Thuốc đối kháng thụ thể CCR5 • Để xâm nhập vào tế bào, trước tiên HIV phải liên kết với một thụ thể đặc biệt trên bề mặt tế bào.. •Thuốc đối kháng CCR5 là thuốc ngăn chặn đồng thụ thể CC
Trang 1Liệu pháp ức chế miễn dịch trong điều trị HIV
Trang 2Tổng quan về virus HIV
Trang 3ART là liệu pháp điều trị
sử dụng các thuốc kháng
vi-rút, không chữa khỏi
được HIV nhưng giúp
người bệnh sống lâu và
khỏe mạnh hơn
Giảm tải lượng virus HIV trong
cơ thể
Giảm nguy cơ lây nhiễm HIV
Ngăn chặn HIV tiến triển thành AIDS
Bảo vệ hệ miễn dịch
Trang 41 Thuốc đối kháng thụ thể CCR5
• Để xâm nhập vào tế bào, trước tiên HIV phải liên kết với một thụ thể đặc biệt trên bề mặt tế bào Thụ thể này còn được gọi là thụ thể CCR5.
•Thuốc đối kháng CCR5 là thuốc ngăn chặn đồng thụ thể CCR5, ngăn ngừa HIV bám vào và xâm nhập vào tế bào bạch cầu Vì lý do này, các bác sĩ gọi thuốc đối kháng CCR5 là chất ức chế xâm
nhập.
Trang 5• Ví dụ: maraviroc (tên biệt
dược Selzentry) gắn chọn lọc vào thụ thể CCR5 trên màng
tế bào vật chủ và ngăn cản tương tác giữa glycoprotein
120 của HIV với CCR5,do đó ngăn cản sự xâm nhập của HIV vào tế bào vật chủ
Trang 62 Chất ức chế hợp nhất
• Để tái tạo thành công, HIV phải xâm nhập vào một tế bào và hợp nhất với nó, quá trình đó được gọi là hợp hạch Chất ức chế hợp nhất là thuốc ngăn ngừa HIV xâm
nhập vào tế bào.
Trang 7• Enfuvirtide (T20) còn có tên gọi khác là
Fuzeon, là thuốc duy nhất thuộc nhóm này Chất ức chế hòa màng (enfuvirtid) ngăn cản bước thứ 2 trong con đường hòa màng bằng cách gắn vào vùng HR1 của glycoprotein 41 (gp41) và ngăn cản tương tác giữa HR1 và HR2,
do đó ngăn cản sự thay đổi về hình dạng của gp41 để hoàn thành bước cuối cùng của quá trình hòa màng
Trang 83 Chất ức chế xâm nhập
• Chất ức chế xâm nhập là một loại chất ức chế
sự xâm nhập của các virus lạ Những loại
thuốc này ngăn chặn hai loại thụ thể trên bề mặt tế bào bạch cầu là các đồng thụ thể CCR5
và CXCR4
• Ví dụ: ibalizumab (TMB – 355) có bản chất là kháng thể , bám vào thụ thể CD4 trên bề mặt
tế bào T khiến thụ thể gp120 trên HIV không thể gắn với đồng thụ thể CCR5 và CXCR4 và không thể xâm nhập vào tế bào T
Trang 94.1 Thuốc ức chế
men sao chép ngược
không phải
nucleotide (NNRTIs)
• NNRTI ngăn chặn virus HIV sinh sôi Nó ức chế enzyme sao chép ngược bằng cách gắn trực tiếp vào enzyme sao chép ngược tại
vị trí xúc tác làm virus không thể trưởng thành và không có khả năng gây nhiễm
• Các thuốc trong nhóm này gồm: doravirine (Pifeltro), efavirenz (Sustiva), etravirine (Intelence), nevirapine Viramune (Viramune XR), rilpivirine (Edurant)
Trang 104.2 Thuốc ức chế
men sao chép ngược
nucleotide (NRTI)
• Các NRTI ức chế enzyme sao chép ngược bằng cách gắn các nucleic giả vào DNA của virus mới được tạo thành làm dây DNA đó không thể được kéo dài.
• Các NRTi là các dẫn xuất của pyrimidin hoặc purin khi được hoạt hóa (bởi
enzyme của virus) trở thành dạng 5’
triphosphate cạnh tranh với enzyme sao chép ngược trong chuỗi DNA của virus làm ngừng kéo dài chuỗi DNA này
• Các thuốc trong nhóm này gồm: abacavir (Ziagen), emtricitabine (Emtriva),
lamivudine (Epivir), tenofovir (disoproxil), Viread (fumarate), zidovudine (Retrovir).
Trang 116 Thuốc ức chế men
protease (PI)
• Các tế bào HIV đang phát triển sử dụng enzyme
protease để trưởng thành và nhân lên Protease là loại men cho phép virus lây lan sang các tế bào khác trong
cơ thể
• Các PI ức chế sự trưởng thành của virus Do protease tác dụng ở giai đoạn cuối của chu kỳ phát triển của virus nên virus được sản xuất ra sẽ bị bất hoạt và
không gây nhiễm tế bào mới
• Các thuốc trong nhóm này gồm: atazanavir (Reyataz), darunavir (Prezista), fosamprenavir (Lexiva), ritonavir (Norvir), saquinavir (Invirase), aptranus (Tipranavir)
Trang 127 Các chất ức chế chuyển chuỗi tích hợp (INSTIs)
• Sau khi vào tế bào bạch cầu, HIV có thể sao chép
bằng cách chèn hoặc tích hợp DNA của nó vào tế
bào Quá trình này dựa vào một enzyme gọi là
integrase.
• INSTIs ức chế enzyme integrase, do đó ngăn HIV
chèn DNA của nó vào tế bào chủ Kết quả là, HIV
không thể tạo ra các bản sao của chính nó và điều
đó có nghĩa chúng sẽ không thể nhân lên được
nữa.
• Nhóm này có các loại thuốc như: dolutegravir
(Tivicay), Raltegravir (Isentress hoặc Isentress HD).
Trang 138 Thuốc
tăng cường
dược động
học
• Thuốc tăng cường dược động học không phải là thuốc kháng retrovirus, nhưng chúng có thể bổ sung tăng cường cho liệu pháp kháng
retrovirus.
• Những loại thuốc này giúp làm tăng tác dụng của một số loại thuốc điều trị HIV.
• Cobicistat là tên chung của một chất tăng cường dược động học có sẵn dưới tên biệt dược Tybost.
Trang 14Tương tác thuốc
• Bệnh nhân HIV thường được trị liệu bằng cách dùng kết hợp đồng thời nhiều loại thuốc.
• Trong một liệu trình, các loại thuốc khác nhau có thể tương tác với nhau và cả với vitamin, thực phẩm chức năng khác
• Sự tương tác thuốc có thể làm giảm hoặc tăng hiệu quả thuốc và có thể gây ra tác dụng phụ không mong muốn.
Trang 15Tác dụng phụ
• Chóng mặt, buồn nôn (zidovunine – ZDV, stavudine – d4T,…)
• Tiêu chảy (tenofovir – TDF, saquinavir – SQV,…)
• Đau đầu (ZDV, lamivudine – 3TC, )
• Nổi ban đỏ, ngứa (3TC, ABC, ) có thể ở mức nhẹ ( điều trị bằng kháng histamine) hoặc gây ra 1 số bệnh dị ứng nặng gây đe dọa tính mạng.
• Rối loạn giấc ngủ, ác mộng( EFV, 3TC,.)
• Độc cho gan ( NVP, EFV, ZDV và thuốc ức chế
protease) gây hủy hoại tế bào gan, tăng men gan.
• Độc cho thần kinh trung ương EFV : rối loạn tâm thần, trầm cảm.
Trang 16Nguy cơ
kháng thuốc
• Virus HIV có nguy cơ phát triển thành các chủng đột biến gây ra sự kháng thuốc
• Sự kháng thuốc có thể xảy ra do bệnh nhân không tuân thủ liệu trình điều trị
• Sự kháng chéo xảy ra khi một thể HIV đột biến
đề kháng với nhiều loại thuốc, kể cả những loại thuốc mà bệnh nhân HIV chưa sử dụng
Trang 17s for listeni
ng