Một số khái niệm cơ bản về du lịchTheo Luật Du lịch Việt Nam 2017: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không q
Trang 11.1 Một số khái niệm cơ bản về du lịch
Theo Luật Du lịch Việt Nam 2017:
Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú
thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan,nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợppháp khác
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa
làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu
du lịch Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch vănhóa
Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch
để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch
Xúc tiến du lịch là hoạt động nghiên cứu thị trường, tổ chức tuyên truyền, quảng bá,
vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển và thu hút khách du lịch.”
1.2 Khái niệm phát triển du lịch bền vững
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO): “Phát triển du lịch bền vững đáp ứngnhu cầu của khách du lịch hiện tại và khu vực bản địa đồng thời bảo vệ và tăng cường cơhội cho tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn lực theo cách có thểđáp ứng nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi duy trì nguyên trạng văn hóa, các quátrình sinh thái thiết yếu, đa dạng sinh học và hệ thống hỗ trợ cuộc sống.”
Phát triển du lịch bền vững cũng đã được định nghĩa tại Luật du lịch 2017 Theo đó:
“Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh
tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động dulịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai.”
Mặc dù còn nhiều quan điểm chưa thống nhất, song phần lớn ý kiến cho rằng pháttriển du lịch bền vững là hoạt động khai thác môi trường tự nhiên và văn hoá nhằm thoảmãn các nhu cầu đa dạng của du khách, hay nói cách khác là đáp ứng các nhu cầu kinh tế,
Trang 2xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được trong hiện tại và không làm tổn hại tới khảnăng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Điều này được thể hiện ở việc sử dụng tàinguyên một cách hợp lí, đảm bảo sự bảo tồn đa dạng sinh học, không có những tác độngxấu đến môi trường cũng như đảm bảo đem lại những lợi ích lâu dài cho xã hội
Đây là khái niệm không nằm ngoài khái niệm chung về sự phát triển bền vững kinh tế– xã hội nói chung và của một ngành kinh tế nào đó nói riêng
1.3 Vai trò của phát triển du lịch bền vững đối với kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường
1.3.1 Vai trò của phát triển du lịch bền vững với sự phát triển kinh tế
Thứ nhất, du lịch là một ngành dịch vụ nên nó có giá trị gia tăng cao Vì thế, pháttriển du lịch đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng GDP Ở các địa phương có làngnghề truyền thống, họ tận dụng thế mạnh của mình để phát triển kinh tế bằng việc giớithiệu bán các sản phẩm thủ công Không chỉ bán cho các du khách đến thăm quan mà đâycòn là cơ hội tăng thu nhập địa phương bằng hình thức xuất khẩu
Thứ hai, hoạt động du lịch có tác dụng làm biến đổi cán cân thu chi của đất nước Dukhách quốc tế mang ngoại tệ vào đất nước có địa điểm du lịch, làm tăng thêm nguồn thungoại tệ của đất nước đó Ngược lại, phần chi ngoại tệ sẽ tăng lên đối với những quốc gia
có nhiều người đi du lịch ở nước ngoài Phát triển du lịch bền vững giúp duy trì tài nguyên
du lịch, kéo dài thời gian khai thác du lịch, cải thiện tình trạng nhập siêu, cân bằng cán cânthanh toán
Thứ ba, phát triển du lịch bền vững giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp
sang dịch vụ: Nhiều gia đình dân tộc nghèo khó trước kia chỉ sống bằng nông nghiệp nay
đã được cải thiện đời sống nhờ du lịch Cụ thể như, người dân tộc H’mong tại Sa Pa trướcđây chỉ tập trung vào các hoạt động kinh tế thuần nông Nhưng du lịch phát triển, các làngH’mong có cảnh quan đẹp, giữ được bản sắc văn hóa trở thành những điểm du lịch hấp dẫn
Do đó, đời sống kinh tế của người H’mong được cải thiện
Thứ tư, khi một khu vực nào đó trở thành điểm du lịch, du khách ở mọi nơi đổ về sẽlàm cho nhu cầu về mọi hàng hoá dịch vụ tăng lên đáng kể Xuất phát từ nhu cầu này của
du khách mà ngành kinh tế du lịch không ngừng mở rộng hoạt động của mình thông qua
Trang 3mối quan hệ liên ngành trong nền kinh tế, đồng thời làm biến đổi cơ cấu ngành trong nềnkinh tế quốc dân Hơn nữa, các hàng hoá, vật tư cho du lịch đòi hỏi phải có chất lượng cao,phong phú về chủng loại, hình thức đẹp, hấp dẫn Do đó nó đòi hỏi các doanh nghiệp phảikhông ngừng sáng tạo cải tiến, phát triển các loại hàng hoá Để làm được điều này, cácdoanh nghiệp bắt buộc phải đầu tư trang thiết bị hiện đại, tuyển chọn và sử dụng công nhân
có tay nghề cao đáp ứng được nhu cầu của du khách
1.3.2 Vai trò của phát triển du lịch bền vững với văn hóa - xã hội
Thứ nhất, du lịch làm giảm quá trình đô thị hóa ở các nước có nền kinh tế phát triển:Khi du lịch đã được sự quan tâm phát triển của địa phương thì sự tập trung dân cư khôngđồng đều được giảm hẳn Do tài nguyên du lịch thường tập trung ở những vùng đồng quêhay miền núi, vì vậy để khai thác nguồn và phát triển hiệu quả cần đầu tư về mọi mặt: giaothông, thông tin liên lạc, văn hóa, xã hội Du lịch phát triển làm thay đổi bộ mặt kinh tế xãhội các vùng miền
Thứ hai, du lịch bền vững là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả: Làphương thức hiệu quả nhất, mang hình ảnh đất nước, con người, truyền thống, văn hóa ViệtNam giới triệu với bạn bè năm châu du lịch đã góp phần đánh thức và bảo tồn các ngànhnghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền
Thứ ba, phát triển du lịch bền vững đã thúc đẩy việc bảo vệ kho tàng văn hóa củaquốc gia Chính nhu cầu tham quan, tìm hiểu, trải nghiệm của du khách đã thôi thúc chínhquyền và người dân biết quý trọng, tự hào, quan tâm chăm lo gìn giữ bảo tồn, phục dựng vàlàm sáng tỏ, phát huy những giá trị vốn quý của di sản văn hóa Du lịch di sản vừa tạo rathu nhập, việc làm vừa tạo động cơ, vừa tạo ra nguồn lực để bảo tồn và phát huy giá trị disản; đồng thời hỗ trợ tích cực nâng cao chất lượng cuộc sống, tăng cường hiểu biết, tôntrọng đa dạng và giao thoa các nền văn hóa, làm cơ sở hình thành quy tắc ứng xử phù hợpgiữa người dân với khách du lịch và với di sản
1.3.3 Vai trò của phát triển du lịch bền vững tới môi trường
Thứ nhất, du lịch bền vững góp phần khẳng định giá trị và góp phần vào việc bảo tồncác diện tích tự nhiên quan trọng, phát triển các Khu Bảo Tồn và Vườn Quốc Gia
Trang 4Thứ hai, du lịch bền vững tăng cường chất lượng môi trường: Du lịch bền vững cóthể cung cấp những sáng kiến cho việc làm sạch môi trường thông qua kiểm soát chấtlượng không khí, nước, đất, ô nhiễm tiếng ồn, thải rác và các vấn đề môi trường khác thôngqua các chương trình quy hoạch cảnh quan, thiết kế xây dựng và duy tu bảo dưỡng cáccông trình kiến trúc
Thứ ba, du lịch bền vững góp phần tích cực tu sửa phát triển cảnh quan đô thị, cảnhquan tại các điểm du lịch như tu sửa nhà cửa thành những cơ sở du lịch mới, cải thiện môitrường cho cả du khách và cư dân địa phương bằng cách gia tăng phương tiện vệ sinh côngcộng, đường sá thông tin, năng lượng, nhà cửa xử lí rác và nước thải được cải thiện, dịch
vụ môi trường được cung cấp Hạn chế các lan truyền ô nhiễm cục bộ trong khu dân cư nếunhư các giải pháp hạ tầng, kỹ thuật đồng bộ được áp dụng
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững du lịch
1.4.1 Cơ sở hạ tầng - vật chất kỹ thuật
Một là yếu tố cơ sở hạ tầng Du lịch gắn với việc di chuyển con người trên phạm vinhất định Điều này phụ thuộc chặt chẽ vào giao thông vận tải Một đối tượng có thể có sứchấp dẫn đối với du lịch nhưng vẫn không thể khai thác được nếu thiếu yếu tố giao thôngvận tải Thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện, nhanh chóng du lịch mới trở thành mộthiện tượng phổ biến trong xã hội
Mỗi loại giao thông có những đặc trưng riêng biệt Giao thông bằng ô tô tạo điều kiệncho khách dễ dàng đi theo lộ trình lựa chọn Giao thông đường sắt rẻ tiền nhưng chỉ đi theonhững tuyến cố định Giao thông đường hàng không rất nhanh, rút ngắn thời gian đi lạinhưng đắt tiền Giao thông đường thuỷ tuy chậm nhưng có thể kết hợp với việc tham quangiải trí dọc theo sông hoặc ven biển Nhìn chung, mạng lưới giao thông vận tải trên thế giới
và từng quốc gia không ngừng được hoàn thiện Điều đó đã giảm bớt thời gian đi lại, tăngthời gian nghỉ ngơi và du lịch
Hai là yếu tố về cơ sở vật chất kỹ thuật Du lịch là ngành “sản xuất” nhiều và đa dạng
về thể loại dịch vụ, hàng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch Do vậy cơ sở vấtchất kỹ thuật du lịch gồm nhiều thành phần khác nhau Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao
Trang 5gồm cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật của một số ngànhkinh tế quốc dân tham gia phục vụ du lịch: thương nghiệp, dịch vụ…
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và tài nguyên du lịch có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau Sự kết hợp hài hoà giữa tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch giúp cho
cơ sở phục vụ du lịch có hiệu quả, kéo dài thời gian sử dụng chúng trong năm Vị trí của tàinguyên du lịch là căn cứ để bố trí hợp lý cơ sở vật chất kỹ thuật trên các vùng lãnh thổ củađất nước và là tiền đề cơ bản để hình thành các trung tâm du lịch Sự phụ thuộc của cơ sởvật chất kỹ thuật vào tài nguyên du lịch không chỉ diễn ra theo một chiều, mà về phía mìnhcác công trình, cơ sở phục vụ du lịch cũng có tác động nhất định tới mức độ sử dụng tàinguyên du lịch và việc gìn giữ bảo vệ chúng
1.4.2 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả nănghuy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiệntại cũng như trong tương lai Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng,chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người cơ sở đủ điều kiệntham gia vào nền sản xuất xã hội
Như vậy, nguồn nhân lực là nguồn lực con người, có khả năng sáng tạo ra của cải vậtchất và tinh thần cho xã hội, được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại mộtthời điểm nhất định Với cách hiểu như vậy, nội hàm nguồn nhân lực không chỉ bao hàmnhững người trong độ tuổi lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lượng, mà cònchứa đựng các hàm ý rộng hơn, gồm toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹđược, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế,con người được coi là phương tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tếbền vững
Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệpphát triển kinh tế, xã hội; là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất,kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là phổ biến sang sử dụng một cách phổbiến sức lao động được đào tạo cùng với công nghệ tiên tiến, phương tiện và phương pháptiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao So với các nguồn lực khác,nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật ở chỗ nó không bị
Trang 6cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý, còn các nguồn lực khác dù nhiềuđến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp với nguồnnhân lực một cách có hiệu quả Vì vậy, con người với tư cách là nguồn nhân lực, là chủ thểsáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lựcchính quyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
1.4.3 Hoạt động xúc tiến
Xúc tiến du lịch là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúcđẩy cơ hội phát triển du lịch Đây là nỗ lực từ phía doanh nghiệp bằng mọi công cụ thôngtin ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ nhằm cung cấp thông tin cho khách du lịch tiềm năng vềsản phẩm du lịch của doanh nghiệp, của quốc gia Xét ở khía cạnh khác, xúc tiến du lịchcòn là những thông điệp gửi tới dân sở tại nhằm nâng cao nhận thức của họ trong việc gìngiữ, bảo vệ tài nguyên du lịch, khơi dậy lòng mến khách đối với khách du lịch là ngườingoài địa phương
Trên quan điểm kinh tế, hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch có vai trò và tác dụngthuyết phục khách du lịch và thu hút họ đi du lịch tại nơi có dịch vụ du lịch Trên cơ sở đó,các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ thoả mãn đầy đủ những nhu cầu của khách, từ đó tạođiều kiện cho việc khai thác tốt nguồn tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật, lực lượnglao động, làm tăng khối luợng sản phẩm bán ra đặc biệt là tăng giá trị xuất khẩu tại chỗ,tăng lợi nhuận và đạt hiệu quả kinh tế cao
Trên quan điểm văn hoá - xã hội, hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch tác động theohai hướng Đối với khách du lịch, hoạt động này góp phần làm cho du khách hiểu hơn vềđất nước, con người, bề dày lịch sử, cảnh quan thiên nhiên, môi trường từ đó làm tăng thêmmối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc, các quốc gia Đối với dân địa phương, hoạt độngxúc tiến, quảng bá du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của họ về
du lịch, thấy được tầm quan trọng của du lịch, từ đó nâng cao lòng mến khách, giữ gìn môitrường sống và cảnh quan thiên nhiên
Trang 7mà khách có thể nhận được không chỉ là các cơ sở lưu trú để ở, các nhà hàng để ăn, uống,các điểm tham quan, các bảo tàng, công viên, nhà hàng, rạp chiếu phim, cửa hàng muasắm…mà bao gồm cả các phương tiện vận chuyển, sự giao tiếp với cộng đồng dân cư, cáchứng xử của các cấp chính quyền, Vì thế, phạm vi và quy mô của sản phẩm du lịch lànhững gì thu hút khách du lịch đến và phục vụ khách với chất lượng cao.[CITATIONChâ17 \l 1066 ]
1.4.5 Tài nguyên du lịch
Theo Luật du lịch 2017, tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên,
di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân vănkhác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành cáckhu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch
Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân vănđang được khai thác và chưa được khai thác Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tốđịa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thểđược sử dụng phục vụ mục đích du lịch Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống vănhóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc,các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thểkhác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch
Tài nguyên du lịch chính là yếu tố cơ bản để hình thành các sản phẩm du lịch Sựphong phú và đa dạng của tài nguyên du lịch đã tạo nên sự phong phú và đa dạng của sảnphẩm du lịch Tài nguyên du lịch càng độc đáo, đặc sắc thì giá trị của sản phẩm du lịch và
độ hấp dẫn khách du lịch càng tăng Điều này góp phần làm cho du lịch phát triển
Trang 81.4.6 Văn hóa - xã hội
Môi trường chính trị hoà bình, ổn định sẽ đảm bảo cho việc mở rộng các mối quan hệtrên nhiều phương diện giữa các quốc gia, trong đó có mối quan hệ về du lịch Du lịch chỉđược phát triển trong một bầu không khí hòa bình, trong tình hữu nghị giữa các dân tộc.Khi có tình hình chính trị ổn định và hòa bình thì du khách sẽ có cảm giác an toàn và tínhmạng được coi trọng
Hơn nữa, an toàn xã hội cũng là một điều kiện quan trọng để phát triển du lịch bởi lẽcác hiện tượng thiên tai, dịch bệnh,… có ảnh hưởng rất lớn đến du lịch Khi các cơ quan y
tế phải cách ly một vùng để ngặn chặn việc lây lan dịch bệnh thì vùng đó hiển nhiên khôngthể tiếp tục đón tiếp du khách
1.4.7 Môi trường
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mà sự tồn tại và phát triển của nó tác động qualại với nhiều ngành kinh tế – xã hội, nhiều lĩnh vực, trong đó quan hệ giữa du lịch và môitrường gắn kết hữu cơ với nhau: sự tồn tại và phát triển của du lịch gắn liền với môi trường,
du lịch phát triển chỉ khi môi trường được bảo vệ
Việc khai thác hợp lý, phục hồi, cải tạo và tái tạo tài nguyên du lịch sẽ làm tốt lênchất lượng môi trường du lịch, làm tăng sức hấp dẫn tại các điểm, khu du lịch Ngược lại,việc khai thác không đồng bộ, không có các biện pháp phục hồi, tái tạo tài nguyên du lịch
sẽ dẫn đến việc phá vỡ cân bằng sinh thái, gây nên sự giảm sút chất lượng môi trường, sự đixuống của hoạt động du lịch cũng như chất lượng của môi trường du lịch ở khu vực đó
Trang 9CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG Ở
THỦ ĐÔ HÀ NỘI 2.1 Tổng quan ngành du lịch ở Hà Nội
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí
Hà Nội - Thủ đô ngàn năm tuổi của đất nước, có vị thế “rồng cuộn, hổ ngồi”, nằm ởtrung tâm châu thổ sông Hồng, các mạch núi Tây Bắc và Đông Bắc đã hội tụ về đây(Hoàng Liên Sơn, Con Voi, Tam Đảo, các cánh cung Đông Bắc), và do đó các dòng sôngcũng tụ Thủy về Hà Nội để rồi phân tỏa về phía Biển Đông (sông Đà, Thao, Lô, Chảy,Cầu) Hà Nội Nội có diện tích tự nhiên 920,97 km2, kéo dài theo chiều Bắc - Nam 53 km
và thay đổi theo chiều Đông Tây từ gần 10km (phía Bắc huyện Sóc Sơn) đến trên 30km (từ
xã Tây Tựu, Từ Liêm đến xã Lệ Chi, Gia Lâm)
Hà Nội có vị trí và địa thế đẹp, thuận lợi, là Thủ đô, trung tâm chính trị, kinh tế, vănhóa, khoa học và đầu mối giao thông quan trọng của cả nước Vi vậy, Thủ đô Hà Nội đóngvai trò rất quan trọng trong việc phát triển du lịch của cả nước nói chung và của Bắc bộ nói
riêng
2.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Nhìn chung, địa hình Hà Nội khá đa dạng với núi thấp, đồi và đồng bằng Trong đóphần lớn diện tích của Thành phố là vùng đồng bằng, thấp dần từ Tây Bắc xuống ĐôngNam theo hướng dòng chảy của sông Hồng Điều này cũng ảnh hưởng nhiều đến quy hoạchxây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố
Khu vực nội thành và phụ cận là vùng trũng thấp trên nền đất yếu, mực nước sôngHồng về mùa lũ cao hơn mặt bằng Thành phố trung bình 4 - 5m Hà Nội có nhiều hồ, đầmthuận lợi cho phát triển Thủy sản và du lịch, nhưng do thấp trũng nên khó khăn trong việctiêu thoát nước nhanh, gây úng ngập cục bộ thường xuyên vào mùa mưa Vùng đồi núi thấp
và trung bình ở phía Bắc Hà Nội thuận lợi cho xây dựng, phát triển công nghiệp, lâmnghiệp và tổ chức nhiều loại hình du lịch
Trang 102.1.1.3 Tài nguyên khí hậu
Tài nguyên khí hậu ở Hà Nội được hình thành và tồn tại nhờ cơ chế nhiệt đới giómùa, mùa đông lạnh ít mưa, mùa hè nóng nhiều mưa Hà Nội có mùa đông lạnh rõ rệt vàkéo dài hơn so với các địa phương khác ở phía Nam: Nhờ có mùa đông lạnh và lượng mưaphùn nhiều mà Hà Nội cũng như đồng bằng Bắc Bộ đã tạo ra một cơ cấu cây trồng và vụđông độc đáo
2.1.1.4 Tài nguyên nước
Hệ thống sông, hồ Hà Nội thuộc hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, phân bốkhông đều giữa các vùng, có mật độ thay đổi trong phạm vi khá lớn 0,1 - 1,5 km/km2 (chỉ
kể những sông tự nhiên có dòng chảy thường xuyên) và 0,67 - 1,6 km/km2 (kể cả kênhmương) Một trong những nét đặc trưng của địa hình Hà Nội là có nhiều hồ, đầm tự nhiên,
vì vậy, đã tạo nên nhiều cảnh quan sinh thái đẹp cho Thành phố, điều hòa tiểu khí hậu khuvực, rất có giá trị đối với du lịch, giải trí và nghỉ dưỡng
2.1.1.5 Tài nguyên sinh vật
Hà Nội có một số kiểu hệ sinh thái đặc trưng như hệ sinh thái vùng gò đồi ở Sóc Sơn
và hệ sinh thái hồ, điển hình là hồ Tây, hệ sinh thái nông nghiệp, hệ sinh thái đô thị Trong
đó, các kiểu hệ sinh thái rừng vùng gò đồi và hồ có tính đa dạng sinh học cao hơn cả.Khu hệ thực vật, động vật trong các hệ sinh thái đặc trưng của Hà Nội khá phong phú
và đa dạng Cho đến nay, đã thống kê và xác định có 655 loài thực vật bậc cao, 569 loàinấm lớn (thực vật bậc thấp), 595 loài côn trùng, 61 loài động vật đất, 33 loài bò sát-ếchnhái, 103 loài chim, 40 loài thú, 476 loài thực vật nổi, 125 loài động vật KXS Thủy sinh,
118 loài cá, 48 loài cá cảnh nhập nội Trong số các loài sinh vật, nhiều loài có giá trị kinh
tế, một số loài quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam
Hà Nội hiện có 48 công viên, vườn hoa, vườn dạo ở 7 quận nội thành với tổng diệntích là 138 ha và 377 ha thảm cỏ Ngoài vườn hoa, công viên, Hà Nội còn có hàng vạn câybóng mát thuộc 67 loại thực vật trồng trên các đường phố, trong đó có 25 loài được trồngtương đối phổ biến như bằng lăng, sữa, phượng vĩ, săng đào, lim xẹt, xà cừ, sấu, muồngđen, sao đen, long nhãn, me
Trang 11Các làng hoa và cây cảnh ở Hà Nội như Nghi Tàm, Ngọc Hà, Quảng Bá, Láng, NhậtTân, v.v đã có truyền thống từ lâu đời và khá nổi tiếng gần đây, nhiều làng hoa và câycảnh được hình Thành thêm ở các vùng ven đô như Vĩnh Tuy, Tây Tựu, và một số xã ở GiaLâm, Đông Anh, Sóc Sơn cùng với các loài được chuyển từ các tỉnh phía Nam hoặc hộinhập từ nước ngoài làm cho tài nguyên sinh vật của Hà Nội ngày càng đa dạng và phongphú.[CITATION Vie083 \l 1033 ]
2.1.2 Đặc điểm văn hóa - xã hội
Xét về tiềm năng phát triển du lịch văn hóa, Hà Nội có một bề dày lịch sử cùng nhiềunét truyền thống đáng quý đã ăn sâu vào nếp sinh hoạt của dân cư
2.1.2.1 Di tích cổ
Với quá trình lịch sử phát triển lâu đời, Hà Nội sở hữu rất nhiều tài nguyên du lịchvăn hóa phong phú như di tích Hoàng Thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, khuphố cổ trầm mặc, những ngôi làng cùng với các kiến trúc Phật giáo, dân gian, kiến trúcPháp nằm rải rác khắp thành phố, khiến du khách thập phương vô cùng thích thú trướcnhững giá trị văn hóa còn hiện hữu trong một thành phố sầm uất như Hà Nội.…
2.1.2.2 Văn hóa “xích lô”
Một trong những nét độc đáo của du lịch Hà Nội là xích lô phố cổ Rất nhiều dukhách đến Hà Nội chọn phương tiện này để tham quan, khám phá ba mươi sáu phố phường.Nếu xích lô mang lại nét cổ xưa thì xe điện là phương tiện của “du lịch xanh” hiện đại vàrất mới của du lịch Hà Nội
2.1.2.3 Văn hóa ẩm thực
Hà Nội vốn nổi tiếng với truyền thống ẩm thực lâu đời có nhiều món ăn ngon nổitiếng Nhắc đến món ăn Hà Nội phải nhắc đến phở đầu tiên Phở Hà Nội có nét đặc biệtkhác hẳn so với các nơi khác khiến khách du lịch đã ăn một lần lại muốn quay lại lần nữa.Ngoài ra, đến Hà Nội du khách còn được thưởng thức những món ăn nổi tiếng như: phởcuốn, chả cá Lã Vọng, bún thang, kem Tràng Tiền,…
Trang 122.1.2.4 Văn hóa nghệ thuật
Hà Nội còn thu hút du khách bởi những hình thức văn hóa nghệ thuật truyền thốngphong phú và độc đáo như Múa rối nước, các vở tuồng, chèo, cải lương,… ngày càng đượcđầu tư công phú, nội dung trau chuốt mang tính chất giáo dục rất tốt
2.1.2.5 Trung tâm mua sắm
Hà Nội cũng là một trong những trung tâm mua sắm sầm uất của cả nước Khu vựctốt nhất để mua sắm ở Hà Nội là khu phố cổ Trong đó, có thể liệt kê các điểm nổi bật nhưHàng Gai, Hàng Bè, Hàng Bông và Hàng Giấy Ngoài ra, còn có rất nhiều trung tâmthương mại lớn phục vụ du khách có nhu cầu mua sắm khi đến Hà Nội du lịch
2.1.2.6 Con người Tràng An
Hà Nội thu hút khách du lịch ghé thăm ngay không chỉ bởi những tài nguyên du lịchphong phú mà còn bời chính phẩm chất con người Hà Nội Khi đến đây đây, đất thủ đôluôn có những con người sẵn sàng giúp đỡ, chỉ đường, hướng dẫn tận tình cho bạn khi đếnđây thăm quan du lịch.[CITATION Van16 \l 1033 ]
Có thể thấy, Hà Nội đang có rất nhiều tiềm năng nổi bật để có thể phát triển ngành
du lịch Chúng ta cần tận dụng tối ưu và đồng thời như đưa ra các chiến lược phù hợp để thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch ở Hà Nội.
2.2 Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Hà Nội
2.2.1 Cơ sở hạ tầng - vật chất kĩ thuật
2.2.1.1 Cơ sở hạ tầng giao thông
Hà Nội là tụ điểm của nhiều trục giao thông lớn của miền Bắc và cả nước, là nơi hội
tụ của 6 tuyến đường sắt, 8 tuyến đường bộ, cách cảng Hải Phòng hơn 100km, lại có cảngHàng không quốc tế và nội địa, là đầu mối quan trọng nối các tỉnh miền Bắc với nhau Ngoài sân bay quốc tế Nội Bài cách trung tâm khoảng 35km, thành phố còn có sânbay Gia Lâm ở phía Đông, thuộc quận Long Biên Từng là sân bay chính của Hà Nộinhững năm 1970, hiện sân bay Gia Lâm chỉ phục vụ cho các chuyến bay dịch vụ của trựcthăng, gồm cả dịch vụ du lịch Hà Nội là đầu mối giao thông của năm tuyến đường sắttrong nước và một tuyến liên vận sang Bắc Kinh (Trung Quốc), đi nhiều nước Châu Âu
Trang 13Các bến xe phía Nam, Gia Lâm, Lương Yên, Nước Ngầm, Mỹ Đình là đầu mối tập trung ô
tô chở khách liên tỉnh tỏa đi khắp quốc gia theo các quốc lộ 1A, quốc lộ 2, quốc lộ 3… Vềgiao thông đường thủy, Hà Nội cũng là đầu mối giao thông quan trọng với bến Phà Đentrên sông Hồng đi các tỉnh trong khu vực như Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình…
Chính nhờ lợi thế của các trục giao thông, mà Hà Nội vừa là thị trường nhận khách,vừa là thị trường giữ khách trực tiếp, thị trường gửi khách trung gian và như thế nhu cầu vềnhà nghỉ, khách sạn, nhà hàng và các dịch vụ kèm theo cho khách vãng lai đến Hà Nội làrất lớn Khách quốc tế có thể từ sân bay Nội Bài dừng chân ở thủ đô Hà Nội để lựa chọnphương tiện giao thông phù hợp cho các chuyến đi trong cả nước Đây chính là điều kiệnthuận lợi cho phát triển các chuyến du lịch nội vùng, liên vùng và quốc tế
Tuy nhiên, so với thế giới và các nước trong khu vực, vẫn còn lạc hậu và chưa thực
sự theo kịp và đáp ứng đầy đủ nhu cầu du lịch của lượng du khách trong nước và ngoàinước ngày một tăng
2.2.1.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật.
Ngành bưu chính viễn thông của cả nước và Hà Nội đang được hiện đại hoá và pháttriển nhanh chóng tạo điều kiện từ Hà Nội có thể liên lạc được với mọi nơi trong nước vàquốc tế, đáp ứng nhu cầu thông tin cho khách du lịch
Hà Nội còn là nơi tập trung nhiều khách sạn từ 3-5 sao Trên thị trường Hà Nội hiện
có khoảng hơn 9000 phòng khách sạn (từ 3-5 sao) Tạp chí TripAdvisor bình chọn kháchsạng Hanoi Serene Hotel đứng thứ 12/25 khách sạn châu Á; khách sạn Essensce HanoiHotel đứng 21/25 châu Á Tạp chí Smart Travel Asia bình chọn Hotel de L’Opera Hà Nộitrong Top 10 Boutique Hotels; khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội xếp thứ 5/25các khách sạn dành cho Hội nghị tốt nhất châu Á và xếp thứ 7/25 các khách sạn nghỉ dưỡngtốt nhất châu Á
2.2.2 Nguồn nhân lực
Cùng với định hướng đến năm 2020, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũinhọn, từ năm 2016 đến nay, du lịch liên tục đạt mức tăng trưởng từ 25 - 30% - mức tăngtrưởng mơ ước đối với điểm đến quy mô quốc gia Tuy vậy, việc thiếu nhân lực du lịch, đặc
Trang 14biệt là hướng dẫn viên ở mức “báo động đỏ” nếu không sớm khắc phục, sẽ là “lực cản” đốivới ngành kinh tế xanh trong tương lai gần.
Hiện tại, cả nước mới có trên 1,3 triệu lao động du lịch, chiếm khoảng 2,5% tổng laođộng cả nước; trong đó chỉ có 42% được đào tạo về du lịch, 38% được đào tạo từ các ngànhkhác chuyển sang và khoảng 20% chưa qua đào tạo chính quy mà chỉ được huấn luyện tạichỗ Chính vì thế, số lao động có chuyên môn, kỹ năng cao vừa thiếu, vừa yếu, nhưng sốlao động chưa đáp ứng yêu cầu lại dư thừa Theo Tổng cục Du lịch, với tốc độ tăng trưởngnhư hiện nay, yêu cầu mỗi năm phải đào tạo thêm 25.000 lao động mới và phải đào tạo lại
số lượng tương tự
Thời gian qua, các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp du lịch đã có nhiều nỗ lực trongviệc tăng cường gắn kết nhằm tạo ra đội ngũ lao động đáp ứng nhu cầu thực tiễn Tuy vậy,những hoạt động này vẫn ở phạm vi, quy mô nhỏ, chưa thể khỏa lấp được “lỗ hổng” lớn vềnhân lực du lịch hiện nay
Giới chuyên môn nhận định, trong khi chúng ta chưa có một trường đại học nào đàotạo chuyên về du lịch, tốc độ phát triển khách quốc tế và nội địa lại tăng trưởng mạnh từ 20
- 30%, thậm chí có thể đạt 35%, chẳng bao lâu nữa, những thiếu hụt về nhân lực du lịch sẽ
là trở ngại lớn đối với ngành công nghiệp không khói.[CITATION Bao18 \l 1033 ]
2.2.3 Hoạt động xúc tiến
Hà Nội đã khẳng định được vị trí là một trong hai trung tâm du lịch lớn nhất cả nước,
là cầu nối giữa du lịch Việt Nam với quốc tế Hiện Hà Nội có 5.922 di tích lịch sử văn hóa,trong đó có nhiều di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận như Khu di tích HoàngThành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám… Bên cạnh đó còn nhiều di sản phi vậtthể, nhiều di tích lịch sử có giá trị và nhiều làng nghề truyền thống… Trong những năm gầnđây, lượng khách du lịch quốc tế đến Hà Nội ngày một tăng Điều này khẳng định sức hút
về du lịch của Thủ đô ngày càng lớn
Theo Sở Du lịch Hà Nội, các chương trình, xúc tiến quảng bá du lịch những năm qua
đã không ngừng được đổi mới và đa dạng các hoạt động tuyên truyền, hợp tác, xúc tiếnphát triển du lịch, có trọng tâm, trọng điểm Sở đã tổ chức rất nhiều chương trình quảng bátại nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước có lượng khách du lịch đến Việt Nam nhiều
Trang 15như Hàn Quốc, Nhật Bản, các nước EU Chính vì thế du lịch Hà Nội đã được biết đến khánhiều Theo đó, du lịch Hà Nội được nhiều trang website du lịch, truyền hình và báo chíquốc tế uy tín trên thế giới như: CNN, Discovery, Business Insider đánh giá tích cực.Việc cải thiện môi trường du lịch hấp dẫn cùng các chương trình quảng bá du lịch đãthu hút khách quốc tế đến từ gần 190 quốc gia và vùng lãnh thổ Theo thống kê, lượngkhách du lịch quốc tế đến Hà Nội duy trì mức tăng trưởng đạt 18%/năm giai đoạn 2015 –
2017
Thông qua các công tác xúc tiến những năm qua, hình ảnh của Thủ đô Hà Nội Thành phố du lịch hấp dẫn, an toàn, thân thiện đã được tuyên truyền sâu rộng, đậm nét tớiđông đảo bạn bè, du khách trong nước và quốc tế Nhưng nhìn chung, xét về mặt tổng thể ,công tác quảng bá còn thiếu tính chuyên nghiệp; hệ thống thông tin quảng cáo tại Hà Nộichưa được phát huy tác dụng để quảng bá du lịch; các sự kiện văn hoá, ngoại giao, kinh tế,thể thao được tổ chức tại Hà Nội chưa được kết hợp phát huy tác dụng thành những sự kiện
-du lịch để quảng bá thu hút -du khách trong nước và quốc tế; thiếu sự phối hợp đồng bộ giữacác ngành văn hoá thông tin và các ngành liên quan với du lịch trong việc tổ chức các hoạtđộng quảng bá thông tin [CITATION Tho18 \l 1033 ]
2.2.4 Sản phẩm du lịch
Trên thực tế, Hà Nội có rất nhiều sản phẩm du lịch rất đa dạng và độc đáo Không thểphủ nhận về tài nguyên du lịch Thủ đô nhưng thời gian qua hệ thống này chưa được quản
lý, đầu tư và khai thác hợp lý Cụ thể, ngành du lịch Hà Nội mới tập trung dựa vào các yếu
tố tự nhiên, khai thác những cái sẵn có mà chưa đầu tư trở lại được nhiều Nói đến du lịch
Hà Nội là nói đến Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hoàng thành Thăng Long, chùa Một Cột,phố cổ Hà Nội, hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn, làng gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc… Đó
là những thứ đã hình thành hàng trăm, hàng nghìn năm qua, nay được giữ gìn và khai thác.Việc đầu tư các sản phẩm này chỉ là nâng cấp, tu bổ, tôn tạo hạ tầng di tích, hạ tầng cơ sởvới nguồn vốn còn khiêm tốn Các công ty lữ hành mới xây dựng được tour tuyến thôngqua việc kết nối các di tích này lại với nhau Còn việc xây dựng các sản phẩm du lịch khác,
ví như các điểm vui chơi, mua sắm, ẩm thực có quy mô lớn hầu như chưa có, hay việc khaithác các giá trị nhân văn để phục vụ khách còn nhiều hạn chế Khách du lịch khi đến HàNội vẫn phàn nàn thiếu các cơ sở, khu vui chơi giải trí Mức chi tiêu của khách chưa cao,
Trang 16thời gian lưu trú ngắn Nhìn chung, chất lượng sản phẩm du lịch Hà Nội còn chưa cao, pháttriển còn manh mún, tự phát, chưa được quy hoạch, đầu tư tôn tạo đúng mức Vì vậy, dulịch Hà Nội chưa khai thác được tiềm năng, thế mạnh của mình
Bên cạnh đó, nhắc đến các sản phẩm du lịch văn hóa, Hà Nội hơn tất cả những địaphương khác ở chỗ là Hà Nội có một kho tàng di sản văn hóa và thiên nhiên hết sức độcđáo, phong phú và đa dạng Hà Nội có hàng trăm kiến trúc nghệ thuật, di tích lịch sử, danhlam thắng cảnh Hà Nội là nơi đặt bảo tàng tiêu biểu nhất của quốc gia, đặc biệt Hà Nội còn
có không ít các di sản phi vật thể đặc sắc như: Hội Gióng “Mùng chín đâu đâu trở về hộiGióng”, hội Chèm, hội làng Yên Sở, hội Hai Bà Trưng Hà Nội còn có nghệ thuật truyềnthống như tranh Đông Hồ, ca trù…Nhưng hầu như khách du lịch chỉ được nghe đến nhữngloại hình nghệ thuật này qua phương tiện truyền thông đại chúng, còn việc đến tận nơi đểtìm hiểu những nét văn hóa lâu đời này, thì lượng khách du lịch khi đến Hà Nội thườngkhông quá quan tâm đến các loại hình này [CITATION Bao181 \l 1066 ]
- 5m Hà Nội có nhiều hồ, đầm thuận lợi cho phát triển Thủy sản và du lịch, nhưng do thấptrũng nên khó khăn trong việc tiêu thoát nước nhanh, gây úng ngập cục bộ thường xuyênvào mùa mưa Vùng đồi núi thấp và trung bình ở phía Bắc Hà Nội thuận lợi cho xây dựng,phát triển công nghiệp, lâm nghiệp và tổ chức nhiều loại hình du lịch
Trang 17phú, đa dạng Nhiệt độ trung bình năm không dưới 230C rất phù hợp cho khách du lịch đếnthăm quan quanh năm.
Nguồn nước
Một trong những nét đặc trưng của địa hình Hà Nội là có nhiều hồ, đầm tự nhiên Cóthể nói, hiếm có một thành phố nào trên thế giới có nhiều hồ, đầm như ở Hà Nội Hồ, đầmcủa Hà Nội đã tạo nên nhiều cảnh quan sinh thái đẹp cho thành phố, điều hòa tiểu khí hậukhu vực, rất có giá trị đối với du lịch, giải trí và nghỉ dưỡng Tuy nhiên, do yêu cầu đô thịhóa và cũng do thiếu quy hoạch, quản lý kém nên nhiều ao hồ đã bị san lấp để lấy đất xâydựng Diện tích ao, hồ, đầm của Hà Nội hiện còn lại vào khoảng 3.600 ha
2.2.5.2 Tài nguyên du lịch văn hóa
Hà Nội là nơi tập trung các di tích lịch sử văn hóa, kiến trúc cổ và các lễ hội truyềnthống cổ Hà Nội có khoảng 322 di tích lịch sử được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạngtrong tổng số hơn 2000 di tích
Khu Phố Cổ: ở Việt Nam ngoài Hội An ra chỉ có ở Hà Nội mới giữ được một khuphố cổ Theo các nguồn sử liệu thì đây cũng chính là nhân lõi của kinh đô Thăng Long từkhi mới thành lập và nó cũng gần ngàn năm tuổi Các khu phố thường mang tên những mặthàng sản xuất như: Hàng Đường, Hàng Bạc, Hàng Bồ Đây cũng chính là nguồn tài nguyênquý giá mang phong cách đặc trưng của người Hà Nội
Các di tích kiến trúc cổ: Hà Nội là nơi có mật độ di tích cổ thuộc loại cao 48,2 di tích/100km2, trong khi đó cả nước chỉ có 2,2 di tích/100km2 Những di tích đó có niên đại trảidài từ trước Công nguyên cho đến triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn Theo thống kê thì
Hà Nội có hơn 2000 di tích cổ trong đó có: 679 đình, 12 lăng, 210 đền, 252 miếu, 775 chùa,
166 nhà thờ họ, 32 am Trong số các di tích cổ đó thì chùa chiền có số lượng lớn nhất và ở
Hà Nội các chùa có niên đại khá lâu như: chùa Trấn Quốc (xây dựng vào năm 541 thờ vua
Lý Nam Đế), chùa Quán Sứ (xây dựng vào thế kỷ XV), chùa Một Cột (xây dựng vào năm
1049 đời vua Lý Thái Tông), chùa Kim Liên (năm 1128-1138 thờ vua Lý Thần Tông) và
vô số các chùa lớn nhỏ khác Ngoài ra còn có hệ thống đền đài thờ các vị anh hùng dân tộcnhư: đền Kim Mã thờ Phùng Hưng, đền Trung Liệt thờ Quang Trung, Bên cạnh đó tínngưỡng dân gian tiêu biểu là Phủ Tây Hồ thờ Mẫu Liễu Hạnh đền Gò Hồ thờ Tam Phủ
Trang 18Thánh Mẫu, Đây cũng chính là điều kiện để cho Hà Nội có thể thu hút được nhiều khách
Du lịch quốc tế và nội địa đến thăm quan nghiên cứu
Các Làng nghề: Hà Nội có rất nhiều làng nghề truyền thống có từ lâu đời như:
Làng đúc đồng Ngũ Xã: Đây chính là nơi làm ra những sản phẩm nổi tiếng như pho
tượng Phật Di Đà ở chùa Thần Quang nằm ngay ở làng Ngũ Xã, tượng Trấn Vũ bằng đồngđen ở đền Quán Thánh, chuông chùa Một Cột và vô số các sản phẩm khác
Làng giấy Yên Thái: Sản phẩm chủ yếu của Yên Thái là giấy để in sách hoặc viết chữ
Nho và giấy dó (in tranh dân gian) Loại giấy dó này của làng Yên Thái đã được xuất khẩusang nhiều nước trên thế giới cho các hoạ sĩ vẽ tranh bằng mực Tau theo phương pháptranh cổ điển Phương Đông Nghề này hiện nay đang được phục hồi dần trở lại
Làng gốm sứ Bát Tràng: Đây là một nghề xuất hiện từ rất lâu đời ở Bát Tràng (vào
thế kỷ thứ XV) Sản phẩm ở đây không những rất nổi tiếng ở trong nước mà còn xuất khẩu
ra nước ngoài Gấm ở Bát Tràng đã đạt được tới đỉnh cao về nghệ thuật và kỹ thuật chế tạo
đồ gốm sứ Việt Nam
Ẩm thực: Người Hà Nội rất chú trọng đến cách ăn uống và coi đó như là một sựthưởng thức văn hoá Món ăn Hà Nội cũng phong phú và hấp dẫn mang những phong cáchrất đặc trưng của văn hoá Hà Nội như: Bún Thang, Chả Cá, Bánh Tôm Hồ Tây, Bánh CốmHàng Than, Bánh Cuốn Thanh Trì và hàng trăm loại quà ngon khác nhau Tuy nhiên vấn đề
an ninh, vệ sinh an toàn thực phẩm của thủ đô vẫn là một vấn đề nan giải đặc biệt là cácquán ăn vỉa hè, không có giấy phép kinh doanh hợp pháp gây ra nhiều vụ ngộ độc thức ăncũng như ảnh hưởng đến sức khỏe của du khách và người dân.Thành phố vẫn còn khoảng16,5% cơ sở chưa đạt các điều kiện an toàn thực phẩm, cơ sở chật hẹp, chưa kịp thời thudọn giấy, thức ăn thừa trên bàn và nền nhà; chậm thay thế trang thiết bị dụng cụ cũ, hỏng;nhiều cơ sở chưa quan tâm tới đảm bảo nguồn gốc thực phẩm
Các Viện Bảo tàng: Hà Nội tập trung rất nhiều Bảo tàng như: Bảo tàng Cách mạng(1959), Bảo tàng Hồ Chí Minh (1990), Mĩ thuật Việt Nam (1966), Dân tộc Việt Nam(1996), Bảo tàng Quân Đội (1959) và Viện Bảo tàng Lịch Sử Tạp chí TripAdvisor bìnhchọn đã xếp hạng Bảo tàng Dân tộc học hấp dẫn thứ 4 và Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam hấpdẫn thứ 6 trong Top 25 Bảo tàng hàng đầu châu Á năm 2014
Trang 19Các Lễ hội truyền thống: Đồng bằng sông Hồng mà Hà Nội là trung tâm, là quêhương của hội làng, hội vùng, hội của cả nước Các lễ hội như hội về An Dương Vương ởđền Cổ Loa (6-16 tháng 1 âm lịch), hội Gò Đống Đa (5 tháng 1 âm lịch), hội đền Sóc Sơn(7 tháng 1 âm lịch), hội đền Đồng Nhân (3-6 tháng 2 âm lịch), hội Gióng (9 tháng 4 âmlịch), hội làng Lệ Mật (23 tháng 3 âm lịch), hội làng Triều Khúc (10-12 tháng 1 âm lịch).Tuy nhiên vào những ngày lễ hội, lượng khách tăng cao cùng với sự lúng túng trong côngtác chỉ đạo quản lý hướng dẫn của địa phương dẫn đến hiện tượng hành khách chen chúcnhau, gây mất mỹ quan Ngoài ra nhiều ngày hội tâm linh đã bị biến tướng, văn hóa tâmlinh có xu hướng thiếu lành mạnh, việc tổ chức lễ hội nghiêng về lợi ích kinh tế, do đó ýnghĩa văn hóa tinh thần mờ nhạt.
ý thức được ấy là vì bảo vệ tính mạng của chính mình Hệ thống giao thông đường bộ chưa
đủ tốt để phục vụ nhu cầu đi lại rất lớn của người dân và khách du lịch Khách du lịch vẫnphàn nàn về hệ thống đường giao thông nhỏ hẹp, phương tiện giao thông di chuyển với mật
độ dày đặc và tình trạng ùn tắc tuy đã được giải tỏa bớt nhưng vẫn diễn ra khá thườngxuyên trên các tuyến đường đi đến địa điểm du lịch cũng như trong nội thành Tắc nghẽngiao thông là một trong những lý do mà khách du lịch khá dè dặt khi lựa chọn đến việt nam
du lịch
Trang 202.2.6.2 Ý thức của cộng đồng
Khách du lịch nước ngoài, họ đến Việt Nam vì đây là đất nước có nhiều danh lamthắng cảnh đẹp, kho tàng văn hóa truyền thống và đặc biệt là con người thân thiện Vớislogan “Việt Nam – Vẻ đẹp tiềm ẩn”, ngành du lịch Việt Nam thực sự để lại nhiều ấn tượngvới du khách trong nước và quốc tế, các diễn đàn du lịch quốc tế nhiều năm trước vẫn lantruyền câu chuyện: không hề khó để có được một nụ cười khi đến Việt Nam bởi người dânnơi đây vô cùng mến khách Ðó chính là chiếc chìa khóa quan trọng trong việc kết nối vănhóa, đem lại sự hài lòng và cả động lực thúc đẩy bạn bè quốc tế tiếp tục chọn Việt Nam làmđiểm đến Thế nhưng, thời gian gần đây, thương hiệu ấy lại đang bị chính người dân làmxấu bằng nhiều vụ việc làm du khách trong và ngoài nước phàn nàn vì bị lừa khi đi taxi; bịchèo kéo, "bám đuổi" bởi những người bán hàng rong, đi ăn, mua sắm hay phải nhận nhữnglời lẽ thô tục nếu như trả giá hoặc không mua thậm chí bị hành hung, chỉ bởi vì họ đã "dámcan thiệp" ngăn cản những hành vi bạo lực, không đẹp mắt của người dân địa phương
2.2.7 Môi trường
2.2.7.1 Môi trường nước
Hà Nội là thành phố ngã ba sông nếu ta lấy hai con sông Nhị Hà và Tô Lịch làm hệquy chiếu Lượng nước trong sông không lưu thông được do quá nhiều bùn, rác rưởi… lắngđọng hàng chục năm nay cho dù mấy năm gần đây có tiến hành nạo vét lòng sông Diệntích hồ ao ở Hà Nội rộng lớn như thế nhưng giờ đang đứng trong tình trạng bị đóng cọc,khoanh đất làm nhà Hồ Tây mênh mông là thế nhưng với 5 nhà hàng lớn , hơn hai chục duthuyền cùng hàng trăm khách sạn lớn nhỏ mọc quanh hồ đã gây ra tình trạng mất cảnh quan
tự nhiên quang hồ
Theo báo cáo của Sở Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội, lượng nước thải mà cư dânthủ đô cùng các nhà máy công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp thải ra mỗi ngày lên đến300.000 tấn Trong lượng nước thải này chứa nhiều chất độc hại gây ô nhiễm môi trườngnghiêm trọng, cụ thể mỗi năm, lượng chất thải thải ra các sông ngòi, ao hồ tự nhiên là 3.600tấn hữu cơ, 317 tấn dầu mỡ, hàng chục tấn kim loại năng, dung môi cùng nhiều kim loạikhác Nước thải trên địa bàn thành phố Hà Nội chủ yếu thải ra hệ thống các con sông quanhkhu vực thành phố như sông Hồng, sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu cùng hệ thống các hồnhư hồ Bảy Mẫu, hồ Thủ Lệ,… Lượng nước thải này trước khi xả thải ra hệ thống các sông