Với thực trạng nhu cầu sử dụng thực phẩm ngày càng cao của con người thì vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm càng trở nên báo động hơn bao giờ hết Sử dụng các loại thực phẩm không a
Trang 1MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm trên thế giới và Việt Nam: 3
1.2 Đặc điểm vệ sinh các loại thực phẩm: 6
1.3 Hướng dẫn vệ sinh an toàn thực phẩm theo khuyến nghị của Bộ Y Tế 7
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 9
2.2 Phương pháp nghiên cứu: 9
2.2.1 Nội dung nghiên cứu: 9
2.2.2 Phương pháp, nội dung và công cụ thu thập dữ liệu 9
2.2.3 Cách xử lý và phân tích số liệu: 10
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 11
3.1 Mô tả tình hình và đặc điểm của xã: 11
3.2 Đặc điểm hộ gia đình 13
3.3 Kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm 17
3.4 Thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm 27
Chương 4: BÀN LUẬN 36
KẾT LUẬN 43
KIẾN NGHỊ 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
PHỤ LỤC 48
Trang 21
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thực phẩm là một trong những nhu cầu thiết yếu cho sự tồn tại của con người Tuy nhiên, vì những mục đích khác nhau, các nhà sản xuất và kinh doanh thực phẩm vẫn sử dụng những biện pháp bảo quản, kích thích tăng trưởng không hợp lý Với thực trạng nhu cầu sử dụng thực phẩm ngày càng cao của con người thì vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm càng trở nên báo động hơn bao giờ hết
Sử dụng các loại thực phẩm không an toàn, người tiêu dùng đã phải trả giá quá đắt bằng chính sức khoẻ, thậm chí cả tính mạng của mình do bị ngộ độc thực phẩm và mầm mống gây ra căn bệnh ung thư quái ác đang ngày một tích tụ và chờ bộc phát Nhưng có không ít người tiêu dùng không quan tâm đến vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm khi mua các thực phẩm thiết yếu tiêu dùng hàng ngày (như rau, cá, thịt… )
Vệ sinh an toàn thực phẩm giữ vị trí quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ sức khỏe nhân dân, góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh, duy trì và phát triển nòi giống, tăng cường sức lao động, học tập, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, văn hóa xã hội và thể hiện nếp sống văn minh Mặc dù cho đến nay đã có khá nhiều tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong công tác bảo vệ và an toàn vệ sinh thực phẩm, cũng như biện pháp về quản lý giáo dục như ban hành luật, điều lệ và thanh tra giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm, nhưng các bệnh do kém chất lượng về vệ sinh thực phẩm và thức ăn vẫn chiếm tỷ lệ khá cao
Trong thời gian qua nhà nước và các cơ quan chức năng đã có nhiều giải pháp nhằm nâng cao an toàn vệ sinh thực phẩm, cũng như tạo ra hành lang pháp lý để bảo
vệ sức khỏe người tiêu dùng Tuy nhiên, vấn đề kiểm tra, kiểm soát vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn cả về mặt con người lẫn phương tiện giám định đồng bộ thực phẩm Vì vậy để nâng cao chất lượng thì phải không ngừng mở rộng và nâng cao chất lượng thực phẩm, cũng như công tác tuyên truyền cho mọi tầng lớp nhân dân
Theo các cơ quan chức năng, trong 6 tháng đầu năm 2016, Công an Hà Nội đã phát hiện hàng nghìn vụ vi phạm ATVSTP, trong đó có 240 vụ vi phạm vệ sinh thú y,
xử phạt hành chính 1 485 vụ, thu nộp ngân sách 6 tỷ đồng, tiêu hủy 1 500 lít rượu vang, hơn 18 000 sản phẩm động vật, 1 761 kg thủy hải sản, 3 573 kg mứt ô mai, 613
kg rau củ quả
Theo thống kê của Bộ Y tế, chỉ trong 4 tháng đầu năm 2016, cả nước đã xảy ra gần
30 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm trên 1 386 người bị ngộ độc, trong đó có
2 trường hợp tử vong Riêng trong tháng 4 2016 đã xảy ra 9 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 375 người bị ngộ độc Hầu hết các bệnh nhân bị ngộ độc do ăn phải thức ăn bị nhiễm vi sinh vật bởi thời tiết nóng bức gây ra, cùng với đó là một số trường hợp bị ngộ độc do hấp thụ phải hóa chất tồn dư trong thực phẩm Đánh giá về tình hình ngộ độc thực phẩm từ đầu năm 2016 đến nay, báo Nhân Dân dẫn lời TS Lâm Quốc Hùng, Trưởng phòng Giám sát ngộ độc thực phẩm, Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) cho rằng: Trong 3 tháng đầu năm, so với năm 2015, cho thấy tình hình ngộ độc thực phẩm
Trang 3đang từng bước được kiểm soát, đã giảm cả về số vụ, số người mắc, số người nhập viện và số người tử vong
Đáng chú ý, mặc dù số vụ ngộ độc thực phẩm lớn tăng về số lượng, nhưng giảm về
số người mắc và số người nhập viện so cùng kỳ năm 2015 Trong khi đó, so với năm
2015, ngộ độc thực phẩm tại các bếp ăn tập thể có xu hướng giảm cả về số vụ, số người mắc, số người nhập viện Tuy nhiên, ngộ độc thực phẩm tại bếp ăn gia đình, đám cưới, giỗ, liên hoan, lễ hội, bếp ăn trường học có xu hướng gia tăng, so với cùng
kỳ năm trước
Cung cấp kiến thức ban đầu cho người dân về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ rất có ích cho việc phòng một số bệnh trong khâu lựa chọn, chế biến, sử dụng cũng như bảo quản thực phẩm tại cộng đồng Nhiều nghiên cứu về kiến thức, thực hành vệ sinh an toàn thực phẩm đã được thực hiện ở nước ta cho thấy kiến thức vệ sinh an tòan thực phẩm không thấp nhưng thực hành trong vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm của người dân còn chưa cao Chính vì vậy, chúng tôi đã triển khai nghiên cứu về kiến thức
và thực hành vệ sinh an toàn thực phẩm tại xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ Địa phương với đặc điểm là dân nông thôn vùng sâu, đường xá có đoạn thô
sơ đi lại khó khăn nhưng phần lớn tiếp cận được với phương tiện thông tin đại chúng
Vì vậy chúng tôi tiến hành cuộc “ĐIỀU TRA KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM CỦA NGƯỜI DÂN TẠI XÃ NHƠN ÁI, HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ” nhằm mục tiêu:
1 Kiểm tra kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm của người dân tại xã Nhơn Ái
2 Đánh giá quá trình thực hành vệ sinh an toàn thực phẩm của người dân tại xã Nhơn Ái
Trang 43
Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm trên thế giới và Việt Nam:
ác ức:
- Sự bùng nổ dân số cùng với đô thị hóa: nhịp sống nhanh và hối hả dẫn đến thay đổi thói quen ăn uống của người dân, thúc đẩy phát triển dịch vụ ăn uống trên hè phố tràn lan, khó có thể đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Thực phẩm chế biến ngày càng nhiều, các bếp ăn tập thể gia tăng … là nguy cơ ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm còn diễn biến rất phức tạp Thức ăn hè phố là một điểm nóng, đến nay, các cơ quan chức năng vẫn phải thừa nhận, việc bảo đảm vệ sinh an toàn thức ăn đường phố đang là vấn đề bức xúc Đặc biệt là tình trạng thực phẩm đã chế biến sẵn bán tại các chợ rất phổ biến, trong khi đó, điều kiện vệ sinh cơ sở, vệ sinh dụng cụ chế biến và vệ sinh cá nhân người trực tiếp chế biến thực phẩm chưa bảo đảm Đặc biệt, tình trạng sử dụng phụ gia thực phẩm ngoài danh mục cho phép vẫn còn phổ biến
- Ô nhiễm môi trường: sự phát triển của các ngành công nghiệp dẫn đến môi trường ngày càng bị ô nhiễm, ảnh hưởng đến vật nuôi và cây trồng Mức độ thực phẩm
bị nhiễm bẩn tăng lên, đặc biệt là các vật nuôi trong ao hồ có chứa nước thải công nghiệp, lượng tồn dư một số kim loại nặng tỷ lệ tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật, ô nhiễm vi sinh vật ở trên các nông sản - là nguyên liệu ban đầu để làm thực phẩm, mặc
dù đã giảm hơn so với những năm trước đây, nhưng vẫn còn chiếm tỷ lệ cao hơn so với các nước phát triển Bên cạnh đó, tình trạng ngộ độc thực phẩm do ăn phải thực phẩm có độc tố tự nhiên (đặc biệt là nấm độc, mật cá trắm, rượu) vẫn còn tái diễn với
số người tử vong vẫn còn ở mức cao Một số nơi, nhất là ở các tỉnh ven biển miền Trung tình trạng kinh doanh, chế biến, sử dụng cá nóc vẫn còn tiếp diễn
- Sự phát triển của khoa học công nghệ: việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới trong chăn nuôi, trồng trọt, sản xuất, chế biến thực phẩm mà nguy cơ thực phẩm bị nhiễm bẩn ngày càng tăng do lượng tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất bảo quản trong rau, quả; tồn dư thuốc thú y trong thịt, thực phẩm sử dụng công nghệ gen, sử dụng nhiều hóa chất độc hại, phụ gia không cho phép, cũng như nhiều quy trình không đảm bảo vệ sinh gây khó khăn cho công tác quản lý, kiểm soát
a V sinh an toàn thực phẩm trên thế gi i:
- Theo báo cáo gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hơn 1/3 dân số các nước phát triển bị ảnh hưởng của các bệnh do thực phẩm gây ra mỗi năm Đối với các nước đang phát triển, tình trạng lại càng trầm trọng hơn nhiều, hàng năm gây tử vong hơn 2,2 triệu người, trong đó hầu hết là trẻ em Cuộc khủng hoảng gần đây (2006) ở
Trang 5Châu Âu là 1 500 trang trại sử dụng cỏ khô bị nhiễm Dioxin gây nên tình trạng tồn dư chất độc này trong sản phẩm thịt gia súc được lưu hành ở nhiều lục địa Việc lan tỏa thịt và bột xương từ những con bò điên (BSE) trên khắp thế giới làm nổi lên nỗi lo ngại của nhiều quốc gia Cũng theo báo cáo của WHO (2006) dịch cúm gia cầm H5N1
đã xuất hiện ở 44 nước ở Châu Âu, Châu Á, Châu Phi và Trung Đông gây tổn thất nghiêm trọng về kinh tế Ở Pháp, 40 nước đã từ chối không nhập khẩu sản phẩm thịt
gà từ Pháp gây thiệt hại 48 triệu USD/ tháng Tại Đức, thiệt hại vì cúm gia cầm đã lên tới 140 triệu Euro Tại Ý đã phải chi 100 triệu Euro cho phòng chống cúm gia cầm Tại
Mỹ phải chi 3,8 tỷ USD để chống bệnh này
- Các vụ ngộ độc thực phẩm có xu hướng ngày càng tăng Nước Mỹ hiện tại mỗi năm vẫn có 76 triệu ca NĐTP với 325 000 người phải vào viện và 5 000 người chết Trung bình cứ 1 000 dân có 175 người bị NĐTP mỗi năm và chi phí cho 1 ca NĐTP mất 1 531 đôla Mỹ (US - FDA 2006) Nước Úc có Luật thực phẩm từ năm 1908 nhưng hiện nay mỗi năm vẫn có khoảng 4,2 triệu ca bị NĐTP và các bệnh truyền qua thực phẩm, trung bình mỗi ngày có 11 500 ca mắc bệnh cấp tính do ăn uống gây ra và chi phí cho 1 ca NĐTP mất 1 679 đôla Úc Ở Anh cứ 1 000 dân có 190 ca bị NĐTP mỗi năm và chi phí cho 1 ca NĐTP mất 789 bảng Anh Tại Nhật Bản, vụ NĐTP do sữa tươi giảm béo bị ô nhiễm tụ cầu trùng vàng tháng 7/2000 đã làm cho 14 000 người ở 6 tỉnh bị NĐTP Công ty sữa SNOW BRAND phải bồi thường cho 4 000 nạn nhân mỗi người mỗi ngày 20 000 yên và Tổng giám đốc phải cách chức Bệnh bò điên (BSE) ở Châu Âu (năm 2001) nước Đức phải chi 1 triệu USD, Pháp chi 6 tỷ France, toàn EU chi 1 tỷ USD cho biện pháp phòng chống bệnh lở mồm long móng (2001), các nước
EU chi cho 2 biện pháp “giết bỏ” và “cấm nhập” hết 500 triệu USD Tại Trung Quốc, gần đây nhất, ngày 7/4/2006 đã xẩy ra vụ NĐTP ở trường học Thiểm Tây với hơn 500 học sinh bị, ngày 19/9/2006 vụ NĐTP ở Thượng Hải với 336 người bị do ăn phải thịt lợn bị tồn dư hormone Clenbutanol Tại Nga, mỗi năm trung bình có 42 000 chết do ngộ độc rượu Tại Hàn Quốc, tháng 6 năm 2006 có 3 000 học sinh ở 36 trường học bị ngộ độc thực phẩm
- Xu hướng ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm xẩy ra ở quy mô rộng nhiều quốc gia càng trở nên phổ biến, việc phòng ngừa và xử lý vấn đề này càng ngày càng khó khăn với mỗi quốc gia trở thành một thách thức lớn của toàn nhân loại Hàng loạt các vấn đề liên quan đến ATTP xẩy ra liên tục trong thời gian gần đây đã cho thấy
rõ vấn đề này, như là: vấn đề melamine (năm 2008)
b Tình hình v sinh an toàn thực phẩm ở Vi t Nam:
- Ở Việt Nam, tình hình ATTP trong cả nước, nhất là khu vực đô thị, đang tạo nhiều lo lắng cho người dân Sức khỏe là vốn quý của mỗi con người và của toàn xã hội, do đó vấn đề ATTP ngày càng trở nên nóng bỏng và được cộng đồng hết sức quan tâm
- Những con số biết nói Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, mỗi năm Việt Nam có 8 triệu người (chiếm xấp xỉ 1/10 tổng dân số) bị ngộ độc thực phẩm hoặc ngộ độc do liên quan đến thực phẩm Tại Hội nghị Y tế dự phòng năm 2009 vừa được Bộ
Trang 65
Y tế tổ chức mới đây, ông Nguyễn Công Khẩn, Cục trưởng Cục An toàn vệ sinh thực phẩm cho biết: 9 tháng đầu năm 2009, cả nước đã xảy ra 111 vụ ngộ độc thực phẩm với 4128 trường hợp mắc trong đó có 31 trường hợp tử vong So với cùng kỳ năm
2008, số vụ ngộ độc đã giảm 66 vụ (37,3%), số mắc giảm 2165 người (34,4%), số tử vong giảm 23 người (42,6%) Những vụ ngộ độc lớn hơn hoặc bằng 30 người mắc giảm 15% Điểm đáng lưu ý là số vụ ngộ độc không rõ nguyên nhân chiếm tới 72% Ngộ độc tự nhiên chiếm 19,8% và ngộ độc do vi khuẩn chiếm 8,1% Một trong những loại bệnh liên quan chặt chẽ đến thực phẩm là bệnh tả Báo cáo của Cục Y tế dự phòng cho thấy năm 2009, cả nước ghi nhận 471 trường hợp dương tính với phẩy khuẩn tả tại
15 tỉnh/thành phố, trong đó có 1 người tử vong ở Ninh Bình Tác nhân gây bệnh đã được phát hiện ở trong môi trường nước, trong thực phẩm tươi sống và trong đường ruột chó Còn theo nguồn số liệu liên quan khác của Bộ Y tế, hàng năm Việt Nam có
200 000 người bị ung thư, trong đó con số tử vong lên tới 150 000 người Về nguyên nhân dẫn đến ung thư, có khoảng 35% số bệnh nhân ung thư (tức là khoảng 70.000 người) được chẩn đoán mắc bệnh do những nguyên nhân liên quan tới việc sử dụng thực phẩm độc hại Theo ước tính, những hậu quả để lại do sử dụng thực phẩm mất vệ sinh và không an toàn là rất lớn
- Tổng kết về tình hình ngộ độc thực phẩm năm 2010 của Cục An toàn vệ sinh thực phẩm cho thấy, 10 tháng đầu năm, cả nước có 45 vụ ngộ độc lớn (hơn 30 người/vụ) Các số liệu thống kê cho thấy, năm 2000, ngộ độc chủ yếu do vi sinh vật (chiếm 70%) thì tới năm 2010, ngộ độc vi sinh vật giảm (<50%), ngộ độc chủ yếu do hóa chất (hơn 60%)
- Riêng trong quý 4 năm 2010, cả nước xảy ra 18 vụ ngộ độc làm 4 người tử vong
do độc tố cá nóc tại các tỉnh Phú Yên, Bến Tre, Bình Thuận, trong đó có 3 vụ ngộ độc lớn từ 30 người trở lên Số người bị ngộ độc là 323 người với 242 người nhập viện So với cùng kỳ năm 2009, số người mắc giảm 189 người, số người đi viện giảm 186 người Số vụ ngộ độc thực phẩm có quy mô lớn (hơn 30 người) giảm 3 vụ, số người mắc giảm 215, số người đi viện giảm 174 Tuy nhiên, tình trạng ngộ độc thực phẩm tại gia đình chiếm gần 60% tổng số vụ ngộ độc thực phẩm trên cả nước, đặc biệt là ngộ độc cá nóc Điều này cho thấy: Các vụ ngộ độc thực phẩm diễn ra tại khu vực hộ gia đình có xu hướng tăng, do ý thức người dân trong việc thực hiện ATVSTP chưa cao, một số người còn chủ quan, coi thường
- Tại Cần Thơ, sau bữa ăn trưa 23-12-2010, hơn 100 công nhân may mặc của của Công ty TNHH Phong Đạt (phường Ba Láng, quận Cái Răng, TP Cần Thơ) bất ngờ bị đau bụng, nôn mửa, choáng, mệt mỏi và ngất xỉu đồng loạt Ngay lập tức tất cả số công nhân này đã được đưa đến Bệnh viện Đa khoa huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, sát địa phận quận Cái Răng để cấp cứu Kết quả chẩn đoán cho thấy, các công nhân bị ngộ độc thực phẩm sau bữa ăn trưa do công ty đặt mua từ cơ sở ăn uống tư nhân với giá 9000 đồng/suất Thức ăn có mùi ôi thiu, sau bữa ăn khoảng 10 phút thì đồng loạt bị đau bụng, nôn mửa, choáng và ngất xỉu…
Trang 71.2 Đặc điểm vệ sinh các loại thực phẩm:
- Nhóm thực phẩm giàu protein như thịt, cá, trứng, sữa,
+ Thịt là nguồn thức ăn có giá trị dinh dư ng cao tuy nhiên đây cũng là nguồn lây bệnh nếu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh như bệnh lao, than, l mồm long móng, sán chó, sán dây, sán gạo,… Cũng có thể ngộ độc do độc tố các loại vi khuẩn tiết ra Vì vậy, cần tuân thủ vệ sinh phân loại và tắm sạch trước khi giết mổ, lấy hết tiết, mổ phanh,…
+ Cá khó bảo quản hơn thịt vì hàm lượng nước tương đối cao Cá sau khi chết rất
dễ nhiễm khuẩn, nên làm sạch cá, bỏ vây, mắt, vẩy cá, ruột cá, ướp lạnh cá để bảo quản,
+ Sữa cần được vắt đúng theo yêu cầu vệ sinh, bảo quản, vẫn chuyển, chế biến và mua bán tuân thủ nghiêm ngặt vì nguy cơ hổng và nhiễm khuẩn rấ cao( tả, l , thương hàn, lao, sốt làn sóng, tụ cầu, ) , bảo quản ở nhiệt độ thấp, không sử dụng có dấu hiệu tủa hay chua
+ Trứng: vỏ trứng tiếp xúc với môi trường, vi khuẩn, đất, nước vì thế nguy cơ nhiễm bẩn cao Tốt nhất là bảo quản lạnh
- Nhóm thực phẩm cung cấp nhiều năng lượng như ngũ cốc, khoai củ,
+ Gạo không nên xay xát quá k , không vo k , không vo bằng nước nóng, bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ẩm mốc, sâu mọt,…
+ Bắp: tránh ánh sáng trực tiếp, chống nóng ẩm, sâu mọt, chuột, gián,…
+ Khoai: nên thái lát phơi khô
- Nhóm thực phẩm cung cấp vitamin như rau, quả, trái cây,
Các loại rau quả, trái cây chứa lượng nước rất cao, vì thế nên rất khó bảo quản Nhóm thực phẩm này có thể nhiễm khuẩn, kí sinh trùng, giun sán dó đó khi ăn cần rửa sạch và sát trùng,…
Thực phẩ c thể tr nên hông an t àn với người sử dụng d ột số nguyên nhân sau:
- Do quá trình chăn nuôi, gieo trồng, sản xuất:
+ Mần bệnh từ gia súc, gia cầm hoặc thủy sản sống ở môi trường bị nhiễm bẩn hay chứa các chất độc hại
+ Phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng tràn lan, lạm dụng không theo hướng dẫn của nhà sản xuất cũng như các quy định an toàn thực phẩm, sử dụng hóa chất cấm vì mục đích kinh doanh lợi nhuận Sử dụng các chất kích thích tăng trưởng, thuốc kháng sinh,
- Do quá trình chế biến không đúng cách:
+ Quá trình giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm, quá trình thu hái lương thực, rau, quả không theo đúng quy định
+ Dùng chất phụ gia không đúng quy định của Bộ Y tế để chế biến thực phẩm + Dùng chung dao thớt hoặc để thực phẩm sống với thực phẩm chín
Trang 87
+ Dùng khăn bẩn để lau dụng cụ ăn uống
+ Bàn chế biến thực phẩm, bàn ăn hoặc dụng cụ ăn uống nhiễm bẩn Không rửa tay trước khi chế biến thực phẩm, nhất là khi chuẩn bị thực phẩm cho trẻ em
+ Người chế biến thực phẩm đang bị bệnh truyền nhiễm, tiêu chảy, đau bụng, nôn, sốt, ho hoặc nhiễm trùng ngoài da
+ Rửa thực phẩm, dụng cụ ăn uống bằng nước nhiễm bẩn
+ Nấu thực phẩm chưa chín hoặc không đun lại trước khi ăn
- Do quá trình sử dụng và bảo quản không đúng cách:
+ Dùng dụng cụ sành sứ, sắt tráng men, nhựa tái sinh … bị nhiễm chất chì để chứa đựng thực phẩm
+ Để thức ăn qua đêm hoặc bày bán cả ngày ở nhiệt độ thường; thức ăn không được đậy kỹ, để bụi bẩn, các loại côn trùng gặm nhấm, ruồi và các động vật khác tiếp xúc gây ô nhiễm
Do thực phẩm bảo quản không đủ độ lạnh hoặc không đủ độ nóng làm cho vi khuẩn vẫn phát triển
1.3 Hướng dẫn vệ sinh an toàn thực phẩm theo khuyến nghị của Bộ Y Tế
- Xây dựng chiến lược, quy hoạch tổng thể về bảo đảm an toàn thực phẩm, quy hoạch vùng sản xuất thực phẩm an toàn theo chuỗi cung cấp thực phẩm được xác định
là nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên
- Sử dụng nguồn lực nhà nước và các nguồn lực khác đầu tư nghiên cứu khoa học
và ứng dụng công nghệ phục vụ việc phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm; xây dựng mới, nâng cấp một số phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn khu vực, quốc tế; nâng cao năng lực các phòng thí nghiệm phân tích hiện có; hỗ trợ đầu tư xây dựng các vùng sản xuất nguyên liệu thực phẩm an toàn, chợ đầu mối nông sản thực phẩm, cơ sở giết
mổ gia súc, gia cầm quy mô công nghiệp
- Khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đổi mới công nghệ,
mở rộng quy mô sản xuất; sản xuất thực phẩm chất lượng cao, bảo đảm an toàn; bổ sung vi chất dinh dư ng thiết yếu trong thực phẩm; xây dựng thương hiệu và phát triển
- Mở rộng hợp tác quốc tế, đẩy mạnh ký kết điều ước, thoả thuận quốc tế về công nhận, thừa nhận lẫn nhau trong l nh vực thực phẩm
- Khen thưởng kịp thời tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn
- Khuyến khích, tạo điều kiện cho hội, hiệp hội, tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư, tham gia vào các hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, kiểm nghiệm an toàn thực phẩm
- Tăng đầu tư, đa dạng các hình thức, phương thức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức người dân về tiêu dùng thực phẩm an toàn, ý thức trách nhiệm và đạo
Trang 9đức kinh doanh của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm đối với cộng đồng
- Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc chết không rõ nguyên nhân, bị tiêu hủy để sản xuất, kinh doanh thực phẩm
- Sản xuất, kinh doanh:
a) Thực phẩm vi phạm quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa;
b) Thực phẩm không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng;
i) Thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc quá thời hạn sử dụng
- Sử dụng phương tiện gây ô nhiễm thực phẩm, phương tiện đã vận chuyển chất độc hại chưa được tẩy rửa sạch để vận chuyển nguyên liệu thực phẩm, thực phẩm
- Cung cấp sai hoặc giả mạo kết quả kiểm nghiệm thực phẩm
- Che dấu, làm sai lệch, xóa bỏ hiện trường, bằng chứng về sự cố an toàn thực phẩm hoặc các hành vi cố ý khác cản trở việc phát hiện, khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm
- Người mắc bệnh truyền nhiễm tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm
- Sản xuất, kinh doanh thực phẩm tại cơ sở không có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật
- Quảng cáo thực phẩm sai sự thật, gây nhầm lẫn đối với người tiêu dùng
- Đăng tải, công bố thông tin sai lệch về an toàn thực phẩm gây bức xúc cho xã hội hoặc thiệt hại cho sản xuất, kinh doanh
- Sử dụng trái phép lòng đường, vỉa hè, hành lang, sân chung, lối đi chung, diện tích phụ chung để chế biến, sản xuất, kinh doanh thức ăn đường phố
Trang 109
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Người dân tại: ấp Nhơn Thọ 2, xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ Người được phỏng vấn có thể là chủ hộ hoặc người có có thể quyết định những sinh hoạt trong gia đình, có khả năng hiểu và trả lời phỏng vấn
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Nội dung nghiên cứu:
Điều tra kiến thức và thực hành vệ sinh an toàn thực phẩm tại ấp Nhơn Thọ 2, xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ
2.2.2 Phương pháp, nội dung và công cụ thu thập dữ liệu
Sử dụng bộ câu hỏi soạn sẵn để thu thập số liệu bằng phương pháp phỏng vấn người dân (chủ hộ hoặc người đại diện gia đình) tại hộ gia đình bằng bộ câu hỏi gồm
1 phiếu với nội dung:
Các thông tin cần thu thập:
- Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu:
+ Tên, tuổi, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp
+ Trình độ học vấn
+ Bao nhiêu người trong gia đình thường xuyên ăn cùng nhau
- Thông tin, kiến thức lựa chọn thực phẩm:
+ Thông tin về nơi mua thực phẩm
+ Kiến thức về lựa chọn thực phẩm tươi sống như: thịt, cá, rau,
+ Thông tin, kiến thức lựa chọn về thực phẩm nấu chín ăn ngay
+ Nỗi lo khi mua thực phẩm tươi sống, thực phẩm nấu chín ăn ngay
+ Thông tin, kiến thức lựa chọn về thực phẩm đóng gói, đóng hộp
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng và xử lý đối với thực phẩm không an toàn
Trang 11- Thụng tin, kiến thức về quỏ trỡnh chế biến thực phẩm:
+ Thụng tin về nguồn nước sử dụng
+ Cỏc thúi quen rửa tay bằng xà phũng trước và sau chế biến
+ Nhận thức về quỏ trỡnh chế biến, bảo quản ảnh hưởng đến chất lượng thực phẩm
+ Cỏc thúi quen rửa rau quả truốc khi ăn và sử dụng thớt trong chế biến
- Thụng tin, kiến thức về quỏ trỡnh bảo quản thực phẩm:
+ Cỏc thúi quen xử lý thức ăn thừa sau khi ăn
+ Thụng tin về cỏc vật dụng che đậy bảo quản thực phẩm: lồng bàn, tủ lạnh, + Kiến thức về sử dụng tủ lạnh để bảo quản thực phẩm
+ Cỏc thúi quen ăn uống, xử lý thức ăn chế biến sẵn, thức ăn ụi thiu
- Sự tiếp nhận thụng tin vệ sinh an toàn thực phẩm:
+ Nguồn cung cấp thụng tin về vệ sinh an toàn thực phẩm
+ Nhận xột của người dõn về cỏc thụng tin vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay + Nhu cầu của người nhõn đối với thụng tin an toàn vệ sinh thực phẩm
+ Kết quả việc quan sỏt thực tế điều kiện vệ sinh khu bếp và các dụng cụ dùng để chế biến bảo quản thực phẩm
Cụng cụ: bộ cõu hỏi soạn sẵn, mỏy ảnh…
2.2.3 Cỏch xử lý và phõn tớch số liệu:
Số liệu trước khi nhập được kiểm tra lại từng phiếu trước khi nhập liệu để đảm bảo cú đầy đủ thụng tin mong muốn Nhập số liệu điều tra trờn chương trỡnh Microsoft Excel, trỡnh bày bỏo cỏo trờn chương trỡnh Mircosoft Word
Thiết kế nghiờn cứu: sử dụng phương phỏp nghiờn cứu mụ tả cắt ngang
C mẫu và cỏch chọn mẫu: nghiờn cứu được tiến hành ngẫu nhiờn trờn 88 hộ gia đỡnh đang sinh sống tại ấp Nhơn Thọ 2, xó Nhơn Ái, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ
Trang 12- Ấp Nhơn Thọ 1: Diện tích 180 ha, 376 hộ gia đình với 1572 nhân khẩu
- Ấp Nhơn Thọ 1A: Diện tích 201,78 ha, 404 hộ gia đình với 1771 nhân khẩu
- Ấp Nhơn Thọ 2: Diện tích 237,93 ha, 728 hộ gia đình với 2761 nhân khẩu
- Ấp Nhơn Thọ 2A: Diện tích 242 ha, 541 hộ gia đình với 2346 nhân khẩu
- Ấp Nhơn Bình: Diện tích 206 ha, 449 hộ gia đình với 1881 nhân khẩu
- Ấp Nhơn Bình A: Diện tích 164 ha, 324 hộ gia đình với 1350 nhân khẩu
- Ấp Nhơn Phú: Diện tích 155,94 ha, 505 hộ gia đình với 2195 nhân khẩu
3.1.2 Điều kiện tự nhiên:
Trang 13Sau khi chia tách diện tích xã Nhơn Ái còn lại 1559,5 ha Trong đó diện tích vườn 1100 ha (trong đó cây chủ lực gồm: Vú sữa, dâu hạ châu, ), diện tích ruộng 127
ha, diện tích nuôi trồng thủy sản 50 ha Toàn xã có 3327 hộ với 14876 nhân khẩu (trong đó dân tộc Khơ me 15 hộ, dân tộc Hoa 06 hộ, còn lại là dân tộc kinh) Đời sống của nhân dân chủ yếu dựa vào nghề nông và mua bán nhỏ Thu thập của nhân dân ngày càng được nâng lên, đời sống của nhân dân khá đầy đủ và sung túc
3.1.3 Vị trí địa lý:
Nhơn Ái là xã nông nghiệp nằm cạnh trung tâm huyện Phong Điền, có hệ thông giao thông đường bộ và đương thủy thuận tiện cho việc giao thông vận chuyển hàng hóa Có chợ nổi Phong Điền, ¾ diện tích đất nông nghiệp nằm trong vùng đê bao Ô Môn – Xà No và có vị trí tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc giáp: xã Tân Thới (huyện Phong Điền)
- Phía Nam giáp: xã Nhơn Ngh a và Nhơn Ngh a A (tỉnh Hậu Giang)
- Phía Đông giáp: thị trấn Phong Điền và xã Nhơn Ngh a (huyện Phong Điền)
- Phía Tấy giáp: xã Trường Long (huyện Phong Điền)
3.1.4 Tình hình nông nghiệp:
Nhơn Ái là một xã thuần nông, nên nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp Trong những năm gần đây, do tình hình thời tiết diễn biến thất thường làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất của nhân dân Bên cạnh đó, nhờ áp dụng cải tiến khoa học – kỹ thuật vào sản xuất nên năng suất cây trồng cũng được tăng lên
3.1.5 Tình hình giao thông nông thôn:
- Xã có đường tỉnh lộ 926 đi qua với chiều dài 3000m (từ cầu Tây Đô đến giáp
xã Trường Long) và 1 8km đường liên xã (tuyến Nhơn Ái – Trường Long)
- Đường thôn, xóm: gồm 17 tuyến đường, với tổng chiều dài 31520m, chiều
rộng 2m đã được nhựa hóa, bê tông hóa, trong đó có 7 tuyến hiện trạng cát
3.1.6 Tình hình y tế:
Làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân Trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, tổ chức tốt mạng lưới cơ sở, tỷ lệ tăng dân số dưới 0.74% Thực hiện tốt chính sách xã hội, công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình hàng năm đều được đánh giá cao Xã Nhơn Ái đã đạt tiêu chuẩn Quốc gia về y tế
Trang 1413
3.2 Đặc điểm hộ gia đình
Nhận xét: Tình hình nhóm tuổi của các đối tƣợng đƣợc khảo sát ở ấp Nhơn Thọ
2 xã Nhóm tuổi trên 50 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất 46.25%, nhóm tuổi từ 41 đến 50 tuổi chiếm tỉ lệ cao thứ 2 với 27.5%, nhóm tuổi chiếm tỉ lệ thấp nhất là từ 31 đến 40 tuổi với 12.5%
3.2.1 Biể ồ thể hi n tỉ l nhóm tuổi ở ấp N ơ T ọ 2 xã N ơ Á n Phong Đ n
> 50 tuổi
Trang 15Nhận xét: Từ biểu đồ trên ta có thể nhận ra được rằng tỉ lệ nữ được phỏng vấn
chiếm tỉ lệ cao hơn nhiều lần so với nam với 81.25%, cao gấp khoảng 4 lần so với tỉ lệ nam giới được phỏng vấn, có sự chênh lệch giới tính rất lớn trong tổng số các hộ điều tra Do phần lớn nam giới đi làm, và người được phỏng vấn là người nấu ăn chính trong gia đình, thường là nữ
Trang 1615
Nhận xét: từ biểu đồ ta nhận thấy rằng đối tượng ở ấp Nhơn Thọ 2 xã Nhơn Ái
huyện Phong Điền được phỏng vấn đều là người Kinh Từ đó cho thấy địa bàn khảo sát nằm trong địa phận thành phố Cần Thơ thuộc vùng Tây Nam Bộ là nơi tập trung sinh sống chủ yếu của người Kinh nên tỉ lệ người dân tộc Kinh sẽ chiếm nhiều nhất
Nhận xét: Qua biểu đồ ta nhận thấy rằng đa phần những đối tượng được phỏng
vấn đều biết đọc, viết nhưng trình độ học vấn chưa cao Với nhóm người dân có trình
độ học vấn cấp I chiếm tỉ lệ cao nhất 37.5%, tiếp theo là cấp II với 36.25% và mù chữ chưa từng đi học chiếm tỉ lệ thấp nhất 10% Không có đối tượng nào có trình độ trung cấp, dạy nghề hoặc đại học trở lên
3.2.3 Biể ồ thể hi n tỉ l dân tộc ở ấp N ơ T ọ 2 xã N ơ Á P o Đ n
3.2.4 Biể ồ thể hi n tỉ l rì ộ học vấn ở ấp N ơ T ọ 2 xã N ơ Á huy n P o Đ n
Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3 Trung
cấp/dạy nghề
Đại học và trên đại học 10.00%
Học sinh, sinh viên Hưu trí Khác
Tỉ lệ nghề nghiệp
Tỉ lệ nghề nghiệp
Trang 17Nhận xét: Từ biểu đồ trên ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng nghề khác, không
có trong kết quả bộ câu hỏi chiếm tỉ lệ cao nhất với 73 75% trong đó thì nội trợ chiếm
số lượng nhiều nhất trong các nghề khác Tiếp theo là nghề làm ruộng chiếm tỉ lệ cao thứ hai với 16.25% và chiếm thấp nhất là các nghề cán bộ và công nhân với cùng tỉ lệ
là 2.5% Do điều tra trong giờ hành chánh nên phần lớn người ở nhà là người nội trợ
3.2.6 Biể ồ thể hi n tỉ l s lượng thành viên dùng bữa cùng nhau ở ấp
> 5 người
Trang 1817
Nhận xét: Dựa vào biểu đồ trên ta có thể nhận thấy rằng những hộ gia đình có
số lượng thành viên ăn cơm cùng nhau từ 3-5 người chiếm tỉ lệ cao nhất với 58.75%,
kế đến là những hộ gia đình có số lượng thành viên dùng bữa chung <3 người với tỉ lệ 23.75% và thấp nhất là >5 người với tỉ lệ 17.5%
3.3 Kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm
3.3.1 Kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm trong lựa chọn thực phẩm
Những thực phẩm được điều tra về cách lựa chọn thực phẩm là thịt, cá và rau Trong đó, chỉ có thịt thường được người dân mua ở chợ, còn cá và rau thường được người địa phương bắt được và trồng được nên được mua ở tại nhà
3.3.1a Biểu đồ thể hiện sự hiểu biết của người dân về các tiêu chí lựa chọn thịt
Nhận xét: Phần lớn người dân lựa chọn thịt dựa vào màu sắc và mùi của
thịt 71 25% người dân được hỏi chọn thịt dựa vào màu của thịt phải có màu hồng, đỏ tươi 42 5% người được hỏi chọn thịt nếu thịt không có mùi hôi Các tiêu chí chọn thịt như thịt có độ dính, thịt rắn chắc, không có nốt sần lạ ít được biết đến Tỉ lệ người dân biết đến các tiêu chí này đều nhỏ hơn 12% Có 8 75% người dân không trả lời cách lựa chọn thịt và 18 75 người dân có câu trả lời khác với đáp án của bộ câu hỏi Trong số này có 1 hộ ăn chay, nên không mua thịt, 5 hộ gia đình ít ăn thịt, bửa ăn thường ngày của gia đình là cá và rau Một số tiêu chí được đưa ra như thịt phải qua kiểm dịch, thịt đóng gói trong siêu thị, hoặc mua theo cảm quan cũng được đề cập ở các hô gia đình
Có độ dính Khối thịt
rắn chắc,
có độ đàn hồi
Không có mùi hôi
Không có nốt sần lạ
Không biết hoặc không trả lời
Trang 193.3.1b Biểu đồ thể hiện sự hiểu biết của người dân về các tiêu chí lựa chọn cá
Nhận xét: Như đã đề cập ở trên, đa số hộ dân mua cá tại nơi đánh bắt ở các gia
đình trong vùng, nên tiêu chí được chọn nhiều nhất là cá phải còn sống Có 86.25% người chọn cá nếu cá sống Tuy nhiên, các tiêu chí khác cũng ít được đề cập đến, như thân ca cứng, không bị thỏng khi cầm trên tay, mắt trong, mang hồng Các tiêu chí này chỉ có dưới 20% người quan tâm Ngoài ra, cũng có 1 hộ gia đình ăn chay không mua
cá Và một số hộ mua cá ở siêu thị, cá ướp lạnh, chiếm 7.5% số hộ được điều tra
3.3.1c Biểu đồ thể hiện sự hiểu biết của người dân về các tiêu chí lựa chọn rau
Nhận xét: Dựa vào biểu đồ, ta thấy 83 75% người dân được hỏi đều chọn rau
tươi non, và không có gia đình chọn rau già Một tiêu chí khi chọn rau là rau không bị héo, dập nát cũng có 28 75% hộ chọn Về rau có vết sâu ăn, có 11 25% gia đình chọn
vì ngh rau không có thuốc trừ sâu Bên cạnh đó có 18 75% gia đình chọn rau không có
Mắt trong, mang hồng tươi
Bụng bình thường
Không có mùi lạ, mùi hôi, ươn
Không biết hoặc không trả lời
Trang 2019
vết sâu ăn Có 1 gia đình ít ăn rau Có 16 25% gia đình tự trồng đươc rau, nên hái rau nhà ăn, không đưa ra tiêu chí lựa chọn nào
3.3.1d Biếu đồ về những nỗi lo của người dân khi mua thực phẩ tươi sống
Nhận xét: Khi được hỏi về những nỗi lo khi mua thực phẩm tươi sống, có55%
người dân trả lời sợ thực phẩm còn các hóa chất bảo quản, thuốc, chiếm tỉ lệ cao nhất trong các nỗi lo được đưa ra trong bộ câu hỏi Bên canh đó, nỗi lo thực phẩm còn thuốc trừ sâu, tăng trọng, tăng trưởng cũng chiếm tỉ lệ cao, 35% Tuy nhiên, có
23 75% người dân tin tưởng hoàn toàn ở thực phẩm mình mua, không có nổi lo gì khi mua thực phẩm tươi sống
3.3.1e Biểu đồ thẻ hiện nỗi l hi ăn thực phẩ chín ăn ngay
Không đảm bảo cho để lâu
Sợ có phẩm màu, phụ gia độc hại
Thực phẩm quá hạn/ thực phẩm không đảm bảo chất lượng
Thực phẩm bị nhiễm vi khuẩn độc hại
Thực phẩm còn các hóa chất bảo quản, thuốc
Thuốc trừ sâu, tăng trọng, tăng trưởng
Thực phẩm có chứa chất độc tự nhiên (nấm độc, sắn độc, )
Trang 21Nhận xét: Trong số 32 hộ gia đình có sử dụng thực phẩm chín ăn ngay, khi hỏi
về nỗi lo khi ăn, 50% hộ trả lời không lo gì khi sử dụng thực phẩm chín Các hộ có nỗi
lo về thực phẩm chín, chủ yếu lo thực phẩm bị nhiễm bẩn, không sạch, chiếm 40.63% Các nỗi lo về thực phẩm chín như thực phẩm để lâu, có phẩm màu, quá hạn sử dụng, chiếm tỉ lệ trung bình từ 12 5% đến 28.13% Có 3.13% hộ ăn vì thấy mọi người đều
ăn
3.3.1f Biểu đồ thể hiện ý thức người dân về điều kiện vệ sinh nơi bán thực phẩm
chín
Nhận xét: Phần lớn người dân có ý thức về yêu cầu vệ sinh nơi bán
thực phẩm chín Yêu cầu nơi bán thực phẩm chín phỉa xa nguồn nhiễm bẩn chiếm 45%, có giá kê, tủ che đậy chiếm 43.75% Yêu cầu về điều kiện vệ sinh của người bán cũng rất được quan tâm, 28 75% người dân yêu cầu người bán phải đeo khẩu trang, mang gang tay, mặc tạp dề Bên cạnh đó, yêu cầu về dụng cụ nấu ăn lại ít được chú ý, như yêu cầu dùng thớt riêng chỉ có 7.5% hộ chú ý 10% hộ có câu trả lời ăn ở chỗ quen hoặc ăn ở siêu thị nên tin tưởng điều kiện vệ sinh
Có giá kê cao, có tủ che đậy
Có thớt dùng riêng
Có dụng
cụ gắp thức ăn, không dùng tay
Người bán phải đeo khẩu trang, mang găng tay, mặc tạp
dề
Không biết, không trả lời
Trang 2221
3.3.1g Biểu đồ thể hiện ý thức người dân về những thông tin cần thiết trên thực
phẩ đ ng g i, đồ hộp
Nhận xét: Như đã nhận xét ở trên, người dân có quan tâm đến nhãn mác thực
phẩm đóng gói, đồ hộp trước khi mua, nhưng mức độ quan tâm chưa cao Qua biểu đồ trên, ta thấy đa số hộ được điều tra quan tâm đến ngày sản xuất, hạn sử dụng của thực phẩm, chiếm 71.25% Có 37.5% hộ xem xuất xứ thực phẩm, tên địa chỉ, cơ sở sản xuất Tuy nhiên, về hướng dẫn bảo quản thực phẩm lại không được quan tâm, chỉ có 5% hộ quan tâm Có 27.5% không có câu trả lời cho câu hỏi này vì không ăn thực phẩm đóng gói, đồ hộp
Tổng hợp những tiêu chí lựa chọn thực phẩm tươi sống, thực phẩm chín và thực phẩm đóng gói, đồ hộp, khi hỏi về yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn thực phẩm, đa số người dân chọn mua thực phẩm chất lượng và an toàn, chiếm 72.5% Lựa chọn thực phẩm dựa vào giá cả chỉ chiếm 18.75% Lựa chọn theo khẩu vị và sở thích của gia đình chiếm 28.75% Có 1 hộ gia đình có người bị bệnh tim mạch, nên lựa chọn thực phẩm theo chế độ ăn của bệnh nhân
Ngày sản xuất, hạn
sử dụng
Hướng dẫn sử dụng
Thành phần có trong sản phẩm
Hướng dẫn bảo quản
Không biết hoặc
Trang 233.3.1h Biểu đồ thể hiện ý thức người dân về khả năng tránh thực phẩm không
đảm bảo vệ sinh khi chọn thực phẩm bằng cảm quan
Nhận xét: Qua biểu đồ, ta thấy đa số người dân tin tưởng về khả năng mua
thực phẩm bằng cảm quan, nên 27.5% hộ gia đình cho rằng có thể tránh được hoàn toàn thực phẩm bẩn, 35% hộ gia đình cho rằng có thể tránh được phần lớn Chỉ có 13.75% hộ gia đình cho rằng không thể tránh được thực phẩm không đảm bảo vệ sinh
3.3.2 Kiến thức về an toàn vệ sinh thực phẩm trong chế biến thực phẩm
3.3.2a Biểu đồ thể hiện kiến thức người dân về việc thực phẩm bị nhiễm bẩn
trong quá trình chế biến, bảo quản thực phẩm
31.25%
52.50%
16.25%
Ý thức về việc làm thực phẩm bị nhiễm bẩn trong quá trình chế biến, bảo quản
Trang 2423
Nhận xét: Một nữa người dân cho rằng quá trình chế biến, bảo quản thực phẩm
không thể làm thực phẩm bị nhiễm bẩn Chỉ có 31.25% biết có thể làm nhiễm bẩn thực phẩm trong quá trình chế biến, bảo quản
3.3.2b Biểu đồ thể hiện ý thức người dân về các giai đ ạn có thể gây nhiễm bẩn
thực phẩm
Nhận xét: Trong số 25 hộ gia đình biết thực phẩm có thể bị nhiễm bẩn, khi hỏi
về giai đoạn gây nhiễm bẩn, các câu trả lời có tần số xuất hiện gần bằng nhau Tuy nhiên, có 24% hộ không xác định rõ giai đoạn nào có thể gây nhiễm bẩn Có 12% hộ gia đình có ý kiến khác như do thực phẩm để quá lâu hoặc đậy thực phẩm quá kín
3.3.3 Kiến thức về sự tiếp nhận thông tin vệ sinh an toàn thực phẩm
3.3.3a Biểu đồ thể hiện tình hình người dân tiếp cận thông tin vệ sinh an toàn
Trang 25Nhận xét: Qua biểu đồ trên, ta nhận thấy rằng tỉ lệ người dân tiếp cận được với
thông tin là khá cao (chiếm 86%), điều này cho thấy người dân nơi đây có mức độ quan tâm cao đối với thông tin an toàn vệ sinh thực phẩm, đồng thời chính quyền địa phương cũng tạo điều kiện thuận lợi để người dân tiếp cận đến thông tin Tuy nhiên, cũng còn một số bộ phận người dân chưa tiếp cận được với thông tin (chiếm 14%) Do
đó, cần phải tăng cường cung cấp các thông tin bằng nhiều phương tiện truyền thông đại chúng để thông tin đến được với từng người dân
3.3.3b.Bảng thể hiện các nguồn cung cấp thông tin vệ sinh an toàn thực phẩ đến
Nhận xét: Qua bảng trên, ta có thể thấy được rằng có rất nhiều nguồn cung cấp
thông tin đến với người dân Trong đó tivi chiếm cao nhất (chiếm 54%), tiếp đó là đài (chiếm 20%), bạn bè, người thân (chiếm 9%), cán bộ y tế (chiếm 7%), báo và loa truyền thanh xã/phương (chiếm 4%), và thấp nhất là các phương tiện khác (chiếm 2%)
Từ đó cho thấy tivi là nguồn cung cấp thông tin đến người dân phổ biến nhất Bên cạnh đó, người dân ít được cung cấp thông tin từ cán bộ y tế và loa truyền thanh xã/phường Do đó cần tăng cường nguồn thông tin từ cán bộ ý tế để ngày càng làm cho người dân gần gũi và tin tưởng với cán bộ y tế hơn
Trang 2625
3.3.3c Biểu đồ mức độ cung cấp thông tin VSATTP đến người dân
Nhận xét: Qua biểu đồ trên, ta thấy rằng phần lớn số hộ gia đình có tiếp nhận
thộng tin về VSATTP hài lòng, cho rằng thông tin được cung cấp là đầy đủ (chiếm 84%) Với tỉ lệ chiếm 84% là khá cao, điều này chứng tỏ thông tin về VSATTP là tương đối hợp lí về chất lượng Tuy nhiên còn một bộ phận người dân cho rằng thông tin VSATTP là nhiều quá (chiếm 5%), ít quá (chiếm 4%) và một số không rõ (chiếm 6%) Từ những số liệu trên, ta thấy thông tin về VSATTP có đầy đủ nhưng vẫn còn một vài điều nên điều chỉnh cho phù hợp với người dân, phù hợp với trình độ cũng như
sự quan tâm của mỗi người để sao cho mọi người dân được tiếp cận thông tin đầy đủ
Ít quá Không rõ
Trang 273.3.3d Sự cần thiết của thông tin VSATTP đã tuyên truyền
Nhận xét: Qua biểu đồ trên ta thấy hầu hết người dân tham gia khảo sát cho
rằng thông tin về VSATTP là cần thiết (chiếm 93%), tỉ lệ này khá cao >90%, qua đó ta thấy được sự quan trọng của thông tin VSATTP với người dân cũng như sự quan tâm của người dân về thông tin VSATTP Một đều nữa là không có tỉ lệ nào cho rằng thông tin VSATTP là không cần thiết Một số người khảo sát không rõ ý kiến của mình về vấn đề khảo sát (chiếm 7%)
3.3.3e Bảng thống kê những thông tin cần tăng cường trong việc tuyên truyền
VSATTP
Cách chọn mua các loại thực phẩm đảm bảo vệ sinh 23 23%
Kiến thức chế biến, bảo quản thực phẩm 27 27%
Nhận xét: Từ những thông tin thu thập được, tỉ lệ người dân quan tâm đến kiến
thức chế biến, bảo quản thực phẩm là cao nhất (chiếm 27%) tiếp theo là cách chọn mua các loại thực phẩm đảm bảo vệ sinh (chiếm 23%) và kiến thức về VSATTP (chiếm 20%) Nhóm thông tin các quy định của nhà nước về VSATTP là thấp nhất (chiếm 3%) Còn một số tỉ lệ khác không biết (chiếm 15%) và có ý kiến khác (chiếm 12%) Từ số liệu trên ta thấy ba nhóm kiến thức kiến thức chế biến, bảo quản thực phẩm, cách chọn mua các loại thực phẩm đảm bảo vệ sinh, kiến thức về VSATTP có tỉ
lệ gần bằng nhau cho thấy mức độ quan tâm của người dân là gần bằng nhau, người dân còn ít quan tâm về quy định nhà nước mà chủ yếu là các biện pháp của gia đình để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Từ đó ta có thể định hướng và tăng cường cũng
93%
0% 7%
Biểu đồ thể hiện sự cần thiết của thông tin VSATTP
đã tuyên truyền
Có Không Không rõ
Trang 28Nhận xét: Theo thống kê thu được, kênh thông tin được người dân yêu thích
nhất để cung cấp kiến thức về VSATTP là truyền hình (chiếm 67%) Ngoài ra các kênh thông tin khác cũng được chọn lựa nhưng với tỉ lệ khá thấp: đài phát thanh (chiếm 6%), đài truyền thanh xã (chiếm 2%) và báo chỉ chiếm tỉ lệ thấp nhất (chiếm 1%) Một bộ phận người dân thích các kênh thông tin khác để truyền thông về VSATTP (chiếm 3%) như: các cuộc thi về VSATTP, gặp mặt tư vấn trực tiếp, các câu lạc bộ về VSATTP… tỉ lệ này cũng tương đối, được chọn lựa nhiều hơn cả đài phát thanh (2%) và báo chí (1%) Từ nhận định trên ta có thể lựa chọn loại hình, phương tiện cung cấp thông tin cho người dân sao cho hiệu quả nhất
3.4 Thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm
3.4.1 Thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm trong lựa chọn thực phẩm:
Tìm hiểu về nơi lựa chọn các loại thực phẩm tươi sống như thịt, cá, rau sống của người dân
[VALUE]%
[VALUE]%
Địa điểm mua thực phẩm