Đại cương về cây thuốc phiện và các alkaloid trong thuốc phiện (tiêu biểu là morphine). Đây là phần tìm hiểu của mình qua các bài báo và sách về cây thuốc phiện, cùng với các alkaloid chứa trong nó, tiêu biểu là morphine: cấu tạo, cấu trúc tác động, cơ chế tác động, liều dùng,...
Trang 1I Tổng quan
Việc sử dụng có lẽ bắt đầu từ thế kỉ thứ 13 trước Công Nguyên Các tài liệu cổ củaDioscorides, Celsus, Galen, Theophrastus,… đã cung cấp nhiều thông tin về cây thuốcphiện, về morphine, cách gieo trồng, thu hoạch cũng như cách sử dụng chúng như mộtloại thuốc
1 Việc sử dụng cây thuốc phiện thời xa xưa
Một bức tượng nhỏ cao 775 mm (Hình 1) của nữ thần Minoan (thế kỷ 13 trướcCông nguyên) với bàn tay nâng cao cung cấp cho chúng ta bằng chứng cổ xưanhất về cây thuốc phiện và thuốc phiện Bức tượng này được biết đến với cáitên “Minoan- nữ thần thuốc phiện” vì nó mang trên đầu ba chiếc ghim di động
giống như đầu của cây anh túc gây ngủ(Kerényi 1976: 24; Sakellarakis, 1987: 91).Hiện tại bức tượng đang được trưng bày tạibảo tàng Herakleion Các nhà khảo cổ HyLạp đã kết luận rằng:
- Các rãnh dọc trong viên nang có màu đậmhơn, và liên quan đến việc chiết xuất nướcép
- Nữ thần Minoan dường như đang nhắmmắt ngủ
- Các nếp gấp ở má tạo ra hiệu ứng mỉmcười và sự vô hồn của việc chia đôi môi
có lẽ bắt chước tác dụng của thuốc(Kritikos và Papadaki 1967: 25-26)
Ngoài ra còn có rất nhiều tài liệu tham khảo về câyanh túc trong văn học cổ đại, trong đó cổ nhất (thế
kỷ thứ 8 trước Công nguyên), có lẽ là từ Hesiod(Theog 125: 212) và Homer (Iliad Books 8 & 14).Hippocrates (460-377 hoặc 355 trước Công nguyên)thường đề cập đến cây anh túc được sử dụng trongcác chế phẩm thuốc đặc biệt ví dụ như thuốc thôi miên hoặc ma túy (Kapoor 1995:13) Herakleides of Pontus (Fr Hist Gr 2.215, Fragment 9.3) đề cập đến việc sử dụng
nó để trợ tử và Aristotle (384-322 trước Công nguyên) xem nó như một loại thuốcthôi miên (Sneader 2005: 90)
Hơn 8000 năm trước, người Somai ở Tây Á đã sử dụng và biết được những khoái cảm
và sự thoải mái mà thuốc phiện mang lại khi dùng Thế kỉ thứ 1, Rioskelires đã miêu
tả khá kỹ về thuốc phiện trong cuốn sách “Dược điển luận” của mình, tuy nhiên trong
Trang 2thời kì này người ta mới chỉ chú trọng đến những khoái cảm, những tác dụng trongchữa bệnh mà thuốc phiện mang lại chứ chưa chú ý tới mặt trái của nó, đó là tác dụnggây nghiện khó chữa của nó.
Trong thế kỷ XIX, hoạt động buôn lậu thuốc phiện tới Trung Quốc xuất phát từ Ấn
Độ, đặc biệt là hoạt động của người Anh, thuốc phiện hay nha phiến là nguyên nhânchính gây ra các cuộc chiến tranh thuốc phiện hay còn gọi là chiến tranh nhaphiến, lần 1 là năm 1839 - năm 1842, lần 2 là năm 1856 - năm 1860 gây ra hậu quảcủa cuộc chiến này là đế quốc Anh đã chiếm giữ Hồng Kông, được rất nhiều quyền lợi
và phí bồi thường từ các thỏa ước mà người Trung Quốc gọi là "sự sỉ nhục thế kỷ".Buôn bán thuốc phiện đã trở thành một trong những nghề thu lời lớn nhất và được nhànghiên cứu lịch sử thuộc Đại học Harvard, ông John K Fairbank đánh giá là "tội áckéo dài nhất và mang tính hệ thống quốc tế trong thời hiện đại."
Được xem là cây dược liệu quý, dùng cho giảm đau tốt nhất trong các loại dược liệu
cả Đông lẫn Tây y nhưng hậu quả mà nó đem lại do lạm dụng quá mức là thảm họacho xã hội và đất nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và đạo đức của conngười Hiện nay ở nước ta và nhiều nước trên thế giới đã cấm trồng cây này =>Câythuốc phiện từ rất lâu đã là một loại cây trồng, một loại thuốc, một loại bùa phép, mộtloại … quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến đời sống con người
Phương pháp chiết dùng của ngày xưa
- Đầu tiên, người ta có thể đập các viên nang cùng với lá và ép chất nàythông qua một máy ép, đập nó vào cối, và sau đó là viên ngậm thời trang;cái này được gọi là meconium, nhưng được coi là kém hiệu quả hơn nước
ép nguyên chất hoặc latex; Pliny đồng ý rằng phân su yếu hơn nhiều so vớithuốc phiện (HN 6.20.76.202)
- Thứ hai, để tự chiết mủ, người xưa đã rạch vào viên nang bằng dao (mộtquy trình vẫn còn được sử dụng trong thời hiện đại) và chú ý không cắt quásâu, họ đã thu thập nước mắt chảy ra từ một con hến vỏ (myax).Dioscorides khuyến cáo thời gian trong ngày khi sương đã bốc hơi để lấynước mắt.8 Ông cũng cảnh báo rằng người ta nên đứng lại khi cắt viên nang
để mủ không bị dính vào một bộ quần áo Sau một thời gian ngắn, viênnang sẽ tạo ra một giọt nước mắt khác cho bộ sưu tập và một viên thuốckhác sẽ được tìm thấy vào ngày hôm sau; Nước trái cây này được giã nhỏtrong cối và làm thành viên ngậm, phơi khô để bảo quản và nấu chảy lại để
sử dụng.9 Phương pháp tương tự được sử dụng để tạo ra viên ngậm từ phân
su, nhưng trong trường hợp này, viên thuốc phiện giã nát được đun sôi trongnước đến một nửa khối lượng ban đầu, và sau đó đun sôi lại với mật ongcho đến khi “hơi ẩm ngưng tụ”
Trang 32 Đặc điểm thực vật
2.1 Phân loài và phân bố:
Cây Thuốc phiện thuộc Bộ Mao lương (Ranunculales), Họ Thuốc phiện(Papaveraceae) Chia làm 2 phân họ (Papaveroideae và Fumarioideae) với 44 chi và
2.2 Mô tả cây:
Cây thảo, sống hàng năm, cao 0,7- 1,5 m, ít phân nhánh, thân mọc thẳng Lá mọccách, lá phía dưới có cuống ngắn, lá phía trên không cuống, mọc ôm vào thân, mép córăng cưa Lá hình trứng dài 6-50 cm, rộng 3,5- 30 cm, đầu trên nhọn, ở phía dưới
cuống tròn hoặc hơi hình tim Gân
lá nổi rõ ở mặt dưới
Hoa to đơn độc mọc ở đầu thânhoặc đầu cành Có cuống dài 12-14cm, đài hoa gồm 2 lá đài màuxanh sớm rụng khi hoa nở, lá đàidài 1,5 - 2 cm Tràng 4cánh, dài 5-
7 cm màu trắng hay tím hoặc hồng.Nhị nhiều, bao quanh một bầu cómột ngăn gồm 15- 20 lá noãn dính liền nhau
Trang 4xám Hạt nhỏ và nhiều (25000- 30000 hạt/quả), hơi giống hình thận, dài 0,5 – 1 mm,trên mặt có vân hình mạng, màu xám hay vàng nhạt hoặc xám đen Toàn thân cây chỗnào bấm cũng có nhựa mủ màu trắng, để lâu chuyển thành nâu đen.
2.3 Trồng trọt và thu hái:
Thuốc phiện mọc tốt tại các vùng khí hậu mát Cây chịu được khí hậu lạnh (từ 5-10oC)
và nóng bức Nhưng những tuần đầu tiên của sự sinh trưởng thời tiết phải mát và ẩm,sau đó khí hậu nóng và khô thì cây mới phát triển tốt, ở nước ta cây phù hợp với khíhậu vùng núi có độ cao 800 – 2000 m
Ở các nước có mùa đông giá lạnh người ta thường gieo hạt vào mùa xuân, có nơi gieohạt vào cuối mùa thu cho tuyết rơi xuống bảo vệ hạt qua mùa đông và thu hoạch vàocuối tháng 7 đầu tháng 8 Ở nước ta thường gieo vào cuối tháng 10 đầu tháng 11, thuhoạch vào cuối tháng 3 đầu tháng 4
Hiện nay người ta tiến hành rất nhiều biện pháp tạo đột biến để đạt được những mụcđích trồng trọt khác nhau: ví dụ như trồng cây thuốc phiện cho hàm lượng lớnmorphine, hoặc cho hàm lượng codein,…
2.4 Thành phần hóa học:
- Lá: Chỉ có vết alcaloid (0,02 - 0,04%).
- Quả: Tỷ lệ alcaloid thay đổi tuỳ theo nòi.
- Trong quả khô thường có 0,20 - 0,30% alcaloiđ toàn phần, bằng con đường
chọn giống người ta có thể nâng hàm lượng morphin lên tới 0.80%
- Ở những quả khô đã lấy nhựa thì hàm lượng alcaloid nhất là morphin chỉ còn
lại rất ít
- Hạt: Không có alcaloid, chứa 15% gỉucid, 20% protein, 40 - 45% dầu Dầu béo
gồm các glycerid của các acid béo không no (acid oleic 30%, lioleic 60%,linolenic 5%) => dùng hạt để chiết xuất dầu ăn, dầu béo,…
- Nhựa thuốc phiện: hoạt chất trong nhựa thuốc phiện là các alcaloid (20 - 30%)
ở dạng muối (meconat, lactat ,) Tới nay đã phân lập dược khoảng 40 alcaloid.Căn cứ vào cấu tạo hoá học người ta sắp xếp vào nhiều nhóm
Trang 5Đa số các alkaloid được dùng làm thuốc trị bệnh do nó có hoạt tính cao Đặc biệt từcây anh túc, ta chiết được rất nhiều alkaloid có giá trị Trong số này, có nhiều alkaloidrất đáng chú ý:
- Đầu tiên là morphine, người ta thường nói vui là cái gì càng đẹp lại thường đi
kèm theo sự nguy hiểm Morphine cũng như vậy, nó có rất rất nhiều công dụngthì nó cũng là một loại thuốc gây nghiện mạnh, cần thận trọng khi dùng Cũngchính vì vậy mà nhiều nước trên thế giới đã liệt kê nó vào loại thuốc giảm đauopioid và cấm trồng, chỉ được trồng phục vụ những mục đích đặc biệt như sảnxuất thuốc chữa bệnh và theo quy định nghiêm ngặt
- Cùng nhóm morphinan còn có codeine là một trong những loại thuốc ho, thuốc
giảm đau dùng nhiều nhất thế giới Codein ít gây nghiện hơn so với morphine
Nó nằm trong danh sách thuốc thiết yếu của WHO, gồm các thuốc hiệu quả và
ho rất phổ biến Và trong điều kiện được sử dụng đúng cách, morphine và codeine lànhững loại thuốc quan trọng Morphine được chiết ra vào năm 1805 và được coi làhợp chất đầu tiên có tính base được tách ra từ thực vật Do tính gây nghiện củamorphine nên việc ứng dụng nó bị hạn chế, morphine sản xuất ra trên thế giới trên90% được dùng để bán tổng hợp thành codein, một thuốc chữa ho đặc hiệu Cho đếnnay thì nước ta vẫn chưa sản xuất được codein nên hằng năm vẫn phải bỏ đô la đểnhập codein
Trang 6II Chiết xuất, tổng hợp và sản xuất morphine
1 Phương pháp chiết bằng dung môi hữu cơ trong môi trường kiềm, chiết bằng nước acid, chưng cất lôi cuốn hơi nước
Cũng giống như các loại alkaloid khác, morphine có thể chiết bằng 2 phương phápthông thường là chiết bằng dung môi hữu cơ trong môi trường kiềm, chiết bằng nướcacid Cả 2 phương pháp này chúng ta đều được học trong giờ thí nghiệm cơ sở kỹthuật hóa dược Phương pháp này dựa vào tính tan khác nhau của dạng base và dạngmuối alkaloid trong các dung môi, người ta có thể loại phần nào các tạp chất ra khỏidịch chiết trước khi định tính, định lượng hay phân lập các alkaloid tinh khiết Việcchuyển đổi qa lại giữa dạng muối và dạng base cũng nhằm mục đích này, tương tựnhư kết tinh lại
Tuy nhiên cả 2 phương pháp này lại kiểu dùng để kiểm nghiệm, định tính, định lượng
là chính, tức là chiết một lượng alkaloid nhỏ để tiến hành các bước kiểm nghiệm, địnhtính, định lượng, đánh giá chất lượng Phù hợp để thực hiện quy mô phòng thí nghiệm
Để sản xuất trong thực tế thì cần những phương pháp, quy trình khác cho hiệu suất,năng suất cao hơn
Tương tự như nicotin, morphine có thể chiết bằng phương pháp chưng cất hơi nước.Chưng cất có thể được định nghĩa là: “Sự tách rời các cấu phần của một hỗn hợpnhiều chất lỏng dựa trên sự khác biệt về áp suất hơi của chúng” Trong trường hợpđơn giản, khi chưng cất một hỗn hợp gồm 2 chất lỏng không hòa tan vào nhau, áp suấthơi tổng cộng là tổng của hai áp suất hơi riêng phần Do đó, nhiệt độ sôi của hỗn hợp
sẽ tương ứng với áp suất hơi tổng cộng xác định, không tùy thuộc vào thành phầnbách phân của hỗn hợp, miễn là lúc đó hai pha lỏng vẫn còn tồn tại Nếu vẽ đườngcong áp suất hơi của từng chất theo nhiệt độ, rồi vẽ đường cong áp suất hơi tổng cộng,thì ứng với một áp suất, ta dễ dàng suy ra nhiệt độ sôi tương ứng của hỗn hợp và nhậnthấy là nhiệt độ sôi của hỗn hợp luôn luôn thấp hơn nhiệt độ sôi của từng hợp chất Ở
áp suất khí quyển 760 mmHg ,ta có morphine có nhiệt độ sôi 254oC, không tan trongnước=> ta có hỗn hợp lỏng sôi dưới 100oC và không tan lẫn vào nhau, như vậy là ta
có thể tiến hành chưng cất lôi cuốn hơn nước Hỗn hợp sẽ được lôi cuốn đi, và sảnphẩm thu được tách thành 2 pha, ta chỉ cần chiết bỏ pha nước là thu được phamorphine
2 Chiết xuất morphin từ nhựa thuốc phiện:
Câu hỏi chung là nếu chiết được morphine thì cũng chiết lẫn được những alkaloidkhác Tất nhiên là vậy rồi, tuy nhiên ta hiểu là thành phần thuốc, dược phẩm luôn có 1chỉ tiêu nhất định, tức là hàm lượng nó sẽ trong 1 khoảng bao nhiêu đó, không thểhoàn toàn tinh khiết 100%, nên việc lẫn 1 ít alkaloid khác là không vấn đề, miễn sao
nó trong ngưỡng cho phép Thứ hai, độ phân cực, tính chất của các alkaloid vẫn cóđiểm khác biệt nhỏ, cho phép ta có thể loại bỏ từ từ tạp chất ra khỏi morphine, ta cóthể dùng kết tinh lại để thu được sản phẩm gần tinh khiết nhất Thứ ba, hiện nay người
ta đã dùng đến kỹ thuật bán tổng hợp, sinh tổng hợp để sản xuất được morphine Thứ
tư, nhờ khoa học, ta có thể can thiệp vào cây anh túc để điều khiển hàm lượng các chấttrong nó, nếu muốn sản xuất nhiều morphine ta có phương pháp canh tác, nuôi trồng,chăm sóc khác, nếu muốn sản xuất được nhiều codein thì ta lại có phương pháp khác
Trang 7a) Pp của Thiboumery:
Theo phương pháp của Thiboumery: Chiết nhựa thuốc phiện bằng nước nóng rót dịchchiết vào sữa vôi nóng, calci morphinat tan trong nước vôi thừa, còn tạp chất thì tủaxuống Lọc, đun sôi dịch lọc và thêm amoni clorid sẽ có morphin base tủa xuống Rửatủa bằng nước, rồi hoà tan trong acid HC1 sẽ có morphin hydroclorid, sau cho kết tinhlại nhiều lần sẽ thu được morphin hydroclorid tinh khiết
b) Phương pháp chiết morphine từ vỏ quả thuốc phiện chín chưa rạch nhựa:
Trước đây, Việt Nam phải nhập 1 lượng rất lớn thuốc từ nước ngoài, trong đó cómorphine và codein, theo thống kê, trước mở cửa 1986, mỗi năm ta phải nhập khoảng
2 tấn morphine và codein Do đó, đặt ra yêu cầu sản xuất trong nước (có thể chấtlượng không quá cao) Chính vì vậy, dựa theo những nghiên cứu của Liên Xô,Hungary, năm 1994, Nghiên cứu chiết xuất Morphin từ cây thuốc phiện (papaversomniferum L) Việt Nam và bán tổng hợp thành Codein, 1994
Theo phương pháp này, ngoài việc chiết được các alcaloid, người ta còn thu hoạchđược hạt thuốc phiện để ép dầu ăn và làm thuốc, đó là mặt hàng quan trọng trong côngnghiệp dược phẩm và thực phẩm Mặt khác chiết các alkaloid từ vỏ quả thuốc phiệncũng góp phần hạn chế việc lưu hành thuốc phiện trên thị trường Phương pháp nàytránh được việc chích, rạch nhựa thuốc phiện=> giảm sức lao động trong việc sản xuất
mà còn hạn chế vận chuyển, mua bán thuốc phiện trong thị trường
c) Chiết từ quả khô chưa chích nhựa (phương pháp Kabay)
Theo phương pháp Kabay: Lấy quả thuốc phiện khô có đoạn cuống 10 – 12 cm xaynhỏ Chiết bột dược liệu bằng nước nóng, cô dịch chiết thành cao đặc, chiết lại bằngcồn, cất thu hồi dung môi và tủa morphin bằng amoni sulfat ở môi trường kiềm cóbenzen Lấy riêng tủa morphin Có một số alcaloid khác như codein, narcotin vàthebain hoà tan trong benzen Tách lớp benzen rồi lần lượt làm kết tủa để lấy riêngcodein, narcotin và thebain bằng cách tạo muối thích hợp
https://books.google.com.vn/books?
id=QReYAQos2goC&pg=PA345&lpg=PA345&dq=extract+method+kabay&source=bl&ots=nAsVWdyh6H&sig=ACfU3U1SeckY6RITsOomKHgBDk0N0ag2SA&hl=vi&sa=X&ved=2ahUKEwjz_ZaToYDqAhUOyosBHYAFAXMQ6AEwAnoECAsQAQ#v
=onepage&q=extract%20method%20kabay&f=false
d) Dùng nhựa trao đổi ion
Dùng nhựa trao đổi ion âm (anionic) Sắc ký trao đổi ion là quá trình sắc ký phân táchcác ion và các phân tử phân cực dựa trên ái lực của chúng với bộ trao đổi ion
Một quá trình chiết tách và tách morphin khỏi chất cô đặc của thân cây thuốc phiệnhoặc thuốc phiện bằng cách sử dụng nhựa trao đổi cation bao gồm các bước như chiếttrong nước hoặc dung dịch nước của rượu, lọc, hấp phụ bằng cột nhựa trao đổi cation,rửa nước, rửa giải, cô đặc , điều chỉnh pH = 8,5-9,5, kết tinh, lọc và sấy khô
Trong điều kiện trung tính hoặc axit, morphin tồn tại ở dạng cation, khi tiếp xúc vớinhựa trao đổi ion cation, dung dịch morphin sẽ kết hợp với nhựa với tương tác tĩnhđiện do trao đổi ion xảy ra, do đó chỉ cần tách morphin với tạp chất trong dung dịch ,
Trang 8sử dụng morphin trong điều kiện kiềm tạo thành đặc tính anion của morphin và đượcrửa giải bằng dung dịch kiềm.
Nhà phát minh sử dụng nước hoặc rượu (cồn thấp hơn chứa 1-6 carbon) và dung dịchhỗn hợp cồn-nước dưới sự khuấy trộn để chiết xuất nguyên liệu thô mà CPS hoặcthuốc phiện, v.v có chứa morphine, xem xét lý do chi phí và dung môi chiết tối ưu làmột nước Giảm nhiệt độ và có thể là nhiệt độ phòng đến nhiệt độ hồi lưu, nhiệt độ tối
ưu là 50 ~ 60oC Trích xuất sau khi lọc, cặn có thể được chiết lại bằng dung môi 1 ~ 2lần, trộn và chiết dịch lọc
Sau khi nhựa trao đổi ion cation được tiến hành xử lý sơ bộ, nó được chuyển thànhdạng amoni, loại natri hoặc Hydrogen Chiết xuất được đề cập ở trên hoặc ngược lại(tốt nhất là đảo ngược) có chứa morphine đi lên cột nhựa trao đổi ion, sau khi có đi lêndung dịch mẫu, tiếp cận không màu với nước đã khử ion vào dung dịch, sử dụng dungdịch nước kiềm hoặc dung dịch nước để thực hiện rửa sạch sau đó, tốt nhất để thựchiện rửa sạch bằng dung dịch ammoniac 1 ~ 2N của morphin, được làm bay hơi đếnkích thước nhỏ, chuyển pH8,5 ~ 9,5 và tốt nhất là pH9,1 ,, rửa bộ lọc, thành phẩm khômorphine có được qua quá trình kết tinh đủ Hàm lượng morphin thu được quaphương pháp nói trên là 80 93%, và năng suất chiết là 85 ~ 95%.Morphin thu được cóthể được sử dụng trực tiếp trong tổng hợp codein, cũng có thể được thực hiện với sựchăm sóc thêm theo các phương pháp đã biết
L-tyrosine là tiền chất axit amin tiền chất cho các alcaloid thuốc phiện này Khử oxyhóa L-tyrosine sau đó khử decarboxyl hóa tạo ra 4 hydroxyphenylacetaldehyd, đây làmột hóa chất cần thiết cho quá trình sinh học của các alcaloid này Ngoài ra, L-tyrosine trên decarboxylation cũng cung cấp tyranine sau đó được oxy hóa thànhdopamine Phản ứng hóa học để tổng hợp các alcaloid này bắt đầu bằng sự ngưng tụdopamine và 4-hydroxyphenylacetaldehyd (66) bởi enzyme norcoclaurine synthasesản xuất (S) -norcoclaurine, trong khi norcoclaurine 6-O-methyltransferase (6) chuyểnđổi (S) - norcoclaurine thành (S) -N-methylcoclaurinewhich chuyển đổi thành (S)-coclaurine trên methyl hóa trước đây (S) -cocularine đóng vai trò là bước ngoặt đểsản xuất benzyl isoquinoline alkaloid papaverine, phthalideisoquinoline alkaloid
Trang 9noscapine, và morphinans morphin, codeine và thebaine Enzyme NADHdepuntcodeinone reductase (COR) chuyển đổi (-) - codeinone thành (-) - codein là bước ápchót trong sinh tổng hợp morphin.
III Định tính
1 Sử dụng thuốc thử chung
Trong kiểm định dược liệu chứa alkaloid, ngoài các chỉ tiêu kiểm định chung chomoik dược liệu, người ta phải tiến hành định tính và định lượng các alkaloid trongdược liệu đó
Có thể định tính alkaloid trực tiếp trong các mô thực vật hay trên dịch chiết dược liệu
Để định tính alkaloid trong vi phẫu thực vật, người ta quan sát tủa của alkaloid vớithuốc thử Bouchardat dưới kính hiển vi Đôi khi có thể định tính trực tiếp alkaloid trênmặt cắt dược liệu bằng thước thử đặc hiệu Để định tính alkaloid trong dịch chiết dượcliệu, các thuốc thử chung, thuốc thử tạo màu và sắc ký lớp mỏng là những phươngpháp thường dung
Có nhiều phương pháp định lượng alkaloid trong dược liệu như phương pháp cân,phương pháp thể tích, phương pháp quang phổ Tùy trường hợp mà lựa chọn phươngpháp thích hợp Cũng có thể kết hợp các phương pháp phân tách (thường là cácphương pháp sắc ký) với việc định lượng (thường là các phương pháp quang phổ) đểđịnh lượng riêng một hay một vài alkaloid nào đó trong hỗn hợp alkaloid toàn phần
Để phát hiện alkaloid trong được liệu bằng các phản ứng hóa học, thông thườngngười ta chiết alkaloid ra khỏi cơ quan thực vật bằng phương pháp chiết thích hợp rồidùng các thuốc thử để phát hiện và đánh giá sơ bộ sự có mặt của chúng trong dượcliệu Tùy theo phản ứng mà sử dụng dịch chiết thích hợp Các phản ứng với thuốc thửchung thường được thực hiện với muối alkaloid trong môi trường nước acid
Các thuốc thử chung cho với các alkaloid một tủa vô định hình có màu sắckhông đặc trưng thay đổi tùy theo thuốc thử Với một số thuốc thử, tủa này có thể tanlại trong một lượng thuốc thử thừa
Trong những điều kiện quy định về lượng dược liệu, lượng dung môi, các chiết
và thuốc thử sử dụng có thể dựa vào mức độ tạo tủa, lượng thuốc thử sử dụng để đánhgiá sơ bộ hàm lượng alkaloid trong nguyên liệu
Trang 10Các thuốc thử thường dùng là Bouchardat, Valse-Mayer, Dragendorff, Bertrand,Hager và acid tannic.
Lấy 5 ống nghiệm nhỏ, cho vào mỗi ống 2 ml dịch chiết nước acid
Cho riêng rẽ vào mỗi ống nghiệm 3 giọt thuốc thử lần lượt là Bouchardat, Mayer, Dragendorff, Bertrand và Hager Lắc điều, quan sát và nhận định kết quả Nếucần có thể cho thêm 1-2 giọt thuốc thử nữa
Valse-Nhận định kết quả:
Dung dịch vẫn trong
Dung dịch đục mờ nhưng không lắng xuống
Dung dịch đục, có tủa lắng xuống sau vài phút
Có tủa lắng xuống ngay Dung dịch đục khi them giọt thuốc thử thứ 2
Để bản đã tráng lên khay kim loại, đặt vào chỗ phẳng cho đến khi ráo nước (khi đólớp silica gel sẽ trở nên trắng đục, không còn loáng nước) Sấy hoạt hóa bản mỏng ở
110 ºC trong 1 giờ Làm nguội và bảo quản mỏng đã hoạt hóa trong bình hút ẩm.Với bản mỏng tráng sẵn, dùng bàn cách hoặc kéo cắt thành nhữung miếng cókích thước thích hợp (3x6,6 cm hoặc 2,5 x 10 cm, không cần sấy hoạt hóa)
Chuẩn bị dung môi và bình sắc ký
Trang 11Bình sắc ký được rửa sạch và sấy nhẹ đến khô Lót lòng trong bình bằng giấylọc
Nhỏ lên trên miếng giấy lọc này 3-4 giọt NH4OH đđ rồi rót dung môi sắc ký vàobình (lớp dung môi này cao khoảng 0,5 cm )
Đậy nắm kính (nếu cần, có thể thoa một ít Vaseline trên miệng bình), đặt ở nơiphẳng, để yên trong ít nhất 30p trước khi triển khai
Các hệ dung môi sử dụng:
S1= bên – aceton (4:1) hay
S2= CHCL3- MeOH- NH4OH ( 50:9:1)
Đưa mẫu lên bản mỏng, triển khia và phát hiện
Dùng mao quản chấm lên mỗi bản sắc ký 3 vết, tuần tự từ trái sang phải là 3dung dịch alkaloid base toàn phần trong chloroform của
(V) Bình vôi, (S) Tâm sen và (B) Bách hộ
Các vết chấm này phải nhỏ, gọn (nên chấm thành vạch 1 mm x3 mm), thẳnghàng và cách đều nhau, vết nọ cách vết kia ≥ 0.5 cm; cách 2 mép bên ≥ 0,5 cm vàcách mép dưới khoảng 1,5 cm Tùy theo nồng độ dịch thử mà chấm với số lần thíchhợp,sao cho sau khi triển khai và phun thuốc thử các vết không quá mờ, khó phát hiện
và cũng không quá đậm, làm các vết to, chồng lấp lên nhau
Đặt bản mỏng vào bình sắc ký, đậy kín nắp và để yên (các lớp chấm phải nằmcao hơn lớp dung môi) Khi dung môi chạy còn cách mép trên khoảng 0,5 cm, lấy bảnmỏng ra, dùng bút chì đánh dấu mức dung môi, để khô tự nhiên hay sấy nhẹ cho hếtdung môi
Phát hiện các vết trên sắc đồ lần lượt bằng cách:
- Soi dưới đèn UV 254 và 365 nm
- Phun (hoặc nhúng nhanh) thuốc thử Dragendorff (trong tủ hút)
Lau ngay silica gel rơi vãi trên bàn thí nghiệm bằng khan ướt, không thổi bột silicagel!
Silica gel có thể gây chứng bụi phổi khi hít phải
Vẽ sắc đồ khi phát hiện bằng UV 254 và thuốc thử Dragendorff
Ghi nhận lại màu của các vết trong UV 365 và sau khi phun thuốc thửDragendorff
Trang 12Tính Rf của các vết lên màu với thuốc thử Dragendorff Ghi nhận xét.
IV Định lượng
V Dược lực
- Chiết các alkaloid có tác dụng giảm đau
- Hạt được dùng trong dược phẩm và ẩm thực vì nó có chứa các loại dầu khácnhau, dùng làm dầu ăn, dầu salad
- Cây thuốc phiện có hoa đẹp, nhiều màu sắc, trồng để trang trí
- Morphine lần đầu tiên được Friedrich Sertürner phân lập trong khoảng thờigian từ năm 1803 đến 1805.[4] Điều này thường được cho là sự cô lập đầu tiêncủa một hoạt chất từ thực vật.[5] Merck Group bắt đầu tiếp thị nó vào năm 1827.[4] Morphine được sử dụng rộng rãi hơn sau khi phát minh ra ống tiêm dưới
da vào năm 1853 – 1855.[4][6] Sertürner ban đầu đặt tên chất morphium theo tên
của vị thần trong giấc mơ Hy Lạp, Morpheus, vì chất này có xu hướng gây ngủ
- 70% được dùng để tổng hợp các loại thuốc khác như codein, heroin,…Morphine là loại thuốc cấm schedule II ở Hoa Kỳ (gồm các chất gây nghiện dữdội nhưng có thể dùng trong điều trị bệnh, như morphin, methadon,secobarbital…) , luôn nằm trong nhóm thuốc gây nghiện mạnh của các nước