1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số ở trung tâm giáo dục nghề nghiệp giáo dục thường xuyên huyện phú bình, tỉnh thái nguyên

139 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀO VĂN TRUNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN N

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐÀO VĂN TRUNG

QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC

NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 8140114

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Quốc Thành

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn Đào Văn Trung

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm trân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tới Lãnh đạo trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên, các Thầy giáo, Cô giáo đã tham gia giảng dạy và cung cấp những kiến thức cơ bản, sâu sắc, tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại nhà trường

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Giáo sư, tiến sĩ Trần Quốc Thành, người trực tiếp hướng dẫn khoa học, tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, hoàn thành Luận văn

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới Lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Phú Bình, Phòng Lao động - Thương binh xã hội, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục Thường xuyên huyện Phú Bình, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Phú Bình cùng bạn bè, người thân đã tạo điều kiện cả về thời gian, vật chất, tinh thần cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, mặc dù bản thân em đã luôn cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết Kính mong được sự góp ý, chỉ dẫn của các Thầy, các Cô và các bạn đồng nghiệp

Em xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020

Tác giả luận văn Đào Văn Trung

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU v

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Kết cấu Luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Ở nước ngoài 6

1.1.2 Ở Việt Nam 7

1.2 Nghề và đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số 10

1.2.1 Khái niệm nghề 10

1.2.2 Đào tạo và đào tạo nghề 12

1.2.3 Đào tạo nghề cho lao động nông thôn 15

1.2.4 Đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số 17

1.3 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là phát triển nông thôn 22

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.3.1 Khái quát về Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp -Giáo dục thường

xuyên cấp huyện 22

1.3.2 Đặc trưng đào tạo nghề ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên cấp huyện 25

1.4 Nội dung quản lý đào tạo cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Phú Bình 27

1.4.1 Quản lý 27

1.4.2 Nội dung quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số 28

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số của trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên 40

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN 44

2.1 Khái quát chung về huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên và trung tâm giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên của huyện 44

2.1.1 Đặc điểm chung của huyện Phú Bình 44

2.1.2 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên của huyện 45

2.2 Tổ chức và phương pháp khảo sát thực trạng 49

2.2.1 Tổ chức khảo sát 49

2.2.2 Đối tượng khảo sát 49

2.2.3 Nội dung khảo sát 50

2.2.4 Phương pháp khảo sát thực trạng 50

2.3 Thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 51

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

2.3.1 Số lượng và chất lượng học viên học nghề tại Trung tâm Giáo dục nghề

nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 51

2.3.2 Nhận thức về tầm quan trọng của vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 53

2.3.3 Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 55

2.3.4 Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo nghề 60

2.3.5 Chất lượng đào tạo nghề 61

2.3.6 Đánh giá chung về đào tạo nghề ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 64

2.4 Thực trạng quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 67

2.4.1.Thực trạng công tác tuyển sinh 67

2.4.2 Thực trạng quản lý chương trình đào tạo nghề 68

2.4.3 Thực trạng quản lý dạy và học nghề 71

2.4.4 Thực trạng quản lý cơ sở vật chất phục vụ đào tạo 74

2.5 Đánh giá chung về thực trạng 76

2.5.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số ở Trung tâm GDNN-GDTX huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 77

2.5.2 Đánh giá chung về thực trạng 79

Kết luận chương 2 80

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN 82

3.1 Một số định hướng phát triển nông thôn và vấn đề đào tạo nghề cho đồng bào người dân tộc thiểu số 82

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

3.2 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp đào tạo nghề cho lao động nông thôn

người dân tộc thiểu số 83

3.2.1 Nguyên tắc 1: Đảm bảo tính phù hợp với thực tiễn địa phương 83

3.2.2 Nguyên tắc 2: Đảm bảo tính khả thi 84

3.2.3 Nguyên tắc 3: Đảm bảo tính hiệu quả 84

3.2.4 Nguyên tắc 4: Đảm bảo tính khoa học 84

3.2.5 Nguyên tắc 5: Đảm bảo tính kế thừa và phát triển 85

3.2.6 Nguyên tắc 6: Đảm bảo tính đồng bộ 85

3.3 Các biện pháp đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 86

3.3.1 Tăng cường phân tích thực trạng nhu cầu học nghề của lao động nông thôn người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Phú Bình 86

3.3.2 Xác định mục tiêu đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu lao động nông thôn người dân tộc thiểu số và xây dựng chương trình đào tạo nghề phù hợp với lao động nông thôn người dân tộc thiểu số 87

3.3.3 Đa dạng hóa các hình thức đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số 89

3.3.4 Biện pháp huy động các nguồn lực cộng đồng trong hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số 90

3.3.5 Tăng cường giám sát hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số 93

3.3.6 Mối quan hệ giữa các biện pháp 95

3.4 Khảo nghiệm các biện pháp đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 96

3.4.1 Khái quát chung về khảo nghiệm 96

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

3.4.2 Phân tích kết quả khảo nghiệm 98

Kết luận chương 3 101

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

PHỤ LỤC

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNH-HĐH : Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa

GDNN-GDTX : Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên KT-XH : Kinh tế - xã hội

THCS : Trung học cơ sở

THPT : Trung học phổ thông

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1 Số lượng học viên đào tạo tại Trung tâm GDNN-GDTX huyện

Phú Bình (2017-20190) 52 Bảng 2.2 Hình thức và phương pháp đào tạo nghề cho lao động nông thôn

người dân tộc thiểu số huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 59 Bảng 2.3 Đội ngũ cán bộ giáo viên tham gia công tác đào tao nghề tại

Trung tâm GDNN-GDTX huyện Phú Bình 62 Bảng 2.4 Kết quả dạy nghề của các năm 2015-2019 62 Bảng 2.5 Kết quả dạy nghề gắn với giải quyết việc làm đối với nghề nông

nghiệp, nghề phi nông nghiệp 63 Bảng 2.6 Thực trạng thực hiện việc khảo sát nhu cầu học nghề của lao động

nông thôn người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Phú Bình 67 Bảng 2.7 Đánh giá của CBQL, GV, học viên Trung tâm GDNN-GDTX

về chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số huyện Phú Bình 69 Bảng 2.8 Đánh giá của cán bộ quản lý, giáo viên của trung tâm GDNN-

GDTX về đội ngũ giáo viên tham gia đào tạo nghề cho người lao động nông thôn người dân tộc thiểu số huyện Phú Bình 71 Bảng 2.9 Đánh giá về mức độ đáp ứng yêu cầu của hệ thống cơ sở vật

chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo nghề ở Trung tâm GDTX huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 75 Bảng 2.10 Đánh giá về hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn,

GDNN-người dân tộc thiểu số ở Trung tâm GDNN-GDTX huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 76 Bảng 2.11 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề cho lao động

nông thôn người dân tộc thiểu số ở Trung tâm GDNN-GDTX huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 77 Bảng 3.1 Đánh giá về mức độ cần thiết của của các biện pháp 98 Bảng 3.2 Đánh giá của các chuyên gia, các cán bộ quản lý, giáo viên, các

cán bộ, ban, ngành, đoàn thể huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 100

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn (LĐNT) là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, tăng hiệu quả sử dụng thời gian cho lao động ở nông thôn, thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng hiện đại hóa nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới

Nghề nghiệp là phương tiện đảm bảo chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần của con người Có nghề nghiệp con người mới có cuộc sống ổn định, mới làm cho cuộc sống trở nên có ý nghĩa

Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế tại nhiệm vụ, giải pháp thứ 5 mục III - đã nhấn mạnh: “Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các

cơ sở giáo dục, đào tạo, coi trọng quản lý chất lượng” [6] là một định hướng quan trọng trong công tác đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao Thực hiện tốt vấn

đề này sẽ đóng góp một vai trò quan trọng trong việc phát triển giáo dục nước nhà Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học, đổi mới cơ chế quản

lý giáo dục, đào tạo Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo coi trọng đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành Đẩy mạnh đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước [5] Tại Điều 7, Luật dạy nghề đã nêu “Đầu

tư mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề, nâng cao chất lượng dạy nghề, góp phần

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

đảm bảo cơ cấu nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần phân luồng học sinh tốt nghiệp THCS và THPT, tạo điều kiện phổ cập nghề cho thanh niên và đáp ứng nhu cầu của người lao động” [4]

Phú Bình là huyện có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế, là điểm đến của nhiều nhà đầu tư, doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, vì vậy nhu cầu sử dụng lao động lớn, đặc biệt là lao động có chuyên môn, tay nghề

Trong những năm gần đây kinh tế - xã hội huyện đã phát triển, tốc độ tăng trưởng khá, an ninh quốc phòng được giữ vững, đời sống vật chất và tinh thần nhân dân được nâng lên, giáo dục và y tế được đầu tư theo hướng đạt chuẩn, tỷ

lệ hộ nghèo giảm nhanh bền vững, giải quyết việc làm hằng năm vượt kế hoạch giao Song kết quả đạt được chưa xứng tầm với tiềm năng của huyện

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên song có nguyên nhân là chất lượng nguồn nhân lực trên địa bàn huyện còn hạn chế, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp (năm 2015 tỷ lệ lao động qua đào tạo là 33%), vì vậy trong giai đoạn từ năm

2016 đến năm 2020 cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tỷ lệ lao động qua đào tạo để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội huyện

Xuất phát từ lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài “Quản lý đào tạo nghề cho

lao động nông thôn người dân tộc thiểu số ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp

- Giáo dục thường xuyên huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên” để tiến hành

nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đào tạo nghề cho lao động nông thôn là người dân tộc thiểu số ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, đề xuất các biện pháp quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên của huyện để từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp, nông thôn của các xã thuộc huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên cấp huyện

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Các biện pháp quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

4 Giả thuyết khoa học

Công tác đào tạo nghề cho lao đông nông thôn người dân tộc thiểu số huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã được quan tâm song chưa thực sự đạt hiệu quả nên chất lượng đào tạo nghề chưa cao, chưa đáp ứng được mục tiêu chuyển dịch cơ cấu phát triển kinh tế - xã hội Nếu nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện về thực trạng, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp mang tính khoa học và hợp lý thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Phú Bình, Thái Nguyên

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa cơ sở lí luận về đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên cấp huyện

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

5.3 Đề xuất các biện pháp đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số của trung tâm GDNN-GDTX huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ đánh giá thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số ở trung tâm GDNN-GDTX huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên trong 3 năm trở lại đây

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Khảo sát trên 30 chuyên gia; cán bộ quản lý và giáo viên, 70 học viên người

DTTS học nghề tại trung tâm GDNN-GDTX huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Phương pháp này dùng để thu thập, xử lí các tài liệu có liên quan, trên cơ

sở đó xây dựng cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu Các phương pháp nghiên cứu

lí luận được sử dụng bao gồm: phương pháp tích phân, tổng hợp lí luận, phương pháp giả thuyết, phướng pháp chứng minh

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Xây dựng và sử dụng phiếu chưng cầu ý kiến để thu thập ý kiến của các chuyên gia, cán bộ quản lí, giáo viên và học viên về thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

7.3 Phương pháp xử lý số liệu

Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu thu được từ khảo sát thực trạng đào tạo nghề cho LĐNT người DTTS ở trung tâm GDNN-GDTX huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, lập các bảng và biểu đồ trình bày các

số liệu đó

8 Kết cấu Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn gồm 3 chương:

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 1: Cơ sở lí luận về đào tạo nghề cho lao động nông thôn người

dân tộc thiểu số của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên cấp huyện

Chương 2: Thực trạng quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn người

dân tộc thiểu số ở Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

Chương 3: Biện pháp quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn người

dân tộc thiểu số ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Ở nước ngoài

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về đào tạo nghề, dạy nghề thông qua mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, quản lý giáo dục nghề nghiệp Ở Liên Xô trước đây các tác giả Batusep, Xla Sapôrinxki Y.A và nhiều tác giả khác đã xây dựng những cơ sở lý luận xác đáng trong việc xây dựng nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục nghề nghiệp Ở Đức, các tác giả như D.Marschreider, B.Germer, Heinz Frakiewicz đã đưa ra những cơ sở sư phạm đối với việc tổ chức quản lý hoạt động dạy học nghề nghiệp Các tác giả đã rất quan tâm tới sự phối hợp chặt chẽ giữa dạy lý luận và luyện tập kỹ năng, kỹ thuật trong thực tiễn sản xuất Các hệ thống dạy nghề và nghiên cứu về phát triển nghề nghiệp xuất hiện ở nhiều quốc gia khác như Pháp, Mỹ, Thụy Điển, Phần Lan,… trong đó đều đề cập tới quản lý đối với các thành phần cơ bản tạo nên quá trình đào tạo nghề ở các cơ sở giáo dục (dẫn theo [22])

Trong cuốn Giáo dục kỹ thuật và đào tạo thế kỷ XXI: Các khuyến nghị của

Tổ chức Lao động Quốc tế và tổ chức giáo dục, Khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc, John Daniel và Goran Hultin đã đề cập tới mối quan hệ gắn bó giữa

mục tiêu phát triển đào tạo nghề với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; giữa đào tạo với sự biến động của thị trường lao động; sự cần thiết phải thiết lập một cơ cấu giáo dục mở và linh hoạt Các tác giả đã khẳng định rằng, trong nền kinh tế thị trường, hoạt động quản lý liên quan tới thiết kế chính sách về đào tạo nghề cần lưu ý tới mối quan hệ hợp tác giữa các nước, người sử dụng lao động và nhà sản xuất Nhất là trong bối cảnh hội nhập toàn cầu như hiện nay (dẫn theo [26])

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Quản lý hoạt động đào tạo nghề được nhiều chuyên gia nghiên cứu với nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau HeinzWeihrich và đồng nghiệp đã đưa

ra nhận định của mình trong một báo cáo khoa học “Quản lý đào tạo nghề như một công ty liên doanh cách tiếp cận hợp tác đào tạo của Đức như một mô hình cho Mỹ với các nước khác” Trong báo cáo khoa học này các tác giả đã giới thiệu

các mô hình đào tạo nghề theo phương pháp truyền thống của Đức và mô hình đào tạo nghề cần được bổ sung để hướng tới mức độ cao hơn Đào tạo nghề theo

hệ thống tích hợp giữa lý thuyết và thực hành, tác giả cho rằng đổi mới mô hình đào tạo nghề là rất quan trọng và mô hình mới là mô hình đào tạo liên doanh, đào tạo song hành Học viên có thể tự mình tìm một trang trại hay doanh nghiệp

để làm nơi thực hành kỹ năng cho mình Tác giả Gaskov với tác phẩm “Quản lý đào tạo nghề” đã tìm ra hệ thống khoa học quản lý tổ chức đào tạo nghề trong

các cơ sở đào tạo nghề công lập như quản lý tài chính, xây dựng mục tiêu, cơ cấu

tổ chức, quản lý đào tạo ;đồng thời khuyến khích những người trong tổ chức đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả để tổ chức của mình đạt kết quả cao nhất trong thực hiện các nhiệm vụ (dẫn theo [22])

Các nghiên cứu đều cho thấy cần phải có sự cải tiến liên tục trong công tác quản lý hoạt động đào tạo để đạt hiệu quả cao trong việc đào tạo nghề cho người lao động và đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động hiện nay

1.1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, đào tạo nghề, dạy nghề nói chung và quản lý hoạt động đào tạo nghề, dậy nghề nói riêng là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Trong đó có thể kể đến một số công trình sau:

Một số công trình nghiên cứu về lịch sử dạy nghề như: “100 năm thành lập Trường trung cấp công nghiệp I Hà Nội”, của Đinh Văn Mộng (1986), “80 năm Trường kỹ thuật Cao Thắng” của Phạm Quốc Trường, (1994) “90 năm Trường kỹ thuật thực hành Huế” của Chu Quang Trứ (2000) Nghiên cứu sự phát

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

triển sư phạm kỹ thuật trên thế giới và trong nước để áp dụng trường đại học sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh” của tập thể Nguyễn Thụy Ái, Đỗ Thành Long, Lê Đình Viện (1997) (dẫn theo [22])

Tác giả Phạm Văn Kha trong quấn “Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” [14] đã phân tích mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trong điều kiện Việt Nam hiện nay cả về mặt lý luận và thực tiễn với những giải pháp tăng cường sự phù hợp giữa đào tạo và sử dụng, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố quản lý đào tạo nghề, dạy nghề của cả hệ thống và từng cơ sở

Tác giả Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến (đồng chủ biên) với công trình

“Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn” [4] đã thiết lập

cơ sở lý luận, phân tích thực trạng về phát triển lao động kỹ thuật, đề xuất một

số giải pháp phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam đến năm 2010, trong đó đưa

ra giải pháp nội dung, chương trình và quản lý tổ chức quá trình đào tạo nhằm đạt tới sự phù hợp giữa đào tạo và sử dụng

Luận án Tiến sỹ của Phan Chính Thức với đề tài “Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp CNH-HĐH [26], đã đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận của đào tạo nghề, đề xuất một số giải pháp phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực của xã hội”

Ở viện nghiên cứu khoa học dạy nghề (Tổng cục dạy nghề) có liên quan đến đào tạo nghề đáng lưu ý:

- Dự án nghiên cứu tổng thể UNDP, UNESCO và Bộ giáo dục và Đào tạo VIE/89/002

- Dự án Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề TA 2761-VIE của Bộ giáo dục và Đào tạo, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)

- Tổng kết 10 đổi mới ngành giáo dục chuyên nghiệp giai đoạn 1986-1995 của viện nghiên cứu giáo dục

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- “Vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại các loại hình lao động nghề nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu của sự phát triển kinh tế trong điều kiện kinh tế mới” (Đề tài khoa học cấp nhà nước KX07-14) [28]

Hệ thống giáo dục nghề của Việt Nam đã được hình thành nhiều năm, được thể chế hóa vào luật Điều 32 Luật giáo dục 2005 quy định giáo dục nghề nghiệp boa gồm: Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ 3 đến 4 năm đối với người tốt nghiệp trung học cơ sở, từ 1 đến 2 năm đối với người tốt nghiệp trung học phổ thông và dậy nghề dưới 1 năm đối với sơ cấp, từ 1 đến 3 năm đối với trung cấp và cao đẳng nghề

Vấn đề đào tạo nghề, quản lý quá trình ĐTN cũng được quan tâm ngay từ những năm 1970 khi đó còn Tổng cục dạy nghề, một số nhà nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, tâm lý học lao động như: Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Ngọc Đường, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Bá Dương, đã chủ động nghiên cứu những khía cạnh khác nhau về sự hình thành nghề và công tác dạy nghề Đặc biệt, một số nhà nghiên cứu như Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Trần Kiểm đã đi sâu nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường Những nghiên cứu này đã đóng góp nhiều vấn đề quan trọng, đã khái quát hóa

và làm rõ được những vấn đề lý luận, đề xuất những biện pháp quản lý góp phần nâng cao hiệu quả quản lý quá trình đào tạo nghề nói chung và hoạt động dạy nghề nói riêng [28]

Qua phân tích một số đặc trưng của một số nước về hệ thống giáo dục nghề nghiệp, hệ thống giáo dục được hình thành do yêu cầu của thị trường lao động

do nhu cầu hoạt động nghề nghiệp, nhu cầu việc làm của người lao động trong xã hội Hệ thống giáo dục nghề nghiệp là cung cấp cho xã hội, cho thị trường lao động những kỹ thuật viên, trung cấp, công nhân kỹ thuật, người lao động có trình độ, có tay nghề, có năng lực ở mọi phương diện kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệp làm việc được đào tạo trong các cơ sở giáo dục Hình thức đào tạo rất phong phú,

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

đa dạng, đào tạo dài hạn, ngắn hạn, đào tạo chính quy và không chính quy, đào tạo tại các trường, hay các trung tâm dạy nghề (dẫn theo [26])

Đặc trưng nổi bật của hệ thống nghề nghiệp là lao động có kỹ năng, kỹ sảo hành nghề trên cơ sở nắm vững lý thuyết do đó vấn đề dạy thực hành, luyện tập

kỹ năng là những hoạt động cốt lõi trong quá trình đào tạo nghề, dạy nghề, sức mạnh của hệ thống giáo dục nghề nghiệp và chất lượng đào tạo cao là sự đảm bảo hoạt động có hiệu quả của thị trường lao động cũng là cơ sở để thị trường lao động có thể thực hiện được các quy luật cung cầu, quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh

1.2 Nghề và đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số

Theo giáo trình Kinh tế Lao động của trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân

thì: "Khái niệm nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định" (dẫn theo [12])

Theo tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): Nghề là một hình thức phân công lao động, đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

thành những công việc nhất định Nghề được hình thành trên cơ sở phân công

lao động xã hội, mỗi nghề có những yêu cầu về kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực hành tương ứng, như vậy cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế -

xã hội, sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc thì đồng thời cũng xuất hiện những nghề mới và yêu cầu về kiến thức lý thuyết cũng như kỹ năng thực hành cũng có sự thay đổi và phát triển nghĩa Mỗi nghề khác nhau thì có một mục tiêu đào tạo khác nhau, căn cứ mục tiêu đào tạo, Nhà Nước ban hành bản danh mục nghề đào tạo Nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặt với sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật, và văn minh nhân loại (dẫn theo [14])

Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội Nghề bao gồm nhiều chuyên môn, chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà

ở đó con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần, với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển xã hội

Mặc dù khái niệm “nghề” được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song khái niệm nghề mang một số nét đặc trưng nhất định sau:

- Là hoạt động, là công việc của con người được lặp đi lặp lại

- Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội

- Là phương tiện để sinh sống

- Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định

Việc phân loại nghề có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tổ chức đào tạo Tuy nhiên do xuất phát từ yêu cầu, mục đích sử dụng và các tiêu chí khác nhau nên phân loại nghề có nhiều loại: Nghề dạy học, nghề thủ công mỹ nghệ, nghề điện, nghề nông,…

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Như vậy có thể hiểu: Nghề là hoạt động của con người trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là những kiến thức, kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện một công việc nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định

1.2.2 Đào tạo và đào tạo nghề

Theo Đào Quang Ngoạn: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có

tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo

và thái độ, nhân cách trong lí thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực cho mỗi cá nhân để thực hiện thành công một hoạt động chuyên môn nhất định” (dẫn theo

[12]) Quá trình này được thực hiện chủ yếu trong hệ thống các nhà trường chuyên nghiệp (TCCN, Dạy nghề) và hệ thống các trường Đại học, Cao đẳng với những chương trình, mục tiêu, nội dung, phương pháp, qui trình đào tạo cụ thể nhằm giúp người học đạt được trình độ đào tạo nhất định về một lĩnh vực chuyên môn để có thể lập nghiệp Khi nói đến đào tạo là nói đến lĩnh vực cung ứng nguồn nhân lực cho các hoạt động kinh tế - xã hội (dẫn theo [7])

Theo Nguyễn Minh Đường, đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích,

có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mọi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả (dẫn theo [11])

Từ những quan niệm khác nhau nêu trên chúng ta có thể hiểu: đào tạo

là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển một cách

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

có hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp và thái độ của người lao động nhằm xây dựng nhân cách cơ bản cho mỗi cá nhân, tạo điều kiện cho

họ có thể tham gia lao động trong cuộc sống xã hội với năng xuất, chất lượng

hiệu quả

1.2.2.2 Đào tạo nghề

Tại Điều 3 trong Luật giáo dục giáo dục nghề năm 2014 “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo được việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp” (dẫn theo [4]) hay nói theo cách khác, đào tạo nghề là quá trình tác động có mục đích,

có tổ chức đến người học nghề để hình thành và phát triển một cách có hệ thống những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, trong đó có nhu cầu quốc gia, nhu cầu doanh nghiệp và nhu cầu bản thân người học nghề

Theo luật dạy nghề (dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi học hoàn thành khóa học (dẫn theo [16])

- William Mc.Gehee (1979) đào tạo nghề là những quy trình mà những công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập sao cho hiệu quả hành vi đóng góp vào mục đích và các mục tiêu của công ty

- Max forter (1979) cũng đưa ra khái niệm về đào tạo nghề phải đáp ứng hoàn thành 4 điều kiện gợi ra những giải pháp ở người học, phát triển trí thức,

kỹ năng và thái độ, tạo ra sự thay đổi trong hành vi, đạt được những mục tiêu chuyển biến

- Tack Soo Chung (1982) đào tạo nghề là hoạt động đào tạo phát triển năng lực lao động (tri thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp) cần thiết để đảm nhận công việc được áp dụng đối với những người lao động và những đối tượng sắp

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

trở thành người lao động Đào tạo nghề được thực hiện tại nơi lao động, trung tâm đào tạo, các trường dạy nghề, các lớp học không chính quy nhằm nâng cao năng xuất lao động của các doanh nghiệp góp phần phát triển kinh tế xã hội

- Leconnard Nadler (1984); Đào tạo nghề là để học được những điều nhằm cải thiện việc thực hiện những công việc hiện tại

- Roger James (1995); đào tạo nghề là cách thức giúp người ta làm những điều mà họ không thể làm được trước khi họ được học (dẫn theo [12])

ILO định nghĩa: Đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan đến công việc nghề nghiệp được giao

- Theo giáo trình kinh tế lao động của trường đại học Kinh tế Quốc dân thì

“đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuẩn chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhận được một số công việc nhất định”, (dẫn theo [22])

- Theo tài liệu của Bộ Lao động Thương binh xã hội (2006) “đào tao nghề

là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và thái

độ lao động cần thiết để cho người lao động sau khi hoàn thành khóa học hành được một nghề trong xã hội” (dẫn theo [12])

Như vậy, đào tạo nghề “là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng, kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công việc hiện tại và trong tương lai”

Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau đó là: Dạy nghề và học nghề

- Dạy nghề: Là quá trình giáo viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết

và thực hành đến các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo thành thục nhất định về nghề nghiệp

- Học nghề: Là quá trình tiếp thu kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Như vậy dạy nghề là một quá trình tác động có chủ đích của người học nhằm phát triển tay nghề và đạo đức, văn hóa nghề nghiệp (nhân cách) của họ trên ba mặt, kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động và phát triển nguồn nhân lực quốc gia

Đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động gồm đào tạo nghề mới, đào tạo nghề bổ sung, đào tạo lại nghề

+ Đào tạo nghề (dạy nghề) mới: Là đào tạo (dạy) những người chưa có nghề, những người đến tuổi lao động hoặc trong độ tuổi lao động chưa được học nghề

+ Đào tạo lại nghề (dạy lại): Là đào tạo (dạy) đối với những người đã có nghề, có chuyên môn nhưng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đến việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn

+ Bồi dưỡng nâng cao tay nghề: Là quá trình cập nhật hóa kiến thức còn thiếu, đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo từng chuyên môn và được xác nhận bằng một chứng chỉ hay nâng lên một bậc cao hơn (dẫn theo [14])

1.2.3 Đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động hoạt động trong hệ thống kinh tế ở khu vực nông thôn Lao động nông thôn là những người dân không phân biệt giới tính, tổ chức, cá nhân sinh sống ở vùng nông thôn có

độ tuổi (nữ từ 15-55 tuổi, nam có độ tuổi từ 15- 60 tuổi) hoạt động sản xuất ở vùng nông thôn Trong đó bao gồm những người đủ các yếu tố về thể chất, tâm sinh lý trong độ tuổi lao động theo quy định của luật lao động và tham gia sản xuất trong thời gian nhất định họ hoàn thành công việc với kết quả đạt được một cách tốt nhất

Ngày 27 tháng 11 năm 2009 Thủ Tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 1596/QĐ-TTg phê duyệt Đề án 1596 về đào tạo nghề cho lao động nông

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

thôn đến năm 2020, mục tiêu đến năm 2020 sẽ dạy nghề cho 17 triệu lao động nông thôn Giai đoạn 2016-2020 đào tạo cho 6 triệu lao động (bồi dưỡng kiến thức cho 500.000 cán bộ công chức xã) Đào tạo nghề, dạy nghề cho lao động nông thôn là việc làm thiết thực nhằm đạt mục tiêu của Đảng và Nhà nước là phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam sẽ trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, trong đó trước hết phải thực hiện được CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, huy động tối đa lực lượng lao động của xã hội để phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương góp phần vào phát triển chung của đất nước Phát triển lực lượng thông qua đào tạo sẽ phát huy được năng lực, sở trường của từng người lao động, bên cạnh đó đào tạo nghề cho lao động nông thôn sẽ khai thác tốt hơn các nguồn lực, đó là khai thác các nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học công nghệ, nhờ vậy mà hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng cao, kinh tế nông thôn ngày càng phát triển và hoạt động có hiệu quả hơn

Hiện nay khoảng 40% hộ nghèo của cả nước sinh sống ở khu vực nông thôn vì vậy đào tạo nghề cho lao động nông thôn quyết định sự thành công của chương trình xóa đói, giảm nghèo góp phần thực hiện thành công chương trình xây dựng nông thôn mới, nông thôn kiểu mẫu Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đáp ứng được những đòi hỏi về kỹ năng, công nghệ về quản lý trong thời đại bước sang nền kinh tế tri thức, đáp ứng được nhu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và góp phần quan trọng vào quá trình tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân

Như vậy mục đích dạy nghề cho người lao động nông thôn tại các cơ sở dạy nghề là làm cho người lao động nông thôn có được một nghề, một công việc ổn định, vừa là hoạt động khai thác được tối đa lực lượng lao động của xã hội, khai

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

thác được hiệu quả các nguồn lực về vốn, về tài nguyên thiên nhiên, vừa làm cho kinh tế của từng gia đình ngày càng ổn định, kinh tế địa phương ngày càng phát triển, góp phần vào sự phát triển chung của cả nước (dẫn theo [14])

1.2.4 Đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số

1.2.4.1 Khái niệm

Người dân tộc thiểu số ở Việt Nam là công dân Việt Nam có tộc người chiếm tỷ lệ ít trong tổng dân số và được chính phủ quy định là dân tộc thiểu số (hiện nay Việt Nam có 54 dân tộc thì có 52 dân tộc thiểu số trừ người Việt (Kinh)

và người Hoa Người dân tộc thiểu số có tập quán định cư chủ yếu ở những vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Đây là những địa phương, những vùng còn rất khó khăn về cơ sở hạ tầng giao thông, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội chậm và lạc hậu so với vùng đồng bằng, khu vực đô thị

Lao động dân tộc thiểu số là người dân tộc thiểu số trong độ tuổi lao động theo quy định của Luật lao động (nữ 15 tuổi đến 55 tuổi, nam từ 15 tuổi đến 60 tuổi), sinh sống chủ yếu ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Vì vậy đào tạo nghề cho lao động nông thôn là người DTTS phải là những nghề không quá phức tạp, phù hợp với trình độ nhận thức, đáp ứng được nhu cầu phát triển KT-XH của địa phương nơi họ cư trú như: Kỹ thuật trồng trọt, kỹ thuật chăn nuôi, sửa chữa máy móc nông cụ phục vụ cho sản xuất, Dạy nghề cho lao động nông thôn là người DTTS là hoạt động khó khăn hơn, phức tạp hơn, đối với lao động người đa số, bởi vì họ là đối tượng có trình độ văn hóa, trình độ nhận thức hạn chế hơn người đa số, ít tiếp cận với tác phong công nghiệp và tiến

bộ khoa học kỹ thuật, tập quán lạc hậu, khó khăn trong việc tiếp cận, tiếp thu với những kiến thức mới Vì thế khi tổ chức dạy nghề cho người DTTS cần phải cụ thể, chi tiết hơn, có chính sách ưu đãi và đầu tư nhiều thời gian hơn

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Như vậy có thể hiểu: “Đào tạo nghề cho lao động DTTS là hoạt động dạy

và học nghề cho đối tượng là người dân tộc thiểu số nhằm trang bị cho họ những kiến thức kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết để họ có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học”

1.2.4.2 Mục tiêu

Đáp ứng yêu cầu cạnh tranh trên thị trường lao động trong bối cảnh mở cửa hội nhập: việc mở rộng ĐTN cho LĐNT người DTTS là hết sức cần thiết; song phải tìm ra được những giải pháp hiệu quả để vừa mở rộng về quy mô, vừa nâng cao ĐTN cho LĐNT nhằm giúp cho LĐNT qua ĐTN đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng LĐ; tự tin cạnh tranh trên TTLĐ trong và ngoài nước để tìm kiếm cơ hội việc làm, tăng thu nhập khi đất nước mở cửa hội nhập

Đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực phục vụ chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội: với những chủ trương, chính sách cho ĐTN lao động DTTS; việc nâng cao chất lượng ĐTN cho LĐNT sẽ rất có ý nghĩa khi giúp tạo ra một lực lượng lao động DTTS qua đào tạo chất lượng, có khả năng đáp ứng tốt các yêu cầu về nguồn nhân lực phục vụ quá trình triển khai các mục tiêu đã đề ra trong phát triển kinh tế - xã hội

Tăng khả năng ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp: ĐTN cho LĐNT phải song hành với việc không ngừng nâng cao chất lượng ĐTN để LĐNT qua ĐTN có thể làm chủ được công nghệ, mạnh dạn áp dụng khoa học vào trong quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả trong SXKD nông nghiệp

Đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu LĐ khu vực nông thôn: cần phải nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu LĐ khu vực nông thôn thông qua việc phát triển thêm các hình thức sản xuất phi nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất công nghiệp tại khu vực nông thôn để thu hút LĐ dôi dư, nâng cao thu nhập cho cư dân nông

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

thôn Mở rộng quy mô ĐTN cho LĐNT gắn với việc không ngừng nâng cao CLĐTN trở thành một nhu cầu cấp thiết; bởi sẽ giúp LĐNT thích ứng được với những lĩnh vực LĐ sản xuất họ mới tiếp cận

Tăng cường sự ổn định chính trị, an ninh, quốc phòng và góp phần phát triển giáo - đào tạo, nâng cao dân trí: CLĐTN cho LĐNT tốt sẽ giúp cho LĐNT có đủ năng lực để hành nghề, cải thiện thu nhập; bên cạnh đó, LĐNT qua ĐTN cũng được nâng cao hiểu biết, có nhận thức đầy đủ trách nhiệm với bản thân và xã hội… từ đó tạo ra sự ổn định về mặt chính trị, an ninh, quốc phòng cho đất nước

Chương trình được thiết kế trên cơ sở tiếp cận các quan điểm mới, hiện đại về phát triển chương trình đào tạo Nội dung chương trình được cập nhật với

hệ thống tri thức mới, hiện đại của khoa học-công nghệ và thực tiễn đời sống văn hóa-xã hội, lao động nghề nghiệp

Chương trình là một nhân tố quan trọng, góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo, và chất lượng, hiệu quả của khóa đào tạo, đáp ứng được nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quá trình phát triển kinh tế- xã hội địa bàn

Chương trình có khả năng thực hiện trong các điều kiện và môi trường

thực tế của Trung tâm GDNN-GDTX huyện

1.2.4.3 Phương pháp

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Đào tạo nghề mới: Là đào tạo những người chưa có nghề Đào tạo mới nhằm tăng thêm lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cho xã hội Đào tạo mới có thể thực hiện ở các cơ sở dạy nghề chuyên hoặc trong từng cơ sơ sản xuất kinh doanh

Đào tạo lại: Là đào tạo với những người có nghề nhưng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đến việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình

độ chuyên môn, nên cần đào tạo lại cho phù hợp với cơ cấu ngành nghề và trình

dộ mới, đáp ứng yêu cầu công việc Đào tạo lại giúp người lao động có cơ hội học tập một lĩnh vực chuyên môn mới để thay đổi nghề, nên thường được thực hiện ở cơ sở đào tạo chuyên

Bồi dưỡng nâng cao tay nghề: Là quá trình cập nhật kiến thức còn thiếu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo từng chuyên môn Hình thức này cũng thường được thực hiện ở cơ sở đào tạo chuyên

Đào tạo dài hạn: là đào tạo một cách bài bản, theo chương tình chuẩn Thời gian đào tạo từ 1 đến 4 năm tùy theo loại nghề, mức độ phức tạp của nghề Đào tạo dài hạn chủ yếu được thực hiên ở các trường dạy nghề, các trường trung cấp

kỹ thuật và các trường cao đẳng có đào tạo nghề Đây là những cơ sở đào tạo nghề có đủ điều kiện để tổ chức dạy nghề dài hạn

Đào tạo ngắn hạn: là đào tạo nghề theo chương trình với thời gian từ một vài tháng đến dưới 1 năm Dạy nghề ngắn hạn thường tập trung ở các trung tâm dạy nghề, lớp dạy nghề độc lập hoặc gắn với doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo khác có đăng ký dạy nghề ngắn hạn theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

1.2.4.4 Hình thức

a Đào tạo nghề tại các trường dạy nghề

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Dạy nghề: là truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để người học có trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH Dạy nghề là phương thức đào tạo quy

mô lớn những công nhân kỹ thuật có trình độ cao, thời gian đào tạo tập trung từ hai đến bốn năm Được tổ chức tại các tổ chức chuyên nghiệp có:

- Hệ thống cơ sở vật chất, máy móc thiết bị phục vụ cho việc dạy nghề

- Đội ngũ giáo viên đủ khả năng chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy

- Chương trình dạy được biên soạn thống nhất - Phương thức này có ưu điểm: Chương trình học được xây dựng một cách có hệ thống từ đơn giản đến phức tạp, từ lý thuyết đến thực hành, do đó học viên nắm được kiến thức cơ bản

và kỹ năng nghiệp vụ một cách nhanh chóng và dễ dàng Khi ra trường, học viên

có thể chủ động giải quyết công việc, có khả năng đảm nhận công việc tương đối phức tạp, có trình độ lành nghề cao

Tuy nhiên do yêu cầu về cơ sở vật chất và giáo viên giảng dạy nên chi phí đào tạo khá lớn, mặt khác thời gian đào tạo dài, gây khó khăn trong việc thu hút người lao động nông thôn tham gia học nghề

b Đào tạo nghề gắn với doanh nghiệp

Các lớp dào ạo nghề cạnh doanh nghiệp thường do các doanh nghiệp tự tổ chức và thực hiện Mở các lớp đào tạo nghề cạnh doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu công nhân kỹ thuật đang thiếu hụt và nhu cầu công nhân kỹ thuật lâu dài của doanh nghiệp Hình thức này không đòi hỏi phải có đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật riêng, không cần bộ máy chuyên trách mà dựa vào điều kiện sẵn có của doanh nghiệp Phần lý thuyết do các các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật thực hiện Phần thực hành được tiến hành tại doanh nghiệp do các kỹ sư và công nhân lành nghề hướng dẫn Hình thức này có ưu điểm là: Học viên học lý thuyết tương đối có hệ thống và được trực tiếp tham gia lao động sản xuất tại doanh nghiệp (gắn ngay

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

học với hành); Bộ máy quản lý gọn, chi phí đào tạo không cao Tuy nhiên, hình thức đào tạo này chỉ có thể thực hiện được ở những doanh nghiệp tương đối lớn

c.Đào tạo nghề tại các Trung tâm đào tạo

Là lọai hình đào tạo nghề ngắn hạn, phần lớn dưới 1 năm Đối tượng chủ yếu là đào tạo phổ cập nghề cho thanh niên và người lao động Ưu điểm của hình thức này là: Thu hút đông đảo người học vì các thủ tục học thường dễ dàng, thời gian hợp lý Nghề đào tạo đa dạng và các ttrung tâm dạy nghề gắn với giới thiệu việc làm nên hỗ trợ được người lao động trong khi tìm việc Chi phí đào tạo không lớn Tuy nhiên hạn chế của hình thức này là quy mô nhỏ, kiến thức lý thuyết ở mức thấp, thiếu đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp, thiếu máy móc, thiết

bị, phương tiện hiện đại cho thực hành nghề

d Truyền nghề

Là truyền bá kỹ năng thực hành để người lao động nông thôn có được trình

độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp Đây là phương thức đào tạo được áp dụng trong từng cơ sở sản xuất kinh doanh, đặc biệt trong các gia đình làm nghề thủ công truyền thống Vì được đào tạo các nghề chuyên sâu tại nơi người học sẽ làm việc, nên nội dung đào tạo của truyền nghề rất sát với môi trường và tính chất nghề mà người lao động hoạt động Tuy nhiên phương thức này diễn ra với quy mô nhỏ, người dạy nghề không chuyên nên thiếu kinh nghiệm Đôi khi người học còn bắt chước cả những kỹ năng không hợp lý của người hướng dẫn Hình thức này chỉ thích hợp với những công việc không đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao

1.3 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là phát triển nông thôn

1.3.1 Khái quát về Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp -Giáo dục thường xuyên cấp huyện

1.3.1.1 Vị trí

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Theo Thông tư số 39/2015/TTLT-BLĐTBXH-BGDĐT-BNV, ngày 19/10/2015, thông tư liên tịch của Bộ Lao động Thương binh - Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ hướng dẫn sáp nhập Trung tâm dậy nghề, Trung tâm giáo dục thường xuyên, Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp công lập cấp huyện thành Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên

Trung tâm GDNN-GDTX là đơn vị sự nghiệp công lập có thu, tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước

Trung tâm chịu sự chỉ đạo trực tiếp của UBND huyện về tổ chức, bộ máy biên chế và công tác, đồng thời chịu sự quản lý về chuyên môn của Sở Lao động

- Thương binh và xã hội, Sở Giáo dục và Đào tạo

1.3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ

- Chức năng: Trung tâm GDNN-GDTX là tổ chức dạy nghề và bồi dưỡng nghề cho người lao động ở mọi lứa tuổi và mọi trình độ văn hóa nhằm khai thác tiềm năng lao động, điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên của huyện để góp phần phát triển kinh tế xã hội của huyện và nâng cao dân trí

- Nhiệm vụ: Tổ chức đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất kinh doanh

và dịch vụ ở trình độ sơ cấp, đào tạo nghề dưới 03 tháng, đào tạo nghề theo hình thức kèm cặp nghề, truyền nghề, tập nghề, đào tạo bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động, đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số và thực hiện các chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 03 tháng Nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề, có đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe, tạo điều kiện cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số có khả năng tìm được việc

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động

+ Tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục thường xuyên bao gồm: Chương trình xóa mù chữ và tiếp tục sau khi biết chữ, chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu người học, cập nhật kiến thức kỹ năng, chuyển giao công nghệ, chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ, chương trình giáo dục để lấy bằng của hệ thống giáo dục quốc dân

+ Tổ chức xây dựng và thực hiện các chương trình, giáo trình, học liệu trình độ sơ cấp, dưới 03 tháng đối với những nghề được phép đào tạo; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ Đổi mới nội dung giảng dạy về ngôn ngữ, tập quán, pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc và pháp luật có liên quan của Việt Nam vào chương trình dạy nghề khi tổ chức dạy nghề cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài

+ Xây dựng kế hoạch tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh

+ Quản lý đội ngũ viên chức, giáo viên và nhân viên của trung tâm theo quy định của pháp luật

+ Tổ chức lao động sản xuất và dịch vụ kỹ thuật phục vụ đào tạo

+ Nghiên cứu ứng dụng các đề tài khoa học về giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp, thử nghiệm, ứng dụng và chuyển giao công nghệ mới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

+ Tổ chức các hoạt động dạy và học; kiểm tra và cấp chứng chỉ theo quy định + Tư vấn nghề nghiệp, tư vấn việc làm cho người học; phối hợp với các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông tuyên truyền, hướng nghiệp, phân luồng học sinh

+ Phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, gia đình người học trong hoạt động đào tạo nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp; tổ chức cho người học tham quan, thực hành, thực tập tại doanh nghiệp

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

+ Thực hiện dân chủ, công khai trong việc thực hiện các nhiệm vụ đào tạo nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp

+ Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật

+ Tạo điều kiện hoặc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho viên chức, giáo viên

và nhân viên của trung tâm được học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp

vụ

+ Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất theo quy định

+ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật

1.3.2 Đặc trưng đào tạo nghề ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên cấp huyện

Trung tâm GDNN-GDTX cấp huyện là đơn vị được thành lập trên cơ sở sáp nhập 03 đơn vị Trung tâm KTTH, Trung tâm dạy nghề, Trung tâm GDTX Đối tượng học nghề tại trung tâm là lao động nông thôn trong độ tuổi lao động từ 15-55 tuổi đối với nữ, từ 15-60 tuổi đối với nam, có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với nghề cần học (kể cả những người không biết đọc, không biết viết có thể tham gia học những nghề phù hợp thông qua hình thức kèm cặp, truyền nghề), trong đó ưu tiên dạy nghề cho các đối tượng là người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người thuộc hộ gia đình bị thu hồi đất nông thôn

- Cán bộ chuyên trách Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị xã hội, công chức chuyên môn cấp xã, cán bộ nguồn bổ sung thay thế cho cán bộ, công chức

xã đến tuổi nghỉ hưu hoặc thiếu hụt… có độ tuổi phù hợp với quy hoạch cán bộ đến năm 2020

- Mục tiêu: Mở rộng và nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện đào tạo theo nhu cầu học nghề của lao động nông thôn, nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp và

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

yêu cầu của thị trường lao động, gắn đào tạo nghề với kế hoạch phát triển kinh tế

xã hội, quy hoạch xây dựng nông thôn mới đáp ứng nhiệm vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp và giảm nghèo bền vững

Tham gia sản xuất trong các ngành nông lâm ngư nghiệp và tiểu thủ công tính chất nhỏ lẻ của ngành nông nghiệp nên người lao động nông nghiệp, người lao động dân tộc thiểu số ở nông thôn có những đặc điểm như sau:

Một là: Lao động nông thôn có tính thời vụ, có thời kỳ căng thẳng, có thời

kỳ nhàn rỗi

Hai là: Do tính chất công việc trong sản xuất nông nghiệp mà hình thành nên tâm lý hay thói quen làm việc một cách không liên tục, thiếu sáng tạo của lao động nông thôn

Ba là: Lao động nông thôn còn mang nặng tư tưởng tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ thiếu năng động

Bốn là: Lao động nông thôn có kết cấu phức tạp không đồng nhất và có trình độ rất khác nhau: Hoạt động nông nghiệp được tham gia bởi nhiều người ở nhiều độ tuổi khác nhau trong đó cả những người ở ngoài độ tuổi lao động

Năm là: Thu nhập của lao động nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao đặc biệt vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số

Sáu là: Trình độ của lao động nông thôn thấp, khả năng tổ chức sản xuất kém, ngay cả những người trong độ tuổi lao động thì trình độ vẫn thấp hơn so với lao động trong các ngành kinh tế khác

- Việc phân cấp thực hiện nhiệm vụ đào tạo nghề hiện tại chưa có sự thống nhất, còn nhiều đầu mối nên trong chỉ đạo, hướng dẫn còn chồng chéo, hiệu quả chưa cao Các quy trình thủ tục từ khâu lập kế hoạch, xây dựng hồ sơ, hợp đồng, các thủ tục thanh quyết toán của công tác đào tạo nghề còn phức tạp, nặng nề về thủ tục hành chính Năng lực thực hiện của các cơ sở GDNN-GDTX không đồng đều, thiếu hoặc không có giáo viên cơ hữu, giáo viên thỉnh giảng hoặc giáo viên hợp đồng không có chứng chỉ dạy nghề

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Nhu cầu học nghề của lao động nông thôn lớn và đa dạng cả về nghề, cũng như hình thức dạy nghề gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội để đáp ứng nhu cầu thực hiện xây dựng nông thôn mới của địa phương và nhu cầu của thị trường lao động, nhưng kinh phí phân bổ cho chương trình và nguồn lực của huyện còn hạn chế

Việc tuyển sinh học viên học các nghề phi nông nghiệp trình độ sơ cấp gặp nhiều khó khăn, do nhiều doanh nghiệp tuyển dụng số lượng lớn lao động phổ thông trẻ tuổi không qua đào tạo, chính sách thu hút lao động vào học nghề và làm việc tại doanh nghiệp hấp dẫn hơn chính sách đào tạo nghề hiện nay của nhà nước

Cơ sở vật chất lạc hậu và thiếu

Tất cả những đặc trưng trên của trung tâm GDNN-GDTX cấp huyện là những đặc điểm cần quan tâm trong quá trình quả lý đào tạo nghề tại huyện

1.4 Nội dung quản lý đào tạo cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Phú Bình

1.4.1 Quản lý

Quản lý là một thuộc tính của sự phát triển xã hội, là một yếu tố quan trọng gắn chặt vào sự vận động và phát triển của xã hội loài người Sự phát triển của xã hội loài người dựa vào ba yếu tố cơ bản là: Tri thức, sức lao động và trình độ quản

lý Tri thức là sự hiểu biết của con người về thế giới khách quan, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, lao động là sự vận dụng tri thức tác động vào thế giới làm gia của cải vật chất, còn quản lý: Trong giáo trình quản lý hành chính nhà nước của học viện hành chính quốc gia nghi rõ: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều hành các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật khách quan” [24] Theo tác giả Nguyễn Bá Dương “hoạt động quản lý là sự qua lại một cách tích cực giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý qua con đường tổ chức, là sự tác động điều khiển, điều chỉnh tâm lý và hành động

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

của các đối tượng quản lý, lãnh đạo cùng hướng vào hoàn thành những mục tiêu nhất định của tập thể và xã hội” [7,tr30]

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý song các định nghĩa về quản

lý đều hướng tới hiệu quả công tác quản lý đều phụ thuộc vào các yếu tố Chủ thể quản lý, khách thể quản lý, mục đích hướng đến của công tác quản lý bằng tác động từ chủ thể đến khách thể quản lý nhờ công cụ và phương pháp quản lý

Như vậy: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản

lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường

1.4.2 Nội dung quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số

Quản lý đào tạo nghề là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng trong, ngoài cơ sở đào tạo nghề một cách có mục đích, có kế hoạch nhằm tổ chức và phối hợp các hoạt động nhằm sử dụng một cách đúng đắn các nguồn lực và phương tiện thực hiện có hiệu quả những mục tiêu về số lượng mà cơ sở đào tạo nghề đã đặt ra Quản lý đào tạo nghề bao gồm các nội dung:

+ Quản lý các lực lượng bên trong cơ sở đào tạo nghề như: Quản lý mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo nghề, đội ngũ cán bộ, giáo viên và tập thể học sinh, quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, quản lý mối quan

hệ giữa các bộ phận trong tổ chức cơ sở đào tạo nghề, quản lý công tác kiểm tra giám sát hoạt động của các bộ phận

+ Quản lý các mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo nghề với môi trường xã hội (các cơ quan, ban ngành đoàn thể của địa phương, các doanh nghiệp sản xuất, dịch

vụ có liên quan đến quá trình đào tạo) Việc phát huy sức mạnh của các yếu tố hợp thành quá trình đào tạo nghề phụ thuộc vào cơ chế quản lý, từ khâu đề ra kế hoạch đến tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện chất lượng của quản

lý hoạt động đào tạo nghề phụ thuộc vào các chính sách, cơ chế quản lý, các quy trình quản lý, con người tham gia quản lý với những năng lực và phẩm chất của

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

họ Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy quản lý là yếu tố sinh ra chất lượng của các yếu tố cấu thành quá trình đào tạo nghề, tạo ra sự gắn kết các yếu tố đó lại với nhau hướng vào mục tiêu chung thúc đẩy quá trình hoạt động của cơ sở đào tạo nghề

- Quản lý hoạt động đào tạo nghề của một trung tâm lấy trọng tâm là quả lý quá trình đào tạo đó là việc xác định mục tiêu đào tạo, lập kế hoạch đào tạo, tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả đào tạo, quản lý đào tạo nghề không đơn thuần chỉ trong quản lý hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học viên đó còn là quá trình tác động của các thành tố cấu thành hoạt động sư phạm (quản lý việc triển khái kế hoạch, tiến độ, nội dung, chương trình đào tạo, xây dựng nề nếp

kỷ cương, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý tăng cường hoạt động rèn luyện kỹ năng nghề, quản lý công tác tuyển sinh, cấp phát văn bằng chứng chỉ, quản lý việc huy động các nguồn lực xã hội phục vụ cho hoạt động đào tạo nghề)

- Quá trình đào tạo nghề trong giáo dục và đào tạo nói chung và trong đào tạo nghề nói riêng thường được phân một cách tương đối thành hai quá trình bộ phận là dạy lý thuyết và dạy thực hành Đào tạo nghề: dấu hiệu quan trọng là đào tạo nghề không phải chủ yếu là truyền đạt, cung cấp thông tin mà là thực hành kỹ năng, rèn luyện kỹ xảo, phát triển khả năng tìm tòi, phát hiện, quản lý và sử lý thông tin thành sản phẩm có ý nghĩa đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp Đào tạo lý thuyết nghề là truyền đạt và lĩnh hội hệ thống tri thức lý thuyết nghề nghiệp, trên

cơ sở đó phát triển năng lực trí tuệ cũng như giáo dục cơ sở thế giới quan khoa học, hình thành những phẩm chất đạo đức cho người học; dạng thực hành nghề là truyền đạt và truyền thụ kỹ năng và kỹ xảo hình thành ý thức thái độ nghề nghiệp

và những kinh nghiệm thực tiễn xã hội Dạng thực hành là một quá trình giáo dục

và giáo dưỡng được tổ chức có kế hoạch, là một quá trình đào tạo học tập và lao động Quá trình ấy cùng với quá trình giảng lý thuyết tạo lên một thể thống nhất trong đào tạo nghề

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Nhiệm vụ của quản lý đào tạo nghề chính là ổn định, duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế trong từng giai đoạn phát triển của đất nước

và đổi mới, phát triển quá trình đào tạo đón đầu những tiến bộ khoa học kỹ thuật đem lại hiệu quả kinh tế chính trị xã hội

Quản lý hoạt động đào tạo nghề cho người lao động dân tộc thiểu số là quản

lý hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người lao động dân tộc thiểu

số cùng với các điều kiện khác bổ trợ cho hoạt động đào tạo nghề nhằm giúp cho người lao đông dân tộc thiểu số nắm vững kiến thức, kỹ năng về một nghề hay những lĩnh vực nghề nhất định góp phần đảm bảo việc làm và ổn định cuộc sống cho người DTTS, nâng cao chất lượng cuộc sống

Từ các nội dung của hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số ở trung tâm GDNN-GDTX cấp huyện như vậy, có thể xác định

các nội dung cụ thể mà giám đốc trung tâm phải làm như sau:

1.4.2.1 Quản lý công tác tuyển sinh

- Mục tiêu quản lý tuyển sinh là làm sao đào tạo nghề đủ về số lượng theo chỉ tiêu kế hoạch được giao, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và người lao động học nghề

Để quản lý tốt công tác tuyển sinh trước tiên trung tâm phải lập được kế hoạch tổ chức đào tạo nghề Trên cơ sở: số liệu điều tra thống kê nhu cầu học của các loại nghề trên địa bàn, khảo sát nhu cầu lao động của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nhiệm vụ được giao hằng năm của cơ quan Trình các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt

Trung tâm phải làm tốt công tác tuyên truyền và tư vấn học nghề cho tất cả các đối tượng về chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề từ Trung ương đến cơ sở như Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Quyết định số 97/QĐ-TTg ngày 01/02/2015 của Thủ tướng Chính

Ngày đăng: 04/08/2020, 16:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w