1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của sự ra đời của siêu ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp tới hiệu quả quản trị vốn trong các doanh nghiệp nhà nước phân biệt cơ chế hoạt động của siêu ủy ban này với SCIC

17 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 786,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu hiện tại Sự ra đời của Siêu Ủy ban quản lý vốn của NN có tác động tới hiệu quả quản trị vốn trong các doanh nghiệp nhà nước DNNN như thế nào?. Nhiệm vụ

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

1 Khái quát về “Siêu Uỷ ban” quản lý vốn của Nhà nước 4

1.1 Bức tranh tổng quan về “Siêu Uỷ ban” quản lý vốn của Nhà nước 4

1.2 Nhiệm vụ và hoạt động cơ bản của Uỷ ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp 6

2 Sự cần thiết của việc ra đời Uỷ ban quản lý vốn nhà nước tai doanh nghiệp 9

2.1 Tại sao ủy ban quản lý vốn nhà nước ra đời? 9

2.2 Tác động của sự ra đời Siêu Uỷ ban tới hiệu quả quản trị vốn trong các doanh nghiệp nhà nước 11

3 Thực trạng hoạt động của Uỷ ban quản lý vốn nhà nước của tại doanh nghiệp những năm gần đây 13

3.1 Thành tựu 13

3.2 Hạn chế 14

3.3 Khuyến nghị giải pháp 14

KẾT LUẬN 17

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế việc quản lí các dòng vốn nhà nước đầu tư đóng 1 vai trò vô cùng quan trọng Các vốn đầu tư của nhà nước được sử dụng đúng đắn, hiệu quả, sức cạnh tranh trong nền kinh tế sẽ nâng cao, góp phần củng cố vai trò của kinh tế Nhà nước Thực tế ở Việt Nam, các dòng vốn đầu tư của nhà nước chưa thực sự đạt được hiệu quả Một số vấn đề đang tồn tại trong quy cách quản lí có thể kể đến như kẽ hở cho tham nhũng, trách nhiệm giải trình tại Ủy ban cũng như tại các tập đoàn, cơ chế giám sát người đại diện chưa rõ ràng minh bạch, thất thoát, hay tình trạng "sân trước sân sau"…Nhận thức được điều đó, nhà nước cũng đang nỗ lực trong quá trình cải cách khối doanh nghiệp nhà nước, tập trung đầu mối theo dõi và giám sát các doanh nghiệp này thay cho cơ chế phân tán trước đó Việc thành lập ủy ban quản lí vốn Nhà nước là đung đắn trong bối cảnh hiện nay của nhà nước Trên thế giới có nhiều quốc gia đã và đang áp dụng thành công mô hình quản lí vốn nhà nước trong số đó có thể kể đến Temasek Holdings của Singapore hay Ủy ban giám sát và quản lý tài sản nhà nước tại doanh nghiệp của Trung Quốc (SASAC) Việt Nam cần tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm của những nước này để có khắc phục những vấn đề đang gặp phải

và áp dụng hợp lí với bối cảnh kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu hiện tại Sự ra đời của Siêu Ủy ban quản lý vốn của NN có tác động tới hiệu quả quản trị vốn trong các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) như thế nào?

Và Nhà nước có đang đi đúng với mục tiêu và thực hiện đúng lộ trình đề ra hay không? Trong bài tiểu luận, chúng em sẽ tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu, thu thập thông tin để tìm hiểu về vai trò chức năng cũng như tác động của “Siêu Ủy ban” đến hiệu quả quản lí vốn các DNNN

Trang 3

1 Khái quát về “Siêu Uỷ ban” quản lý vốn của Nhà nước

1.1 Bức tranh tổng quan về “Siêu Uỷ ban” quản lý vốn của Nhà nước

Trang 4

Hiện tại, 19 tập đoàn, tổng công ty do Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp làm đại diện chủ sở hữu vốn, gồm:

Trang 5

Tập đoàn Tổng công ty

Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem) Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà

nước (SCIC) Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) Tổng công ty Viễn thông MobiFone

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam

Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam

(VRG)

Tổng công ty Hàng không Việt Nam

Tập đoàn Công nghiệp than khoáng sản

Việt Nam (TKV)

Tổng công ty Hàng hải Việt Nam

Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

(VNPT)

Tổng công ty Đường sắt Việt Nam

Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao

tốc Việt Nam Tổng công ty Cảng Hàng không Tổng công ty Cà phê Việt Nam Tổng công ty Lương thực miền Nam Tổng công ty Lương thực miền Bắc Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam

1.2 Nhiệm vụ và hoạt động cơ bản của Uỷ ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Ủy ban có nhiệm vụ xây dựng và trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chiến lược tổng thể đầu tư phát triển doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban theo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch được cấp có thẩm quyền quyết định Việc thực hiện nhiệm

vụ và quyền hạn đối với doanh nghiệp (DN) do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ giao

Ủy ban làm đại diện chủ sở hữu như sau: Quyết định vốn điều lệ khi thành lập và điều chỉnh vốn điều lệ trong quá trình hoạt động của DN, trừ các DN do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; thực hiện đầu tư bổ sung vốn điều lệ cho DN theo quy định của pháp luật

về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại DN

Trang 6

Siêu ủy ban ra đời với các hoạt động chính như : giúp Chính phủ quản lý, giám sát toàn bộ vốn và tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp

Bên cạnh đó, Ủy ban cũng trực tiếp thực hiện các chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước về tái cơ cấu, thoái vốn, sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước Ủy ban này cũng sẽ tập trung nguồn vốn nhà nước đang đầu tư tại doanh nghiệp để đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực chiến lược, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và nền kinh tế Với Ủy ban trên, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước quy mô lớn hoạt động kinh doanh sẽ được chuyển từ bộ quản lý ngành như hiện nay về một

cơ quan chuyên trách Khi cơ quan này ra đời, sẽ ngăn được tình trạng vốn nhà nước đang

bị hao mòn như hiện nay tại một số dự án nghìn tỉ thua lỗ

1.3 Phân biệt cơ chế hoạt động của Siêu UBQLV với SCIC

Uỷ ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (CMCS)

Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà nước (SCIC)

Vị trí Cơ quan ngang Bộ trực thuộc Chính phủ

Việt Nam; được Chính phủ giao thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100%

Trước khi CMCS thành lập, SCIC là một doanh nghiệp thuộc

Bộ Tài chính

Sau khi CMSC ra đời thì SCIC được đưa về dưới sự quản lý của CMSC

Phạm vi

quản lí

Quản lí 19 tập đoàn và tổng công ty, trong đó,SCIC là 1 trong 19 đơn vị và 18 doanh nghiệp còn lại là công ty mẹ các tập đoàn, tổng công ty thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc có cổ phần chi phối lâu dài

Cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp thuộc đối tượng được chuyển giao từ các bộ, UBND cấp tỉnh

Trang 7

Nhiệm vụ Siêu Ủy ban đẩy nhanh cổ phần hóa, ” gom

các DNNN chưa cổ phần hóa

SCIC có nhiệm vụ thoái vốn, gom các DNNN đã cổ phần hóa

về một mối để quản

Quản lý một nguồn lực rất lớn, phức tạp (vì có nhiều tập đoàn, tổng công ty với nhiều ngành nghề khác nhau, trong đó có những DN còn thua lỗ), thì cần phải tính thêm về mặt chức năng, quy mô nhân lực gắn với hiệu quả hoạt động Mô hình thành lập “siêu ủy ban” để quản lý vốn Nhà nước sẽ gặp nhiều rủi ro nếu không có cơ chế giám sát minh bạch, hiệu quả Vấn đề quan trọng nhất là thực hiện cổ phần hóa DNNN theo đúng chủ trương Chính phủ đã đề ra nhằm tạo “sân chơi” cạnh tranh bình đẳng giữa khu vực DNNN và tư nhân Hơn nữa, nếu Ủy ban là đơn vị quản lý nhà nước trong khi SCIC hoạt động như doanh nghiệp trực thuộc bộ tài chính Nhìn lại mô hình SCIC hiện nay, đơn vị này bị hạn chế và vẫn chỉ trực thuộc một bộ Do đó, để giám sát hiệu quả, các tập đoàn mới có thể không trực thuộc Bộ Tài chính nữa nhưng Bộ Tài chính sẽ giúp Chính phủ theo dõi, giám sát việc sử dụng nguồn vốn tại đó Kết quả hoạt động của các tập đoàn phải báo cáo và chịu sự giám sát của Quốc hội (vì các tập đoàn này nắm giữ tài sản, nguồn lực tài chính rất lớn của quốc gia.)

Trách nhiệm của Ủy Ban lớn hơn: vấn đề lớn nhất của Uỷ ban là số vốn quá lớn và phạm

vi DN quản lý quá lớn, nhất là so với tương quan nguồn vốn hoặc tỉ trọng của nền kinh tế Các DNNN do Uỷ ban quản lý hoạt động dàn trải trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau, nên việc quản lý hoàn toàn không đơn giản Trước mắt, mục tiêu Nhà nước dự định đưa vào một số tập đoàn kinh tế, tổng công ty lớn, SCIC nữa… chỉ ngoại trừ Tập đoàn Viettel của quân đội, như vậy toàn bộ phần vốn nhà nước do Ủy ban này chịu trách nhiệm sẽ cực kỳ lớn

Hơn nữa,SCIC được lập ra để quản lý tài sản Nhà nước tại các doanh nghiệp theo mô hình tiên tiến, chuyên nghiệp chuẩn thế giới Tuy vậy, vị thế “thấp” của SCIC làm cho cơ quan này khó “điều khiển” các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước lớn sự ra đời ủy ban nhằm khắc

Trang 8

phục vấn đề này, ”, Uỷ ban được chọn là một cơ quan ngang bộ thuộc Chính phủ Nếu Uỷ ban nằm trong cơ cấu của một bộ sẽ khó đáp ứng được yêu cầu độc lập và ngang hàng với các bộ quản lý ngành trong thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu Nhà nước Bên cạnh đó, việc Uỷ ban thuộc Chính phủ vì không có chức năng ban hành văn bản quy phạm pháp luật, không có thẩm quyền thanh, kiểm tra và xử phạt hành chính đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác Như vậy, Uỷ ban sẽ độc lập với bộ máy quản lý hành chính Nhà nước, vừa tránh được nguy cơ ban hành chính sách thiên lệch cạnh tranh, đối xử bất bình đẳng

2 Sự cần thiết của việc ra đời Uỷ ban quản lý vốn nhà nước tai doanh nghiệp

2.1 Tại sao ủy ban quản lý vốn nhà nước ra đời?

Trong 15 năm thực hiện nghị quyết trung ương 3 khóa IX về "Tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước" và các chủ trương của Đảng về doanh nghiệp nhà nước; các cấp, các ngành, các doanh nghiệp nhà nước đã cụ thể hóa và triển khai thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp để tiếp tục đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước

Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước được đẩy mạnh, số lượng doanh nghiệp nhà nước đã được thu gọn hơn, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt Cơ chế hoạt động của doanh nghiệp nhà nước đã có bước đổi mới theo hướng tự chủ kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng, công khai, minh bạch hơn Hiệu quả hoạt động, năng lực cạnh tranh của một số doanh nghiệp nhà nước được nâng lên

Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước được điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường Hoạt động của tổ chức đảng trong doanh nghiệp nhà nước đã có bước đổi mới theo hướng phù hợp hơn với sự thay đổi về cơ cấu sở hữu trong doanh nghiệp nhà nước và

cơ chế thị trường

Tuy nhiên, vai trò của doanh nghiệp nhà nước là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, dẫn dắt, tạo động lực phát triển đối với nền kinh tế còn hạn chế Điển hình như sau:

• Nhìn chung, hiệu quả sản xuất kinh doanh và đóng góp của nhiều doanh nghiệp nhà nước còn thấp, chưa tương xứng với nguồn lực nhà nước đầu tư; nợ nần, thua lỗ, thất

Trang 9

thoát lớn Cơ chế quản trị doanh nghiệp nhà nước chậm được đổi mới, kém hiệu quả, chưa phù hợp với các thông lệ, chuẩn mực quốc tế; tính công khai, minh bạch còn hạn chế

• Việc cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước và thoái vốn nhà nước triển khai chậm, quá trình cổ phần hóa còn nhiều yếu kém, tiêu cực và có một số khó khăn, vướng mắc

về thể chế chậm được giải quyết, nhất là thể chế định giá đất đai, tài sản

• Trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp nhà nước chưa rõ ràng; công tác cán

bộ, chính sách tiền lương còn bất cập, chưa phù hợp với cơ chế thị trường Việc tách chức năng quản lý nhà nước và chức năng của cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước thực hiện chậm Cơ chế quản lý, giám sát và việc thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan và người đại diện chủ sở hữu nhà nước chưa thật rõ ràng và phù hợp

• Đổi mới phương thức lãnh đạo của các tổ chức đảng, phương thức hoạt động của các

tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp chưa theo kịp yêu cầu đổi mới, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước

Những hạn chế, yếu kém nêu trên của doanh nghiệp nhà nước do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan:

• Nhận thức về vai trò, vị trí của kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước, về yêu cầu và giải pháp cơ cấu lại, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước còn chưa đầy đủ; một số vấn đề chưa rõ, còn ý kiến khác nhau nhưng chưa được kịp thời tổng kết thực tiễn, kết luận, dẫn đến chưa có sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động

• Việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương của đảng về doanh nghiệp nhà nước còn nhiều yếu kém, bất cập Chủ quan, nóng vội trong thực hiện chủ trương thí điểm thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước hoạt động đa ngành Lúng túng trong xác định mô hình cơ quan đại diện chủ sở hữu Kỷ cương, kỷ luật không nghiêm

• Thể chế quản lý, quản trị doanh nghiệp nhà nước còn không ít hạn chế, yếu kém, tạo

kẽ hở để hình thành "nhóm lợi ích", thao túng hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, tham nhũng, lãng phí; không rõ ràng về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân; quyền

Trang 10

hạn chưa gắn với trách nhiệm trong quản trị, điều hành doanh nghiệp nhà nước; thiếu

cơ chế kiểm soát quyền lực

• Công tác đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, bổ nhiệm cán bộ trong các doanh nghiệp nhà nước còn nhiều hạn chế Một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước yếu kém về năng lực quản lý, điều hành, sa sút về tinh thần trách nhiệm, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật, tham nhũng, lãng phí

• Hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán của các cơ quan quản lý nhà nước không cao Tình trạng thực hiện chưa nghiêm túc chủ trương của đảng, vi phạm pháp luật, rủi ro, yếu kém, thua lỗ trong doanh nghiệp nhà nước không được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh

• Bên cạnh đó, thực tế, sau những bước đầu bỡ ngỡ, với hơn 10 kinh nghiệm của mình SCIC cũng đang thực hiện khá tốt vai trò kinh doanh vốn nhà nước Tuy nhiên, với

vị trí của mình, đơn vị này cũng gặp một số khó khăn nhất định Lộ trình thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp được giao cho SCIC Nhưng đến nay, sau 1 năm quyết định 1232/QĐ-TTg được ban hành, tính đến cuối tháng 8 vừa qua mới có 27 doanh nghiệp được bàn giao về scic chính vì vậy, mong muốn thúc đẩy việc chuyển giao theo quyết định của thủ tướng chính phủ, nhưng SCIC dường như đang lực bất tòng tâm “SCIC cũng chỉ là doanh nghiệp, không có quyền yêu cầu các bộ, địa phương phải bàn giao doanh nghiệp.”

Bởi những lí do trên trong nghị quyết hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước

đã yêu cầu :” Hoàn thiện mô hình quản lý, giám sát doanh nghiệp nhà nước và vốn, tài sản của Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp Chậm nhất đến năm 2018, thành lập một cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước và cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp.”

2.2 Tác động của sự ra đời Siêu Uỷ ban tới hiệu quả quản trị vốn trong các doanh nghiệp nhà nước

Toàn bộ vốn, tài sản nhà nước hiện đang phân tán tại nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau, với

Trang 11

quan thống nhất để quản lý và kiểm soát xem tiền vốn, tài sản này đang nằm ở đâu, lĩnh vực nào, loại hình doanh nghiệp gì Trên cơ sở nắm được toàn bộ tổng lực như vậy sẽ có

kế hoạch, lộ trình để xem lĩnh vực, ngành nào cần giữ lại, ngành, lĩnh vực nào cần thoái vốn nhanh hơn, để làm sao có lộ trình chuyển đổi từ khu vực nhà nước thành các thành phần kinh tế khác, được thực hiện một cách tuần tự, có kế hoạch; không tạo ra sự xáo trộn, chồng chéo Điều này dễ dàng nhìn thấy khi thực hiện cổ phần hóa ở một số tổng công ty như Sabeco hay Vinamilk Nếu làm tốt sẽ thu lại giá trị rất lớn, nhưng việc này phải có lộ trình, còn làm không tốt như Hãng phim truyện hay Bóng đèn Điện Quang sẽ xảy ra thất thoát, tiêu cực

Các doanh nghiệp được bàn giao về một cơ quan có chuyên môn sâu hơn, chuyên nghiệp hơn sẽ hoạt động hiệu quả hơn Còn các Bộ, ngành chủ quản sẽ được tách vai trò đại diện chủ sở hữu để tập trung phát triển doanh nghiệp thông qua các chính sách thuận lợi cho doanh nghiệp, đảm bảo không có sự chồng chéo trong quản lý đối với doanh nghiệp Cho biết đã trực tiếp xuống thị sát những nỗ lực ban đầu của Ủy ban trong xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu doanh nghiệp, có định hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giám sát hoạt động của các tập đoàn, tổng công ty trực thuộc với sự hỗ trợ của Viettel, Thủ tướng nêu rõ, bây giờ quản lý không chỉ xuống doanh nghiệp mà qua hệ thống công nghệ thông tin mới là hướng đi đúng Ủy ban cần hợp tác với các tập đoàn công nghệ hàng đầu của đất nước để nhanh chóng hoàn thiện, đưa vào sử dụng các công cụ, giải pháp quản lý, giám sát vốn, tài sản DNNN, từng tập đoàn, tổng công ty theo công nghệ của cách mạng 4.0 “Chỉ có cách đó thì Ủy ban mới tạo điều kiện, tạo môi trường kinh doanh cho tập đoàn, không gây phiền hà cho đơn vị”

Ủy ban bổ sung, hoàn thiện chiến lược phát triển cho các tập đoàn, tổng công ty thuộc thẩm quyền quản lý nếu thấy cần thiết Tiếp tục công việc sắp xếp, đổi mới và cổ phần hóa doanh nghiệp với tốc độ nhanh hơn, chất lượng hơn

Thúc đẩy các tập đoàn, tổng công ty đi sâu nghiên cứu phát triển, liên tục nâng cao trình độ công nghệ, năng suất lao động và sức cạnh tranh để từng tập đoàn, tổng công ty thuộc Ủy

Ngày đăng: 04/08/2020, 00:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w