Tuy vậy, để phát triển được hơn nữa ngành du lịch nước nhà, chúng ta phải hiểu rõ đượcnhững thế mạnh cũng như điểm yếu của từng điểm đến, hay chính là đánh giá năng lựccạnh tranh của các
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Những năm trở lại đây, nền du lịch Việt Nam đã và đang nhận được sự kỳ vọng về một
sự phát triển tích cực và mạnh mẽ Hơn 16 triệu là con số chỉ lượt khách du lịch ở ViệtNam năm 2018, tăng 19,9% so với năm 2017 Có thể nói đây là con số thể hiện một tínhiệu đáng mừng, chứng minh được sự thăng hạng của du lịch Việt Nam trên bản đồ dulịch thế giới Tuy nhiên, nếu so sánh với một số quốc gia khác trong khu vực như TháiLan và Singapore thì những con số này còn khá khiêm tốn Vì vậy, Việt Nam đang tíchcực xây dựng và phát triển ngành du lịch, nhằm biến du lịch trở thành ngành mũi nhọncủa đất nước, từng bước đưa nước ta trở thành trung tâm du lịch tầm cỡ trong khu vực.Việt Nam với đường bờ biển dài và đẹp, hệ thống núi bao bọc, che chắn, khí hậu ôn hòa,nhiều quần đảo và đảo cùng hệ sinh thái phong phú, trong đó các tỉnh như Quảng Ninh,
Đà Nẵng, Hải Phòng,…được biết đến như những điểm đến thu hút nhiều khách du lịchnhất
Tuy vậy, để phát triển được hơn nữa ngành du lịch nước nhà, chúng ta phải hiểu rõ đượcnhững thế mạnh cũng như điểm yếu của từng điểm đến, hay chính là đánh giá năng lựccạnh tranh của các điểm đến này, từ đó phát triển những thế mạnh và khắc phục nhữngđiểm yếu với một mục tiêu cuối cùng là đưa ngành du lịch Việt Nam vươn xa hơn nữa.Nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề năng lực cạnh tranh, nhóm nghiên cứu quyếtđịnh chọn đề tài “Đánh giá năng lực cạnh tranh của một số điểm đến du lịch” với mụcđích có thể hiểu rõ hơn về vấn đề cũng như để vấn đề trở nên lan tỏa
Bài nghiên cứu gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch
Chương 2: Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch
Trang 21 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Điểm đến du lịch và sức hấp dẫn của điểm đến du lịch
+ Điểm đến du lịch (Tourism destination) là một trong những khái niệm rất rộng và đadạng được dùng để chỉ một địa điểm có sức hút với du khách, khác biệt so với địa điểmcùng cấp so sánh xung quanh bởi tính đa dạng tài nguyên, chất lượng và một loạt cáctiện nghi và hoạt động (đặc biệt quan trọng là hoạt động quản lý và marketing) cung cấpcho du khách; ở đây tồn tại các yếu tố sơ cấp đặc thù (khí hậu, sinh thái, truyền thốngvăn hoá, các kiến thức truyền thống, loại hình vùng đất) cùng các yếu tố thứ cấp như cáckhách sạn, giao thông – vận tải và các khu vui chơi giải trí và hoạt động được quy hoạch
và quản lý như một hệ thống mở
Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 đã đưa ra khái niệm về điểm du lịch: “Điểm du lịchđược hiểu là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách
du lịch” Điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị phân vùng du lịch, có quy
mô nhỏ, diện tích, không gian riêng biệt Như vậy, khái niệm Điểm du lịch mới chỉ nóiđến một phạm vi hẹp của nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn phục vụ cho khách du lịch
mà chưa chỉ rõ được quy mô, mức độ, việc lưu lại của khách du lịch, điều kiện tiếp cận,sản phẩm du lịch, ranh giới hành chính để quản lý, và chưa chỉ ra được sự nhận diện vềhình ảnh của điểm đến du lịch
Cũng cần lưu ý trong phân biệt khái niệm Điểm du lịch và Điểm đến du lịch Điểm dulịch cụ thể có phạm vi không gian hẹp, đón tiếp và phục vụ khách tham quan Điểm đến
du lịch có phạm vi không gian lớn hơn, trong đó có các điểm du lịch cho phép đón tiếp
và phục vụ khách du lịch lưu lại ít nhất một đêm
Theo cách tiếp cận của UNWTO thì “Điểm đến du lịch là một nơi cụ thể, ở đó khách dulịch lưu lại ít nhất một đêm bao gồm các sản phẩm du lịch, các dịch vụ cung cấp và tàinguyên du lịch thu hút khách du lịch; có ranh giới hành chính để quản lý và có sự nhậndiện về hình ảnh để xác định năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch trên thị trường”
Đây là khái niệm có tính khái quát cao và được chấp nhận, sử dụng rộng rãi hiện nay.Như vậy, khái niệm đã tiếp cận và giải quyết các vấn đề về quản lý điểm đến du lịch;gắn điểm đến du lịch với những hoạt động phối hợp phát triển các tài nguyên du lịch,
Trang 3các tiện nghi du lịch có tính địa phương, đủ sức hấp dẫn và đáp ứng nhu cầu của các dukhách với những nỗ lực triển khai các hoạt động xúc tiến ở những thị trường nội địa vàquốc tế.
+ Tính hấp dẫn là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá tài nguyên du lịch vàxây dựng hình ảnh của điểm đến du lịch, nó là lực hút giữa điểm đến và điểm cấp khách(nơi có khách du lịch tiềm năng)
Tính hấp dẫn của điểm đến du lịch được thể hiện ở khả năng đáp ứng được nhiều loạihình du lịch có sức thu hút khách du lịch cao và có khả năng đáp ứng nhu cầu của khách
du lịch đi tới điểm du lịch với nguyên tắc: “Dễ dàng, thuận tiện, nhanh chóng, an toàn
và tiện nghi”
Tính hấp dẫn của điểm du lịch còn phụ thuộc vào các nhân tố chính trị, kinh tế và xã hộitại điểm du lịch như: vấn đề an ninh, an toàn cho khách, nhận thức cộng đồng dân cư vềphục vụ khách, các cơ chế, chính sách đối với khách du lịch và các doanh nghiệp dulịch…
1.1.2 Năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch
+ Khái niệm năng lực cạnh tranh
Thuật ngữ “cạnh tranh” (compete), có nguồn gốc từ tiếng La tinh (competere), biểu thị
sự đua tranh, ganh đua giữa các đối tượng có cùng phẩm chất (hay cùng loại, cùng giátrị) nhằm đạt được những ưu thế, lợi ích, mục tiêu xác định (Neufeldt, 1996)
Về mặt bản chất, cạnh tranh là hiện tượng kinh tế xã hội phức tạp, nảy sinh do mâuthuẫn lợi ích giữa các chủ thể ở bất cứ lĩnh vực hoạt động nào Đối với lĩnh vực kinh tế,cạnh tranh được xác định là xuất hiện gắn liền với sự tồn tại và phát triển của nền kinh
tế thị trường
Theo diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triểnKinh tế (OECD): “Cạnh tranh là khái niệm của doanh nghiệp, quốc gia, vùng trong việctạo việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” Quan niệm này đãchỉ rõ, ở góc độ kinh tế, cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các doanh nghiệp mà còn ởcấp quốc gia, cấp vùng và rộng hơn, cạnh tranh không chỉ bó hẹp trong phạm vi nội bộquốc gia mà còn ở phạm vi quốc tế”
Trang 4Theo Từ điển Bách khoa của Việt Nam (tập 1): “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạtđộng ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhàkinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành cácđiều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất” Với quan điểm này cạnh tranhchịu sự tác động của mối quan hệ cung - cầu và có thể diễn ra giữa nhiều chủ thể khácnhau nhằm mục đích giành được lợi ích tối đa.
Như vậy, khái quát lại hệ thống lý thuyết cạnh tranh cho thấy, cạnh tranh là một phạmtrù rộng và mang tính lịch sử; bao hàm một số đặc trưng cơ bản: (1) Mang bản chất củamối quan hệ cùng mục đích giữa các chủ thể với nhau; (2) Các chủ thể cạnh tranh đềuphải tuân thủ những ràng buộc chung; (3) Phương pháp và công cụ cạnh tranh rất đadạng; (4) Cạnh tranh diễn ra trong khoảng thời gian không cố định
Trong phạm vi của nghiên cứu này, khái niệm cạnh tranh được hiểu: “Cạnh tranh làquan hệ kinh tế trong đó các chủ thể kinh tế có cùng một đối tượng quan tâm tìm mọibiện pháp ganh đua nhau giành lấy lợi thế về mình Mục đích cuối cùng của các chủ thểkinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích”
+ Năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch
Năng lực cạnh tranh (NLCT) được coi là vấn đề then chốt của chính sách và chiến lượcphát triển du lịch Do tính đặc thù của sản phẩm, dịch vụ và thị trường du lịch, NLCTtrong lĩnh vực du lịch thường được xem xét, đánh giá ở cấp điểm đến du lịch Đề cậpđến NLCT trong du lịch là nói đến NLCT của một điểm đến du lịch cụ thể Ngoài sựkhác biệt rất lớn so với các sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ thông thường; sản phẩm,dịch vụ du lịch luôn gắn liền với một điểm đến du lịch cụ thể; là “đầu ra” của sự kết hợprất nhiều yếu tố của điểm đến du lịch cũng như sự tham gia của nhiều tổ chức và nhómlợi ích Muốn sử dụng sản phẩm, dịch vụ du lịch, khách du lịch phải thăm viếng điểmđến du lịch cụ thể NLCT của ĐĐDL được tiếp cận theo phương diện cung gọi là khảnăng cạnh tranh của ĐĐDL; tiếp cận theo phương diện cầu có thể hiểu đó là khả năngthu hút của ĐĐDL
Thời gian qua, đã có nhiều khái niệm về NLCT của ĐĐDL được đưa ra bởi các học giả
và tổ chức có uy tín trên thế giới như sau:
Trang 5Tác giả Khái niệm NLCT của ĐĐDL
Metin Kozak NLCT của ĐĐDL là khả năng của một ĐĐDL có thể cung cấp một(1993) cách tương xứng các sản phẩm du lịch cho du khách với sự thỏa mãn
cao nhất, khác biệt hơn, với chất lượng cao hơn và tốt hơn so với cácĐĐDLkhác và có thể duy trì bền vững những kết quả đó
Hassan S.S NLCT của ĐĐDL là khả năng của ĐĐDL tạo ra và kết hợp các sản(2000) phẩm giá trị gia tăng để duy trì nguồn lực trong khi giữ vững vị thế
trên thị trường trước đối thủ cạnh tranh
D’Hauteserre NLCT của ĐĐDL nhằm duy trì vị trí thị trường và chia sẻ và/hoặcA.M (2000) cải tiến chúng theo thời gian
Crouch và ĐĐDL là khả năng làm tăng chi tiêu du lịch, tăng sự hấp dẫn đối vớiRitchie (2003) khách du lịch trong đó cung cấp cho họ sự thỏa mãn, những trải
nghiệm đáng nhớ, đem lại lợi nhuận đồng thời nâng cao mức sốngcho người dân địa phương và bảo tồn đƣợc giá trị tự nhiên củaĐĐDL cho thế hệ mai sau
Dwyer và Kim NLCT của ĐĐDL là tập hợp các yếu tố nguồn lực như tài nguyên tự(2003) nhiên, tài nguyên văn hoá, cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính, các
chính sách, thể chế và con người của một điểm đến, tạo ra một hìnhảnh về sự phát triển du lịch bền vững, có hiệu quả; hình thành nênkhả năng hấp dẫn thu hút khách du lịch và làm thoả mãn nhu cầu của
họ một cách tốt nhất
Enright và ĐĐDL cạnh tranh khi ĐĐDL đó có thể thu hút và làm hài lòng kháchNewton (2005) du lịch
Trang 6Benedetti J NLCT của ĐĐDL là khả năng của một ĐĐDL nhằm làm gia tăng chi(2010) tiêu trong du lịch, gia tăng sức thu hút du khách trong việc cung cấp
cho họ sự hài lòng, những trải nghiệm đáng nhớ nhằm thu được lợinhuận
Tổ chức Hợp NLCT của ĐĐDL là năng lực tối ưu hoá sự hấp dẫn đối với khách dutác và Phát lịch, người dân địa phương và doanh nghiệp nhằm cung cấp chấttriển Kinh tế lượng, sự sáng tạo và hấp dẫn dịch vụ du lịch cho người tiêu dùngOECD (2013) nhằm đạt được thị phần trên thị trường nội địa và toàn cầu đồng thời
đảm bảo các nguồn lực sẵn có hỗ trợ du lịch được sử dụng một cáchhiệu quả và bền vững
1.2 Một số mô hình và các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của ĐĐDL
1.2.1 Mô hình
+ Mô hình khái niệm năng lực cạnh tranh điểm đến của Ritchie và Crouch
Cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu du lịch đã chứng minh lợi ích từ du lịch mang lại là
do nâng cao NLCT điểm đến Ritchie and Crouch (2000) đã thảo luận về mô hìnhNLCT điểm đến thông qua lý thuyết về “Mô hình kim cương” về NLCT quốc gia củaPorter (2003); lợi thế so sánh của Ricardo (1817) và lý thuyết lợi thế cạnh tranh Thôngtin thu thập về NLCT điểm đến được xác định là tài nguyên tự nhiên (lợi thế so sánh) vàkhả năng khai thác tài nguyên (lợi thế cạnh tranh) Mô hình của Ritchie and Crouch(2000) bao gồm 5 nhóm chính: (1) Nhân tố hạn định và mở rộng; (2) Chính sách, quyhoạch và phát triển điểm đến; (3) Quản lý điểm đến; (4) Nguồn lực và nhân tố hấp dẫncăn bản; (5) Nhân tố và nguồn lực hỗ trợ Đồng thời mô hình cũng xác định các yếu tốảnh hưởng đến NLCT của điểm đến bao gồm các yếu tố được thể hiện dưới sơ đồ sau:
Trang 7Nhân tố hạn định và mở rộng
Địa An ninh/ An toàn Chi phí/ Giá trị Phụ thuộc lẫn Nhận biết Sức
Chính sách, quy hoạch và phát triển điểm đến
Xác Triết lí, giá Tầm Định vị Phát Phân tích, Kiểm soát và Kiểmđịnh hệ trị, tầm nhìn nhìn thương triển cạnh tranh, đánh giá định
Quản lý điểm đến
Nguồn lực và nhân tố hấp dẫn căn bản
Thiên nhiên và Văn hóa và Tổ hợp Sự Giải trí Kiến trúc thượng Quan hệ
Trên cơ sở mô hình lý thuyết về NLCT của ĐĐDL đề xuất trước đó bởi Crouch và
Ritchie kết hợp với các lý thuyết về NLCT quốc gia, Dwyer và Kim đề xuất mô hình
tích hợp NLCT của ĐĐDL, năm 2003 Mô hình tích hợp NLCT của ĐĐDL, Dwyer và
Kim (2003) đã chi tiết hóa các cấu phần của mô hình lý thuyết về NLCT của ĐĐDL
(Crouch và Ritchie, 2003) bởi hàng loạt tiêu chí; giải thích rõ hơn về sự tác động tương
hỗ giữa các yếu tố chi phối NLCT của ĐĐDL; nhấn mạnh hơn tầm quan trọng của các
yếu tố thuộc về phía cầu và cho rằng sự hiểu biết, nhận thức của khách DL về ĐĐDL là
yếu tố quyết định sự lựa chọn ĐĐDL của khách DL
Trang 8Tóm lại, có thể thấy mô hình tích hợp của Dwyer và Kim đã kế thừa từ mô hình đánhgiá NLCT ĐĐDL của Crouch và Ritchie; đồng thời bổ sung, khắc phục được một số hạnchế của mô hình Crouch và Ritchie, từ đó xây dựng, phát triển các chỉ số đánh giá mộtcách cụ thể hơn, sâu sắc hơn NLCT của ĐĐDL Điều này được thể hiện rõ nét qua bảng
so sánh mô hình của Crouch và Ritchie và mô hình tích hợp của Dwyer và Kim.Tuynhiên, mô hình này cũng chỉ xác định được các thuộc tính cạnh tranh và mối quan hệgiữa 6 nhóm của thuộc tính mà chưa chỉ ra được yếu tố nào trong mô hình tác độngmạnh nhất đến NLCT của ĐĐDL và một số biến quan sát trong mô hình còn khá chungchung, quá ít tiêu chí để đánh giá ví dụ như đánh giá sự thịnh vượng kinh tế xã hộimang hàm ý “phúc lợi”
+ Mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh và tính bền vững điểm đến du lịch của Goffi GĐược điều chỉnh từ mô hình NLCT của ĐĐDL - Crouch và Ritchie, mô hình của Goffi
G (2012) đƣợc xây dựng để đo lường 610 điểm đến tại Ý Mô hình gồm 7 biến độc lậpvới 64 biến quan sát tác động đến NLCT của ĐĐDL: (1) Nguồn lực cốt lõi và sức hấpdẫn chính (10 biến quan sát); (2) Dịch vụ du lịch (5 biến quan sát); (3) Cơ sở hạ tầng nóichung (6 biến quan sát); (4) Các nhân tố và điều kiện hỗ trợ (13 biến quan sát); (5)Chính sách du lịch, hoạch định và phát triển (12 biến quan sát); (6) Quản lý ĐĐDL (11biến quan sát); (7) Yếu tố cầu (7 biến quan sát) Mô hình sử dụng công cụ điều tra trựctuyến Limesurvey để thu thập, xác định, giám sát và phân tích thông tin Cơ sở dữ liệu
Trang 9đã được tích hợp sẵn, ứng dụng khảo sát trực tuyến được tác giả áp dụng đối với nghiêncứu này.
Mô hình cũng đã chỉ ra một yếu tố rất quan trọng đó là vai trò của các tổ chức quản lýĐĐDL Để sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch trong thời gian dài, tổ chứcquản lý ĐĐDL và các cấp quản lý lập kế hoạch và phát triển du lịch Nghiên cứu đồngthời khẳng định một chính sách DL bền vững và quản lý ĐĐDL hữu ích cho việc giữgìn môi trường sinh thái, giảm thiểu tác động xấu đến văn hoá, xã hội và tác động mạnhđến việc nâng cao NLCT của ĐĐDL Tuy nhiên, theo các chuyên gia DL, nghiên cứunày thu thập số liệu của 610 điểm đến vừa và nhỏ của Italia nhưng về mặt địa lý cũngnhư trong thực tế, các ĐĐDL khác nhau có thể có những kết quả, kết luận khác nhau vềnhững tác động của các yếu tố đến NLCT của ĐĐDL Các chủ thể của ĐĐDL và cácquốc gia khác nhau sẽ có nhận thức khác nhau trong việc phát triển DL và nâng caoNLCT của ĐĐDL Thêm vào đó, các chuyên gia cho rằng nghiên cứu này đã không lấy
ý kiến của khách DL về chính sách cạnh tranh của các ĐĐDL nên ý nghĩa khách quan
sẽ bị hạn chế
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch
Qua tổng quan tài liệu và đặc biệt là các kết quả nghiên cứu của các mô hình trước đây,các yếu tố cấu thành NLCT hay chính là các tiêu chí mà nhóm chúng tôi đề xuất để tiếnhành đánh giá NLCT của ĐĐDL phù hợp với đề tài tiểu luận được xác định gồm 10 yếutố: Tài nguyên du lịch; Nguồn nhân lực du lịch; Sản phẩm du lịch; Cơ sở hạ tầng và cơ
sở vật chất kỹ thuật du lịch; Quản lý ĐĐDL; Hình ảnh ĐĐDL; Sự thuận tiện tiếp cận
Trang 10ĐĐDL; Doanh nghiệp du lịch; Giá cả; Sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương vào du lịch.
+ Tài nguyên du lịch
Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2017: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên,yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người vàcác giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, các yếu tố
cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”
Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hoá Tài nguyên dulịch là lý do chính để du khách quyết định lựa chọn ĐĐDL (Crouch và Ritchie, 1999).Đặc biệt, một trong những yếu tố thuộc tài nguyên du lịch tạo nên sức hấp dẫn, có vai
trò quyết định, làm gia tăng NLCT của ĐĐDL, đó là các Di sản thế giới Di sản thế giới
là lợi thế so sánh, được đánh giá là ưu thế vượt trội hơn của ĐĐDL so với các đối thủcạnh tranh khác trên thị trường du lịch Theo đó, sức hấp dẫn về tài nguyên du lịch làtiêu chuẩn quan trọng, có tính quyết định sự lựa chọn ĐĐDL của du khách
+ Sản phẩm du lịch
Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên
cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch”
Sản phẩm du lịch tạo dựng nên giá trị, sức hấp dẫn mà ĐĐDL cung ứng cho du khách
Cơ cấu của sản phẩm du lịch có sức hấp dẫn và tính cạnh tranh bao gồm các chươngtrình du lịch, sản phẩm du lịch trọn gói Cơ cấu sản phẩm du lịch càng phong phú, độcđáo, khác biệt thì điểm đến đó càng có lợi thế và NLCT tốt hơn các đối thủ trên thịtrường Như vậy, điểm mấu chốt, quan trọng ở đây là sản phẩm du lịch đặc thù của điểmđến phải được xây dựng trên chính những giá trị “cốt lõi” tài nguyên du lịch của điểmđến đó (Phạm Trung Lương, 2011)
+ Cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật du lịch
Cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật du lịch được coi là yếu tố cấu thành quan trọng NLCT của ĐĐDL (Crouch và Ritchie (1999); Hassan (2000); Dwyer và Kim (2003))
Trang 11Cơ sở hạ tầng du lịch bao gồm hệ thống giao thông vận tải, hệ thống điện, nước, thôngtin liên lạc của ĐĐDL CSHT phát triển và duy trì tốt sẽ đem lại một nền tảng vữngchắc cho ngành du lịch hoạt động, phát triển mạnh mẽ.
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là toàn bộ các phương diện vật chất kỹ thuật tham giavào quá trình phục vụ du khách; đáp ứng các nhu cầu nghỉ ngơi, ăn uống, đi lại, hội họp
và các nhu cầu khác trong thời gian du khách lưu trú và tham quan bao gồm hệ thống cơ
sở lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, trung tâm mua sắm,…
Như vậy, cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật du lịch góp phần khai thác hiệu quả tàinguyên du lịch, thoả mãn nhu cầu của du khách và thúc đẩy du lịch phát triển Cơ sở hạtầng và vật chất kỹ thuật du lịch đồng bộ sẽ tạo điều kiện thuận lợi để ĐĐDL nâng caoNLCT, ngược lại sẽ làm chậm bước phát triển và làm giảm NLCT của ĐĐDL
+ Sự thuận tiện tiếp cận điểm đến du lịch
Có nhiều nét tương đồng với cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật du lịch Sự thuận tiệntiếp cận ĐĐDL chỉ dễ dàng khi có mạng lưới giao thông và hệ thống phương tiện vậnchuyển khách đa dạng, thuận tiện, an toàn và nhanh chóng Đối với khách du lịch quốc
tế, sự thuận tiện tiếp cận ĐĐDL còn thể hiện ở việc đơn giản hóa các thủ tục từ thị thựcxuất nhập cảnh đến các thủ tục hộ chiếu, hải quan tại các cửa khẩu quốc tế Tất cảnhững thủ tục hành chính này sẽ tạo ra những ấn tượng đầu tiên đối với khách du lịch
và họ sẽ có những ấn tượng tốt đẹp về ĐĐDL
+ Quản lý điểm đến du lịch
Theo UNWTO: “Quản lý ĐĐDL là việc quản lý mang tính phối hợp của tất cả các yếu
tố tạo nên một điểm đến Việc quản lý điểm đến mang lại phương pháp tiếp cận chiếnlược nhằm liên kết các thực thể, đối tượng riêng biệt cho việc quản lý các điểm đến tốthơn Sự kết hợp quản lý có thể tránh sự trùng lặp trong những nỗ lực liên quan đến việcquảng bá, các dịch vụ, đào tạo, hỗ trợ kinh doanh và nhận biết bất cứ thiếu sót quản lýnào mà không được giải quyết”
Đối với quản lý ĐĐDL tại địa phương, Luật Du lịch 2017 quy định các hoạt động cụthể: Quản lý tài nguyên DL, khu DL, điểm DL, hoạt động kinh doanh DL và hướng dẫn
DL trên địa bàn; Bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, môi trường, an toàn thựcphẩm tại khu du lịch, điểm du lịch, nơi tập trung nhiều khách du lịch; Tuyên truyền,
Trang 12nâng cao nhận thức của người dân để bảo đảm môi trường du lịch thân thiện, lành mạnh
và văn minh; Hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng; Tổ chức tiếp nhận và giải quyết kiếnnghị của khách du lịch
Mục tiêu của quản lý ĐĐDL là đảm bảo sự phát triển bền vững; loại bỏ những xung đột
về lợi ích giữa các nhà cung cấp dịch vụ, đảm bảo lợi ích của các bên tham gia du lịch;đảm bảo sự cân bằng, thích hợp giữa các yếu tố môi trường sinh thái, kinh tế và các chỉtiêu xã hội Như vậy, quản lý ĐĐDL hiệu quả sẽ giúp chỉ ra cách tốt nhất để sử dụngcác nguồn lực cho nâng cao NLCT, các yếu tố tự nhiên - xã hội, văn hoá của điểm đến
sẽ được bảo tồn tốt hơn đem lại sự hài lòng cho du khách nhiều hơn; gìn giữ hình ảnhtích cực của ĐĐDL và làm gia tăng số lượng du khách quay trở lại, giới thiệu cho bạn
bè đến với ĐĐDL
+ Nguồn nhân lực du lịch
Nguồn nhân lực DL là đội ngũ nhân lực đang làm việc hoặc tìm kiếm việc làm tronglĩnh vực du lịch, bao gồm nguồn nhân lực trực tiếp và gián tiếp Đối với một ĐĐDL,nhân lực du lịch được xem là nguồn lực quan trọng, quyết định chất lượng của ĐĐDL.Với xu thế thị trường hiện nay, du khách trong và ngoài nước đòi hỏi rất cao từ các dịch
vụ du lịch Vậy, để nâng cao NLCT của ĐĐDL đòi hỏi nguồn nhân lực du lịch dồi dàođảm bảo cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng
+ Doanh nghiệp du lịch
Doanh nghiệp du lịch đóng vai trò quan trọng trong phát triển du lịch cũng như NLCTcủa ĐĐDL NLCT của ĐĐDL cũng phụ thuộc vào hiệu quả của các doanh nghiệp dulịch hoạt động ở đó (Claver-Cortes et al.,2007) Do vậy, muốn phát triển du lịch và nângcao NLCT của ĐĐDL, cần thúc đẩy các doanh nghiệp du lịch kinh doanh hiệu quả, từ
đó làm gia tăng hệ số lưu trú qua đêm, tăng chi tiêu trong du lịch, giải quyết các vấn đềviệc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng
+ Sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương vào du lịch
Bên cạnh việc tham gia vào các hoạt động cung ứng những dịch vụ du lịch, sự tham giacủa cộng đồng dân cư địa phương vào du lịch được thể hiện rõ nét qua sự hiếu khách,thân thiện; sự hỗ trợ của họ đối với khách du lịch và quan trọng hơn, đó là ý thức bảo vệmôi trường và phát triển du lịch địa phương Theo Dwyer và Kim (2003), sự thân thiện
Trang 13của người dân địa phương là yếu tố xã hội của ĐĐDL, có ảnh hưởng đến sự hài lòngcủa khách du lịch với chuyến đi của họ; ngược lại, nếu du khách được chào đón với thái
độ thù địch, họ sẽ không muốn trở lại điểm đến một lần nữa Theo đó, các tiêu chí đánhgiá Sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương vào du lịch được xem xét cụ thể: (1)Người dân địa phương thân thiện, hiếu khách; (2) Người dân địa phương trợ giúp dukhách; (3) Người dân địa phương có ý thức bảo vệ môi trường và phát triển du lịch địaphương
+ Hình ảnh điểm đến du lịch
Theo những nghiên cứu trước đây, các tiêu chí đƣợc xác định để đánh giá hình ảnhĐĐDL tập trung vào những ấn tƣợng hay sức hấp dẫn đáng nhớ mà du khách nghĩ vềĐĐDL; những trải nghiệm thú vị của du khách và những điểm khác biệt, kỳ thú củaĐĐDL
Khi đánh giá về hình ảnh ĐĐDL, các tiêu chí được xem xét cụ thể: (1) ĐĐDL đượcnhiều người biết đến; (2) ĐĐDL an toàn, thân thiện; (3) ĐĐDL được nhận biết dễ dàngqua biểu tượng; (4) ĐĐDL hấp dẫn, khác biệt
+ Giá cả
Mức độ phù hợp giữa giá cả và chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch tại ĐĐDL tươngthích với từng tập khách hàng là một chiến lược cạnh tranh quan trọng trong chiến lượcthu hút khách du lịch và trở thành lợi thế lớn của ĐĐDL so với đối thủ cạnh tranh trênthị trường Trên cơ sở kết quả trong các nghiên cứu, yếu tố giá được xem xét qua 3 tiêuchí: (1) Giá cả tương xứng với chất lượng sản phẩm, dịch vụ; (2) Chính sách giá ưu đãilinh hoạt; (3) Sự đảm bảo - bảo hành cho mặt hàng mua sắm
2 ĐÁNH GIÁ NLCT CỦA MỘT SỐ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH
Sau chương I, nhóm tác giả đã rút ra được khung các tiêu chí để đánh giá NLCT của cácđiểm đến du lịch Nhóm chúng tôi quyết định lựa chọn Hạ Long và Đà Nẵng là 2 điểmđến để tiến hành đánh giá năng lực cạnh tranh theo hệ thống tiêu chí đã nêu ở chương I
2.1 Sơ lược về tình hình khách DL ở Hạ Long và Đà Nẵng
2.1.1 Hạ Long
Trang 14Bảng số liệu thống kê tình hình khách DL đến Hạ Long
Tổng khách DL (triệu lượt) 3.803 4.032 4.229 4.769 4.992 5.571 6.366 6.930 Khách DL quốc tế (triệu
từ năm 2013-2017, số lượng khách du lịch quốc tế đến Hạ Long luôn cao hơn số lượngkhách du lịch nội địa chứng tỏ sức hút của thành phố này là không hề nhỏ với bạn bèquốc tế Tuy vậy tốc độ tăng trưởng khách du lịch từ năm 2016-2017 có xu hướng giảm,đòi hỏi Hạ Long cần đưa ra những chính sách cũng như sự đánh giá về lợi thế cạnhtranh của mình để nâng cao số lượng khách du lịch nói riêng và phát triển toàn ngành dulịch nói chung
2.1.2 Đà Nẵng
Bảng số liệu thống kê tình hình khách DL đến Đà Nẵng:
Trang 15Có thể thấy rằng lượng du khách tới Đà Nẵng tăng rất nhanh trong vòng 10 năm trở lại
đây với mức tăng trung bình 22%/năm Lượng khách quốc tế cũng là một con số đáng
được chú ý, từ mức rất thấp (156 nghìn khách vào năm 2009) đã tăng lên đến con số
ước tính là 2,875 triệu lượt khách (năm 2018) Doanh thu du lịch của thành phố Đà
Nẵng cũng ở mức tương đối cao, ước tính đạt 24060 tỷ đồng vào năm 2018, đóng góp
rất lớn vào tổng giá trị sản phẩm của địa phương Tốc độ tăng số lượt khách và doanh
thu tương đối đều, hứa hẹn sẽ tiếp tục tăng lên trong tương lai Thành phố Đà Nẵng đã
đặt mục tiêu tiếp đón 8,19 triệu lượt khách du lịch trong năm 2019, trong đó lượng
khách quốc tế kỳ vọng là 3,19 triệu lượt khách, và đặt mục tiêu tổng thu du lịch là
27400 tỷ đồng, tăng 13,9% so với năm 2018
Tương tự như các điểm đến du lịch nói chung trên toàn Việt Nam, Đà Nẵng cũng có
một tỷ lệ khách quốc tế từ Trung Quốc và Hàn Quốc rất cao Theo thống kê của Sở Du
lịch thành phố Đà Nẵng vào năm 2018, tỷ lệ khách Trung Quốc ước tính rơi vào khoảng
22%, và tới 60% đối với du khách Hàn Quốc đây vừa là lợi thế, và cũng vừa là thách
thức và rủi ro đối với ngành du lịch của thành phố Vì Đà Nẵng có thể chú ý phát triển
dịch vụ dành cho du khách từ hai quốc gia này để thu hút thêm người dân hai nước tới
Trang 16du lịch, đồng thời cũng phải đối mặt với các hệ lụy có thể kéo theo, ví dụ như phải xử
lý tình trạng “tour 0 đồng” đang rất phổ biến với đối tượng phần lớn chính là du khách Trung Quốc và Hàn Quốc, và vấn đề lớn hơn với tác động lâu dài là việc phụ thuộc quá nhiều vào nguồn du khách từ 2 quốc gia
2.2 Đánh giá NLCT của 2 điểm đến
2.2.1 Tài nguyên du lịch
+ Hạ long
Có thể khẳng định, yếu tố cấu thành đặc biệt quan trọng, đóng góp lớn vào năng lựccạnh tranh của Hạ Long, đó chính là tài nguyên du lịch Hạ Long được đánh giá là mộttrong những vùng đất có nguồn tài nguyên du lịch nổi bật và đặc sắc nhất cả nước vớirất nhiều các điểm du lịch hấp dẫn; với các tài nguyên vật thể và phi vật thể phong phú,
đa dạng thuộc cả hai thể loại: tự nhiên và văn hóa
Tài nguyên du lịch tự nhiên
Thế mạnh lớn nhất của du lịch Hạ Long đó chính là du lịch biển đảo Với một dải bờbiển dài hơn 50km thiên nhiên đã tạo cho Hạ Long một hệ thống tài nguyên du lịch biểnliên hoàn nối liền vịnh Hạ Long với vịnh Bái Tử Long Đặc biệt, tài nguyên du lịch tựnhiên còn được thể hiện qua chính sức hấp dẫn, đem lại sự khác biệt mà Hạ Long cóđược khi sở hữu di sản thiên nhiên thế giới - vịnh Hạ Long
Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long là một cảnh quan đá vôi cát-tơ lớn nhất vàphát triển mạnh nhất ở trên biển với gần 30 hang động, là trường hợp độc nhất, vô nhịtrên hành tinh Năm 1994, vịnh Hạ Long được công nhận là di sản thiên nhiên thế giớibởi “giá trị ngoại hạng và giá trị toàn cầu” Năm 2000, Hội đồng Di sản thế giới đã côngnhận vịnh Hạ Long là di sản thế giới lần thứ hai về giá trị địa chất, địa mạo Năm 2011,vịnh Hạ Long được vinh danh là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới do
tổ chức New open world bình chọn Năm 2013, vịnh Hạ Long được hiệp hội “câu lạc bộvịnh đẹp nhất thế giới” bầu chọn là một trong 29 vịnh đẹp nhất trên thế giới Vịnh HạLong cũng xếp thứ ba trong danh sách 29 tốt nhất của khu vực Đông Nam Á bởiTouropia, một trang web du lịch quốc tế về các điểm
tham quan tuyệt vời nhất trên thế giới Đó là sự khẳng định giá trị ngoại hạng và toàncầu có một không hai của thế giới, cần gìn giữ của toàn nhân loại.thêm vào đó, trongkhông gian rộng lớn của vịnh Hạ Long còn tồn tại nhiều làng chài truyền thống nơi cònlưu giữ được những giá trị văn hóa cộng đồng rất độc đáo
Trang 17Sức hấp dẫn về tài nguyên du lịch tự nhiên của Hạ Long còn được thể hiện qua vị trí địa
lý, khí hậu và các bãi biển đẹp, trải dài Có thể kể tên các bãi biển đẹp có các bãi tắm lýtưởng của Hạ Long như: ti tốp, thanh niên, hoàng gia, Tuần Châu, Những bãi biển này
đã thu hút đông đảo khách du lịch đến với các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinhthái, chèo thuyền, lặn biển Không chỉ có các bãi biển đẹp mà hệ thống các tuyến đảotrên biển còn được thiên nhiên ưu đãi những cánh rừng nguyên sinh rất đẹp, hệ sinhthái, động thực vật vô cùng phong phú với nhiều loài hải sản quý hiếm có thể phát triểncác loại hình du lịch sinh thái, khám phá, mạo hiểm, ẩm thực,
Tài nguyên du lịch văn hoá
Bên cạnh tài nguyên du lịch tự nhiên, Hạ Long cũng rất giàu tài nguyên du lịch vănhoá Theo thống kê, có ba di tích văn hoá vật thể quan trọng của Hạ Long là quần thểnúi bài thơ, đền thờ đức ông Trần Quốc Nghiễn và chùa Lôi Âm Tuy nhiên, tài nguyên
du lịch văn hoá mới chỉ có sức hấp dẫn đối với khách du lịch nội địa, trong đó chủ yếu
là dòng khách tâm linh còn sức hút đối với khách du lịch nước ngoài chưa đáng kể.Ngoài các điểm du lịch văn hoá trên, Hạ Long còn sở hữu tài sản văn hoá phi vật thể,trong đó nổi bật nhất là múa rối nước, văn hoá Hạ Long và một số các lễ hội khác nhưCarnival Hạ Long, lễ hội hoa anh đào, Như vậy, có thể nói Hạ Long là rất giàu tàinguyên du lịch Tài nguyên du lịch đã giúp Hạ Long đang dần trở thành điểm hấp dẫn
du khách, đặc biệt là du khách quốc tế và khẳng định được vị thế cạnh tranh trên thịtrường du lịch trong nước và thế giới
+ Đà Nẵng
Đà Nẵng được biết đến như thành phố dồi dào, phong phú về tài nguyên du lịch, thuộc
cả 2 thể loại: tự nhiên và văn hóa
Tài nguyên du lịch tự nhiên
Đà nẵng được biết đến là vùng đất có địa hình đồng bằng xen lẫn núi cao cùng với khíhậu nhiệt đới gió mùa dễ chịu Đặc biệt, điểm nổi bật hơn cả trong tài nguyên của thànhphố này chính là đường bờ biển dài 70km với nhiều bãi tắm đẹp rải từ Bắc xuống Nam.Thêm vào đó biển Đà Nẵng có sóng nhỏ, nước êm trong xanh bốn mùa Thiên nhiên còn
ưu đãi ban tặng cho Đà Nẵng nhiều danh lam thắng cảnh đặc sắc như: Ngũ Hành Sơn,
Bà Bà - Núi Chúa, Bán đảo Sơn Trà, đèo Hải Vân, có giá trị lớn để khai thác, phát triểncác loại hình du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng phục vụ du khách Tuy vậy, trong nămkhoảng từ tháng 9 đến tháng 12, Đà Nẵng mưa rất nhiều, gây ra sự khó khăn trong việcthu hút khách DL
Trang 18Tài nguyên du lịch văn hóa
Ở Đà Nẵng, ta có thể tìm thấy cả tài nguyên văn hóa vật thể và phi vật thể:
- Tài nguyên văn hóa vật thể
Đà Nẵng là nơi giao lưu và hội tụ những nét văn hóa của nhiều vùng miền trong cả nướcvới các di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng như Bảo tàng Chăm, Bảo tàng Quân khu V, bảotàng Đà Nẵng, Bên cạnh đó các di tích Nghĩa trũng Khuê Trung, khu di tích K20 rất cótiềm năng trong việc phát triển loại hình du lịch văn hóa của thành phố cũng như củakhu vực miền Trung
- Tài nguyên văn hóa phi vật thể
Đó là các lễ hội thu hút rất nhiều du khách tham quan cũng như những làng nghề thủcông truyền thống như làng mỹ nghệ Non Nước, làng nước mắm Nam Ô, làng dệt chiếuCẩm Nê, Các làng nghề này không chỉ đơn giản là sản xuất mà còn đã và đang đưa vàohoạt động du lịch văn hóa, góp phần nâng cao giá trị kinh tế, duy trì sự tồn tại và pháttriển của các làng nghề
2.2.2 Sản phẩm du lịch
+ Hạ long
Sản phẩm du lịch của Hạ Long khá đa dạng, phong phú và phù hợp với sở thích của dukhách,trong đó sản phẩm du lịch biển được coi là sản phẩm cốt lõi, đặc sắc nhất của HạLong Sản phẩm du lịch lịch biển đặc trưng, điển hình và có quy mô lớn nhất tại HạLong là hoạt động tàu du lịch tham quan và nghỉ đêm trên vịnh Hạ Long
Bên cạnh các hoạt động tắm biển, thăm hang động, Còn có các hoạt động lặn biển, leonúi, chèo thuyền Kayak Loại hình tour du lịch ngủ đêm trên vịnh mang đến cho dukhách một cảm giác đầy thú vị, một trải nghiệm Hạ Long theo cách đặc biệt nhất Dukhách có cơ hội thăm quan và nghỉ dưỡng trọn vẹn cho một hành trình kéo dài hai ngàyhoặc ba ngày trên vịnh Hạ Long, ghé thăm các làng chài và tìm hiểu về cuộc sống củanhững người dân nơi đây Tour du lịch này hấp dẫn và thu hút khách quốc tế, đặc biệt làkhách quốc tế cao cấp
Điển hình nhất phải kể đến tuần du lịch Hạ Long - Quảng Ninh với tâm điểm lễ hộiđường phố Carnaval Hạ Long diễn ra vào dịp 30/4 - 1/5 hàng năm với tinh thần kế thừa,kết hợp giữa văn hóa truyền thống và hiện đại cũng đang trở thành loại sản phẩm vănhóa du lịch đặc trưng của Hạ Long thu hút mạnh mẽ khách du lịch trong nước và quốc
tế Bên cạnh đó còn có bóng chuyền bãi biển, người đẹp Hạ Long, người dẫn chương
Trang 19trình hay nhất về Hạ Long, trình chiếu ánh sáng tia lazer tại khu trung tâm văn hoá HạLong Riêng trong tuần du lịch, ở khu du lịch Tuần Châu còn có giải đua ô tô địa hình,thu hút được rất nhiều du khách đến tham gia và cổ vũ.
+ Đà Nẵng
Sản phẩm du lịch của Đà Nẵng rất phong phú và đa dạng như du lịch biển, nghỉ dưỡngcao cấp, giải trí, mua sắm… Bên cạnh đó là ở Đà Nẵng, chúng ta có thể tìm thấy sảnphẩm du lịch MICE (du lịch kết hợp hội thảo hội nghị) Đặc biệt trong năm 2017, ĐàNẵng đã được chọn làm địa điểm tổ chức Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á Thái BìnhDương (APEC), đánh dấu một bước ngoặt trong sản phẩm du lịch MICE ở Đà Nẵng.Cuối tháng 3 vừa qua, thành phố biển miền Trung có cơ hội được đón tiếp khách trongnước và quốc tế dự Hội nghị Kiểm soát nhiễm khuẩn châu Á - Thái Bình Dương 2019(APSIC 2019), tại Cung hội nghị quốc tế Ariyana Đà Nẵng Tuy vây, những năm gầnđây Đà Nẵng cũng đang gặp khó khăn trong việc tạo ra đặc trưng riêng trong sản phẩm
du lịch của mình, để khác biệt hóa với những ĐĐDL khác
Đối với hệ thống đường bộ, có 5 tuyến quốc lộ với 381 km, trong đó có ba tuyến quốc
lộ chính nối Quảng Ninh với các tỉnh khác, tuyến Hà Nội - Hạ Long, tiêu biểu là cao tốc
Hà Nội - Hải Phòng (tuyến cao tốc có quy mô và hiện đại nhất Việt Nam) đã làm gầnhơn quãng đường từ Hà Nội đến Quảng Ninh và rút ngắn thời gian di chuyển của dukhách Đây là một điều rất thuận lợi, góp phần thu hút mạnh mẽ hơn lượng khách dulịch đến Hạ Long Tuy vậy, tình hình giao thông của Hạ Long cũng còn tồn tại rất nhiềubất cập: hiện tượng “đào, lấp” không theo quy hoạch diễn ra khắp nơi; hiện tượng tắcđường; phóng nhanh, vượt ẩu gây cảm giác mất an toàn cho du khách quốc tế đã gây tácđộng không nhỏ đến tâm lý khi lựa chọn
Hệ thống cơ sở lưu trú
Trang 20So với các trung tâm du lịch cả nước, Hạ Long có hệ thống cơ sở lưu trú phục vụ khách
du lịch được đánh giá cao Có hai dạng cơ sở lưu trú tại Hạ Long: khách sạn trên đấtliền và tàu nghỉ đêm trên vịnh Theo thống kê, tính đến nay, Hạ Long có trên 500 cơ sởlưu trú đạt tiêu chuẩn với 12.000 phòng, trong đó có 82 khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 1-5sao Bên cạnh hệ thống cơ sở lưu trú trên, Hạ Long còn được đánh giá cao bởi hệ thốngtàu du lịch có lưu trú với 200 tàu lưu trú công suất với 1.900 phòng và 4000 giường
Hệ thống cơ sở ăn uống
Các nhà hàng, quán ăn cao cấp tập trung phần lớn ở các trung tâm du lịch như khu vựcBãi Cháy, hòn gai, Tuần Châu và trong các khách sạn lớn, phục vụ chủ yếu các món đặcsản biển, món ăn dân tộc Việt Nam
Hệ thống cơ sở vui chơi giải trí
Hệ thống cơ sở vui chơi giải trí của Hạ Long đang dần hấp dẫn và thu hút du khách.Điều này được minh chứng qua số cơ sở vui chơi giải trí tại điểm đến gồm các quán bar,khu chợ đêm, khu công viên, trung tâm mua sắm, các bãi tắm Khu vui chơi giải trí, nổibật thu hút được khách du lịch đến hiện nay là khu du lịch quốc tế Tuần Châu với nhàbiểu diễn mái vòm - biểu diễn cá heo, hải cẩu, sư tử; cung trình diễn vũ điệu nhạc nước
và ánh sáng laser; rạp biểu diễn xiếc thú và thảo cầm viên; công viên nước Tuần Châu,công viên quốc tế hoàng gia với nhà hát ca múa nhạc dân tộc; nhà hát múa rối nướcphục vụ các chương trình biểu diễn nghệ thuật mang đậm bản sắc dân tộc đặc biệt làkhinh khí cầu - trò chơi giải trí duy nhất ở Hạ Long hiện nay đang hấp dẫn nhiều dukhách, đặc biệt là du khách quốc tế Du khách ngồi trên khinh khí cầu, có thể ngắm nhìntoàn cảnh vịnh Hạ Long - di sản thế giới; mang lại sự trải nghiệm khác biệt, lý thú sovới các điểm đến khác Mới đây nhất, tập đoàn Sun Group đã khai trương công viên chủ
đề lớn nhất Đông Nam Á dragon park thuộc quần thể Sun World ha Long Park thương hiệu vui chơi giải trí thuộc tập đoàn Sun Group tại Hạ Long Với kinh nghiệm
Trang 21-và uy tín của Sun Group, Sun World Hạ Long Park hứa hẹn trở thành điểm vui chơi lýtưởng, hấp dẫn và giữ chân du khách.
Hệ thống cơ sở mua sắm
Địa điểm mà du khách thường đến mua sắm ở Hạ Long là các khu chợ (chiếm 80%);loại hàng mà du khách mua sắm chủ yếu là hàng lưu niệm, thủ công mỹ nghệ, đồ trangsức ngọc trai, hải sản.Bên cạnh đó còn có các hệ thống trung tâm thương mại lớn nhưHalong Marine plaza, Vincom Center halong, các siêu thị cũng thu hút mạnh mẽ lượngkhách du lịch quốc tế đến thăm quan và mua sắm
Hệ thống cơ sở ăn uống
Đà Nẵng được biết đến với nhiều nhà hàng, quán ăn từ bình dân cho đến cao cấp, phùhợp với mức thu nhập của từng du khách Các nhà hàng tập trung nhiều ở các khu dulịch nổi tiếng như bán đảo Sơn Trà hay bãi biển Mỹ Khê
Hệ thống cơ sở lưu trú
Đà Nẵng được đầu tư mạnh mẽ dịch vụ lưu trú với đa dạng nhiều loại hình như kháchsạn, nhà nghỉ, resort hay thậm chí là homestay Tuy vậy, chính sự đầu tư mạnh tay đã trởthành bước trở ngại, do sự mọc lên quá nhiều các nhà nghỉ, khách sạn kém chất lượng
và không đạt chuẩn
Hệ thống cơ sở vui chơi giải trí
Với hệ thống các cơ sở văn hóa - thể thao như nhà hát Trưng Vương, nhà biểu diễn thểthao đa năng, cung thể thao Tiên Sơn nơi thường diễn ra các hoạt động ca múa nhạc,xiếc tạp kỹ và các môn đấu thể thao, Đà Nẵng có thể phục vụ một lượng lớn khách quốc
tế cũng như trong nước Bên cạnh đó, Đà Nẵng được đầu tư một hệ thống cáp treo hiệnđại trong tổ hợp vui chơi giải trí Bà Nà Hills - một điểm đến mà bất cứ du khách nào