dụng Các tiêu chí đánh giá bao gồm:

- Thường xuyên theo dõi, kiểm tra việc thực hiện khảo sát xây dựng công trình giao thông theo đúng quy định của pháp luật;

- Thực hiện tốt việc hướng dẫn, kiểm tra công tác quản lý chất lượng của các tổ chức,

cá nhân tham gia xây dựng công trình giao thông;

- Thực hiện thẩm định thiết kế, kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng theo đúng quy định;

- Tổ chức tốt việc thực hiện giám định chất lượng công trình xây dựng theo đúng quy định;

- Hướng dẫn, kiểm tra thường xuyên việc thực hiện các quy định pháp luật về quản lý chi phí xây dựng, đo bóc khối lượng công trình, giá ca máy và thiết bị thi công, điều chỉnh dự toán xây dựng, chỉ số giá xây dựng;

- Thực hiện tốt việc kiểm soát chi phí trong đầu tư xây dựng;

- Thực hiện giám sát công tác đấu thầu đúng quy định của pháp luật;

- Thực hiện thường xuyên việc kiểm tra, giám sát quản lý an toàn, vệ sinh lao động, bảo vệ môi trường trong thi công xây dựng công trình;

Trang 34

1.1.4.3 Tiêu chí về tổ chức quản lý, bảo trì, bảo vệ công trình giao thông

- Thực hiện tốt việc quản lý, khai thác và bảo trì theo quy định của pháp luật về quản

lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng, pháp luật về giao thông đường bộ;

- Thực hiện quản lý, bảo trì, bảo vệ công trình giao thông đúng theo Quy trình quản lý, vận hành khai thác, quy trình bảo trì công trình đường bộ được ban hành;

- Thực hiện tốt việc kiểm tra thường xuyên, định kỳ và đột xuất nhằm phát hiện các dấu hiệu xuống cấp, hư hỏng của công trình giao thông;

- Thực hiện tốt việc kiểm định xây dựng công trình giao thông theo quy định (kiểm định định kỳ và đột xuất);

- Thực hiện theo đúng kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa công trình giao thông đã được phê duyệt;

- Tổ chức tốt việc kiểm tra, giám sát các nhà thầu bảo dưỡng, doanh nghiệp dự án trong việc quản lý, vận hành khai thác công trình dự án theo quy định của pháp luật

1.1.4.4 Tiêu chí về công tác kiểm tra, giám sát

- Mức độ thường xuyên kiểm tra, giám sát xây dựng công trình giao thông được phân công quản lý theo quy định;

- Tổ chức tốt việc kiểm tra giám sát việc tuân thủ pháp luật về đầu tư xây dựng công trình giao thông của chủ đầu tư, nhà thầu, tổ chức giám sát…

- Xử lý kịp thời và đúng pháp luật các vi phạm pháp luật về xây dựng công trình giao thông

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông

1.1.5.1 Các nhân tố chủ quan

- Tổ chức hoạt động của bộ máy quản lý: Hoạt động quản lý nước về đầu tư xây dựng trong đó có quản lý về xây dựng các công trình giao thông phụ thuộc vào tổ chức bộ máy quản lý, hoạt động quản lý nước về đầu tư xây dựng sẽ không thể được quản lý tốt nếu tổ chức bộ máy quản lý không hợp lý Công tác tổ chức khoa học, hợp lý sẽ tạo

Trang 35

điều kiện cho cơ quan quản lý có được cái nhìn tổng thể Tuy nhiên, việc quản lý nhà nước không chỉ là nhiệm vụ của một cơ quan duy nhất, nó đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ của các cơ quan quản lý khác

Năng lực tổ chức bộ máy có ảnh hưởng quan trọng quyết định đến hiệu quả hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản Năng lực tổ chức bộ máy ở đây bao gồm năng lực con người

và năng lực của các tổ chức tham gia vào lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản Nếu năng lực con người và tổ chức bộ máy yếu thì không thể có hiệu quả cao trong đầu tư xây dựng cơ bản Tổ chức bộ máy tham gia vào hoạt động đầu tư xây dựng rất rộng, từ khâu lập quy hoạch kế hoạch, đến khâu chuẩn bị đầu tư, tổ chức đấu thầu, thi công, nghiệm thu quyết toán, đưa công trình vào sử dụng

Công tác quản lý hành chính nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản cũng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của hoạt động đầu tư Thực tế cho thấy nếu quản lý nhà nước yếu kém, hành chính quan liêu, thủ tục hành chính rườm rà sẽ ảnh hưởng đến chi phí đầu tư và hậu quả là hiệu quả hoạt động đầu tư thấp Muốn nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản cần phải đổi mới quản lý hành chính nhà nước

- Trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý: Trình độ, năng lực của cán bộ quản lý trực tiếp tác động tới hoạt động quản lý Sự am hiểu về ngành nghề lĩnh vực mình quản lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng nắm bắt tình hình, từ đó phân tích và đưa ra được những kết luận đúng đắn trong công tác quản lý Thêm vào đó, phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý sẽ quyết định việc thực hiện đúng theo trách nhiệm được giao

Cũng như trong tất cả các công tác khác, nhân tố con người là hết sức quan trọng và có tính quyết định tới kết quả công việc Người cán bộ làm công tác quản lý dù ở bất kỳ

cơ quan nào hoặc cấp quản lý nào đều phải trang bị cho mình những kiến thức tổng quát và chuyên sâu trên các phương diện như kinh tế, kỹ thuật, luật pháp, quản lý cũng như những thông tin liên quan đến dự án Cụ thể, người cán bộ quản lý cần đảm bảo được các yêu cầu như: Nắm vững chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của nhà nước, ngành, địa phương và các quy chế quản lý kinh tế, tài chính; quy chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước Nắm chắc và thường xuyên bổ sung thông tin

Trang 36

về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, của ngành, địa phương cũng như của các nước trong khu vực và trên thế giới Nghiên cứu và kiểm tra một cách khách quan, khoa học và toàn diện về nội dung dự án, tình hình đơn vị vay vốn, phối hợp với các cơ quan chuyên môn và chuyên gia để đưa ra các nhận xét, kết luận, kiến nghị chính xác Có tinh thần trách nhiệm cao và trung thực trong công việc Bởi vì nếu kết luận thiếu tính chính xác và không trung thực trong quá trình quản lý dự án có thể gây

ra những thiệt hại lâu dài không những cho chủ đầu tư mà còn ảnh hưởng tới địa phương, tới ngành và toàn bộ nền kinh tế

Trước hết là điều kiện về địa lý tự nhiên, các yếu tố thuộc điều kiện về địa lý tự nhiên như địa hình, khí hậu, địa chất, tài nguyên có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và hoạt động của dự án đầu tư, tác động mạnh mẽ đến “đầu vào” và “đầu ra” của các dự án Điều kiện về dân số và lao động là yếu tố có liên quan, ảnh hưởng đến nhu cầu và khuynh hướng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ do dự án tạo ra, đồng thời tác động đến nguồn lao động cung cấp cho dự án

Tình hình chính trị, các chính sách và hệ thống luật pháp của nhà nước là những yếu tố

có liên quan, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và tâm lý của nhà đầu tư Sự ổn định

về chính trị, luật pháp nghiêm minh và các chính sách nhất quán sẽ mang lại sự an tâm cho các nhà đầu tư Nếu tình hình không ổn định hoặc chiến tranh xảy ra sẽ gây cản trở công cuộc đầu tư, làm cho hoạt động đầu tư cũng như nhiều hoạt động khác bị ngừng trệ, đổ vỡ

Tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phương có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thực hiện và phát huy hiệu quả của dự án Tình hình kinh tế xã hội diễn biến không bình thường, giá trị đồng tiền giảm sút, lạm phát ở mức cao, giá cả không ổn định sẽ

Trang 37

làm đảo lộn tính toán ban đầu của chủ đầu tư, làm chuyển hoá kết quả đầu tư, từ lãi trở thành lỗ

- Sự phù hợp của các văn bản pháp luật liên quan: Một hệ thống pháp luật đầy đủ và phù hợp sẽ đem lại hiệu quả quản lý cao và ngược lại, một hệ thống hệ thống pháp luật chưa đầy đủ, không đồng bộ, chồng chéo, sẽ làm giảm hiệu quả của công tác quản lý

Sự tác động gián tiếp của hệ thống pháp luật tới hoạt động quản lý đầu tư thể hiện: Các chính sách quản lý của nhà nước đồng bộ tạo ra môi trường thuận lợi cho các nhà đầu

tư Hệ thống các chính sách pháp luật về đầu tư xây dựng nói chung và đầu tư xây dựng cơ bản nói riêng Các văn bản quy phạm pháp luật tạo ra hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản và có ảnh hưởng sâu rộng và trực tiếp đến hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản và do vậy có ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản Hệ thống chính sách pháp luật vừa thiếu vừa yếu sẽ dẫn đến tình trạng có nhiều kẽ hở tạo điều kiện cho tiêu cực, tham nhũng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản Hệ thống chính pháp pháp luật đầy đủ nhưng không sát thực, chồng chéo, nhiều thủ tục phiền hà cũng làm nản lòng các nhà đầu tư và do vậy gián tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản

1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông

1.2.1 Kinh nghiệm về quản lý nhà nước về xây dựng công trình giao thông tại một

số địa phương

1.2.1.1 Kinh nghiệm tại huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng

Là huyện còn gặp nhiều khó khăn, xác định để phát triển kinh tế - xã hội, từng bước giảm nghèo thì trước hết phải ưu tiên cho phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là mạng lưới giao thông, những năm qua, từ nhiều nguồn vốn, huyện Thông Nông (Cao Bằng) tập trung đầu tư phát triển hạ tầng giao thông Nhờ đó, giao thông trên địa bàn từng bước được kiên cố hóa; nhiều tuyến đường chính, đường liên xã, xóm được nâng cấp,

mở rộng

Để thúc đẩy quá trình xây dựng hạ tầng giao thông, huyện chỉ đạo và tập trung nguồn lực thực hiện tốt chương trình trọng tâm của huyện nhiệm kỳ 2015 - 2020 về phát triển giao thông, tạo nền tảng vững chắc đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới Thực

Trang 38

hiện có hiệu quả chủ trương xã hội hóa nguồn lực đầu tư cho phát triển giao thông, tranh thủ tối đa nguồn vốn hỗ trợ của trung ương, của tỉnh, lồng ghép có hiệu quả các chương trình, dự án, đồng thời huy động nguồn lực trong nhân dân bằng nhiều hình thức đóng góp vật tư, phương tiện, hiến đất, hoa màu, ngày công lao động

Đến nay, toàn huyện có trên 300 km đường, trong đó đường huyện đến trung tâm xã

có 10 tuyến được cứng hóa, đường xã cứng hóa đạt 51%, đường liên thôn cứng hóa đạt 45%, đường thôn, ngõ, xóm cứng hóa đạt 40% Nhiều công trình giao thông được hoàn thành và đưa vào sử dụng mang lại lợi ích thiết thực, phục vụ phát triển sản xuất

và đời sống của người dân Từ năm 2016 đến nay, toàn huyện có 60 dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông liên tỉnh, liên huyện, liên xóm, ngõ, nội đồng…, tổng chiều dài trên 55 km, chiều rộng từ 3,5 - 4 m, tổng mức đầu tư trên 60 tỷ đồng; duy tu, sửa chữa 17 tuyến đường với chiều dài 169 km [12]

Tuy nhiên, với địa hình miền núi phức tạp, bị chia cắt bởi những dãy núi cao, sông suối, mật độ dân cư thưa, hệ thống kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, nhu cầu đầu tư lớn trong khi điều kiện kinh tế - xã hội của huyện còn nhiều khó khăn, vì vậy việc đầu tư xây dựng đường liên xã, liên thôn, liên xóm chưa đáp ứng được nhu cầu xây dựng nông thôn mới Tình trạng nhiều xe quá khổ, quá tải làm hư hỏng, nhất là những tuyến đường huyện, dẫn đến chất lượng đường còn xấu; các cầu trên các tuyến đường xây dựng từ lâu nên tải trọng cầu thấp, chưa đáp ứng tải trọng xe vận tải hiện tại Do đó cần có nguồn hỗ trợ của trung ương, của tỉnh hằng năm cho chương trình phát triển giao thông trên địa bàn huyện

Huyện luôn chú trọng khai thác, phát huy các tiềm năng, lợi thế về vị trí địa lý, đất đai, huy động các nguồn lực trong và ngoài huyện, coi trọng công tác quản lý quy hoạch trong đầu tư xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông cũng như quy hoạch phát triển kinh tế xã hội [12]

1.2.1.2 Kinh nghiệm tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình

Những năm gần đây, huyện Kỳ Sơn (Hòa Bình) tập trung tối đa nguồn lực phát triển giao thông, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm xoá đói, giảm nghèo Vì vậy, mạng lưới giao thông nông thôn của huyện đã phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu

Trang 39

Thời gian qua, huyện Kỳ Sơn đã tập trung mọi nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông với mục tiêu bê tông hóa, hoàn chỉnh hệ thống cầu, đường nối liền từ các xã, thị trấn nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân, thúc đẩy kinh tế, văn hóa,

xã hội phát triển Từ đó nhiều địa phương đã thực hiện tốt phong trào xây dựng kết cấu

hạ tầng giao thông làm cho diện mạo làng quê ngày càng khởi sắc

Huyện Kỳ Sơn hiện có 244,45 km Trong đó: đường bê tông nhựa 12 km, đường nhựa 68,9 km, đường bê tông xi măng 86,1 km, đường cấp phối 69,14 km, đường đất 8,31

km Hàng năm, huyện dành kinh phí trên 3 tỷ đồng phát triển hạ tầng giao thông trong

đó chủ yếu là giao thông nông thôn Đối với các vị trí cầu, ngầm, trong những năm qua, huyện Kỳ Sơn từng bước đầu tư nâng cấp nhằm phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân, về cơ bản đều đảm bảo kỹ thuật và độ an toàn Kết hợp với chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, huyện đã phát động triển khai thực hiện chiến dịch "Toàn dân tham gia làm đường giao thông nông thôn” Theo đó, các xã huy động ngày công nhân dân cải tạo, nâng cấp các tuyến đường, phát quang bụi dậm, khơi thông cống, rãnh, đắp đất bù vênh làm đường giao thông nông thôn; duy tu, sửa chữa, bảo dưỡng các tuyến đường huyện, đường xã, xóm [13]

1.2.1.3 Kinh nghiệm tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

huyện Văn Yên (Yên Bái), những con đường bê tông "đặc thù" đến các thôn, bản vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn được hình thành đã làm cho người dân thỏa lòng mong ước bao đời nay Những con đường này đang mang lại sức sống mới, một diện mạo mới cho đời sống bà con nhân dân vùng cao nơi đây

Đường đặc thù được huyện Văn Yên triển khai ở 5 xã vùng cao là Mỏ Vàng, Lang Thíp, Châu Quế Thượng, Phong Dụ Thượng, Đại Sơn với tổng chiều dài 30 km Lựa chọn các

xã vùng cao, vùng khó khăn nhưng không đầu tư dàn trải, huyện đã trực tiếp đến khảo sát từng xã, từng tuyến đường vào thôn để có sự đầu tư đúng, đủ, kịp thời [14]

Trên cơ sở khảo sát, huyện đã lựa chọn các tuyến ở 11 thôn, bản với tổng kinh phí đầu

tư ban đầu vào khoảng 8 tỷ đồng Trung bình mỗi xã trên sẽ có từ 2 – 3 thôn bản được hưởng lợi Đến thời điểm này, các tuyến đường đặc thù trên địa bàn huyện đang được đẩy nhanh tiến độ thi công

Trang 40

Để người dân được nhanh chóng hưởng lợi từ các tuyến đường đặc thù, các công việc triển khai, cắm tuyến, tập kết vật liệu, máy móc thi công, đẩy nhanh tiến độ thi công… đang được huyện Văn Yên triển khai thực hiện đồng bộ

Ngân sách huyện sẽ bảo đảm đầu tư 100% kinh phí cho việc làm mới các tuyến đường này, người dân đóng góp ngày công để làm mặt đường, khơi thông cống rãnh và đắp lề đường Người dân ở những nơi xa xôi nhất của huyện Văn Yên như: thôn Khe Lóng 2, Khe Lóng 3 của xã Mỏ Vàng; thôn Đam 1, Bùn Dạo của xã Lang Thíp, thôn Ao Ếch của xã Châu Quế Thượng; thôn Khe Dẹt, Bản Lùng của xã Phong Dụ Thượng… đã có đường

- Thực hiện tốt việc quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế trong đó có quy hoạch xây dựng các công trình giao thông;

- Tăng cường thực hiện công tác giám sát thi công xây dựng một cách nghiêm túc, chặt chẽ, thường xuyên Tổ chức lập đầy đủ các hồ sơ, tài liệu quản lý chất lượng công trình xây dựng theo quy định

- Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực về đầu tư xây dựng, chú ý đặc biệt đến cán bộ phường xã; Bố trí cán bộ, công chức, viên chức có năng lực, kinh nghiệm chuyên môn phù hợp để thực hiện công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý đối với việc thi công xây dựng, bảo dưỡng, bảo trì, sửa chữa công trình giao thông;

- Tăng cường sự giám sát của các cơ quan Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, cộng đồng dân cư, các cơ quan thông tin đại chúng trong công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng

Ngày đăng: 05/08/2020, 18:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Bạch Nguyệt –Từ Quang Phương (2010), Giáo trình kinh tế đầu tư, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế đầu tư
Tác giả: Nguyễn Bạch Nguyệt –Từ Quang Phương
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2010
[2] Từ Quang Phương (2010), Giáo trình quản lý dự án đầu tư, NXB Lao động – xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý dự án đầu tư
Tác giả: Từ Quang Phương
Nhà XB: NXB Lao động – xã hội
Năm: 2010
[3] Nguyễn Bá Uân (2016), Giáo trình Quản lý dự án nâng cao, Trường Đại học Thủy lợi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý dự án nâng cao
Tác giả: Nguyễn Bá Uân
Năm: 2016
[4] Bùi Ngọc Toàn (2007), Giáo trình Kinh tế và quản lý xây dựng, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế và quản lý xây dựng
Tác giả: Bùi Ngọc Toàn
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2007
[7] Chính phủ (2010), Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24/02/2010 về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 11/2010
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
[15] Vương Thị Thành Hưng (2015), “Quản lý dự án xây dựng công trình giao thông đường bộ tại Ban Quản lý dự án công trình giao thông Nghệ An”, Luận văn thạc sỹ, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý dự án xây dựng công trình giao thông đường bộ tại Ban Quản lý dự án công trình giao thông Nghệ An
Tác giả: Vương Thị Thành Hưng
Năm: 2015
[16] Đặng Văn Ái (2012), “Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về giao thông đường bộ tỉnh Bình Định”, Luận văn thạc sỹ, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về giao thông đường bộ tỉnh Bình Định
Tác giả: Đặng Văn Ái
Năm: 2012
[17] Phan Thị Nhật Phương (2014), “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học kinh tế, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Phan Thị Nhật Phương
Năm: 2014
[18] Trần Thị Thủy Như (2014), “Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông đường bộ bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn TP Đông hà, Tỉnh Quảng Trị”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học kinh tế, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông đường bộ bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn TP Đông hà, Tỉnh Quảng Trị
Tác giả: Trần Thị Thủy Như
Năm: 2014
[5] Chính phủ (2015), Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng Khác
[6] Quốc hội (2014), Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 Khác
[8] Chính phủ (2015), Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 về quản lý chi phí đầu tư xây dựng Khác
[9] Chính phủ (2015), Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 về Quản lý dự án đầu tư xây dựng Khác
[10] Bộ Giao thông vận tải (2013), Thông tư số 52/2013/TT-BGTVT Quy định về quản lý, khai thác và bảo trì công trình đường bộ, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/02/2014 Khác
[11] Bộ Giao thông vận tải (2018), Thông tư số 37/2018/TT-BGTVT ngày 07/06/2018 Quy định về quản lý, vận hành khai thác và bảo trì công trình đường bộ Khác
[12] Ủy ban nhân dân huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng (2018), Báo cáo tổng kết công tác đầu tư xây dựng Khác
[13] Ủy ban nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình (2018), Báo cáo tổng kết công tác đầu tư xây dựng Khác
[14] Ủy ban nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái (2018), Báo cáo tổng kết công tác đầu tư xây dựng Khác
[19] Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn (2015), Quyết định số 1264/2015/QĐ-UBND ngày 17/8/2015 về việc Ban hành quy định về quản lý, bảo trì đường huyện, đường xã trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn Khác
[20] Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn (2018), Báo cáo số 20/BC-UBND ngày 20/10/2018 về Kết quả giám sát công tác quản lý, bảo trì hệ thống đường huyện, đường xã trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w