Đối với hoàn thuế GTGT, quy định không hoàn thuế đối với “sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí n
Trang 1I Khắc phục vướng mắc các luật thuế hiện hành, tháo gỡ
khó khăn cho doanh nghiệp
Phát biểu tại buổi Họp báo chuyên đề “Giới thiệu Dự án Luật sửa 5 Luật Thuế” tổ chức hôm 15/8, đại diên lãnh đạo Bộ Tài chính khẳng định, việc xây dựng Luật sửa đổi bổ sung 5 Luật Thuế nhằm đáp ứng các mục tiêu thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về hoàn thiện chính sách thuế, góp phần khắc phục những vướng mắc của các luật thuế hiện hành, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
Chính sách thuế hiện nay cũng đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cần thiết phải sửa đổi, bổ sung để đảm bảo phù hợp với thực tế, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh.
Lý giải về sự cần thiết này, đại diện Bộ Tài chính cho biết: Qua thực tiễn triển khai thực hiện các luật thuế thời gian qua, do sự biến động nhanh
Trang 2của kinh tế - chính trị thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng, chính sách thuế cũng đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế, cụ thể:
Về thuế thu nhập doanh nghiệp
Luật thuế TNDN hiện hành vẫn còn một số nội dung cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới như: Chưa có quy định khống chế chi phí được trừ đối với chi phí trả lãi tiền vay vốn tương ứng với khoản vay vượt quá nhiều lần vốn chủ sở hữu (vốn mỏng) từ đó chưa đảm bảo bình đẳng giữa doanh nghiệp sử dụng vốn chủ sở hữu để kinh doanh với doanh nghiệp sử dụng vốn vay (chi phí lãi vay được tính vào chi phí)
Đồng thời không đảm bảo an toàn tài chính cho DN, nợ xấu gia tăng; chưa có rà soát và xác định các lĩnh vực, địa bàn cần tiếp tục ưu đãi khuyến khích đầu tư phát triển giai đoạn tới như: Ưu đãi thuế đối với lĩnh vực công nghệ cao, lĩnh vực khoa học và công nghệ để thực hiện Luật công nghệ cao, Luật khoa học và công nghệ; ưu đãi thuế đối với các dự án đầu tư tại Khu (Khu kinh tế, Khu công nghiệp, Khu công nghệ cao, Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, Khu công nghệ thông tin tập trung); dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin; hoạt động đầu tư, cải tạo chung cư cũ; về nơi nộp thuế; về chuyển tiếp ưu đãi
Về thuế giá trị gia tăng
Trong quá trình thực hiện, Luật thuế GTGT hiện hành đã phát sinh nhiều vướng mắc về đối tượng không chịu thuế GTGT (phân bón; máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp; tàu đánh bắt xa bờ; chuyển quyền sử dụng đất) gây khó khăn cho doanh nghiệp và công tác quản lý thuế Mức thuế suất thông thường 10% tương đối thấp, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, khó đảm bảo an toàn tài chính quốc gia Một số hàng hóa dịch vụ (nước sạch; hoạt động văn hóa, triển lãm, thể dục, thể thao; biểu diễn nghệ thuật; sản xuất phim; nhập khẩu, phát hành
và chiếu phim…) đã được xã hội hóa mạnh mẽ nhưng vẫn chịu thuế GTGT với mức thuế suất 5% chưa bình đẳng với những ngành nghề, lĩnh vực khác đang chịu thuế GTGT với mức thuế suất 10%
Trang 3Việc quy định áp dụng thuế suất 5% đối với những loại hàng hóa có thể
sử dụng đa mục đích, như: Lưới, dây giềng và sợi để đan lưới đánh cá; các loại thiết bị, dụng cụ chuyên dùng cho giảng dạy, nghiên cứu, thí nghiệm khoa học dẫn đến không thống nhất trong thực hiện
Đối với hoàn thuế GTGT, quy định không hoàn thuế đối với “sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên” phức tạp trong thực hiện và cùng với quy định không hoàn thuế đối với trường hợp có số thuế GTGT đầu vào lũy kế âm liên tục qua nhiều kỳ khiến doanh nghiệp thêm khó khăn do tăng chi phí thuế
Về thuế tiêu thụ đặc biệt
Bên cạnh những kết quả đạt được, Luật thuế TTĐB hiện hành chưa quy định rõ thế nào là xe ô tô chạy bằng xăng kết hợp với năng lượng điện
và mức thuế suất thuế TTĐB đối với loại xe này chưa thực sự khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư lắp ráp tại Việt Nam
Về thuế thu nhập cá nhân
Một số quy định tại Luật thuế TNCN hiện hành còn phức tạp, phát sinh thủ tục hành chính, chưa tạo thuận lợi cho người nộp thuế và khó khăn cho công tác quản lý thuế Chưa có chính sách thuế phù hợp nhằm thu hút cá nhân là nhân lực công nghệ cao; chính sách thuế đối với cá nhân
có thu nhập từ trúng thưởng
Về thuế tài nguyên
Một số quy định tại Luật thuế tài nguyên hiện hành chưa thống nhất với quy định của pháp luật có liên quan, chưa thống nhất với các quy định khác tại Luật và chưa phù hợp với thực tế, cụ thể: Quy định về người nộp thuế trong trường hợp khai thác nhỏ lẻ (hầu hết đều không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép khai thác) là chưa phù hợp với quy định của Luật khoáng sản, tạo điều kiện hợp thức hóa hoạt động khai thác trái phép nguồn tài nguyên
Trang 4Quy định về tên gọi các loại nước thiên nhiên tại Luật chưa thống nhất Quy định về giá tính thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện và tài nguyên khai thác xuất khẩu là chưa phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan (pháp luật về điện lực, pháp luật về hải quan)
Do đó, để thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế TNDN, thuế TNCN và thuế tài nguyên qua đó góp phần cơ cấu lại nguồn thu NSNN; xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, phù hợp với thông lệ quốc tế thì cần thiết nghiên cứu xây dựng luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế TNDN, thuế TNCN và thuế tài nguyên
Trong đó, mục tiêu mà việc xây dựng Luật sửa đổi bổ sung các Luật thuế hướng đến là tái cơ cấu ngân sách nhà nước, tháo gỡ khó khăn cho
DN, góp phần định hướng sản xuất và tiêu dùng, nhằm tạo sự chuyển biến trong phân bổ nguồn lực, cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích người nộp thuế mở rộng sản xuất kinh doanh, nuôi dưỡng nguồn thu, đặc biệt trong bối cảnh các khoản thu từ hoạt động xuất nhập khẩu giảm
do thực hiện các cam kết quốc tế…
Trang 5II NHẬN DIỆN CÁC HÀNH VI GIAN LẬN THUẾ PHỔ BIẾN
CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1 Hành vi gian lận thuế GTGT.
Một là, hành vi gian lận liên quan đến hóa đơn, chứng từ:
– Khấu trừ thuế GTGT của các hóa đơn bất hợp pháp: Hóa đơn giả,
hóa đơn chưa có giá trị sử dụng, hóa đơn hết giá trị sử dụng; hóa đơn không do cơ quan thuế phát hành; hóa đơn bị tẩy xóa, hóa đơn của các DNNVV sau thời điểm cơ quan thuế ra thông báo DN bỏ địa chỉ kinh doanh…
– Chia nhỏ gói thanh toán bằng nhiều hóa đơn: DNNVV đã chủ
động “chia nhỏ” giá trị thanh toán thành nhiều hóa đơn nhỏ hơn 20
triệu; rải thành nhiều ngày trả tiền khác nhau, ghi hình thức thanh toán là
“tiền mặt” để được khấu trừ thuế, đồng thời tránh bị kiểm soát khi thanh
– Khấu trừ vượt mức quy định: Trường hợp này liên quan đến khấu
trừ thuế của xe ô tô dưới 9 chỗ ngồi: DNNVV vẫn khấu trừ toàn bộ thuế
GTGT tương ứng của phần nguyên giá vượt trên 1,6 tỷ đồng, “che mắt”
cơ quan thuế bằng cách ghi sai tên chủng loại, tên hiệu tài sản trên Sổ tài
sản cố định (211) bằng các thương hiệu khác giá trị thấp hơn.
-Khấu trừ thuế GTGT của hàng hóa hủy, hàng trả lại Một số DNNVV
đã không ghi rõ nội dung nghiệp vụ là “hàng hủy”, “hàng trả lại” mà
cố tình ghi chung chung là “thuế GTGT của Công ty A, công ty B…” để
khấu trừ thuế
Hai là, khấu trừ thuế GTGT của hàng hóa – dịch vụ không liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh:
– Có DNNVV cố tình không phân bổ hoặc phân bổ sai thuế GTGT đầu vào cho mặt hàng chịu thuế và không chịu thuế, mục đích là để tăng khấu trừ thuế GTGT đầu vào
– Khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với các trường hợp mua hàng biếu tặng, thưởng, quà lưu niệm, hoặc chi trang phục vượt định mức, hoặc kê
Trang 6khai khấu trừ các hóa đơn mang tên, mã số thuế của công ty nhưng thực chất là hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng cho cá nhân, gia đình như máy điều hòa, ti vi, tủ lạnh…
Ba là, kê khai trước thời điểm có chứng từ nộp NSNN:
– Trường hợp này thường liên quan đến các lô hàng nhập khẩu; Cá biệt
có một số DNNVV không kê khai thuế GTGT theo Giấy nộp tiền vào NSNN mà kê khai theo Tờ khai hải quan, làm sai lệch kỳ số thuế GTGT được khấu trừ, hoặc phản ánh không đúng số thuế GTGT phát sinh phải nộp
Gian lận qua việc giảm thuế GTGT đầu ra:
– Các hành vi gian lận thuế GTGT đầu ra chủ yếu tập trung vào việc giảm doanh thu tính thuế Một số hành vi thường gặp mà các DNNVV thường lợi dụng như: Bán hàng không xuất hóa đơn để che dấu doanh thu, không nộp thuế GTGT; bán hàng xuất hóa đơn ghi giá cả và số
lượng trong liên lưu (Liên 1, Liên 3) nhỏ hơn liên giao cho khách hàng (Liên 2);mục đích là giảm số thuế phải nộp của mình và tăng số
thuế được khấu trừ cho người mua; xuất hóa đơn khống (nhóa đơn không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo) nhằm hợp thức hóa đầu vào để
bên mua khai khấu trừ hoặc hoàn thuế.
– Bên cạnh các trường hợp gian lận nói chung ở trên, các DNNVV hoạt động trong một số lĩnh vực kinh doanh đặc thù lại có những hành vi gian lận khác nhau, cụ thể là:
o Trong lĩnh vực xây dựng (xây nhà để bán): gian lận bằng cách xuất
hóa đơn chưa kịp thời: công trình đã hoàn thành bàn giao theo quy định phải khai doanh thu và xuất hóa đơn nhưng do DNNVV chưa thu được tiền của khách hàng nên cũng chưa ghi nhận doanh thu và xuất hóa đơn, cá biệt có những DNNVV còn giấu Biên bản nghiệm thu
o Trong lĩnh vực kinh doanh ô tô, xe máy: Hiện tượng khá phổ biến
là DNNVV bán hàng cho các đối tượng không phải là cơ quan, tổ chức không theo giá giao dịch trên thị trường, ghi giá bán trên hóa đơn GTGT thấp hơn giá tính thuế trước bạ của UBND tỉnh, thành phố quy định.Điều chỉnh thuế GTGT đầu vào, đầu ra không đúng quy định Nhiều DNNVV lợi dụng quy định cho phép DN có thể kê
Trang 7khai bổ sung bất kỳ lỗi sai sót nào trên hồ sơ khai thuế đã nộp nên
cố tình điều chỉnh tăng, giảm thuế GTGT của kỳ trước trên chỉ
tiêu [37], [38] của Tờ khai thuế GTGT (mẫu 01/GTGT) mà không
có căn cứ; không có hóa đơn, chứng từ kèm theo chứng minh; mục đích là làm giảm thuế GTGT phải nộp kỳ này, hoặc tăng thuế GTGT được khấu trừ chuyển sang kỳ sau, nhằm gian lận thuế
– Xác định sai thuế suất thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ: DNNVV sản xuất, kinh doanh còn gian lận thuế GTGT bằng cách
“nhập nhèm” thuế suất, cụ thể là: Liên quan đến lô hàng xuất khẩu, DN
kê khai doanh thu thuế suất 0% nhưng lại không đáp ứng được đủ các điều kiện quy định như: Thiếu chứng từ thanh toán qua ngân hàng, thiếu hợp đồng xuất khẩu, hoặc xác nhận thực xuất của hải quan lớn hơn lượng hàng hóa bán ra ghi trên hóa đơn GTGT… Việc gian lận diễn ra ở
cả khâu thanh toán khi công ty đối tác nước ngoài không thanh toán vào tài khoản của DNNVV mà thanh toán vào tài khoản của cá nhân chủ DN
– Liên quan đến khu chế xuất, DN chế xuất: DNNVV bán hàng
không vào khu chế xuất mà lại bán hàng vào khu công nghiệp, hoặc không phải là DN chế xuất (100% sản phẩm xuất khẩu ghi trên Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư) nhưng sản phẩm bán ra vẫn khai thuế suất 0%
– Kê khai nhầm thuế suất: Khi kê khai thuế GTGT đầu ra, DN kê khai
mặt hàng chịu thuế suất 10% thành mặt hàng chịu thuế suất thấp hơn là 5%, hoặc đưa mặt hàng thuộc diện chịu thuế sang mặt hàng không chịu thuế
– Kê khai phân bổ thuế GTGT đầu vào được khấu trừ: Đối với hoạt
động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT đối với trường hợp không hạch toán riêng được thì phải phân bổ thuế GTGT đầu vào được khấu trừ theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa doanh thu chịu thuế GTGT, doanh thu không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT so với tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra bao gồm
cả doanh thu không phải kê khai, tính nộp thuế không hạch toán riêng được, tuy nhiên DN cố tình phân bổ thuế GTGT đầu vào được khấu trừ sai tỷ lệ phần trăm (%) nói trên để làm giảm số thuế GTGT phải nộp, tăng số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
Trang 82.Hành vi gian lận thuế TNDN
Có thể thống kê sơ bộ các hành vi sai phạm về chi phí của các DNNVV
– Tăng giá vốn: DN tìm cách tăng giá vốn hàng bán, nhất là các DN
được hưởng chiết khấu mua hàng do mua hàng với số lượng lớn; giá vốn sai còn do xác định giá trị sản phẩm dở dang, cũng như giá trị hàng tồn kho không đúng Có DNNVV trên bảng Xuất – Nhập – Tồn thời điểm
cuối năm (31/12) không có hàng tồn kho nhưng vẫn xuất bán hàng hóa.
Một số DN không đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ (kể cả giá trị xây lắp), không phân bổ chi phí thu mua cho hàng tồn kho, chi phí công cụ, dụng cụ mà kết chuyển hết vào chi phí trong kỳ, nhằm tối đa giá vốn – Đối với các DN sản xuất, giá vốn còn được nâng lên qua thủ thuật xây dựng định mức vật tư cho một đơn vị sản phẩm cao hơn thực tế, nhằm làm tăng chi phí nguyên vật liệu, hoặc không xây dựng định mức vật tư hạch toán chi phí tiêu hao nguyên vật liệu cho sản xuất vượt định mức
do lợi dụng luật thuế cho DNNVV tự xây dựng và quyết toán định mức,
vì hiện nay chỉ một vài ngành là có định mức sản xuất như: Xây dựng, cầu đường, xăng dầu, dệt may… còn lại phần lớn chưa có định mức chung Việc gian lận về giá nguyên vật liệu “kín đáo” hơn khi DNNVV
thỏa thuận với nhà cung cấp nâng báo giá nguyên vật liệu đầu vào (hóa đơn đúng như báo giá); trong khi đó nguyên liệu cùng loại có giá thị
– Trích khấu hao tính vào chi phí vượt mức quy định: Sai mức khấu
hao, sai tỷ lệ khấu hao; có DNNVV lách bằng cách tính khấu hao theo tháng chứ không theo ngày, hoặc DNNVV lỗ vẫn trích khấu hao nhanh; trích khấu hao nhanh không đúng loại tài sản và tính chất, trích khấu hao của tài sản không có giấy tờ sở hữu của DNNVV (tài sản thuê, mượn)
Có DNNVV vẫn trích khấu hao xe ô tô cả phần nguyên giá vượt giá trị
– Gian lận về chi phí tiền lương: Chi phí tiền lương không có đủ hồ sơ
theo quy định hoặc hồ sơ lao động giả: DNNVV chỉ cần đăng tin tuyển dụng với mức thu nhập hấp dẫn để hàng trăm lao động nộp hồ sơ ứng tuyển, sau đó vờ đánh trượt hoặc không tuyển nửa và không trả lại hồ sơ Thế là trong bảng lương của DNNVV có một danh sách chi trả lương
“ảo” DNNVV mặc sức điều tiết quỹ lương vào chi phí và giá vốn, chi
Trang 9phí quản lý DN Hơn nữa, chi phí lương ảo còn khó phát hiện hơn, khi hợp đồng lao động chủ yếu là người trong gia đình, mặc dù không tham gia kinh doanh DNNVV tự đẩy chi phí tiền lương trả cho người lao động cao hơn rất nhiều so với thực trả cho người lao động
– Bổ sung một vài chức danh khống cho những người không trực tiếp điều hành sản xuất kinh doanh: Thành viên hội đồng quản trị, ban
kiểm soát để được hạch toán chi phí thù lao vào tiền lương làm tăng chi phí
– Một số DNNVV tính gộp các khoản chi phí dịch vụ mua ngoài hạch toán các khoản chi phí cho tiêu dùng cá nhân: Ô tô, điện thoại,
xăng xe, ăn uống… cũng khiến cho cơ quan thuế khó xác định, phân biệt
– Về gian lận chi phí hoạt động tài chính: Các DNNVV có hành vi
gian lận chi phí tài chính (lãi vay) không đúng quy định, hạch toán chi phí lãi vay góp vốn điều lệ công ty (ở các công ty góp vốn); hạch toán
chi phí lãi vay vượt tỷ lệ khống chế 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố; hạch toán chi phí lãi vay không phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN; hạch toán chi phí lãi vay trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản; hình thành tài sản cố định vào chi phí; hạch toán chi phí lãi, lỗ chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản phải thu, các khoản mục tiền tệ có nguồn gốc ngoại tệ vào chi phí hoạt động tài chính không
– Nhiều DNNVV lập hồ sơ; khế ước vay khống tư nhân làm tăng chi phí tài chính và giảm thu nhập chịu thuế Việc xử dụng sai mục đích vốn vay cũng được nhiều chủ DNNVV tư nhân sử dụng khi vay ngân hàng để
tiêu dùng cá nhân (mua nhà, mua xe, đầu tư cổ phiếu…), nhưng vẫn
hạch toán lãi vay vào chi phí hợp lý, hợp lệ
– Các khoản chi phí khác, nhiều DNNVV còn hạch toán các khoản chi phí khác không đúng quy định: hạch toán vào chi phí tiền nghỉ
mát, tiền thưởng tết âm lịch và các ngày lễ khác không ghi trong Hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể
– Trong các khoản thu nhập khác và chi phí khác: DNNVV cũng
“lách” bằng cách hạch toán các khoản thuế truy thu và tiền phạt hành chính vào chi phí; kê khai thiếu các khoản thu nhập khác được thưởng, khoản hỗ trợ của hãng hoặc của các đối tác, khách hàng thường xuyên
Trang 10– Gian lận chi phí phân bổ: DNNVV hạch toán và phân bổ chi phí dài
hạn không đúng qui định; Kiểm tra các DNNVV này cho thấy có những công cụ, dụng cụ có giá trị lớn, có công dụng sử dụng ít nhất là 2, 3 năm nhưng DNNVV vẫn đưa toàn bộ một lần vào chi phí thông qua Tài khoản chi phí trả trước ngắn hạn Đồng thời, các khoản trích trước lớn như chi phí bảo hành, chi phí sửa chữa tài sản cố định không chi hết hoặc thực tế sau này không chi, DNNVV vẫn không hoàn nhập làm tăng
– DN hợp pháp hóa hồ sơ: các khoản dự phòng về nợ khó đòi, dự
phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng đầu tư tài chính; trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi; dự phòng bảo hành sản phẩm không đúng quy định Đây là hành vi gian lận ở mức độ tinh vi Có DNNVV trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi nhưng không có Biên bản đối chiếu công nợ, không có công văn đòi nợ, hoặc gian lận tuổi nợ đễ được trích lập 100% dự phòng nợ phải thu khó đòi vào chi phí Có những doanh nghiệp không có thu nhập (lỗ) vẫn tiến hành trích lập các khoản dự
-Những sai phạm về Doanh thu điển hình như: Không kê khai hàng
hóa dịch vụ mua vào, đồng thời cũng không kê khai doanh thu Hành vi này rất khó phát hiện, vì ngay cả thông qua xác minh hóa đơn, xác suất phát hiện của cơ quan thuế cũng rất thấp Giảm trừ doanh thu thông qua các hình thức giảm giá, chiết khấu không đúng quy định DNNVV mặc sức khuyến mại, giảm giá sản phẩm mà không cần đăng ký với Sở Công thương mà vẫn đương nhiên giảm trừ doanh thu bán hàng Trong xây dựng, kinh doanh bất động sản, có DNNVV chỉ kê khai thuế TNDN tạm nộp 2% trên doanh thu mà không tạm nộp thuế TNDN theo phương
pháp doanh thu trừ chi phí (thuế suất 22%) khi đã xác định được chi phí
tương ứng với doanh thu trong xây dựng, kinh doanh bất động sản
– Các khoản thu nhập khác: tiền thanh lý tài sản cố định; phế liệu; phế
phẩm; nợ phải trả nhưng không xác định được chủ nợ; thu tiền phạt vi phạm hợp đồng cũng bị DNNVV lờ đi, không hạch toán vào thu nhập
khác, qua kiểm tra sổ chi tiết tài khoản tiền mặt (TK 111) và tiền gửi ngân hàng (TK 112) cơ quan thuế phát hiện ra việc phát sinh tăng tiền
của các khoản này Ở mẫu Tờ khai tự quyết toán thuế TNDN năm
DNNVV đã “thao tác” điều chỉnh tăng, giảm thu nhập chịu thuế thiếu