1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận kinh tế du lịch nâng cao hiệu quả cạnh tranh của ngành du lịch biển việt nam

49 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 354,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Porter cho rằng các đầu vào quan trọng đối với hoạt động sản xuất của nền kinh tế, tạonên lợi thế cạnh tranh cho một quốc gia trong những ngành nhất định không phải chỉ đơnthuần là lao đ

Trang 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1 Các khái niệm cơ bản

1.1 Du lịch biển

Khái niệm du lịch: là những hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi

cư trú của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong mộtkhoảng thời gian nhất định

Tài nguyên du lịch: cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, côngtrình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng để đápứng các nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến dulịch, đô thị du lịch

Du lịch biển: là những hoạt động du lịch có liên quan tới nguồn lực tài nguyên biển

1.2 Năng lực cạnh tranh:

Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về khả năng lực cạnh tranh

Theo Fafchams, năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp

đó có thể sản xuất ra sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thịtrường Theo cách hiểu này doanh nghiệp nào sản xuất ra các sản phẩm tương tự như củacác doanh nghiệp khác nhưng với chi phí thấp hơn thì được coi là có năng lực cạnh tranh

Randall cho rằng năng lực cạnh tranh là khả năng giành được và duy trì thị phần trên thịtrường với lợi nhận nhất định

Trong khi đó thì Dunning có ý kiến cho rằng năng lực cạnh tranh là khả năng cung ứngsản phẩm của chính doanh nghiệp trên các thị trường khác nhau mà không phân biệt nơi bốtrí sản xuất của chính doanh nghiệp đó

Một số quan điểm khác lại cho rằng năng lực cạnh tranh là trình độ công nghệ sản xuấtsản phẩm theo đúng yêu cầu của thị trường đồng thời duy trì được thu nhập của mình

Như vậy, chúng ta có thể khái quát rằng năng lực cạnh tranh là khả năng mà doanhnghiệp cố gắng giành được và duy trì thị trường để có lợi nhuận nhất định Thực chất khi đề

Trang 2

cập đến năng lực cạnh tranh thì cũng đồng nghĩa với việc chiếm lĩnh thị trường và tạo ra lợinhuận.

Khi tìm hiểu về năng lực cạnh tranh của du lịch biển Việt Nam, nhóm đi sâu vào phântích năng lực cạnh tranh của du lịch biển ở cấp độ quốc gia

Năng lực cạnh tranh quốc gia là yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của tất cả cácsản phẩm trên thị trường nội địa và xuất khẩu Có rất nhiều cách hiểu về năng lực cạnhtranh cấp quốc gia

Theo Asia Development Outlook 2003 là khả năng cạnh tranh của một nước để sản xuấtcác hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được thử thách của thị trường quốc tế Đồng thời, duy trì

và mở rộng được thu nhập thực tế của công dân nước đó Mặt khác, năng lực cạnh tranhquốc gia phản ánh khả năng của một nước để tạo ra việc sản xuất sản phẩm, phân phối sảnphẩm và dịch vụ trong thương mại quốc tế, trong khi kiếm được thu nhập tăng lên từ nguồnlực của nó

Theo diễn đàn kinh tế thế giới WEF, năng lực cạnh tranh của quốc gia được đo bằng támchỉ tiêu: mức độ mở của nền kinh tế, vai trò của Nhà nước, vai trò của thị trường tài chính,môi trường công nghệ, kết cấu hạ tầng, chất lượng quản trị kinh doanh, hiệu quả và tínhlinh họat của thị trường lao động, môi trường pháp lý

2 Mô hình lý thuyết về năng lực cạnh tranh

2.1 Tổng quan mô hình

Khắc phục những bất cập trong việc áp dụng các học thuyết về thương mại cổ điển đểgiải thích lợi thế của một quốc gia trong thương mại quốc tế ngày nay, lý thuyết mới về lợithế cạnh tranh quốc gia được đề xuất bởi Michael Porter đã đề cập đến lợi thế cạnh tranhvới một cách tiếp cận mới, “động” hơn Lý thuyết này đã giải thích tại sao một quốc gia lạithành công trong khi các quốc gia khác thất bại trong cạnh tranh quốc tế Qua nghiên cứu,

M Porter cho rằng các đầu vào quan trọng đối với hoạt động sản xuất của nền kinh tế, tạonên lợi thế cạnh tranh cho một quốc gia trong những ngành nhất định không phải chỉ đơnthuần là lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên mà còn là những đầu vào do chính doanhnghiệp hoặc chính phủ tạo ra Lợi thế cạnh tranh của một quốc gia chỉ có thể đạt được khimỗi doanh nghiệp trong quốc gia đó phải chuyển từ lợi thế so sánh sang lợi thế cạnh tranh

Trang 3

của một quốc gia Lợi thế cạnh tranh quốc gia bao hàm một khái niệm phong phú về sứccạnh tranh mà bao gồm các thị trường phân khúc, các sản phẩm khác biệt về công nghệ,hiệu quả kinh tế tăng dần theo quy mô.

Khái niệm về lợi thế cạnh tranh quốc gia theo M Porter chú trọng khả năng duy trì lợithế cạnh tranh của doanh nghiệp và khả năng phụ thuộc vào 3 điều kiện Trước hết là nguồntạo ra lợi thế và hệ thống thứ bậc những nguồn tạo nên lợi thế cạnh tranh theo tính bềnvững Thứ hai là số lượng nguồn lợi thế cạnh tranh mà doanh nghiệp có được Cuối cùng làcác doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến và nâng cấp liên tục lợi thế cạnh trnah củamình Đây chính là minh chứng rõ nhất cho tính động trong quan điểm về lợi thế cạnh tranhcủa M Porter ở cấp độ doanh nghiệp cũng như cấp độ quốc gia, khẳng định sự gia tăngmức sống và thịnh vượng của quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào khả năng đổi mới, khả năngtiếp cận nguồn vốn và hiệu ứng lan truyền công nghệ của nề nkinh tế Với cách nhìn nhậnmới đó, lợi thế cạnh tranh quốc gia qua phân tích của M Porter chịu tác động của 4 nhómnhân tố chính được tổng hợp trong mô hình kim cương (Porter’s Diamond) và được trìnhbày trong hình:

Nguồn: M Porter 1990

Trang 4

Theo đó có 4 yếu tố chính tạo nên lợi thế cạnh tranh quốc gia là:

Điều kiện các yếu tố sản xuất: Nhân tố này được hiểu là vị thế của quốc gia về các yếu

tố sản xuất đầu vào như lao động được đào tạo hay cơ sở hạ tầng, cần thiết cho cạnh tranhtrong một ngành công nghiệp nhất định

Điều kiện về cầu: Nhân tố này còn được hiểu là đặc tính của cầu trong nước đối với sản

phẩm hoặc hàng hóa của ngành đó

Các ngành hỗ trợ và liên quan: Nhân tố này có thể hiểu theo góc độ sự tồn tại hay thiếu

hụt những ngành công nghiệp liên quan và hỗ trợ có tính cạnh tranh quốc tế ở quốc gia đó

Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh ngành: Đây là những điều kiện trong một quốc gia

liên quan tới việc thành lập, tổ chức và quản lý doanh nghiệp, cũng như những đặc tính củacạnh tranh trong nước

Ngoài ra, mô hình còn có 2 biến số ngoại sinh là Cơ hội và Chính phủ Cơ hội là những

sự kiện xảy ra bên ngoài kiểm soát của doanh nghiệp Chúng rất quan trọng vì chúng tạo ragián đoạn trong đó có thể tăng tính cạnh tranh cho doanh nghiệp hoặc ngược lại Yếu tốcuối cùng là chính phủ Chính phủ ở mọi cấp độ có thể cải thiện hoặc làm giảm lợi thế củamột quốc gia Có thể nhìn thấy rõ nhất khi xem xét ảnh hưởng chính sách lên mỗi nhân tố

2.2 Mô hình Kim cương và các nhân tố quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia của ngành du lịch biển

Phân tích lợi thế cạnh tranh quốc gia của ngành du lịch biển dưới lăng kính của mô hìnhkim cương, ta cần lưu ý lựa chọn và lồng ghép tính đặc thù của ngành kinh tế dịch vụ nàyvào các nhân tố cơ bản của mô hình

2.2.1 Điều kiện về các yếu tố sản xuất

Yếu tố then chốt trong các điều kiện về cách yếu tố đầu vào là nguồn lực đầu vào sẵn có

và việc hoàn thiện, nâng cấp lâu dài nguồn lực đó Không thể phủ nhận tính sẵn có củanhóm nguồn lực này bởi nếu không có nhữn nguồn lực đầu vào và những điểm thu hút dukhách nói riêng – các nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hóa và do con người tạo ra thì sẽkhông có hoạt động du lịch Tuy nhiên, không phải những đầu vào sẵn có mà là những yếu

tố đầu vào do mỗi quốc gia tự tạo ra trong quá tình phát triển của mình mới chính là các

Trang 5

yếu tố đầu vào tác động mạnh nhất tới lợi thế cạnh tranh của hầu hết các ngành, đặc biệt làngành du lịch biển Do đó số lượng các đầu vào không quan trọng bằng hiệu quả và hiệusuất sử dụng chúng Đánh giá các vai trò của các điều kiện đầu vào đối với hoạt động củangành du lịch, cần thiết phải xem các nhóm nhân tố: Nguồn tài nguyên thiên nhiên; Nguồntài nguyên lịch sử, văn hóa; Nguồn vốn và cơ sở hạ tầng; Nguồn nhân lực.

- Nguồn tài nguyên thiên nhiên

Sản phẩm du lịch biển được tạo ra thường gắn với yếu tố tài nguyên thiên nhiên.Chính vì vậy, khi đánh giá các điều kiện đầu vào tác động tới lợi thế cạnh tranh quốc giacủa ngành du lịch biển trước tiên cần đánh giá lợi thế cạnh tranh về tài nguyên thiên nhiên,đây chính là điều kiện cốt yếu tạo ra sản phẩm du lịch

Tài nguyên thiên nhiên trong du lịch biển thể hiện rõ nét qua lợi thế so sánh về vị tríđịa lý và địa hình cũng như khí hậu Về vị trí địa lý, đây là thành tố góp phần gia tăng hiệuquả trong chuyến đi, tạo điều kiện thuận lợi cho du khách trong việc tiếp cận điểm đến dulịch Đặc biệt đối với du lịch biển, vị trí địa lý và địa hình càng đóng góp một vai trò quantrọng đối với lợi thế cạnh tranh của quốc gia Nhân tố thứ hai trong nhóm tài nguyên thiênnhiên là khí hậu Hoạt động du lịch, nhất là du lịch biển chịu ảnh hưởng trực tiếp của khíhậu và đặc biệt là diễn biến của thời tiết: nắng ấm nhiệt đới, không khí trong lành rõ ràng làmột lợi thế trong ngành du lịch biển

- Nguồn tài nguyên nhân văn

Cùng với tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn cũng có sự hấp dẫn khôngkém đối với du khách Tài nguyên nhân văn bao gồm các giá trị lịch sử và các giá trị vănhóa

Các giá trị lịch sử bao gồm những sự kiện lịch sử đã diễn ra hoặc các di vật để lạisau sự kiện đó

Các giá trị văn hóa bao gồm các giá trị vật thể và phi vật thể Các giá trị văn hóa vậtthể là toàn bộ công trình kiến trúc Bên cạnh những giá trị vật thể là những giá trị phi vậtthể bao gồm những phong tục, tập quán, lễ hội, văn hóa ẩm thực

- Nguồn vốn và cơ sở hạ tầng

Trang 6

Một trong những thành phần quan trọng của môi trường du lịch biển là mức độ pháttriển hạ tầng du lịch biển bao gồm hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật ngành với các cơ sở lưutrú, dịch vụ cùng các hạ tầng khác như hệ thống giao thông, y tế, du lịch, an ninh quốcphòng Đây là những điều kiện cần thiết, đảm bảo những dịch vụ cơ bản trong hoạt động

du lịch Do đó vấn đề đặt ra là cần thu hút ngày một nhiều hơn và có hệ thống các nguồnvốn đầu tư vào mở rộng và nâng cao chất lượng hạ tầng du lịch

Nguồn vốn đầu tư chủ yếu bao gồm vốn đầu tư trực tiếp ngân sách nhà nước, nguồnvốn đầu tư của khu vực dân cư, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và nguồn vốn ODA làkhông thể thiếu được trong nhu cầu phát triển của nền kinh tế nói chung và ngành du lịchbiển nói riêng Điều cốt yếu không phải là lượng vốn đầu tư nhiều hay ít mà là việc sử dụnghiệu quả nguồn vốn này

- Nguồn nhân lực

Khả năng ngôn ngữ: Đặc biệt đối với ngành du lịch nói chung và du lịch biển nóiriêng, việc thông thạo ít nhất một ngôn ngữ phổ biến quốc tế để giao tiếp với khách nướcngoài là cực kì cần thiết

Trình độ hiểu biết về kinh tế: Có tư duy kinh tế góp phần đẩy nhanh tiến độ và nângcao hiệu quả công việc trong các hoạt động tổ chức, thực hiện các quá tình thiết lập, cải tạo,duy trì, hiện đại hóa cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ trong kinh doanh

Hiểu biết về các vấn đề chính trị, xã hội, văn hóa, lịch sử: Có nền tảng hiểu biết sâurộng mang lại lợi thế trong mối quan hệ với khách hàng, giúp nắm bắt tâm lý và tiếp cậngần hơn với nhu cầu của khách

2.2.2 Điều kiện về cầu

Nhân tố thứ 2 về lợi thế cạnh tranh trong 1 ngành công nghiệp là điều kiện về cầu, đặcbiệt là cầu trong nước đối với sản phẩm và dịch vụ của ngành này Theo quan điểm của M.Porter, những điều kiện về cầu có thể là nhân tố quyết định có tác động mạnh mẽ nhất tớilợi thế cạnh tranh quốc gia

Kết cấu cầu trong nước: Thông qua kết cấu và tính chất của nhu cầu khách hàng trongnước, các công ty có thể nắm bắt và phản ứng với nhu cầu khách hàng Các nước cũng có

Trang 7

lợi thế cạnh tranh nếu khách hàng trong nước khó tính đối với sản phẩm dịch vụ đó, điềunày gây áp lực đổi mới lên các công ty qua đó đạt được lợi thế cao cấp hơn so với nướcngoài.

Quy mô lựa chọn và thời điểm của cầu dịch vụ: Các quốc gia khác nhau có sự khác biệtlớn về nhu cầu với dịch vụ cụ thể Chính vì vậy, cần khoanh vùng nhóm khách hàng mụctiêu, phân tích nhu cầu về sản phẩm du lịch của nhóm khách hàng này, lựa chọn phươngthức kinh doanh và loại sản phẩm phù hợp

2.2.3 Các ngành hỗ trợ và liên quan

Các công ty nằm trong các ngành có khả năng cạnh tranh cao của quốc gia không hề tồntại biệt lập Sự đóng góp của những ngành hỗ trợ và liên quan là vô cùng thiết yếu trongquá tình xác lập và phát huy lợi thế cạnh tranh quốc gia của một ngành Đặc biệt là ngànhdịch vụ du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng Do đặc tính liên ngành mà các hoạtđộng kinh doanh du lịch chủ yếu sử dụng sản phẩm của các ngành hỗ trợ và liên quan đểnâng cao thế mạnh sản phẩm của mình

Ví dụ: Thế mạnh trong một số ngành như ngành giao thông, công nghệ thông tin, viễnthông, giải trí, y tế, góp phần lớn trong việc đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Đặc biệtngành du lịch biển đang được được cách mạng hóa bằng công nghệ mới, nhiều trong số đóliên quan tới hệ thông cung cấp thông tin Công nghệ làm giảm thành phần lao động trongcác dịch vụ và giúp đỡ đội ngũ nhận viên cung cấp dịch vụ nâng cao năng suất lao động.Đấy chỉnh là một điểm mới trong thước đo đánh giá lợi thế cạnh tranh quốc gia màM.Porter muốn nhấn mạnh

2.2.4 Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh ngành

Về mặt chiến lược hình thành và phát triển, các ngành dịch vụ có khuynh hướng đi lên từnhững doanh nghiệp nhỏ hơn là doanh nghiệp có quy mô lớn ngay từ đầu Do đó nếu việckhởi đầu của doanh nghiệp mới thuận lợi thì quốc gia đó sẽ có lợi thế về dịch vụ Ngượclại, nếu những can thiệp của Chính phủ làm cản trở sự đổi mới và phát triển của doanhnghiệp nhỏ thì chúng sẽ phá hủy lợi thế cạnh tranh quốc tế của quốc gia đó

Cạnh tranh trong ngành dịch vụ du lịch liên quan tới sự tinh tế nắm bắt nhu cầu đa dạngcủa khách hàng, tinh tế trong chi tiết và không ngừng cải tiến các loại hình dịch vụ đã và

Trang 8

đang hoạt động cũng như nghiên cứu cho ra đời sản phẩm mới Cạnh tranh ngành trongnước không chỉ giới hạn bởi giá cả Trên thực tế, cạnh tranh dưới những hình thức khácnhư công nghệ cũng dẫn đến những lợi thế quốc gia bền vững hơn.

2.2.5 Vai trò của cơ hội

Cơ hội có sức ảnh tranh có thể kể đến như sự ra đời của phát minh thuần túy, đột phácông nghệ, thanh đổi chi phí đầu vào (VD: giá dầu mỏ), sự dịch chuyển lớn của thị trườngtài chính thế giới

Ngành du lịch nói chung và ngành du lịch biển nói riêng, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sựthay đổi nhu cầu khách hàng, vai trò của cơ hội càng trở nên rõ nét Tuy vậy, cơ hội chỉđóng vai trò là một biến số ảnh hưởng lên lợi thế cạnh tranh của một quốc gia thông quaảnh hưởng của nó lên các nhân tố chính trong mô hình Rõ ràng, một quốc gia có tàinguyên biển phong phú đến đâu đi chăng nữa cũng không thể tăng doanh thu về du lịchbiển nếu đang xảy ra chiến tranh

Ảnh hưởng của cơ hội cũng thể hiện ở việc chúng có thể xóa đi lợi thế của những doanhnghiệp thành lập trước đó và tạo ra tiềm năng mà các công ty mới có thể khai thác để cóđược lợi thế đáp ứng những điều kiện mới và khác biệt

Trang 9

Tác động của Chính phủ có thể mang tính tích cực hoặc tiêu cực Và ngược lại, chính Chính phủ cũng chịu ảnh hưởng từ những nhân tố quyết định.

Trang 10

CHƯƠNG 2 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DU LỊCH BIỂN VIỆT NAM

Việt Nam đã có những bước tiến quan trong giúp phần ghi tên Viêt Nam vào bản đồnhững nền kinh tế ngày càng tiến bộ Góp phần vào những thành tựu quan trọng đó khôngthể không thể đến vai trò của ngành du lịch Theo Báo cáo thường niên của Travel &Tourism Economic Impact Việt Nam 2016, công bố tháng 3 năm 2016 ngành du lịch đónggóp khoảng 6.6% trong tổng GDP của Việt Nam Để phát triển, ngành du lịch đã khôngngừng tìm cách để cải thiện năng lực cạnh tranh của mình so với thị trường du lịch thế giới.Những nỗ lực ấy đươc minh chứng rõ ràng:

Các chỉ số thành phần đánh giá năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF)

Tài nguyên văn hóa và kinh doanh du

Trang 11

gì và sẽ phải đạt thêm đươc những gì để góp phần thúc đẩy năng lực cạnh tranh của du lịch quốc gia.

1 Điều kiện các yếu tố sản xuất

Đầu vào là yếu tố quan trọng cho tất cả các ngành sản xuất chứ không phải duy nhấtngành du lịch Tuy nhiên đầu vào ngành du lịch có những đặc trưng nhất định

1.1 Nguồn tài nguyên thiên nhiên

Khi xếp hạng đánh giá tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam vào năm 2015, WEF đã xếphàng Viêt Nam khá cao ( hạng 40) chỉ xếp sau Thái Lan ( hạng 16), Indonesia ( hạng 19),

và Malaysia ( hạng 26) trong khu vực ASEAN, điều này đủ cho thấy tài nguyên thiên nhiênViệt Nam phong phú và đa dạng như thế nào Được thiên nhiên ban tặng hơn 3260 kmđường bờ biển với hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ, Việt Nam hứa hẹn là một điểm đến du lịchbiển lý tưởng Biển Viêt Nam đa dạng và phong phú về nhiều mặt như: hệ sinh thái biểnrộng lớn với nhiều loại sinh vật biển, động thực vật biển, tài nguyên khoáng sản hay nănglượng, tuy nhiên khi nhìn sự phong phú ấy dưới góc độ đầu vào của du lịch Việt Nam, tàinguyên biển nổi bật với những đặc điểm sau đây

1.1.1 Địa hình

Biển Việt Nam hoàn toàn nằm trong khu vực nhiệt đới với diện tích mặt biển rộng 1,2triệu km2 quanh năm không đóng bang, tạo điều kiện thuận lợi cho vận chuyển, đi lại vàphát triển các dịch vụ du lịch biển Việt Nam có tới 125 bãi biển và hầu hết là các bãi tắmđẹp trong đó bãi biển Đà Nẵng được tạp chí Forbes bầu chọn là 1 trong 6 bãi tắm quyến rũnhất hành tinh Ngoài ra Việt Nam cũng là 1 trong 12 quốc gia có vịnh đẹp nhất thế giới làvịnh Hạ Long và vịnh Nha Trang Sở hữu một đường bờ biển dài với những bờ cát trắng,vinh biển Việt Nam còn khá hoang sơ và những hòn đảo nhiệt đới quanh năm tươi tốt, dulịch biển Việt Nam thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến nghỉ dưỡng, tìm hiểu,khám phá và thậm chí là nghiên cứu Lãnh thổ ven biển, vùng biển, hệ thống các đảo, nơidiễn ra du lịch biển đỏ tập trung tới 7/13 di sản thế giới, 6/8 các khu dự trữ sinh quyển,nhiều vườn quốc gia và các khu bảo tổn

1.1.2 Hệ sinh thái biển

Trang 12

Theo các số liệu thống kê, có tới 11000 loài sinh vật thủy sinh, 1300 loài sinh vật trênđảo đã được biết đến với 20 hệ sinh thái điển hình thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khácnhau Trong đó có khoảng 6000 loài động vật đáy và 2000 loài cá, 653 loài rong biển, 657loài động vật phù du, 537 loài thưc vật phù du, 94 loại thực vật ngập mặn, 225 loài tômbiển, 14 loài cỏ biển, 15 loài rắn biển, 12 loài thú biển, 5 loài rùa biển, và 43 loài chimnước Các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn cũng đa dạng và phong phú khôngkém, là một tài nguyên đầy hứa hẹn cho phát triển du lịch sinh thái biển, du lịch tham quan

và nghiên cứu đa dạng sinh học biển – một loại du lịch bền vững

1.1.3 Khí hậu

Nằm trong vùng khí hậu điển hình nhiệt đới gió mùa, khí hậu nóng ẩm là đặc trưng tạođiều kiện thuận lợi cho du lịch biển Đặc biệt ở Việt Nam tồn tại những vùng mà khí hậuchỉ có hai mùa nóng và mưa như: miền Nam hay Nam Trung bộ, dù mùa nào trong năm thì

du lịch biển vẫn có sức thu hút nhất định

1.1.4 Vị trí địa lý

Có thể nói vùng biển Việt Nam có vị trí chiến lược, nối thông với nhiều hướng từ cáchải cảng ven biển của Việt Nam thông với eo biển để đi tới châu Âu , châu Phi, Nhật Bản,Nga, Mỹ, … thuận lợi trong giao thông cũng là sức hút riêng của du lịch biển với du kháchquốc tế

Được thiên nhiên ưu đãi, ngành du lịch Việt Nam đã có những bước đi quan trọng đểtận dụng lợi thế này nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh Nhiều bãi biển của Việt Nam đãđược đầu tư và quảng bá và sau một khoảng thời gian đi vào hoạt động đã có những vị thếriêng trên danh sách các điểm đến thu hút Phải kể đến các bãi biển Sầm Sơn ( Thanh Hóa);Non Nước, Mỹ Khê ( Đà Nẵng), Vịnh Nha Trang, Vịnh Cam Ranh ( Khánh Hòa), Mũi Né (Bình Thuận), Vũng Tàu( Bà Rịa – Vũng Tàu), Vịnh Hạ Long ( Quảng Ninh), Ngành dulịch cũng có những định hướng nhật định để phát triển những điểm đến với điểm hấp dẫn

du lịch cụ thể và mục tiêu trở thành những trung tâm du lich biển như Hạ Long, Đà Nẵng,Nha Trang và gần đây nhất là tỉnh Quảng Bình Với định hướng rõ ràng ngành du lịch đãtích cực đầu tư vào các hoạt động vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng đi kèm để tăng sức thu hút

Trang 13

cho du lịch biển đồng thời tích cực tiếp nhận đầu tư để khai thác được hiệu quả nhất tiềmnăng của tài nguyên biển Việt Nam.

Tuy nhiên việc khai thác năng lực cạnh tranh của du lịch biển vẫn còn nhiều bất cập.Theo đánh giá của các chuyên gia về du lịch biển, Việt Nam vẫn chưa khai thác được tiêmnăng tương xứng của du lịch biển đảo Thực tế du lịch biển còn tồn tại các vấn đề như dulịch còn thiếu, nghèo nàn, sản phẩm du lịch đi kèm chưa đa dạng phong phú an ninh trật tự

ở một số khu, địa điểm du lịch chưa đảm bảo và đặc biết là quy hoạch các bãi biển đẹp bịphá vỡ, phát triển manh mún, khó điều chỉnh,thậm chí còn làm mất đi vẻ đẹp hoang sơ vốn

có của biển … chưa có một thương hiệu du lịch nào gắn liền với biển Viêt Nam được chú

ý, được quan tâm thực sự Ngoài ra phát triển du lịch làm sao để duy trì được sự bền vữngcủa tài nguyên tự nhiên lại là một vấn đề đáng quan tâm khác Có thể nói du lịch biển làngành du lịch chịu tác động nhiều hơn cả của tài nguyên thiên nhiên địa phương và sự pháttriển manh mún, không quy hoạch cụ thể hay ý thức trong phát triển và bảo vệ môi trường

đã và đang ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái biển

1.2 Nguồn tài nguyên nhân văn

Ngoài có được một tài nguyên thiên nhiên khổng lồ, bản thân công đồng người Việt quabao đời sinh sống và làm việc nhờ vào biển cũng đã tạo nên một nền văn hóa biển đảophong phú, đa đạng mang đậm bản sắc người Việt Đó là hệ thống các di tích lịch sử- vănhóa biển đảo, hệ thống thần linh, các bậc tiền bối có công trong cuộc chinh phục biển cả,xác lập và thực thi chủ quyền quốc gia trên biển,… đó là bộ sách sử, những châu bản, mộcbản, bản đồ, hải đồ, trong đó nổi bật là Châu bản triều Nguyễn vừa được UNESCO vinhdanh là di sản ký ức thế giới, hẳn là những tài liệu vô cùng có ý nghĩa góp phần khẳng địnhchủ quyền của đất nước ta, nhân dân ta với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa Đó làtruyền thuyết về những con tàu không số đi ra biển với mục đich duy nhất mang lại độc lậpchủ quyền và giữ vững chủ quyển cho đât nước, dân tộc Việt Nam Tài nguyên ấy cón lànhững lễ hội dân gian của cư dân miền biển, tín ngưỡng, phong tục tập quán, văn hóa sinh

kế, văn hóa cư trú, văn hóa ẩm thực diễn xướng dân gian và tri thức địa phương,

Đây có thể được coi là nguồn tài nguyên mang bản sắc Viêt Nam rất riêng và vốn có tuynhiên lại chưa được khai thác đúng mức hay đúng hơn là chưa được quan tâm Văn hóa ẩmthực phần nào được đưa vào hoạt động du lịch với mục đích nghỉ dưỡng tham quan, tuy

Trang 14

nhiên những di sản tinh thần khác lại chưa được khai thác hợp lý Du lịch Việt Nam chưahoàn thành tốt công tác đưa được những di sản văn hóa ấy đến với du khách thậm chí là dukhách trong nước Ngoài mục đích du lịch tham quan, nghỉ dưỡng ngành du lịch của chúng

ta có thể suy nghĩ đến hướng du lịch trải nghiệm – loại hình ngày càng trở lên phổ biếntrong từ điển của du khách Tìm cách lồng ghép giới thiệu và kích thích trí tò mò tìm hiểucủa du khách với những di sản văn hóa này, sức thu hút của du lịch Việt nói chung và dulịch biển nói riêng sẽ được cải thiện không ít

1.3 Nguồn vốn và cơ sở hạ tầng

Khi đi sâu phân tích các chỉ số thành phần của chỉ số năng lực cạnh tranh của du lịchViệt Nam theo báo cáo của WEF có thể thấy yếu tố tài nguyên chiếm ưu thế lớn nhất,nhưng chỉ số về đầu tư và cơ sở hạ tầng du lịch lại là yếu tố kéo chỉ số cạnh tranh của ViệtNam xuống ( cơ sở hạ tầng cho dịch vụ du lịch 113 – khá thấp), đây là vẫn đề của du lịchnói chung và du lịch biển nói riêng Nhìn chung đến tháng 2 năm 2016 cả nước có 1573Doanh nghiệp lữ hành quốc tế với 8 doanh nghiệp Nhà nươc, 507 doanh nghiệp cổ phần, 15doanh nghiệp liên doanh, 1026 công ty TNHH, 8 doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp lữ hành quốc tế giai đoạn 2008 – 2016

Có thể thấy số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch có dấu hiệutăng dần nhưng tăng không nhiều, hơn nữa đối với một nền kinh tế đang phát triển như ViệtNam con số 1600 doanh nghiệp đến năm 2017 là một con số khá khiêm tốn Số lượngdoanh nghiệp liên doanh tăng nhưng không nhiều chỉ ở 15 doanh nghiệp có thể thấy chínhsách ưu tiên của chính phủ đối với doanh nghiệp trong nước, nhưng chưa thực sự hiệu quảvới sự phát triển của du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng Đến năm 2015, số lượng

cơ sở lưu trú trên cả nước là 18.800 cơ sở lưu trú Du lịch với trên 355.000 buồng (tăng2.800 cơ sở lưu trú so với năm 2014), trong đó có 91 khách sạn 5 sao với 24.212 buồng;

215 khách sạn 4 sao với 27.379 buồng, 441 khách sạn 3 sao với 30.737 buồng… Công suất

sử dụng buồng bình quân toàn ngành đạt 57% Số lượng cơ sở lưu trú tăng nhưng chất

Trang 15

lượng cơ sở lưu trú chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu khách du lịch Số lượng cơ sở lưutrú chất lượng 3 sao – 5 sao vẫn còn nhỏ.

Khách sạn 5 sao và Khách sạn 4 sao và Khách sạn 3 sao và

Số cơ sở Số buồng Số cơ sở Số buồng Số cơ sở Số buồng

Số lượng cơ sở lưu trú từ 3 – 5 sao ( 2013 – 2016)

Cơ sở hạ tầng giao thông chung chưa được cải thiện cũng là yếu tố tác động đến cơ ở hạtầng du lịch Tình trạng tắc nghẽn, dịch vu trong chuyên trở chưa thực sự tốt để làm vừalòng khách hàng

Vì tình trạng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch chưa thực sự đảm bảo, yêu cầu tất yếu khiếnViệt Nam phải xúc tiến đầu tư Trong ngành du lịch biển, đầu tư được quan tâm và ngàycàng trở lên quan trọng Những năm gần đây, đã tình trạng phát triển manh mún đã giảm điphần nào thay vào đó là sự xuất hiên của các tập đoàn lớn như VinGroup hay FLC, chưanhiều nhưng những tập đoàn này đã cho thấy sự hiệu quả trong hoạt động đầu tư quy môlớn và có quy hoạch chiến lược Nhiều khu nghỉ dưỡng cao cấp được xây dựng ven các bờbiển, phát triển kèm theo là sự đầu tư vào hàng hóa đi kèm du lịch Ngoài những nhà đầu tưtrong nước, chính phủ tích cực kêu gọi đầu tư nước ngoài vào du lịch biển Đến năm 2015,đầu tư nước ngoài cho lĩnh vực du lịch chiếm khoảng 70% tổng đầu tư vào Việt Nam Dự

án của tập đoàn Platinum Dragon Empire (Mỹ) phát triển khu du lịch vui chơi giải trí tại BàRịa-Vũng Tàu với số vốn lên đến 550 triệu USD; dự án đầu tư của Tập đoàn Rockingham(Anh) xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng biển cao cấp và các khu vui chơi giải trí, trườngđua ô tô 1.000 ha tại Phú Quốc, quy mô dự án lên đến 1 tỷ USD…

Đầu tư bước đầu đã đen lại lợi nhuận, nguồn thu cho doanh nghiệp, tuy nhiên lại nhậnđược những phản ánh về tác động tiêu cực khi tích cực đầu tư đến cuộc sống của người dânvùng ven biển Họ bị mất đi kế sinh nhai, hay ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái biển,

… Như vậy, phát triển du lịch chưa bên vững và chưa hiệu quả, trong khi các doanh nghiệpliên tục thu lợi thì người dân ven biển lại trở lên khó khăn, tình trạng du phát triển du lịchnhư vậy không thể kéo dài

Trang 16

cả trí lực và thể lực , nguồn nhân lực trong hoạt động du lịch biển còn là những ngươi dânđịa phương với những bản sắc văn hóa đầm đà đã trở thành những người hướng dẫn hiệuquả nhất, bởi không ai trong số chúng ta hiểu hơn những người dân bản địa về phong tục,tấp quán lối sống, Đây là một trong những lợi thế của du lịch biển Việt Nam khi biết tậndụng tối đa những tiềm năng nhân lực mà mình có Tuy nhiên trong dài hạn khi mà ngành

du lịch biển ngày càng trở lên cạnh tranh thì nguồn nhân lực cũng phải thay đổi hoàn thiệnhơn Tỷ lệ lao động qua đào tạo cần được nâng cao hơn, hơn nữa chúng ta vẫn tận dùng lợithế trong nguồn nhân lực của mình nhưng cả những người làm du lịch địa phương cũng cầnđược đào tạo bài bản

2 Điều kiện về cầu du lịch

Nhân tố thứ hai cũng là nhân tố rất quan trọng được đề cập tới trong mô hình kim cươngcủa M,Porter là điều kiện về cầu vai trò ảnh hưởng sâu sắc của các điều kiện cầu trongnước về hàng hóa dịch vụ đối với sự phát triển của các ngành kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

đã được khẳng định trong mô hình của M.Porter – Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia.Ngành du lịch biển cũng không phải là ngoại lệ

Nhiều người sợ rằng việc toàn cầu hóa cạnh tranh sẽ làm giảm tầm quan trọng của thịtrường nội địa Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh các quốc gia đã và đang tạo được lợi thếcạnh tranh trong những ngành mà ở đó cầu nội địa tăng đã giúp các ngàng này có cái nhìntổng quan, rõ ràng, sớm và chính xác hơn về nhu cầu quốc tế trong tương lai Đặc biệt vớingành du lịch biển, khi mà sản phẩm tiêu thụ gắn chặt và có độ nhạy cảm cao với nhu cầukhách hàng thì thị trường nội địa càng đóng vai trò quan trọng, không chỉ đem lại nguồn lợi

Trang 17

về kinh tế mà còn góp phần định hướng, nâng cao, hoàn thiện cơ cấu phát triển ngành dulịch đáp ứng nhu cầu của thị trường quốc tế số liệu khảo sát du lịch biển việt nam 2016 chothấy, có hơn 62 nghìn lượt khách du lịch nội địa du lịch.

Lượng khách du lịch nội địa đóng vai trò nòng cốt trong việc khẳng định giá trị của mỗiđịa điểm du lịch biển trong nước, từ đó kích thích cầu, ham muốn khám phá những điểm dulịch đó của du khách quốc tế Thách thức đối với các doanh nghiệp du lịch nội địa phảinâng cao chất lượng phục vụ cũng như các sản phẩm du lịch của họ nếu không muốn mấtthị phần vào tay các công ty nước ngoài cũng như số khách du lịch giảm bên cạnh đó, cơhội của các doanh nghiệp tiếp cận gần hơn với nhu cầu của khách du lịch không chỉ nội địa

mà còn là khách quốc tế Dựa vào nhu cầu nội địa để dự đoán nhu cầu quốc tế cũng nhưnghiên cứu để định hướng thị trường và phát triển sản phẩm du lịch biển, tập trung xâydựng các sản phẩm đặc thù ven biển sẽ đem lại cho ngành du lịch một nước có lợi thế cạnhtranh hơn so với các nước khác khi đón đầu và đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của thịtrường khách hàng rộng lớn trên phạm vi toàn cầu

Một trong những yếu tố quan trọng nhất dẫn đến việc cầu trong nước tăng là do chi phí

du lịch biển rẻ tương đối so với các địa điểm du lịch khác trên thế giới Các địa điểm dulịch biển như biển Cửa Đại, gần dòng sông nên thơ của Thành phố Hội An, bãi biển NhaTrang, và bờ biển trải dài trên đảo Phú Quốc, mọi người chỉ mất có 10 bảng 56 xu (tính ratiền Anh Quốc) cho chí phí nước khoáng, bia, một que kem, bữa ăn trưa và kem chốngnắng, trong khi tổng chi phí này sẽ lên tới 51 bảng 82 xu cho bãi biển Kristiansand ở miền

Trang 18

Nam Nauy (bãi biển đắt nhất thế giới) Trong khi đó, tổng chi phí này sẽ là 41 bảng 50 xu cho La Plage de Maui, Hòn đảo Tahiti.

3 Các ngành hỗ trợ liên quan

Du lịch biển không thể phát triển mạnh mẽ mà không có sự liên kết với các ngànhkhác Nắm bắt được sự ảnh hưởng lẫn nhau này, Việt Nam đã không ngừng đầu tư và nângcao khả năng cạnh tranh của ngành du lịch biển và không thể không kể đến ngành giaothông vận tải, công nghệ thông tin, cung ứng sản phẩm du lịch…

3.1 Ngành giao thông vận tải

3.1.1 Vận tải đường bộ

Ngành giao thông đã chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông nối các quốc lộ đến cáckhu và điểm du lịch quốc gia; đẩy mạnh phát triển các trạm dừng nghỉ trên các quốc lộ, đápứng nhu cầu nghỉ ngơi của du khách, giới thiệu bán các sản phẩm, đồ lưu niệm địa phươngcho du khách Việc xây dựng những con đường cao tốc đạt chất lượng quốc tế cũng nhưxây dựng những cây cầu hiện đại đã góp phần rất lớn trong quá trình đi lại, giao thương, dulịch giữa các vùng trong cả nước

Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ rõ rệt, vận tải đường bộ vẫn còn khá nhiều tồn tại.Khách du lịch vẫn phàn nàn về hệ thống đường giao thông nhỏ hẹp, phương tiện giao thông

di chuyển với mật độ dày đặc và tình trạng ùn tắc tuy đã được giải tỏa bớt nhưng vẫn diễn

ra khá thường xuyên trên các tuyến đường đi đến địa điểm du lịch cũng như trong nộithành Tắc nghẽn giao thông là một trong những lý do mà khách du lịch khá dè dặt khi lựachọn đến việt nam du lịch

3.1.2 Vận tải hàng không.

Hàng không chính là cầu nối rút ngắn khoảng cách không gian và thời gian, giúp cácđiểm đến tiếp cận gần hơn, thuận lợi hơn với khách du lịch Trong những năm qua, ngànhhàng không đã luôn đồng hành và hỗ trợ tích cực cho phát triển của du lịch Việt Nam.Tuynhiên, sự hợp tác giữa hai bên vẫn chưa phát huy hết sức mạnh tổng hợp, và hiệu quả đemlại chưa tương xứng với khả năng hợp tác mong đợi của hai ngành

Trang 19

Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 được Thủ tướngChính phủ phê duyệt ngày 30/12/2011 đã xác định: phát triển du lịch trở thành ngành kinh

tế mũi nhọn, du lịch chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực pháttriển kinh tế xã hội, đẩy mạnh xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực trong nước và ngoàinước cho đầu tư phát triển du lịch, huy động tối đa tiềm năng, lợi thế quốc gia, yếu tố tựnhiên và văn hóa của dân tộc, thế mạnh đặc trưng của các vùng miền trên cả nước, tăngcường liên kết phát triển du lịch” Đặc biệt trong năm 2009 du lịch Việt Nam đã tìm cáchthoát khỏi khủng hoảng bằng chương trình Ấn tượng Việt Nam nhằm kích cầu du lịch nộiđịa cũng như thu hút du khách nước ngoài Sự sát cánh hợp tác của ngành hàng không vớihàng loạt chính sách khuyến mãi, giảm giá các tuyến bay nội địa đã góp phần quan trọngcho các doanh nghiệp du lịch thiết kế tour và bán tour giá rẻ Nhờ đó mà ngành du lịch chặnđược đà suy giảm khách quốc tế, đẩy tăng trưởng du lịch nội địa lên tới 20%.Trong khi đó,thái độ chủ động tích cực phối hợp của các doanh nghiệp du lịch với các hãng hàng khôngtrong nước và nước ngoài đang khai thác thị trường Việt Nam cũng đã nâng cao rõ rệt hiệuquả quảng bá du lịch Việt Nam ra ngoài thế giới

3.1.3 Ngành đường biển – tàu biển

Không nằm ngoài xu thế, Việt Nam với những điều kiện thuận lợi đã tạo nên sức hút về

du lịch biển đối với du khách trong nước và quốc tế Được mệnh danh là quốc gia “rừngvàng, biển bạc”, tạo hóa ưu ái cho nước ta đường bờ biển dài với hàng ngàn hòn đảo lớnnhỏ, những bãi tắm trải dài ngút mắt, hệ sinh thái đa dạng phong phú và những vịnh biểnnổi tiếng trên bản đồ du lịch thế giới như vịnh Hạ Long, vịnh Nha Trang, vịnh Vĩnh Hy,vịnh Lăng Cô…

Bên cạnh đó, Việt Nam có vị trí thuận lợi nằm giữa hai trung tâm du lịch tàu biển lớnnhất khu vực là Hong Kong và Singapore - nơi phát triển mạnh về kinh tế, trong đó có dulịch Vì vậy, dải ven biển dài trên 3.200 km được coi là “cánh cửa lớn” đưa Việt Nam tiếpcận với các nước trong khu vực và thế giới thông qua biển Đông

Từ những lợi thế này, ngành du lịch tàu biển Việt Nam đang có những tín hiệu lạc quanthông qua việc số lượng khách quốc tế đến bằng tàu biển ngày càng gia tăng Theo số liệu

từ Tổng cục Thống kê, trong số hơn 10 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam năm 2016,

có 284.855 lượt khách đến bằng phương tiện đường biển, tăng 67,7% so với năm 2015

Trang 20

Trong 6 tháng đầu năm 2017, số khách đến bằng phương tiện đường biển đạt 170.843 lượt,tăng 26% so với cùng kỳ năm trước.

Việt Nam đang được xem là thị trường hấp dẫn của các hãng tàu biển lớn trên thế giớinhư Royal Caribbean International (Mỹ), Star Cruises, Costa Crociere S.p.A, đón nhiềulượt tàu quốc tế cao cấp với lượng khách lên đến hàng nghìn người: Ngày 6/2/2017, tàu dulicḥ biển quốc tế Celebrity Millennium (hãng Royal Caribbean Cruises Lines) đã đưa 2.150

du khách quốc tế và hơn 950 thủy thủ đoàn cập cảng Chân Mây (Thừa Thiên – Huế) Ngày10/4/2017, tàu biển cao cấp Diamond Princess (thuộc Tập đoàn Carnival Corporation &Plc, Mỹ) đã đưa hơn 2.700 du khách và khoảng 1.200 thủy thủ đoàn cập cảng Chân Mây

Gần đây nhất, vào ngày 23/6/2017, du thuyền Majestic Princess (hãng Princess Cruises)

đã cập cảng Phú Mỹ (Bà Rịa - Vũng Tàu) chở theo 1.340 nhân viên và 3.560 khách quốc tếđến Việt Nam Có thể thấy, du lịch tàu biển tại nước ta đang có những tín hiệu tích cực

Trong đó, cảng Chân Mây là một trong 46 cảng biển được Hiệp hội Du thuyền châu Á lựachọn xây dựng là điểm dừng chân cho các du thuyền ở khu vực Đông Nam Á Sau khi nângcấp cảng có khả năng đáp ứng nhu cầu đưa đón khách của các hãng tàu nổi tiếng trên thếgiới Dự kiến trong năm 2017, cảng Chân Mây sẽ đón khoảng 54 chuyến tàu du lịch biểncác loại với hơn 113.000 du khách quốc tế và 45.000 thuỷ thủ đoàn đến tham quan tại cáctỉnh duyên hải miền Trung

Đáng chú ý, dự án Cảng hành khách quốc tế Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang) hiện đang trongquá trình hoàn thành, sẽ là Cảng hành khách đa chức năng đạt tiêu chuẩn quốc tế đầu tiêntại Việt Nam Sau khi đưa vào sử dụng, cảng có năng lực tiếp nhận tàu khách quốc tế vàhàng hóa với công suất lớn, sức chở từ 5.000 – 6.000 hành khách Từ đó góp phần thúc đẩy

du lịch, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội tại huyện đảo Phú Quốc nói riêng và tỉnhKiên Giang nói chung

Với tiềm năng sẵn có và triển vọng phát triển, thị trường du lịch tàu biển nước ta có thểđóng góp vào phát triển kinh tế cho các địa phương có lợi thế về du lịch biển như Hạ Long,

Đà Nẵng, Huế, Nha Trang, Phú Quốc… Về lâu dài, để phát triển mạnh loại hình du lịch tàubiển, cần đầu tư xây dựng hệ thống cảng chuyên dụng phục vụ du lịch hoặc cảng đa năng

có năng lực tiếp đón hành khách và hàng hóa công suất lớn; phát triển đa dạng các dịch vụ

Trang 21

cho khách đi tàu biển như city tour, dịch vụ vui chơi giải trí, mua sắm, ẩm thực đặc sắc tạiđịa phương nơi tàu neo đậu; tiếp tục xây dựng cơ chế thông thoáng, đơn giản hóa thủ tụcxuất nhập cảnh cho du khách

3.2 Ngành công nghệ thông tin

Sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin trong quá trình toàn cầu hóa đang đặt

ra đòi hỏi bức thiết cho nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt là ngành dulịch không khói - du lịch biển trong việc ứng dụng những thành tựu của internet để đẩymạnh hiệu quả xúc tiến, kinh doanh

Thống kê cho thấy, trong số 36 triệu người người dung internet ở nước ta, có tới 32 triệungười dùng facebook Tỷ lệ lớn trong số họ được truyền cảm ứng đi du lịch từ những tấmảnh bạn bè chia sẻ trên mạng xã hội, diễn đàn, blog… dù số khách trực tuyến tìm đến các

cơ sở kinh doanh du lịch trong nước là không ít, nhưng số người sử dụng internet như mộtkênh thông tin quan trọng, tiện lợi và hữu hiệu để tìm kiếm thông tin và đưa ra quyết địnhmua tour đang ngày càng tăng nhanh chóng Trung bình một ngày, người sử dụng internet ởViệt Nam có bốn lần sử dụng công cụ tìm kiếm google Điều này cho thấy, internet đangdần trở thành kênh thông tin chủ yếu đối với du khách cả nội đia và quốc tế

Sự tăng trưởng nhanh chóng của cả khối lượng và yêu cầu về chất lượng của du kháchhiện nay, đòi hỏi công nghệ thông tin (CNTT) mạnh mẽ để quản lý các thông tin mở rộng

Người tiêu dùng hiện nay “ít khi sẵn lòng chờ đợi hoặc chịu đựng những sự chậm trễ,đến mức độ kiên nhẫn là một phẩm chất biến mất nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch và tồn tạilâu dài thì không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc kết hợp công nghệ và nâng cao tínhtương tác với thị trường ngày càng phát triển

CNTT cải thiện dịch vụ chất lượng và góp phần nâng cao sự hài lòng của du khách Sựhài lòng của khách hàng phụ thuộc rất nhiều vào tính chính xác và toàn diện của thông tin

cụ thể về khả năng tiếp cận của điểm đến, cơ sở vật chất, thu hút du khách và các hoạt độngkhác Vì vậy, CNTT tạo điều kiện cho các yếu tố thúc đẩy sự hài lòng của người tiêu dùng

3.3 Các ngành cung ứng sản phẩm du lịch biển

3.3.1 Hệ thống cơ sở lưu trú:

Trang 22

Cơ sở lưu trú là một trong những yêu tố mà khách du lịch đặc biệt quan tâm bởi dù điđâu thí ai cũng cần một địa điểm thoải mái để nghỉ ngơi sau khi căng thẳng hay du lịchxung quanh mệt mỏi Vì vậy việc nâng cao chất lượng cơ sở lưu trú sẽ giúp thúc đẩy ngành

du lịch biển việt nam, tăng doanh thu và lượng khách du lịch đến việt nam Như du lịchbiển Đà Nẵng, số lượng khách sạn tăng liên tục qua các năm với tốc độ tăng bình quân là26,14% Số lượng phòng cũng tăng lên liên tục và tăng nhanh qua các năm, từ 2.348 phòngvào năm 2005 lên 7.423 phòng vào năm 2011 Cùng với sự tăng lên của số lượng khách sạnthì các khách sạn chất lượng cao cũng tăng lên, tuy nhiên con số này còn khá khiêm tốntrong tổng số khách sạn toàn thành phố Hoạt động kinh doanh của các khách sạn giữ tốc

độ tăng trưởng khá ổn định với công suất sử dụng phòng bình quân là 75%, các khách sạnven biển và khách sạn 3 - 5 sao có công suất sử dụng phòng vào mùa hè có thể lên ñến 90 -100%

3.3.2 Hệ thống nhà hàng, cửa hàng bán đồ lưu niệm

Ở Đà Nẵng, hệ thống nhà hàng có hơn 200 nhà hàng ăn uống, thực đơn ẩm thực phục vụkhách khá đa dạng Tuy nhiên, các nhà hàng, quán ăn thường phục vụ các món nhậu, chủyếu phục vụ cho khách tại chỗ, ít có nhà hàng để lại ấn tượng cho du khách Về dịch vụ bánhàng lưu niệm, các doanh nghiệp mới chỉ kinh doanh một số loại sản phẩm từ trước ñếnnay là: ñá mỹ nghệ Non Nước, tranh (sơn mài, vẽ, thêu ), vải tơ tằm, hải sản khô, nemtré Tuy nhiên, các điểm kinh doanh hàng lưu niệm là rải rác, thiếu tập trung, gây khókhăn cho du khách trong việc tìm kiếm, đặc biệt dối với khách quốc tế Ngoài ra, giá cácmặt hàng lưu niệm cũng thường có sự phân biệt giữa khách quốc tế và khách nội địa Số cơ

sở kinh doanh dịch vụ đạt chất lượng chưa nhiều, chưa đáp ứng được nhu cầu mua sắm, ănuống của khách du lịch Hiện nay, toàn thành phố có khoảng 35 cơ sở được công nhận danhhiệu "Đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch", trong đó 22 cơ sở ăn uống và 13 cơ sở muasắm Qua đó cho chúng ta thấy hệ thống nhà hàng, cửa hàng bán đồ lưu niệm ngày càngtăng thì càng thu hút du khách Vì khi đi du lịch ở bất kì một địa điểm du lịch nào mà đặcbiệt là du lịch biển thì họ rât mong muốn có được món quà lưu niệm đặc trưng của vùngmiền cũng như đất nước mà họ du lịch Do đó việc kinh doanh hàng lưu niệm đã được tậptrung phát triển thành các chuỗi không riêng đồng thời nâng cao chất lượng hàng lưu niệmngày càng thu hút và thỏa mãn nhu cầu của du khách Và sau khi du lịch họ vẫn muốn trở

Trang 23

lại việt nam không chỉ vì giá rẻ mà cả về việc phục vụ và sự thân thiện của mọi người nơi

họ du lịch

4 Chiến lược phát triển ngành du lịch Việt Nam

4.1 Chiến lược phát triển du lịch từ 2000- 2010

4.1.1 Mục tiêu của Chiến lược:

- Mục tiêu tổng quát:

Phát triển du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, từng bước đưa nước ta trởthành một trung tâm du lịch có tầm cỡ của khu vực, phấn đấu sau năm 2010 du lịch ViệtNam được xếp vào nhóm quốc gia có ngành du lịch phát triển trong khu vực

Chú trọng phát triển và khai thác thị trường du lịch nội địa, đáp ứng yêu cầu giao lưu, hộinhập du lịch trong ngoài nước và phù hợp với quy định của Nhà nước

Theo số liệu thống kê giai đoạn 2000 - 2010, lượng khách du lịch quốc tế đến các tỉnhvùng ven biển luôn chiếm từ 71-74% tổng lượng khách quốc tế Năm 2010, các tỉnh venbiển của Việt Nam đã thu hút được 10.860.000 lượt khách quốc tế Đối với khách du lịchnội địa, du lịch biển hằng năm cũng thu hút được từ 52-57% lượt du khách toàn quốc

- Về đầu tư phát triển du lịch:

Trang 24

Kết hợp tốt việc sử dụng nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước với việc khai thác, sử dụngnguồn vốn nước ngoài, huy động nguồn lực trong dân theo phương châm xã hội hoá pháttriển du lịch.

Ưu tiên đầu tư phát triển các khu du lịch tổng hợp quốc gia và các khu du lịch chuyên đề

Có kế hoạch đẩy mạnh phát triển du lịch đối với các địa bàn du lịch trọng điểm nóichung và các vùng trung tâm du lịch biển có sức hút nói riêng như Vịnh Hạ Long, NhaTrang- Khánh Hòa

Đến năm đầu tư cho cơ sở hạ tầng du lịch 1,5 tỷ USD (tương đương khoảng 24nghìn tỷ đồng Việt Nam Ngân sách Nhà nước hỗ trợ chiếm 20 - 30% tổng nhu cầu đầu tư

cơ sở hạ tầng du lịch, khoảng 5.000 đến 7.200 tỷ đồng Nguồn vốn ODA chiếm 5- 10%tổng nhu cầu đầu tư CSHT du lịch, khoảng 1.200 - 2.400 tỷ đồng nhằm đầu tư tại một sốđịa bàn trọng điểm phát triển du lịch Các nguồn vốn khác chiếm 60 - 70% tổng nhu cầuđầu tư, khoảng 14.400- 18.000 tỷ đồng, huy động từ các địa phương thông qua đấu giáquyền sử dụng đất, vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước; vốn thực hiệnqua hình thức BOT; vốn đóng góp của cộng đồng,…

- Về phát triển nguồn nhân lực du lịch và ứng dụng khoa học, công nghệ:

Đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo theo chuẩn hoá quốc giacho ngành du lịch; gắn lý thuyết với thực hành, đào tạo với nghiên cứu để nâng cao chấtlượng giảng dạy và trình độ đội ngũ cán bộ giảng dạy

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ

du lịch tiên tiến phục vụ phát triển du lịch bền vững, tạo bước phát triển mới có hiệu quảtrong nghiên cứu và ứng dụng các thành quả khoa học và công nghệ vào hoạt động quản lý

và kinh doanh du lịch

Nhờ những chính sách và chiến lược thiết thực đến năm 2010, nhân lực của ngành

Du lịch khoảng 1,5 triệu người, trong đó có 460.000 lao động trực tiếp Trong đó, nhân lực

có trình độ đào tạo sơ cấp, trung cấp và cao đẳng du lịch chiếm 47,3% nhân lực được đàotạo, bằng 19,8% tổng nhân lực toàn Ngành Nhân lực được đào tạo đại học và sau đại học

về du lịch chiếm 7,4% số nhân lực có chuyên môn du lịch, bằng 3,2% tổng nhân lực Số

Ngày đăng: 04/08/2020, 20:04

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w