*Môi trường du lịch: là môi trường bao gồm các nhân tố về tự nhiên, kinh tế - xã hội và các yếu tố nhân văn trong đó có hoạt động du lịch tồn tại và phát triển .Các hoạtđộng du lịch có m
Trang 1CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Du lịch
Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư
trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu giải trí nghỉdưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ những người đi học,
đi làm việc hoặc những người có ngành nghề để nhận thu nhật ở nơi đến
Khách du lịch bao gồm: Khách du lịch nội địa và Khách du lịch quốc tế
Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức hoặc cá nhân kinh
doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch
Tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch là yếu tố then chốt quyết định sự phát triển
của ngành du lịch Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tíchlịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác
có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch Là yếu tố cơ bản để hình thành khu
du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch
Khu du lịch: là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch
tự nhiên, được quy hoạch đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đemlại hiệu quả về kinh tế-xã hội và môi trường
1.1.2 Môi trường
Môi trường bao gồm yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, quan hệ mật thiết
với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triểncủa con người và thiên nhiên
*Môi trường du lịch: là môi trường bao gồm các nhân tố về tự nhiên, kinh tế - xã
hội và các yếu tố nhân văn trong đó có hoạt động du lịch tồn tại và phát triển Các hoạtđộng du lịch có mối quan hệ khăng khiết với môi trường, tận dụng đặc tính của môi
Trang 2trường để phục vụ mục đích phát triển du lịch và tác động qua lại góp phần làm thay đổicác tính chất của môi trường.
Môi trường du lịch gồm 3 thành phần chính:
- Môi trường du lịch tự nhiên: Là một bộ phận cấu thành nên môi trường du lịch
nói chung, bao gồm tập hợp các đối tượng tự nhiên sống (hữu cơ ) và không sống ( vô
cơ ) Môi trường du lịch tự nhiên là toàn bộ không gian, lãnh thổ bao gồm các nhân tốthiên nhiên như : đất, nước, không khí, hệ động vật trên cạn và dưới nước… và các côngtrình kiến trúc cảnh quan thiên nhiên – nơi tiến hành các hoạt dộng du lịch Môi trường tựnhiên có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển và đa dạng hóa các hoạt động du lịch, tạotiền đề cho sự phát triển các khu du lịch
- Môi trường du lịch nhân văn: Môi trường du lịch nhân văn là một bộ phận của
môi trường du lịch liên quan trực tiếp đến con người và cộng đồng, bao gồm các yếu tố vềdân cư, dân tộc Gắn liền với các yếu tố dân cư, dân tộc là truyền thống, quan hệ cộngđồng, các yếu tố về lịch sử, văn hóa… Khi chúng ta đứng trên quan điểm môi trường thì
đó là những yếu tố tích cực của môi trường du lịch bởi vì đây không chỉ là đối tượng của
du lịch mà còn là yếu tố tạo sự hấp dẫn của môi trường du lịch bởi tính đa dạng củanhững giá trị nhân văn truyền thống của các cộng đồng dân tộc khác nhau Bên cạnh đó,
sự phát triển các yếu tố văn hóa, khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên nhân văn( di tíchlịch sử, di sản thế giới, lễ hội, ẩm thực, văn hóa dân tộc ) ở các điểm du lịch cũng chính
là những phương diện hữu hiệu nhằm nâng cao các giá trị nhân văn, tăng điều kiện thuậnlợi để thu hút du khách
- Môi trường du lịch kinh tế - xã hội: Môi trường kinh tế xã hội là toàn bộ hoàn
cảnh, hoạt động kinh tế, xã hội của một quốc gia, khu vực hay trên toàn thế giới Khi xemxét môi trường kinh tế xã hội thì cần xem xét rõ các yếu tố như thể chế chính sách, trình
độ phát triển khoa học công nghệ, mức độ phát triển cơ sở hạ tầng, môi trường đô thị vàcông nghiệp, mức sống của người dân, an toàn trật tự xã hội, tổ chức xã hội và quản lýmôi trường
Trang 31.2 Tác động của hoạt động du lịch tới môi trường
1.2.1 Mối quan hệ giữa môi trường và du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mà sự tồn tại và phát triển của nó tác độngqua lại với nhiều ngành kinh tế – xã hội, nhiều lĩnh vực, trong đó quan hệ giữa du lịch vàmôi trường gắn kết hữu cơ với nhau: sự tồn tại và phát triển của du lịch gắn liền với môitrường, du lịch phát triển chỉ khi môi trường được bảo vệ
Việc khai thác hợp lý, phục hồi, cải tạo và tái tạo tài nguyên du lịch sẽ làm tốt lênchất lượng môi trường du lịch, làm tăng sức hấp dẫn tại các điểm, khu du lịch Ngược lại,việc khai thác không đồng bộ, không có các biện pháp phục hồi, tái
Tạo tài nguyên du lịch sẽ dẫn đến việc phá vỡ cân bằng sinh thái, gây nên sự giảmsút chất lượng môi trường, sự đi xuống của hoạt động du lịch cũng như chất lượng củamôi trường du lịch ở khu vực đó
1.2.2 Tác động của du lịch tới môi trường
1.2.2.1 Ảnh hưởng tích cực từ hoạt động du lịch lên môi trường
Sự phát triển nhanh chóng của du lịch thời gian qua đã góp phần tích cực vào pháttriển kinh tế – xã hội của đất nước nói chung và nhiều địa phương nói riêng Hoạt động dulịch đã có những tác động góp phần làm tăng tính đa dạng sinh học, bảo tồn cảnh quan,thúc đẩy các hoạt động bảo vệ di tích lịch sử, di sản văn hóa, hoạt động của các làng nghềtruyền thống…
* Đối với môi trường tự nhiên:
Tăng hiệu quả sử dụng đất nhờ sử dụng quỹ đất còn trống hoặc sử dụng không hiệuquả Giảm sức ép do khai thác tài nguyên quá mức từ các hoạt động dân sinh, kinh tế tạicác khu vực nhạy cảm (vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên…)
Góp phần đảm bảo chất lượng nước trong và ngoài khu vực phát triển du lịch nếunhư các giải pháp kỹ thuật trong cấp thoát nước được áp dụng
Trang 4Tăng thêm mức độ đa dạng sinh học tại những điểm du lịch nhờ những dự án cócác công viên cảnh quan, khu nuôi chim thú… hoặc bảo tồn đa dạng sinh học thông quanuôi trồng nhân tạo phục vụ du lịch
Bổ sung vẻ đẹp cảnh quan cho khu vực phát triển du lịch nhờ các dự án thường cóyêu cầu tạo thêm các vườn cây, công viên cảnh quan, hồ nước, thác nước nhân tạo…
Hạn chế các lan truyền ô nhiễm cục bộ trong khu dân cư nếu như các giải pháp hạtầng kỹ thuật đồng bộ được áp dụng (ví dụ như đối với các làng chài ven biển trong khuvực được xác định phát triển thành khu du lịch biển…)
* Đối với môi trường nhân văn xã hội
Góp phần tăng trưởng kinh tế (chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xuất khẩu tại chỗ).Tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho một bộ phận cộng đồng dân cư địa phương.Góp phần cải thiện điều kiện về hạ tầng và dịch vụ xã hội cho địa phương (y tế,thông tin, vui chơi giải trí) kèm theo các hoạt động phát triển du lịch
Bảo tồn, nâng cao giá trị và khôi phục các di sản kiến trúc, nghệ thuật, vật thể vàphi vật thể, văn hóa, thủ công mỹ nghệ, trang phục, phong tục truyền thống… bằng cácnguồn kinh phí thu trực tiếp hay gián tiếp từ hoạt động du lịch
Phát triển du lịch tạo tiền đề cho việc khôi phục các sinh hoạt văn hóa truyền thốngcủa cộng đồng vốn đã bị mai một, đặc biệt là các lễ hội Nhiều lễ hội truyền thống củamột địa phương riêng lẻ đã được nâng cấp thành các lễ hội du lịch, thu hút số lượng lớnkhách từ các vùng miền khác cùng tham gia
1.2.2.2 Ảnh hưởng tiêu cực từ hoạt động du lịch lên môi trường
Bên cạnh những tác động tích cực, hoạt động du lịch đã có những tác động tiêu cựcnhất định đến môi trường do tốc độ phát triển quá nhanh trong điều kiện còn thiếu phươngtiện xử lý môi trường, nhận thức và công cụ quản lý nhà nước về môi trường còn hạnchế…, từ đó dẫn đến sự gia tăng áp lực đến môi trường Tại nhiều khu vực, do tốc độ pháttriển quá nhanh của hoạt động du lịch vượt ngoài khả năng và nhận thức về quản lý nên
Trang 5đã tạo sức ép lớn đến khả năng đáp ứng của tài nguyên và môi trường, gây ô nhiễm cục
bộ và nguy cơ suy thoái lâu dài
* Đối với môi trường tự nhiên
– Hoạt động du lịch làm tăng áp lực về chất thải sinh hoạt, đặc biệt ở các trung tâm
du lịch, góp phần làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước Lượng chất thải trungbình từ sinh hoạt của khách du lịch khoảng 0,67 kg chất thải rắn và 100 lít chất thảilỏng/khách/ngày (ví dụ như ở chùa Hương vào mùa lễ hội, ước tính trung bình lượng rácthải từ 4 đến 5 tấn/ngày chưa tính đến nước thải và ô nhiễm về tiếng ồn, khói bụi… nhưngkhối lượng thu gom mới chỉ đạt khoảng 80%
– Khách du lịch, đặc biệt khách từ các nước phát triển thường sử dụng nhiều nước
và những tài nguyên khác, đồng thời lượng chất thải tính theo đầu người thường lớn hơnđối với người dân địa phương
Cùng với việc tăng số lượng khách, nhu cầu nước cho sinh hoạt của khách du lịchtăng nhanh (trung bình khoảng 100 – 150 lít /ngày đối với khách du lịch nội địa, 200 –
250 lít /ngày đối với khách quốc tế) Điều này sẽ làm tăng mức độ suy thoái và ô nhiễmcác nguồn nước ngầm hiện đang khai thác, đặc biệt ở vùng ven biển do khả năng xâmnhập mặn cao khi áp lực các bể chứa giảm mạnh vì bị khai thác quá mức cho phép Hiệntượng này đã quan sát thấy ở nhiều khu vực có hoạt động du lịch tập trung như: Hạ Long,
Đồ Sơn, Sầm Sơn, Đà Nẵng… Vấn đề này sẽ càng trở nên nghiêm trọng vào mùa du lịch
– Tăng thêm sức ép lên quỹ đất tại các vùng ven biển vốn đã rất hạn chế tại vùngven biển, miền núi trung du… do bị khai thác sử dụng cho mục đích xây dựng các bếnbãi, hải cảng, nuôi trồng thủy sản và phát triển đô thị
– Các hệ sinh thái và môi trường đã rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương do sức épcủa phát triển du lịch Tài nguyên thiên nhiên như: các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừngngập mặn; nghề cá và các nghề sinh sống khác trên các đảo có thể bị biến đổi theo chiềuhướng xấu đi do phát triển du lịch không hợp lý Nhiều cảnh quan đặc sắc, hệ sinh tháinhạy cảm, đặc biệt ở vùng ven biển, hải đảo và ở các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốcgia bị thay đổi hoặc suy giảm cùng với việc phát triển các khu du lịch mới
Trang 6– Các khu vực có tính đa dạng sinh học cao như: các khu rừng nhiệt đới, thác
nư-ớc, hang động, cảnh quan… thường rất hấp dẫn đối với du khách, nhưng cũng dễ bị tổnthương do phát triển du lịch, đặc biệt khi phát triển du lịch đến mức quá tải, đa dạng sinhhọc bị đe dọa do nhiều loài sinh vật, trong đó có cả những loài sinh vật hoang dã quýhiếm như: san hô, đồi mồi… bị săn bắt trái phép phục vụ nhu cầu ẩm thực, đồ lưu niệm,buôn bán mẫu vật… của khách du lịch
Ngoài ra, cuộc sống và tập quán quần cư của các động vật hoang dã có thể bị ảnhhưởng do lượng lớn khách du lịch đến vào các thời điểm trong chu trình sống (di trú,kiếm ăn, sinh sản, làm tổ…) của động vật hoang dã ở các khu bảo tồn thiên nhiên, vườnquốc gia
* Đối với môi trường xã hội – nhân văn:
Hoạt động du lịch cũng gây những tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa – xã hội
có giữa trẻ em với các thành viên trong gia đình và dòng tộc, làm tổn thương đến các giátrị truyền thống đã được thiết lập trong cộng đồng dân tộc
– Các di sản văn hóa, lịch sử, khảo cổ thường được xây dựng bằng các vật liệu dễ
bị hủy hoại, ví dụ như di tích Mỹ Sơn (Quảng Nam) do tác động của khí hậu nhiệt đới giómùa ở Việt Nam Các di sản này thường phân bố trên diện tích hẹp, dễ bị xuống cấp khichịu tác động thêm của khách du lịch tới thăm nếu không có các biện pháp bảo vệ
Do tính chất mùa vụ của hoạt động du lịch, các nhu cầu tại thời kỳ cao điểm có thểvượt quá khả năng đáp ứng về dịch vụ công cộng và cơ sở hạ tầng của địa phương; tiêubiểu là ách tắc giao thông, các nhu cầu về cung cấp nước, năng lượng của hệ thống xử lýnước thải, xử lý chất thải rắn vượt quá khả năng của địa phương Điển hình của tình trạng
Trang 7này là vào các dịp nghỉ lễ dài ngày như tại Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cát Bà (Hải Phòng)vừa qua.
– Các hoạt động du lịch chuyên đề như khảo cổ học có thể nảy sinh mâu thuẫn vớicác hoạt động tín ngưỡng truyền thống ở địa phương
– Mâu thuẫn nảy sinh giữa những người làm du lịch với dân cư địa phương do việcphân bố lợi ích và chi phí của du lịch trong nhiều trường hợp chưa được công bằng
Thực tế cho thấy phát triển du lịch thường đi kèm với những tác động tiêu cực đếnmôi trường Nếu trong quá trình phát triển, các tác động tiêu cực đến môi trường không đ-ược liệt kê thông qua những biện pháp bảo vệ môi trường quản lý hữu hiệu thì hậu quả sẽdẫn tới suy thoái môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển du lịch bền vững Do vậy,trong quá trình phát triển du lịch phải lồng ghép các yêu cầu và giải pháp về bảo vệ môitrường, ngay từ khâu lập quy hoạch, xây dựng các chiến lược phát triển đến triển khai các
dự án, thiết kế các sản phẩm du lich cụ thể
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DU LỊCH - MÔI TRƯỜNG BIỂN HẠ LONG 2.1 Môi trường biển Hạ Long
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Vịnh Hạ Long (vịnh nơi rồng đáp xuống) là một vịnh nhỏ thuộc phần bờ tây vịnh
Bắc Bộ tại khu vực biển Đông Bắc Việt Nam, bao gồm vùng biển đảo thuộc thành phố HạLong, thành phố Cẩm Phả và một phần huyện đảo Vân Đồn của tỉnh Quảng Ninh
Là trung tâm của một khu vực rộng lớn có những yếu tố ít nhiều tương đồng về địachất, địa mạo, cảnh quan, khí hậuvà văn hóa, với vịnh Bái Tử Long phía Đông Bắc
và quần đảo Cát Bà phía Tây Nam, vịnh Hạ Long giới hạn trong diện tích khoảng1.553 km² bao gồm 1.969 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn là đảo đá vôi, trong đó vùng lõi củaVịnh có diện tích 335 km² quần tụ dày đặc 775 hòn đảo Lịch sử kiến tạo địa chất đá vôicủa Vịnh đã trải qua khoảng 500 triệu năm với những hoàn cảnh cổ địa lý rất khác nhau;
và quá trình tiến hóa carxtơ đầy đủ trải qua trên 20 triệu năm với sự kết hợp các yếu tốnhư tầng đá vôi dày, khí hậu nóng ẩm và tiến trình nâng kiến tạo chậm chạp trên tổng thể
Trang 8Sự kết hợp của môi trường, khí hậu, địa chất, địa mạo, đã khiến vịnh Hạ Long trở thànhquần tụ của đa dạng sinh học bao gồm hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệtđới và hệ sinh thái biển và ven bờ với nhiều tiểu hệ sinh thái 14 loài thực vật đặc hữu vàkhoảng 60 loài động vật đặc hữu đã được phát hiện trong số hàng ngàn động, thực vậtquần cư tại Vịnh.
Những kết quả nghiên cứu, thám sát khảo cổ học và văn hóa học cho thấy sự hiệndiện của những cư dân tiền sử trên vùng vịnh Hạ Long từ khá sớm, đã tạo lập những hìnhthái văn hóa cổ đại tiếp nối nhau bao gồm văn hóa Soi Nhụ trong khoảng 18.000-7.000năm trước Công Nguyên, văn hóa Cái Bèo trong 7.000-5.000 năm trước CôngNguyên và văn hóa Hạ Long cách ngày nay khoảng từ 3.500-5.000 năm Tiến trình dựngnước và truyền thống giữ nước của dân tộc Việt Nam, trong suốt hành trình lịch sử, cũngkhẳng định vị trí tiền tiêu và vị thế văn hóa của vịnh Hạ Long qua những địa danh mà têngọi gắn với điển tích còn lưu truyền đến nay, như núi Bài Thơ, hang Đầu Gỗ, BãiCháy v.v Hiện nay, vịnh Hạ Long là một khu vực phát triển năng động nhờ những điềukiện và lợi thế sẵn có như có một tiềm năng lớn về du lịch, nghiên cứu khoa học, nuôitrồng, đánh bắt thủy sản, giao thông thủy đối với khu vực vùng biển Đông Bắc ViệtNam nói riêng và miền Bắc Việt Nam nói chung
Từ hơn 500 năm về trước trong bài thơ Lộ nhập Vân Đồn, Nguyễn Trãi đã lần đầutiên ca ngợi vịnh Hạ Long là "kỳ quan đá dựng giữa trời cao" Năm 1962 Bộ Văn hóa -Thông tin (Việt Nam) đã xếp hạng vịnh Hạ Long là di tích danh thắng cấp quốc gia đồngthời quy hoạch vùng bảo vệ Năm 1994 vùng lõi của vịnh Hạ Long được UNESCOcôngnhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới với giá trị thẩm mỹ, và được tái công nhận lần thứ 2với giá trị ngoại hạng toàn cầu về địa chất-địa mạo vào năm 2000 Cùng với vịnh NhaTrang và vịnh Lăng Cô của Việt Nam, vịnh Hạ Long là một trong số 29 vịnh được Câulạc bộ những vịnh đẹp nhất thế giới xếp hạng và chính thức công nhận vào tháng 7 năm2003
Vịnh Hạ Long cùng với đảo Cát Bà tạo thành một trong 21 khu du lịch quốcgia đầu tiên ở Việt Nam Năm 2015, Cục Di sản văn hóa đã công bố về số lượng kháchtham quan vịnh Hạ Long là trên 2,5 triệu lượt khách
Trang 92.1.2 Vị trí địa lý
Là một vịnh nhỏ, bộ phận của vịnh Bắc Bộ, Vịnh Hạ Long được giới hạn với phíaĐông Bắc giáp vịnh Bái Tử Long; phía Tây Nam giáp quần đảo Cát Bà; phía Tây và TâyBắc giáp đất liền bằng đường bờ biển khoảng 120 km kéo dài từ thị xã Quảng Yên, quathành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phả đến hết huyện đảo Vân Đồn; phía Đông Nam vàphía Nam hướng ra vịnh Bắc Bộ Trong diện tích 1.553 km² gồm vùng lõi và vùng đệm,nằm tại các tọa độ từ 106°58'-107°22' Đông và 20°45'-20°50' Bắc, vịnh Hạ Long bao gồm1.969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa được đặt tên
2.1.3 Khí hậu
Vịnh Hạ Long là vùng biển đảo có khí hậu phân hóa 2 mùa rõ rệt: mùa hạ nóng ẩmvới nhiệt độ khoảng 27-29 °C và mùa đông khô lạnh với nhiệt độ 16-18 °C, nhiệt độ trungbình năm dao động trong khoảng 15-25 °C Lượng mưa trên vịnh Hạ Long vào khoảng từ2.000mm–2.200mm tuy có tài liệu chi tiết hóa lượng mưa là 1.680mm với khoảng trên300mm vào mùa nóng nhất trong năm (từ tháng 6 đến tháng 8) và dưới 30mm vào mùakhô nhất trong năm (từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau) Hệ thủy triều tại vịnh Hạ Long rấtđặc trưng với mức triều cường vào khoảng 3,5-4m/ngày Độ mặn trong nước biển trênvùng Vịnh dao động từ 31 đến 34.5MT vào mùa khô nhưng vào mùa mưa, mức này cóthể thấp hơn Mực nước biển trong vùng Vịnh khá cạn, có độ sâu chỉ khoảng 6m đến 10m
và các đảo đều không lưu giữ nước bề mặt
2.1.4 Đa dạng sinh học
Vịnh Hạ Long là nơi tập trung đa dạng sinh học với 2 hệ sinh thái điển hình là "hệsinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới" và "hệ sinh thái biển và ven bờ" Trongmỗi hệ lớn nói trên lại có nhiều dạng sinh thái
* Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới:
Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở vịnh Hạ Long rất đặc trưng,phong phú với tổng số loài thực vật sống trên các đảo khoảng trên 1.000 loài Một số quần
Trang 10xã các loài thực vật khác nhau bao gồm các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát venđảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở của hang hay khe
đá Các nhà nghiên cứu của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới đã phát hiện 7 loài thựcvật đặc hữu của vịnh Hạ Long Những loài này chỉ thích nghi sống ở các đảo đá vôi vịnh
Hạ Long mà không nơi nào trên thế giới có được, đó là: thiên tuế Hạ Long, khổ cử đạitím (Chirieta halongensis), cọ Hạ Long (Livisona halongensis), khổ cử đạinhung (Chirieta hiepii), móng tai Hạ Long, ngũ gia bì Hạ Long, hài vệ nữ hoa vàng Một
số tài liệu khác mở rộng danh sách thực vật đặc hữu của Hạ Long lên 14 loại, bao gồm cảnhững loại đã được người Pháp khám phá và đặt tên gắn với địa danh từ trước như sung
Hạ Long, nhài Hạ Long, sóng bè Hạ Long, giềng Hạ Long, phất dụ núi, phong lan HạLong v.v Danh sách những loài thực vật đặc hữu khác tại vịnh Hạ Long rất có thể cònđược bổ sung nhiều hơn, do chưa có một công trình nghiên cứu nào thực sự đầy đủ, toàndiện về thực vật trên tất cả các đảo trong khu vực Vịnh và vùng lân cận Chẳng hạnloài trúc mọc ngược mà mấy năm gần đây các nhà khoa học mới phát hiện ra trên một sốđảo đá của vịnh Hạ Long, một giống trúc có cành chĩa xuống đất, khác các giống trúcthông thường chĩa cành lên trời
Theo thống kê, hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở vịnh HạLong và vịnh Bái Tử Long có 477 loài mộc lan, 12 loài dương xỉ và 20 loài thực vật ngậpmặn; đối với động vật người ta cũng thống kê được 4 loài lưỡng cư, 10 loài bò sát, 40loài chim và 14 loài thú Ở vùng này còn có loại khỉ thân nhỏ, hiện được nuôi theophương pháp đặc biệt tại đảo Khỉ
* Hệ sinh thái biển và ven bờ:
Hệ sinh thái biển và ven bờ của vịnh Hạ Long bao gồm trong đó "hệ sinh thái đấtướt" và "hệ sinh thái biển" với những điểm đặc thù:
* Hệ sinh thái đất ngập nước:
Sinh thái vùng triều và vùng ngập mặn trên Vịnh: bao gồm 20 loài thực vật ngậpmặn; là nơi sống cho 169 loài giun nhiều tơ, 91 loài rong biển, 200 loài chim, 10 loài bòsát và 6 loài khác
Trang 11Dạng sinh thái đáy cứng, rạn san hô: tập trung ở Hang Trai, Cống Đỏ, Vạn Giò, có
232 loài san hô đã được tìm thấy Rặng sinh thái đáy cứng, san hô là nơi sinh cư của 81loài chân bụng, 130 loài hai mảnh vỏ, 55 loài giun nhiều tơ, 57 loài cua
Dạng sinh thái hang động và tùng, áng: dạng sinh thái này tại vịnh Hạ Long rất tiêubiểu và hiếm nơi có được Đặc biệt khu vực Tùng Ngón là nơi cư trú của 65 loài san hô,
40 loài động vật đáy, 18 loài rong biển Tại đây cũng có 4 loài sinh vật quý hiếm được ghitrong sách đỏ Việt Nam
Dạng sinh thái đáy mềm: đây là dạng sinh thái của quần xã cỏ biển với 5 loài, lànơi sống của 140 loài rong biển, 3 loài giun nhiều tơ, 29 loài nhuyễn thể, 9 loài giáp xác
Dạng sinh thái bãi triều không có rừng ngập mặn: sinh vật sống trên vùng triều đặctrưng là động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ và giun biển có giá trị dinh dưỡng cao như sásùng, hải sâm, sò, ngao v.v
* Hệ sinh thái biển:
Thực vật phù du: ở vịnh Hạ Long có 185 loài
Động vật phù du: vùng Hạ Long-Cát Bà có 140 loài động vật phù du sinh sống.Động vật đáy: thống kê sơ bộ, vùng Hạ Long có đến 500 loài động vật đáy, trong
đó có 300 loài động vật nhuyễn thể, 200 loài giun nhiều tơ, 13 loài da gai
Động vật tự du: đã xác định được 326 loài động vật tự du, phân bố trong vịnh HạLong
Đến nay sơ bộ đánh giá hệ thực vật trong vùng vịnh Hạ Long có khoảng 347 loài,thực vật có mạch thuộc 232 chi và 95 họ Trong tổng số 347 loài thực vật đã biết, có 16loài đang nằm trong danh sách đỏ của Việt Nam đã nguy cấp và sắp nguy cấp Trong cácloài thực vật quý hiếm, có 95 loài thuộc cây làm thuốc, 37 loài cây làm cảnh, 13 loài cây
ăn quả và 10 nhóm có khả năng sử dụng khác nhau
Các đảo tại vịnh Hạ Long có các loài động vật thân mềm đa dạng, đặc biệt là cácloài cư trú trong hốc đá, và có tới 60 loài động vật đặc hữu Hải sản Hạ Long được khaithác và nuôi trồng bao gồm bào ngư, hải sâm, sá sùng, tôm, cá, mực (mực ống, mực nang,
Trang 12mực thước), bạch tuộc, sò huyết, trai và điệp nuôi lấy ngọc Tài liệu của Phân viện Hảidương học Hải Phòng cho thấy trong 1.151 loài động vật tại Hạ Long thì đã có tới gần
500 loài cá, 57 loài cua
2.1.5 Điều kiện văn hóa-xã hội
*Cư dân
Vịnh Hạ Long được chia thành hai phần: thành phố tập trung dân cư với nhữnghoạt động công nghiệp và vùng biển với các hoạt động du lịch sôi nổi và cuộc sống lênhđênh trên biển
* Văn hoá & Tín ngưỡng
Phật giáo là tôn giáo chính của người dân ở Hạ Long và Quảng Ninh, bằng chứng
là rất nhiều ngôi chùa được xây dựng trong thành phố Một số trung tâm Phật giáo lớnnhất ở miền Bắc Việt Nam, rất nổi tiếng trong đời sống tín ngưỡng của người Việt, nhưchùa Yên Tử và chùa Cái Bầu đều toạ lạc tại vùng này Trong dịp lễ hội mùa xuân (tứctrong khoảng dịp Tết), hàng ngàn lượt khách hành hương từ khắp nơi đổ về đây để cầunguyện cho một năm sức khỏe an khang và thịnh vượng
Do là một vùng duyên hải nơi nhiều người dân kiếm sống trên biển, nơi đây còn cónhiều đền thờ các vị thần biển Đền là nơi mà các ngư dân đến cầu nguyện, ước mong chomột chuyến đi an toàn và bội thu trước khi giương buồm ra khơi Một số ngôi đền lớnnhất phải kể đến là Đền Quan Lạn (trên Đảo Quan Lạn), Đền Cửa Ông (tại Thành Phố HạLong) hay đền Bà Men
Tại làng chài nổi Cửa Vạn, hình thức hát truyền thống Hát Giao Duyên (một loại
ca hát dân gian địa phương) có thể được coi là một trong những nét độc đáo trong văn hóa
Hạ Long Theo nguyên gốc, có ba loại hình hát trong Hát Giao Duyên - đó là Hát Đúm,
Hò Biển và Hát Đám Cưới Ngày này, chỉ còn Hát Đám cưới vẫn tồn tại và và được ưathích biểu diễn trong các đám cưới địa phương Thú vị hơn nữa, tại làng chài Cửa Vạn,đám cưới luôn được tổ chức vào đúng ngày 15 âm lịch Theo người dân địa phương, đây
là khi trăng tròn tỏa sáng rực rỡ nhất và ánh sáng vàng đó sẽ giữ cho lũ cá nằm yên, sâudưới đáy biển
Trang 13*Các lễ hội truyền thống:
Hạ Long không chỉ được biết đến với những danh lam thắng cảnh nổi tiếng mà cònđược biết đến với những lễ hội truyền thống Ví dụ như lễ hội Trà Cổ, lễ hội Bạch Đằng,các lễ hội đường phố hoặc Carnaval Hạ Long – lễ hội đã trở thành một sản phẩm độc đáoriêng, một thương hiệu của du lịch Quảng Ninh
* Văn hoá biển tiền sử Việt Nam tại Vịnh Hạ Long
Năm 1937-1938, các nhà khảo cổ M.Colani (Pháp) và G.J.Anderson (Thụy Điển)
đã lần lượt phát hiện ra các dấu tích cư trú của người tiền sử ở trên và ven bờ Vịnh HạLong như Danh Do La, Tuần Châu, Cái Dăm Họ đã gọi đây là “Văn hoá Danh Do La” -tên đảo Ngọc Vừng thời Pháp để chỉ chung cho đặc trưng các di tích khảo cổ này Sau khihoà bình lập lại, các nhà khảo cổ Việt Nam đã phát hiện thêm nhiều di tích có đặc trưngtương đồng và đã dùng thuật ngữ “Văn hoá Hạ Long” thay cho “Văn hoá Danh Do La”của M.Colani Cho đến nay, đã có khoảng gần 50 di tích “Văn hoá Hạ Long” được pháthiện trên các đảo của Vịnh Hạ Long cũng như dọc bờ biển từ Móng Cái đến Vân Đồn, vớiđặc trưng chung về loại hình - kỹ thuật chế tác công cụ đá và đồ gốm có niên đại từ5.000-3.000 năm cách ngày nay
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khảo cổ học về Văn hoá Hạ Long, vàokhoảng 5.000-3.000 năm trước, người cổ Hạ Long cư trú chủ yếu trên các cồn cát, đượngcát, bãi triều cửa sông, ven biển, chỉ một số ít sống trong các hang động đá vôi Họ sốngthành những “làng” nhỏ, nhỏ hơn làng của cư dân cùng thời ở trung du và châu thổ Bắc
Bộ Phần lớn người cổ Hạ Long sống sát bờ biển, trên các đượng cát không cao lắm
Văn hoá Hạ Long - theo các nhà khảo cổ - về bản chất là một văn hoá biển, tồn tại
và phát triển bao giờ cũng rất năng động trong các mối giao lưu, hội nhập và thích ứngvăn hoá Văn hoá Hạ Long là một trong 4 nền văn hoá biển tiền sử Việt Nam gồm: HạLong (Quảng Ninh), Hoa Lộc (Thanh Hoá), Bàu Chó (Quảng Bình), Xóm Cồn (KhánhHoà), có vị trí hết sức quan trọng trong nền cảnh văn hoá tiền sử Việt Nam
Trang 142.2 Hiện trạng phát triển Du lịch tại Hạ Long
2.2.1 Lịch sử hình thành và tiềm năng phát triển du lịch Hạ Long
2.2.1.1 Lịch sử hình thành
Giá trị khảo cổ
Một công nhân lò nấu thủy tinh tên là Vũ Xuân Tảo vào năm 1937 đã tình cờ pháthiện một chiếc rìu đá trên đảo Ngọc Vừng (nay thuộc huyện Vân Đồn, Quảng Ninh), điềunày khiến cho các nhà khảo cổ học người Pháp khi đó đã chứng tỏ rằng nền văn minh loàingười xuất hiện tại Hạ Long từ rất sớm Theo các di chỉ khảo cổ học, người tiền sử đãtừng sinh sống trong khu vực này từ khoảng 18.000-17.000 năm trước Công Nguyên vàhình thành nên văn hóa Soi Nhụ, tiếp đó là văn hóa Cái Bèo trong 7.000-5.000 trướcCông Nguyên và văn hóa Hạ Long từ 3.500-5.500 năm.Tiếp nối không gián đoạn trongsuốt tiến trình sơ sử, ba nền văn hóa mang tên Soi Nhụ-Cái Bèo-Hạ Long trên khu vựcvịnh Hạ Long chứa đựng những giá trị nhất định, cho thấy vịnh Hạ Long và khu vực lâncận một thời đã từng là một cái nôi văn hóa của nhân loại
Bên cạnh thương cảng Vân Đồn, tại vùng vịnh Hạ Long còn có Núi Bài Thơ lịch
sử, nơi lưu lại bài thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông hoàng đế khắc trên đá từ năm 1468,nhân chuyến tuần du vùng biển phía Đông; và bút tích của chúa Trịnh Cương năm 1729.Bãi Cháy phía bờ Tây của Vịnh, tương truyền gắn với sự tích những chiến thuyền chởlương thực của quân Nguyên-Mông bị quân dân nhà Trần do Trần Khánh Dư chỉ huy đốt
Trang 15cháy, dạt vào làm cháy cả cánh rừng trong khu vực Trên Vịnh còn có hang Đầu Gỗ, nơicòn vết tích hiện vật là những cây cọc gỗ được Trần Hưng Đạo cho đem giấu trước khiđóng xuống lòng sông Bạch Đằng, và cách Vịnh không xa là cửa sông Bạch Đằng, chứngtích của hai trận thủy chiến trong lịch sử chống ngoại xâm phương Bắc Tất cả những dichỉ lịch sử này đã tạo nên một Vịnh Hạ Long với những nét đặc trưng riêng biệt và độcđáo, không chỉ về cấu trúc kiến tạo địa chất, mà còn mang trong mình một bề dày lịch sửquan trọng trong văn hóa người Việt Nam.
2.2.1.2 Tiềm năng du lịch biển Hạ Long
Vịnh Hạ Long là danh lam thắng cảnh được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt tạiQuyết định số 1272/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 12/8/2009 Vịnh Hạ Longđược biết đến là một điểm đến du lịch hấp dẫn nổi tiếng trong cả nước Mặc dù điều kiệngiao thông còn nhiều khó khăn nhưng trung bình mỗi năm Vịnh Hạ Long vẫn thu húttrung bình khoảng 2 triệu lượt khách nội địa Chính vì những giá trị và thương hiệu nóitrên, Vịnh Hạ Long được xác định là tài nguyên đặc biệt quan trọng với định hướng quyhoạch phát triển là khu du lịch Quốc gia
Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 25/5/2013 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh QuảngNinh về phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2013-2020, tầm nhìn 2030 đã xácđịnh những giá trị hiện thực của Vịnh Hạ Long và hệ thống tài nguyên du lịch biển đảo làđộng lực chủ yếu để xây dựng mục tiêu tổng quát: Phấn đấu đưa Quảng Ninh trở thànhmột trung tâm du lịch quốc tế, một trọng điểm du lịch hàng đầu quốc gia, có hệ thống cơ
sở vật chất đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch đa dạng, đặc sắc, có chất lượng cao,thương hiệu mạnh, mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc trong tỉnh, có năng lực cạnhtranh với các nước trong khu vực và quốc tế; thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn, là độnglực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững và bảo m quốđảc phòng-an ninh
Vịnh Hạ Long là địa danh duy nhất được UNESCO hai lần công nhận là Di sảnthiên nhiên thế giới vào năm 1991 về giá trị thẩm mĩ và năm 1998 về giá trị địa chất địamạo Nơi đây là một tạo hình kỳ lạ của tạo hoá, một sự kết hợp giữa điêu khắc và hội hoạ,
là sự hài hoà, uyển chuyển giữa bố cục và màu sắc, giữa hình khối và không gian được
Trang 16biểu hiện bởi hàng ngàn hòn đảo trên mặt biển xanh với những hình thù khác nhau như cóbàn tay sắp đặt cố tình của tạo hoá khơi gợi trí tưởng tượng vô hạn của con người.
Không gian Vịnh Hạ Long được bình chọn là một trong Bảy Kỳ quan Thiên nhiênThế giới là một vùng biển đảo đặc trưng, điển hình nhất trong hệ thống tài nguyên du lịchbiển đảo của tỉnh Quảng Ninh Chuỗi tài nguyên biển đảo giao thoa, cộng hường, hòa trộnvới nhau tạo ra một vùng biển đảo có quy mô đặc biệt lớn, không gian tưởng như vô tậnlàm cho giá trị cảnh quan vịnh Hạ Long tăng lên nhiều lần
Là khu vực có cảnh quan thiên nhiên đặc sắc, hệ thống hang động phong phú, bãibiển đẹp, lưu giữ nhiều giá trị văn hoá truyền thống, Vịnh Hạ Long hội đủ những yếu tố
về đất nước, con người, cảnh quan, văn hoá, lịch sử hấp dẫn du khách để quảng bá du lịchViệt Nam Hiện nay, loại hình du lịch nghỉ đêm trên Vịnh được xem là độc đáo, đặc sắc,thu hút được nhiều du khách trong và ngoài nước
Với những điều kiện tự nhiên ưu đãi và những danh hiệu của mình, Vịnh Hạ Long
là nơi thu hút du khách quốc tế lớn nhất trong tổng số 6 di sản thế giới tại Việt Nam thờigian qua (năm 2011 với trên 6 triệu lượt khách trong và ngoài nước) Hành trình đến HạLong luôn là một trong những ưu tiên số 1 của tất cả các du khách quốc tế khi đến vớiViệt Nam
Tiềm năng du lịch biển Hạ Long là một sự kết hợp hoàn mỹ giữa giá trị thẩm mỹ,cảnh quan và đa dạng sinh học cùng bề dày văn hóa - lịch sử
2.2.2 Cơ cấu du lịch tại Hạ Long
Trang 17du thuyền, tiệc đêm trên bãi biển; đánh bắt hải sản đêm (đánh cá, câu mực…), ngắmhoàng hôn, bình minh, tập Yoga dưới ánh bình minh.
Du lịch chèo thuyền phao (Kayaking)
Du khách sẽ được tự mình chèo thuyền đến các vùng biển vắng để tự thám hiểm vàchiêm ngưỡng vẻ đẹp hoang sơ và hùng vĩ của Hạ Long
Du lịch văn hóa
Du khách sẽ được tham gia vào các lễ hội đậm đà bản sắc lâu đời của người dânven biển Hạ Long với những nét cổ truyền được lưu truyền, cùng với các giá trị văn hóađặc trưng
Lễ hội chùa Long Tiên 24/3 (âm lịch)
Chương trình du lịch
Hiện tại Hạ Long có 08 chuyến du lịch tham quan trên vịnh theo quy định:
Tuyến 1: cảng tàu du lịch Bãi Cháy – Động Thiên Cung – Hang Đầu Gỗ - hònĐình Hương – hòn Trống Mái
Tuyến 2: cảng tàu du lịch Bãi Cháy – Động Thiên Cung – Hang Đầu Gỗ - hònĐình Hương – hòn Trống Mái – hang Sửng Sốt – đảo Ti Tốp
Tuyến 3: cảng tàu du lịch Bãi Cháy – đảo Soi Sim – động Mê Cung – làng chàiCửa Vạn – động Ba Hầm
Tuyến 4: cảng tàu du lịch Bãi Cháy – động Thiên Cung – hang Đầu Gỗ - hòn Chó
Đá – hòn Đinh Hương – hòn Trống Mái – hang Sửng Sốt – đảo Ti tốp – động Mê Cung
Tuyến 5: cảng tàu du lịch Cẩm Phả - đảo Thẻ Vàng – vịnh Hạ Long
Tuyến 6: cảng tàu du lịch Hạ Long – Cửa Ông – Bãi Dài
Tuyến 7: cảng tàu du lịch Bãi Cháy – đảo Quan Lạn
Tuyến 8: cảng tàu du lịch Bãi Cháy – đảo Cát Bà