Du lịch Việt Nam được Nhà nước Việt Nam xem là một ngành kinh tế mũi nhọn vì cho rằng đất nước Việt Nam có tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú.Trong xu thế giao lưu và hội nhập, Việt
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Hoạt động du lịch đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của xã hội loàingười Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã thành một nhu cầu không thểthiếu được trong đời sống văn hoá – xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triểnmột cách mạnh mẽ Du lịch Việt Nam được Nhà nước Việt Nam xem là một ngành kinh
tế mũi nhọn vì cho rằng đất nước Việt Nam có tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú.Trong xu thế giao lưu và hội nhập, Việt Nam trở thành điểm đến của bè bạn năm châu.Điều này đã thúc đẩy sự phát triển của Việt Nam về nhiều mặt, trong đó có sự phát triểncủa ngành du lịch Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) là một trong những địa phương
có sức thu hút đặc biệt đối với khách du lịch trong và ngoài nước, với bề dày văn hoá,lịch sử, với việc sở hữu nhiều di tích nổi tiếng, đồng thời cũng là nơi có tốc độ phát triểnkinh tế, văn hoá rất nhanh so với những địa phương khác trong cả nước Kể từ năm
2000 - năm đầu tiên của Chương trình hành động quốc gia về du lịch đến nay, ngành dulịch ở TP HCM có sự phát triển vượt bậc với những thế mạnh và những cơ hội đến từnhiều phía Tuy nhiên cùng sự phát triển của du lịch và các ảnh hưởng tích cực của nóđến sự phát triển bền vững của thành phố vẫn tồn tại những khiếm khuyết cần khắc phục
và những tác động tiêu cực cần phải tìm phương pháp giải quyết và hạn chế Chính vìvậy, với mong muốn trình bày và đưa ra các đề xuất giải pháp cho vấn đề nêu trên mà
nhóm 8 đã thực hiện bài tiểu luận với chủ đề: “Ảnh hưởng của phát triển du lịch tới
sự phát triển bền vững của TP Hồ Chí Minh và các định hướng phát triển”.
Trang 2NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG
1 Khái niệm phát triển du lịch bền vững
1.1 Phát triển
Phát triển là một khái niệm được đề cập đến ở nhiều mặt của cuộc sống, đặc biệt
là trong các lĩnh vực về kinh tế - xã hội với những quan điểm khác nhau Những nhà
khoa học phương Tây cho rằng khái niệm về “phát triển” mới chỉ xuất hiện vào đầu thế
kỉ XX và lúc đó khái niệm phát triển gắn với khái niệm văn minh Phát triển theo quan
điểm triết học là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp,
từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật Quá trình vận động đó diễn ra vừadần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Sự phát triển làkết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn
ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng
ở mức (cấp độ) cao hơn (Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác
-Lênin 2016)
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tínhchất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới Phát triển là một thuộc tính của vậtchất Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái khác nhau từkhi xuất hiện đến lúc tiêu vong,… nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấutranh giữa các mặt đối lập”
Theo GS Bùi Đình Thanh trong bài viết “Về khái niệm phát triển” có viết: “Pháttriển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc trong đó các chủthể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặcđiểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộcmình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt đượcnhững thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã
hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.” (Bùi Đình Thanh
2015)
Trang 31.2 Phát triển du lịch
a Du lịch
Du lịch là ngành dịch vụ hoạt động trong nền kinh tế nhằm thỏa mãn những nhucầu vui chơi giải trí, tìm hiểu thiên nhiên, các nét đẹp văn hóa…của dân cư các miềnkhác nhau trên thế giới để thu được lợi nhuận dựa trên nhiều góc độ tiếp cận
Tiếp cận dưới giác độ nhu cầu, du lịch là hiện tượng con người rời khỏi nơi cư
trú thường xuyên để đến một nơi xa lạ vì nhiều mục đích khác nhau ngoại trừ mục đíchkiếm việc làm (kiếm tiền) và trong thời gian đó (họ) phải tiêu tiền mà họ đã kiếm được
Tiếp cận dưới giác độ tổng hợp, Michael Coltman đã đưa ra khái niệm như sau:
“Du lịch là tổng thể những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh từ sự tác độngqua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, những nhà kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại,cộng đồng cư dân địa phương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lịch”
b Phát triển du lịch
Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến và pháttriển với tốc độ nhanh và ổn định Hội đồng Lữ hành và Du lịch quốc tế (World Traveland Tourism Council – WTTC) đã công nhận du lịch là ngành kinh tế lớn nhất thế giới.Việc đẩy mạnh phát triển du lịch thường được các quốc gia trên thế giới quan tâm đềcao vì tính hiệu quả và khả năng phát triển của “ngành công nghiệp không khói” nàyđược đánh giá là mang lại những tác động đáng kể đến với sự phát triển bền vững củamột quốc gia Phát triển du lịch có thể được hiểu là làm gia tăng sản lượng và doanh thucùng mức độ đóng góp của ngành du lịch cho nền kinh tế, đồng thời có sự hoàn thiện vềmặt cơ cấu kinh doanh, thể chế và chất lượng kinh doanh của ngành du lịch
1.3 Phát triển du lịch bền vững
a Phát triển bền vững
Theo khoản 4 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005: “Phát triển bền vững làphát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năngđáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữatăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”
Năm 1987, Uỷ ban Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc đã đưa ra khái
Trang 4nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệtương lai”.
Theo Gro Harlem Brundtlan – Chủ tịch ủy ban Quốc tế về Môi trường và Pháttriển (WCED): “Phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển đáp ứng được nhu cầucủa hiện tại mà không làm tổn thương khả năng của các thế hệ tương lai trong việc thỏamãn nhu cầu của chính họ”
b Phát triển du lịch bền vững
Phát triển du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách vàvùng du lịch mà vẫn bảo đảm những khả năng đáp ứng nhu cầu cho thế hệ tương lai.Phát triển du lịch luôn gắn với môi trường trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau Trong nênkinh tế - xã hội hiện đại, người ta nhận thấy sự cần thiết của phát triển du lịch theohướng bền vững Phát triển du lịch theo hướng bền vững thực chất cũng là phát triển dulịch bền vững nhưng sự bền vững chỉ lên định hướng của sự phát triển du lịch, có thểxem là mục tiêu trong sự phát triển du lịch
1.4 So sánh giữa phát triển và phát triển bền vững
Phát triển và phát triển bền vững đều là quá trình lâu dài và do các tác nhân nội tạigây nên và đều làm thay đổi theo hướng tiến bộ về mọi mặt của nền kinh tế, thay đổi về
cả lượng và chất trong xã hội và nền kinh tế của mỗi quốc gia Tuy nhiên về bản chấthai khái niệm này lại có những điểm khác nhau cần phân biệt rõ ràng
Phát triển hay xét cụ thể là phát triển kinh tế là sự thay đổi về chất trong cơ cấu
nền kinh tế – xã hội và dịch chuyển theo hướng tiến bộ Phát triển là điều kiện nâng caomức sống vật chất của một quốc gia kinh tế hướng tới là việc xóa đói giảm nghèo, suydinh dưỡng, tăng tuổi thọ trung bình, vấn đề việc làm, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế,nguồn nước…
Phát triển bền vững là khái niệm nâng cao hơn phát triển vì nó không chỉ đáp ứng
nhu cầu của hiện tại mà còn có khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai Pháttriển bền vững được đề cập bên cạnh những vấn đền môi trường, yếu tố xã hội hướngđến bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm môi trường, bảo vệ tài nguyên
Khi đề cập đến ngành du lịch, khai niệm phát triển du lịch theo hướng bền vữngđược sử dụng nhiều hơn và mang lại nhiều ý nghĩa đối với sự phát triển bền vững của
một quốc gia nói chung và của một khu vực cụ thể nói riêng Thứ nhất, phát triển du
Trang 5lịch theo hướng bền vững giúp cho ngành du lịch có cơ hội phát triển lâu dài và trởthành ngành kinh tế trọng ñiểm của nhiều địa phương, thậm chí của cả ngành kinh tế.
Thứ hai, thực hiện phát triển du lịch theo hướng bền vững góp phần tạo việc làm, xóa
ñói giảm nghèo, phát triển những vùng đồng bào dân tộc, miền núi, thay đổi tư duy tập
quán của dân cư, khôi phục, tôn tạo, bảo tồn văn hóa bản địa Thứ ba, nó giúp nâng cao
hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm phá rừng và tài nguyên khác, khôi phục, tôn tạo, gìngiữ danh lam thắng cảnh, tài nguyên thiên nhiên
2 Các tiêu chí đánh giá:
2.1 Đối với phát triển bền vững
2.1.1 Về kinh tế
Phát triển bền vững về kinh tế là phát triển nhanh và an toàn, chất lượng Điều
đó đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc với nhữngnguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tàinguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế được chia sẻ một cách bình đẳng Yếu tốđược chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ tậptrung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của hệ sinh tháicũng như không xâm phạm những quyền cơ bản của con người
Khía cạnh phát triển bền vững về kinh tế gồm một số nội dung cơ bản sau: Một là,
giảm dần mức tiêu phí năng lượng và các tài nguyên khác thông qua công nghệ tiết
kiệm và thay đổi lối sống Hai là, thay đổi nhu cầu tiêu thụ không gây hại đến đa dạng sinh học và môi trường Ba là, bình đẳng trong tiếp cận các nguồn tài nguyên, mức sống, dịch vụ y tế và giáo dục Bốn là, xóa đói, giảm nghèo tuyệt đối Năm là, công
nghệ sạch và sinh thái hóa công nghiệp (tái chế, tái sử dụng, giảm thải, tái tạo nănglượng đã sử dụng) Như vậy, có thể nhận định rằng nền kinh tế được coi là bền vững cầnđạt được những yêu cầu sau:
Thứ nhất, tăng trưởng GDP và GDP đầu người đạt mức cao Nước phát triển có
thu nhập cao vẫn phải giữ nhịp độ tăng trưởng, nước càng nghèo có thu nhập thấp càngphải tăng trưởng mức độ cao Các nước đang phát triển trong điều kiện hiện nay cầntăng trưởng GDP vào khoảng 5%/năm thì mới có thể xem có biểu hiện phát triển bềnvững về kinh tế
Trang 6Thứ hai, cơ cấu GDP đồng đều và đi đúng định hướng phát triển Chỉ khi tỷ trọng
công nghiệp và dịch vụ trong GDP cao hơn nông nghiệp thì tăng trưởng mới có thể đạtđược bền vững
Thứ ba, tăng trưởng kinh tế phải là tăng trưởng có hiệu quả cao, không chấp nhận
tăng trưởng bằng mọi giá
2.1.2 Về xã hội
Phát triển bền vững về xã hội được đánh giá bằng các tiêu chí, như chỉ số pháttriển con người(HDI - Human Development Index), hệ số bình đẳng thu nhập, các chỉtiêu về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, hưởng thụ văn hóa Ngoài ra, bền vững về xã hội
là sự bảo đảm đời sống xã hội hài hòa; có sự bình đẳng giữa các giai tầng trong xã hội,bình đẳng giới; mức độ chênh lệch giàu nghèo không quá cao và có xu hướng gần lại;chênh lệch đời sống giữa các vùng miền không lớn
Công bằng xã hội và phát triển con người, chỉ số phát triển con người (HDI) làtiêu chí cao nhất về phát triển xã hội, bao gồm: thu nhập bình quân đầu người; trình độdân trí, giáo dục, sức khỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ về văn hóa, văn minh HDI cho tacái nhìn tổng quát về sự phát triển của một quốc gia
Phát triển bền vững về xã hội chú trọng vào sự công bằng và xã hội luôn cần tạođiều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơhội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được Phát triển bềnvững về xã hội gồm một số nội dung chính:
Một là, ổn định dân số, phát triển nông thôn để giảm sức ép di dân vào đô thị Hai là, giảm thiểu tác động xấu của môi trường đến đô thị hóa
Ba là, nâng cao học vấn, xóa mù chữ
Bốn là, bảo vệ đa dạng văn hóa
Năm là, bình đẳng giới, quan tâm tới nhu cầu và lợi ích giới
Sáu là, tăng cường sự tham gia của công chúng vào các quá trình ra quyết định.
2.1.3 Về môi trường
Phát triển bền vững về môi trường là một tiêu chí đánh giá vô cùng quan trọng
vì môi trường ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống của loài người Quá trình công nghiệp
Trang 7hóa, hiện đại hóa, phát triển nông nghiệp, du lịch; quá trình đô thị hóa, xây dựng nôngthôn mới,… đều tác động đến môi trường và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường,điều kiện tự nhiên Bền vững về môi trường là khi sử dụng các yếu tố tự nhiên đó, chấtlượng môi trường sống của con người phải được bảo đảm Đó là bảo đảm sự trong sạch
về không khí, nước, đất, không gian địa lý, cảnh quan Chất lượng của các yếu tố trênluôn cần được coi trọng và thường xuyên được đánh giá kiểm định theo những tiêuchuẩn quốc gia hoặc quốc tế
Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và cảithiện chất lượng môi trường sống Phát triển bền vững về môi trường đòi hỏi chúng taduy trì sự cân bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyênthiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác nhữngnguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiệnsống cho con người và các sinh vật sống trên trái đất Phát triển bền vững về môi trườnggồm những nội dung cơ bản:
Một là, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo
Hai là, phát triển không vượt quá ngưỡng chịu tải của hệ sinh thái
Ba là, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ tầng ôzôn;
Bốn là, kiểm soát và giảm thiểu phát thải khí nhà kính
Năm là, bảo vệ chặt chẽ các hệ sinh thái nhạy cảm
Sáu là, giảm thiểu xả thải, khắc phục ô nhiễm (nước, khí, đất, lương thực thực
phẩm), cải thiện và khôi phục môi trường những khu vực ô nhiễm…
Như vậy, phát triển bền vững được đánh giá trên sự phát triển về kinh tế, xã hội
và môi trường Phát triển du lịch đúng hướng, lâu dài cũng góp phần phát triển bền vững tại mỗi địa phương hay quốc gia
2.2 Đối với phát triển du lịch bền vững
Du lịch bền vững có 3 hợp phần chính, đôi khi được ví như “ba chân” của sự phát
triển bền vững của một quốc gia hay một địa phương cụ thể (Bien, Amos 2004)
Thứ nhất, phát triển du lịch cần phải thân thiện môi trường Du lịch bền vững có
Trang 8thực vật, các sinh cảnh sống, nguồn lợi sống, sử dụng năng lượng và ô nhiễm …) và cốgắng có lợi cho môi trường.
Thứ hai, du lịch phát triển trong sự gần gũi về xã hội và văn hoá Nó không gây
hại đến các cấu trúc xã hội hoặc văn hoá của cộng đồng nơi mà chúng được thực hiện.Thay vào đó thì nó lại tôn trọng văn hoá và truyền thống địa phương Khuyến khích cácbên liên quan (các cá nhân, cộng đồng, nhà điều hành tour, và quản lý chính quyền)trong tất cả các giai đoạn của việc lập kế hoạch, phát triển và giám sát, giáo dục các bênliên quan về vai trò của họ
Thứ ba, hoạt động du lịch mang lại sự phát triển cho nền kinh tế Nó đóng góp về
mặt kinh tế cho cộng đồng và tạo ra những thu nhập công bằng và ổn định cho cộngđồng địa phương cũng như càng nhiều bên liên quan khác càng tốt; đồng thời mang lợiích cho người chủ, cho nhân viên và cả người xung quanh Việc thực hiện phát triển dulịch không bắt đầu một cách đơn giản để sau đó sụp đổ nhanh do các hoạt động kinhdoanh nghèo nàn
Một đơn vị kinh doanh du lịch mà có đủ 3 tiêu chí trên thì “sẽ kinh doanh tốt nhờlàm tốt” Điều này có nghĩa là việc thực hiện kinh doanh du lịch trong nhiều cách có thểkhông phá huỷ các nguồn lợi tự nhiên, văn hoá và kinh tế, nhưng cũng khuyến khíchđánh giá cao những nguồn lợi mà du lịch phụ thuộc vào Việc kinh doanh mà được thựchiện dựa trên 3 tiêu chí này có thể tăng cường việc bảo tồn nguồn lợi tự nhiên, đánh giácao giá trị văn hoá và mang lợi tức đến cho cộng đồng và có thể cũng sẽ thu lợi tức
Trang 9II ĐẶC ĐIỂM DU LỊCH TP HỒ CHÍ MINH
Với những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, vốn và nhân lực, dulịch TP.HCM đã có những đóng góp lớn vào du lịch Việt Nam
1 Thực Trạng Nguồn Lực Lu Lịch TP HCM
TP HCM có những lợi thế về vị trí địa lý, khí hậu, lại là một trung tâm văn hóa,giáo dục, thương mại, giao thông của cả nước nên đã trở thành một trong những thànhphố đi đầu trong du lịch Việt Nam Trong giai đoạn 2006-2011, Thành phố đã đónkhoảng 60% lượng khách quốc tế đến Việt Nam Doanh thu du lịch của Thành phố
chiếm 43% doanh thu du lịch cả nước và đóng góp 11% vào GDP của Thành phố (Viện
Nghiên cứu Phát triển Du lịch, 2011).
1.1 Tài nguyên du lịch
Về vị trí địa lý, TP.HCM nằm ở miền nam của Việt Nam, phía Bắc giáp TâyNinh, Bình Dương, phía Đông giáp Đồng Lai, phía Tây giáp Long An, phía Nam giápbiển Đông và Tiền Giang Đây là vị trí thuận lợi giúp TP.HCM trở thành trung tâmtrung chuyển giữa các vùng, kết nối với thế giới
Khí hậu thành phố chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa (tháng 5 đến tháng 11) và mùakhô (tháng 12 đến tháng 4 sang năm), nhiệt độ trung bình năm tầm 27,55oC và ít chịuảnh hưởng của gió bão Đó là điệu kiện lý tưởng để phát triển du lịch quanh năm
Thành phố có kệ thống kênh rạch lớn, rừng ngập mặn Cần Giờ với 15km đườngbiển, 69 cù lao lớn nhỏ với hệ sinh thái đa dạng sinh học cao, vườn cò Thủ Đức với
2000 con,v.v Bên cạnh đó còn kết hợp đầu tư xây dựng công viên, hệ sinh thái nhưThảo Cầm Viên, Suối Tiên, Đầm Sen,…Tuy số lượng lớn nhưng do chưa có sự quảng
bá tương xứng, thiếu đầu tư cải tạo nên còn nhàm chán với khách du lịch nội địa, chưathu hút được khách du lịch nước ngoài
Các trung tâm mua sắm cao cấp như Vincom, Diamon Plaza, Parkson Plaza, hệthống siêu thị Big C, hệ thống chợ bình dân, cửa hàng lưu niệm, sân khấu, phòng trà.Các lễ hội, sự kiện văn hóa lớn như Ngày hội Du Lịch, Ngày hội trái cây Nam Bộ,
“TP.HCM-100 điều thú vị”,…cũng góp phần làm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịchnhưng vẫn chưa khai thác xứng với tiềm năng
Trang 101.2 Nhân lực du lịch
Theo thống kê năm 2013 của Sở du lịch, số cán bộ, nhân viên có trình độ đại học
về du lịch Thành phố là 7425 người, chiếm 21,63% lao động trong ngành du lịch thànhphố nhưng trong đó chỉ có 825 người được đào tạo chuyên sâu về ngành du lịch Tìnhtrạng trên trong những năm gần đây con số trên đã được cải thiện, các doanh nghiệpkhông còn tình trạng thiếu hụt lao động nhưng chất lượng vẫn cần được quan tâm Đángnói đến là trình độ ngoại ngữ có thể coi là nguyên nhân chính dẫn đến giảm sự cạnhtranh du lịch của thành phố
1.3 Cơ sở lưu trú
Theo thống kê Sở du lịch TP.HCM thì thành phố chỉ có 126 khách sạn từ 3-5sao, năm 2010 có 655 doanh nghiệp lữ hành và 337 doanh nghiệp lữ hành quốc tế.Thành phố đứng đầu cả nước về số lượng doanh nghiệp lữ hành quốc tế đã nói lênlượng khách quốc tế đến TP.HCM lớn nhất trong cả nước Để đáp ứng nhu cầu kháchtham quan, cơ sở lưu trú, buồng lưu trú tại thành phố luôn dứng đầu cả nước, lớn hơn vịtrí thứ hai từ 35-50% Các khách sạn lớn Renaissance Riverside, Ommi, Lengend,Sofitel Plaza, Saigon Prince,…đều có hệ thống đặt phòng toàn cầu, trang thiết bị hiệnđại, dịch vụ chất lượng cao, khả năng tổ chức hội nghị, hội thảo lớn Tuy nhiên đều cóvốn của nước ngoài, các khách sạn từ 3 sao trở xuống thì chất lượng không đều Còn cáckhách sạn, nhà nghỉ chưa được xếp loại thì đa số trang thiết bị cũ, hoạt đông chưa khởi
sắc (Nguyễn Cao Trí 2011)
Bảng 1 Cơ sở lưu trú-buồng lưu trú tại VN và TP.HCM giai đoạn 2015-2017
Nguồn: Sở du lịch TP.HCM, Cơ sở dữ liệu 2017
1.4 Giao thông vận tải
Nhờ điều kiện tự nhiên và hệ thống sân bay, đường sắt, đường thủy, đường bộphát triển nên TP.HCM trở thành đầu mối giao thông của cả miền Nam và một trong haithành phố có hệ thống trung chuyển lớn nhất cả nước
Trang 11Giao thông đường không: Sân bay Tân Sơn Nhất lớn nhất cả nước về diện tích và
cả công suất nhưng so với các sân bay quốc tế trong khu vực thì vẫn còn yếu kém Hệthống đang từng bước được hiện đại hóa nhưng chưa đồng bộ và xuống cấp nhanh, chấtlượng chuyến bay thường chưa thực sự tốt
Giao thông đường sắt: Có hệ thống đường sắt nối liền Bắc-Nam, hai nhà ga lớn
chính là Sóng Thần và Sài Gòn, nhiều nhà ga nhỏ Tuy nhiên hệ thống đường sắt cũ kĩkhông được nâng cấp dẫn đến tình trạng di chuyển lâu chi phí cao Hệ thống đường sắtchỉ chuyển trở 0,6% lượng khách du lịch
Giao thông đường bộ: TP.HCM có có 6 bến xe khách liên tỉnh được phân bố ở
các cửa ngõ ra vào, vận chuyển khách bằng đường bộ chiến tới 98% Nhưng cũng nhưcác bến xe trong nước, sự xuống cấp, trả đón khách bừa bãi vẫn còn là điều đáng quanngại của thành phố
1.5 Vốn
Theo Niên giám thống kê Việt Nam và TP HCM, tổng vốn đầu tư xây dựngTP.HCM chiến 15-18% tổng vốn đầu tư xây dựng cả nước trong những năm gần đây,đối với huy động vốn thường có tỷ kệ cao hơn trung bình cả nước Cho thấy ngồn vốnthành phố không quá phục thuộc vào ngân sách nhà nước hay nước ngoài, nguồn vốnlớn, dồi dào
Tổng kết lại, phân tích nguồn lực du lịch TP.HCM cho thấy thành phố có đầy đủcác tiềm quang quan trọng để phát triển ngành du lịch Tuy nhiên lại thiếu tính ổn định,không đủ để đáp ứng phát triển lâu dài trong tương lai
2 Thực Trạng Du Lịch TP.HCM
2.1 Lượt khách đến
Trong những năm gần đây, TP.HCM luôn có lượt khách đến cao nhất trong cảnước Lượng khách gia tăng nhưng chậm hơn so với tốc độ trung bình cả nước Nếunăm 2009 lượng khách đến thành phố HCM chiếm 70% cả nước thì năm 2015 chỉchiếm 48,6% (Niên giám thống kê, 2009) Sự sút giảm này báo hiệu sự vươn lên của cácthành phố khác cũng là dấu hiệu báo về sự dần mất lợi thế của TP.HCM nếu không tạo
ra được những lợi thế du lịch
Trang 12Khách nội địa đến thành phố thường chiếm 1/3 và mức tăng trưởng bình quân là13.25% Nếu so với khách nội địa của thành phố Hà Nội và tốc độ tăng trưởng thìTP.HCM có vẻ yếu thế hơn Lượng cầu đa dạng, phong phú cùng với khách có thu nhậpcao chiếm tỷ trọng lớn đã góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp thanh phố nâng cao chấtlượng dịch vụ.
Bảng 2 Lượt khách quốc tế đến VN và TPHCM giai đoạn 2005 - 2011
Lượt khách Tỷ lệ tăng
Lượt khách Tỷ lệ tăng Tỷ lệ khách
Nguồn: Viện nghiên cứu Phát triển du lịch (2012)
Bảng 3 Lượt khách nội địa đến VN và TPHCM giai đoạn 2005-2009
thành phố hay do đã bỏ quên một số bộ phận khách hàng quan trọng? (Nguyễn Lan
Hương, 2013) Theo thống kê chi tiêu thuê phòng bình quân một ngày ở TP.HCM rẻ
hơn Hà Nội trong khi đó chi các khoản vui chơi, mua sắm, ăn uống lại cao hơn Hà Nội
Trang 13vậy nguyên nhân có thể bắt đầu từ thành phố đã bỏ quên một bộ phận khách hàng nộiđịa quan trọng.
Bảng 4 Thu nhập từ du lịch của VN, HN, TPHCM giai đoạn 2007-2009
nhập của Năm du của thu du của thu du lịch thu nhập du lịch
Trang 14III ẢNH HƯỞNG CỦA PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỚI SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA TP HỒ CHÍ MINH
1 Ảnh hưởng kinh tế
1.1 Tăng trưởng GDP của thành phố HCM
Xét toàn cảnh nền kinh tế Việt Nam, du lịch là một trong những ngành kinh tế giữđược sự tăng trưởng liên tục, tạo ra nhiều việc làm và đóng góp lớn vào sự phát triểnkinh tế Với Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã xác định rõ phát triển du lịch thành ngànhkinh tế mũi nhọn, ban hành nhiều chính sách để tạo thuận lợi cho du lịch phát triển Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới, ngành du lịch – lữ hành đóng góp trực tiếpcho GDP Việt Nam 294 tỉ đồng chiếm 5,9% tổng GDP năm 2017, và dự đoán sẽ tiếp tụctăng lên
Đối với thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, ngành du lịch đã và đang trở thành mộttrong ba ngành kinh tế mũi nhọn hàng đầu của TPHCM với doanh thu tăng trưởng mỗinăm 15-16% và đến năm 2020 sẽ đạt đến 165.000-170.000 tỉ đồng, đóng góp trên 11%trong cơ cấu GDP của thành phố
Tuy nhiên, tiềm năng du lịch của thành phố vẫn chưa được khai thác một cáchtriệt để và hiệu quả Với đặc điểm du lịch về thu nhâp từ du lịch và lượt khách đến đã đềcập phần II phần nào đã chứng minh rõ điều này, dù Hồ Chí Minh là đầu tàu của nềnkinh tế nước ta song vẫn còn nhiều mặt hạn chế cần khắc phục để giữ vững tốc độ tăngtrưởng du lịch trong GDP thành phố
1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế được xem là một trong những giảipháp hàng đầu của TP Hồ Chí Minh trong giai đoạn hội nhập kinh tế toàn cầu theohướng bền vững Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế của TP Hồ Chí Minh đã chuyểndịch đúng hướng, giảm tỷ trọng của các ngành sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng củacác ngành phi nông nghiệp trong tổng GDP
Trang 151.2.1 Chuyển dịch cơ cấu khu vực kinh tế
Bảng 5 Cơ cấu GDP trên địa bàn TP Hồ Chí Minh chia theo khu vực kinh tế giai đoạn 2000 – 2014 (tính theo giá thực tế) Nông nghiệp -
Công nghiệp
xây dựng thủy sản
Nguồn: Niên giám thống kê TP Hồ Chí Minh các năm 2000 – 2014
Trong giai đoạn 2000 – 2014, cơ cấu kinh tế của TP Hồ Chí Minh đã chuyển dịchtích cực theo hướng, giảm dần tỷ trọng GDP hai khu vực nông nghiệp – lâm nghiệp –thủy sản và công nghiệp – xây dựng, đồng thời tăng dần tỷ trọng GDP khu vực dịch vụ
Sự chuyển dịch này đã và đang đi đúng hướng theo định hướng của Chính phủ và của
Trang 16Khu vực nông nghiệp – lâm nghiệp – thủy sản giảm dần từ 1,96% năm 2000,xuống còn 1,00% năm 2014 vẫn còn cao so với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -
xã hội của Thành phố Khu vực công nghiệp – xây dựng giảm từ 45,41% năm 2000xuống còn 39,40% năm 2014 Khu vực dịch vụ tăng dần từ 52,63% năm 2000 lên59,60% năm 2014 Như vậy, tính đến cuối năm 2014, cơ cấu kinh tế trên địa bàn Thành
phố là dịch vụ – công nghiệp, xây dựng – nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản (Vương
Đức Hoàng Quân 2016)
1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu theo nhóm ngành kinh tế
Trong giai đoạn 2000 – 2014, ngành dịch vụ trung gian tài chính có bước pháttriển mang tính đột phá, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng cho toàn khu vực dịch vụ Tỷtrọng gia tăng đáng kể từ 3,18% năm 2000 lên 11,07% năm 2014 trong cơ cấu GDPdịch vụ TP Hồ Chí Minh… Dịch vụ khoa học – công nghệ, có tỷ trọng đóng góp vàoGDP trong khu vực dịch vụ giai đoạn 2000 – 2014 tăng cao
Năm 2000, tỷ trọng từ 0,31%, tăng lên 5,5% GDP năm 2014 cho thấy, lĩnh vựcnày đã nhận được nhiều sự quan tâm và đầu tư phát triển hơn so với thời gian trước đây.Dịch vụ thương nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất, đồng thời có xu hướng ổn định quacác năm trong giai đoạn 2000 – 2014 Thành phố hiện có hơn 350.000 cơ sở thươngmại, 243 chợ, 184 siêu thị, 30 trung tâm thương mại, 475 cửa hàng tiện ích và 2.310 vănphòng đại diện nước ngoài
Dịch vụ vận tải – thông tin liên lạc cũng chiếm tỷ trọng cao và tăng dần qua cácnăm, từ 8,82% năm 2000 lên 12,15% năm 2014 Giai đoạn 2011 – 2014, nhiều côngtrình giao thông đã hoàn thành và đưa vào sử dụng; đồng thời, tiếp tục khởi công nhiều
dự án xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông quan trọng khác…
Như vậy, tỷ trọng ngành phi nông nghiệp bao gồm du lịch và các loại hình dịch vụkhác liên quan và hỗ trợ cho ngành công nghiệp không khói này ngày càng tăng, gópphần thúc đẩy phát triển kinh tế cả nước nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Trang 171.3 Rò rỉ thu nhập
Theo bảng 4 thực trạng du lịch thành phố HCM đã nêu ở phần 3 mục II, thu nhập
từ du lịch cũng như tỷ lệ tăng trưởng của thu nhập theo du lịch của thành phố có xuhướng giảm dần từ năm 2007-2009 cho thấy thu nhập bị rò rỉ
Nguyên nhân có thể xuất phát từ số lượng doanh nghiệp lữ hành quốc tế và cơ sởlưu trú có vốn từ nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn nhất cả nước Trong đó bao gồm cụ thểcác khách sạn lớn Renaissance Riverside, Ommi, Lengend,… đều có trang thiết bị nhậpkhẩu hiện đại từ các nước tiên tiến Điều này dẫn đến việc dù lượng khách du lịch nộiđịa và quốc tế lớn nhưng việc lựa chọn tin dùng hàng hóa du lịch nội địa còn bị hạn chế
do vấn đề như chất lượng
1.4 Mức giá cả địa phương gia tăng
Rõ ràng rằng khi cầu du lịch (lượng khách du lịch) tăng dẫn đến cầu về hàng hóa
và dịch vụ thiết yếu tăng dẫn đến mức giá chung của địa phương đó đối với các loại hàng hóa thiết yếu tăng
Theo website cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh, chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng6/2018 của thành phố tăng 0,55% so với tháng 5/2018 và tăng 3.47% so với cùng kỳnăm trước trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0.84%; văn hóa giải trí và dulịch tăng 0,11%; nhà ở, điện nước, chất đốt, vật liệu xây dựng tăng 0,72% Như vậy mứcgiá chung của thành phố của giỏ hàng hóa và dịch vụ ở thành phố HCM có xu hướnggia tăng
2 Ảnh hưởng xã hội
Mạng lưới Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên Hợp Quốc (United Nation WorldTourism Organization Network - UNWTO) chỉ ra rằng du lịch bền vững cần phải đápứng được ba tiêu chí về kinh tế, môi trường và xã hội Trong đó, tiêu chí về văn hóa - xãhội được thể hiện qua sự tôn trọng tính chất xã hội và văn hóa của các cộng đồng địaphương, bảo tồn di sản văn hóa và các giá trị truyền thống đã được xây dựng và đangsống động, đóng góp vào sự hiểu biết và chia sẻ liên văn hóa Về kinh tế: Đảm bảo sựhoạt động kinh tế lâu dài, cung cấp lợi ích tới tất cả những người hưởng lợi và đượcphân bổ công bằng, bao gồm cơ hội việc làm và cơ hội thu lợi nhuận ổn định và các dịch
vụ xã hội cho các cộng đồng địa phương, đóng góp vào việc xóa đói, giảm nghèo tại địa