Trong đó, người có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoé, danh dự, nhân phẩm, uy l:ín, tài sản và các quyền, lợi ích họp pháp của người khác gây thiệt hại, phái bồi thường những thiệ
Trang 1B Ộ G I Á O D Ụ C V À Đ À O T Ạ O • • • B Ộ T ư P H Á P•
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI• • • •
í/v? iĩA i tâíc/t (/ u n
MỘT Sỡ VẤN ĐỀ VẾ TRÁCH NHIỆM BỔI THIÍỬNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM
Trang 2MỤC LỤC
raii«
PHẨN MỞ ĐẨU
c 111 ( ) N ( I
NHỮNG VÂN ĐỂ CHUNG VỂ TRÁCH NHIÊM 1301 THƯỜNG
1.1 K h á i niệm, (lặc điểm và bán chấ t ph áp lý CIKI t r á c h
nhiệm hồi thường thiệt hại (lo x â m p h ạ m tính m ạ n g ,
s ức khoe, danh dự, nhân p h ẩ m và uy tín.
1.2 C á c quy định c ủa I5Ộ luật clãn sụ t r o n g việc bổi
thường thiệt hại do x â m p h ạm tính m ạ n g , sức khoe,
ì 2 . 1 I l i i r l l i ạ i d o xức k h o e ' h ị xàm p l ì i i n i 21
T l i i r i h a i (lo (l anh dự, I i ỉ i â n p l n ú i i , IIY tín h i x á m />li,im -10
C I l U U N í i II
CÁC YÊU CẦU C ơ BẢN TRONG VÍỆC XÁC ĐỊNH TRÁCH
N h iụ M CỔ! THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHA,VI TÍNH MẠNG,
SỨC KriO É, DANH DƯ, NHÂN PHAM v ả u y t ín 46
2.1 ('(>' sơ (lè xác định lrach nhiẹm hoi í^ưùnii tlỉu;i iKii
>.U; XHiii pha.II ỉínli m ạn ", NiiV iíhoỏ, (ianh dụ, Ì.ĨUÌH
Trang 32 1 1 P hới c ó thiệt hụi /hực tê xay 1(1 48
2.1.2 ư ìiá ì có ìiùnìi \'ì t r á i ịìììá ịì h ịậ í 58
2 1 3 H ln íi có C/Iian hệ Ii/iân C/II(I iỊiữa hành vi I iíìi i>lhÌỊ) ln ậ i
và thiệ t h ạ i do xâ m p h ạ m tính m ụ/ly Míc khoe, (lciiih (lự.
n ìiâ ii p h ấ n i vù u y tín iỊâ y r a 61
2.1.4 P ln íi có l ỗ i của HiỊiíòi i>ây th iệ t h ạ i 65 2.2 C á c hình thức và m ứ c bồi thưcvng 73
2 3 Nh ững t r ư ờ n g hợp miẻn ho ặc gi am t r á c h nhiệm hổi
C I I l l O N C i I I I
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỂ B ồ l THƯỜNG THIỆT
HẠI DO XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, s ứ c KHOE, DANH Dự,
NHÂN PHẨM VÀ UY TÍN TRONG NHỮNG NÀM QUA TẠI
3.1 T h ự c t r ạ n g áp dụng pháp luật ve hổi thườn ị* thiẹl
hại t r o n g nh ữn g vừa n ă m qua tại f!*j;àĩiíi ỉ Oà án nhân
dan
3 2 C á c ịíiải pháp, kiến nghị hoàn tliiộn ph áp luật và áp
KẾT LUẬN
Trang 4PHẨN MỞ ĐẨU
PHẦN MỞ ĐAU
1 Tính cấp thiết c ủ a việc nghiên cứu để tài:
Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới do Đáng khới xướng
và lành đạo đất nước ta đã phát triển sang một giai đoạn mới Nền kinh tê củii đât nước đã chuyển mình vận hành theo cơ ché thị trường có sự quán lý CLUI Nhà nước theo định hướng xã hội chú nghĩa Thực tế đó đat ra yèu cáu cấp thièl phái xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam, không ngừng nâng cao hiệu quá quán lý Nhà nước bằng pháp luật Vì vậy, chúng la đ;ì b;m hành nhiều văn bản pháp luật nhăm điều chinh kịp thời những quan hệ xà hoi mới náy sinh trong thực tiễn
Bộ luật dân sự Việt Nam đầu tiên ra đời đã bao quái được mội lình vực rộng lớn trong đời sống xã hội, đó là giao lưu dân sụ' của các chủ thể Bèn cạnh việc xây dựng chuẩn mực pháp lý cho các chủ Ihò tham gia quan hệ dân sự uóp phần giai phóng sức sản xuất, thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển, Rộ luật dân
sự còn hạn chê những tranh chấp, tiêu cực trong các quan hệ dân sự làm lành mạnh các quan hệ xã hội bằng những quy định về nách nhiệm bổi thường (.làn
sự Nhừnu quy định này nhằm mục đích tạo ra cơ chế hữu hiện nhốt giúp cho những chú thể có đủ cơ sở để tự bao vệ các quyền dân sự của mình, cùn>:; nhu'
Trang 5có hành vi Irái pháp luạt ph;ii chịu Irúch nhiệm hòi thườn Li thiệt hại bang chính
lài san c ú a m ì n h
T i n c h n h i ệ m b ổ i ihưừiiL' I h i ẹ l hạI vlo x á m p h ạ m cK '11 l í u h m ạ n g , MIC k h o e ,
danh dự, nhân phấm và Liy lín Iheo t|ii\ định của Bộ luãi dan sự Viẹi Nam là loai 1 rách nhiệm mang lính lài sán bao hàm ý Míĩhĩa là biện pháp cưỡim chế, tạo hậu quá hất lợi về tài san cho nhữim người có hành vi trái pháp luâi Đonu thòi, nó cũng có tác dụng giáo dục vê ) ihiìv ILUÌII Ihú phap luật, bao vệ lài sán
xã hội chú nghĩa, tôn trọng quyền và lợi ích cùa người khác Irong giao lim dán
sự Mục đích cùa chê định Irách nhiệm hổi ihưònu này nham khỏi phục lại lình trạng han đau hoặc khắc phục Iihữnu thiẹl liại xáy ra CVm cứ đè xác (.'lịnh trách nhiệm bổi Ihường thiệt hại xuất phái lừ hành vi Irái pli.ÍỊ) luại cưa 11^11'ò'i gây rliiệl hại hay còn gọi là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp dồng Đay chính là căn cứ pháp lý cư ban giúp cho To à án các cấ|) vận dụng đúng pháp luật trong quá trình xét xử các loại án
San hơn ba năm thực hiện các qui định cua Bộ luíil ilâu sự vé irách nhiệm bồi thưừug thiệt hại ngoài hợp đổng, Ihưc tiẻn Két xử các vụ án vổ bồi thường
lliiệl hại d o tính m ạ n g , sức khoe, danh dự, nhân ph ẩ m và uy líu bị x â m hại ch o
ihây: Việc nhận thức và áp dụng pháp ỉnậl đế xác định Ii.icli lìhiẹm bói ihươim thiệt hại có nhiều điểm VƯÓVI" mác, chií.i Ihống lìliấl giữa các cấp Toà án Đieu
này dã g â y không ít khó khan c h o c ó n g lác XÓI xử và ihi hành c á c C|Iiyêl định
cua bàn án Thậm chí nó còn tác động liêu cực đến việc ihực hiệu mục liên \ày dựna, và hoàn thiện Nhà nước pháp L|ii\ếh Việt Nam, nIKInì lạo ra \;ì hội cong
»
b ầ i ì g v ă n m i n h , m ọ i n g ư ờ i s ổ n g v à l à m v i ẹ c I h c o H i ê n p h á p v à p h á p l u ộ t
Vì vậy, việc phai nghiên cứu, làm sáng ló các qu\ định cua BỌ luật dãn
sự và xác định tronẹ khoa học pháp lý những quan niệm, nhận thức, co' sớ pI'Ia11
IV I n ộ i c a c h t h ô n tí, n h â i về I r á c h n h i ê m h o i thườn*.’, i h i c t li.ii IIOIIU n h ữ i i i i 1 1 u õ n u
h ợp sức k l i o ó , l í n h m ạ n g , d a n h dự, l ì h i u i I >h an 1 VÍI u y I m hị \ a m p h ạ m là m ộ i
việc làm Ikì sức cán lliiêl, ihườnu KLivC‘11- Chính (.lòi hỏi cap ihièl cII;I lliực liến
Trang 6IKIV (.lã tlal ra cho lác giá việc lựa chon nghiên cứu "Mot sò vón </(' ve Iidt li
Iiliirm hiu íhtíửìHỊ tliiêt hại (lo xàm phạm sức Lhoứ, lính 111 ( 111 ", ílíin li thí, nhan
pluím và uy tíu" làm luận án tốt nghiệp cho chương trình đào lạo Thạc sĩ luật học của mình
2 So luoc tình hình nghiên cứu của (lé tài nay:
Vấn đề trách nhiêm bồi 1 hường thiệt hại cỉo có hành vi nái pháp luál xam phạm đèn lính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và uy tín của các cá nhân,
tổ chức trong xã hội là một nội dung quan trọng trong pháp luật dân sự Việt Nam và các nước trên thế giới 0 các nước, chế (.lịnh n;ì\ được khá nhiều nhà
k h o a h ọ c p h á p lý n g h i ê n c ứ u c ó m ộ t COI1U t r ì n h d ã đ ư ọ v c ô n g h ố CIKI m ô t loạt
các tác giá Ihnộc Liên Xô cũ như: S.Mimov, M.M Aịiarkor, V.P.Polxlopylo hay Palcmana (Cộng hoà Pháp) và Vicodavarkallo (Ba
ó la, trước khi Bộ luật dân sự Viẹl Nam ra dời, những nghiên cứu về vân
đổ này mới dừng ở mức độ các hài viêì của mộl số tác giá dăng irên lạp chí va trong các giáo trình giang dạy của mỏ! NÔ trường đa ị học Qua thực tiễn á|) tlunu các quy đinh của Bộ luật dân sự, chếdịnh này đã thu húi khổng iì Mí quan tâm nghiên cứu của một sô tác gia Tuv nhiên, (.10 mới chi là những nghiên cứu
có tính chối khái quát chung, còn vấn đe cụ Ihê vé trách nhiệm hổi ihườni! ihiệl
hại do x â m phạm đến lính m a n g , sức khoe, danh dự, nhan phẩm và uy líu Ihì
chua có mộl côn& trình khoa học nào (lược nghiên cứu mội cách cú lic ihỏnu,o • c • otình hình tló đặl ra cho luân án này bước liòp Ihco với những mục đích, nhiệm
vụ cụ I hê sau đây
3 M ụ c đích, nhiệm vụ và ph ạm vi nghiên C ƯU c ủa (lé tài:
Theo quy định chung cún Bọ 111;11 đàn Mí Viẹl Nam Ihì ir;ich nhiệrn hồi thường Ihiệt hại do xâm phạm lính inạnu sức khoe, danh dự, nhan plinm và uy lín là loai tlách nhiệm bồi thường thiệl hai ngoài họp dồnu, còn gọi là trách
nhiệm hổi thưừim thiệt hại do c ó hành \ I li;íi phap luậl f.).ìy ià một chê ( lịnh rất
đa danu, \ à kIui phức lạp trong lnál đau Mi' i u\ Iihicn Iiuiim nlụm VI nuliiên ctru
s
Trang 7cua đề tài cao học luật, chúng tôi chi nhằm mục đích nghiên cứu những vấn để
lý luận cơ bán nhất về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do có hành vi trái pháp V luật trong luậl dân sự và chí đi sâu nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do xâm phạm đên tính mạng, sức khoe, danh dự, nhãn phẩm, uy tín cún
các cá nhàn trong xã hội Đổng thời bước đầu đánh giá, lổng kết thực tiỏn xét
xứ của ngành Tòa án nhân dân trong lĩnh vực này, đê dề ra những giai pháp nhằm tháo gõ' những vướng mắc trong quá trình áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự
Đè đạt được mục đích trong phạm vi nghiên cứu đó, đề tài tập trung giái quyết các nhiệm vụ:
Thú nhất: Nghiên cứu làm sáng lỏ khái niệm, đặc điểm, bán chai pháp
lý và những căn cứ phát sinh, miễn trách nhiệm bổi thường thiệt hai do xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và uy tín, có phân biệt với một
sỏ loại trách nhiệm pháp lý khác
Thứ hai: Tìm hiểu những điền kiện cơ ban để xác định trách nhiệm bổi thường thiệt hại được quy định trong pháp luật dàn sự Việl Nam, có so sánh với
quy định pháp luật dân sự m ột s ố nước trên thế giới và trong khu vực.
T h ớ ba: Phân tích, đánh giá thực trạng công tác xét xử của Toà án nhân dân trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự để giai quyết các tranh chấp về bổi thường thiệt hại do có hành vi trái pháp luật, tìm ra những vướng mắc, tồn tai và đề xuất các giai pháp khắc phục
4 C o sỏ, phương pháp luận nghiên cứu đề tài.
Lu ận án này được nghiên cứu dim trên c ơ sỏ' phương pháp luận cua lìềiì
tang lý luận triết học Mác - Lồ Nin và những vấn đề lý luận khoa học vổ Nhà
nước, pháp luật.
Trong quá trình nghiên cứu để lài, chúng tói tìm hiêu những tác phẩm và các lu' liệu chuyên khảo đã được công bố đế làm sána, tỏ nội duim luận án, hôn
Trang 8canh đó có tham kháo quy định của pháp luật một sô nước tròn thế giới cũnu như trong khu vực về vấn đé này.
Chúng tôi còn sử đụng tổng, hợp các phương pháp nghiên cứu để tiến hành viết luận án như: Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, phân lích, chứng minh, thống kê, tổng hợp, so sánh pháp luật, diễn giái, suy diễn logic
5 Đ iế m mới và ý ng hía thực tiền c ủ a L u ậ n á n :
Có thê nói luận án là một trong những công trình imhiên cứu đáu liên vổ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng, sức khoe, danh
dự, nhân phẩm và uy tín kể lừ khi Bộ luật dân sự Việt Nam được ban hành Việc nghiên cứu được tiến hành một cách có hệ thống những vấn đề lý luận chung nlìál về trách nhiệm bổi thường thiệt hại do có hành vi trái pháp luật Trên cơ sở đó đi sâu nghiên cứu trách nhiệm bổi thường thiệt hại trong từng trường hợp cự thể
Điếm mới của việc nghiên cứu đề lài c ò n ,thể hiện ở chỗ người nghiên
cứu khóng chí dừng lại ở những CỊLiy định của pháp luật trong linh vực này mà
thồng qua việc tổng kết đánh giá thực trạng công tác XÓI xử của ngành Toà án nhân dân trong những năm qua, tác giá đề xuất một số giai pháp nhằm tháo gỡ những vướng mắc tồn tai trong thưc tiễn.C O O
Hy vọng rằng những đề xuất, kiên nghị này sẽ có Ý nghĩa phần nào trong việc lạo ra sự nhận thức đúng đắn, thống nhất, của các CO' quan áp dụng pháp luật, nhám không ngừng hoàn thiện chê định trách nhiệm dân sự này Đồng thời, tác giá cũng mong mỏi được đóng góp công sức của mình vào việc nghiên cứu lìm tòi đò ngà) càng nâng cao hiểu biết và ý thức pháp luật [rong nhân dân
6 Nội du n g co ban c ủ a luận á n :
Luận án được thực hiện với nội dung và kết cấu theo quy định chung bao gom: Phấn mỏ'đấu, 3 chương và kết luận sau 1 rình nghiên cứu đe lài
P h ầ n m ỏ đ ầ u : N ê u lý d o c h ọ n đề lài cún lấc gi;i và m ụ c đích, nlìiọm VII
phạm vi imhièn cứu c ũ n g nhu' tình hình nghiên cứu đề lài X á c định CO' s ớ lý
7
Trang 9luán cìing phương pháp nghiên cứu và nhũng nét mới, có ý nghía thực liền cua việc thực hiện đề tài.
Phan nội (lung:
C hư ong I: "Nhữ/IU vấn dư cl/iuix Ví’ Ị rách n[nêm_ hồi thiíờHỊ• t/iicí
hai tro iiỊi L u ã l (lán su’"
Nội dung chủ yếu của chương này nhằm làm sáng tỏ khái niệm cơ bán
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong luật dân sự nói chung và khái niệm về Irách nhiệm bổi thường thiệt hại do có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến lính mạim sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và uy tín nói riêng với những đặc đièni pháp lý chủ yếu của chê định 1 rách nhiệm này, có so sánh với mội sô chế định trách nhiệm dân sự khác Đổng thời, tác giá còn đi sâu phân tích các quy dinh của Bộ luật dân su' Việt Nam trong việc xác đinh trách nhiêm bổi thường,• o Ị Othiệt hại ứ từng trường hợp xâm phạm đến tính mạng, sức khoe, danh dư nhân phẩm và uy tín của các cá nhân trong xã hội Đây là những tiền đề lý luận để giái quyết những vấn đề của chuơng tiếp theo
Chương II: " C á c yên câu CO' hớn củu_ viêc xác dinh trách Ijhjêj2i
hồi tluíò•//» lliiứ t hai (ìo xâm plui/ii lính IIKIIISỈ, sức khoe, danh (ì//' lìh áii ị]ìúvm_ và
II V tín.
Trong chương này, người nghiên cứu lý Ị>iái làm lõ cơ sở đế xác định
il ách nhiệm bổi thường thiệt hại dựa (rên những căn cứ cỏ tính điểu kiện đó là:
Có thiệt hại xáy ra; có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại; có mối quan hệ nhân quá giữa hành vi trái pháp luật và các thiệt hại vè tính mạng, sức khoẻ, danh dự,
nhân p h ẩ m , uy tín; đ ồ n g thời phai c ó lỗi c ủ a người g â y thiệt hại Luân án CLÌng
so sánh liên hệ với pháp luật của một sô nước trên thế giới về việc quy định các yêu cấu cư bán để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại này Ngoài ra, lác uiá còn đề cập đến các hình thức và mức bổi thường cĩínu như các trường hợp được miền hoặc o,iám trách nhiệm bổi ihưòvm ihiệi hại theo quy định của Bộ luật dân sự
Trang 10N hữ ng ván đề lý luân c ơ bán nàV sẽ là CO' s ở đê tác £Íá đi sâu tìm hiếu,
đánh giá thirc tiễn áp dụng pháp luật của ngành Toà án nhàn dân trong lình vực
11ÙN ỏ' chu’0'112, sa.il
C h u ô n g III: T h i{'(' tnniỊ> áp (Jỵn& pháp luâ t vê bồ i thưởiix Ịh ịê l hai
ilo xám plni/n lính nia/iíỉ, sức khoơ, danìì (ìư, nhÔỊi I)hấ/)I và uy tín tronsi những
năm (JỊI(1 ta i n g àn h T o à (ìn và Ịiỉiữ n y k ir ii Iiy ìiị.
Chương này, tác giá tập trung tổng kết đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật của ngành Toà án nhân dân trong những năm qua Trên cơ sở phân tích những nguyên nhân và các khó khăn vướng mắc'trong thực tiễn áp dụng pháp luật của ngành Toà án nhân dân trong lĩnh vực này, đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm tháo gỡ những khỏ khăn và từng bước hoàn thiện pháp luật
M ột sô V kiến kết luận:
Sau quá trình nghiên cứu, tác giá đưa ra một vài ý kiến có tính chất kết luận chung cho đề tài, đồng thời cũng là những vấn đề mà tác giả mong muốn dược trao đổi làm rõ hơn trong quá trình áp duno các quy đinh của Bộ luât dân
sự Việt Nam về lĩnh vực này ở ngành To à án nhân dân của nước ta hiện nay
9
Trang 11CHƯƠNG I
NHÙNCỈ v ấ n ĐỄCHUNCỈ v êT R Á C I-I n h i ệ m b ồ i THUỜNCi
TH IỆT HẠI TRONG LUẬT DÂN s ự
1.1 Khái niệm, đ ặc (liêm và bán chát pháp lý c ủ a tr á c h nhiẹm l)õi thường thiệt hại do x â m p h ạm tính m ạng , sức khoẻ, danh (lự, nhân
pháni và uy tín.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hai là một trong những chế định ra đời rít
sớm trono pháp luật dân sự Qua những thời kỳ lịch sử khác nhau và ỏ' những
nước khác nhau, chế định này đều được quy định mộl cách tương đối cụ thè vé
cách thức bồi thường, thiệt hại phải bổi 1 hường cũng nhu' mức độ bồi thường
Tuy nhiên, pháp luật và tập quán các nước đều ihi nhận một nguyên tăc chung
nliâl dó là: "NiỊiíởi íỊÚy ra thiệt liai phai bồi iluíờii" cho Híịiíời hi lliiêt liai".
Khi nghiên cứu pháp luật cổ Việt Nam chúng ta ihấy các chế định về
trách nhiệm dân sự được quy định râì sư sài, tán mạn và gán như không có sự
phân biệt giữa trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự Sở dĩ như vậy vì luật
pháp lhòi hấv giò'được ban hành nhằm chủ yếu phục vụ cho quyền lợi cua oiai
cáp Ihỏng trị, để duy trì và bảo vệ sự tồn tại của nền quân chủ Pháp luật khỏiiíĩ
chú trọng vào việc quy định nhằm báo vệ quyến, lợi ích hợp pháp của người
dân Tuy nhiên cùng với trách nhiệm hình sự, mội số bộ luật cũng đã quy định
về khoán liền bổi thường cho người bị hại Châng hạn điều 29 của Quốc triều
hình luật (còn gọi là Bộ luật Hồng Đức) quy định về trường hợp bổi thường
thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng đó là: "Tĩrn dền Iiitiny - nhất phẩm tònyt
Iiliấ t p h tỉn i dược dền 15.000 q u a n ; nh ị /thấm 1011“ nh ị Ịìhani 9.000 (Ịin m ; lam
Ịìliân i lò iiíị 1(11)1 p ììẩ n i 7.000 (Ị11(1/1; lứ /)liâin, lòiiiỊ tứ Ịthíìni 5.000 (/lum; tiiỊŨ
Ịìluu/I, íòiiíỊ /líỊil p h á n i 2 0 0 0 (/U(III " Lâ n lượt c h o đèn " í h ứ n h â n t r ơ M i ô n Í Ị 1 5 0
c/tiún". Trirừng họp đánh người eâv thiroìig lích, ngoài hình phạt bị đánh roi ké
<J;mh ngiíòi còn phái bổi Ihirờno thiệl hai bằiìtí, ỉiỏn cho nạn nhan theo các mức
Trang 12độ nhu' sau: "sáV (la, (ỈỮII tiên ba tiên; cháy máu (lên tiên một c/uan; cìám, chớm
(lưu Iió i 1)1 llu ío iiiị, (lên tiên liiưòi láin (/Iid/i; (lánh doa thai cluủi tliàn li hình, (lớn
năm mươi quan". /'Đoạn 235 Hồng Đức Thiện chính thư)
So với Quốc triều Hình luật thời nhà Lê thì trong Hoàng Việt Luậl lệ (Bộ luật Gia long) Thời nhà Nguyễn các quy định về bồi thường thiệt hại có khác hon Ví dụ điền 261 của Bộ luật Cịiiy định mức liền bổi thường cho gia đình nạn
nhân trong trường hợp tội giết 11» ười và tiền c h u ộ c đó giao c h o gia đình nạn
nhân đế lo chôn cất Nêu phạm nhân bị phạt tội giáo thì liền chuộc là 12 lạng bạc Người điên giết người số tiền phạt cũng nhu' vậy Trường hợp gây Ihương tích cho người khác thì Hoàng Việt luật lệ chi quy định một cách tỉ mi về các hình phạt mang tính chế tài hình sự tại điều 271, chứ không đề cập đến vấn đề bồi thường dân sư
Dưới thời Pháp thuộc, do tiếp thu được phấn nào sự tiến bộ của nền khoa học pháp lv Phương Tây nên trách nhiệm dân sự đã được lách khỏi trách nhiệm hình sự Điều này, được thê hiện rõ trong các quy định tại điều 712 bộ Dân luật Bàc KỲ và điều 761 Hoàng Việt trung kỳ hộ luật, đó là: Người nào làm bất cứ việc
gì 2,ây thiệl hại cho người khác do lỗi của mình đều phái bổi (hường thiệt hại
Qua một số qui định trong luật cổ của Việt Nam, Ihấy rằng trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự tuy chưa được tồn tại mộl cách độc lập, song những quy định cụ thế này đã kháng định khái niệm bồi Ihường thiệt hại về dân
sự, nay gọi là trách nhiệm dân sự đã hình thành lừ lâu đời Những quy định này đưực Pháp luật Việt Nam hiện đại kế ihừa và phát triển thành chế định trách nhiệm bổi thường dân sự độc lạp như hiện nay
Theo nghĩa thông thường ciìa pháp luật dân sự hiện đại thì trách nhiệm
đ à n s ự n ó i c h u n g đ ư ợ c h i ể u l à : "\ i ệ c biìt h u ộ c />luh' sửa r h ữ a m ộ t t h i ệ ĩ h ạ i (lo
k lì ô /i iỊ t h ự c h i ệ n h o ặ c t h ự c h i ệ n k h ô i i i Ị (líuiiị I iíịh ĩa vụ d ã n sụ'" Ngoài ra trách
n h i ệm dân sự còn được hiểu theo mộl nghĩa rộng đó là: Việc phái gánh chịu hau quá bất lọi về những việc đã làm hoặc làm không đúng Sự gánh chịu hậu
Trang 13qua bất lọi này chính là sự phản ứng của Nhà nước đối với hành vi trái pháp Itúu uá\ hậu qua xấu Việc phản ứng của Nhà nước, không chi mang ý nshĩa đen bù thiệt hại mà còn tạo điều kiện cho nhữns; quan hệ xã hội tích cực phát triển, góp phán phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật, giáo dục, cái tạo người
vi phạm luật pháp Ý nghĩa này của trách nhiệm dân sự cũng xuất phát chính từ những đặc điếm chung của trách nhiệm pháp lý đó là:
- Một trong những hình thức cưỡng chế cua nhà nước
- Áp dụng đối với các chú thể vi phạm pháp luật
- Được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong phạm vi pháp luật cho phép
- Sử dụng một số biện pháp chê tài nhất định do luật định để buộc người
vi phạm phái gánh chịu hâụ quả bất lợi
Nhu' vậy, trách nhiệm dân sự nói chung, cũng như trách nhiệm bồi
thường thiệt hại theo pháp luật dân sự hiện đại ngoài những nét c h u n g c ủ a trách
nhiệm pháp lý, còn có những đặc điểm riêng đó là luôn được phân biệt thành hai loại cơ bán đó là trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ (trước đây gọi là trách nhiệm đán sự do vi phạm họp đồng) và 11ách nhiệm bồi thường ngoài họp đồng
Nếu bổi thường thiệl hại do vi phạm nghĩa vụ phát sinh giữa các chủ thể
có mối quan hệ họp đổng dã có hiệu lực và thiệt hại xảy ra là do hành vi không chấp hành hoặc chấp hành không đúng, không đầy đủ những nghĩa vụ mà hai bòn đã cam kêt trong hợp đồng, thì ngược lại bổi thườnơ thiệt hại ngoài họp đổng chủ yếu xuất phát từ những thiệt hại do có hành vi trái pháp luật gây ra, chứ không phát sinh từ họp đồng Thực tiễn đời sống hàng ngày cho thấy, háu hết các hành vi trái pháp luật của cá nhân, dưới nhiều hình thức khác nhau có thế đem lại những thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khoe hay danh dự, nhân phàm và uy lín cho các cá nhân Đây chính là những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự do sự kiện "íịáy lliiựt hại do hành vi trái pliứịì luật". Vì vậy, ụiống như các nước, Hiến pháp nước ta cũng ghi nhận nguyên lắc về việc Nhà
Trang 14nước báo vệ lính mạng, sức khoe, danh dự nhân phẩm, uy tín tài sán cũng như các q uyề n và lợi ích họp pháp của c ô n g dân Điêu 7&HÌÔIÌ pháp năm 1992 quy
(.lịnh rò: "('ôiii> (ỉủn có íỊiiyờn bất klia xâm phạm về tihiii thể, (híực p h áp luậl
Ihi(> hộ vê tính niạiiíỊ, sức khoe, danh dự, Iihâìi p h ẩ m ”
Cùng với việc ghi nhận của Hiến pháp, Nhà nước ta còn quy định nhũng quy phạm pháp luật cụ thể khác trong nhiều lĩnh vực như hình sự, dân sự hành chính giúp cho các cá nhân báo vệ các quyền này một cách hữu hiệu Đồng thời cũng tạo ra các biện pháp để ngăn chặn và khắc phục hậu quả của những hành vi xâm phạm gây thiệt hại Điều 609 Bộ luật dân sự Việt Nam quy định:
"NiỊiiửi nào (lo có lỗi cô V hoặc vô ỷ nu) xâm phạm đến tính mạng, sức klìoe, danh dự, nhân phưni, uy tín, tủi sán, cúc (ỊU\ên và lợi ích họp pháp của cá nhân mủ i>âv thiệt hại, thì ph(ĩi hồi tliườiìiỊ". Từ điều luật, chúng la có thế thấy, quyền được báo đảm an toàn về tính mạng, sức khoe, danh dự, nhân phẩm
và uy líu k h ô n g thê tự phái sinh những quan hệ x ã hội liên quan đến tai sán, mà
nỏ chi có thể phát sinh khi những quyền này bị người khác xâm phạm, có gây thiệt hại về vật chất và linh thán Sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật đã tạo ra quan hệ pháp luật giữa người gây thiệt hại với người bị thiệt hại, trong đó người uây thiệt hại phai có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại vì họ đã có hành vi trái pháp luật Chính trách nhiệm bổi thường thiệt hại của người gây ra thiệt hai đã làm phát sinh Mghĩa vụ hồi thường thiệt hại của họ đối với người bị thiệi hại Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại được tạo ra trong quan hệ này tương ứng với khái niệm nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật dân sự Việt Nam tại điều 285: "Níịỉiĩu vu dân sự là việc mà theo (/ui định của pỉìáp luật, thì một hoác lìhicu i'hủ thê (vọi lò nạ ười có Iiíịliĩd vụ) phải lủm một câ/iiỊ việc Ììoặc k/iôiiíỊ (híực ìàni một câm> việc vì lọi ích của một hoặc nhiên chủ thẻ khác (ÌỊỌÌ
lờ Hịịiíùi có (/uyên)".
NIili' vậy, chúng ta có thể hiểu khái niệm 11ách nhiệm bổi thường [hiệt hại
do xâm phạm lính mạng, sức khơẻ, danh dự nhân phấm và uy tín là một quan
13
Trang 15hộ dan su' mà trong đó người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khoé, danh dự, nhân phám của người khác gây ra thiệt hại thì phái
có nghía vụ bồi Ihường những thiệt hại do chính mình gây ra Một điều nữa cần lưu ý trong mối quan hệ này là giữa người gây ra thiệt hại và ngừòi bị Ihiệt hại không hể có quan hệ họp đổng với nhau (Ví dụ: Một trong số những người iliam gia giao thông trên đường điêù khiển phương tiện giao thông vi phạm những quy định về luật lệ giao thông như phóng nhanh, vượt ẩu, lạng lách, hoặc
do một sự bất cẩn, vô ý gây tai nạn cho người khác thì họ phái bồi thường thiệt hại cho người bị nạn hoặc những trường họp các cá nhân gây thương rích làm tổn hại sức khoe của người khác ) Mặc dù-giữa các chu thể không có quan hệ hợp đồng hay thon thuận trước, nhưng giữa họ vẫn phát sinh trách nhiệm bổi l.hường thiệt hai do xâm phạm lính mạng, sức khoe, danh dự, nhân phàm và uy tín bởi vì đây là những quyền về nhân thân bất khá xâm phạm, gán
liền với m ỗ i chủ thể đư ợc pháp luật quy định 'ằi\ lọi HíỊirởi c ó tiiỊỈìĩư vụ p h á i t ô n
irọiiíỊ (/IIYỮ/I Iiluìn thân của /líỊiíừi khúc" (Điều 26 Bộ luật dân sự) Do đó, mọi hành vi vi phạm đến các quyền nhân thân này đều bị coi là hành vi trái pháp luật Kê cá khi các hành vi này được xuất phát ban đầu từ quan hệ họp dồng giữa các chủ thê nhưng việc gây thiệt hại khôim liên quan gì đến việc thực hiện hợp đổng thì cũng được xác định đó là trách nhiệm bổi thường thiệt hại ngoài họp đổne,
Ví dụ: Vụ án gây thương lích xay ra ngày 18/1/1998 giữa Tuấn Anh và Thắng ứ Sóc Sơn, Hà nội Ban đầu Tuấn Anh có ký hợp đồng thuê Thắng xây nhà theo hình thức khoán gọn thòi hạn 02 tháng Quá trình thực hiện hợp đổng phía Tuân Anh đã làm đúng những điều khoán cam kêì, song hết thời hạn Thắim không bàn giao công trình, do đó hai bôn xáy ra mâu thuẫn dẫn đên xô xát Thắng đã đánh Tuấn Anh gây thương lích nặng làm tổn hại 62% sức khoẻ của Tuân Anh Trườno họp này Tháng khống chí phai chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý oâv
ihưoTìs, tích c h o Tuấn Anh m à còn phái c ó trách nhiệm bổi thưòìig thiệt hại vồ
Trang 16khoan vi phạm nghía vụ cam kết theo hợp đổng cùng với khoan thiệt hại do chí phí phục hổi sức khoe, bổi dưỡng sức khoẻ cho Tuấn Anh.
Trong ví dụ này rõ ràng chúng ta thây khoản bổi thường thiệt hại về sức
khoẻ do c ó hành vi trái pháp luật của T h ắ ng hoàn toàn nằm ngoài phần thoá thuận
của hợp đổ n g , kh ông hể liên quan đến nghĩa VỊ! thực hiện trong họp đồng.
Thực tiễn còn có các lrường họp trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xârrí phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự nhân phẩm uy tín cũng xuất phát từ quan hệ họp đổng Chẳng hạn như hợp đồng vận chuyển hành khách xuất phát ban đầu tù' thoá thuận của các bên, nhưng việc bổi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ cho khách hàng thì Toà án phải vận dụng các qui định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đê giải quyết Vì tính mạng, sức khoẻ của hành khách là do pháp luật bảo vệ chứ không phụ thuộc hợp đồng, mặc dù có sự thực hiện hợp đổng giữa các bên
Tóm lại, khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và uy tín được hiển là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh từ hành vi gây thiệt hại trái pháp luật Trong đó, người có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoé,
danh dự, nhân phẩm, uy l:ín, tài sản và các quyền, lợi ích họp pháp của người khác gây thiệt hại, phái bồi thường những thiệt hại do mình gây ra mà trước đó giữa các bên không có quan hệ hợp đồng, hoặc tuy có quan hệ họp đồng nhưng hành vi cua người gây thiệt hại không thuộc về nghĩa vụ thực hiện họp đổng đã
ký kết Hay nói cách khác, quan hệ hợp đồng tuy không phải là căn cứ thực tiễn nhung có thể đưa lại kha năng làm phát sinh quan hệ bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và uy tín
Nghiên cứu về khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự nhân phẩm và uy tín chứng ta thây: nó mang đầy đủ những đặc điểm của chế định trách nhiệm bồi thường Ihiệt hại ngoài họp đồng Cư sở để xác định trách nhiệm chính là những qui
15
Trang 17dinh của pháp luật (qui định những hậu qua pháp lý ngoài mong muôn cua chú
the), khô ng c ó sự t ho ả thuận trước giữa c á c bên và đ ư ợ c phát sinh chí trên c ơ sở
hành vi bất hợp pháp do lỏi cố ý hoặc vô ý Các quyền và nghĩa vụ pháp lý của
c á c bên c ũ n g hoàn toà n tlo pháp luật qui định, trước thời đ i ế m phát sinh trách
nhiệm giữa c á c bên k h ô n g c ó q u a n hệ họp đ ồ n g với nhau, nếu c ó thì việc g â y
thiệt hại k h ô n g liên quan RÌ đến vi ệc thực hiện họp đồn g N go à i c á c đặc điếm
cơ bán thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại này còn mang cá các đặc tính cửa
c h ế định trách n h i ệ m dân sự nói c h u n g , vì vậy nó tương đối ổn định, tồn tại
theo c á c qui luật k h á c h quan và là những qui ph ạm m a n g tính c h ấ t là biện pháp
báo vệ, giữ gìn sự phát triển bình thường c ủ a c á c quan hệ tài sản và quan hệ
nhân thân N h ữ n g qui định về c h ế định trách nhiệm này sẽ bảo đ ảm c h o việc
khỏi phục lại các quyền nhân thân khi nó bị phá vỡ trong quá trình phát triển
c ủ a c á c quan hệ pháp luật, v ề m ặ t n g uy ên tắc thì c á c qui định c ủ a Bộ luật dân
sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh
dư, nhân phẩm và uy tín đều là những qui định mang tính chất bắt buộc tuânthủ, I1Ó còn được coi là những nghĩa vụ do pháp luật qui định
Đ ê hiếu rõ hơn nhữ ng vấn đề lý luận về khái ni ệm , đ ặ c điểm c ủ a c h ế
định trách n h i ệ m bồi thườ ng thiệt hại nà y , c h ú n g ta c ầ n làm s á n g tỏ bán chất
pháp lý và những nguyên lắc cơ bản của chúng, trên CO' sở có so sánh nó với
một s ố c h ê định trách nh i ệm pháp lý khá c.
V ề bản c h ấ t , c á c quan hệ pháp luật dân sự chủ yếu là c á c quan hệ m a n g
tính tài sản và quan hệ nhân thân có liên quan đến tài sán Vì vậy trách nhiệm
bổi thường dân sự x é t vổ bản c h ấ t c ũ n g đư ợ c hiểu trước hết là trách nhiệm
mang tính tài sán Nhữnu quan hê tài sán giữa các chủ thê luôn luôn gắn với việc sử dụng hình thức lién - hàng trong hoạt động kinh tế - xã hội Tính chất tài sán của trách nhiệm bồi thường dân sự thê hiện ở việc chủ thể vi phạm pháp hiậi gây thiệt hại cho người khác thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộcbên vi phạm phái bồi thường bằng chính tài sán của mình
Trang 18Mặl khác, trong quan hệ dân sư giữa các chủ thc tổn tại mối quan hệ hình đắng trong sự tương quan giữa quyền của chú thê này tương ứng với nghía
V II của chủ thế kia Vì thê sự vi phạm nghĩa vụ của chủ thê này sẽ kéo theo quyền của chủ thể kia bị xâm phạm Chính sự vi phạm này dẩn đến trách nhiệm của người vi phạm đối với người bị thiệt hại Ngay cả khi sự vi phạm, gây thiệt hại đến quyền lợi của nhà nước thì người vi phạm cũng phái chịu trách nhiệm bổi thường cho ngân sách Nhà nước
Điểm cán lưu ý khi xác định trách nhiệm dân sự bởi hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đó là (rách nhiệm bổi thường luôn phái tương xứng với tính chất của sư vi phạm Do vậy, xét về bán chất pháp lý thì trách nhiệm bồi Ihường dân sự mang tính chất là biện pháp đền bù, nhầm mục đích khôi phục (ình trạng tài sán và xác lập lại các quyền, lợi ích bị xâm phạm của người bị thiệt hại do cơ quan Nhà I1ƯÓC có thẩm quyền áp dụng
Nhu' vậy chúng ta có thể thấy, ở một khía cạnh nào đó trách nhiệm bổi thường dân sự đồng nhất với việc thực hiện nghĩa vụ dân sự trong trật tự cưỡng chế Sự bát buộc thực hiện nghĩa vụ này do nội dung quan hệ pháp luật mà 2 bên tham gia qui định, iheo Bộ luật dân sự thì: "NiỊiíời có iiíỊÌiĩa vụ mù không iliực hiện hoặc lliiíc Ììiện kì lòn % âú/ig niỊỈiĩa 17/, thì phai chịu trách nhiệm dãn
sự (loi VỚI IIÍỊIÍÒÌ có c/uyỡn" (khoán I Điều 308) Rõ ràng, trong một quan hệ
pháp luật dân sự c ụ thể, thì trách nhiệm bổi thường thiệt hại là trách nhiệm củ a
chủ thể này trước chủ thể kia, xuất hiện khi có sự vi phạm nghĩa vụ (nghĩa vụ này do họ tự nguyện cam kết hoặc do pháp luật qui định) Nhưng cũng cần hiển thòm rằng mặc dù có sự vi phạm, nhưng nếu không có tác động bằng sức mạnh cưởng ché của Nhà nước thì trách nhiệm đó cũng khỏnu thế được thực hiện trong thực tế Như vậy, cư sở của trách nhiệm bổi thường Ihiệl hại có thế được các bèn lự nguyện cam kết hoặc do pháp luật qui định nhưntì, chi được thực hiện bằng sức manh cưỡnu chế của Nhà nước
Trang 19vụ hoặc phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ của mình gây ra cho ph ía bên kia"(i). Do đó, trách nhiệm bồi thường dân sự luôn được coi là một phương tiện pháp lý để bảo vệ các quan hệ dân sự, bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự khỏi bị xâm phạm bởi các hành vi trái pháp luật.
Vấn đề đặt ra cần làm sáng tỏ đó là mối quan hệ giữa trách nhiệm và nghĩa vụ trong luật dân sự thì cái nào có trước? cái nào phát sinh cái nào? và mối tương quan của chúng ra sao? Hiện có nhiều quan điểm chưa thống nhất
Có quan điểm cho rằng xác định được trách nhiệm rồi mới phát sinh nghĩa vụ
từ trách nhiệm, có quan điểm thì ngược lại
Theo chúng tôi mỗi chủ thể trước hết đều có những nghĩa vụ (nghĩa vụ dưới dạng là bộ phận của nội dung quan hệ pháp luật) do pháp luật qui định: Điều 51 Hiến pháp năm 1992 của nước ta ghi nhấn"quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân Nhà nước b ả o đảm các quyền của công dân; công dân p h ải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và x ã hội Quyền của công dân do Hiến pháp và Luật qui định". Theo qui định này, rõ ràng bất
kỳ ai cũng phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định nào đó và khi họ vi phạm những nghĩa vụ này (nghĩa vụ cũng có thể do pháp luật qui định hoặc do các bên cam kết theo luật định) thì đương nhiên họ sẽ phải gánh chịu hậu quả của việc áp dụng trách nhiệm Đó chính là hậu quả bất lợi đối với người vi phạm,
họ buộc phải thực hiện hoặc không thực hiện những hành vi nhất định
Đối với quyền về nhân thân của con người cũng vậy, Hiến pháp 1992 qui định: "Công dân có quyền bất khả xâm phạm v ề thân thể, được pháp luật bảo
hộ v ề tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm " (Điều 71) Do đó "Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lọi ích hợp pháp của tập th ể
và của công dân p hải được kịp thời xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự' (Điều 74) Cụ thể hoá
(1) Giáo trình Luật dân sự - Việt Nam - N XB Công an nhân dân - 1997 trang 42 - tập n
Trang 20các qui định của Hiến pháp, Điều 609 Bộ luật dân sự Việt Nam đã xác địnhtrách nhiệm bồi thường thiệt hại khi xâm phạm các quyền về nhân thân của các
cá nhân như sau: " Người nào do lỗi c ố ỷ hoặc vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức kỉioẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp
9 n>àr
khác của cá nhãnSgây thiệt hại, thì phải bồi thường".
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và uy tín cũng mang bản chất pháp lý của trách nhiệm bổi thường dân sự nói chung vì vậy nó cũng là loại trách nhiệm tài sản nhằm khôi phục và xác lập lại các quyền, lợi ích bị xâmphạm của người bị thiệt hại" Mặt khác, trách nhiệm bổi thường thiệt hại này không chỉ nhằm bảo đảm việc đền
bù tổn thất đã gây ra, mà nó còn có tác dụng giáo dục mọi người về ý thức tuân thủ pháp luật, bảo vệ nhà nước, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Hậu quả của việc áp dụng trách nhiệm này luôn mang đến những bất lợi
về tài sản do người gây ra thiệt hại để bù đắp những thiệt hại mà họ đã gây ra cho các người khác
Tuy trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm là một chế định độc lập của pháp luật dân sự, nhung nó không chỉ được áp dụng đối với các quan hệ dân sự mà ngay trong các vụ án hình sự, loại trách nhiệm này cũng áp dụng cùng với việc xác định trách nhiệm hình sự của người có hành vi vi phạm Song giữa hai loại trách nhiệm này có sự khác nhau cơ bản đó là: chế tài hình sự chủ yếu, trước tiên được tác động vào chính bản thân kẻ phạm tội và có ý nghĩa là
sự trừng phạt của nhà nước Chế tài nặng hay nhẹ tuỳ thuộc vào mức độ lỗi của
cá nhân kẻ phạm tội Còn đối với trách nhiệm bồi thường dân sự thì trách nhiệm bồi thường phát sinh khi có hành vi trái pháp luật, dựa trên cơ sở thiệt hại thực tế, nghĩa là người có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh
dự, nhân phẩm và uy tín gây thiệt hại thì phải bổi thường những thiệt hại đó Lỗi trong trường hợp này là cơ sỏ' của trách nhiệm chứ không phải là thước đo
19
Trang 21nặng hay nhẹ của trách nhiệm (Mức độ lỗi chỉ được xem xét và có ý nghĩa trong những trường hợp đặc biệt).
Qua thực tiễn xét xử tác giả thấy rằng, giữa trách nhiệm bổi thường thiệt hại và trách nhiệm hình sự cũng có mối quan hệ mật thiết với nhau Việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người gây thiệt hại (bị cáo) trong nhiều trường hợp được coi là cơ sở để đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Theo qui đinh của Bộ luật hình sự thì trong một số trường hợp mức
độ thiệt hại có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định khung hình phạt theo các điều khoản tương ứng của điều luật
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và uy tín là loại trách nhiệm bổi thường thiệt hại ngoài hợp đổng Song trong thực tiễn hiện nay cũng có những vấn đề liên quan đến việc bổi thường thiệt hại về xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và
uy tín xuất phát từ các hợp đổng, ví dụ: như hợp đồng lao động, họp đồng bảo hiểm tính mạng, thân thể, các bộ phận của cơ thể Tuy nhiên trong phạm vi luận án này chúng tôi đề cập chủ yếu đến trách nhiệm bồi thường thiệt haị do
có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến các quyền nhân thân của các cá nhân gây thiệt hại Vậy giữa 2 loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại này có điểm giống và khác gì nhau?
Xét một cách khái quát thì trách nhiệm bổi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ là trách nhiệm dân sự, phát sinh do một bên không chấp hành hoặc chấp hành không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ mà các bên đã cam kết trong hợp đổng Đặc điểm của loại trách nhiệm này thể hiện ở chỗ giữa hai bên chủ thể phải có quan hệ hợp đổng phát sinh hiệu lực và thiệt hại xảy ra là do hành
vi không chấp hành hoặc chấp hành không đúng, không đủ nghĩa vụ của hợp đổng đã giao kết Đồng thời giữa hai bên chủ thể đã tồn tại một quan hệ pháp luật họp pháp theo ý chí của hai bên trước thời điểm xảy ra vi phạm và áp dụng trách nhiệm pháp lý
Trang 22Như vậy trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ và trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng có điểm giống nhau vì chúng đều là loại trách nhiệm dân sự mà theo đó thì người gây ra thiệt hại phải tự gánh chịu hậu quá xảy ra bằng chính tài sản của mình Tuy đều là hai hình thức của trách nhiệm dân sự, nhưng giữa hai loại trách nhiệm này cũng có không ít sự khác nhau cơ bản đó là:
- Trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ là do các bên dự liệu trước và tự thoả thuận trong hợp đổng nên thiệt hại là điều kiện làm phát sinh trách nhiệm, còn trách nhiệm ngoài hợp đồng được pháp luật qui định bắt buộc, thiệt hại phát sinh do hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại đối với người bị thiệt hại
- Khi thực hiện trách nhiệm ngoài hợp đồng thì người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại (kể cả thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp) Việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thông thường sẽ làm chấm dứt nghĩa vụ, nhưng ngược lại với người gây thiệt hại trong hợp đồng chỉ phải bồi thường thiệt hại trực tiếp và nhũng thiệt hại tiên liệu trước khi ký kết họp đồng V iệc bồi thường thiệt hại đối với nghĩa vụ hợp đồng không hề giải phóng nguời có nghĩa vụ khỏi trách nhiệm thực hiện nghiã vụ một cách thực tế(phải tiếp tục thực hiện công việc hoặc giao vật )
- Đối với trường hơp trách nhiệm liên đới bồi thường thì giữa hai loại trách nhiệm bổi thường này cũng có sự khác nhau cơ bản Nếu nhũng người gây thiệt hại ngoài hợp đồng đa phần phải gánh chịu trách nhiệm liên đới khi
có đủ các điều kiện luật định thì trong trách nhiệm dãn sự theo hợp đồng lại chỉ phát sinh trách nhiệm liên đới khi các bên có sự thoả thuận trước
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý rằng không phải cứ hai bên có quan
hệ họp đổng thì mọi thiệt haị đều dẫn đến trách nhiệm theo họp đổng và ngược lại trách nhiệm ngoài hợp đổng cũng không chỉ phát sinh khi hai bên không có
qu an h ệ hợ p đổ n g D o đó, v ấ n đề qu a n trọng là c ầ n phải phân biệt rõ về thời
điểm phát sinh nghĩa vụ và trách nhiệm của hai loại trách nhiệm này
21
Trang 23Trong trách nhiệm bồi thường do vi phạm nghĩa vụ, thì nghĩa vụ và trách nhiệm bồi thường phát sinh ở hai thời điểm khác nhau Nghĩa là trước lúc phát sinh trách nhiệm bổi thường, giữa các chủ thể ký kết đã thoả thuận với nhau về một nghĩa vụ phải bổi thường nếu bên nào vi phạm họp đồng và việc phạt vi phạm chỉ xảy ra khi một bên vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho bên kia, lúc này mới phát sinh trách nhiệm bổi thường thiệt hại theo hợp đồng Như vậy thiệt hại xảy ra chỉ là điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Nguợc lại với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, do thời điểm phát sinh nghĩa vụ và trách nhiệm bồi thường cùng xuất hiện một lúc nên thiệt hại được coi là điều kiện vừa phát sinh nghĩa vụ vừa phát sinh trách nhiệm bởi thường thiệt hại.
V iệc nhận thức đúng về sự giống và khác nhau cơ bản giữa hai loại trách nhiệm này cũng như xác định đúng về thời điểm phát sinh nghĩa vụ và trách nhiệm của hai hình thức trách nhiệm dân sự này, sẽ giúp cho người Thẩm phán trực tiếp xét xử có những phương án xử lý đúng đắn, công bằng, bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật trong việc giải quyết các vụ án Đồng thời làm cho các qui định của chế định trách nhiệm dân sự trong việc bồi thường thiệt hại trỏ’ thành một công cụ có hiệu quả để bảo vệ các quyền, lợi ích họp pháp của các
cá nhân trước nguy cơ đe doạ của các hành vi trái pháp luật Tuy nhiên việc ngăn ngừa thiệt hại giúp đỡ người bị thiệt hại, điều chỉnh các quan hệ giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại phải dựa trên những nguyên tắc pháp luật nhất định Những nguyên tắc cụ thể được áp dụng trong việc giải quyết bổi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và uy tín được xuất phát từ những nguyên tắc cơ bản chung được ghi nhận trong Bộ luật dân sự Việt Nam Đó là: nguyên tắc tôn trọng lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (điều 2); nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền nhân thân, quyền sỏ' hữu và các quyền khác đối với tài sản (điều 5,6); nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận (điều 7); nguyên
Trang 24tắc chịu trách nhiệm dân sự (điều 10) Cũng giống như các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự, nguyên tắc bồi thường thiệt hại mang đặc tính cơ bản của pháp luật dân sự là tính tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình và sự thoả thuận của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự.
Điều 610 Bộ luật dân sự đã qui định nguyên tắc được áp dụng trong việc bồi thường đó là:
"ỉ Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời, các bên có thể thoả thuận vê mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, về phương thức bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác.
2 Người gây thiệt hại có th ể giảm mức bồi thường nếu do lỗi vô ỷ mà gây thiệt ỉiạì quá lớn so với khả năng kinh t ế trước mắt và lâu dài của mình.
3 Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế, thì người bị thiệt hại h oặc gây thiệt hại có quyền yếu cầu T oà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyên khác thay đổi mức bồi thường".
Như vậy, nguyên tắc mang tính chất nền tảng trong việc bổi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra được xác định rõ đó là: "Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời" (trừ một số trường hợp đặc biệt) Nguyên tắc này nhằm bảo vệ quyền, lợi ích họp pháp của người bị thiệt hại, khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại của các cá nhân, bảo đảm sự công bằng giữa các bên trong quá trình giải quyết các tranh chấp Đồng thời buộc người
có hành vi gây thiệt hại phải đền bù toàn bộ những thiệt hại do cá nhân mình đã gây ra bằng tài sản, bằng tiền hoặc thực hiện một công việc một cách nhanh chóng, kịp thời cho người bị thiệt hại, tạo điều kiện cho họ khắc phục tình trạng tài sản, sức khoẻ bị thiệt hại, khôi phục lại các quyền nhân thân đã bị xâm phạm Bồi thường toàn bộ cũng có ý nghĩa là thiệt hai gây ra bao nhiêu thì người gây thiệt hại phải bổi thường bấy nhiêu Đặc biệt trong trường hợp thiệt hại xảy ra do xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và uy tín,
23
Trang 25thì nguyên tắc bồi thường toàn bộ, kịp thời có ý nghĩa rất quan trọng Chính sự bồi thường kịp thời sẽ giúp ích cho nạn nhân trong việc cứu chữa hạn chế thiệt hại Thực tế cho thấy chi phí trong các trường hợp này phần nhiều vượt quá khá năng kinh tế của người bị thiệt hại.
Tuy nhiên, việc bồi thường thiệt hại nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của người bị thiệt hại còn bị ràng buộc bởi yếu tố lỗi của người gây thiệt hại Khoản 2 Điều 610 có đề cập đến việc xem xét mức độ lỗi của người gây thiệt hại khi Toà án quyết định mức bồi thường Nếu do lỗi vô ý mà thiệt hại xảy ra quá lớn
so với khả năng kinh tế trứoc mắt và lâu dài của người gây thiệt hại, thì có thể xét cho họ được giảm mức bổi thường Việc quyết định giảm mức bồi thường này đã tính đến khả năng thực thi các phán quyết của Toà án trong thực tế, đổng thời cũng thể hiện tính nhân đạo, nghiêm minh của pháp luật
Ngoài ra, mức bổi thường thiệt hại cũng không phải được ấn định một cách bất biến cho đến khi thi hành xong các khoản bồi thường, mà khi xuất hiện các căn cứ cho thấy mức độ bồi thường không còn phù hợp với thực tiễn thì người bị thiệt hại và người gây thiệt hại đều có quyền yêu cầu Toà án hoặc
cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bổi thường cho phù hợp (khoản 3 Điều 610) Nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn hiện nay, một phần do sự biến động giá cả thị trường, mặt khác do sự thay đổi những yếu
tô khách quan tác động đến cả 2 phía người bị thiệt hại và người gây thiệt hại, nên cần có sự tăng hoặc giảm mức bồi thường một cách thích họp
Đối với người bị thiệt hại có thể yêu cầu tăng mức bồi thường cho phù hợp với giá cả hiện tại hoặc cũng có thể là tăng thời hạn bồi thường do diễn biến xấu đi của tình trạng sức khoẻ dẫn đến mất hoàn toàn khả năng lao động
Y ề phía người gây thiệt hại có thể yêu cầu giảm mức bồi thường do khả năng kinh tế hiện tại không đủ để tiếp tục bồi thường hoặc do có những yếu tố khách quan khác làm thay đổi trách nhiệm bồi thường như người bị thiệt hại về sức khoẻ nay đã phục hổi khả năng lao động có thu nhập
Trang 26Ngoài những nguyên tắc nêu trên, nội dung của Điều 610 còn thể hiện một nguyên tắc rất quan trọng xuất phát từ những nguyên tắc chung của Bộ luật dân sự là: Tôn trọng sự thoả thuận của đương sự Vì vậy khi giải quyết việc bồi thường thiệt hại, các bên có thể tự do thoả thuận với nhau về mức bồi thường, hình thức bổi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc bằng một công việc, về phương thức bồi thường trừ trường hợp pháp luật có qui định khác Như vậy nhà nước sẽ chỉ can thiệp buộc người gây thiệt hại phải bồi thường khi giữa các bên đương sự không đạt được thoả thuận cần thiết hoặc không có sự tự nguyện thực hiện nghĩa vụ bồi thường của bên gây thiệt hại.
Trên cơ sở các nguyên tắc chung về bồi thường thiệt hại được qui định tại Điều 610 Bộ luật dân sự cũng như bản chất pháp lý của trách nhiệm dân sự trong việc bồi thường thiệt hại, chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu các qui định của Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại trong từng trường hợp cụ thể do xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và uy tín của các cá nhân trong xã hội
1.2 C ác qui định của Bộ luật dân sự trong việc bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và uy tín.
Một trong số những quyền nhãn thân quan trọng nhất gắn liền với mỗi cá nhân đó là quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ và tôn trọng về danh dự, nhân phẩm, uy tín Chính vì vậy Nhà nước ta đã long trọng ghi nhận việc bảo hộ các quyền này ngay trong Hiến pháp: "Ở nước Cộng hoà x ã hội chủ nghĩa Việt Nam các quyền con người v ề chính trị, dân sự, kinh tế, văn Ììtìá
và x ã hội được tôn trọng, th ể hiện ở các quyền công dân và được qui định trong Hiến pháp và luật" (điều 50 Hiến pháp 92) Căn cứ vào nhiệm vụ, mục đích, đối tượnẹ điền chinh của mình, cho nên Bộ luật dân sự đầu tiên của Việt Nam
đã qui định ngay tại điều 1 nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân và trong giao iửu dân sự
Đ ổ n g thời bộ luật đ ã dà nh toà n bộ m ụ c 2 , c h ư ơ n g II để qui định về c á c quy ền
nhân thân và một số biện pháp dân sự nhằm bảo vệ quyền nhân thân của các
25
Trang 27chủ thể Tại các điều 32, 33 qui định rất chi tiết về quyền được bảo đảm an toàn
về tính mạng, sức khoẻ, thân thể của mỗi cá nhân: "Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền nhân thân của người khác" (điều 26) Thực tiễn đã chỉ rõ cho chúng ta thấy nhóm các quyền nhân thân này luôn tồn tại với mỗi cá nhân không thể chuyển giao cho người khác, đồng thời cũng không thể đem nó trao đổi hoặc làm đối tượng mua bán, tặng, cho, đặt cược hay bảo lãnh Nhưng bản thân các quyển nhân thân này, nếu không có sự xâm phạm thì tự nó không thể phát sinh các quan hệ xã hội liên quan đến tài sản được, mà chỉ khi các quyền này bị người khác xâm phạm gây thiệt hại cả về vật chất lẫn tinh thần mới phát sinh những quan hệ xã hội liên quan đến tài sản Mỗi khi các quyển
về nhân thân của mình bị xâm phạm các cá nhân có thể lựa chọn cho mình những biện pháp để bảo vệ các quyền này bằng cách yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác:
Công nhận quyền dân sự của mình.
- Buộc chấm dứt hành vi vi phạm.
- Buộc xin lỗi, cải chính công khai.
- Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự.
- Buộc bồi thường thiệt hại.
- Phạt vi phạm." (Điều 12 Bộ luật dân sự)
Đặc biệt khi quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ và tôn trọng về danh dự, nhân phẩm, uy tín của mỗi cá nhân bị xâm phạm thì người đó
có quyền:
"ỉ Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu Toà án buộc người vi phạm chẩm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai.
2 Tự mình cải chính trên các phương tiện thông tin đại chúng.
3 Yêu cầu nqườỉ vi phạm hoặc yêu cầu Toà án buộc người vi phạm phái bồi thường thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần" (Điều 27 Bộ luật dân sự)
Trang 28Nhu' vậy, các biện pháp bảo vệ quyền dân sự nói chung cũng như các biện pháp bảo vệ quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ và tôn trọng về danh dự, nhân phẩm, uy tín được chia thành hai nhóm chính đó là:
1.2.1 Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm :
Như chúng ta đã biết sức khoẻ của con người là vốn quý của mỗi cá nhân
"Không ai được xâm phạm đến sức khoẻ, thân th ể của người khác", do vậy mọi hành vi xâm phạm gây tổn hại đến sức khoẻ của người khác đều bị coi là hành
vi trái pháp luật và phải có trách nhiệm bồi thường Song những thiệt hại về sứckhoẻ là những thiệt hại khó xác định vì không thể cân, đong, đo, đếm như những thiệt hại khác V iệc đánh giá thiệt hại chính xác bằng một khoản tiền cũng là việc cực kỳ khó khăn trong việc giải quyết các tranh chấp Vì thế, việc bồi thường thiệt hại về sức khoẻ, xét về thực chất nó mang ý nghĩa là đền bù phần nào thiệt hại về vật chất, tạo điều kiện cho nạn nhân khôi phục lại sức khoẻ, hoặc để gia đình họ khắc phục khó khăn do tai nạn gây nên, trong một số
ít truờng hợp việc bổi thường chỉ có ý nghĩa chỉ là sự trợ cấp cho nạn nhân và cho gia đình nạn nhân Theo Điều 613 Bộ luật dân sự thì những trường hợp bổi
27
Trang 29thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm sẽ đựoc tính toán thiệt hại bao gồm những khoản sau:
+ Thiêt hai là những chi phí do viêc cứu chữa, bồi dưỡng phuc hổi sức khoe vù chức năng bì mất, bi giảm sút của người bi thi-êt hai.
Vậy những chi phí nào được coi là chi phí hợp lý cho việc cứu chữa? Bởi khái niệm "Chi phí hợp lý" được quy định ở đây mới mang yếu tố định tính mà chưa mang yếu tố định lượng Hơn nữa, mức độ thiệt hại cũng như các yếu tố ảnh hưởng về không gian, thời gian của mỗi vụ việc cũng rất khác nhau Song qua thực tế xét xử thấy rằng: "Chi phí hợp lý" là những chi phí liên quan trực tiếp đến việc khắc phục hậu quả của hành vi gây thiệt hại về sức khoẻ cho nạn nhân Các chi phí được coi là hợp lý cho việc cứu chữa vết thương gồm có: Các khoản chi phí khám chữa bệnh như: chi phí sơ cứu ban đầu, tiền thuốc theo đơn của bác sĩ, tiền điều trị gồm các chi phí khác để điều trị ngoài đơn thuốc như tiền chụp phim, điện não đồ, phẫu thuật, truyền dịch thay thế các bộ phận của cơ thể, tiền giám định sức khoẻ hoặc là các khoản viện phí đối với những người phải điều trị nội trú Điều cần lưu ý là tất cả những chi phí này phải có chứng từ họp lệ mới được coi là chi phí hợp lý Nhất là tiền thuốc, phải là những loại thuốc được mua theo đơn chỉ định của bác sĩ điều trị Tuy nhiên, trong điều kiện dịch vụ y tế phát triển như hiện nay thì ngoài việc khám chữa bệnh hoặc điều trị ở các cơ sở y tế của nhà nước thì người bị thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm còn có thể khám chữa bệnh và điều trị tại ở các cơ sỏ' khám chửa bệnh của tư nhân Điều này cũng sẽ được coi là hợp lý nếu các chi phí khám chữa bệnh ở nhũng cơ sỏ' này là các chi phí ở mức trung bình, sự chênh lệch giá cả so với các cơ sở y tế của nhà nước không là quá nhiều Trường hợp người bị hại do quá lo lắng đến sức khoẻ đã chi phí khám chữa bệnh và điều trị theo chế độ đặc biệt như thuê phòng riêng, có điều hoà nhiệt độ, đưa ra điều trị
ở nước ngoài chi phí quá tốn kém so với bình thường thì không thể coi là hợp
lý được
Trang 30Ngoài các khoản chi phí về khám chữa bệnh, thuốc men để cứu chữa vết thương, người gây thiệt hại còn phải có trách nhiệm bổi thường khoản tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ (trước và sau khi ra viện) và chi phí để mua sắm các phương tiện kỹ thuật cần thiết nhằm để phục hồi chức năng bị mất, bị giảm sút cho người bị thiệt hại như tiền làm chân, tay, lăng, mắt giả hoặc tiền mua xe lăn Về khoản bồi thường này khi tính toán cũng cần lưu ý vào giá cả thị trường và mức sống chung của địa phương, cũng như-bản thân của người bị thiệt hại tại thời điểm phát sinh chi phí, chứ không thể buộc người gây thiệt hại phải bồi thường mọi khoản bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ theo yêu cầu vô hạn của người bị thiệt hại được.
+ Thiêt hai do thu nhâp thưc t ế bi mất hoăc bi giảm sút của người bi tĩìiêt hai Nếu thu nhâp thưc t ế của người bi thiêt hai không ổn đinh và không thể xác đinh đươc thì áp dung mức thu nhâp trung bình của lao đông, cùng loai.
Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút là khoản thu nhập không thu được của người bị thiệt hại trong hoặc sau thời gian điều trị do họ phải nghi việc để điều trị hay mất khả năng lao động Nó cũng là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập có được trước khi sức khoẻ bị xâm hại V í dụ: Chị Nguyễn Thị D
là diễn viên múa Balê có thu nhập thực tế là 800.000đ/ 1 tháng, do bị tai nạn gẫy chân nên mất khả năng lao động nghệ thuật, không còn thu nhập thì khoản thu nhập bị mất là phần thu nhập tương ứng với thu nhập của chị D trước khi xảy ra tai nạn do vậy 800.000đ/tháng được coi là thu nhập thực tế bị mất của chị Đ
Trường hợp sau khi sức khoẻ bị xâm hại người bị nạn vẫn có thu nhập thì mức chênh lệch giữa thu nhập trước và sau khi sức khoẻ bị xâm hại được coi là phần thu nhập thực tế bị giảm sút V í dụ: Lái xe H có thu nhập thực tế là
1 OOO.OOOđ/ tháng sau khi bị đánh gây thương tích không còn đủ sức khỏe để lái xe, H đã phải chuyển sang làm thợ chữa ô tô với thu nhập là 600.000đ/
l tháng như vậy thu nhập thực tế bị giảm sút của lái xe H là 400.000đ/ tháng
29
Trang 31Vấn đề đặt ra ỏ' đây là trong thời điểm kinh tế thị trường hiện tại thì cách tính thu nhập bị mất dựa trên những nguồn nào? Theo chúng tôi trước hết thu nhập bị mất phải là những thu nhập thường xuyên bao gồm những khoản như sau: Thu nhập chính, thu nhập phụ thường xuyên và hợp pháp (không thể thừa nhận các thu nhập do làm ăn vi phạm pháp luật mà có như: buôn lậu, trốn thuế, đánh bạc, lô, đề )
Tuy nhiên, các thu nhập thường xuyên này còn phụ thuộc vào các đối tượng chủ thể Đối với công nhân viên chức thì thu nhập thường xuyên bao gồm: Tiền lương, tiền thưởng, tiền phúc lợi và một số khoản thu nhập phụ do làm thêm giờ với điều kiện là công việc ngoài giờ này phải là công việc thường xuyên, ổn định và hợp pháp
Nếu người bị thiệt hại làm nghề sản xuất kinh doanh phải nộp thuế thì thu nhập của họ được tính căn cứ vào doanh thu chịu thuế trừ đi số vốn, số thuế phải nộp, chi phí sản xuất, chi phí dịch vụ (có xác nhận của cơ quan nhà nước
^ có thẩm quyền) Tuy vậy, thu nhập bị mất chỉ được coi là những khoản trong doanh thu hợp pháp còn những khoản thu nhập từ sản xuất kinh doanh ngoài đăng ký sẽ không được tính để bồi thường, vì đây là thu nhập không được coi là hợp pháp
Còn với những hộ làm kinh tế cá thể hay nhiều người cùng góp vốn kinh doanh, thì cũng phải tính theo cách trên đồng thời phải phân bổ hợp lý cho những người cùng tham gia sản xuất kinh doanh Từ đó, xác định thu nhập bị mất của người bị thiệt hại
ở nông thôn đối với những người sản xuất nông nghiệp thì phải lấy tổng
số hoa màu thu hoạch trong năm trừ đi các chi phí cần thiết cho sản xuất rồi chia bình quân đầu người ra số thu nhập của người bị thiệt hại
Trường hợp thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định hay không thể xác định được, ví dụ: như những người bán hàng rong không có đăng
ký kinh doanh, hay buôn chụyêìi, đường dài (thu nhập của họ còn phụ thuộc
Trang 32vào việc có bán được hàng hay không ) thì khi tính toán mức thu nhập bị mất cần áp dụng theo mức thu nhập trung bình của người lao động cùng loại.
Tuy nhiên, có phải trong mọi trường hợp bị xâm phạm về sức khoẻ, người bị thiệt hại cũng được bổi thường một khoản thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút không? Có quan điểm cho rằng trong mọi trường hợp bất luận thế nào, người bị thiệt hại về sức khoẻ cũng sẽ tất yếu dẫn đến thu nhập bị mất hoặc bị giám sút, do vậy cần phải buộc người gây thiệt hại bổi thường cho họ một khoản thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút để cho họ đỡ bị thiệt thòi, và đây chính
là cơ sở vật chất để họ phục hổi sức kfy)ẻ, là điều kiện giải quyết những khó khăn do sức khoẻ bị tổn hại gây ra Từ căn cứ này thì cách tính toán thu nhập
sẽ là lấy thu nhập bình quân của lao động phổ thông nơi cư trú của người bị hại
để "suy ra tương ứng” trên cơ sở mức độ sức khoẻ bị tổn hại
Chúng tôi không đồng tình với quan điểm này bởi xét về căn cứ tính toán thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút theo qui định của điều luật thì nhất thiết thì phai có các điều kiện:
- Phải có thu nhập thực tế (được xác định hoặc.phải có căn cứ để xácđịnh)
- Phải có sự giảm sút hoặc bị mất thu nhập của người bị hại do sức khoẻ
bị tổn hại
Hơn nữa trong thực tế chúng ta thấy rất nhiều trường hợp người bị thiệt hại do sức khoẻ bị tổn hại không hề bị mất thu nhập hoặc bị giảm sút thu nhập trong và sau khi bị xâm hại về sức khoẻ chẳng hạn những người không có thu nhập như người già đã mất sức lao động, trẻ em chưa có sức lao động để có thu nhập, người mất trí Hoặc như cán bộ công nhân viên chức, quân nhân đang hưởng lương và người già có lương hưu cá biệt có người sau khi bị thiệt hại
vổ sức lchoẻ lại có công việc làm khác có thu nhập cao hơn trước Do vậy, chỉ khi nào thoả mãn cả 2 điều kiện trên thì người bị thiệt hại mới được bổi thường
k h o á n mất hoặc giám sút thu nhập
Trang 33Ngoài ra, người già đã mất sức lao động hay trẻ em chưa có sức lao động nhưng thực sự có làm những công việc nhẹ nhàng góp phần vào thu nhập chung của gia đình thì cũng có thể tính cho được hưởng phần thu nhập này Hoặc trường họp nạn nhân tuy chưa có thu nhập nhưng nếu không vì hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì họ đã chắc chắn có thu nhập ngay trong thời gian tới, thì cũng được coi là thiệt hại thực tế bị mất hoặc bị giảm sút để đền bù.
+ Tì nét hai là những chỉ phí hơp lý và phần thu tìỉìâp thưc t ể bi mất của người chăm sóc người bi thiêt hai trong thời gian điều tri; nếu người, bi tìiiêt hai mất khả năng lao đông và cần có mười thưòno xuyên chăm sóc, thì thiêt hqi bao gồm cả chi phí hơ}2_ lý cho viêc chăm sóc người, bi tỉiiêt hai và khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bi thiêt hai có nghĩa vu cấp dưõtìịỉ, nếu có.
Như vậy, ngoài các khoản chi phí cho chính bản thân người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại còn phải bồi thường những chi phí và thu nhập thực tế bị mất cho người trực tiếp chăm sóc người bị hại trong thời gian điều trị vết thương Những khoán này gồm có tiền tàu, xe đi lại, tiền ăn, ở, thu nhập bình quân hàng tháng của họ Trường hợp sau khi bị xãm phạm sức khoẻ, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và không tự phục vụ những sinh hoạt tối thiểu cho bản thân, cần phải có người thường xuyên chăm sóc và họ cũng không còn khả năng cấp dưỡng cho những người mà họ vẫn thường xuyên cấp dưỡng, thì người gây thiệt hại cũng phải có trách nhiệm bồi thường cả những khoản này
Tuy nhiên, có những ý kiến cho rằng theo qui định của khoản 3 Điều
613 Bộ luật dân sự thì liệu "khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dường" trong trường họp bị xâm phạm tới sức khoẻ có trùng với khoản tiền bồi thường do thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút không? Nếu là không thì nghĩa là người bị thiệt hại được bồi thường 2 lần Họ vừa được bổi thường tiền thu nhập bị mất, bị giảm sút lại vừa được bồi thường tiền cấp dượng cho những người mà họ phải cấp dưỡng, như vậy là không hợp lý vì thực
tế chính khoản tiền dùng để cấp dưỡng cho vợ, con, cha, mẹ hàng ngày, hàng
Trang 34tháng của người bị thiệt hại, phải nằm trong khoản thu nhập thường xuyên của
họ Do đó, theo chúng tôi đây cũng là vấn đề cần được làm rõ trong văn bản hướng dẫn thi hành những qui định của Bộ luật dân sự một cách cụ thể nhằm tạo cơ chế xét xử thống nhất giữa các cấp, các ngành
+ Trong niôt s ố trường hoy, người, có hành vi gâý thiệt hai do xâm ỵhaỵn đến sức kỉioẻ của người khác còn có trách nhiêm phải bồi thường cho người bi hai môt khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó phải gánh chiu
Tổn thất về tinh thần mà người bị thiệt hại phải gánh chịu là một khái niệm hoàn toàn mới, lần đầu tiên được qui đinh trong Bộ luật dân sự Việt Nam Đây là một khái niệm mang nghĩa trìu tượng Từ thực tiễn xét xử thấy rằng thiệt hại tinh thần ở mỗi người, mỗi hoàn cảnh cụ thể khác nhau, vì vậy không thể tìm được mức bồi thường chung cho mọi trường hợp và việc tính thành tiền một cách chính xác khoản tổn thất này cũng là cực kỳ khó Mặt khác, tổn thất về tinh thần là nhũng thiệt hại phi vật chất, không mang tính kinh
tê nên không thể cân đong, đo đếm và khôi phục lại hoàn toàn tình trạng ban đầu như những thiệt hại về vật chất thông thưòng được Do vậy, điều luật qui định cũng mang tính chất tuỳ nghi, người Thẩm phán khi xét xử cần phải thận trọng xem xét cân nhắc để xác định tổn thất tinh thần đối với khi sức khoẻ bị xâm hại dựa trên những dấu hiệu của từng cá nhân người bị hại một cách cụ thể như: Tinh trạng gia đình, độ tuổi, nghề nghiệp, mức độ thiệt hại, bộ phận nào của cơ thể bị thiệt hại từ đó mới có quyết định mức bồi thường về tinh thần trong những t rường hợp cần thiết
Việc qui định khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần buộc người gây thiệt hại phải bồi thường, chính là biện pháp mà pháp luật áp dụng để bắt người
có hành vi trái pháp luật gây tổn hại đến sức khoẻ của ngươi khác phải có trách nhiệm không chỉ bù đắp sự mất mát về chi phí vật chất trước mắt cho người bị hại, mà buộc họ còn phải phần nào chia sẻ nỗi đau đớn khôn nguôi, kéo dài theo năm tháng của sự tàn phế vĩnh viễn mà không gì có thể thay thế được
33
Trang 35Nói tóm lại, việc xác định những thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm là rất phức tạp, có những thiệt hại là vĩnh viễn, nhưng có những thiệt hại chỉ là tạm thời Thiệt hại về sức khoẻ còn phụ thuộc vào những đối tượng chủ thể khác nhau tu ỳ theo lứa tuổi, giới tính, hoàn cảnh, nghề nghiệp Song tựu trung lại thì sức khoẻ của con người đều là vô cùng quý giá, đã mất mát thì khổng có gì thay thế được Nhưng không phải vì thế mà việc bổi thường thiệt hại do có hành vi xâm phạm đến sức khoẻ là vô hạn được Do đó, việc tính toán
để xác định mức độ bồi thường thiệt hại từ những căn cứ trên của Bộ luật dân
sự sẽ phần nào bảo vệ lợi ích của người bị thiệt hại nhằm khắc phục hậu quả của hành vi gãy thiệt hại trong từng trường họ'p cụ thể
1.2.2 Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
Mỗi cá nhân đều có quyền "được bảo đảm an toàn về tính mạng" đây cũng là một nguyên tắc Hiến định Do đó bất cứ ai, vì bất cứ ìý do gì cũng không được xâm phạm đến tính mạng của người khác Các hành vi nhằm tước đoạt sinh mạng của người khác dù là vô ý hay cố ý, thì ngoài việc chịu trách nhiệm hình sự, người có hành vi trái pháp luật này còn phải có trách nhiệm bổi thường thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng của người khác Nếu sức khoẻ con người được coi là vốn quí, thì tính mạng của con người ỉà vô giá, không thể tính bằng tiền được Vì vậy khi giải quyết các vụ án hình sự cũng như dân sự có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, Toà án đã rất khó khăn trong việc xác định thiệt hại X ét về cơ bản những thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm cũng là dạng cụ thể của loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài họp đổng song cái khó là ở chỗ có sự tranh chấp rất lớn về thiệt hại giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại Phía gia đình nạn nhân do quá thương đau vì mất người thân nên cho rằng có bồi thường bao nhiêu đi nữa thì
họ cũng không lấy lại được người thân, vì vậy cố đưa ra các khoản chi phí như tiền thuốc, tiền thăm nuôi, tiền mai táng p h í với số lượng lớn, không phù họp với thực tế Nế u có giải thích hoặc yêu cầu bóc tách cụ thể các khoản chi phí
Trang 36thì họ lại cho rằng truy bức gay gắt họ, phát sinh khiếu kiện đi nhiều nơi Ngược lại phiá gây ra thiệt hại cũng cho rằng những chi phí đó không đúng với thực tế và quá lớn không thể bổi thường theo yêu cầu của người bị hại được.
Vì vậy, khi xét xử Hội đổng xử án phải cân nhắc sao cho ra được một bản án vừa thấu được tình, đạt được lý để phần nào thoả mãn cho phía bị hại, đồng thời cũng buộc được người gây thiệt hại phải bổi thường đúng những thiệt hại mà họ đã gây ra X ét về bản chất, mục đích việc xét xử của Toà án không chỉ có việc định tội, lượng hình để xử phạt tù hay buộc trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhằm thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, mà thông qua đó còn có tác dụng đảm bảo sự công bằng xã hội cũng như tác dụng giáo dục ý thức pháp luật và phòng ngừa chung Muốn vậy, người Thẩm phán phải nắm được những căn cứ pháp lý rõ l àng để có thể đưa ra những quyết định đúng đắn nhằm chấm dứt sự khiếu kiện kéo dài vô ích
Theo Điều 614 Bộ luật dân sự, thì các căn cứ để xác định thiệt hại do xâm phạm tính mạng gồm có:
" ỉ Chi phí hợp ỉý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bi thiệt hại trước khi chết.
2 Chi p h í hợp lý cho việc mai táng.
3 Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt, hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.
4 Tuỳ từng trường hợp mà Toà án quyết định buộc người gãy thiệt hại
p h ải bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất v ề tinh thần cho những người thân thích gẩn gũi nhất của nạn nhân”
Về nguyên tắc những chi phí họp lý cần thiết cho việc cứu chữa, chăm sóc, bồi dưỡng cho nạn nhân trước khi chết được tính toán và giải quyết như trường họp thiệt hại do sức khoẻ bị xâm hại (Điều 6 L3, khoản 1) Tuy các khoản chi phí này không giúp được cho việc cứu sống nạn nhân, song vì cuộc sống của con người là quý nhất, do đó dù chỉ còn "một phần nghìn hy vọng" thì
35
Trang 37với phương châm nhân đạo "còn nước còn tát" nên mọi biện pháp chăm sóc, cứu chữa nạn nhân vẫn phải được thực hiện Khi các nạn nhãn chết thì các chi phí được coi là hợp lý cho việc mai táng phải là những chi phí cần thiết, bảo đảm vệ sinh, phù họp với phong tục tập quán của từng địa phương cũng Iihư truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc theo đúng qui định của pháp luật.
Vậy những chi phí mai táng nào được coi là hợp lý theo điều luật và phù hợp với phong tục tập quán của từng địa phương? ở một số địa phương có rất nhiều thủ tục mai táng tốn kém, rườm rà Chẳng hạn ở Huế có đám tang được quàn trong nhà 7 ngày đêm rồi mới đem chôn, kéo theo là những khoản chi tiêu khác, hoặc ở một số thành phố lớn hiện nay các gia đình tang quyến còn phải chi các khoản như thuê nơi quàn áo quan để phúng viếng, mua đất mai táng, tiền thuê hoả táng
Theo chúng tôi, những chi phí mai táng được coi là hợp lý, phù hợp phong tục tập quán bao gồm các chi phí thông thường cho một đám tang như: Tiền mua quan tài, vải liệm, vải xô làm khăn tang, hương nến, bia khắc trên mộ chí, tiền phóng ảnh thờ, thuê xe tang và một số chi phí vặt họp lý khác Trường hợp tai nạn xảy ra cách nơi ở của nạn nhân xa thì tiền mai táng phí còn bao gồm cả các chi phí thuê xe đưa xác nạn nhân về quê mai táng và tiền tàu xe đưa những người thân gần gũi nhất như cha, mẹ, vợ chồng hay con cái họ đến nơi xảy ra tai nạn để lo chôn cất, tiền trọ, ăn ở cho người thân đi lo chuyện mai táng Ngoài nhũng chi phí này thì nhũng chi phí khác như tổ chức ăn uống, cúng giỗ linh đình, bốc mộ, lên chùa không được coi là chi phí hợp lý để bồi thường Tuy nhiên cũng cần căn cứ vào giá cả trung bình của từng địa phương
để tính toán sao cho gia đình người bị thiệt hại đỡ thiệt thòi
Theo khoản 3 Điều 614 thì các khoản bổi thường thiệt hại do tính mạng
bị xâm phạm còn bao gồm cả tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng Khái niệm "tiền cấp dưỡng" là khái niệm lần đầu tiên được sử dụng, trước đây khi chưa có Bộ luật dân sự thì khoản bổi
Trang 38thường này được coi là tiền đền bù vào thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút của nạn nhân (thông tư 173 ngày 23/3/1972) Như vậy mặc dù đều là khoản tiền mà người gây thiệt hại có trách nhiệm phải bồi thường cho những người mà nạn nhân phải riuôi dưỡng, song rõ ràng khái niệm "tiền cấp dưỡng" được qui định trong Bộ luật dân sự là khái niệm rộng hơn, khác với nội dung, tính chất và mục đích Tại sao vậy? Bởi xét về thực chất khoản thu nhập bị mất của nạn nhân chỉ là một khoản trợ cấp mang tính tạm thời nhằm giúp thân nhân người
bị hại khắc phục khó khăn trước mắt sau khi nạn nhân chết, chứ không phải để báo đảm cuộc sống của gia đình họ về lâu dài VI vậy khoản tiền này là cố định, không đổi và xác định dựa trên thu nhập bình quân hàng tháng thực tế của nạn nhân (sau khi đã trừ các khoản chi phí cần thiết cho bản thân khi còn sống) Khoản bồi thường này trước đây vẫn ấn định khoảng thời gian từ 3 đến 5 năm Theo cách hiểu này, trong trường họp tính mạng bị xâm phạm, nếu nạn nhân có thu nhập thì gia đình họ sẽ được bồi thường khoản thu nhập bị mất do nạn nhân chết V iệc bồi thường không phụ thuộc vào việc khi còn sống nạn nhân có phải cấp dưỡng cho ai hay không và khoản tiền này phải làm bồi thường một lần (trừ trường hợp có sự đồng ý của gia đình nạn nhãn và có sự công nhận của Toà án mới có thể thực hiện làm nhiều lần)
Ngược lại, hiểu theo qui định mới của Bộ luật dân sự thì khoản "tiền cấp dưỡng" cho những người mà nạn nhãn có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống là khoản tiền mà người gây thiệt hại phải thực hiện nghĩa vụ thay nạn nhân để nuôi dưỡng những người mà khi còn sống nạn nhân có nghĩa vụ phải cung cấp tiền để nuôi dưỡng Khoản cấp dưỡng này mục đích nhằm bảo đảm cho những người được cấp dưỡng một CUỘC sống tối thiểu như lúc nạn nhân còn sống, cho đến khi họ trưởng thành hoặc có thu nhập nuôi sống bản thân Người gây thiệt hại phải thực hiện khoản tiền trợ cấp này thường xuyên (hàng tháng, quý) với thời hạn không thể là 3 hay 5 năm được Đồng thời mức cấp dưỡng này có thể
bị thay đổi theo qui định tại Điều 610 khoản 3 Bộ luật dãn sự Như vậy, không
37
Trang 39phải mọi trường hợp xâm phạm đến tính mạng, người gây thiệt hại đều phải bổi
th ườn g kh o ản tiền c ấ p dư ỡn g này , m à kh oả n bổi thường n à y chỉ phát sinh nếu
nạn nhân khi còn sống là người có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với người khác
Cũng có thể sau khi nạn nhân chết một thời gian, trách nhiệm về khoản tiền cấp
dưỡng mới phát sinh (ví dụ như 8 tháng sau khi nạn nhân chết, đứa con thành
thai của nạn nhân mới ra đời hoặc 5 đến 7 năm sau bố mẹ nạn nhân mới không
còn khả năng lao động và không có thu nhập) Do đó người gây thiệt hại sẽ
không phải bồi thường khoản tiền cấp dưỡng nếu khi còn sống nạn nhân không
có trách nhiệm phải cấp dưỡiig cho ai đổng thời trách nhiệm cấp dưỡng cũng
kết thúc ngay nêú những người trước đây được hưởng tiền cấp dưỡng không
còn ai đủ điều kiện được hưởng tiền cấp dưỡng theo qui định của pháp luật
Về các đối tượng được hưởng tiền cấp dưỡng khi nạn nhân chết rất khác
ìứiau, vì vậy việc xác định các đối tượng được cấp dưỡng nhiều khi rất khó
khăn nếu họ sống trên nhiều địa phương khác nhau So với diện những người
được hưởng tiền bổi thường tổn thất về tinh thần, thì những người được hưởng
tiền cấp dưỡng rộng hơn, không cần phụ thuộc vào quan hệ ruột thịt, thân thích
cũng như thời hạn họ được nạn nhân cấp dưỡng khi còn sống Bởi vì theo qui
định chung của pháp luật người được hưởng tiền cấp dưỡng trong những trường
hợp nạn nhân chết chỉ cần có 2 điều kiện:
"7 Họ là những người không có khả năng lao động và không cố thu nhập
hoặc tuy có nhưng không đủ nuôi sống bản thân.
2 Được nạn nhân trực tiếp nuôi dưỡng (cũng có th ể họ sống trong cùng một nhà, một gia đình) hoặc tuy sống ở nơi khác nhưng nguồn sống chủ yếu là
do nạn nhân cung cấp (như bố, mẹ già sống ở quê, con cái chưa trương thành
sống với vợ hoặc chồng đ ã ly hôn )"
Nếu thiếu một trong hai điều kiện trên thì những người này sẽ không
được hưởng tiền cấp dưỡng Việc xác định đúng những người thuộc diện hưởng
tiền cấp dưỡng có ý nghĩa quyết định trong việc định mức tiền cấp dưỡng cụ thể
Trang 40đối với từng người, nhất là trong những trường hợp những người cấp dưỡng sống ở nhiều địa phương khác nhau; hoặc sống chung cùng một gia đình nhưng quyền lợi giữa họ không thống nhất với nhau.
Ngoài các khoản bồi thường trên đây, tuỳ tùng trường hợp người gây thiệt hại tính mạng cho ngươi khác cũng phải bồi thường một khoản tiền "bù đắp tổn thất về tinh thần" giống như trường hợp có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến sức khoẻ của người khác Song sự khác nhau cơ bản giữa hai trường hợp này đó là: Việc bù đắp những tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến sức khoẻ là bồi thường trực tiếp cho cá nhân người bị thiệt hại về sức khoẻ để giúp
họ phục hồi sức khoẻ, còn khoản tiền bù đắp về tinh thần trong trường hợp tính mạng bị xâm hại lại bồi thường cho những người thân thích, gần gũi nhất của nạn nhârì
Tuy nhiên, vì đều là những thiệt hại do tổn thất về tinh thần nên nó cũng mang ý nghĩa trìu tượng và khó xác định một cách chính xác tuyệt đối trong mỗi trường họp cụ thể được Do đó, nguyên tắc "bồi thường toàn bộ thiệt hại"
không thể áp dụng triệt để đối với khoản tổn thất về tinh thần này được, việc xác định mức độ thiệt hại chỉ ở mức tương đối
Tổn thất về tinh thần do bị mất người thân là cha, mẹ, vợ hoặc chồng được hiểu là những đau đớn, mất mát về tình cảm, sự hụt hẫng và sụp đổ về tinh thần mà những người thân thích, gần gũi nhất của nạn nhân phải gánh chịu Vết thương lòng cũng như những mất mát, đau đớn này có ảnh hưởng rất lớn không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ, sự tham gia bình thường của thân nhân các nạn nhân vào các hoạt động văn hoá, kinh tế, xã hội mà còn kéo theo các hậu quả nghiêm trọng hơn, cũng có thể gây ra những cú sốc làm thân nhân của nạn nhân bị rối loạn tâm thần, ốm nặng hoặc chết V í dụ: Một người mẹ goá bụa chỉ sinh được một người con duy nhất Khi bị tai nạn đứa con chết thì nỗi đau của người mẹ đó lớn gấp nhiều lần.trong những hoàn cảnh tương tự của những người mẹ có nhiều con
39