1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề cơ bản của việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thương phiếu ở việt nam

105 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 10,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thực tế, tuỳ theo pháp luật từng quốc gia, thương phiếu có thể bao gồm hối phiếu đòi nợ Bill of Exchange, hối phiếu nhận nợ Promissory Note, séc Cheque và chứng chỉ tiền gửi có thể

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Đoàn Thái Sơn

NHỮNG VẤN ĐỂ Cơ BẢN CỦA VIỆC XÂY DựNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Trang 3

M Ụ C L Ụ C

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỂ CHƯNG VỂ QUAN HỆ THƯƠNG PHIÊU

VẢ PHÁP LUẬT ĐIỂU CHỈNH QUAN HỆ THƯƠNG PHIÊU 7

1.1 NHŨNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUAN HỆ THƯƠNG PHIÊU 7

1.1.3 Căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ thương phiếu 291.1.4 Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ thương phiếu 30

1.2 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ THƯƠNG PHIÊU 35

CHƯƠNG 2: NỘI DƯNG c ơ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỂ THƯƠNG PHIẾU

ở CÁC NƯỚC VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ

2.1 NHŨNG NỘI DUNG c ơ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG PHIÊU 41

2.1.2 Quy định về hình thức và các yếu tố bắt buộc của thương phiếu 422.1.3 Quy định về phát hành thương phiếu và trách nhiệm của

2.1.6 Quy định về nhờ thu, cầm cố thương phiếu 51

Trang 4

2.1.9 Quy định về truy đòi thương phiếu 542.1.10 Quy định về khởi kiện và thẩm quyền giải quyết tranh chấp

2.3 CÁC QUY ĐỊNH KHÁC LIÊN QUAN ĐÊN q u a n h ệ t h ư ơ n g p h iê u 6 4

2.3.1 Quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Toà án và

CHƯONG 3: VẤN ĐỂ XÂY DỰNG PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG PHIẾU ở

3.1 SỰCẦN THIẾT KHÁCH QUAN PHẢI XÂ Y DỤNG PHÁP LUẬT VỀ

3.1.2 Đặc điểm của nền kinh tế nước ta ảnh hưởng tới việc xây dựng

3.1.3 Yêu cầu đối với việc xây dựng pháp luật về thương phiếu 71

3.2 MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG XÂ Y DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG PHIÊU

Trang 5

Trước năm 1986, do yêu cầu của hoàn cảnh lịch sử, nền kinh tế nước

ta được xây dựng và vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung với hai thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Các quan hệ hàng hoá - tiền tệ trong xã hội vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung Hoạt động kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở hoàn toàn phụ thuộc vào việc cấp phát nguyên vật liệu và bao tiêu sản phẩm của Nhà nước Trong điều kiện đó, quan hệ tín dụng thương mại chưa được thừa nhận, hoạt động tín dụng ngân hàng mà thực chất là tín dụng Nhà nước được cấp phát thông qua hệ thống ngân hàng nhà nước cho các xí nghiệp quốc doanh, hợp tác xã là hình thức chủ đạo cung ứng vốn cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế Do vậy, các quy định pháp luật về tín dụng thương mại chưa được ban hành trong giai đoạn này

Từ năm 1986 trở lại đây, cùng với việc thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện mọi mặt kinh tế - xã hội của đất nước, nền kinh tế nước ta đã chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá rập trung bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Hoạt động trong cơ chế thị trường, quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được đề cao, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế thị trường Các quan hệ hàng hoá - tiền tệ ngày càng sôi động và phong phú, sự chu chuyển đồng vốn ngày càng đa dạng, phức tạp Trong lĩnh vực ngân hàng, nhiều nghiệp vụ ngân hàng mới, hiện đại được đưa vào sử dụng, đặc biệt các ngân hàng thương mại đã cung cấp nhiều các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt trên cơ sở ứng dụng công nghệ hiện đại như chuyển tiền điện tử, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng ngân hàng Tuy nhiên, do xuất phát từ nền kinh tế sản xuất nhỏ, lạc hậu, hầu hết các doanh nghiệp nước ta có quy mô sản xuất, kinh doanh nhỏ bé, nguồn vốn kinh doanh hạn hẹp, không đáp ứng được nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh của mình Mặt khác, việc tiếp cận vốn vay ngân hàng còn nhiều khó khăn do thủ tục phức tạp, kéo dài, nên tình trạng doanh nghiệp

Trang 6

phải hoạt động trong tình trạng thiếu vốn là phổ biến Trong khi đó, hoạt động tín dụng thương mại dưới hình thức phát hành và lưu thông thương phiếu (một hình thức tín dụng trực tiếp giữa các doanh nghiệp khá thông dụng trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường) lại chưa được tiếp cận, sử dụng do rủi ro lớn và chưa được thể chế hoá Để đáp ứng sự thay đổi của các quan hệ kinh tế, Nhà nước ta lần lượt ban hành nhiều đạo luật, pháp lệnh, văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế mới phát sinh trong cơ chế thị trường Tuy nhiên, các văn bản quy phạm pháp luật về thương phiếu chưa được ban hành Thực trạng này đòi hỏi Nhà nước phải quan tâm xây dựng, ban hành các quy định về tín dụng thương mại nói chung, về phát hành và sử dụng thương phiếu nói riêng.

Mặc dù đã tồn tại hàng trăm năm ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, nhưng ở nước ta thương phiếu vẫn là vấn đề mới mẻ, do đó, việc đưa thương phiếu vào sử dụng đặt ra nhiều vấn đề có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn như sự tồn tại khách quan của thương phiếu trong cơ chế thị trường, bản chất quan hệ thương phiếu, vai trò của thương phiếu đối với nền kinh tế; sự hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ thương phiếu; việc xây dựng pháp luật điều chỉnh quan hệ thương phiếu xuất phát

từ nhu cầu thực tiễn nào và dựa trên cơ sở khoa học nào Để có cơ sở cho việc xây dựng các quy định pháp luật về thương phiếu ở nước ta cần có các công trình nghiên cứu nhằm xây dựng lý luận vẻ quan hệ thương phiếu trong điều kiện kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước

ta Đây chính là lý do để chúng tôi chọn đề tài “Những vârt đê cơ bản của

việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật vê thương phiếu ở Việt Nam” làm luận án thạc sỹ luật học

2 Tình hình nghiên cứu.

Do quan hệ thương phiếu là vấn đề mới ở nước ta nên chưa được các luật gia quan tâm tìm hiểu Tuy nhiên, trong lĩnh vực thương mại, ngân hàng, quan hệ thương phiếu đã được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học

Có nhiều bài viết của các nhà kinh tế bàn về thương phiếu như “Hối phiếu

và vai trò của hối phiếu trong nền kinh tế thị trường” của Đào Quốc Tính (Tạp chí Thông tin Khoa học Ngân hàng Ngân hàng số 04/1996 trang 25,

Trang 7

26); “Tương lai hoạt động hối phiếu tại Việt Nam” của Tiến Linh (Tạp chí Thị trường tài chính Tiền tệ số 1+2/1997 trang 27, 28); “Một vài suy nghĩ

về chiết khấu thương phiếu” của Đào Minh Dân (Tạp chí Thông tin Khoa học Ngân hàng số chuyên đề Séc và một số vấn đề thanh toán của ngân hàng hiện nay ở Việt Nam năm 1997 trang 38-41); “Một số ý kiến về phát triển tín dụng chiết khấu hối phiếu và lệnh phiếu ở nước ta” của Nguyễn Tiến Minh (Tạp chí Ngân hàng số 09/1998 trang 19, 20); “Chiết khấu thương phiếu - nghiệp vụ còn bỏ ngỏ” của Hà Cúc (Tạp chí Ngân hàng số 14/1998 trang 16, 17); “Lại bàn về thương phiếu” của Phan Lê (tạp chí Thị trường - Tài chính - Tiền tệ số 09/1998 trang 19, 20); “Tín dụng thương mại và các hình thức của nó” của Xuân An (Tạp chí Thông tin Thương mại

số 19/1998 trang 18-27); “Để hạn chế rủi ro tín dụng cần mở rộng nghiệp

vụ hoạt động” của Hoàng Quí Vương (Tạp chí Ngân hàng số 19/1998 trang 21-24); “Thương phiếu và lưu thông thương phiếu” của Vũ Minh (Tạp chí Ngân hàng số 23/1998 trang 17, 18); “Tín dựng Thương mại góp phần thoả mãn nhu cầu vốn của nền kinh tế” của Lê Văn Hải (Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ số 4/1999 trang 13, 14)

Nhìn chung, trong các bài viết của mình, các tác giả chỉ dừng lại ở việc đề cập khía cạnh kinh tế của quan hệ thương phiếu như nêu rõ vai trò của thương phiếu đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, vai trò của hoạt động chiết khấu thương phiếu đối với việc thoả mãn nhu cầu vốn của các doanh nghiệp, sự cần thiết phải đưa thương phiếu vào sử dụng ở nước ta Các tác giả cũng khẳng định việc cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu thương phiếu có vai trò quan trọng để mở rộng hoạt động tín dụng ngân hàng nhất là trong điều kiện hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại nước ta hiện nay đang gặp nhiều khó khăn Các bài viết trên là nguồn tài liệu tham khảo cần thiết cho chúng tôi thực hiện

đề tài “Những vấn đề cơ bản của việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thương phiếu ở Việt Nam”

3 Mục tiêu và nhiệm vụ của Luận án.

Trong Luận án của mình, thông qua việc nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận về quan hệ thương phiếu, pháp luật điều chỉnh

Trang 8

quan hệ thương phiếu ở một số nước trên thế giới và trong khu vực, sự ảnh hưởng, chi phối của các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành dối với quan hệ thương phiếu, chúng tôi muốn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng nội dung pháp luật điều chỉnh quan hệ thương phiếu

ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Để đạt được mục tiêu trên, Luận án có các nhiệm vụ sau đây:

- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về thương phiếu, quan hệ thương phiếu, pháp luật điều chỉnh quan hệ thương phiếu, phân tích bản chất của quan hệ thương phiếu

- Nghiên cứu thực tiễn sử dụng thương phiếu ở nước ta và làm rõ nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế cần phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ thương phiếu

- Làm rõ ảnh hưởng, liên quan của pháp luật Việt Nam hiện hành đối với quan hệ thương phiếu

- Kiến nghị việc xây dựng nội dung pháp luật điều chỉnh quan hệ thương phiếu ở nước ta

4 Đối tưựng và phạm vỉ nghiên cún.

Trong thực tế, tuỳ theo pháp luật từng quốc gia, thương phiếu có thể bao gồm hối phiếu đòi nợ (Bill of Exchange), hối phiếu nhận nợ (Promissory Note), séc (Cheque) và chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng (Negotiable Certificate of Deposit) được phát hành trên cơ sở các giao dịch thương mại, tín dụng ngân hàng hoặc giao dịch vay nợ Đối tượng nghiên cứu của Luận án là pháp luật điều chỉnh quan hệ thương phiếu phát sinh trên cơ sở quan hệ thương mại, tín dụng ngân hàng (bao gồm hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ) mà không nghiên cứu pháp luật điều chỉnh các công cụ vay nợ được phát hành trên cơ sở quan hệ tài chính như trái phiếu, kỳ phiếu hoặc phương tiện thanh toán khác như séc

Trong khuôn khổ một Bản luận án tốt nghiệp cao học chuyên ngành Luật kinh tế, Luận án không đề cập tất cả các khía cạnh của việc xây dựng

và hoàn thiện pháp luật về thương phiếu, mà chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về quan hệ thương phiếu, các nội dung cơ bản của

Trang 9

pháp luật về thương phiếu ở một số nước trong khu vực và trên thế giới, thực trạng pháp luật về thương phiếu ở nước ta Trên cơ sở đó, Luận án đưa

ra các khuyến nghị về xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thương phiếu ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu.

Luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản của Đảng cộng sản Việt Nam về đổi mới kinh tế, tạo lập đổng bộ các yếu

tố của thị trường, phát huy hiệu lực và hiệu quả của quản lý nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật kinh tế

Chúng tôi lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu, thực hiện luận án này

Các phương pháp được sử dụng trong việc nghiên cứu, thực hiện luận án gồm phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống, lịch sử, so sách

Cụ thể phương pháp phân tích được sử dụng để đi sâu xem xét nội dung quan hệ thương phiếu nhằm làm rõ bản chất, nội dung của chúng, phân tích ảnh hưởng của các quy định pháp luật hành có liên quan đến quan hệ thương phiếu để chỉ ra các điểm bất câp, không phù hơp Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh các quy định cùng loại trong pháp luật của một số nước khác với pháp luật nước ta Trên cơ sở đó, phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát hoá nhằm đưa ra các kết luận và khuyến nghị của luận án Phương pháp lập sơ đồ cũng được sử dụng để thể hiện rõmối quan hệ giữa các bên trong quan hệ thương phiếu

6 Bô cục của Luận án.

Ngoài lời nói đầu, kết luận, phụ lục, Luận án được bố cục thành ba chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề chung về quan hệ thương phiếu và pháp luật về thương phiếu

Chương 2: Nội dung cơ bản của pháp luật về thương phiếu ở cácnước và thực trạng pháp luật về thương phiếu ở Việt Nam

Trang 10

Chương 3: Vấn đề xây dựng pháp luật về thương phiếu ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

*

Các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quan hệ thương phiếu, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thương phiếu là vấn đề rất phức tạp, chưa có nhiều thực tiễn ở nước ta Để thực hiện luận án này, chúng tôi đã tiến hành xử lý một khối lượng lớn các tài liệu, văn bản quy phạm pháp luật liên quan Tuy nhiên, do điều kiện hạn chế về thời gian, Luận án không thể tránh khỏi một số hạn chế, khiếm khuyết, chúng tôi rất mong được sự đóng góp của các nhà giáo, nhà nghiên cứu, và các bạn bè, đồng nghiệp để luận án được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của PTS Phạm Hữu Nghị; cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình đào tạo tại Trường Đại học Luật Hà Nội; cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã cung cấp nhiều thông tin, tài liệu liên quan để tôi hoàn thành Luận án này

Trang 11

VÀ P H Á P L U Ậ T Đ IỂU C H ỈN H QUAN H Ệ TH Ư Ơ N G P H IÊ U

1.1 NHỮNG VẤN ĐỂ CHUNG VỂ QUAN HỆ THƯƠNG PHlẾư 1.1.1 KHÁI NIỆM THƯƠNG PHIÊU.

(1) Tín dụng thương mại và sự ra đời của thương phiếu.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, giao lưu thương mại ngày càng phát triển, nhu cầu vốn ngày càng tăng theo việc mở rộng quy

mô hoạt động sản xuất, kinh doanh của các thương nhân Để thoả mãn nhu cầu vốn kinh doanh của mình, các thương nhân có thể huy động từ nhiều nguồn khác nhau như vốn điều lệ, vốn vay ngân hàng, vốn vay các tổ chức,

cá nhân khác Tuy nhiên, việc tiếp cận các nguồn vốn trên thường gặp nhiều khó khăn do thủ tục, điều kiện theo quy định của pháp luật hoặc của

tổ chức cho vay Trong thực tế, trên cơ sở sự tín nhiệm, lòng tin vào bạn hàng của mình, các thương nhân thường chấp thuận bán hàng, cung ứng dịch vụ trả chậm cho người mua Đây là hình thức tín dụng trực tiếp trong quan hệ thương mại giữa các thương nhân

Hoạt động theo cơ chế thị trường, các doanh nghiệp bán hàng, cung ứng dịch vụ luôn mong muốn có cơ hội bán được hàng hoá, cung ứng được dịch vụ, với điều kiện thu được nhanh nhất tiền bán hàng hoá, dịch vụ Ngược lại, các doanh nghiệp mua hàng hoá, nhận cung ứng dịch vụ trong nhiều trưòng họp do nguồn vốn kinh doanh hạn hẹp, tốc độ luân chuyển chậm muốn mua được hàng hoá, dịch vụ nhưng chưa phải trả tiền ngay Trường hợp này, để tận dụng cơ hội kinh doanh, doanh nghiệp mua hàng hoá, dịch vụ mong muốn được nhận một khoản tín dụng thương mại của doanh nghiệp bán hàng trên cơ sở hợp đồng mua bán chịu Như vậy, để đáp ứng được nhu cầu của các bên tham gia quan hệ mua bán đòi hỏi phải có một tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động cho vay (cấp tín dụng) đối với doanh nghiệp bán hàng hoá trên cơ sở hợp đồng mua bán chịu giữa người mua và người bán Trong quan hệ thương mại thông thường, tổ chức thực hiện hoạt động cấp tín dụng nói trên là các ngân hàng thương mại

Trang 12

Tóm lại, có thể thấy tín dụng thương mại (quan hệ mua bán chịu hàng hoá giữa các thương nhân) là cơ sở của hoạt động tín dụng ngân hàng và ngược lại, khi trên thị trường đã tồn tại hoạt động cho vay của ngân hàng đối với các thương nhân trên cơ sở chiết khấu các giấy tờ cam kết nhận nợ sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động tín dụng thương mại phát triển Để có cơ sở cho việc thực hiện quyền yêu cầu thanh toán đúng hạn như thoả thuận trong hợp đồng mua bán chịu, các ngân hàng thương mại có cơ sở cấp tín dụng cho doanh nghiệp bán hàng hoá chịu và thu hồi tiền vay khi đến hạn thì quan hệ tín dụng giữa các thương nhân cần phải được chứng chỉ hoá Hình thức pháp lý của quan hệ tín dụng thương mại, mua bán chịu này chính là

tờ thương phiếu Như vậy, thương phiếu ra đời trên cơ sở đáp ứng nhu cầu của các bên trong quan hệ mua bán hàng hoá chịu

Tín dụng thương mại là quan hệ vay mượn có hoàn trả giữa các thương nhân trong quan hệ mua bán chịu hàng hoá Trong giai đoạn sơ khai, hình thức biểu hiện của quan hệ tín dụng thương mại là các văn bản nhận nợ và cam kết trả nợ của người mua đối với người bán Đây là hình thức manh nha của thương phiếu Cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, mối quan hệ nợ nần giữa các thương nhân ngày càng phức tạp và hối phiếu với sự tham gia của ba bên (người kỷ phát, người bi ký phát và người thụ hưởng) được sử dụng như văn bản do người bán lập ra lệnh cho người mua trả tiền cho người thụ hưởng thứ ba (thường là chủ nợ của người bán trong quan hệ khác)

Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng thương mại nói chung và thương phiếu nói riêng có vai trò to lớn Một mặt, nó được sử dụng như phương tiện thanh toán để thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong quan hệ mua bán chịu, chậm trả Mặt khác, thông qua việc phát hành và lưu thông thương phiếu, thương phiếu được sử dụng như công cụ tín dụng giữa người

ký phát và người bị ký phát; giữa người ký phát và người thụ hưởng; hoặc giữa ngưòi thụ hưởng và ngân hàng chiết khấu Đồng thời, việc chứng chỉ hoá quan hệ tín dụng thương mại bằng thương phiếu tạo ra cơ sở quan trọng để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia

Trong lịch sử, thương phiếu đã được biết đến từ xa xưa, như là văn bản ghi nhận khoản nợ khi các thương gia mua bán hàng hoá chịu Các thương gia thành phố cảng ở Italia là những người đầu tiên phát hành, sử

Trang 13

dụng thương phiếu ở thế kỷ 12 Các chứng chỉ này được ghi nhận là hối phiếu nhận nợ đầu tiên được phát hành, sử dụng Theo hình thức hối phiếu nhận nợ này, người ký phát (người lập văn bản) cam kết sẽ thanh toán cho người thụ hưởng số tiền tương ứng (có trừ một phần phí dịch vụ) tại nơi khác và thường bằng đồng tiền nội tệ của nơi thanh toán Như vậy, đây là hình thức hối phiếu nhận nợ được phát hành trên cơ sở giao dịch uỷ thác thanh toán hoặc chuyển tiền Đến thế kỷ 14, 15, trong quan hệ thương mại, các thương nhân đã sử dụng các hối phiếu đòi nợ, nhưng chưa có hình thức

ký chấp nhận của người bị ký phát Cùng thời điểm này, tại miền Nam nước Pháp, các thương gia đổi tiền đã thực hiện việc thanh toán bù trừ giữa các khoản vay và cho vay với nhau trên cơ sở các thương phiếu

Việc sử dụng thương phiếu trở thành phổ biến ở thế kỷ 16 khi thương phiếu đã được chuyển nhượng Thông qua việc chuyển nhượng, thương phiếu đã được sử dụng như một phương tiện thanh toán trong quan

hệ thương mại, mua bán hàng hoá Ngày nay, thương phiếu được sử dụng rộng rãi như là công cụ thanh toán trong quan hệ thương mại quốc tế, trong quan hệ thương mại nội địa của hầu hết các quốc gia trên thế giới Ngoài

ra, thương phiếu còn được sử dụng rộng rãi trong các giao dịch vay nợ quốc tế như là văn bản cam kết nhận nợ và cam kết thanh toán đối với khoản vay

(2) Khái niệm thương phiếu.

Để có thể tìm hiểu về bản chất của thương phiếu, chúng ta có thể điểm qua một số định nghĩa về thương phiếu, hối phiếu trong đạo luật của Anh, Mỹ và trong một số từ điển vể kinh tế, luật

* Theo Điều 3 Luật Hối phiếu Anh năm 1882, hối phiếu (Bill of Exchange) được định nghĩa là một lệnh thanh toán bằng văn bản, được một người phát hành ký và gửi cho ngưòi khác, yêu cầu người này trả khi có yêu cầu hoặc sau một thời gian có thể xác định trong tương lai một khoản tiền nhất định cho một người xác định hoặc theo lệnh của người này hoặc cho ngưòi cầm hối phiếu

* Theo Điều 3-104 Khoản 1 Bộ Luật Thương mại Mỹ năm 1972, Thương phiếu (Commercial Paper) được xác định là một văn bản được coi là công cụ có thể chuyển nhượng (theo điều này) phải

Trang 14

được người lập hoặc người phát hành ký phát hành chứa đựng cam kết hoặc lệnh thanh toán không điều kiện trả một khoản xác định cho người cầm hoặc theo lệnh của người này vào thời điểm theo yêu cầu hoặc được xác định tương ứng.

* Theo Từ điển Luật Black năm 1991 (Mỹ), “Hối phiếu là lệnh bằng văn bản của một bên ra lệnh cho bên khác trả một khoản tiền cho bên thứ ba” hay “Hối phiếu là lệnh thanh toán không điều kiện của một người lập và ký phát yêu cầu người khác trả một khoản tiền nhất định theo yêu cầu hoặc vào một thời điểm ấn định hay tại thời điểm có thể xác định trong tương lai”

* Theo Từ điển Luật của Steven H Gifis năm 1991 (Mỹ), “Hốiphiếu là lệnh bằng văn bản của người lập ra lệnh cho một người khác trả một số tiền nhất định cho ngươi có tên” hoặc “Hối phiếu

là một loại công cụ có thể chuyển nhượng, trong đó người lập cam kết trả một số tiền xác định tại một thời điểm nhất định”

* Theo Từ điển Tài chính - Ngân hàng của Peter Collin Publishing năm 1994 (Anh), “Hối phiếu là một tài liệu được một người ký phát, yêu cầu người khác trả tiền không điều kiện một khoản tiền cho một người nhất định vào một ngày xác định”

* Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ năm 1995, “Hốiphiếu là phiếu qua đó một người (chủ nợ) yêu cầu một người khác(con nợ) trả một món tiền theo một kỳ hạn nhất định cho một người thứ ba”

* Theo Điều 408 Bộ luật Thương mại Sài Gòn năm 1972, “Thương phiếu (gồm hối phiếu, lệnh phiếu và chi phiếu) là một thứ phiếu có thể chuyển dịch được, dùng để xác nhận cho người cầm phiếu một trái quyền ngắn hạn”

* Theo điều 219 Luật Thương mại Việt Nam 1997, thương phiếu (gồm hối phiếu và lệnh phiếu) được hiểu là chứng chỉ ghi nhận sự thanh toán vô điểu kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định

Trang 15

Có thể thấy điểm chung của các định nghĩa nêu trên về thương phiếu

là (1) Thương phiếu là một chứng chỉ có giá, phương tiện thanh toán; (2) Thương phiếu là văn bản ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định (3) Thời hạn thanh toán của thương phiếu là khi có yêu cầu hoặc sau một thời hạn có thể xác định trong tương lai Xét về bản chất, quan hệ hối phiếu đòi nợ thường có ba bên tham gia gồm người ký phát, người bị ký phát, người thụ hưởng Trong đó, thông thường giữa người ký phát và người bị ký phát có quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá, người ký phát với tư cách là người bán yêu cầu người bị

ký phát (với tư cách người mua) phải trả tiền theo hợp đồng mua bán hàng hoá (hợp đồng gốc) cho mình hoặc cho người thứ ba gọi là người thụ hưởng Trường hợp này, người ký phát có nghĩa vụ trả tiền cho người thụ hưởng theo một hợp đồng mua bán hàng hoá khác, hay nói cách khác, giữa người ký phát và người thụ hưởng cũng tồn tại nghĩa vụ trả tiền và người

ký phát trong mối quan hệ này là con nợ Như vậy, thông qua việc phát hành hối phiếu người ký phát mong muốn chuyển nghĩa vụ thanh toán của mình sang cho ngưòi bị ký phát Thông qua việc thanh toán thương phiếu cho người thụ hưởng có hai nghĩa vụ chính được hoàn thành là (i) nghĩa vụ giữa người bị ký phát và người ký phát; (ii) nghĩa vụ giữa người ký phát và người thụ hưởng

Trong quan hệ hối phiếu nhận nợ, người ký phát là người mua hàng,

do vậy, với hành vi phát hành hối phiếu nhận nợ anh ta trở thành người bị

ký phát, hay nói cách khác người bị ký phát cũng chính là người ký phát

Do đó, đây chỉ tồn tại một nghĩa vụ thanh toán giữa người phát hành và người thụ hưởng Bằng việc phát hành hối phiếu nhận nợ, ngưòi ký phát (ngưòi mua) thừa nhận món nợ của mình và cam kết thanh toán không điểu kiện số tiền trên hối phiếu cho người thụ hưởng (người bán) vào ngày đến hạn

ở Việt Nam, thuật ngữ “Thương phiếu” được hiểu theo nhiều cách khác nhau:

Thứ nhất, theo nghĩa hẹp, “Thương phiếu” là hối phiếu thương mại, cách hiểu này có ý nghĩa phân biệt với các loại hối phiếu khác như hối phiếu tài chính, hối phiếu ngân hàng được phát hành trên cơ sở các giao dịch tài chính hoặc do các ngân hàng phát hành Theo cách hiểu này, việc

Trang 16

sử dụng từ “thương phiếu” chưa bao quát được các loại thương phiếu đang tổn tại trên thực tế ở nước ta và các loại thương phiếu được pháp luật về thương phiếu điều chỉnh.

Thứ hai, theo nghĩa rộng, “Thương phiếu” là thứ phiếu có thể chuyển nhượng được, dùng để xác nhận cho người cầm phiếu một quyền yêu cầu trả tiền1, thương phiếu bao gồm hối phiếu, lệnh phiếu và chi phiếu (séc) Đây là cách hiểu phổ biến ở miền nam nước ta trước đây trên cơ sở quy định của Bộ luật Thương mại Sài Gòn năm 1972

Thứ ba, theo quy định của Luật Thương mại thuật ngữ “thương phiếu” chỉ bao gồm “hối phiếu” và “lệnh phiếu” Tuy nhiên, Luật Thương mại chưa có định nghĩa các thuật ngữ “hối phiếu”, “lệnh phiếu” Cách hiểu này cũng trùng với cách hiểu trong dự thảo Pháp lệnh Thương phiếu đang được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam soạn thảo và chuẩn bị trình Ưỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua

Để thống nhất cách sử dụng từ và phù hợp với phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “thương phiếu” bao gồm “hối phiếu đòi nợ” và “hối phiếu nhận nợ”2 Tuy nhiên, khi trích dẫn các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để đảm bảo tính chính xác của nguồn tư liệu được trích dẫn, các thuật ngữ “hối phiếu”, “lệnh phiếu” có thể được đề cập với cách hiểu tương ứng là “hối phiếu đòi nợ”, “hối phiếu nhận nợ”

(3) Đặc điểm của thương phiếu:

Dưới khía cạnh pháp lý, thương phiếu với tư cách là hình thức pháp

lý của quan hệ thương phiếu có các đặc điểm cơ bản sau đây:

Một là, Thương phiếu là một chứng chỉ có giá ghi nhận quan hệ tín dụng thương mại, quan hệ tín dụng ngân hàng, các thương phiếu được lập theo hình thức, trình tự luật định được coi là chứng từ có giá và quyền của người thụ hưởng theo thương phiếu được pháp luật bảo vệ

1 Bộ Luật Thương m ại 1972 của c h ế độ nguỵ quyền Sài gòn (điều 4 0 8 )

2 Các thuật ngữ này được định nghĩa trong dự thảo Pháp lệnh Thương phiếu ngày 0 8 /0 6 /1 9 9 9 do Ngân hàng Nhà nước soạn thảo như sau: “H ối phiếu đòi nợ (Bill o f Exchange h oặc Draft) là chứng ch ỉ có giá do người kỷ phát lập, yêu cẩu người bị ký phút thanh toán không điều kiện một s ố tiền xác định khi có yêu cầu h oặc vào một thời gian nhất định trong tương lai cho người thụ h ư ở n g"Hối phiếu nhận nợ (Promissory Note) ìà chứng ch ỉ c ó giá do người phát hành lập, cam kết thanh toán không điều kiện một

sô tiên xác định khi c ó yêu cẩu h o ặ c vào một thời gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng".

Trang 17

Hai là, Thương phiếu là công cụ tạo ra các quyền và nghĩa vụ mới cho các bên tham gia.

Với ý nghĩa là văn bản ghi nhận sự cam kết giữa các bên, thương phiếu xác lập quyền và nghĩa vụ các bên: quyền đòi tiền của người thụ hưởng, nghĩa vụ trả tiền của người bị ký phát Việc tham gia quan hệ thương phiếu của các bên thể hiện thông qua hành vi ký phát hành, ký chuyển nhượng, ký bảo lãnh, ký chấp nhận trên thương phiếu

Ba là, Thương phiếu là công cụ gắn với quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia không bị ảnh hưởng bởi các quan hệ pháp lý cơ sở là căn cứ cho việc ký phát hành hay ký chấp nhận

Việc phát hành thương phiếu không làm thay đổi nghĩa vụ nợ gốc giữa các bên mà đơn giản chỉ là một bước của quá trình thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thoả thuận giữa các bên tham gia quan hệ cơ sở Việc ký phát hành và chuyển giao thương phiếu cho ngưòi thụ hưởng đã tạo ra hai nghĩa vụ song song tồn tại: nghĩa vụ theo hợp đồng gốc và nghĩa vụ theo thương phiếu Tuy nhiên, việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán thương phiếu của người bị ký phát (hoặc người phát hành đối với hối phiếu nhận nợ) là căn cứ để xác định nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng gốc đã được hoàn thành Hay nói cách khác, quyền và nghĩa vụ của các bên theo thương phiếu độc lập với giao dịch gốc là căn cứ phát hành thương phiếu

Đặc điểm này là rất quan trọng đối với thương phiếu, nó thể hiện tính trừu tượng của khoản nợ trên thương phiếu Người chủ thương phiếu không cần quan tâm tới việc khoản nợ trên thương phiếu xuất phát từ giao dịch cơ sở nào Hay nói cách khác, khoản nợ thanh toán trên thương phiếu

là độc lập và không phụ thuộc vào thương vụ cơ sở như hợp đồng mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ là căn cứ phát sinh việc ký phát hành thương phiếu hay ký chấp nhận thương phiếu Các quyền và nghĩa vụ phát sinh theo thương phiếu không phụ thuộc vào quan hệ gốc giữa người phát hành

và ngưòi thụ hưởng, hoặc giữa người phát hành và ngưòi bị ký phát nhưng ngược lại quyền và nghĩa vụ của các bên theo thương phiếu khi được thực hiện sẽ làm thay đổi (phát sinh, chấm dứt) quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ gốc Mặt khác, thương phiếu là căn cứ quan trọng, độc lập để các bên liên quan (đặc biệt là người thụ hưởng) bảo vệ quyền lợi ích hợp

Trang 18

pháp của mình như quyền yêu cầu thanh toán, quyền truy đòi, quyền khởi kiện

Thương phiếu là công cụ chứa đựng các quan hệ pháp luật liên quan được chỉ định bằng những chỉ thị lệnh trên thương phiếu Hay nói cách khác, Thương phiếu là văn bản độc lập làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên không phụ thuộc vào các chỉ thị lệnh khác

Ngoài ra, có thể kể thêm các đặc điểm khác của thương phiếu như thương phiếu còn là công cụ ra lệnh (giữa người phát hành và người bị ký phát), công cụ có thể đưa ra yêu cầu thanh toán (giữa người thụ hưởng và người bị ký phát)

(4) Phân biệt thương phiếu và séc:

Mặc dù có điểm chung đều là phương tiện thanh toán chứa đựng lệnh yêu cầu thanh toán và là công cụ độc lập với quan hệ gốc Séc và thương phiếu3 có những điểm khác nhau sau đây:

Thứ nhất, trong quan hệ phát hành và thanh toán séc, ngân hàng luôn

là người bị ký phát và chỉ thị yêu cầu thanh toán luôn luôn được gửi cho ngân hàng Trong quan hệ phát hành và thanh toán thương phiếu, người bị

ký phát có thể là ngân hàng hoặc không Séc thường chỉ được sử dụng để thực hiện nghĩa vụ thanh toán giữa người mua và ngưòi bán Do đó, séc không thể được sử dụng trong quan hệ ba bên giữa các thương gia như thương phiếu' Ngày nay, trong giao dịch ngân hàng hiện đại thông qua việc cho phép chuyển nhượng séc, séc có thể được người thụ hưởng sử dụng làm phương tiện thanh toán thực hiện nghĩa vụ trả tiền của mình đối với người thứ ba Tuy nhiên, việc chuyển nhượng séc không được người thụ hưởng thực hiện một cách phổ biến vì thời hạn hiệu lực của séc quá ngắn (15 ngày kể từ ngày phát hành)

Thứ h a i, về cơ sở phát hành, việc phát hành và thanh toán séc luôn dựa trên cơ sở tài khoản tiền gửi của người phát hành séc tại ngân hàng Trong khi đó, việc phát hành và sử dụng thương phiếu lại dựa trên hoạt động thương mại giữa các thương nhân hoặc hoạt động tín dụng ngân hàng giữa ngân hàng và khách hàng

3 Loại thương phiếu được so sánh với séc trong mục (4 ) này là hối phiếu đòi nợ (B ill o f E xchange).

Trang 19

Thứ ba, khác với thương phiếu, trong quan hệ phát hành và thanh toán séc, ngân hàng không có nghĩa vụ ký chấp nhận séc Do đó, ngân hàng không bị ràng buộc nghĩa vụ thanh toán theo tờ séc Người thụ hưởng séc không thể kiện ngân hàng vì không thanh toán séc Tờ séc chỉ đơn giản

là lệnh của người phát hành gửi cho ngân hàng yêu cầu thanh toán séc cho người thụ hưởng Nếu ngân hàng từ chối thanh toán séc, ngân hàng chỉ có thể vi phạm thoả thuận riêng rẽ giữa ngân hàng và người phát hành séc (khách hàng của ngân hàng) Trong hoạt động ngân hàng, trước khi bán séc cho khách hàng, ngân hàng và khách hàng luôn có thoả thuận về số tiền tối

đa ngân hàng sẽ thanh toán séc (có thể là số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng hoặc trong phạm vi hạn mức tín dụng mà ngân hàng cấp cho khách hàng) Ngân hàng thanh toán séc với tư cách là người được uỷ quyến giữ tài khoản cho khách hàng thực hiện việc trả tiền cho người thụ hưởng theo sự uỷ quyền của người phát hành séc

Thứ tư, người phát hành séc không sử dụng tờ séc như là công cụ được đạt được một khoản tín dụng từ ngưòi thụ hưởng như trường hợp sử dụng thương phiếu Bởi vì thời hạn thanh toán của séc luôn luôn được quy định là ngay khi xuất trình (at sight)

Thứ năm, séc là phương tiện thanh toán được sử dụng chủ yếu thông qua hệ thống ngân hàng Thương phiếu là công cụ tín dụng được sử dụng chủ yếu trong quan hệ mua bán chịu giữa các thương nhân Chức năng là phương tiện thanh toán của thương phiếu đã dần dần được séc thay thế

(5) Cơ sở phát hành thương phiếu

Thương phiếu có thể được phát hành trên cơ sở các giao dịch thương mại và quan hệ tín dụng ngân hàng

Trong giao dịch thương mại như quan hệ mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, các thương nhân thường thoả thuận ký kết các hợp đổng mua bán, cung ứng dịch vụ Theo đó, một bên ký kết có nghĩa vụ chuyển giao hàng hoá, cung ứng dịch vụ cho bên kia và ngược lại bên mua hàng hoá, nhận cung ứng dịch vụ sẽ có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng, dịch vụ theo hợp đồng Để thực hiện nghĩa vụ thanh toán, các bên có thể thoả thuận nhiều phương thức thanh toán khác nhau như bằng tiền mặt, bằng chuyển khoản, bằng séc, bằng thẻ tín dụng ngân hàng, bằng ngân phiếu thanh toán

Trang 20

hoặc theo thời hạn thanh toán, các bên có thể thoả thuận thực hiện nghĩa vụ

thanh toán trước (ứng trước tiền mua hàng hoá), đồng thời hoặc sau khi

giao hàng Trường hợp các bên thoả thuận thực hiện nghĩa vụ thanh toán

sau một thời gian có thể xác định kể từ ngày giao hàng (trả chậm) là việc

bên bán đã cấp một khoản tín dụng thương mại với số lượng tín dụng bằng

số tiền hàng bán chịu và thời hạn bằng thời gian chậm trả

Để có cơ sở thực hiện nghĩa vụ thanh toán sau một thòi gian nhất

định (trả chậm trong các giao dịch thương mại), các bên có thể thoả thuận

sử dụng thương phiếu như một bằng chứng về quan hệ tín dụng thương mại

giữa các bên ký kết Theo đó, các thương nhân có thể phát hành thương

phiếu (hoặc là hối phiếu đòi nợ hoặc hối phiếu nhận nợ) để làm cơ sở pháp

lý cho việc thực hiện quyền yêu cầu bên kia thanh toán số tiền trả chậm khi

đến hạn

Việc phát hành thương phiếu trên cơ sở giao dịch thương mại có ý

nghĩa rất quan trọng Nó đảm bảo cho việc phát hành thương phiếu để sử

dụng như là phương tiện thanh toán, công cụ cấp tín dụng có một lượng

hàng hoá, dịch vụ đối ứng Hay nói cách khác, việc phát hành thương phiếu

dựa trên cơ sở giao dịch thương mại sẽ tạo ra công cụ thanh toán có hàng

hoá thực đối ứng, không làm tăng giả tạo khối lượng phương tiện thanh

toán thực có trong lưu thông và không ảnh hưởng đến cân đối giữa khối

lượng tiền thực có và khối lượng tiền cần có trong lưu thông của nền kinh

tế Điều này đặt ra vấn đề đòi hỏi pháp luật về thương phiếu cần có quy

định loại trừ khả năng phát hành thương phiếu khống - không dựa trên cơ

sở các giao dịch thương mại

Trên thực tế, việc phát hành và sử dụng thương phiếu trong quan hệ

thương mại được tiến hành như sau:

* Đối với hối phiếu đòi nợ (Bill of Exchange) Việc phát hành trên

cơ sở hoạt động thương mại có thể được thực hiện theo những trường hợp

sau:

Thứ nhất, để thực hiện nghĩa vụ thanh toán, người mua phát hành

một hối phiếu đòi nợ yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình thanh toán tiền

hàng hoá, dịch vụ và giao hối phiếu này cho ngân hàng phục vụ mình, ngân

Trang 21

hàng phục vụ trên cơ sở một thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng về việc cho vay hoặc ký quỹ để đảm bảo thanh toán hối phiếu khi đến hạn, sẽ

ký chấp nhận hối phiếu và chuyển giao hối phiếu cho người mua Người mua chuyển giao hối phiếu cho người bán để nhận hàng hoá, dịch vụ Người bán trở thành người thụ hưởng hối phiếu đòi nợ có quyền yêu cầu ngân hàng đã ký chấp nhận thanh toán hối phiếu khi đến hạn4

Thứ h ai, việc phát hành và sử dụng thương phiếu chỉ có các thương nhân tham gia mà không có sự tham gia của ngân hàng với tư cách là người bị ký phát Quan hệ cơ sở để phát hành thương phiếu trong trưòng hợp này có thể được mô tả thông qua ví dụ sau:

Công ty khai thác hải sản A (Công ty khai thác A) bán hải sản cho Công ty chế biến hải sản B (Công ty chế biến B) với giá trị hợp đồng là 100 triệu đồng và thòi hạn thanh toán là ngày 01/08/1999 Tiếp đó, Công ty chế biến B bán một phần sản phẩm đóng hộp cho Công ty xuất nhập khẩu c (Công ty XNK C) để xuất khẩu với giá trị hợp đồng là 100 triệu đồng và thời hạn thanh toán là 01/08/1999 Khi Công ty khai thác A yêu cầu công

ty chế biến B thanh toán tiền hàng, thay vì trả tiền mặt trực tiếp, Công ty chế biến B có thể yêu cầu Công ty XNK c thanh toán tiến (100 triệu) trực tiếp cho Công ty khai thác A Để thực hiện quá trình thanh toán này, trên

cơ sở thoả thuận giữa các bên, Công ty B phát hành một hối phiếu đòi nợ (Công ty B là người phát hành) yêu cầu Công ty c (người bị ký phát) thanh toán không điều kiện số tiền 100 triệu đồng cho Công ty A (Người thụ hưởng) vào ngày 01/08/1999 Trên cơ sở chấp nhận thanh toán hối phiếu của Công ty c cho Công ty A khi đến hạn có hai nghĩa vụ thanh toán được hoàn thành là nghĩa vụ thanh toán giữa Công ty c và công ty B và nghĩa vụ thanh toán Công ty B và Công ty A5

Thứ ba, hối phiếu đòi nợ được phát hành và sử dụng như một chứng

từ trong bộ chứng từ theo phương thức tín dụng chứng từ

4 X em chi tiết tại Phụ lục 1 - Sơ đồ quan hệ giữa các bên liên quan đến hối phiếu đòi nợ có sự tham gia của ngân hàng với tư cách là người bị ký phát, trang 93.

5 X em chi tiết tại Phụ Lục 2 - Sơ đồ quan hệ giữa các liên quan đến hối phiếu đòi nợ chỉ c ó sự tham gia

Trang 22

Trên cơ sở hợp đồng mua bán hàng hoá giữa Công ty thương mại A

Việt Nam (với tư cách là nhà nhập khẩu - người mua) và Công ty chế tạo

nước ngoài B (với tư cách là nhà xuất khẩu - người bán), theo thoả thuận

trong hợp đồng mua bán, Công ty phải đề nghị Ngân hàng Ngoại thương

Việt Nam (VCB) mở thư tín dụng không huỷ ngang trả chậm cho người

hưởng lợi là Công ty B Cùng với việc giao hàng, Công ty B phát hành hối

phiếu đòi nợ và yêu cầu VCB trả tiền (với tư cách là người bị ký phát)

Trong quan hệ này, việc phát hành hối phiếu dựa trên quan hệ mua bán

quốc tế hàng hoá giữa công ty A và công ty B Tuy nhiên, quyền, nghĩa vụ

của các bên tham gia quan hệ hối phiếu có sự khác biệt Công ty B phát

hành hối phiếu yêu cầu trả tiền cho mình hoặc cho ngân hàng phục vụ

mình và VCB với tư cách là người mở và phát hành L/C trở thành người bị

ký phát có nghĩa vụ thanh toán hối phiếu khi đến hạn (trên cơ sở thoả thuận

về mở L/C, ngân hàng mở, phát hành L/C có nghĩa vụ thanh toán L/C khi

người hưởng lợi xuất trình đầy đủ, đúng hạn các chứng từ quy định trong

L/C và như vậy nghĩa vụ thanh toán hối phiếu đã được chuyển cho ngân

hàng phát hành L/C theo quy định của UCP 500)6

* Đối với hối phiếu nhận nợ (Promissory Note): Việc phát hành hối

phiếu nhận nợ dựa trên quan hệ thương mại giữa các thương nhân, thay vì

trả tiền mặt hoặc sử dụng các phương thức thanh toán khác, người mua

phát hành hối phiếu nhận nợ thừa nhận món nợ của mình đối với người bán

và cam kết thanh toán số tiền cho người bán

Trong quan hệ này, người mua đóng vai trò là người phát hành hối

phiếu nhận nợ (là người cam kết thanh toán hối phiếu khi đến hạn) còn

người bán là người thụ hưởng (người được thanh toán hối phiếu khi đến

hạn)7

Trong giao dịch tín dụng ngân hàng: Đồng thời với việc thương

phiếu được các doanh nghiệp sử dụng trong quan hệ thương mại, các hối

phiếu nhận nợ (P/N) thường được phát hành trên cơ sở quan hệ tín dụng

ngân hàng Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, khi nhận tiền vay khách

6 X em chi tiết tại Phụ lục 3, trang 95.

7 X em chi tiết tại Phụ lục 4 -Quan hệ giữa các bên liên quan đến hối phiếu nhận nợ trang 96.

Trang 23

hàng vay vốn phát hành hối phiếu nhận nợ thừa nhận món nợ của mình và cam kết hoàn trả món nợ (cả gốc và lãi) cho tổ chức tín dụng cho vay vào ngày đáo hạn.

Việc cấp tín dụng của các ngân hàng cho khách hàng luôn dựa trên mục đích sử dụng vốn rõ ràng của khách hàng Mục đích vay vốn của khách hàng có thể là đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh của mình hoặc cho nhu cầu tiêu dùng, đời sống của mình Như vậy, có thể chia nhu cầu sử dụng vốn vay của khách hàng thành 02 nhóm: Một là, cho vay

để đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh của khách hàng như đáp ứng nhu cầu vốn thiếu hụt trong quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm do nguồn vốn đang trên đường luân chuyển, hoặc cho vay ứng trước để đầu tư xây dựng

cơ sở vật chất, nhà xưởng, mua móc dây chuyền công nghệ hoặc cho vay

để mua nguyên liệu, vật liệu để phục vụ cho hoạt động sản xuất ra sản phẩm hàng hoá; Hai là, cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng, đời sống

Như vậy, chúng ta có thể thấy hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng có sự khác biệt chủ yếu giữa loại cho vay để tạo ra hàng hoá, dịch vụ hoặc có hàng hoá, dịch vụ đối ứng và loại cho vay để phục vụ nhu cầu tín dụng tiêu dùng, đời sống không có hàng hoá, dịch vụ đối ứng

Pháp luật về thương phiếu của hầu hết các quốc gia đều có quy định cấm phát hành thương phiếu trên cơ sở giao dịch tín dụng tiêu dùng8,vì việc phát hành thương phiếu trên cơ sở này không có hàng hoá, dịch vụ đối ứng

Do đó, việc phát hành và đưa vào lưu thông sẽ làm mất cân đối giữa quan

hệ hàng hoá - tiền tệ, ảnh hưởng tới việc kiểm soát khối lượng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế Mặt khác, việc phát hành thương phiếu trên

cơ sở giao dịch tín dụng tiêu dùng không tạo ra nguồn trả nợ trực tiếp từ việc sử dụng vốn vay, do đó, có thể gây nhiều rủi ro cho người thụ hưởng các hối phiếu này9

(6) Phân loại thương phiếu:

Tuỳ theo tiêu chí phân loại, thương phiếu có thể được chia thành các loại khác nhau:

8 Bill o f E xchan ge - A guide to Legislation in European Countries IC C No 531 - trang 14

9 X em chi tiết Phụ lục 4 - Sơ đồ quan hệ giữa các bên liên quan đến hối phiếu nhận nợ, trang 96.

Trang 24

* Trên cơ sở hình thúc, thương phiếu có thể được chia thành hối

phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ

(i) Hối phiếu đòi nợ là chứng chỉ có giá do một người lập (người ký phát) yêu cầu người khác (người bị ký phát) thanh toán không điều kiện

một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định trong

tương lai cho người thụ hưởng hoặc trả theo lệnh của người này hoặc trả

cho người cầm hối phiếu Hối phiếu đòi nợ có thể được các thương gia sử

dụng trong các trường hợp sau: (1) do người bán lập yêu cầu người mua trả

tiền cho người thứ ba; (2) do người mua lập yêu cầu ngân hàng phục vụ

mình trả tiền cho người bán; (3) do người bán lập yêu cầu ngân hàng mở

thư tín dụng (ngân hàng phục vụ người mua) thanh toán tiền theo thư tín

dụng

Trên cơ sở sự tham dự của các bên liên quan, Hối phiếu đòi nợ có thể

được chia thành hai loại:

Hối phiếu chưa được người bị ký phát ký chấp nhận (Draft) Đây là

hối phiếu chưa được người bị ký phát ký chấp nhận sẽ thực hiện yêu cầu

(lệnh) thanh toán của người ký phát Trong trường hợp này, người bị ký

phát chưa bị ràng buộc nghĩa vụ thanh toán hối phiếu Người có nghĩa vụ

đảm bảo hối phiếu được thanh toán khi đến hạn là người ký phát

Hối phiếu đã được người bị ký phát ký chấp nhận (Acceptance) Trên

cơ sở ký chấp nhận trên hối phiếu, ngưòi bị ký phát trở thành người chấp

nhận và tự ràng buộc nghĩa vụ thanh toán hối phiếu của mình khi hối phiếu

đáo hạn Trường hợp hối phiếu đã được chấp nhận, người chấp nhận là

người có nghĩa vụ cuối cùng thanh toán hối phiếu đòi nợ

Tuỳ theo chủ thể ký chấp nhận hối phiếu đòi nợ, người ta chia hối

phiếu đòi nợ thành hai loại: chấp phiếu ngân hàng (Bank’s Acceptance) và

chấp phiếu thương mại (Trade’s Acceptance) Chấp phiếu ngân hàng là loại

hối phiếu được ngân hàng ký chấp nhận, cam kết thanh toán hối phiếu khi

đến hạn Cam kết chấp nhận hối phiếu của ngân hàng được thực hiện trên

cơ sở thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng Theo đó, để đảm bảo cho

việc ký chấp nhận của ngân hàng, khách hàng (người ký phát) phải có

nghĩa vụ ký quỹ số tiền theo thương phiếu hoặc cam kết hoàn trả ngân

Trang 25

hàng số tiền ngân hàng đã thanh toán theo thương phiếu cho người thụ hưởng Sự tham gia của ngân hàng với tư cách là người chấp nhận cam kết thanh toán thương phiếu khi đến hạn làm cho loại hối phiếu này có giá trị chuyển nhượng cao và là hình thức được sử dụng rộng rãi trong giao dịch thương mại hiện nay và các chấp phiếu ngân hàng cũng được mua bán rộng rãi trên thị trường tiền tệ Khác với chấp phiếu ngân hàng, chấp phiếu thương mại là loại hối phiếu đòi nợ được một thương nhân ký chấp nhận Loại hối phiếu này ít được sử dụng trong giao dịch thương mại hiện đại, do khả năng thanh toán không cao, nhiều rủi ro hơn chấp phiếu ngân hàng Loại hối phiếu này thưòng được sử dụng trong quan hệ mua bán giữa các công ty con của cùng một công ty mẹ.

(ii) Hối phiếu nhận nợ là chứng chỉ có giá do người ký phát lập, cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng hoặc theo lệnh của người này hoặc cho người cầm hối phiếu Theo quan hệ hối phiếu này, người phát hành hối phiếu đồng thòi chính là con nợ Bằng việc

ký phát hành và chuyển giao hối phiếu cho người thụ hưởng, người phát hành thừa nhận món nợ của mình, cam kết thanh toán số tiền theo hối phiếu khi đến hạn Loại hối phiếu này ít được sử dụng trong giao dịch thương mại, nhưng thường được sử dụng trong quan hệ tín dụng ngân hàng

(iii) Phân biệt hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ.

Đây là hai loại thương phiếu được sử dụng phổ biến trong quan hệ thương mại Do sự khác biệt về quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia, hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ cũng có sự khác biệt nhất định như:

Thứ nhất, trong quan hệ hối phiếu nhận nợ chỉ chứa đựng một nghĩa

vụ thanh toán, ghi nhận cam kết sẽ thanh toán hối phiếu không điều kiện của người phát hành Ngược lại, trong quan hệ hối phiếu đòi nợ, cam kết thanh toán hối phiếu được đảm bảo bởi ít nhất hai bên hay nhiều hơn là người chấp nhận, người ký phát và người chuyển nhượng (nếu có) Do đó, quyền lợi của người thụ hưởng theo hối phiếu đòi nợ thường được đảm bảo hơn người thụ hưởng theo hối phiếu nhận nợ

Trang 26

Thứ hai, đối với hối phiếu nhận nợ, nghĩa vụ thanh toán là nghĩa vụ duy nhất của người phát hành Ngược lại, trong quan hệ hối phiếu đòi nợ, nghĩa vụ thanh toán hối phiếu được chia xẻ giữa người chấp nhận (có nghĩa

vụ thanh toán hối phiếu đầu tiên), người phát hành và người chuyển nhượng (nếu có) có nghĩa vụ liên đới thanh toán hối phiếu, khi người chấp nhận không chấp nhận hoặc không thanh toán hối phiếu khi đến hạn

* Theo thời hạn thanh toán, thương phiếu có thể chia thành các

loại sau đây:

Thương phiếu thanh toán ngay khi xuất trình (at sight or on demand): là loại thương phiếu có quy định cam kết hoặc lệnh yêu cầu thanh toán “khi xuất trình” hoặc yêu cầu thanh toán “khi nhìn thấy” hoặc trên tờ thương phiếu không quy định thời hạn thanh toán

Thương phiếu thanh toán sau một thòi hạn xác định Thương phiếu

có quy định thời hạn thanh toán vào ngày quy định trên thương phiếu hoặc sau một thời hạn nhất định kể từ ngày có thể xác định trên thương phiếu (ví

dụ ngày xuất trình để chấp nhận, ngày phát hành thương phiếu) được coi là thương phiếu thanh toán sau một thời hạn xác định Trên thực tế, loại thương phiếu này có thể được người phát hành quy dịnh thời hạn thanh toán theo một trong các cách sau: (i) thanh toán sau một thời hạn nhất định

kể từ ngày phát hành (bill date), thí dụ: “thanh toán sau 30 ngày kể từ ngày phát hành” hoặc (ii) thanh toán sau một thời hạn nhất định kể từ ngày chấp nhận; (iii) thanh toán vào một ngày xác định cụ thể trong tương lai, thí dụ:

“thanh toán thương phiếu này vào ngày 30/10/1999” Việc pháp luật về thương phiếu cho phép người phát hành có thể quy định thời hạn thanh toán theo nhiều cách khác nhau có ý nghĩa quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn phát sinh trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp

và cho phép họ có thể linh hoạt quy định thời hạn thanh toán trên cơ sở thoả thuận của các bên trong từng giao dịch cụ thể

* Theo cơ sở phát hành, thương phiếu có thể chia thành hối phiếu tài chính và hối phiếu thương mại Hối phiếu thương mại là loại hối phiếu được phát hành trên cơ sở giao dịch thương mại như mua bán hàng hoá,

Trang 27

cung ứng dịch vụ Hối phiếu tài chính là loại hối phiếu được phát hành trên

cơ sở giao dịch tài chính như quan hệ vay nợ

* Theo loại tiền tệ ghi trên thương phiếu có hai loại thương phiếu

nội tệ và thương phiếu ngoại tệ Thương phiếu nội tệ là loại thương phiếu được ghi trả bằng đồng nội tệ tại địa điểm thanh toán Thương phiếu ngoại

tệ là loại thương phiếu được ghi trả bằng ngoại tệ tại địa điểm thanh toán Theo quy định của pháp luật về thương phiếu, các thương phiếu chỉ được ghi trả bằng ngoại tệ trong các giao dịch được phép thanh toán bằng ngoại

tệ theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối Tuy nhiên, cũng cần lưu ý, theo hình thức của tờ thương phiếu, người ta khó có thể xác định được một thương phiếu ghi trả bằng ngoại tệ có được phát hành trên cơ sở giao dịch được phép thanh toán bằng ngoại tệ hay không ?

* Theo địa điểm phát hành, thanh toán thương phiếu, người ta

chia thương phiếu thành hai loại thương phiếu trong nước và thương phiếu nước ngoài

Thương phiếu trong nước (thương phiếu nội địa) là thương phiếu ghi

rõ được đồng thời phát hành và thanh toán trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia hoặc được ký phát hành tại một quốc gia để đòi tiền một người khác trong cùng lãnh thổ quốc gia đó

Thương phiếu nước ngoài là thương phiếu được phát hành và thanh toán tại hai quốc gia khác nhau hoặc được phát hành để đòi tiền một người khác ở nước ngoài, v ề nguyên tắc, theo quy định của pháp luật về thương phiếu, thương phiếu luôn được coi là thương phiếu nội địa cho đến khi có bằng chứng rõ ràng trên thương phiếu chứng minh rằng nó là thương phiếu nước ngoài Việc phân biệt thương phiếu trong nước và thương phiếu nước ngoài có ý nghĩa quan trọng để xác định luật điều chỉnh quan hệ thương phiếu

(7) Vai trò của thương phiếu trong nền kinh tê thị trường

Một là, đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế Với vai trò là công

cụ tín dụng thương mại trực tiếp giữa các doanh nghiệp, thương phiếu góp phần thoả mãn nhu cầu vốn của nền kinh tế Nhu cầu vốn của nền kinh tế

có thể được thoả mãn qua nhiều kênh khác nhau như hoạt động tín dụng

Trang 28

Nhà nước, hoạt động tín dụng ngân hàng, hoạt động thị trường chưn khoán, thị trường trái phiếu Việc sử dụng thương phiếu như công cụ tí dụng trực tiếp giữa các thương nhân có ưu thế hơn hẳn so với các ngiồ vốn tín dụng khác như thời hạn cấp tín dụng linh hoạt, điều kiện, thủ tụ cấp tín dụng đơn giản Do đó, thương phiếu có vai trò to lớn trong việc đá ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp Đặc biệt, trong điều kiện kinh t thị trường, nơi tốc độ luân chuyển hàng hoá, tiền tệ ngày càng nhanh.

Hai là, tạo ra chứng chỉ có giá có thể chuyển nhượng, tạo điề kiện cho các ngân hàng thương mại mở rộng hoạt động cấp tín dụng.

Sử dụng thương phiếu trong hoạt động thương mại còn cung cấp ch nền kinh tế một “công cụ nợ” (quyền tài sản) quan trọng để lưu thông, th chấp, cầm cố trong hoạt động thương mại và là cơ sở an toàn để các ngâ hàng thương mại có thể cấp tín dụng thông qua nghiệp vụ chiết khấu, ch' vay trên cơ sở cầm cố thương phiếu và góp phần phân tán rủi ro cho hoạ động tín dụng ngân hàng Để đảm bảo khả năng có thể chuyển nhượng củ thương phiếu, pháp luật về thương phiếu phải đảm bảo ghi nhận tính độ lập của thương phiếu đối với quan hệ gốc Quyền và nghĩa vụ của các bêì theo thương phiếu không bị ảnh hưởng bởi quan hệ gốc

Ba là, tạo thêm công cụ tài chính cho thị trường tiền tệ Với ti

cách là chứng chỉ có giá có thể chuyển nhượng, khi được các ngân hàng k; chấp nhận cam kết thanh toán khi đến hạn, thương phiếu trở thành công C1

được giao dịch phổ biến trên thị trường tiền tệ Giá trị giao dịch thưon; phiếu trên thị trường tiền tệ ngày càng gia tăng Ví dụ: Tại thị trường tiềi

tệ ở Mỹ, từ năm 1970 đến năm 1990, tổng giá trị của thương phiếu với ti cách là công cụ vay nợ ngắn hạn tăng hơn 1500 % (từ 33 tỷ USD lên 557 t; USD); tổng giá trị của thương phiếu được ngân hàng chấp nhận (chấp phiếi ngân hàng- Bank’ Acceptance) tăng 600% (từ 7 tỷ USD lên 52 tỷ USD)10

Bốn là, tạo điều kiện cho Ngân hàng trung ương thực thi chínl sách tiền tệ quốc gia thuận lợi, linh hoạt có hiệu quả hơn.

Thương phiếu còn là công cụ nghiệp vụ quan trọng để Ngân hànj Trung ương sử dụng linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ nhằm điềi10s M ISH K IN - T iền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính - N X B Khoa học kỹ thuật, Hà nội, 1994, tr 15

Trang 29

hành có hiệu quả chính sách tiền tệ Thông qua việc thực hiện nghiệp vụ tái cấp vốn ngắn hạn dưới hình thức tái chiết khấu thương phiếu, cho vay ngắn hạn trên cơ sở cầm cố thương phiếu, Ngân hàng Trung ương có điều kiện

để chuyển việc sử dụng các công cụ trực tiếp sang việc sử dụng các công

cụ gián tiếp điều hành chính sách tiền tệ

Ưu điểm của việc sử dụng thương phiếu.

Ưu điểm nổi bật của việc sử dụng thương phiếu trong hoạt động thương mại là thương phiếu được phát hành trên cơ sở hàng hoá được sản xuất hoặc được tiêu thụ, do vậy, cơ sở của tín dụng thương mại luôn có hàng hoá đối ứng Tiếp đó, khi ngân hàng thương mại cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu thương phiếu thì việc cấp tín dụng của ngân hàng cũng đương nhiên có một lượng hàng hoá đối ứng

Thông qua công cụ chiết khấu thương phiếu, các ngân hàng thương mại luôn luôn dựa vào quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hoá của nền kinh

tế để cấp tín dụng Điều này làm cho việc cấp tín dụng của ngân hàng dưới hình thức chiết khấu thương phiếu luôn gắn liền với nhu cầu vốn thực của nền kinh tế và làm giảm áp lực vốn đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế

Để làm rõ hơn vai trò này của thương phiếu, chúng ta có thể xem xét hoạt động tín dụng ngân hàng trong điều kiện chưa có sự lưu thông của thương phiếu Hoạt động tín dụng ngân hàng trong điều kiện không có thương phiếu và nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu, các ngân hàng thương mại lần lượt cho vay cả người sản xuất để sản xuất hàng hoá và sau đó tiếp tục cho vay cả người mua để mua hàng Ngược lại, khi có tín dụng thương mại, ngân hàng thương mại chỉ cho vay nhà sản xuất khi họ đã bán được hàng hoá mà thôi Như vậy, hoạt động cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu, cho vay trên cơ sở cầm cố thương phiếu của ngân hàng thương mại luôn được bảo đảm bằng lượng hàng hoá thực, do đó, an toàn hơn việc cho vay ứng trước của các ngân hàng thương mại như hiện nay

Mặt khác, trong điều kiện quan hệ thương mại có sử dụng thương phiếu, các doanh nghiệp có điều kiện tận dụng được cơ hội kinh doanh vì

Trang 30

tín dụng thương mại cho phép việc mua bán được thực hiện ngay không phải chờ đến khi người mua có tiền.

Ngoài ra, việc sử dụng thương phiếu trong quan hệ thương mại còn tạo điều kiện cho nhà sản xuất phải thực hiện nguyên tắc đảm bảo chất lượng hàng hoá, đảm bảo thời gian giao hàng và làm cho người sản xuất và thương nhân tin cậy nhau hơn qua đó thúc đẩy giao lưu thương mại

Bên cạnh các mặt thuận lợi, việc phát hành và lưu thông thương phiếu có thể phát sinh một số rủi ro như:

Phát hành thương phiếu khống nhằm mục đích lừa đảo thông qua nghiệp vụ chiết khấu của ngân hàng Đây là việc phát hành thương phiếu không dựa trên cơ sở quan hệ mua bán hàng hoá giữa các thương nhân, các bên thoả thuận phát hành thương phiếu nhằm mục đích đưa đến ngân hàng chiết khấu để lấy tiền Hành vi này cần bị cấm theo quy định của pháp luật

và phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật

Người bị ký phát hoặc người phát hành mất khả năng chi trả thương phiếu khi đến hạn Trong trường hợp này, người thụ hưởng hoặc ngân hàng chiết khấu thương phiếu có thể không được thanh toán thương phiếu do người bị ký phát mất khả năng thanh toán

1.1.2 CHỦ THỂ THAM GIA QUAN HỆ THƯƠNG PHIẾU:

Như đã phân tích ở trên, tuỳ từng trường hợp các chủ thể tham gia quan hệ thương phiếu có thể bao gồm người phát hành, người bị ký phát (người chấp nhận), người thụ hưởng, người chuyển nhượng và người bảo lãnh, v ể nguyên tắc, hầu hết pháp luật về thương phiếu của các nước đều quy định các chủ thể tham gia quan hệ thương phiếu phải có những điều kiện nhất định là: có năng lực pháp luật và năng lực hành vi Xuất phát từ quan điểm, việc tham gia quan hệ thương phiếu của các chủ thể là thực hiện các hành vi cam kết đơn phương nhưng lại xuất phát từ giao kết hợp đồng cơ sở, do đó, năng lực chủ thể của các bên tham gia luôn tồn tại đồng thời với quan hệ hợp đồng gốc Như vậy, nếu việc tham gia quan hệ gốc của các bên làm phát sinh quan hệ thương phiếu có hiệu lực thì đương nhiên các bên tham gia có đủ năng lực chủ thể tham gia quan hệ thương

Trang 31

phiếu Chủ thể tham gia quan hệ thương phiếu gồm các thương nhân sử dụng thương phiếu làm phương tiện thanh toán trong quan hệ thương mại hoặc tổ chức tín dụng, khách hàng vay vốn trong quan hệ tín dụng ngân hàng, chiết khấu thương phiếu, cho vay trên cơ sở cầm cố thương phiếu.

(1) Điều kiện chủ thể:

Tuỳ theo quy định của pháp luật về thương phiếu ở từng quốc gia, chủ thể tham gia quan hệ thương phiếu có thể bị giới hạn ở các thương nhân hoặc không có quy định về hạn chế chủ thể tham gia quan hệ thương phiếu Nhìn chung, pháp luật về thương phiếu đều có quy định chung về điều kiện chủ thể là phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi Tuy nhiên, việc tham gia quan hệ thương phiếu của chủ thể được thực hiện dưới nhiều tư cách khác nhau nhưng độc lập với nhau, do đó trong trường hợp một chủ thể tham gia quan hệ thương phiếu không đủ có năng lực chủ thể thì không ảnh hưởng đến hiệu lực của việc tham gia quan hệ của các chủ thể khác

Cùng với việc mở rộng phạm vi sử dụng thương phiếu trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng đặc biệt là trong quan hệ vay nợ quốc tế, chủ thể tham gia quan hệ thương phiếu đã bao gồm cả các tổ chức tín dụng và khách hàng vay vốn

Theo quy định của Luật Thương mại Việt Nam, thương nhân là cá nhân có đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; pháp nhân;

tổ hợp tác, hộ gia đình có đủ điều kiện kinh doanh thương mại được cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam chủ thể tham gia quan hệ thương phiếu có thể là cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình

(2) Chủ thể tham gia quan hệ thương phiếu:

Người phát hành là người lập và ký phát hành thương phiếu Trong quan hệ hối phiếu đòi nợ, người phát hành có thể là người bán hàng lập hối phiếu để đòi nợ người mua hoặc là người mua lập và ký phát hối phiếu yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trả tiền cho người bán Trong quan hệ hối phiếu nhận nợ, người phát hành là người mua lập và ký phát hối phiếu thừa

Trang 32

nhận nghĩa vụ nợ của mình và cam kết thanh toán hối phiếu khi đến hạn Người phát hành tham gia quan hệ thương phiếu kể từ thời điểm lập và chuyển giao thương phiếu cho người khác (có thể là người bị ký phát, người thụ hưởng).

Người bị ký phát là người được người ký phát yêu cầu trả tiền theo hối phiếu cho người thụ hưởng Thông thường, nghĩa vụ chấp nhận và thanh toán hối phiếu của người bị ký phát xuất phát từ quan hệ nợ nần giữa người ký phát và người bị ký phát hoặc trên cơ sở quan hệ hợp đồng dịch

vụ uỷ thác thanh toán hoặc hợp đồng cho vay đối với trường hợp người bị

ký phát là ngân hàng phục vụ người ký phát Người bị ký phát tham gia quan hệ thương phiếu từ khi trở thành người chấp nhận bằng hành vi ký chấp nhận hối phiếu của mình Người chấp nhận tự ràng buộc nghĩa vụ thanh toán hối phiếu của mình khi hối phiếu đến hạn thanh toán

Người thụ hưởng là người hưởng lợi theo thương phiếu Quyền hưởng lợi của người thụ hưởng phát sinh từ thời điểm người phát hành lập

và chuyển giao thương phiếu cho người thụ hưởng Việc nắm giữ thương phiếu một cách hợp pháp là cơ sở quan trọng để đảm bảo quyền hưởng lợi của người thụ hưởng, Người thụ hưởng là người được người ký phát ghi tên trên thương phiếu hoặc là những người được chuyển nhượng thương phiếu theo các quy định của pháp luật về thương phiếu Người thụ hưởng là người ghi tên trên thương phiếu và được thanh toán thương phiếu hoặc là người được chuyển nhượng thương phiếu một cách hợp pháp theo quy định của pháp luật về thương phiếu

Người bảo lãnh là người tham gia quan hệ bảo lãnh thương phiếu thông qua hành vi ký bảo lãnh thương phiếu Người bảo lãnh bằng hành vi

ký bảo lãnh cam kết thực hiện nghĩa vụ thanh toán thương phiếu thay cho người được bảo lãnh khi đến hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ của mình Trong quan hệ bảo lãnh thương phiếu, tuỳ từng trường hợp cụ thể, người được bảo lãnh có thể là người ký phát, người bị ký phát, người phát hành, người chuyển nhượng

Người chuyển nhượng là người thụ hưởng chuyển nhượng thương phiếu của mình cho người khác để đổi lấy tiền hoặc để thanh toán nghĩa vụ

Trang 33

trả tiền của mình đối với người được chuyển nhượng Bằng việc chuyển

nhượng thương phiếu, người thụ hưởng tham gia quan hệ chuyển nhượng

thương phiếu và tự ràng buộc nghĩa vụ của mình đối với người được

chuyển nhượng về việc đảm bảo cho thương phiếu được thanh toán đúng

hạn Thông qua việc chuyển nhượng thương phiếu, người chuyển nhượng

chuyển quyền yêu cầu thanh toán thương phiếu của mình cho người được

chuyển nhượng

1.1.3 CĂN CỨ PHÁT SINH, THAY Đổi, CHÂM DÚT QUAN HỆ THƯƠNG PHIẾU.

Với đặc trưng về hình thức pháp lý của quan hệ thương phiếu là bản

thân tờ thương phiếu - văn bản ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các bên

tham gia vào quan hệ thương phiếu, căn cứ phát sinh quan hệ thương phiếu

giữa các bên là hành vi cam kết đơn phương của các bên Hành vi pháp lý

đơn phương của chủ thể tham gia quan hệ thương phiếu là cam kết đơn

phương tự ràng buộc nghĩa vụ của mình đối với việc thanh toán thương

phiếu Theo quy định của pháp luật về thương phiếu, căn cứ phát sinh quan

hệ thương phiếu chính là hành vi ký phát hành, ký chấp nhận, ký bảo lãnh

và ký chuyển nhượng thương phiếu của người ký phát hành, người bị ký

phát, người bảo lãnh, người chuyển nhượng

Hành vi đơn phương chỉ là căn cứ phát sinh quan hệ thương phiếu

khi nó được thực hiện dưới hình thức hợp pháp và có nội dung phù hợp với

quy định của pháp luật Cụ thể, việc ký phát hành thương phiếu của người

phát hành chỉ làm phát sinh trách nhiệm của người ký phát hành khi việc

phát hành thương phiếu tuân thủ các quy định về hình thức của thương

phiếu như phải có đầy đủ yếu tố bắt buộc, phải trên cơ sở giao dịch được

phép phát hành thương phiếu, chủ thể ký phát hành phải có đủ năng lực

chủ thể tham gia quan hệ thương phiếu Tương tự việc ký chấp nhận, ký

bảo lãnh, ký chuyển nhượng chỉ là căn cứ phát sinh quan hệ thương phiếu

giữa các bên khi người ký chấp nhận, chuyển nhượng, bảo lãnh có đủ năng

lực chủ thể và việc ký chấp nhận, chuyển nhượng, bảo lãnh được thực hiện

theo đúng quy định của pháp luật về thương phiếu

Trang 34

Căn cứ chấm dứt quan hệ thương phiếu: Theo quy định của pháp luật

về thương phiếu, quan hệ thương phiếu chấm dứt trong các trường hợp sau:

(i) Người chấp nhận, người phát hành, người ký phát thanh toán thương

phiếu; (ii) người chấp nhận trở thành người thụ hưởng hối phiếu đòi nợ

hoặc người phát hành trở thành người thụ hưởng hối phiếu nhận nợ; (iii)

người thụ hưởng huỷ bỏ thương phiếu

1.1.4 QUYỂN VÀ NGHĨA v ụ CỦA CÁC BÊN THAM GIA QUAN

HỆ THƯƠNG PHIẾU.

(1) Người thụ hưởng: Theo quy định của pháp luật về thương phiếu

ở hầu hết các nước, tuỳ theo điều kiện trở thành người thụ hưởng, người thụ

hưởng thương phiếu được chia thành người thụ hưởng hợp pháp và người

thụ hưởng thông thường

Người thụ hưởng hợp pháp là người tham gia quan hệ thương phiếu

với tư cách người thụ hưởng theo các điều kiện sau đây: (i) Nắm giữ

thương phiếu hoàn chỉnh về mặt hình thức, thương phiếu có đầy đủ các yếu

tố bắt buộc theo quy định; (ii) Trở thành người thụ hưởng thương phiếu

trước khi thương phiếu quá hạn thanh toán; (iii) Không có bất cứ một thông

báo nào về hạn chế đối với quyền của người chuyển nhượng thương phiếu;

(iv) Trở thành người thụ hưởng thương phiếu một cách thiện ý, không bằng

cách bất hợp pháp hoặc đã trả tiền cho người chuyển nhượng thương phiếu

Người thụ hưởng hợp pháp có quyền (i) yêu cầu các bên có nghĩa vụ

liên quan tới thương phiếu thanh toán thương phiếu khi đến hạn; (ii)

chuyển nhượng thương phiếu; (iii) kiện theo thương phiếu đối với tất cả các

bên có nghĩa vụ liên đới theo thương phiếu

Người thụ hưởng thương phiếu có nghĩa vụ: (i) Xuất trình thương

phiếu cho người bị ký phát để ký chấp nhận trong trường hợp việc xuất

trình để chấp nhận là bắt buộc để xác định thời hạn thanh toán của thương

phiếu (Thương phiếu có ghi thời hạn thanh toán là sau một thời hạn nhất

định kể từ ngày chấp nhận); (ii) Xuất trình thương phiếu khi trên thương

phiếu có quy định phải được xuất trình

Trang 35

Về nguyên tắc, một người nắm giữ thương phiếu được coi là người thụ hưởng hợp pháp cho đến khi được chứng minh ngược lại Người thụ hưởng không có nghĩa vụ chứng minh mình là người thụ hưởng hợp pháp

Do đó, người thụ hưởng thương phiếu đương nhiên có quyền và nghĩa vụ như người thụ hưởng hợp pháp cho đến khi được chứng minh ngược lại

(2) Người chấp nhận hối phiếu đòi nợ: Khi tham gia vào quan hệ

thương phiếu với tư cách là người chấp nhận, người chấp nhận có nghĩa vụ thanh toán thương phiếu phù hợp với nội dung chấp nhận của mình khi đến hạn thanh toán

(3) Người phát hành hối phiếu nhận nợ: Bằng việc ký phát hành

và chuyển giao thương phiếu cho người thụ hưởng, người phát hành cam kết thanh toán hối phiếu cho người thụ hưởng theo nội dung hối phiếu khi phát hành

(4) Người ký phát hối phiếu đòi nợ: Bằng việc ký phát hành hối

phiếu đòi nợ, người ký phát cam kết hối phiếu sẽ được người bị ký phát chấp nhận và thanh toán phù hợp với các điều khoản của hối phiếu nếu hối phiếu được xuất trình đúng hạn Trường hợp hối phiếu không được người bị

ký phát chấp nhận hoặc thanh loán, người ký phát có nghĩa vụ thanh toán hối phiếu cho người thụ hưởng

(5) Người bảo lãnh thương phiếu: Bằng việc ký bảo lãnh thương

phiếu, người bảo lãnh có nghĩa vụ thanh toán thương phiếu nếu người được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn Tuỳ theo người được bảo lãnh là ai, nghĩa vụ của người bảo lãnh sẽ phát sinh trong những trường hợp sau: (i) Trường hợp người được bảo lãnh là người bị ký phát hối phiếu đòi nợ hoặc người phát hành hối phiếu nhận nợ, người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán thương phiếu nếu đến hạn thanh toán

mà thương phiếu không được người bị ký phát hoặc người phát hành thanh toán; (ii) Trường hợp người được bảo lãnh là người chuyển nhượng, người bảo lãnh chỉ có nghĩa vụ thanh toán thương phiếu khi nghĩa vụ thanh toán thương phiếu của người chuyển nhượng đã phát sinh (do người bị ký phát, người phát hành không thanh toán thương phiếu khi đến hạn) và người chuyển nhượng không thực hiện nghĩa vụ của mình; (iii) Trường hợp người

Trang 36

được bảo lãnh là người ký phát hối phiếu đòi nợ, người bảo lãnh chỉ có nghĩa vụ thanh toán thương phiếu khi nghĩa vụ thanh toán của người ký phát phát sinh (hối phiếu không được người bị ký phát chấp nhận hoặc thanh toán) và người ký phát không thực hiện nghĩa vụ của mình.

Người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình (thanh toán thương phiếu) có quyền yêu cầu người được bảo lãnh, người có nghĩa vụ theo thương phiếu đối vói người được bảo lãnh hoàn trả số tiền đã thanh toán cho mình Quyền này của người bảo lãnh xuất phát từ cơ sở người bảo lãnh khi đã thanh toán thương phiếu thay cho người được bảo lãnh sẽ có quyền theo thương phiếu như người được bảo lãnh (bao gồm quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ theo thương phiếu trả tiền cho mình) Do đó, để xác định chính xác những người có nghĩa vụ đối với người bảo lãnh cần phải xác định những người có nghĩa vụ đối với người được bảo lãnh theo thương phiếu

(6) Người chuyển nhượng: Cần phân biệt hai trường hợp chuyển

nhượng bằng ký chuyển nhượng và chuyển nhượng bằng chuyển giao Chuyển nhượng bằng chuyển giao là việc chuyển nhượng được thực hiện trong trường hợp thương phiếu có quy định việc thanh toán thương phiếu được thực hiện cho ngươi cầm thương phiếu Do đó, khi chuyển nhượng thương phiếu, người chuyển nhượng chỉ đơn giản chuyển giao tờ thương phiếu cho người nhận chuyển nhượng mà không kèm theo việc ký trên thương phiếu Việc chuyển nhượng bằng chuyển giao không làm phát sinh nghĩa vụ của người chuyển nhượng

Bằng việc ký hậu chuyển nhượng, người chuyển nhượng thương phiếu có nghĩa vụ cam kết thương phiếu sẽ được chấp nhận và thanh toán phù hợp với các nội dung của thương phiếu khi thương phiếu được xuất trình đúng hạn Khi thương phiếu không được chấp nhận hoặc không được thanh toán, người chuyển nhượng phải bồi thường cho người thụ hưởng

Trang 37

1.1.5 PHÂN LOẠI QUAN HỆ THƯƠNG PHIÊU

Tuỳ theo tiêu chí phân loại, quan hệ thương phiếu có thể được phân loại thành nhiều loại khác nhau

(1) Theo chủ thể tham gia quan hệ thương phiếu, người ta có thể phân loại thành quan hệ hối phiếu đòi nợ và quan hệ hối phiếu nhận nợ

Quan hệ hối phiếu đòi nợ là quan hệ có sự tham gia của ba bên gồm người ký phát, người bị ký phát và người thụ hưởng Trong quan hệ này, người ký phát bằng việc phát hành và chuyển giao thương phiếu yêu cầu người bị ký phát thanh toán thương phiếu khi đến hạn cho người thụ hưởng

Quan hệ hối phiếu nhận nợ là quan hệ có sự tham gia của hai bên gồm người phát hành và ngưòi thụ hưởng Theo quan hệ này, ngưòi phát hành là người có nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng gốc (hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng tín dụng) phát hành hối phiếu nhận nợ thừa nhận nghĩa vụ nợ của mình và cam kết thanh toán hối phiếu nhận nợ cho người thụ hưởng khi đến hạn

(2) Theo tính chất quan hê, người ta có thể chia thành:

Quan hệ phát hành thương phiếu Phát hành là việc lập và ký trên

thương phiếu của người ký phát hành và chuyển giao thương phiếu cho người thụ hưởng để thực hiên nghĩa vụ thanh toán của mình

Quan hệ phát hành thương phiếu là quan hệ giữa bên mua và bên bán trong quan hệ thương mại và sử dụng thương phiếu để thanh toán trong quan hệ thương mại giữa các thương nhân Trong quan hệ này, thương phiếu là công cụ thanh toán giữa các thương nhân và là bằng chứng pháp lý

về quan hệ tín dụng thương mại giữa các bên

Quan hệ chấp nhận (chỉ xuất hiện giữa các bên tham gia quan hệ

hối phiếu nhận nợ) Chấp nhận là cam kết của người bị ký phát thanh toán một phần hoặc toàn bộ số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ khi đến hạn thông qua việc ký chấp nhận trên hối phiếu Bằng việc ký chấp nhận của mình trên hối phiếu, người bị ký phát tự ràng buộc trách nhiệm của mình, chấp thuận lệnh yêu cầu thanh toán của người ký phát, cam kết thanh toán hối

Trang 38

phiếu khi đến hạn theo nội dung chấp nhận của mình Thực chất, quan hệ chấp nhận hối phiếu đòi nợ là quan hệ giữa người người ký phát và người

bị ký phát Theo đó, người ký phát yêu cẩu người bị ký phát ký chấp nhận thanh toán hối phiếu khi hối phiếu được xuất trình Bằng hành vi ký chấp nhận hối phiếu, người bị ký phát đồng ý thực hiện yêu cầu thanh toán của người ký phát, thừa nhận mình có nghĩa vụ thanh toán hối phiếu khi đến hạn, đồng thời từ thời điểm hối phiếu được người bị ký phát ký chấp nhận, người thụ hưởng có quyền yêu cầu người bị ký phát (người chấp nhận) thanh toán hối phiếu khi đáo hạn

Quan hệ chuyển nhượng thương phiếu: là quan hệ giữa người

chuyển nhượng và người được chuyển nhượng Trong đó, người thụ hưởng chuyển giao thương phiếu cho người được chuyển nhượng để đổi lấy tiền hoặc để thực hiện một nghĩa vụ nợ của mình đối với người được chuyển nhượng Thực chất, việc chuyển nhượng thương phiếu được thực hiện trong hai trường hợp: (i) Sử dụng thương phiếu như là phương tiện thanh toán để thực hiên nghĩa vụ trả tiền cho người được chuyển nhượng; (ii) Mua bán thương phiếu - chuyển nhượng thương phiếu để lấy tiền Quan hệ thương phiếu được phát sinh giữa người chuyển nhượng và người được chuyển nhượng khi người chuyển nhượng ký vào mặt sau tờ thương phiếu và chuyển giao thương phiếu cho người được chuyển nhượng Quan hệ này chỉ chấm dứt khi nghĩa vụ trả tiền theo thương phiếu được giải trừ (được hoàn thành)

Quan hệ bảo lãnh thương phiếu: là quan hệ giữa người bảo lãnh,

ngưòi được bảo lãnh và người thụ hưởng trong việc bảo đảm nghĩa vụ trả tiền theo thương phiếu Theo đó, người bảo lãnh cam kết sẽ thanh toán một phần hoặc toàn bộ số tiền trên thương phiếu nếu người có nghĩa vụ được bảo lãnh (người được bảo lãnh) không thanh toán số tiền theo thương phiếu khi đến hạn Người được bảo lãnh trong quan hệ thương phiếu là ngưòi có nghĩa vụ theo thương phiếu như người phát hành, người chuyển nhượng hoặc người ký bị phát (người chấp nhận)

Quan hệ thanh toán thương phiếu: là quan hệ giữa người phát

hành (đối với hối phiếu nhận nợ), người bị ký phát và người thụ hưởng

Trang 39

trong việc thanh toán thương phiếu khi đến hạn Trong quan hệ này, trên cơ

sở xuất trình thương phiếu yêu cầu thanh toán đúng hạn, đúng địa điểm thanh toán quy định trên thương phiếu của người thụ hưởng, người phát hành hoặc người bị phát có nghĩa vụ thanh toán thương phiếu

Quan hệ truy đòi thương phiếu: là quan hệ giữa người thụ hưởng

với những người chịu trách nhiệm liên đới đối với thương phiếu liên quan đến việc truy đòi số tiền trên thương phiếu do không được người bị ký phát chấp nhận hoặc không được thanh toán khi đến hạn

Quan hệ khởi kiện thương phiếu: là quan hệ giữa người thụ hưởng

với những người có trách nhiệm liên đới đối với thương phiếu trong việc người thụ hưởng yêu cầu toà án có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi theo thương phiếu của mình Những người có trách nhiệm liên đới đối với thương phiếu bao gồm người bị ký phát đã ký chấp nhận hối phiếu (người chấp nhận), người ký phát, người chuyển nhượng, người bảo lãnh

1.2 PHÁP LUẬT ĐIỂU CHỈNH QUAN HỆ THƯƠNG PHIẾU.

1.2.1 Khái niệm.

Pháp luật điều chỉnh quan hê quan hê thương phiếu hay pháp luât về thương phiếu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các bên liên quan đến việc phát hành, chấp nhận, chuyển nhượng, bảo lãnh, thanh toán, truy đòi và khởi kiện thương phiếu

1.2.2 Lịch sử pháp luật về thương phiếu

Sự tồn tại của quan hệ mua bán chịu hàng hoá, mua bán hàng trả chậm dẫn đến việc sử dụng thương phiếu như là bằng chứng của quan hệ tín dụng thương mại giữa các bên đã dần dần hình thành tập quán thương mại về phát hành sử dụng thương phiếu Cùng với sự phát triển của các quan hệ thương mại, nhu cầu sử dụng thương phiếu ngày càng gia tăng, tuy nhiên, việc áp dụng các tập quán thương mại về phát hành và sử dụng thương phiếu không đảm bảo được quyền, lợi ích của các bên liên quan Thực tiễn này đòi hỏi cần phải quy phạm hoá quan hệ nợ nần trên cơ sở mua bán chịu

Trang 40

Trên cơ sở thực tiễn sử dụng hối phiếu của các thương gia, năm 1603 văn bản pháp luật đầu tiên về hối phiếu - Pháp lệnh Humburg - đã được ban hành trên cơ sở của các tập quán thương mại về phát hành và sử dụng thương phiếu Năm 1874, 55 pháp lệnh hối phiếu của từng bang riêng rẽ đã được tập hợp hoá thành Pháp lệnh chung về hối phiếu Đức Tiếp theo Đức, năm 1882 Vương quốc Anh đã ban hành Luật Hối phiếu (Bill of Exchange Act 1882) Đầu thế kỷ thứ 20, đặc biệt là sau năm 1930 năm ký kết Công ước Giơ-ne-vơ về hối phiếu một loạt quốc gia đã lần lượt ban hành luật hối phiếu của quốc gia mình cho dù có gia nhập hay không gia nhập Công ước

1930 về hối phiếu

Pháp luật về thương phiếu thực sự khẳng định vai trò của mình trong việc thúc đẩy giao lưu thương mại, mở rộng khả năng phát hành và lưu thông thương phiếu của thương nhân khi đã thừa nhận và thể chế hoá (i) sự

tự do chuyển nhượng của thương phiếu bao gồm các quy định xác định các điều kiện để thương phiếu có thể chuyển nhượng, quy định về nghĩa vụ của người chuyển nhượng đối với người được chuyển nhượng, bảo lưu quyền truy đòi số tiền trên thương phiếu của người được chuyển nhượng đối với người chuyển nhượng; (ii) khái niệm “người chủ hợp pháp” của hối phiếu (Holder in due course) và đưa ra căn cứ xác định một chủ hợp pháp của thương phiếu, quyền của người chủ hợp pháp của thương phiếu đối với các bên có nghĩa vụ theo thương phiếu

Luật hối phiếu quốc tê

Từ cuối thế kỷ 19, hối phiếu đã được sử dụng rộng rãi trong quan hệ thương mại quốc tế Nhưng do các quy định pháp luật về hối phiếu của mỗi quốc gia có sự khác nhau nên trong quá trình sử dụng hối phiếu đã phát sinh nhiều tranh chấp Để giải quyết các bất đồng này, việc ban hành một quy định chung thống nhất về hối phiếu áp dụng trong quan hệ thương mại quốc tế là cần thiết Năm 1910 và 1912 Hội nghị đầu tiên về Luật quốc tế

về hối phiếu đã được tiến hành tại Haagen Đức Do chiến tranh thế giới lần

I, đến năm 1930 tại Giơ ne vơ Thuỵ sỹ, Hội nghị quốc tế về hối phiếu mới thông qua 3 hiệp ước liên quan đến hối phiếu gồm: Luật thống nhất về hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ, Công ước về luật tư pháp quốc tế liên quan đến hối phiếu, Công ước về quan hệ giữa Luật hối phiếu và Luật dấu Các nước Áo, Bỉ, Hà Lan, Phần Lan, Pháp, Đức, Thuỵ sỹ, Hung ga ry,

Ngày đăng: 03/08/2020, 19:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w