1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luan van nguồn lực thông tin tại thư viện trường đại học hải phòng

128 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 2,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3.1. Mục đích Làm rõ thực trạng nguồn lực thông tin tại Thư viện trường Đại học Hải Phòng từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện nguồn lực thông tin tại Thư viện trường Đại học Hải Phòng. 3.2. Nhiệm vụ: + Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nguồn lực thông tin + Nghiên cứu đối tượng người dùng tin và nhu cầu tin tại Thư viện trường Đại học Hải Phòng. + Khảo sát và phân tích thực trạng công tác bổ sung vốn tài liệu, quản lý và khai thác nguồn lực thông tin ở Thư viện trường Đại học Hải Phòng. + Đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm hoàn thiện nguồn lực thông tin tại Thư viện Đại học Hải Phòng. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Nguồn lực thông tin tại thư viện trường Đại học Hải Phòng. Phạm vi nghiên cứu: Thư viện trường Đại học Hải Phòng từ năm 2004 đến tháng 32015. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận: luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực thông tin thư viện. Phương pháp cụ thể: + Nghiên cứu, phân tích và tổng hợp tài liệu + Điều tra xã hội học: khảo sát thực tế, điều tra, phỏng vấn, quan sát và xin ý kiến chuyên gia + Thống kê: xử lý và phân tích số liệu + Phân tích hệ thống: xem xét các vấn đề trong mối quan hệ logic hệ thống. 6. Đóng góp của luận văn 6.1. Đóng góp về lý luận Luận văn làm rõ khái niệm về nguồn lực thông tin, vai trò của nguồn lực thông tin và thực trạng đáp ứng nhu cầu người dùng tin trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học tại trường Đại học Hải Phòng 6.2. Đóng góp về thực tiễn Luận văn đưa ra những giải pháp cụ thể, khả thi nhằm hoàn thiện nguồn lực thông tin tại Thư viện trường Đại học Hải Phòng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học tại trường Đại học Hải Phòng.

Trang 1

BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI

-

TRẦN THỊ THU HIỀN

NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

Chuyên ngành: Khoa học Thông tin - Thư viện

Mã số: 60320203

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC THÔNG TIN - THƯ VIỆN

Người hướng dẫn khoa học: TS Chu Ngọc Lâm

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Chu Ngọc Lâm Các kết quả nghiên cứu và kết luận trình bày trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Hải Phòng, ngày 9 tháng 9 năm 2015

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Thị Thu Hiền

Trang 3

1

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ 4

DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ SỐ LIỆU 4

MỞ ĐẦU 5

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN LỰC THÔNG TIN VÀ THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG 11

1.1 Lý luận chung về nguồn lực thông tin 11

1.1.1 Khái niệm 11

1.1.2 Các đặc trưng của nguồn lực thông tin 12

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn lực thông tin 17

1.1.4 Phân loại nguồn lực thông tin 20

1.2 Khái quát về Trường Đại học Hải Phòng và Thư viện 22

1.2.1 Trường Đại học Hải Phòng 22

1.2.2 Thư viện trường Đại học Hải Phòng 27

1.3 Người dùng tin và nhu cầu tin của Thư viện trường Đại học Hải Phòng 30

1.3.1 Đặc điểm người dùng tin 30

1.3.2 Đặc điểm nhu cầu tin 33

1.4 Vai tro ̀ và tiêu chí đánh giá nguồn lực thông tin 37

1.4.1 Vai tro ̀ của nguồn lực thông tin trong hoa ̣t đô ̣ng thư viê ̣n 37

1.4.2 Tiêu chí đánh giá nguồn lư ̣c thông tin 38

Tiểu kết 41

Chương 2: THỰC TRẠNG NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG 42

2.1 Xây dư ̣ng nguồn lực thông tin 42

2.1.1 Nguyên tắc bổ sung 42

2.1.2 Phương thức bổ sung 43

2.1.3 Quy trình bổ sung 46

2.1.4 Công tác thanh lý tài liệu 49

2.2 Cơ cấu nguồn lực thông tin 51

2.2.1 Nguồn lực thông tin truyền thống 51

2.2.2 Nguồn lực thông tin điện tử 55

2.3 Quản lý nguồn lực thông tin 57

2.3.1 Xử lý nguồn lực thông tin 57

Trang 4

2

2.3.2 Tổ chư ́ c nguồn lực thông tin 62

2.4 Khai tha ́ c nguồn lực thông tin 67

2.4.1 Hệ thống tra cứu truyền thống 67

2.4.2 Hệ thống tra cứu hiện đại 68

2.5 Nhâ ̣n xét, đánh giá thực tra ̣ng nguồn lực thông tin ta ̣i Thư viê ̣n trường Đa ̣i ho ̣c Hải Phòng 70

2.5.1 Khả năng đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin 70

2.5.2 Về cơ cấu cu ̉ a nguồn lực thông tin 73

2.5.3 Về xây dựng và quản lý nguồn lực thông tin 74

2.5.4 Về khai thác nguồn lực thông tin 77

Tiểu kết 78

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG 80

3.1 Nhóm giải pháp xây dựng và hoàn thiện nguồn lực thông tin 80

3.1.1 Xây dựng và hoàn thiện chiến lược phát triển nguồn lực thông tin 80

3.1.2 Tăng cươ ̀ ng bổ sung nguồn lực thông tin điê ̣n tử 81

3.1.3 Chú trọng thu thập nguồn tin nội sinh 83

3.1.4 Đẩy mạnh chia se ̉ nguồn lực thông tin 84

3.1.5 Tăng cươ ̀ ng đầu tư kinh phí bổ sung tài liê ̣u 86

3.2 Nhóm giải pháp quản lý và khai thác nguồn lực thông tin 87

3.2.1 Nâng cao chất lượng xử lý tài liệu 87

3.2.2 Nâng cao chất lượng tổ chức nguồn lực thông tin 88

3.2.3 Nâng cao hiệu quả khai thác nguồn lực thông tin 89

3.3 Các giải pháp khác 90

3.3.1 Đầu tư cơ sở vật chất hiện đại 90

3.3.2 Nâng cao trình độ cán bộ thư viện 91

3.3.3 Tăng cường tuyên truyền, quảng bá nguồn lực thông tin và đẩy mạnh công tác đào tạo, hướng dẫn người dùng tin 92

Tiểu kết 95

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

PHỤ LỤC 102

Trang 5

3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNH, HĐH Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa

CNTT Công nghệ thông tin

Trang 6

4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Giá trị của thông tin phù hợp với công việc và yêu cầu của

người dùng tin

16

DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ SỐ LIỆU

Bảng 1.1 Mục đích sử dụng Thư viện Đại học Hải Phòng của người

Hải Phòng

44

Trang 7

5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong đó công nghệ thông tin đã tạo ra những thay đổi lớn trong mọi lĩnh vực của xã hội, đưa nhân loại bước vào thời kì bùng nổ thông tin tri thức Thông tin trở thành nguồn lực quan trọng đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, đồng thời đóng vai trò trực tiếp tạo ra của cải vật chất của nền kinh tế xã hội Tại Hoa

Kỳ 70% lao động xã hội đang làm trong khu vực thông tin và đã tạo ra 74% giá trị GDP tại nước này [12]

Trong nền kinh tế tri thức, thông tin được coi là một loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị kinh tế cao và ý nghĩa xã hội sâu sắc Không ai khác, chính các

cơ quan TT-TV là tổ chức nắm giữ, lưu trữ và phổ biến nguồn lực quý giá này đến với cộng đồng Sứ mệnh của các thư viện là tạo lập và duy trì quá trình trao đổi thông tin, tạo điều kiện cho người dùng tin tái sản xuất ra thông tin,

từ đó phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội

Thư viện trường đại học là một bộ phận hợp thành trường đại học, là nhân tố không thể thiếu trong quá trình đào tạo và nâng cao chất lượng của nhà trường, nhất là trong bối cảnh giáo dục đại học đang có sự đổi mới căn bản, toàn diện theo phương thức đào tạo từ niên chế sang đào tạo theo tín chỉ (theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW) Với việc chuyển đổi phương thức đào tạo này, việc tự học, tự nghiên cứu của giảng viên và sinh viên giữ vai trò hết sức quan trọng Với tư cách là nơi cung cấp tài liệu đầy đủ nhất, chính xác nhất, nhanh chóng nhất, kịp thời nhất, có thể đáp ứng và thỏa mãn mọi nhu cầu của NDT, thư viện của trường đại học đã thực sự trở thành “giảng đường thứ hai” và là “người thầy thứ hai” của đông đảo sinh viên Đối với các trường đại học, thư viện là một bộ phận không thể thiếu trong nhà trường,

Trang 8

6

giúp cho các đối tượng tham gia sử dụng thư viện tiếp cận và khai thác nguồn thông tin đa dạng, phong phú, mà chủ yếu là sinh viên, cán bộ giảng dạy và nghiên cứu

Sứ mệnh của trường ĐHHP là một trong những trung tâm đào tạo đại học đa ngành, đa lĩnh vực; là cơ sở nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ; cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia và khu vực; phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng và các tỉnh duyên hải Bắc bộ và cả nước

Thư viện trường ĐHHP (sau đây xin được viết tắt là Thư viện ĐHHP)

là một đơn vị cấu thành của trường, giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp đào tạo, nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên và sinh viên Những năm gần đây, được sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường cùng với nỗ lực của cán

bộ thư viện, Thư viện ĐHHP đã phát triển theo hướng hiện đại và đang trong quá trình xây dựng thư viện số Tuy nhiên, quá trình phát triển đó cũng gặp không ít khó khăn: sự gia tăng nhanh chóng của thông tin, sự thay đổi thường xuyên về chính sách và quy mô đào tạo của nhà trường, sự hạn hẹp về kinh phí trong việc mua sắm tài liệu, giá thành của tài liệu ngày càng cao, quy trình

và nghiệp vụ quản lý chưa được thống nhất và chuẩn hóa, sự phối hợp liên kết, liên thông với các thư viện còn yếu,…Vì vậy, hoạt động thông tin thư viện của trường ĐHHP đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết , trong đó vấn

đề quan trọng là việc cần phải tăng cường bổ sung, tổ chức NLTT một cách hữu hiệu để đáp ứng nhu cầu NDT trong thời đại mới trên cơ sở sử dụng NLTT hiện có và chia sẻ nguồn lực với các cơ quan thông tin trong và ngoài

nước Xuất phát từ thực tế trên, tác giả lựa chọn đề tài “Nguồn lực thông tin tại Thư viện trường Đại học Hải Phòng ”, với mong muốn khảo sát, phân

tích, đánh giá đúng thực trạng và đưa ra những giải pháp hoàn thiện NLTT nhằm đảm bảo chất lượng phục vụ NDT tại Đại học Hải Phòng

Trang 9

7

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Vấn đề nguồn lực thông tin đã có rất nhiều tác giả đề cập đến dưới các góc độ khác nhau

Trong bài viết “Xu hướng quản lý nguồn lực thông tin ở thư viện đại học Việt Nam” tác giả Lê Quỳnh Chi đã đưa ra 5 xu hướng quản lý nguồn lực thông tin ở các thư viện đại học Việt Nam ở thời điểm hiện nay, đó là: chuyển đổi phương thức quản lý từ hình thức sở hữu sang hình thức tiếp cận; đa dạng hóa sản phẩm thông tin và tăng cường số hóa tài liệu; phát triển nguồn tin nội sinh; liên kết và chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các thư viện; tăng cường hoạt động tiếp thị Tác giả nêu lên xu thế chung của các thư viện trên thế giới cũng như thư viện đại học ở Việt Nam là xây dựng một phương pháp quản lý theo hướng chỉ đường tới kho tàng tri thức của nhân loại, chủ động đưa thông tin tới người dùng nhằm giảm thiểu những điểm yếu theo phương pháp quản lý truyền thống Các thư viện đại học Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn:

sự gia tăng nhanh chóng của thông tin, sự gia tăng của nhu cầu thông tin, sự thay đổi thường xuyên về chính sách và quy mô đào tạo của trường đại học, sự hạn hẹp về tài chính của nhà trường trong việc mua sắm tài liệu,….Để giảm bớt những hạn chế đó, thư viện các trường đại học đã liên kết với nhau để có một phạm vi hoạt động lớn hơn, một chất lượng công việc tốt hơn và khẳng định được vai trò của mình trong xã hội Chính vì vậy, tác giả đã đưa ra 5 giải pháp

cơ bản quản lý nguồn lực thông tin mà các thư viện đại học Việt Nam nên kiên trì theo đuổi để phục vụ tốt nhất nhu cầu người dùng tin hiện nay

Tác giả Nguyễn Hữu Hùng có các b ài viết “Phát triển thông tin KHCN

để trở thành nguồn lực” ; “Vấn đề phát triển nguồn lực thông tin trong bối cảnh công nghệ thông tin mới” , “Vấn đề ta ̣o lâ ̣p và chia sẻ nguồn tin số hóa tại Việt Nam” Tác giả phác họa bức t ranh thông tin trong nền kinh tế mới Luâ ̣n chứng và trình bày các giải pháp ta ̣o lâ ̣p môi trường thông tin để phát

Trang 10

8

triển nguồn lực thông tin trong điều kiê ̣n ở Viê ̣t Nam Đưa ra các kiến nghi ̣ để tăng cường nguồn lực thông tin trong bối cảnh công nghê ̣ thông tin mới, chiến lược làm giàu tài nguyên thông tin quốc gia bằng cách tuyển cho ̣n , nhâ ̣p nô ̣i

và tổ chức khai thác triệt để các CSDL có giá trị

Tác giả Trần Mạnh Tuấn có bài viết “Nguồn nội sinh của trường đại học: thực tra ̣ng và các giải pháp phát triển” , đưa ra cách phân nhóm và nêu

đă ̣c điểm nguồn tin nô ̣i sinh của trường đa ̣i ho ̣c Đề xuất các giải pháp về chính sách, cơ chế số hóa, tiếp câ ̣n dự án để phát tri ển nguồn tin nội sinh đáp ứng yêu cầu phát triển của trường đại học

Dưới góc đô ̣ luâ ̣n văn tha ̣c sĩ, đến nay cũng có rất nhiều tác giả đề cập đến vấn đề nguồn lực thông tin trong các cơ quan thông tin thư viê ̣n như : “Nghiên cứu phát triển và khai thác nguồn lực thông tin của Trung tâm thông tin thư viện trường Đa ̣i ho ̣c Kiến trúc Hà Nô ̣i” của tác giả Pha ̣m Thanh Bình (2011); “Xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin điện tử ở Học viện Hậu cần” của tác giả

Lê Anh Tiến (2010); “Tăng cường nguồn lực thông tin ta ̣i Trung tâm thông tin thư viê ̣n trường Đa ̣i ho ̣c Sư pha ̣m Hà Nô ̣i” của tác giả Nguyễn Thi ̣ Thuâ ̣n

(2006); “Phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện trường Cao đẳng Sư phạm trung ương” của tác giả Nguyễn Thị Khánh Ly (2011)…

Đối với Thư viện ĐHHP cho đến nay chưa có đề tài nghiên cứu nào viết về thư viê ̣n và vấn đề về nguồn lực thông tin thì la ̣i càng chưa được tác giả nào đề cập đến, vì thế đối với ĐHHP đây là đề tài hoàn toàn mới

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Làm rõ thực trạng nguồn lực thông tin ta ̣i T hư viê ̣n trường Đa ̣i ho ̣c Hải Phòng từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện nguồn lực thông tin ta ̣i Thư viê ̣n trường Đa ̣i ho ̣c Hải Phòng

Trang 11

9

3.2 Nhiê ̣m vụ:

+ Hệ thống hóa cơ sở lý luâ ̣n về nguồn lực thông tin

+ Nghiên cứ u đối tượng người dùng tin và nhu cầu tin ta ̣i Thư viê ̣n trường Đa ̣i ho ̣c Hải Phòng

+ Khảo sát và phân tích thực trạng công tác bổ sung vốn tài liê ̣u, quản lý

và khai thác nguồn lực thông tin ở Thư viê ̣n trường Đa ̣i ho ̣c Hải Phòng

+ Đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm hoàn thiện nguồn lực thông tin tại Thư viê ̣n Đa ̣i ho ̣c Hải Phòng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nguồn lực thông tin tại thư viê ̣n trường Đại học Hải Phòng

- Phạm vi nghiên cứu: Thư viện trường Đại học Hải Phòng từ năm 2004 đến tháng 3/2015

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luâ ̣n: luâ ̣n văn dựa trên cơ sở phương pháp luâ ̣n duy vâ ̣t biê ̣n chứng và duy vâ ̣t li ̣ch sử , các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước

về lĩnh vực thông tin thư viê ̣n

- Phương pháp cu ̣ thể:

+ Nghiên cứ u, phân tích và tổng hợp tài liệu

+ Điều tra xã hô ̣i ho ̣c: khảo sát thực tế, điều tra, phỏng vấn, quan sát và xin ý kiến chuyên gia

+ Thống kê: xử lý và phân tích số liê ̣u

+ Phân tích hê ̣ thống : xem xét các vấn đề trong mối quan hê ̣ logic

hệ thống

Trang 12

6.2 Đóng góp về thực tiễn

Luận văn đưa ra những giải pháp cụ thể, khả thi nhằm hoàn thiện nguồn lực thông tin tại Thư viện trường Đại học Hải Phòng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học tại trường Đại học Hải Phòng

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Khái quát về nguồn lực thông tin và Thư viện trường Đại học Hải Phòng

Chương 2: Thực trạng nguồn lực thông tin tại Thư viện trường Đại học Hải Phòng

Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện nguồn lực thông tin tại Thư viện trường Đại học Hải Phòng

Trang 13

11

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN LỰC THÔNG TIN

VÀ THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

1.1 Lý luận chung về nguồn lực thông tin

1.1.1 Khái niệm

“Nguồn lực thông tin” là thuật ngữ được dịch từ tiếng Anh “Information Resource” Tuy nhiên, có rất nhiều ý kiến khác nhau về NLTT Cho đến nay, nội hàm của khái niệm NLTT vẫn chưa xác định rõ ràng Tài liệu hướng dẫn của UNESCO định nghĩa “NLTT bao gồm các dữ liệu thể hiện dưới dạng văn bản, số, hình ảnh hoặc âm thanh được ghi lại trên phương tiện theo quy ước

và không theo quy ước, các sưu tập, những kiến thức của con người, những kiến thức của tổ chức và ngành công nghệ thông tin” [25]

Theo tác giả Lê Văn Viết, nội hàm của thuật ngữ này vẫn chưa được thống nhất Có người cho rằng nó tương đương như vốn tài liệu trong các cơ quan thông tin, thư viện Người khác lại đưa ra quan niệm NLTT không chỉ bao hàm các nguồn lực về tài liệu mà còn gồm các thành phần khác nhau như tài liệu thông tin, nhân lực thông tin,…có người lại đồng nghĩa nó với nguồn tin [27]

Trong thực tiễn hiện nay thì nhiều nhà quản lý, cán bộ TT-TV có thói quen sử dụng NLTT để chỉ các dạng tài liệu khác nhau Tác giả Phạm Văn Vu nhận định:

Ở đây, NLTT là loại tài sản cố định đặc biệt, càng được khai thác

sử dụng thì càng giàu thêm mà không hề bị hao mòn mất mát đi Trong đó, việc đầu tư bảo quản và tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác sử dụng các nguồn tin như tổ chức kho lưu trữ, bảo quản, xây dựng các mục lục, các CSDL chính là làm tăng giá trị sử dụng của vốn tài sản cố định đó [28]

Trang 14

12

Theo quan niệm của tác giả Lê Quỳnh Chi:

NLTT trong thư viện là bộ sưu tập có hệ thống các tài liệu, thông tin phù hợp với chức năng, loại hình và đặc điểm của thư viện NLTT trong thư viện được hiểu là toàn bộ những giá trị thông tin, toàn bộ vốn tài liệu mà thư viện đang sở hữu, nhằm mục đích cung cấp thông tin khi người dùng tin yêu cầu và phục vụ tối đa những yêu cầu đó NLTT bao hàm cả tiềm lực thông tin và khả năng với tới các nguồn tin khác nhau Theo nghĩa này, tất cả các nguồn thông tin có trong sở hữu của thư viện hoặc thư viện có thể tiếp cận đều

có thể gọi là NLTT [5]

Theo PGS TS Nguyễn Hữu Hùng: NLTT là sản phẩm trí tuệ của con người, không tồn tại nguyên thủy mà là kết quả của quá trình biến đổi, tác động có ý thức của con người để giúp đưa thông tin tiềm năng trong xã hội trở thành thông tin có cấu trúc mà con người có thể khai thác, sử dụng nhằm mục tiêu phát triển về kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa của quốc gia

Bên cạnh đó, còn có những ý kiến cho rằng NLTT còn bao gồm nguồn nhân lực, nguồn kinh phí và cơ sở vật chất Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả quan niệm NLTT tại Thư viện ĐHHP bao gồm toàn bộ vốn tài liệu mà thư viện sở hữu hoặc thư viện có thể tiếp cận, các sản phẩm và dịch vụ của thư viện đáp ứng nhu cầu tin của NDT tại Thư viện ĐHHP Cụ thể bao gồm: sách, báo, tạp chí, khóa luận, luận văn, luận án, đề tài NCKH, CSDL thư mục, CSDL toàn văn, CSDL online,…tồn tại dưới các hình thức vật lý khác nhau và được kiểm soát

1.1.2 Các đặc trưng của nguồn lực thông tin

Trong các cơ quan thông tin thư viê ̣n hiê ̣n nay, có rất nhiều loại tài liệu: tài liệu dạng giấy (sách, luâ ̣n văn, luâ ̣n án,…), tài liệu dạng phi giấy (đĩa CD-ROM, DVD-ROM, CSDL,…) Nhưng để những loa ̣i hình tài liệu trên trở thành nguồn lực thông tin thì chúng phải có các đặc trưng sau:

Trang 15

13

1.1.2.1 Tính vật lý (Physical)

Bản chất của thông tin là vô hình nhưng sự hiện diện và tồn tại của nó phải thông qua một vật thể hữu hình nào đó, phải được ghi lại dưới dạng vật chất: tre, nứa, gỗ, giấy, đĩa…thì nội dung và ý nghĩa của thông tin mới tồn tại, mới được lưu truyền qua không gian và thời gian, từ đó giúp cho con người

có sức mạnh về trí tuệ để cải tạo thiên nhiên, cải tạo xã hội và tạo ra những kì tích phát triển Đặc trưng này chỉ rõ loại vật chất mang thông tin và cách thức con người ghi thông tin lên vật chất đó Con người sử dụng nhiều loại vật chất khác nhau để ghi thông tin Trước đây là tận dụng các chất liệu sẵn có trong

tự nhiên để ghi thông tin như: đất nung, tre, gỗ, nứa, xương thú, mai rùa,… Sau đó, do tri thức của con người ngày một nhiều hơn, các chất liệu có sẵn trong tự nhiên không đảm bảo việc ghi nhiều thông tin, lại khó khăn trong công tác di chuyển và sử dụng nên con người đã tạo ra các chất liệu nhân tạo

để ghi thông tin như: vải, giấy, phim, băng từ, đĩa từ, đĩa quang, DVD-ROM, CSDL,…Như vậy, bất cứ da ̣ng NLTT nào thì chúng cũng mang đă ̣c trưng vâ ̣t

lý, tồn ta ̣i trên nền giá đỡ vâ ̣t chất

1.1.2.2 Tính cấu trúc (Structure)

NLTT muốn kiểm soát được thì phải có tính cấu trúc , đó là những thông tin được ghi la ̣i theo những thể thức và tiêu chuẩn nhất quán (về nội dung và hình thức) đảm bảo cho viê ̣c bảo quản, khai thác và sử du ̣ng dễ dàng, thuâ ̣n lợi

Điển hình tính cấu trúc của NLTT là tính phân cấp trong tổ chức dữ liê ̣u: trâ ̣t tự của các yếu tố dữ liê ̣u trong kho hay các biểu ghi trong CSDL đều phải dựa vào nguyên lý ngôi thứ , quan hê ̣ hay ma ̣ng dữ liê ̣ u nô ̣i dung hoă ̣c hình thức của tài liệu Ví dụ, trong CSDL đơn vi ̣ thông tin nhỏ nhất là kí tự (character), tập hợp những kí tự có ý nghĩa phản ánh đă ̣c trưng của dữ liê ̣u go ̣i

Trang 16

để tiện cho việc tổ chức kho và tổ chức hệ thống mục lục

1.1.2.3 Khả năng truy cập (Accessiable)

Thông tin chỉ trở thành nguồn lực khi người ta có thể truy cập, khai thác, sử dụng được Thông tin phải ở trạng thái mà người sử dụng có thể tiếp cận chúng theo những cách thức khác nhau phù hợp với nhu cầu sử dụng của

họ Muốn truy cập được, NDT phải có những câu hỏi tìm (query), phải được diễn đạt bằng các điểm truy cập Truy cập bằng một điểm gọi là yêu cầu đơn giản (simple query) Truy cập hơn một điểm gọi là yêu cầu phức tạp (complex query), giữa các điểm truy cập phải được kết nối với nhau bằng các toán tử logic: AND, OR, NOT Trong đó, toán tử AND được sử dụng nhiều nhất cho các yêu cầu thông tin phức tạp

Như vậy, NLTT phải được tổ chức và kiểm soát để NDT có thể tìm ra nó thông qua các điểm truy câ ̣p (từ khóa, chủ đề, tác giả,…) Các điểm truy cập này được tạo ra trong quá trình xử lý tài liệu Nhờ bô ̣ máy tra cứu, NDT có thể tìm được tài liê ̣u thông qua các dấu hiê ̣u nô ̣i dung hay hình thức của tài liê ̣u

1.1.2.4 Có thể chia sẻ được (Sharable)

Thông tin có một đặc trưng được phát huy mạnh mẽ trong môi trường trao đổi, hợp tác chia sẻ với nhau bởi bản chất của thông tin được sử dụng nhiều lần mà vẫn không mất đi giá trị của nó, thông tin càng được nhiều người sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau thì càng phát huy được tác dụng của nó trong xã hội

Từng đơn vi ̣, cơ quan, quốc gia phải đối mă ̣t với sự thiếu hu ̣t về NLTT , từng tổ chức riêng lẻ không thể đáp ứng được yêu cầu thông tin mà cần phải

Trang 17

15

có sự phối hợp, chia sẻ NLTT sao cho thông tin chia sẻ phải được trao đổi cấu trúc với nhau, trên tinh thần sẵn sàng chia sẻ, tự nguyê ̣n chia sẻ đảm bảo ngôn ngữ trình bày, dấu hiê ̣u đi ̣nh da ̣ng, sự đầy đủ, tính chính xác

Tính có thể chia sẻ được của NLTT hiện nay đang được các cơ quan thông tin thư viê ̣n rất quan tâm , bởi vì nó là phương tiê ̣n để các cơ quan này đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của NDT khi NLTT của mỗi cơ quan riêng lẻ không đáp ứng được , đă ̣c biê ̣t là nhu cầu ngày càng đa da ̣ng về thông tin tài liê ̣u trong thời đa ̣i bùng nổ thông tin như hiê ̣n nay

Để thỏa mãn nhu cầu thông tin mô ̣t cách cao nhất và tiết kiê ̣m kinh phí trong các khâu công tác nghiê ̣p vu ̣ : bổ sung, xử lý,… các cơ quan thông tin thư viê ̣n cần có khả năng sử du ̣ng nhiều loa ̣i thông tin từ các nơi khác

nhau.Thực chất đây chính là sự chia sẻ NLTT Tính có thể chia sẻ thể hiê ̣n ở khả năng có thể trao đổi thông tin theo nhiều chiều giữa các hệ thống thông tin với nhau

1.1.2.5 Tính có giá trị (Vuluable)

Giá trị của thông tin được thể hiện trong quá trình khai thác và sử dụng Tuy nhiên, giá trị của thông tin là một phạm vi rất khó xác định và khó

đo, nó phụ thuộc vào rất nhiều tham số khác nhau:

- Thông tin phải phù hợp với công việc, giúp con người thực hiện được công việc của mình và đạt được yêu cầu mình đề ra

Giá trị của thông tin được tính theo công thức:

V(I): Giá trị thông tin

P0: là xác suất đạt được mục tiêu khi chưa có thông tin

Trang 18

16 P1: là xác suất đạt được mục tiêu khi có thông tin

Nếu P1>P0 => log2P1/P0

>0 => V(I)>0 => Thông tin có giá trị tích cực P1<P0 => log2P1/P0 <0 => V(I)<0 => Thông tin không có tác dụng P1=P0 => log2P1/P0 = 0=> V(I) = 0 => Thông tin có giá trị vô bổ Giá trị thông tin được thể hiện qua đồ thị sau:

Hình 1.1 Giá trị của thông tin phù hợp với công việc và yêu cầu của

Trang 19

17

Giá trị của thông tin càng cao khi càng có nhiều người sử dụng Khác với các nguồn lực vâ ̣t chất khác , viê ̣c khai thác NLTT k hông bao giờ làm nguồn lực này ca ̣n kiê ̣t mà trái la ̣i càng trở nên phong phú, giàu có do được tái tạo và bổ sung thêm nguồn thông tin mới NLTT có giá tri ̣ sẽ tác đô ̣ng ma ̣nh

mẽ tới các quá trình hoạt động xã hội, kích thích sự sáng ta ̣o của con người

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn lực thông tin

Các thông tin chỉ có thể lưu giữ và truyền qua không gian và thời gian nếu nó được ghi lại trên các giá vật chất, với nhiều dạng và hình thức khác nhau Chúng được gọi chung là tài liệu Tuy nhiên, người ta có thể tìm kiếm thông tin thông qua nhiều nguồn khác nhau, như: trao đổi, hội thảo, tham gia hội nghị, xem triển lãm,…những nguồn này thực chất cũng thu thập từ tài liệu Do vậy, tài liệu là yếu tố quan trọng nhất trong các hệ thống giao lưu thông tin và là bộ phận không thể tách rời trong hoạt động khoa học kỹ thuật

và trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người Vì vậy, tài liệu chịu sự tác động của các yếu tố sau:

Quy luật về sự gia tăng tài liệu

Hiện nay, chỉ tính riêng về lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật, hành tinh chúng ta hàng năm cho ra đời khoảng năm vạn tạp chí với 4,5 triệu bài báo, 110 nghìn cuốn sách, 30 vạn bản mô tả sáng chế phát minh, 25 vạn báo cáo khoa học và thiết kế thử nghiệm, nửa triệu catalô công nghiệp… Khối lượng các tài liệu này, cứ khoảng 10 đến

15 năm lại tăng lên gấp đôi; với độ tăng ấy, cứ sau 1000 năm, tổng số

ấn phẩm khoa học kỹ thuật lại tăng lên gấp 100 lần [13, tr.93]

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đội ngũ những người làm khoa học tăng lên và sản phẩm của họ là tài liệu KHKT cũng tăng lên nhanh chóng, nó ảnh hưởng không nhỏ tới thành phần vốn tài

Trang 20

Quy luật về sự tập trung và tản mạn thông tin

Quy luật này hình thành do đặc điểm phân hóa và tổng hợp khoa học của sự phát triển khoa học hiện đại

Hiện nay, trên thế giới đang tồn tại một sự khác biệt rất lớn giữa các khu vực và các nước về trình độ khoa học giáo dục và khả năng với tới thông tin tri thức 90% số nhà khoa học trên thế giới làm việc ở khoảng

20 nước công nghiệp phát triển, 93% số bằng sáng chế phát minh được ghi nhận là của các nước này Trong khi đó tại 150 quốc gia còn lại tiềm lực khoa học chỉ chiếm có chưa đầy 10% Đây chính là sự mất cân đối

và phản ánh tính không đồng đều trong quá trình phát triển [13, tr.599] Như vậy, các cơ quan TT-TV phải xác định đâu là nguồn thông tin hạt nhân để xác lập chiến lược bổ sung và phát triển NLTT cho phù hợp với chức năng và nhiệm vụ của đơn vị mình

Quy luật về thời gian hữu ích và tính lỗi thời của tài liệu

Thời gian hữu ích hay tuổi thọ của tài liệu KHKT phụ thuộc vào lĩnh vực tri thức và giá trị nội dung của tài liệu Tuổi thọ của tài liệu được tính từ lúc công bố đến lúc lỗi thời, không còn được sử dụng nữa Tài liệu được sản sinh theo một yêu cầu nào đó và thường giảm dần giá trị sử dụng cùng với sự phát triển của yêu cầu này cho đến khi lỗi thời

Trang 21

19

Hình 1.2: Nửa đời tài liệu: 0 - to

Ý nghĩa của quy luật này có tác dụng trong việc thanh lọc tài liệu ở các

cơ quan TT-TV Tài liệu khi không còn giá trị, không đáp ứng được nhu cầu NDT thì thanh lý tài liệu để vừa tiết kiệm diện tích kho vừa nâng cao chất lượng kho sách

Quy luật về giá cả tăng liên tục

Giá cả tài liệu được hình thành bởi giá cả thông tin chứa trong tài liệu và giá cả phần vật chất mang thông tin cùng các chi phí đi kèm Do sự tác động của nhiều nguyên nhân khác nhau như: lạm phát, chi phí trả cho lao động sáng tạo của tác giả, chi phí cho biên tập, vật tư, thiết bị, lao động in ấn, xuất bản,…ngày một tăng lên nên giá thành của tài liệu ngày một tăng lên tương ứng

Do giá cả tăng liên tục nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới công tác phát triển NLTT của các cơ quan TT-TV, làm cho số lượng tài liệu mua bằng kinh phí mỗi năm giảm đi đáng kể Như vậy, để bổ sung NLTT hiệu quả thì phải chú ý tới quy luật trên và tìm ra những giải pháp hữu hiệu để giảm thiểu sự chi phối đó

to

o

Thời gian Tần số sử dụng

Max

Trang 22

20

Ảnh hưởng của xuất bản điện tử

Việc ứng dụng CNTT trong hoạt động TT-TV, đặc biệt việc sử dụng kỹ thuật số để biểu diễn thông tin đã dẫn đến việc ra đời một nguồn thông tin mới, đó là nguồn thông tin điện tử: băng từ, đĩa từ, đĩa quang

Sự ra đời nguồn thông tin điện tử đã làm thay đổi về chất hoạt động giao lưu thông tin nói chung và hoạt động TT-TV nói riêng Tài liệu truyền thống không còn là nguồn tài liệu duy nhất, với sự ra đời của các tài liệu điện tử đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác, liên kết, trao đổi thông tin một cách nhanh chóng, chất lượng và chính xác Do đó, để hoàn thiện NLTT ở các cơ quan TT-TV cần phải có chính sách phát triển hợp lý, hài hòa giữa các loại hình tài liệu để đáp ứng được nhu cầu ngày càng sâu và rộng của NDT

1.1.4 Phân loại nguồn lực thông tin

Trong các cơ quan TT-TV, NLTT được thể hiện dưới các dạng khác

nhau, đa dạng cả về nội dung và hình thức

Dựa vào chất liệu, ta có thể chia NLTT thành các những dạng sau:

- Tài liệu dạng giấy (tài liệu truyền thống): sách, báo, tạp chí,…

- Tài liệu điện tử: là tất cả những gì có thể đọc được, truy cập được thông qua máy tính hoặc mạng máy tính điện tử :sách điện tử, bản tin điện tử,

CD, DVD,…

Dựa vào nội dung thông tin, người ta chia thành:

- Tài liệu về chính trị xã hội

- Tài liệu về khoa học tự nhiên và công nghệ

- Tài liệu về văn học nghệ thuật

Dựa theo tần suất xuất bản:

- Tài liệu xuất bản một lần: bao gồm sách và các tài liệu dạng sách, là những tài liệu do một hoặc một nhóm tác giả viết ra, trình bày một cách hoàn chỉnh về một hoặc một số vấn đề nào đó chỉ trong một lần xuất bản

Trang 23

21

- Tài liệu xuất bản nhiều kỳ: bao gồm báo, tạp chí, thông báo khoa học, bản tin, niên giám,… Đây là những loại tài liệu có định kỳ xuất bản hoặc không có định kỳ xuất bản nhưng được đánh số và có ý định được xuất bản tiếp trong tương lai mà không dự tính trước số kết thúc

Dựa vào mức độ xử lý thông tin, có các dạng tài liệu:

- Tài liệu cấp 1: là tài liệu phản ánh trực tiếp kết quả hoạt động khoa học, kỹ thuật, kinh tế và các hoạt động sáng tạo khác Tài liệu cấp 1 là tài liệu gốc, tài liệu nguyên bản do chính tác giả viết hay biên soạn

- Tài liệu cấp 2: là tài liệu phản ánh kết quả xử lý, phân tích, tổng hợp các tài liệu cấp 1 Do đó, tài liệu cấp 2 chính là các tài liệu sử dụng với mục đích tra cứu, tham khảo, được biên soạn, tổng hợp dựa trên các thông tin được rút ra từ quá trình xử lý tài liệu cấp 1 Tài liệu cấp 2 giới thiệu và chỉ dẫn bạn đọc tới tài liệu cấp 1

- Tài liệu cấp 3: là tài liệu được biên soạn dựa trên tài liệu cấp 1 và tài liệu cấp 2, là những tài liệu có tính tổng hợp thông tin hoặc phản ánh về tài liệu cấp 2

Dựa vào phạm vi phổ biến thông tin:

- Tài liệu công bố (tài liệu xuất bản): là những tài liệu như sách, báo, tạp chí,… do nhà xuất bản phát hành, có chỉ số ISBN hoặc ISSN và được phân phối qua các kênh phát hành chính thức Tài liệu công bố được mua bán rộng rãi trong hệ thống phát hành và các cửa hàng sách trên toàn quốc

- Tài liệu chưa công bố (tài liệu xám): bao gồm các văn bản, tài liệu được phát hành bởi các cơ quan của chính phủ như: chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; báo cáo khảo sát, điều tra tài nguyên, báo cáo khoa học tại các hội nghị, hội thảo, tài liệu sáng chế, kinh nghiệm; công

Trang 24

22

trình nghiên cứu khoa học,…tạp chí, bản tin nội bộ, các ấn phẩm của các

cơ quan thông tin Tài liệu chưa công bố là những tài liệu được phổ biến trong phạm vi hẹp, có giới hạn người sử dụng và thường chưa có giấy phép xuất bản

Dựa vào mục đích, ý nghĩa của tài liệu:

- Tài liệu có tính chất chỉ đạo: tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin và Hồ Chí Minh, văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước

- Tài liệu chính trị phổ thông: tài liệu hỏi đáp Hội nghị lần thứ năm BCH Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa XI

- Tài liệu khoa học: tài liệu chuyên ngành, tài liệu các hội nghị, hội thảo, báo cáo kết quả nghiên cứu,…

- Tài liệu học tập: sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo, sách bài tập,

- Tài liệu hướng dẫn thực hành là những tài liệu giúp thực hiện một nhiệm vụ nào đó theo đúng quy trình, tiêu chuẩn

- Tài liệu phục vụ sản xuất và kinh doanh là những tài liệu sở hữu công nghiệp như: sáng chế, phát minh, định mức kỹ thuật,…

- Tài liệu tra cứu: từ điển, bách khoa toàn thư, sổ tay, cẩm nang kỹ thuật, niên giám thống kê, thư mục, tạp chí tóm tắt,…

1.2 Khái quát về Trường Đại học Hải Phòng và Thư viện

1.2.1 Trường Đại học Hải Phòng

Trường ĐHHP ra đời dựa trên sự kết hợp từ nhiều trường trong hệ thống các đơn vị đào tạo, bồi dưỡng ở Hải Phòng Cụ thể đã trải qua các giai đoạn sau:

Trang 25

23

- Đơn vị tiền thân đầu tiên là trường Sư phạm trung cấp Hải Phòng được thành lập theo Nghị định số 359-NĐ, ngày 22 tháng 7 năm 1959 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục về việc thành lập các trường sư phạm trung cấp ở các tỉnh, liên tỉnh

- Ngày 21 tháng 3 năm 1978, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 164-QĐ/TTg công nhận 16 trường sư phạm của các địa phương trong toàn quốc, trong đó có trường Sư phạm trung cấp Hải Phòng, chính thức là trường Cao đẳng sư phạm

- Năm 2000, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập Trường Đại học Sư phạm Hải Phòng trên cơ sở sáp nhập trường Cao đẳng Sư phạm Hải Phòng; trường Đại học Tại chức Hải Phòng; trường Cán bộ quản lý giáo dục

và bồi dưỡng giáo viên Hải Phòng và Trung tâm ngoại ngữ Hải Phòng

- Ngày 09 tháng 04 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 60/2004/QĐ-TTg đổi tên Trường Đại học Sư phạm Hải Phòng thành Trường Đại học Hải Phòng

Trường ĐHHP là một trong những trung tâm đào tạo đại học đa ngành

và lĩnh vực; là cơ sở nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia và khu vực, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng, các tỉnh duyên hải Bắc bộ và cả nước

Mục tiêu phấn đấu của Nhà trường là xây dựng Trường ĐHHP trở thành Trung tâm Giáo dục - Đào tạo, Nghiên cứu khoa học và Chuyển giao công nghệ vững mạnh vùng duyên hải Bắc bộ theo các giai đoạn như sau:

- Từ năm 2004 đến năm 2007: xác định mục tiêu của trường là phát triển đào tạo đa ngành

Trang 26

24

- Từ năm 2007 đến năm 2010: ổn định và phát triển đào tạo đa ngành, nghề; mở một số ngành đào tạo Sau đại học đồng thời tăng cường phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ Tiến sĩ, Phó Giáo sư, Giáo sư

- Từ năm 2010 đến 2015: tiếp tục mở rộng đào tạo Sau đại học và triển khai đào tạo NCS khi đủ điều kiện

1.2.1.1 Cơ cấu tổ chức

Trường ĐHHP là trường đại học công lập, đào tạo đa ngành, đa hệ, đa lĩnh vực Năm 2014, trường có quy mô lớn với đội ngũ hơn 900 cán bộ, giảng viên, giáo viên, nhân viên Về trình độ chuyên môn, hiện Nhà trường có: 06 Phó Giáo sư, 57 Tiến sĩ, 03 giảng viên cao cấp, 366 Thạc sĩ, 90 Nghiên cứu sinh (13 NCS ở nước ngoài) và 81 Cao học (7 cao học ở nước ngoài); thực hiện đào tạo gần 12.000 sinh viên đại học, cao đẳng chính quy, hơn 7.000 sinh viên hệ vừa học vừa làm và hơn 300 học viên cao học

Về cơ cấu bộ máy, hiện Nhà trường có 47 đơn vị trực thuộc với 19 khoa, viện chuyên môn đào tạo; 15 đơn vị phòng, ban, trạm, thư viện; 10 trung tâm và 3 trường thực hành

1.2.1.2 Hoạt động đào tạo

Nhà trường hiện đang đào tạo 57 chuyên ngành đại học, cao đẳng và trung cấp hệ chính quy, 100% chương trình đào tạo được thực hiện theo hệ thống tín chỉ và được công bố chuẩn đầu ra Từ năm 2004 đến 2014, Trường

đã đào tạo và cấp bằng tốt nghiệp hệ chính quy cho 15.134 sinh viên đại học, 5.811 sinh viên cao đẳng và 2.768 học sinh trung cấp thuộc nhiều mã ngành khác nhau đáp ứng kịp thời một phần nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH ở địa phương và trong cả nước

Về công tác đào tạo sau đại học, năm 2008, nhà trường đã tuyển sinh cao học khóa đầu tiên với hai chuyên ngành là Ngôn ngữ Việt Nam và Quản trị kinh

Trang 27

1.2.1.3 Hoạt động nghiên cứu khoa học

Giai đoạn 2010-2015, công tác nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên Nhà trường đạt được những thành tích đáng kể: thực hiện được 174 nhiệm vụ các cấp, trong đó có 12 nhiệm vụ khoa học cấp Bộ và Thành phố,

162 nhiệm vụ khoa học cấp cơ sở; thực hiện 01 Dự án xây dựng phòng nuôi cấy mô tế bào thực vật, 01 Dự án xây dựng trung tâm sinh nông Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hải Phòng đã được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp Giấy phép hoạt động báo chí in và được Bộ Khoa học và Công nghệ cấp

Mã số chuẩn quốc tế: ISSN 1859-2868

Trong những năm qua , trường liên tu ̣c có sinh viên đa ̣t giải cấp bô ̣ Số lượng và chất lượng các công trình NCKH của sinh viên không ngừng tăng lên, cụ thể đã đạt được một số Giải thưởng “Tài năng khoa học trẻ Viê ̣t Nam”: năm 2012 đa ̣t giải khuyến khích; năm 2013 đa ̣t giải Ba; năm 2014 đạt 01 giải

ba và 01 giải khuyến khích

Năm 2014, Trường đã được duyệt và triển khai 06 đề tài cấp Bộ và 03

đề tài cấp thành phố Tổ chức thành công nhiều hội thảo khoa học cấp toàn quốc (có in kỷ yếu) tại Trường ĐHHP như:

- Hội thảo Khoa học cán bộ trẻ các trường Đại học sư phạm trên toàn quốc năm 2013

- Hội thảo Khoa học quốc gia “Nghiên cứu giáo dục toán học theo

hướng phát triển năng lực người học, giai đoạn 2014-2020” năm 2014

Trang 28

1.2.1.4 Hoạt động hợp tác quốc tế

Hiện nay, nhà trường đã có quan hệ hợp tác chính thức với 28 trường

và viện đào tạo đại học thuộc các quốc gia Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào, Thái Lan, Đài Loan, Nga và Phần Lan Năm 2014, trường thiết lập quan

hệ hữu nghị và kí kết văn bản hợp tác với 7 đối tác, đó là Trường Đại học Quốc tế Nhật Bản, Trường Đại học Walailak (Thái Lan), Trường Đại học Mahasarakham (Thái Lan), Trường Đại học Ngoại ngữ Busan (Hàn Quốc), Đại học Quốc gia Lào, Học viện Kĩ thuật nghề nghiệp Nam Ninh và Học viện

Sư phạm dân tộc Quảng Tây (Trung Quốc) Trường hiện đang đào tạo gần

200 sinh viên các nước Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Ý, Tây Ban Nha,

Bô-lô-va theo học các chương trình 1+3, 2+2 về các chuyên ngành tiếng Việt thương mại, tiếng Việt và văn hóa Việt Nam, kinh tế ngoại thương, tiếng Việt

cơ sở, Tiếng Việt nâng cao Trường đã tổ chức cho gần 500 lượt sinh viên các ngành đi học tại Trung Quốc, Phần Lan và Thái Lan

Về hợp tác trao đổi giảng viên, chuyên gia, Trường đã đón nhận gần 50 lượt giảng viên, chuyên gia nước ngoài đến giảng dạy, chủ yếu là tiếng Anh, tiếng Nhật và tiếng Trung Quốc; cử 20 lượt giảng viên đi giảng dạy tại các trường đối tác ở Trung Quốc, Nga, Phần Lan, Thái Lan (chủ yếu dạy tiếng Việt và văn hóa Việt Nam) Đồng thời cũng hợp tác với trường Đại học Khoa học ứng dụng Turku – Phần Lan thực hiện giai đoạn 3 Dự án Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà

Trang 29

27

Trường ĐHHP luôn tích cực tìm kiếm các dự án, đề án quốc tế phù hợp với điều kiện và khả năng để các cán bộ giảng viên nhà trường tham gia thực hiện

1.2.2 Thư viện trường Đại học Hải Phòng

Thư viện trường ĐHHP ra đời cùng với sự thành lập của Trường và trải qua các giai đoạn sau:

- Từ khi thành lập đến năm 2000: Thư viện trực thuộc phòng Giáo vụ (nay là phòng Đào tạo)

- Giai đoạn từ 2000-2007: Thư viện tách ra khỏi phòng Giáo vụ và kết hợp với bộ phận thiết bị thành lập phòng Quản lý thiết bị - Thư viện

- Ngày 13 tháng 7 năm 2007, theo Quyết định số 71/QĐ-TCCB của Hiệu trưởng trường Đại học Hải Phòng, Thư viện được tách ra thành một đơn

vị độc lập và có tên gọi là Thư viện trường Đại học Hải Phòng trực thuộc Ban Giám hiệu Từ đây, Thư viện dần ổn định cơ cấu tổ chức và đi vào hoạt động với quy mô ngày càng phát triển [Phụ lục 3]

1.2.2.1 Chức năng, nhiệm vụ

Chức năng

Thư viện có chức năng thông tin và thư viện, phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học của Nhà trường thông qua việc khai thác, sử dụng các nguồn thông tin và tài liệu tại Thư viện góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của Nhà trường

Nhiệm vụ:

- Tham mưu cho Hiệu trưởng về việc phương hướng tổ chức và hoạt động thông tin, thư viện trong Nhà trường

Trang 30

- Tổ chức xử lý, sắp xếp, lưu trữ, bảo quản thông tin và tài liệu, xây dựng hệ thống tra cứu thông tin hiện đại, thiết lập mạng lưới truy cập và tìm kiếm thông tin tự động hóa; xây dựng, quản lý các CSDL, các bộ sưu tập

- Tổ chức, quản lý cán bộ, tài sản theo sự phân cấp của Hiệu trưởng; bảo quản, kiểm kê định kỳ vốn tài liệu, cơ sở vật chất kỹ thuật và các tài sản khác; tiến hành thanh lý các tài liệu, thiết bị lạc hậu, cũ nát theo quy định của Nhà nước và quy định của Trường

- Mở rộng quan hệ hợp tác với các cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế về lĩnh vực thông tin thư viện; tham gia hoạt động chuyên môn nghiệp vụ với hệ thống thư viện trong cả nước nhằm thúc đẩy phát triển sự nghiệp thư viện

- Tổ chức ngoại khoá cho sinh viên năm thứ nhất về việc sử dụng tài liệu thư viện: hướng dẫn bạn đọc tiếp cận, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin và tài liệu, các sản phẩm và dịch vụ TT-TV

- Xây dựng kế hoạch học tập nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, ngoại ngữ, tin học cho cán bộ thư viện

- Thực hiện báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình hoạt động của Thư viện với Ban giám hiệu và cấp có thẩm quyền theo quy định hiện hành

Trang 31

29

1.2.2.2 Cơ cấu tổ chức

Hình 1.3: Cơ cấu tổ chức tại Thƣ viện Đại học Hải Phòng

Cơ cấu tổ chức Thư viện ĐHHP gồm có Ban Giám đốc và 03 bộ phận chuyên môn, có chức năng nhiệm vụ như sau:

Bộ phận nghiệp vụ: có nhiệm vụ bổ sung, biên mục, cấp thẻ, quyết toán cho sinh viên ra trường và thống kê, báo cáo số liệu Gồm 01 phòng làm việc

Bộ phận phục vụ bạn đọc: có nhiệm vụ hướng dẫn bạn đọc sử dụng thư viện, quản lý, tổ chức kho sách, lưu thông mượn trả, phục vụ các cuộc hội nghị, hội thảo Gồm 6 phòng phục vụ: Phòng Mượn; Phòng Đọc; Góc Việt – Mỹ; phòng Giáo khoa – giáo trình; phòng Báo, tạp chí; Thư viện số 2 Nguyễn Bình

Bộ phận Tin học: có nhiệm vụ quản trị hệ thống mạng, quản lý và sửa chữa các thiết bị kỹ thuật, scan tài liệu số, phụ trách NDT khai thác mạng Quản lý 02 phòng: Phòng Máy chủ và Phòng Khai thác mạng

BAN GIÁM ĐỐC

BỘ PHẬN PHỤC VỤ NDT

BỘ PHẬN TIN HỌC

BỘ PHẬN

NGHIỆP VỤ

PHÒNG ĐỌC

PHÒNG MƯỢN

PHÒNG GK-GT

GÓC VIỆT –

MỸ

PHÒNG MÁY CHỦ

PHÒNG KHAI THÁC MẠNG

PHÒNG

BÁO,

TẠP CHÍ

THƯ VIỆN

SỐ 2 NB

Trang 32

30

Hiện nay, cơ cấu nhân sự của Thư viện có 18 cán bộ, bao gồm: Giám đốc, Phó Giám đốc phụ trách hành chính, Phó Giám đốc phụ trách chuyên môn; 03 cán bộ thuộc bộ phận nghiệp vụ; 02 cán bộ thuộc bộ phận tin học và

10 cán bộ thuộc bộ phận phục vụ NDT

Về trình độ chuyên môn: hiện Thư viện có 17 cán bộ trình độ đại học

và 01 cao đẳng Trong đó có 11 cán bộ chuyên ngành TT-TV và 7 cán bộ có các chuyên ngành khác: văn học, địa lý, tiếng Anh, tin học, toán học

Như vậy, sự phân chia công việc như trên đã quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận, tránh công việc chồng chéo, đùn đẩy, ùn tắc; giúp các cán bộ thư viện chuyên nghiệp hóa các khâu công tác nghiệp vụ, từ đó đạt được những hiệu quả cao nhất trong công việc

Thư viện ĐHHP hiện đang sở hữu tòa nhà ba tầng với diện tích hơn 2600m2, 400 chỗ ngồi với đầy đủ hệ thống đèn chiếu sáng, quạt mát, quạt thông gió, cầu thang máy vận chuyển sách, 02 phần mềm chuyên dụng, 02 máy chủ, 72 máy trạm, 05 máy in, 01 máy scan, 01 máy chiếu, 01 máy photocopy, đường truyền mạng tốt, wifi miễn phí… Với hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị, bố trí phòng ốc như vậy, Thư viện ĐHHP đã và đang phục

vụ tương đối tốt nhu cầu thông tin của NDT, hoàn thành nhiệm vụ chính trị nhà trường giao phó

1.3 Người dùng tin và nhu cầu tin của Thư viện trường Đại học Hải Phòng

1.3.1 Đặc điểm người dùng tin

Người dùng tin là con người cụ thể trong xã hội, có nhu cầu tin và sử dụng thông tin để thỏa mãn nhu cầu của mình

NDT là người tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ TT-TV Như vậy, NDT là đối tác, là khách hàng của hoạt động TT-TV Điều đó có nghĩa là

Trang 33

31

hoạt động TT-TV muốn tồn tại và phát triển phải quan tâm tới nhu cầu của NDT trong từng thời điểm cũng như địa bàn cụ thể Nhu cầu của NDT là nguồn gốc nảy sinh hoạt động TT-TV Không có NDT sẽ không tồn tại hoạt động TT-TV

NDT là nhân tố điều chỉnh, định hướng cho hoạt động TT-TV Khi sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin để tìm kiếm, tiếp cận thông tin, NDT

sẽ phân tích, đánh giá chất lượng các sản phẩm, dịch vụ đó Ý kiến đánh giá của NDT trong quá trình sử dụng thông tin góp phần điều chỉnh hoạt động TT-TV cho phù hợp và hiệu quả hơn với nhu cầu tin của NDT

Trường ĐHHP là trường đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực nên đối tượng NDT cũng hết sức đa dạng, bao gồm toàn thể cán bộ, công chức, giảng viên, cán bộ nghiên cứu, sinh viên, học viên cao học thuộc các loại hình đào tạo trong nhà trường Số liệu thống kê NDT tại Thư viện ĐHHP được thể hiện qua sơ đồ sau:

Hình 1.4: Số liệu thống kê người dùng tin tại Thư viện Đại học Hải Phòng

Trang 34

32

Để tiến hành nghiên cứu, khảo sát các đối tượng NDT, tác giả tiến hành điều tra thông qua việc phát phiếu thăm dò theo mẫu tại Phụ lục 1 Việc phát phiếu được phân chia như sau: mỗi khoa phát 35 phiếu, 18 khoa (trừ khoa Đào tạo thường xuyên) tương đương với 630 phiếu (trung bình mỗi khoa phát: 2 phiếu dành cho cán bộ lãnh đạo, quản lý; 08 phiếu dành cho cán bộ giảng viên; 25 phiếu dành cho sinh viên) Kết quả điều tra với tổng số phiếu phát ra là 630 phiếu, số phiếu thu về là 589 phiếu (độ thu hồi đạt 93,5%)

Qua quá trình khảo sát và điều tra, có thể phân chia NDT tại Thư viện ĐHHP thành ba nhóm chính: cán bộ lãnh đạo, quản lý; cán bộ giảng dạy, nghiên cứu; sinh viên, học viên cao học

- Người dùng tin là cán bộ lãnh đạo, quản lý

Đây là nhóm NDT tuy có số lượng không lớn (khoảng 109 người), ít nhất so với hai nhóm NDT còn lại nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của Nhà trường Đặc điểm của nhóm NDT này cần các tài liệu: chính sách về giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, kinh tế, văn hóa, xã hội…nhằm nắm bắt được tình hình thực tế xã hội để đưa ra các quyết định đúng đắn, khoa học, kịp thời và phù hợp với mục tiêu và định hướng phát triển của nhà trường Chất lượng của quyết định phụ thuộc vào sự đầy đủ các thông tin, các số liệu

và dữ kiện được cung cấp Như vậy, nhóm NDT này cần những thông tin có tính chất tổng hợp, dự báo và có chất lượng cao Hình thức phục vụ thông tin là các tổng quan, tổng luận, bản tin có chọn lọc…Do tính chất công việc, vừa làm công tác quản lý, vừa tham gia giảng dạy và làm nghiên cứu nên đây là nhóm NDT vừa có trình độ chuyên môn sâu vừa có khả năng khái quát tổng hợp, vì vậy cần có kế hoạch xây dựng NLTT phù hợp với đối tượng NDT này để có được các quyết định quản lý đúng đắn, phù hợp với thực tiễn, từ đó phát triển công tác giáo dục và đào tạo trong nhà trường được tốt hơn

Trang 35

33

- Người dùng tin là cán bộ giảng dạy, nghiên cứu

Đây là nhóm NDT có trình độ chuyên môn cao (hầu hết là trên đại học)

và có khả năng sử dụng ngoại ngữ tốt, chiếm 6% số lượng NDT tại Thư viện (khoảng 790 người) Họ là người chuyển giao tri thức khoa học đến cho sinh viên, tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo của Trường Vì vậy, họ phải thường xuyên cập nhật những kiến thức mới, công nghệ mới và chuyên sâu liên quan trực tiếp đến lĩnh vực của các môn học mà họ giảng dạy Sản phẩm thông tin của nhóm này là đề cương bài giảng, giáo trình, công trình NCKH, luận văn, luận án,…Trước yêu cầu đổi mới giáo dục, giảng viên phải luôn là người tìm hiểu và giới thiệu cho sinh viên những tài liệu cần thiết liên quan đến môn học để sinh viên có thể tham khảo, nâng cao trình độ chuyên môn, đem lại hiệu quả trong hoạt động học tập và nghiên cứu Hình thức phục vụ thông tin cho nhóm NDT này là hết sức đa dạng và phong phú, từ loại hình tài liệu (sách, báo, tạp chí,…) cho đến ngôn ngữ (tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Trung,…) Vì vậy, vấn đề đặt ra cho Thư viện ĐHHP là phải bổ sung NLTT phong phú, chất lượng cao để đáp ứng nhóm NDT này

- Người dùng tin là sinh viên, học viên cao học

Đây là nhóm NDT chiếm số lượng lớn nhất của Thư viện (khoảng 12.300 người), là đối tượng phục vụ chính của Thư viện Họ có nhiều thời gian cho việc học tập và NCKH của mình, hình thức thông tin mà họ cần thường là: sách, báo, tạp chí, luận văn, luận án, khóa luận tốt nghiệp, truy cập internet,…với các dịch vụ đọc tại chỗ, mượn về nhà, truy cập internet tại phòng khai thác mạng hoặc sử dụng wifi miễn phí tại thư viện

1.3.2 Đặc điểm nhu cầu tin

Nhu cầu tin là đòi hỏi khách quan của cá nhân hay tập thể đối với việc tiếp nhận và sử dụng thông tin nhằm duy trì hoạt động sống của con người

Trang 36

sự hiệu quả để có thể thu hút NDT đến sử dụng thư viện

- Mục đích của người dùng tin đến Thư viện Đại học Hải Phòng được thể hiện qua số liệu sau

Bảng 1.1: Mục đích sử dụng Thư viện Đại học Hải Phòng của người dùng tin

Qua bảng số liệu trên, ta có thể thấy rằng, mục đích học tập của NDT vẫn chiếm số lượng đông (71,7%), số lượng này thường tập trung chủ yếu ở đối tượng NDT là sinh viên, sau đó đến nhóm NDT sử dụng tài liệu để nâng cao trình độ, chiếm 27,5% Nhu cầu tin để phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học gần như tương đương nhau, nhu cầu này thường tập trung ở nhóm NDT là cán bộ giảng viên, nghiên cứu

- Nhu cầu thông tin theo lĩnh vực khoa học nhà trường đào tạo

Thông qua quá trình điều tra nhu cầu tin của NDT về các lĩnh vực khoa học, cán bộ thư viện sẽ nhận biết được lĩnh vực khoa học nào NDT có nhu cầu sử dụng nhiều nhất để bổ sung cho phù hợp, kịp thời đáp ứng nhu cầu học tập, giảng dạy, NCKH trong Nhà trường

Trang 37

Bảng 1.2: Nhu cầu thông tin của NDT về các lĩnh vực đào tạo của nhà trường

Dựa vào 19 khoa hiện nhà trường đang đào tạo, tác giả đã đưa ra các môn ngành khoa học trên để khảo sát nhu cầu tin của NDT Kết quả điều tra cho thấy, nhu cầu về lĩnh vực văn học được NDT sử dụng nhiều nhất, vì sách văn học cũng là một loại tài liệu giải trí nên được hầu hết các nhóm NDT sử dụng Tiếp theo là các lĩnh vực: khoa học xã hội, kinh tế, khoa học tự nhiên, khoa học sư phạm chiếm tỷ lệ nhu cầu tương đối cao Như vậy, nắm bắt được nhu cầu của NDT về các lĩnh vực khoa học, cán bộ thư viện sẽ bổ sung NLTT sát với thực tế nhu cầutin của NDT hơn

- Ngôn ngữ sử dụng của người dùng tin

Để nghiên cứu về tình hình sử dụng các loại hình ngôn ngữ tại Thư viện, tác giả đã tiến hành điều tra nhằm bổ sung NLTT cho phù hợp với yêu cầu thực tế của NDT

Trang 38

Bảng 1.3: Ngôn ngữ sử dụng của người dùng tin

Dựa vào số liệu bảng tổng hợp trên, ta có thể thấy loại hình ngôn ngữ

mà NDT sử dụng nhiều nhất vẫn là tiếng Việt, chiếm phần lớn trong các loại hình ngôn ngữ mà NDT sử dụng (97%) Sau tiếng Việt là tiếng Anh, đây là ngôn ngữ quốc tế nên để học tập và NCKH được hiệu quả, bắt buộc NDT phải biết ngôn ngữ này Ngoài ra, NDT cũng đề xuất với Thư viện bổ sung thêm các tài liệu bằng tiếng Nhật và tiếng Pháp

- Mức độ sử dụng các loại tài liệu của người dùng tin

Loại hình tài liệu

Mức độ sử dụng

Thường xuyên

Thỉnh thoảng Không bao giờ

Trang 39

Như vậy, qua quá trình tìm hiểu về người dùng tin và đặc điểm nhu cầu tin của NDT tại Thư viện ĐHHP, chúng ta đã hiểu được vai trò của NDT trong hoạt động TT-TV, đối tượng NDT tại Thư viện ĐHHP đồng thời nắm được nhu cầu tin của NDT để từ đó có đưa ra các biện pháp thích hợp để thỏa mãn và phát triển nhu cầu tin của NDT

1.4 Vai tro ̀ và tiêu chí đánh giá nguồn lƣ̣c thông tin

1.4.1 Vai tro ̀ của nguồn lực thông tin trong hoạt động thư viê ̣n

NLTT là nguồn tài nguyên quý báu và là động lực phát triển kinh tế xã hội của bất cứ quốc gia nào Vai trò của NLTT được thể hiện ở hai khía cạnh,

đó là trong xã hội và với thư viện

Đối với xã hội, NLTT là kho tàng văn hóa của nhân loại Nhờ có NLTT, những hiểu biết của thế hệ đi trước có thể được lưu truyền qua thời gian cho các thế hệ sau Các thế hệ sau có thể kế thừa các thành tựu của các thế hệ đi trước, qua đó, rút ngắn được quá trình nghiên cứu, giúp đẩy nhanh tốc độ phát triển của xã hội Những thông tin, giá trị được ghi lại trong tài liệu

là kho tàng văn hóa của nhân loại, tài liệu được coi là di sản văn hóa của nhân loại Với vai trò là kho tàng tri thức, kho tàng văn hóa của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc nên NLTT cũng phản ánh trình độ phát triển của xã hội

Trang 40

38

Đối với thư viện và các cơ quan thông tin nói chung, NLTT là cơ sở để hình thành, tồn tại và phát triển NLTT có vai trò đặc biệt quan trọng được thể hiện ở các mặt sau:

- NLTT là tiền đề, là điều kiện tiên quyết để thành lập một thư viện Muốn xây dựng một thư viện, việc đầu tiên là phải có được một khối lượng nhất định tài liệu – cơ sở đảm bảo cho thư viện có thể mở cửa phục vụ bạn đọc (Điều 9 Pháp lệnh Thư viện Việt Nam năm 2000 đã chỉ rõ điều này)

- NLTT là cơ sở cho mọi hoạt động của thư viện Các hoạt động trong thư viện, từ khâu sưu tầm, lựa chọn, tới khâu xử lý, tổ chức, sắp xếp và phục

vụ bạn đọc đều gắn với NLTT – đặc biệt là công tác phục vụ Mặt khác, NLTT càng phong phú, đa dạng, thì thư viện càng tổ chức và xây dựng được nhiều các sản phẩm và dịch vụ thư viện, đáp ứng cao nhu cầu tin ngày càng phong phú, đa dạng và phức tạp của NDT

- NLTT giúp các thư viện hoàn thành các chức năng xã hội của mình Thông qua NLTT, thư viện thực hiện các chức năng của mình như: chức năng thông tin, chức năng giáo dục, chức năng văn hóa và chức năng giải trí

- NLTT là một trong các tiêu chí để đánh giá kiểm định chất lượng trường đại học

1.4.2 Tiêu chí đánh giá nguồn lực thông tin

Tiêu chí đánh giá NLTT được xác định bằng mức độ đáp ứng nhu cầu tin của NDT và chất lượng NLTT Tiêu chí này nhằm đảm bảo sự tương hợp giữa NLTT với yêu cầu của NDT và được thể hiện ở một số khía cạnh cụ thể sau:

1.4.2.1 Tính cập nhật của thông tin

Với xu thế bùng nổ thông tin và phát triển nhanh chóng của internet, lượng thông tin và các kênh thông tin ngày càng phong phú, đa dạng Nội dung thông tin nhanh chóng bị lỗi thời hơn Nếu không cập nhật thông tin một

Ngày đăng: 05/08/2020, 15:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Phạm Thanh Bình (2011), Nghiên cứu phát triển và khai thác nguồn lực thông tin của trung tâm thông tin thư viê ̣n Trường đại học Kiến trúc Hà Nội, Luâ ̣n văn tha ̣c sĩ Khoa ho ̣c Thư viê ̣n, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển và khai thác nguồn lực thông tin của trung tâm thông tin thư viê ̣n Trường đại học Kiến trúc Hà Nội
Tác giả: Phạm Thanh Bình
Năm: 2011
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1996), Quy định về tổ chức và hoạt động của Thư viện trường Đại học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về tổ chức và hoạt động của Thư viện trường Đại học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 1996
4. Lê Quỳnh Chi, Lê Văn Hiếu (2013), “Đánh giá nguồn lực thông tin khoa ho ̣c giáo dục tại thư viện trường đại học sư phạm TP. Hồ Chí Minh”, Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh , (số 42), tr.120-127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nguồn lực thông tin khoa ho ̣c giáo dục tại thư viện trường đại học sư phạm TP. Hồ Chí Minh”, "Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Lê Quỳnh Chi, Lê Văn Hiếu
Năm: 2013
5. Lê Quỳnh Chi (2014), “Quản lí hiệu quả nguồn lực thông tin trong thư viện đa ̣i ho ̣c” , Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm thành phố Hồ ChíMinh, (số 54), tr. 78-87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí hiệu quả nguồn lực thông tin trong thư viện đa ̣i ho ̣c” , "Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí "Minh
Tác giả: Lê Quỳnh Chi
Năm: 2014
6. Lê Quỳnh Chi (2014), “Xu hướng quản lí nguồn lực thông tin ở thư viê ̣n đa ̣i ho ̣c Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, (số 59), tr. 34-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng quản lí nguồn lực thông tin ở thư viê ̣n đa ̣i ho ̣c Việt Nam”, "Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Lê Quỳnh Chi
Năm: 2014
7. Nguyễn Thi ̣ Kim Dung (2005), Tăng cường nguồn lực thông tin tại Thư viê ̣n Quốc gia Viê ̣ t Nam, Luâ ̣n văn tha ̣c sĩ Khoa ho ̣c thư viê ̣n , Trường Đa ̣i ho ̣c Văn hóa Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường nguồn lực thông tin tại Thư viê ̣n Quốc gia Viê ̣ t Nam
Tác giả: Nguyễn Thi ̣ Kim Dung
Năm: 2005
8. Nguyễn Thi ̣ Thu Điê ̣p (2011), Phát triển nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin - Thư viê ̣n trường Đại học Thương mại , Luâ ̣n văn tha ̣c sĩKhoa ho ̣c Thư viê ̣n, Trường Đa ̣i ho ̣c khoa ho ̣c xã hô ̣i và nhân văn , Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Thương mại
Tác giả: Nguyễn Thi ̣ Thu Điê ̣p
Năm: 2011
9. Vũ Duy Hiệp (2011), Chia sẻ nguồn lực thông tin trong hệ thống thư viện các trường đại học Việt Nam// Một chặng đường đào tạo và nghiên cứu khoa học thông tin thư viện, Nxb Đa ̣i ho ̣c Quốc gia, Hà Nội, tr.198-209 Sách, tạp chí
Tiêu đề: // Một chặng đường đào tạo và nghiên cứu khoa học thông tin thư viện
Tác giả: Vũ Duy Hiệp
Nhà XB: Nxb Đại ho ̣c Quốc gia
Năm: 2011
10. Hoạt động thông tin – Thư viện với vấn đề đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam, Sách chuyên khảo, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động thông tin – Thư viện với vấn đề đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
11. Nguyễn Hữu Hùng (1995), “Vấn đề phát triển nguồn lự c thông tin trong bối cảnh công nghê ̣ thông tin mới”, Tạp chí Thông tin &amp; tư liê ̣u, (số2), tr.11-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phát triển nguồn lự c thông tin trong bối cảnh công nghê ̣ thông tin mới”, "Tạp chí Thông tin & tư liê ̣u
Tác giả: Nguyễn Hữu Hùng
Năm: 1995
12. Nguyễn Hữu Hùng (2005), “Phát triển thông tin khoa ho ̣c và công nghê ̣ để trở thành nguồn lực”, Tạp chí Thông tin &amp; tư liê ̣u, (số 10), tr.8-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển thông tin khoa ho ̣c và công nghê ̣ để trở thành nguồn lực”, "Tạp chí Thông tin & tư liê ̣u
Tác giả: Nguyễn Hữu Hùng
Năm: 2005
13. Nguyễn Hữu Hùng (2005), Thông tin: tư ̀ lý luận tới thực tiễn , nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin: từ lý luận tới thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Hữu Hùng
Nhà XB: nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 2005
14. Nguyễn Hữu Hùng (2006),“Vấn đề phát triển và chia sẻ nguồn lực thông tin số hóa ta ̣i Viê ̣t Nam”, Tạp chí Thông tin &amp;tư liê ̣u, (số 1), tr. 5-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phát triển và chia sẻ nguồn lực thông tin số hóa ta ̣i Viê ̣t Nam”, "Tạp chí Thông tin &tư liê ̣u
Tác giả: Nguyễn Hữu Hùng
Năm: 2006
15. Tạ Thị Lâm (2011), Thực trạng việc liên kết và chia sẻ tài nguyên thông tin của thư viện các trường đại học – đại học Huế và đề xuất xây dựng mô hình mượn liên thư viện// Một chặng đường đào tạo và nghiên cứu khoa học thông tin thư viện.-Nxb Đa ̣i ho ̣c Q uốc gia HàNô ̣i, tr. 326-344 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một chặng đường đào tạo và nghiên cứu khoa học thông tin thư viện
Tác giả: Tạ Thị Lâm
Nhà XB: Nxb Đại ho ̣c Q uốc gia Hà Nô ̣i
Năm: 2011
16. Nguyễn Thị Khánh Ly (2011), Phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện trường Cao đẳng Sư phạm trung ương, Luâ ̣n văn tha ̣c sĩ Khoa ho ̣c thư viê ̣n, Trường Đa ̣i ho ̣c Văn Hóa Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện trường Cao đẳng Sư phạm trung ương
Tác giả: Nguyễn Thị Khánh Ly
Năm: 2011
17. Trần Thi ̣ Minh Nguyê ̣t (2010), Hoạt động thông tin thư viện các trường đa ̣i ho ̣c phu ̣c vu ̣ ho ̣c chế tín chỉ , Thông báo khoa học (trươ ̀ ng ĐH Văn hóa Hà Nô ̣i), (số 1), tr. 108-111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo khoa học
Tác giả: Trần Thi ̣ Minh Nguyê ̣t
Năm: 2010
19. Kiều Gia Như dịch , “Phương hướng xây dựng nguồn lực thông tin phu ̣c vụ hoạt động đổi mới ở Liên Bang Nga” (2010), Tạp chí Thông tin&amp; tư liê ̣u, (số 1), tr.29-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương hướng xây dựng nguồn lực thông tin phu ̣c vụ hoạt động đổi mới ở Liên Bang Nga” (2010), "Tạp chí Thông tin "& tư liệu
Tác giả: Kiều Gia Như dịch , “Phương hướng xây dựng nguồn lực thông tin phu ̣c vụ hoạt động đổi mới ở Liên Bang Nga”
Năm: 2010
20. Trần Nữ Quế Phương (2011), Vấn đề phát triển nguồn lực thông tin điện tử trong các thư viện hiện nay, Tạp chí Thư viện Việt Nam, (số 5 (31)), tr. 26-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Thư viện Việt Nam
Tác giả: Trần Nữ Quế Phương
Năm: 2011
21. Đoàn Phan Tân (2006), Thông tin học , Nxb Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin học
Tác giả: Đoàn Phan Tân
Nhà XB: Nxb Đại ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i
Năm: 2006
22. Nguyễn Thi ̣ Thuâ ̣n (2006), Tăng cường nguồn lực thông tin tại Trung tâm thông tin Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Luâ ̣n văn thạc sĩ Khoa học thư viện, Trường Đa ̣i ho ̣c Văn hóa Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường nguồn lực thông tin tại Trung tâm thông tin Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thi ̣ Thuâ ̣n
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm