1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận kinh tế du lịch đánh giá năng lực cạnh tranh của các điểm du lịch việt nam

35 139 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 103,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh người ta thường xem xét, phân biệt năng lựccạnh tranh theo 4 cấp độ: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành, nănglực cạnh tran

Trang 1

Các khái niệm

Cạnh tranh:

Động từ “cạnh tranh” có gốc La tinh là “competere”, nghĩa là “cùng mưu cầu” hoặc “tranh giành nhau” Cạnh tranh được xem là hiện tượng thông thường trong tự nhiên và xã hội, làđiều kiện cho quá trình chọn lọc và tiến hoá, bởi lẽ thông qua cạnh tranh, các cá thể mạnh

sẽ tồn tại và phát triển, những cá thể yếu sẽ bị tiêu diệt Cạnh tranh có thể hiểu là “sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”

Người đặt nền móng đầu tiên cho lý luận cạnh tranh là các nhà triết học khai sáng Theo trường phái này, để thúc đẩy phát triển nền kinh tế thị trường (KTTT) cần phải có tổ chức

xã hội kiểu mới mang tính đa dạng của các cá thể xã hội được tự do và cần có nền chính trịdân chủ Tự do cá nhân là tiền đề không thể thiếu được của KTTT Vì thế, để mở đường cho KTTT, trước hết phải thu hẹp quyền lực của nhà nước phong kiến, đồng thời nới rộng không gian tự do, khuyến khích công dân tìm kiếm lợi ích cá nhân nếu hành vi đó không gây hại cho người khác Các nhà khai sáng chính là những người đầu tiên tạo dựng tiền đề

tư tưởng và cơ sở phương pháp luận cho chủ nghĩa tự do kinh tế xuất hiện sau này

Thuật ngữ "Cạnh tranh" được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh

tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao Theo nhà kinh tế học Michael Porter ( Competitive Advantage,1985 )của Mỹ thì: Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần.Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi

Ở góc độ thương mại, cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp và các ngành kinh doanh nhằm chiếm được sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng Hệ thốngdoanh nghiệp tự do đảm bảo cho các ngành có thể tự mình đưa ra các quyết định về mặt hàng cần sản xuất, phương thức sản xuất, và tự định giá cho sản phẩm hay dịch vụ

Trang 2

Cạnh tranh là sản phẩm tất yếu của sự phát triển nền kinh tế xã hội Trong mọi phương diện của cuộc sống ý thức vươn lên luôn là yếu tố chủ đạo hướng suy nghĩ và hành động của con người.

Năng lực cạnh tranh

Hiện nay, các thuật ngữ “năng lực cạnh tranh”, “sức cạnh tranh” và “khả năng cạnh tranh”

được sử dụng nhiều ở Việt Nam và chúng có thể dùng để thay thế cho nhau Theo M.Porter,hiện chưa có một định nghĩa nào về năng lực cạnh tranh được thừa nhận một cách phổ biến,

có thể thống kê một số định nghĩa như sau:

– Đối với các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh có nghĩa là sức cạnh tranhtrên thị trường nhờ xây dựng và áp dụng chiến lược hợp lý mà có

– Trong Từ điển thuật ngữ chính sách thương mại: “Sức cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác đánh bại về năng lực kinh tế”.

Do vậy, khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh người ta thường xem xét, phân biệt năng lựccạnh tranh theo 4 cấp độ: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành, nănglực cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh sản phẩm

Khái niệm điểm đến và tính hấp dẫn điểm

Các nước phát triển du lịch đều mong muốn thu hút nhiều khách đến tham quan và du lịch Vì thế ngoài việc tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến du lịch với mục tiêu xây dựng hình ảnh của đất nước như một điểm đến du lịch độc đáo và hấp dẫn, người ta còn tham gia vào các hội chợ du lịch quốc tế nổi tiếng thế giới và khu vực để quảng cáo và xúc tiến điểm đến Trong những hội chợ này, ngoài việc xây dựng hình ảnh cho đất nước còn có cácđịa phương, các khu du lịch tổ chức loại hình du lịch khác nhau nhằm ký kết hợp đồng với các hãng lữ hành thu hút và đưa khách tới Điểm mà khách đi đến du lịch được gọi là điểmđến du lịch

- Điểm đến du lịch là vùng không gian địa lí mà cá khách du lịch ở lại ít nhất một đêm, bao gồm các sản phẩm du lịch, các dịch vụ cung cấp, các tài nguyên du lịch thu hút khách, có

Trang 3

ranh giới hành chính dể quản lí và có sự nhận diện về mặt hình ảnh để xác định khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Điểm đến du lịch chứa đựng rất nhiều yếu tố tác động đến nhu cầu du lịch của con người

và là một động lực thu hút khách đến du lịch, yếu tố quan trọng hơn hết là nó phải tạo ra

sự chú ý và sức thu hút khách du lịch trong và ngoài nước

Tính hấp dẫn là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá tài nguyên du lịch và xây dựng hình ảnh của điểm đến du lịch, nó là lực hút giữa điểm đến và điểm cấp khách ( nơi

có khách du lịch tiềm năng)

Tính hấp dẫn của điểm đến du lịch được thể hiện ở khả năng đáp ứng được nhiều loại hình du lịch có sức thu hút khách du lịch cao và có khả năng đáp ứng nhu cầu của khách dulịch đi tới điểm du lịch với nguyên tắc: “Dễ dàng, thuận tiện, nhanh chóng, an toàn và tiện nghi”

Tính hấp dẫn của điểm du lịch còn phụ thuộc vào các nhân tố chính trị, kinh tế và xã hội tạiđiểm du lịch như : vấn đề an ninh, an toàn cho khách, nhận thức cộng đồng dân cư về phục vụ khách, các cơ chế, chính sách đối với khách du lịch và các doanh nghiệp du

lịch v.v

Năng lực canh tranh điểm đến

Các khái niệm và cách tiếp cận phân tích về năng lực canh tranh cho thấy có hai khuynh hướng phát triển chủ yếu, đó là lý thuyết Lợi thế so sánh của Ricardo (RCA) và mô hình Lợi thế Cạnh tranhcuar Porter ( PCA) (1817, Những nguyên lý kinh tế chính trị và thuế khoá),

Lý thuyết RCA xác định xu hướng phát triển công nghiệp ở một đất nước trên cơ sở tài nguyên thiên nhiên Do đó, RCA xem năng lực cạnh tranh ở cấp quốc tế, và có thế được coi là một đường lối chỉ đạo dài hạn (tĩnh) trong thiết lập chính sách phát triển công nghiệp Ngược lại, PCA khám phá những nhân tố làm cho một ngành công nghiệp cụ thể thành công trong một môi trường cạnh tanh toàn cầu Do đó, năng lực cạnh tranh của PCA

ở cấp độ toàn cầu và có thể coi như là một chiến thuật ngắn hạn (năng động) trong hoạch định chiến lược kinh doanh

Trang 4

Vì vậy, chúng ta đi đến một khái niệm tổng quát về năng lực cạnh tranh của điểm đến như sau:

- Năng lực cạnh tranh của điểm đến là tập hợp các yếu tố nguồn lực như tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính , các chính sách, thể chế và con người của một điểm đến tạo ra một hình ảnh về sự phát triển du lịch bền vững, có hiệu quả, hình thành nên khả năng hấp dẫn thu hút khách du lịch và đáp ứng làm thỏa mãn nhu cầu của họ một cách tốt nhất.

Để đánh giá toàn bộ kết quả hoạt động của điểm đến, Crouch và Ritchie đưa ra 4 chỉ tiêu: -Kết quả hoạt động kinh tế;

hạ tầng du lịch, mức độ hỗ trợ chính trị đối với các nỗ lực của ngành du lịch, các khoản thuế thu được từ chi tiêu du lịch có thể được sử dụng để đo sự bền vững Sự hài lòng của khách du lịch có thể được đánh giá bằng sự hài lòng đối với tất cả chất lượng dịch vụ tại điểm đến Hoạt động quản lý được chỉ ra bằng chất lượng của việc tham gia vào chương trình phát triển nguồn nhân lực và hỗ trợ, sự hài lòng với các hướng dẫn về điểm đến giúp khách lập kế hoạch chuyến đi, số lượng các sự kiện đặc biệt có chất lượng

Trang 5

Một số mô hình và các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT điểm đến

mô hình cũng xác định các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của điểm đến bao gồm các yếu tố

Sức chứa

Chính sách, quy hoạch và phát triển điểm đến

Định vị thương hiệu

Phát triển

Phân tích, cạnh tranh, hợp tác

Kiểm soát và đánh giá

Kiểm định

Quản línhân lực

Tài chính

và vốn

Quản

lí du khách

Quản lí nguồn lực

Quản

lí rủi ro

Nguồn lực và nhân tố hấp dẫn căn bản

Thiên nhiên

và khí hậu Văn hóa và lịch sử Tổ hợp các hoạt

động

Sự kiện đặc biệt

Giải trí Kiến trúc thượngtầng Quan hệ thị

trường

Trang 6

Năng lực cạnh tranh điểm đến của Ritchie và Crouch (Nguồn: Ritchie and Crouch,

Các yếu tố quyết định mô hình cạnh tranh điểm đến (Nguồn: Dwyer and Kim, 2003)

Trang 7

Các mô hình lý thuyết và áp dụng

Ngoài Ritchie and Crouch (2000), Dwyer and Kim (2003), các mô hình lý thuyết khác đã được phát triển để giải thích NLCT của điểm đến như trong công trình của Yoon (2002), Craigwell and More (2008) Yoon (2002) đã nghiên cứu cấu trúc mô hình cạnh tranh điểm đến du lịch từ các yếu tố nhằm kiểm tra thực nghiệm sự tương tác của các mối quan hệ:

1) nhận thức tác động phát triển du lịch

2) thái độ đối với vấn đề môi trường

3) gắn kết địa điểm tham quan

4) ưu tiên phát triển các yếu tố phát triển du lịch

5) hỗ trợ cho chiến lược cạnh tranh điểm đến

Phạm vi của nghiên cứu này là các điểm đến du lịch và cộng đồng ở Virginia, nơi có nhiều sản phẩm, địa điểm du lịch nhân tạo cũng như văn hóa tự nhiên Các nguyên tắc định hướng của nghiên cứu này là NCLT điểm đến có thể được cải thiện bằng sự kết hợp phù hợp giữa các địa điểm, nguồn lực du lịch và các chiến lược nâng cao NLCT của điểm đến

Cấu trúc mô hình cạnh tranh điểm đến từ các bên có liên quan (Nguồn: Yoon, 2002 )

Nghiên cứu NLCT của các hòn đảo du lịch nhỏ đang phát triển tại Mỹ của Craigwell and More (2008) đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của điểm đến này (Hình dưới

Trang 8

đây) Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 45 hòn đảo nhỏ và đưa ra mô hình nghiên cứu dựa trên các chỉ số đánh giá NLCT của tổ chức du lịch thế giới Kết quả nghiên cứu cho thấy, NLCT của các hòn đảo du lịch nhỏ đang phát triển tại Mỹ bị ảnh hưởng bởi

Trang 9

Các yếu tố ảnh hưởng

Trong mô hình NLCT điểm đến được đề xuất bởi Crouch and Ritchie (1999) chỉ ra rằng cần phải hiểu được mối quan hệ và sự tác động lẫn nhau giữa các lực lượng của NLCT Ngoài ra, nghiên cứu cũng đề xuất cần phân tích có hệ thống về lợi thế so sánh và NLCT điểm đến Theo Crouch and Ritchie (1999), lợi thế so sánh tạo ra nguồn lực du lịch sẵn có tại điểm đến, trong khi NLCT là khả năng sử dụng nguồn lực đó có hiệu quả trong thời giandài ở tại điểm đến Những yếu tố chính hấp dẫn tại điểm đến là cần thiết để tạo ra lợi thế so sánh và NLCT Những yếu tố này là nguồn lực cơ bản tạo động lực cho sự lựa chọn điểm đến của du khách, cũng như là các yếu tố mà người quy hoạch và người phát triển du lịch cần xem xét để nâng cao NLCT của điểm đến

Bên cạnh đó, mô hình cũng giải thích các yếu tố và nguồn lực hỗ trợ dưới dạng hiệu quả thứ cấp của NLCT điểm đến như: cơ sở hạ tầng, khả năng tiếp cận, nguồn lực thuận lợi là quan trọng cho sự thành công về kinh doanh điểm đến Mối quan tâm chính của các nghiên cứu thường là xem xét tính cạnh tranh điểm đến có được duy trì và phát triển như các đối thủ cạnh tranh khác Bên cạnh đó, các yếu tố môi trường, tài nguyên thiên nhiên, văn hóa

đa dạng, di tích lịch sử… có thể ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của điểm đến (Hassan, 2000) Để phát triển và quảng bá điểm đến du lịch thì cần tạo ra những nguồn lực du lịch cógiá trị nhằm nâng cao NLCT của điểm đến

Thực trạng NLCT điểm đến của Việt Nam

Các nguồn lực về Du Lịch

Nguồn lực về tài nguyên

Các hoạt động nghiên cứu, khảo sát, quy hoạch và phát triển tài nguyên du lịch thời gianqua đã có những bước phát triển đáng kể Hiện nay, nhiều di sản vật thể, phi vật thể đượcnghiên cứu, bảo tồn và được công nhận là di sản văn hóa các cấp từ Trung ương đến địaphương Nhiều danh thắng, tài nguyên thiên nhiên được công nhận là khu bảo tồn và cácvườn quốc gia, đang được quản lý và bảo vệ trên khắp cả nước Hơn 20 di sản thiên nhiên

và văn hóa đã được tổ chức UNESCO công nhận và vinh danh, có những giá trị tài nguyên

đã được phát hiện tại Việt Nam có giá trị đặc biệt, duy nhất trên phạm vi toàn cầu Bêncạnh đó, ngành Du lịch đã triển khai xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch của

Trang 10

Việt Nam các giai đoạn 1995 đến 2000, giai đoạn 2001 đến 2010, và quy hoạch tổng thểđến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030, trên cơ sở đó, ngành Du lịch đã triển khai xâydựng quy hoạch phát triển du lịch theo đặc điểm tài nguyên của từng vùng.

Những di sản thiên nhiên và di sản văn hóa vật thể tại Việt Nam

Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng Quảng Bình 2003,2015

Quần thể di tích cố đô Huế Thừa Thiên-Huế 1993

Những di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên Tây Nguyên 2005

Hương (Hà Nội), chùa Yên Tử, Bà Vàng (Quảng Ninh)…

Trang 11

Nguồn lực về vốn

Ngành Du lịch Việt Nam đã có các cách thức huy động, khai thác và phát huy nguồn lựcvốn thông qua các phương thức cụ thể: tăng cường đầu tư theo phương thức các chươngtrình hành động quốc gia, các năm du lịch, trong đó có việc tập trung đầu tư đồng bộ quyhoạch phát triển, đầu tư cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ du lịch và triển khaicác hoạt động xúc tiến quảng bá cho vùng hoặc địa phương theo từng chủ đề; thu hút cácnguồn vốn đầu tư nước ngoài thông qua các nguồn đầu tư trực tiếp FDI, các nguồn vốnviện trợ phát triển ODA Nhiều khu du lịch, khách sạn cao cấp, khu nghỉ dưỡng cao cấp(resorts), nhiều hãng lữ hành quốc tế được đầu tư và khai thác kinh doanh hiệu quả Một

số thương hiệu du lịch lớn như Accor, Sheraton, Hilton, Prince, Nikko… đến từ các cườngquốc về du lịch đã đầu tư tại Việt Nam, qua đó, diện mạo của cơ sở vật chất kỹ thuật dulịch tại Việt Nam đã thay đổi Nhiều cơ sở kinh doanh du lịch có chất lượng đạt chuẩn quốc

tế được vận hành và dần nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch của Việt Nam

Ngoài ra, phương thức xã hội hóa trong huy động các nguồn lực tài chính đã được triểnkhai trong giai đoạn vừa qua; các doanh nghiệp đã chủ động tham gia đầu tư quy hoạch,phát triển tài nguyên, sản phẩm du lịch của ngành và địa phương, như trường hợp tỉnhNinh Bình đã triển khai rất tốt phương thức này

Đóng góp vào sự tăng trưởng của ngành khách sạn - nghỉ dưỡng là những tên tuổi lớntrong nước như Vingroup, Sun Group với nhiều dự án nghỉ dưỡng hạng sang theo tiêuchuẩn quốc tế nằm tại các địa điểm du lịch nổi tiếng như Đà Nẵng, Nha Trang, Phú Quốc Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp ngoại cũng nhắm vào ngành khách sạn tại Việt Nam Sốlượng dự án mang thương hiệu nước ngoài và sự điều hành của nhà điều hành nước ngoàităng từ 30 vào năm 2010 lên đến 79 dự án vào cuối năm 2017 Savills ước tính sẽ có hơn30.000 phòng khách sạn sẽ được đưa vào thị trường đến năm 2019

Sự tăng trưởng này càng rõ rệt trong đầu năm 2018 khi thị trường liên tục công bố cácthương hiệu điều hành mới như Mandarin Oriental (TP HCM), Movenpick (TP HCM), BestWestern Premier (Quảng Bình)

Theo thống kê, tỉnh hiện có khoảng 45 dự án trong lĩnh vực du lịch - dịch vụ với tổng vốnđầu tư khoảng 4,5 tỷ USD và chiếm tới 81% tổng vốn đầu tư FDI Điển hình là dự án khunghỉ dưỡng Nam Hội An của Công ty trách nhiệm hữu hạn Phát triển Nam Hội An

Trang 12

(Singapore) với tổng vốn đầu tư 4 tỷ USD hay Vingroup cũng mới vận hành dự án VinpearlNam Hội An - điểm đến mới của khách du lịch.

Mới đây, Suncity Group - Tập đoàn nghỉ dưỡng lớn nhất Macau cũng công bố xây dựng khunghỉ dưỡng phức hợp Hoiana với quy mô 4 tỷ USD tại Hội An Chủ đầu tư kỳ vọng Hoiana

sẽ là một trong những dự án nghỉ dưỡng phức hợp có casino lớn nhất được cấp phép tạiViệt Nam

Nguồn lực về con người

Hiện tại, cả nước mới có trên 1,3 triệu lao động du lịch, chiếm khoảng 2,5% tổng lao động

cả nước; trong đó chỉ có 42% được đào tạo về du lịch, 38% được đào tạo từ các ngànhkhác chuyển sang và khoảng 20% chưa qua đào tạo chính quy mà chỉ được huấn luyện tạichỗ

Chính vì thế, số lao động có chuyên môn, kỹ năng cao vừa thiếu, vừa yếu, nhưng số laođộng chưa đáp ứng yêu cầu lại dư thừa Theo Tổng cục Du lịch, với tốc độ tăng trưởng nhưhiện nay, yêu cầu mỗi năm phải đào tạo thêm 25.000 lao động mới và phải đào tạo lại sốlượng tương tự

Thực tế, mỗi năm, các trường đào tạo chuyên ngành về du lịch chỉ đáp ứng được 60% nhucầu của ngành, dẫn đến tình trạng thiếu trầm trọng nguồn nhân lực du lịch Theo Phó Chủtịch Thường trực Hiệp hội Du lịch Việt Nam Vũ Thế Bình: Tiềm năng của du lịch Việt Namvượt trội hơn so với các nước trong khu vực

Dự báo thời gian tới tốc độ tăng trưởng của ngành đạt từ 25 - 35%/năm và theo kế hoạchđến năm 2020, ngành kinh tế xanh cần khoảng trên 2 triệu lao động chất lượng cao, chưa

kể hàng nghìn lao động lĩnh vực du lịch tàu biển Hiện nay, hàng loạt khách sạn 4, 5 saoliên tục được các DN lớn đầu tư đưa vào hoạt động như VinGroup, SunGroup, FLC,Saigontourist…

Không chỉ ở lĩnh vực lưu trú, việc thiếu hướng dẫn viên, đặc biệt là hướng dẫn viên chấtlượng cao cũng đang khiến các DN lữ hành đau đầu Hiện cả nước có hơn 13.500 hướngdẫn viên quốc tế phục vụ cho gần 13 triệu lượt khách quốc tế và hơn 7 triệu lượt kháchViệt Nam ra nước ngoài; hơn 8.200 hướng dẫn viên nội địa phục vụ hơn 73 triệu lượtkhách Trong khi ước tính, để phục vụ lượng khách trên, cần tối thiểu khoảng 25.000hướng dẫn viên quốc tế và 50.000 hướng dẫn viên nội địa

Trang 13

Thế nên, vào mùa cao điểm du lịch hè, tour trong nước bán chạy khiến các DN phải tuyểnthêm hướng dẫn viên tự do Giám đốc Công ty Du lịch hàng không Avitour Nguyễn TrungQuân chia sẻ: "Bình thường, công tác phí của hướng dẫn viên nội địa khoảng 400.000đồng mỗi ngày nhưng mùa này, trả 600.000 – 700.000 đồng cũng khó tìm người Thậm chí,

có hướng dẫn viên nhận lời đi tour nhưng đến phút chót lại hủy vì nơi khác trả công tácphí cao hơn”

Quản lý các điểm đến du lịch

Theo nhận định của Lãnh đạo Sở Du lịch tỉnh Khánh Hòa, sự tăng trưởng của thị trườngkhách Trung Quốc là dấu hiệu đáng mừng, nhưng đã tạo nên sức ép đáng kể với công tácquản lý… Mối lo ngại lớn nhất hiện nay là một số người Trung Quốc, Hàn Quốc và Ngadùng visa du lịch đến Khánh Hòa hành nghề hướng dẫn viên, kinh doanh du lịch trái phép.Bên cạnh đó, ngày càng phổ biến tình trạng các DN không duy trì các điều kiện kinh doanh

lữ hành trong suốt quá trình kinh doanh; sử dụng người không có thẻ hướng dẫn viên, sửdụng người nước ngoài để hướng dẫn cho khách… Điều này đã vi phạm các quy định củaLuật Du lịch, ảnh hưởng không tốt đến chất lượng dịch vụ và hình ảnh du lịch Việt Nam,gây nhiều bức xúc trong dư luận

Để chấn chỉnh tình trạng trên và để làm sạch môi trường du lịch, loại trừ các hướng dẫnviên “chui”, vừa qua, Tổng cục Du lịch đã có văn bản yêu cầu Sở Du lịch, Sở Văn hóa, Thểthao và Du lịch các tỉnh, thành phố tăng cường công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực

lữ hành; tổ chức các đoàn thanh tra, kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh lữ hành vàhoạt động hướng dẫn du lịch Nếu phát hiện vi phạm cần xử lý nghiêm để nâng cao ý thứcchấp hành pháp luật trong lĩnh vực du lịch của các tổ chức và cá nhân đang hoạt độngtrong lĩnh vực du lịch tại Việt Nam, đồng thời bảo đảm quyền lợi chính đáng của khách dulịch

Đánh giá một số điểm đến du lịch tại Việt Nam

Đà Nẵng

Nguồn lực tự nhiên

Hầu hết các yếu tố đều được đánh giá khá cao so với các điểm đến cạnh tranh trong nước

và quốc tế, đặc biệt là các yếu tố Phong cảnh thiên nhiên hấp dẫn và Bãi biển đẹp được

Trang 14

đánh giá cao hơn hẳn ngay cả đối với các điểm đến quốc tế những bãi biển đẹp vang danhthế giới như: biển Non Nước, Mỹ Khê, bán đảo Sơn Trà,… mang đến cho du khách những trải nghiệm đặc biệt khó quên khi có dịp đến với “thành phố đáng sống nhất Việt Nam”

Sở hữu rất nhiều cảnh quan thiên nhiên đa dạng, Đà Nẵng không chỉ thu hút du khách với bãi biển dài hơn 60 km, được tạp chí Forbes của Mỹ bình chọn là 1 trong 6 bãi biển quyến

rũ nhất hành tinh, mà còn có rất nhiều cảnh quan ấn tượng như bán đảo Sơn Trà, khu du lịch Bà Nà Hills, danh thắng Ngũ Hành Sơn

Yếu tố Khí hậu thuận lợi: Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam Mỗi năm

có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài Đànẵng sở hữu những điều kiện tự nhiên thuận lợi với nền khí hậu ôn hòa, mát mẻ quanh năm tạo điều kiện tối đa cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng Được đánh giá khá cao so với các điểm du lịch khác trong nước

Yếu tố Hệ động thực vật phong phú được đánh giá khá thấp, thấp hơn so với hai điểm đếnquốc tế và một điểm đến trong nước là Phuket, Bali và Nha Trang

Nguồn lực kế thừa

-Các lễ hội và sự kiện hấp dẫn

Có thể điểm qua các lễ hội nổi bật ở Đà Nẵng đó là

-Lễ hội Quan Thế âm-Lễ hội pháo hoa Quốc tế thường niên (27 - 28/03)

-Lễ hội Mục đồng vào ngày 27 và 28-11 tại xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang

-Bắn pháo hoa quốc tế Đà Nẵng : Tổ chức hàng năm Từ năm 2011 trở đi sẽ tổ chức vào dịp30/4 và 1/5

Ngoài ra Đà Nẵng còn là nơi đăng cai các sự kiện nổi bật có thể kể đến sắp tới đây là Vòng Chung kết cuộc thi Người mẫu thể hình vào tháng 04/2019

Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng 2019 vào dịp nghỉ 30/04-01/05

Và vòng chung kết cuộc thi “Hoa hậu Thế giới Việt Nam vào tháng 04/2019

Trang 15

-Về di tích lịch sử có thể điểm qua

Di tích đình Đại Nam được xây dựng năm Ất Tỵ (1905) là nơi thờ Thành hoàng bảo an chính trực, bổn xứ thổ thần và các vị tiền nhân của làng Đây là một ngôi đình có kiến trúc đặc biệt mang đậm dấu ấn văn hóa lịch sử thời Nguyễn

ngoài ra còn Di tích đình cổ Hải Châu, thành Điện Hải, lăng mộ Ông Ích Khiêm và nhà thờ phái chư tộc Quá Giáng

Các Làng nghề: Đà Nẵng có 3 làng nghề truyền thống nổi bật

Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước nằm ngay dưới chân núi Ngũ Hành Sơn thuộc phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng; du khách đến với thành phố biển rất yêu thích việcđến thăm làng nghề truyền thống này

Làng nước mắm Nam Ô thuộc phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng; đây

là nơi cho ra đời thứ đặc sản thơm ngon tuyệt hảo của thành phố biển – nước mắm Nam

Ô thơm ngon tinh khiết

Làng Chiếu Cẩm Nê nằm ở huyện Hòa Vang, chỉ cách trung tâm Đà Nẵng hơn 10km rất thuận tiện cho du khách khi đến thăm các điểm du lịch nổi tiềng tại Đà Nẵng kết hợp với thăm quan làng nghề thú vị này

Nguồn lực tạo ra

-Các tour và sản phẩm du lịch

Thời gian qua, lượng du khách quốc tế tới thăm Đà Nẵng ngày càng tăng, rất nhiều các dịch vụ tour du lịch với các mức giá cả khác nhau để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch , đặc biệt là các nhóm khách đến từ châu Âu, châu Mỹ, châu Á tạo thành các tuyến phố du lịch rất riêng ở phố An Thượng, Hồ Nghinh, Dương Đình Nghệ kéo theo sự phát triển các sản phẩm du lịch, dịch vụ riêng tại các khu vực này

Tuy nhiên,các sản phẩm du lịch tại các khu vực trên mới dừng lại ở mức độ nhất định, chưa đáp ứng yêu cầu thực tế Khu du lịch An Thượng đang được Sở Du lịch tham mưu thành phố đầu tư đang được kỳ vọng sẽ tạo ra một điểm đến cho du khách quốc tế về đêm

Theo đại diện các đơn vị lữ hành, những phố chuyên doanh ẩm thực Huỳnh Thúc Kháng,

Trang 16

thời trang Lê Duẩn hoạt động vài năm trở lại đây tại Đà Nẵng chủ yếu phục vụ cho người địa phương, chưa thực sự trở thành sản phẩm thu hút khách du lịch do thiếu sự đa dạng

và đồng bộ

Các du khách đến Đà Nẵng đang cần là các khu chợ đêm, phố đi bộ, phố vui chơi giải trí Ngoài ra, Đà Nẵng nên nhanh chóng triển khai các sản phẩm du lịch biển như dù bay, dù lượn, lặn ngắm san hô, đi bộ dưới nước, tour trong vịnh , các sản phẩm gắn với văn hóa bản địa, các chương trình biểu diễn qui mô lớn, các điểm mua sắm tập trung cho khách dulịch

Có nghĩa là có rất nhiều việc để làm trong cuộc tìm kiếm, xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng của thành phố bên bờ sông Hàn

Bên cạnh đó hệ thống nhà nghỉ khách sạn ở Đà Nẵng cực kì phong phú đầy đủ cho mọi nhu cầu của khách hàng, đặc biệt là hệ thống khách sạn nhà nghỉ trải dọc theo các tuyến đường Nguyễn Tất Thành,Trường Sa và Hoàng Sa Một ưu điểm nổi trội khi bạn ở tại các khách sạn này đó là có thể dễ dàng ngắm biển Còn gì tuyệt vời hơn khi mỗi sáng thức dậy

du khách có thể đi dạo trên bờ biển, ngắm bình minh hay tận hưởng vẻ đẹp tuyệt diệu củathiên nhiên khi hoàng hôn buông xuống Vào mùa hè nắng nóng thì lưu trú tại các khách sạn Đà Nẵng gần biển sẽ mang lại cho du khách một cảm giác vô cùng thư thái khi được đón nhận được những cơn gió mát lành từ biển thổi vào

-Về các hoạt động vui chơi giải trí:

Có thể nói đến Dana Beach Club nằm ngay trên Bãi biển Mỹ Khê Đây Là khu giải trí tổng hợp gồm nhà hàng, sân khấu ca nhạc, trình diễn thời trang ngoài trời hằng đêm, khu thể thao bãi biển với các hoạt động ván lướt, canô kéo, Jetsky, thuyền buồm, dù bay… và khu Beach Bar phục vụ 24/24 với nhạc disco và DJ Ngoài ra, tại đây còn tổ chức lửa trại, sinh hoạt ngoài trời cho các khách đoàn

Hay các khu Giải trí, Chơi game, Mua sắm tại các Siêu Thị Đà Nẵng VD như LOTTE Mart Đà Nẵng, Big C Đà Nẵng, Siêu thị Co.op Mart Đà Nẵng ngoài ra còn có các khu hoạt động ngoài trời như Công viên châu Á, Đường Hoa Bạch Đằng , Khu vui chơi Heilo Center

Trang 17

Hiện nay, bên cạnh các đường bay nội địa đến các thành phố lớn của Việt Nam, sân bay này chỉ còn một số ít các đường bay quốc tế Tuy nhiên, sân bay quốc tế Đà Nẵng hiện vẫn

là cảng hàng không quan trọng nhất cho cả miền Trung và Tây Nguyên

-Đường sắt

Tuyến đường sắt huyết mạch Bắc - Nam chạy dọc thành phố với tổng chiều dài khoảng 30

km Trên địa bàn thành phố hiện nay có 5 ga: Ga Đà Nẵng, Ga Thanh Khê, Ga Kim Liên, Ga Hải Vân Nam và Ga Lệ Trạch Ga Đà Nẵng là một trong những ga trọng yếu nhất trên tuyến đường sắt Bắc - Nam, tất cả các chuyến tàu đều đỗ tại ga để đón và trả khách Tuy nhiên,

ga nằm ở trung tâm thành phố nên thường gây ra tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm môi trường cùng các tệ nạn xã hội

Ngày đăng: 04/08/2020, 20:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Một số mô hình và các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT điểm đến - tiểu luận kinh tế du lịch đánh giá năng lực cạnh tranh của các điểm du lịch việt nam
t số mô hình và các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT điểm đến (Trang 5)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w