1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện

99 94 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 9,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Yêu cầu này đã trở thành một nguyên tắc Hiến định: “Các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,

Trang 2

l ỉ ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO l ì ộ T ư PIIÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN CÔNG LONG

CÁC BIỆN PHÁP CƯỠNG CHÊ THI HÀNH ÁN DÂN s ự , THỤC TIỄN ÁP DỤNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

C h u y ê n n gàn h : L u ậ t clân sụ và T ố tụ n g dân sự

Mã số: 50507

LUẬN ÁN THẠC s ĩ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học :

Tiến sĩ Luật học ĐINIỈ TRUNG TỤNG

Trang 3

LỜ3 c ả m 0R

Qbùi ĩtiùíe tở lò nạ biêí títL eảe Qkàụf @A tdvưỉuiạ (Dại họe

Ẩlìiảỉ 7ỗà OLậi, những, /tạưèi mà tô í (tã đxíổíi họa tvúniỊ DCliOÚ 13

(Dai li&e JhúLt 1988 - • • • /992 í í à OCltơú (Ị) ể a ơ /tớỂ • LuẨÌt/9 9 7 - 2000.

(Ằí)ìtĩ etíut ú’ti các cứ quan., ítoii ơi ^Jirnn(Ị lứíníỊ oà đĩa

plnứUìíỊ, bạn ùè, (tồng itạíùệp đã (ịìúp đà tôi titìiiụ quá trình họe

tậ p , n(Ịhiên cứu.

rOặe biệt, xin tràII tt<ạnụ eảttt án Qiẻn i l Jầiãi họe ri)uih

^Itnnạ -7ạ trạ (Tã liiiâiiq dẫn tôi hoàn U lòm I l bủn Luận án nài/.

(7)ối U liả năng, CỈIÍL biu i th ím cù)ti CÁ nhẤỀíL Ivcưi (‘h ê , oíiúíi

(‘líắ iỊ báu Ẩliiậti án n à ụ còn n hiều khiêm k íu iụ ê í /Hon(Ị đưọa aáa

'Jfaăty, oà eáe bạn bề đ ề nạ Iiạ/iìệp sea (ịẫn chi giáo.

Q lạuụễn @ềnq, Mũnạ.

Trang 4

MỤC LỤC:

Trang

1.3 Khái quát sự hình thành phát triển của ch ế định cưỡn? chế thi hành án dân sự

1.4 Tìm hiểu ch ế định cưỡng chế thi hành án dân sự trong pháp luật một số nước 36

Chương 2: C ác biện pháp cưỡng c h ế thi hành án dân sự theo pháp luật

2.1 Các biện pháp cưỡng ch ế thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành 45 2.2 Thực tiễn áp dụng các biện pháp cưỡng chế thí hành án dân sự trons; các năm từ

Chưong 3: Một s ố khuyên nghị nhằm hoàn thiện các quy định về cưỡng chê

3.1 N hững ycu cầu sửa đổi, bổ sung các quy định về cưỡng chế thi hành án dân sự 74 3.2 Kiến nghị những nội dung cần sửa đổi bổ sung về các biện pháp cưỡng chế

Trang 5

MỞ ĐẦU

ỉ T ính cấp thiết của đề tài.

Tăng cường pháp chế Xã hội Chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền

Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là trọng tâm của của công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay Trong đó, vấn

đề quản lý xã hội bằng pháp luật, nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật, thiết lập trật tự, kỷ cương nhằm bảo đảm xã hội công bằng, văn minh là một trong những nội dung cơ bản

Nói đến pháp chế Xã hội Chủ nghĩa là nói đến chế độ tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật của tất cả các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và mọi công dân Một trong những nội dung có tính chất cơ bản của pháp chế là yêu cầu mọi chủ thể phải chấp hành nghiêm chỉnh các bản án, quyết định của Toà án Yêu cầu này đã trở thành một nguyên tắc Hiến định: “Các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế,

tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành” (Điều 136 Hiến pháp 1992)

Vấn đề bảo đảm thi hành các phán quyết của Toà án nhân dân có ý nghĩa không những nhằm giữ gìn kỷ cương, phép nước mà còn là nhân tố có ý nghĩa đặc biệt trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của các cơ quan, tổ chức khác và công dân Hoạt động thi hành án kém hiệu quả sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và hiệu lực quản lý xã hội của Nhà nước, gây dư luận xấu và làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào bộ máy Nhà nước

Trang 6

Tron" lĩnh vực thi hành án, thì thi hắnh án dân sự đã và đang giữ vị trí và đóng một vai trò hết sức quan trọng Trong bối cảnh hiện nay, cơ chế thị trường

là nhân tố làm biến đổi và tạo điều kiện thúc đẩy phát triển mạnh mẽ kinh tế -

xã hội, nhưng bản thân nó cũng làm phát sinh nhiều mâu thuẫn và đòi hỏi phải

có sự điều chỉnh của pháp luật Đây là nguyên nhân dẫn tới số lượng vụ việc xét

xử của Toà án và khối lượng công việc của các cơ quan thi hành án ngày càng tăng Trong năm 1999, các cơ quan thi hành án dân sự trong cả nước phải thụ

lý, tổ chức thi hành 689.537 vụ việc, tổng số tiền phải thi hành ìà 9.382 tỷ đồng (chưa kể số tài sản là hiện vật) Đáng lo ngại là số vụ việc không có điều kiện thi hành cũng ngày càng gia tăng, hiện có tới 148.949 vụ việc đang được xếp vào diện “án tồn đọng” Nhìn chung, thực trạng thi hành án dân sự nhiều năm qua ià kém hiệu quả và còn nhiều bất cập Trước hết, do hệ thống pháp luật quy định về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự chưa hoàn chỉnh và đổng bộ, nhiệm

vụ quản lý và tổ chức thi hành án dân sự do nhiều cơ quan đảm nhiệm và được phân cấp quản lý nhiều tầng nấc, dàn trải và chưa có cơ chế phối hợp có hiệu quả trong quá trình tổ chức thi hành án Chính vì vậy, vấn đề hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự, bảo đảm thi -hành nghiêm chỉnh, nhanh chóng, kịp thòi các bản án, quyết định của Toà án và nàng cao hiệu quả thi hành án dân sự

là yêu cầu đang được đặt ra rất cấp thiết

Những năm gần đây, thi hành án dân sự là lĩnh vực được quan tâm đặc biệt Trên phương diện nghiên cứu, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu

về thi hành án dân sự, như một số đề tài cấp bộ của Bộ Tư pháp, một số cuốn sách và các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành của của một số tác giả Tuy nhiên, các công trình này mới nghiên cứu trên phạm vi tổng thể hoặc từng chuyên đề đơn lẻ, chưa có công trình nào nghiên cứu có tính chất chuyên sâu về chế định cưỡng chế thi hành án dân sự Việc xem xét một cách tương đối có hệ thống các quy định của pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự, kết hợp với

Trang 7

tổng kết, đánh giá thực tiễn quá trình áp dụng các biện pháp cưỡng chế của các

cơ auan thi hành án dân sự ưong thời gian qua có ý nshĩa quan trọng không những cho việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự, mà còn góp phần trực tiếp vào công tác chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ của các cơ quan quản lý thi hành án dân sự

Đây là những lý do để chúng tôi chọn vấn đề “Các biện pháp cưỡĩig ch ế

thi hành án dân sự, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn ih iệrì’ làm đề tài luận

án Thạc sĩ luật học

2 Mục đích nghiên cứu.

Việc nghiên cứu đề tài nhằm đạt được các mục đích sau:

- Góp phần tìm hiểu và làm rõ về lý luận những vấn đề cơ bản về thi hành án dân sự và các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự Tìm hiểu một cách khái quát quá trình phát triển của chế'định cưỡng chế thi hành án dân sự qua các thời kỳ lịch sử

- Thông qua việc nghiên cứu chế định cưỡng chế thi hành án dân sự và tổng kết thực tiễn áp dụng, làm rõ những vấn đề bất cập giữa lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng nhằm đưa ra những kiến nghị cụ thể trong việc hoàn thiện pháp luật và các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả cồng tác thi hành án dân sự

- Kết hợp giữa nghiên cứu chế định cưỡng chế thi hành án dân sự trong pháp luật thi hành án Việt Nam và tham khảo chế định này trong pháp luật thi hành án dân sự của một số nước trên thế giới Thông qua đó, đối chiếu, so

Trang 8

sánh và đúc kết kinh nghiệm cho việc xây dựng và hoàn thiện chế định này trong pháp luật nước ta, góp phần vào quá trình hội nhập và hợp tác về tư pháp nói chuns; cũng như về lĩnh vực thi hành án dân sự nói riêng.

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài.

Để đạt được những mục đích của việc nghiên cứu đề tài, phạm vi nghiêncứu được giới hạn trong pháp luật thực định về thi hành án dân sự, nhất là cácquy định về biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự cũng như các tư liệu tổng kết thực tiễn trên cơ sở khảo sát, kiểm tra hoạt động của các cơ quan thi hành

án dân sự trên phạm vi cả nước trong thời gian 3 năm (1997-1999) Ngoài ra, trong Luận án cũng đề cập đến pháp luật về thi hành án dân sự của Cộng hoà Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức, Nhật Bản nhằm so sánh để làm sáng tỏ hơn chế định cưỡne chế thi hành án dân sự

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.

Với tư cách là một đề tài nghiên cứu khoa học pháp lý, Luận án được nghiên cứu, xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận Chủ nghĩa Mác Lênin và

tư tưởng Hồ Chí M inh về Nhà nước và pháp luật; đường lối của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước và pháp luật thể hiện thông qua các Nghị quyết của Đảng

Ngoài ra, các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như: phương pháp lịch sử, thống kê, so sánh, phương pháp phân tích, đánh giá và tổng kết kinh nghiệm cũng được sử dụng để hoàn thành Luận án

Trang 9

5 T ìn h hình nghiên cứu, những điểm mới và ý nghía thực tiễn của việc

nghiên cứu để tài.

- Từ trước đến nay, lĩnh vực thi hành án dân sự cũng đã được nghiên cứu ở một số công trình khoa học như: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Những

cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định Thừa phát lại”, mã số 95-98-114/ĐT

do Viện nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp thành phố

Hồ Chí Minh chủ trì thực hiện; Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án”, mã số 96-98-027/ĐT, do Cục quản lý thi hành án dân sự Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện; Luận án Thạc sĩ luật học “Cơ

sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự” của tác giả Trần Văn Quảng; các cuốn Giáo trình môn Luật tố tụng dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội và các trường đại học có chuyên ngành luật; cuốn “Thủ tục kiện và thi hành án dân sự” của luật gia Lê Kim Quế do Nhà xuất bản Pháp lý ấn hành năm 1990 và cuốn “Thủ tục kiện và thi hành án dân sự” đồng tác giả do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 1995; các bài viết trên các tạp chí Dân chủ 'và pháp luật, Tạp chí luật học; Tạp chí Nhà nước và pháp luật v.v Nhưng nhìn chung, các công trình trên mới chỉ nghiên cứu ở phạm vi tổng thể, nội dung tập trung vào nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển, cũng như tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự hoặc đặt ra và giải quyết một vài khía cạnh liên quan đến thi hành án dân sự Chưa có công trình nào có tính chất chuyên khảo riêng về cưỡng chế thi hành án dân sự

- Lĩnh vực thi hành án dân sự về mặt lý luận hiện đang còn nhiều quan điểm khoa học khác nhau Trên cơ sở các luận cứ khoa học và thực tiễn, ưong Luận án đưa ra một số quan điểm độc lập về thi hành án dân sự và cưỡng chế thi hành án dân sự, đồng thời nội dung nghiên cứu có nhiều điểm mới

Trang 10

- Đề tài mang tính thực tiễn cao và được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp trên cả phươns diện lý luận và tổng kết, đánh siá thực tiễn áp dụng pháp luật Do đó Luận án không chỉ đề cập các vấn đề về cơ sở lý luận mà còn làm rõ sự bất cập trong các quy định của pháp luật và các vấn đề vướng mắc từ thực tế thi hành pháp luật.

- Với phạm vi nghiên cứu và bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học được sử dụng khi nghiên cứu đề tài, cho phép tiếp cận vấn đề cưỡng chế thi hành án dân sự không chỉ dưới giác độ là một chế định pháp luật, mà ở mức

độ nhất định còn có thể nghiên cứu nó với tính chất là một hiện tượng xã hội, thông qua việc phân tích làm rõ những nguyên nhân về kinh tế, xã hội, tâm lý, pháp luật Từ đó làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp có tính đồng

bộ trong công tác quản lý, tổ chức thi hành án dân sự nói chung và cưỡng chế thi hành án dân sự nói riêng

- Việc tổng kết, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về cưỡng chế thi hành án trong thời gian dài, có thể đúc rút được một số kinh nghiệm quan trọng trong công tác chỉ đạo, vận dụng trong thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự

- Những vấn đề được làm sáng tỏ trong Luận án có thể góp phần cho việc xây dựng pháp luật về thi hành án dân sự, cụ thể là việc sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993 và xây dựng Dự án Luật thi hành án, trong đó

có các quy định về cưỡng chế thi hành án dân sự

ó Kết cấu của luận án.

Trang 11

Luận án gồm: Phần mở đầu; 3 Chương và Phần kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu thao khảo, cụ thể như sau:

Phần m ở đầu.

và cưỡng chế thi hành án dân sự.

theo pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng.

về cưỡng chế thi hành án dân sự, nâng cao hiệu quả thi hành dân sự.

Kết luận

Phụ lục

Danh mục tài liệu tham khảo.

Trang 12

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỂ CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN DÂN s ự

VÀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN s ự

1.1.1 Khái niệm chung về thi hành án.

Xét xử là khâu trọng yếu của hoạt động tư pháp Tuy nhiên, bản án, quyết định của Toà án không phải là sản phẩm riêng của cơ quan xét xử, mà là kết quả của cả quá trình tố tụng, nó là sự kết tinh từ hoạt động mang tính khoa học cao, công phu, hết sức khó khăn, phức tạp của nhiều cơ quan chức năng Kết quả quá trình tố tụng là việc Toà án ra bản án, quyết định thể hiện quyền lực tối cao của Nhà nước trong việc quản lý xã hội và nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và các chủ thể khác, đảm bảo trật tự xã hội Mặc dù vậy, nếu phán quyết của Toà án có hiệu lực pháp luật mà không được thi hành, thì hiệu lực của nó chỉ thể hiện trên giấy mà thôi Chính vì vậy, thi hành án là vấn

đề gắn liền với công tác xét xử, hoạt động xét xử sẽ không có ý nshĩa, nếu công tác thi hành án không được chú trọng

K ể'từ khi chính quyền dân chủ nhân dân được thiết lập sau cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho đến nay, quá trình hoàn thiện bộ máy Nhà nước nói chung cũng như hoàn thiện hệ thống tư pháp nói riêng, vấn đề bảo đảm tính hiệu lực của các bản án, quyết định của Toà án luôn được đề cao Với

tư tưởng “một bản án khi đã tuyên mà không được thi hành chu đáo, không

những không làm tăng uy tín của Toà án mà còn làm giảm đi là khác”1 Ngay

1 Thông tư s ố Ó/TT ngày 1 9 /2 /1 9 4 9 cùa Bộ trưởng Bộ Q uốc phòng giải thích sắ c lệnh số 2 5 8/S L về tổ chức côn g

an quàn pháp.

Trang 13

sau khi siành được chính quyền, cùns với việc thiết lập bộ máy Nhà nước kiểu mói, nhiệm vụ thi hành án cũng đã được đặt lên hàng đầu Tại sắc lệnh số 130 ngày 19/7/1946, Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã quy định về việc ấn định thể thức thi hành án Những năm tiếp theo, trong hoàn cảnh gian lao của cuộc kháng chiến trường kỳ và kiến quốc, công tác thi hành án vẫn luôn luôn được chú trọng, không những ngày càng cụ thể về trình tự, thủ tục mà cả

về bộ máy, con người làm công tác này cũng được củng cố, tăng cường Để nâng cao kết quả thi hành án, nhằm thống nhất việc thi hành án hộ, án hình và bảo đảm sự phối hợp giữa hai cơ quan tư pháp và hành chính, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ra Thông tư số 24-BK ngày 26/4/1949 quy định về các cơ quan có nhiệm vụ chấp hành, các cơ quan có bổn phận giúp sức thi hành án và các cách thức thi hành án đối với các án hình Đồng thời quy định về nguyên tắc, thể thức chấp hành, trách nhiệm của cơ quan, cá nhân giúp việc và cách thức thi hành, trong đó có các biện pháp cưỡng bức nhằm bảo đảm thi hành đối với án

hộ Tại Sắc lệnh số 85-SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà về cải cách bộ máy tư pháp và tố tụng, thẩm quyền về việc chấp hành

án cũng như biện pháp bảo đảm thi hành -án đã được quy định cụ thể

Khi Hiến pháp năm 1980 được ban hành, vấn đề bảo đảm tính hiệu lực của các bản án của toà án đã được ghi nhận và trở thành một nguyên tắc Hiến định, Điều 137 Hiến pháp 1980, Điều 136 Hiến pháp 1992 quy định rõ: các bản

án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kiiiỉì tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành Trên cơ sở đó, pháp luật về thi hành án cũng ngày càng được hoàn thiện, đánh dấu bằng các mốc quan trọng là việc ban hành Bộ Luật tố tụng hình

sự năm 1986; Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989; Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993

Trang 14

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, nhưng suốt từ năm 1945 đến nay, thi hành án iuôn được coi là hoạt động Nhà nước, là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong chức năng đối nội của Nhà nước ta Thi hành án là hoạt động gắn liền với xét xử, vì vậy lĩnh vực xét xử nào cũnơ đòi hỏi phải có hoạt động thi hành án tương ứng Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành, có thể chia hoạt động thi hành án ở nước ta thành hai mảng lớn:

T h i hàn h án h ình sư Điều 227 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều

của Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2000, quy định về các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành phần hình phạt trong bản án, quyết định hình sự như sau:

- Cơ quan Công an thi hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân và tham gia hội đồng thi hành án tử hình

- Chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết

án cư trú hoặc làm việc có nhiệm vụ theo dõi, giám sát việc cải tạo của những người bị phạt cải tạo không giam giữ

- Việc thi hành án quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm một số chức vụ hoặc cấm làm một số nghề nhất định do chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi thi hành án đảm nhiệm

- Cơ sở chuyên khoa y tế thi hành quyết định về bắt buộc chữa bệnh

Thi hành án dân sư Theo quy định tại Pháp lệnh thi hành án dân sự

1989 và Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993 thì “những bản án, quyết định dân

sự của Toà án bao gồm bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự và bản án, quyết định khác do pháp luật quy định” do cơ quan thi hành án dân sự chịu trách nhiệm thi hành

Trang 15

N hư vậy, thi hành án theo pháp luật Việt Nam là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước, do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định, nhằm buộc người bị kết án phải chịu các hình phạt hoặc buộc những cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện các nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Toà án.

Cũng cần nói thêm rằng, hoạt động thi hành án ở nước ta hiện nay đang ở trong tình trạng rất phân tán cả về mặt tổ chức thực hiện và về quản lý Nhà nước Trách nhiệm quản lý được phân công, phân cấp cho nhiều cơ quan khác nhau: công tác thi hành án phạt tù do Bộ Công an quản lý và tổ chức thi hành, tuy nhiên việc ra quyết định thi hành các hình phạt, việc xét miễn, giảm thi hành hình phạt, việc xoá án lại thuộc thẩm quyền của Toà án Công tác thi hành dân sự thì do Bộ Tư pháp quản lý và tổ chức thi hành Trong khi đó, hình phạt cải tạo không giam giữ, quản chế hoặc trường hợp cho bị cáo hưởng án treo thì lại được giao cho nhiều cơ quan, nhiều cấp khác nhau mà các cơ quan này không mang tính chất chuyên trách Sự phân tán này làm cho quá trình tổ chức thi hành án của các cơ quan chức hăng thiếu đồng bô, khônẹ có sự phối kết hợp, đây là một trong các nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả của công tác thi hành án

1.1.2 Khái niệm thi hành án dân sự.

Cho đến nay, Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993 vẫn là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong lĩnh vực thi hành án dân sự Pháp lệnh này chỉ quy định trình tự, thủ tục thi hành đối với các bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình

sự (Điều 1) Tuy nhiên, từ năm 1993 đến nay, Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật như: Bộ luật dân sự; Luật phá sản doanh nghiệp; Luật

Trang 16

sửa đổi, bổ sung một sổ điều của Bộ luật tố tụng hình sự; Pháp lệnh công nhận

và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài; Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính v.v Do vậy, phạm vi áp dụng, trình tự, thủ tục thi hành án dân sự ngày càng mở rộng Nhiều quan hệ pháp luật khác nhau được các cơ quan tài phán (Trọng tàikinh tế, Toà án) giải quyết theo các trình tự tố tụng khác nhau, nhưng đến giaiđoạn thi hành án đều áp dụng theo trình tự, thủ tục thi hành án dân sự Theo quy định của các văn bản trên đây, thì trình tự, thủ tục thi hành án dân sự được áp dụng để thi hành đối với:

- Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình;

- Bản án, quyết định về kinh tế, lao động;

- Quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự (hình phạt tiền, tịch thu tài sản, án phí);

- Quyết định về tài sản và quyền-tài sản trong bản án, quyết định hànhchính;

- Bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài được Toà án Việt nam cống nhận và cho thi hành tại Việt Nam;

- Quyết định của Trọng tài nước ngoài được Toà án Việt Nam công nhận

và cho thi hành tại Việt Nam

Từ tháng 6/1993 trở về trước, công tác thi hành án dân sự do Toà án nhân dán các cấp đảm nhiệm Toà án là cơ quan xét xử, đồng thời vừa chịu trách nhiệm tổ chức thi hành án Có thể nói là trong giai đoạn này, công tác thi hành

án dân sự ở trong tình trạng rất yếu kém Trong bối cảnh chung cơ sở vật chất hết sức khó khăn, đội ngũ cán bộ vừa thiếu, vừa yếu, hệ thống pháp luật không

Trang 17

đồn" bộ Hơn nữa, do phải tập trung vào nhiệm vụ xét xử, nên công tác thi hành

án dân sự chưa được coi trọng đúng mức Trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội khoá IX, KỲ họp thứ nhất ngày 6/10/1992 và Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 21/4/1993, công tác thi hành án dân sự từ Toà án nhân dân các cấp được bàn giao sang cơ quan của Chính phủ Việc ra quyết định cũng như tổ chức thi hành

án hoàn toàn do Thủ trưởng cơ quan thi hành án chịu trách nhiệm Như vậy, về

cơ chế quản lý cũng như về trình tự thủ tục thi hành án dân sự đã có sự thay đổi

có tính chất căn bản Thi hành án dân sự hiện được xem là hoạt động hành

chính - tư pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành nhằm thi hành kịp thời đầy đủ các bản án, quyết định về dân sự của Toà án.

1.1.3 Đặc điểm của thi hành án dân sự.

* T h i hành án dân sự là hoạt động m ang tính chất hành chính - tư

p háp.

Dưới giác độ lý luận, việc nghiên cứu đánh giá ý nghĩa, vị trí, tính chất của thi hành án dân sự hiện còn đang tồn tai các quan điểm khác nhau Có quan

điểm cho rằng, thi hành án dân sự là một giai đoạn độc lập trong quy trình tố

tụng, đây là giai đoạn kết thúc quá trinh bảo vệ quyền lợi của đương sự Việc

tách rời giai đoạn thi hành án ra khỏi tiến trình tố tụng sẽ làm mất ý nghĩa của giai đoạn xét xử (giai đoạn có ý nghĩa quyết định trong quá trình tố tụng), cũng như toàn bộ các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng khác Nếu hiểu theo nghĩa rộng, thi hành án dân sự không chỉ là tổng hợp các hành vi thi hành bản án, quyết định “dân sự” của Toà án theo quy định của pháp luật về thi hành

án, mà bao gồm cả những hành vi nhằm thi hành bản án, quyết định đó theo quy định của các văn bản pháp luật khác Như vậy, việc chuyển giao công tác thi hành án dân sự từ cơ quan xét xử sang cơ quan thuộc Chính phủ không có

Trang 18

nghĩa là thủ tục thi hành án dân sự là thủ tục hành chính Thủ tục tố tụns dân sự cũng như thủ tục tố tụng hình sự không thể hiểu chỉ có Toà án tiến hành mà do nhiều cơ quan, tổ chức tiến hành Nội dung thi hành án dân sự chủ yếu mans tính tài sản, dựa trên bản án, quyết định của Toà án, nó gắn liền với việc giải quyết vụ án Chính vì vậy, thi hành án dân sự không thể coi thuần tuý là một thủ tục hành chính, giai đoạn thi hành án dân sự vẫn được nghiên cứu như một

bộ phận của pháp luật tố tụng dân sự

Tuy nhiên, nếu xét một số tiêu chí dưới đây, thì thi hành án dân sự khó hội đủ những đặc trưng của một giai đoạn tố tụng dân sự độc lập

T h ứ nhất, hiện nay, phạm vi áp dụng theo trình tự thi hành án dân sự rất

rộng Nhiều quan hệ pháp luật trước đó đã được giải quyết theo các trình tự tố tụng khác nhau (lao động, kinh tế, hành chính, hình sự, tư pháp quốc tế, trọng tài) và do nhiều cấp xét xử khác nhau Song, kết quả của các quá trình xét xử

đó, tức là các phán quyết của Toà án đều được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự Nếu coi thi hành án dân sự là một giai đoạn tố tụng, thì sẽ xác định nó thuộc một tiến trình tố tụng cụ thể nào: dân sự, kinh tế, hình sự, hành chính, lao động hay đây là ngành luật “tố tụng tổng hợp” (!)

Thử hai, về cơ chế quản lý và trình tự thủ tục thi hành án đã có sự thay

đổi căn bản Công, tác thi hành án dân sự từ năm 1993 đến nay do Chính phủ quản lý thống nhất Theo quy định tại Điều 10 của Pháp lệnh thi hành án dân sự

1993, thì Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác thi hành án và chịu trách nhiệm tổ chức thi hành án trong phạm vi cả nước Hệ thống các cơ quan thi hành án dân sự đã được thành lập và đi vào hoạt động ổn định với 61 Phòng thi hành án cấp tỉnh và 615 Đội thi hành án cấp huyện (trona quân đội còn có 9 Phòng thi hành án Quân khu và Quân chủng

Trang 19

Hải quân làm nhiệm vụ thi hành phần quyết định tài sản trong bản án hình sự của Tòa án quân sự các cấp, do Bộ Quốc phòng quản lý) Việc ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành án thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan thi hành án (cơ quan hành chính- tư pháp) thay vì Chánh án như trước đây.

Mặt khác, thi hành án dân sự là hoạt động tiếp theo của giai đoạn xét xử

và là giai đoạn rất quan trọng trong quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự Mục đích của quá trình tố tụng là làm rõ sự thật khách quan của vụ án, có thể nói, khi kết thúc hoạt động xét xử, thì sự thật khách quan đó, hay nói cách khác côns lý đã được làm sáng tỏ, nội dung quan hệ pháp luật đã được Toà án xác định cụ thể bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật Quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan thi hành án chỉ thực thi các nghĩa vụ đã được ấn định mà không có quyền thay đổi các quyền, nghĩa vụ đó Vì vậy, việc tổ chức thi hành

án đơn thuần chỉ là thủ tục hành chính - tư pháp, việc coi thi hành án dân sự là một giai đoạn tố tụng độc lập là khó có cơ sở

Thứ ba, về cơ sở pháp lý, tính chất một quan hệ pháp luật được thể hiện

rõ nhất ở văn bản pháp luật điều chỉnh nó Trình tự tố tụng, các hành vi tố tụng

và chủ thể của quan hệ tố tụng phải được quy định trong văn bản pháp luật tố tụng Kể từ năm 1989, thủ tục tố tụng dân sự được quy định riêng trong Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, đổng thời, cũng trong năm 1989, Pháp lệnh thi hành án dân sự được ban hành quy định riêng về thủ tục thi hành án dân sự Như vậy, thi hành án dân sự đã được tách ra khỏi trình tự và thủ tục tố tụng dân sự, không thể được coi là thủ tục tố tụng Trong phương hướng cải cách, hoàn thiện bộ máy Nhà nước, Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành TW Đảng lần thứ ba (Khoá VIII) đặt ra yêu cầu tiếp tục kiện toàn hệ thống cơ quan thi hành án “chuẩn bị các điều kiện để tiến tới giao cho một cơ quan quản lý tập trung, thống nhất công tác thi hành án” Như vậy, với định hướng xây dựng một

Trang 20

ngành luật để điều chỉnh riêng về lĩnh vực thi hành án (cả thi hành án hình sự và dân sự), có nghĩa là các quy định về thi hành án sẽ được tách hoàn toàn khỏi luật tố tụng, không thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật tố tụng Trong tươnơ lai, hoạt động thi hành án nói chung sẽ hoàn toàn mang tính chất hành chính - tư pháp.

* Đ ối tượng đặc trưng của thi hành án dân sự ỉà các nghĩa vụ tài sản

Hiện tại, trình tự, thủ tục thi hành án dân sự được áp dụng để thi hành cả những bản án, quyết định về kinh tế, lao động, hành chính, quyết định của trọng tài và một số hình phạt và biện pháp tư pháp trong bản án, quyết định hình sự v.v Mặc dù hoàn toàn khác biệt về tính chất của quan hệ pháp luật, trình tự tố tụne, nhưng nghĩa vụ thi hành án trong tất cả các bản án, quyết định trên có tính chất tương đồng đó là nghĩa vụ tài sản hoặc các công việc phải thực hiện Đây

là cơ sở để xác định tính chất “dân sự” nhằm phân biệt với thi hành án hình sự Tuy nhiên, thuật ngữ “dân sự” khôns thể hiện đủ nội hàm của khái niệm loại hình thi hành án có tính chất tổng hợp này, mặc dù vậy cho đến nay nhà làm luật vẫn chưa đưa ra khái niệm khác

1.1.4 Các nguyên tắc cơ bản của thi hành án dân sự.

Ngùyên tắc thi hành án dân sự là các tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình tổ chức và hoạt động thi hành án Thi hành án dân sự là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước, nên bản thân nó cũng phải tuân thủ những nguyên tắc chung về tổ chức, hoạt động của Nhà nước, như nguyên tắc pháp chế XHCN, nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật đồng thời, nó cũng có các nguyên tắc đặc thù của lĩnh vực thi hành án dân sự

* N guyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Toà án

Trang 21

Đâv vừa là nguyên tắc chunc vừa là nguyên tắc đặc thù trong tổ chức và hoạt động thi hành án Thi hành nghiêm chỉnh, kịp thời bản án, quyết định đã

có hiệu lực của Toà án là yêu cầu tất yếu, khách quan trong hoạt động tư pháp Nguyên tắc này đòi hỏi “các bản án, quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” (Điều 136 Hiến pháp 1992)

Để nguyên tắc này thực sự chi phối lĩnh vực tư pháp cũng như đời sống

xã hội, không thể chỉ dừng lại ở sự tự giác tuân thủ của các cơ quan tổ chức và công dân, mà còn phải được bảo đảm bằng hệ thống pháp luật và các thiết chế Nhà nước mang sức mạnh cưỡng chế Cơ quan thi hành án, Chấp hành viên có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc do pháp luật quy định để bảo đảm việc thi hành các bản án, quyết định của Toà án Mọi hành vi vi phạm trong việc thi hành án đều bị xử lý về hành chính, dân sự hoặc hình sự Người nào cố ý không thi hành bản án, quyết định của Toà án, mặc dù bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết; lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý cản trở việc thi hành án hoặc ép buộc Chấp hành viên thi hành án trái pháp luật; phá huỷ niêm phong hoặc có hành vi tẩu tán, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, huỷ hoại tài sản kê biên trong khi thi hành án, thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị

xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường (Điều 47 Pháp lệnh thi hành án dân sự).2

* N guyên tắc thi hành án dân sự là một loại hoạt động N hà nước.

2 Xem : Trần V ăn Q uảng - Cơ sờ lý luận và thực tiền nhằm nâng ca o h iệu quả thi hành án dân sự - Luận án Thạc

s ĩ luật học - Hà N ội 1996.

Trang 22

Quá trình nghiên cứu lý luận, các quan điểm, nhận thức về ví trí, vai trò

của thi hành án dân sự trong hoạt động tư pháp có thể có sự khác biệt, nhưng

điều đó không làm thay đổi bản chất Nhà nước của hoạt động này Thi hành án

dân sự là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước, do cơ quan Nhà nước tiến

hành Chỉ có cơ quan thi hành án, Chấp hành viên mới có thẩm quyền thi hành

các bản án, quyết định của Toà án (Điều 4, Điều 12 Pháp lệnh thi hành án dân

sự), người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án mà không phải chịu

bất cứ khoản lệ phí nào Như vậy, thi hành án dân sự không chỉ là một dạng cụ

thể của quyền lực Nhà nước, mà nó còn xác định tính chất chuyên trách của

hoạt động này, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền và

lợi ích hợp pháp của công dân và mọi chủ thể khác

Trong điều kiện kinh tế xã hội của nước ta hiện nay, khi trình độ dân trí

và ý thức pháp luật của nhân dân còn thấp, việc tổ chức và hoạt động thi hành

án dân sự dựa trên nguyên tắc này có ý nghĩa chính trị xã hội rất lớn, đảm bảo

trật tự, kỷ cương xã hội và có ý nghĩa răn đe, phòng ngừa vi phạm pháp luật

Trong xu thế phát triển hiện nay, khi các điều kiện kinh, tế xã hội được nâng

cao, vấn đề xã hội hoá các hoạt động tư pháp trong đó có thi hành án dân sự đã

và đang được đặt ra, như vậy nguyên tắc này có thể được điều chỉnh cho phù

hợp với các thiết chế và tổ chức hoạt động thi hành án trong tình hình mới

quyền định đoạt của công dân.

Nguyên tắc này kết hợp giữa việc chủ động bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà

nước, tập thể và tôn trọng quyền tự định đoạt của công dân, trên cơ sở quyền lợi

của người được thi hành án Do yêu cầu của việc bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà

nước, của tập thể, Điều 20 Pháp lệnh Thi hành dân sự quy định: đối với các bản

án, quyết định về trả lại tài sản hoặc bồi thường thiệt hại tài sản XHCN, phạt

Trang 23

tiền, tịch thu tài sản và án phí, các quyết định khẩn cấp tạm thời, thì Thủ trưởng

cơ quan thi hành án phải chủ động ra quyết định và tổ chức thi hành trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, quyết định của Toà án Trong nhữns trường hợp này, quyền lợi của các cơ quan, tổ chức, đơn vị cũng là lợi ích của Nhà nước, do vậy cơ quan thi hành án có trách nhiệm chủ động tổ chức thi hành các bản án, quyết định không cần phải có yêu cầu từ các cơ quan, đơn vị được thi hành án

Bên cạnh đó, trên nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong quan

hệ pháD luật dân sự, đối với người được thi hành án là cá nhân, pháp luật thi hành án tôn trọng quyền định đoạt của đương sự bằng quy định quyền yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Điều 19 Pháp lệnh thi hành án dân sự) Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, đương sự vẫn có quyền thể hiện ý chí về việc thi hành thông qua việc thực hiện quyền yêu cầu thi hành án

Cũng phải nói thêm rằng, xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng, thoả thuận,

tự định đoạt trong quan hệ pháp luật dân sự và trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi theo cơ chế thị trường hiện nay, bản thân các cơ quan Nhà nước và công dân tham gia vào quan hê pháp luật dân sự với tư cách là các chủ thể bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mọi chủ thể cũng phải bảo đảm sự bình đẳng Trong Bộ luật hình sự 1999, không còn

khái niệm “tài sản Xã hội Chủ nghĩa”, sở hữu Nhà nước là khách thể được pháp

luật bảo vệ bình đẳng với các hình thức sở hữu khác Bởi vậy, vấn đề ưu tiên bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể cũng cần được nghiên cứu, điều chỉnh lại, nhằm đảm bảo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật.3

3 X em : N gu yễn Đ ình L ộc — Bộ luật hình sự 1999 và m ột s ố vấn để cần quan tâm — Tạp ch í dân chủ và pháp luật, Số ch u ýẻn đ ề về Bộ luật hinh sự 3 /2 0 0 0

Trang 24

* N guyên tắc kết hợp giữa sự tự nguyện và cưỡng c h ế thi hành án.

Để đảm bảo cho bản án, quyết định của Toà án được thi hành nghiêm chỉnh, việc cưỡng chế thi hành rất quan trọng và cần thiết, tuy nhiên, đây không phải là biện pháp duy nhất Tự nguyện thi hành của người phải thi hành án là yếu tố được đặt lên hàng đầu trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự Mục tiêu đặt ra là nâng cao ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý của các tầng lớp nhân dân, tạo ra sự tự giác tuân thủ pháp luật, hạn chế thấp nhất sự can thiệp của các cơ quan Nhà nước vào quan hệ pháp luật Pháp lệnh thi hành án dân sự quy định sự kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố tự nguyện và cưỡng chế thi hành án Trước hết, tự nguyện thi hành án là nghĩa vụ nhưng cũng là quyền của người phải thi hành án, người phải thi hành được đảm bảo các điều kiện để có thể thực hiện quyền tự nguyện thi hành án Theo quy định tại Điều 6, Điều 22 Pháp lệnh thi hành án dân sự thì Chấp hành viên phải định thời hạn tự nguyện thi hành án cho người phải thi hành án Hết thời hạn này, nếu người phải thi hành án không

tự nguyện thì mới có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế Nguyên tắc này vừa thể hiện tính dân chủ, nhân đạo của pháp luật, vừa là cơ sở bảo vệ quyền, lợi ích cho các bên đương sự Tuy nhiên, nguyên tắc này đòi hỏi Chấp hành viên vận dụng linh hoạt, nhất là phải coi trọng việc giáo dục, thuyết phục đương sự trong quá trình tổ chức thi hành án Tránh việc áp dụng cưỡng chế cứng nhắc, vừa tốn kém, vừa gây căng thẳng trong xã hội

Tóm lại: từ những đặc điểm và các nguyên tắc của thi hành án dân sự đã

phân tích trên đây, có thể đi đến khái niệm: thi hành án dân sự là hoạt động

hành chính - tư pháp, mang tính quyền lực Nhà nước, do cơ quan có thẩm quyền Nhà nước tiến hành nhằm buộc cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện các nghĩa vụ về tài sản hoặc nghĩa vụ về dân sự khác theo bản án, quyết định của Toà án đ ể bảo đảm trật tự pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và Nhà nước.

Trang 25

1.1.5 Ý nghĩa của thi hành án dân sự.

* Thi hành án nói chung và thi hành án dán sự nói riêng là hoạt động gắn liên và không th ể thiếu đối với công tác xét xử.

Bản án, quyết định được tuyên thể hiện ý chí của Nhà nước, nhưng bản thân nó chưa có hiệu lực thực tế, nếu không được tổ chức thi hành Hoạt động thi hành án không chỉ bảo đảm hiệu lực của các bản án, quyết định của Toà án,

mà nó còn khẳng định giá trị thực tế kết quả của toàn bộ quá trình tố tụng, và qua đó góp phần bảo đảm quyền lực Nhà nước Thi hành án không chỉ là hoạt động nshiệp vụ mà còn thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự pháp luật

* Kết quả của thi hành án dân sự là khôi phục các quyền dân sự bị xâm hại.

Nếu như công tác thi hành án hình sự mới chỉ đạt được mục đích trừng trị người phạm tội, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa họ phạm tội mới và giáo duc người khác, đấu tranh phòng ngừa'và chống tội phạm, thì hoạt động thi hành án dân sự ngoài những mục đích chung trong giáo dục, phòng ngừa như trên, kết quả của nó còn có ý nghĩa hết sức quan trọng là khôi phục lại những lợi ích về vật chất và những quyền năng dân sự khác bị xâm hại của Nhạ nước, của công dân và các chủ thể, bảo đảm quyền dân chủ và sự công bằng xã hội

* Giai đoạn thi hành án dân sự là sự kiểm chứng một cách chính xác 'nhất công tác xét xử của Toà án.

Tính đúng đắn của việc áp dụng pháp luật trong quá trình điều tra, truy

tố, xét xử chỉ có thể được chứng minh qua việc tổ chức thi hành các phán quyết

Trang 26

của Toà án Thòng qua hoạt động thi hành án, siúp cho cơ quan xét xử tổng kết, rút kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng công tác xét xử.

1.2.1 Khái niệm cưỡng chê thi hành án dân sự.

Để bảo đảm thực thi pháp luật, ngoài phương thức giáo dục, thuyết phục mọi công dân và các chủ thể khác tự giác tuân thủ, bất kỳ Nhà nước nào cũng phải tính đến việc sử dụng sức mạnh cưỡng chế “Cưỡng chế” là khái niệm thuộc phạm trù Nhà nước và pháp luật, là hiện tượng gắn liền với Nhà nước, v ề thuật nsữ, trong cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Nhà xuất

bản Khoa học xã hội ấn hành 1994 có giải thích: “cưỡng c h ế là dùng quyền lực

Nhà nước bắt phải tuân theo” Còn theo cuốn Từ điển Bách khoa Việt Nam tập

1 xuất bản năm 1995, thì khái niệm cưỡng chế là “dùng quyền lực Nhà nước đ ể

bắt buộc người khác thực hiện những việc làm trái với ỷ muốn của họ Cưỡỉĩg chê là một trong những phương pháp chủ yếu của hoạt động quản lý Nhà nước” Như Yậy, cưỡng chế là một phương thức sử dụng và bảo đảm cho quyền

lực Nhà nước Tuỳ từng chế độ chính trị và điều kiện phát triển của kinh tế xã hội cụ thể, mà ở từng Nhà nước khác nhau, phương pháp cưỡng chế được sử dụng ở các phạm vi, mức độ và cách thức khác nhau Ngoài ra, các hình thức và các biện pháp cưỡne chế cũng được sử dụng tuỳ từng quan hệ xã hội mà pháp luật điều chỉnh, nhưng nhìn chung bất cứ lĩnh vực nào mà pháp luật điều chỉnh cũng đểu cần xử dụng các biện pháp cưỡng chế bảo đảm thi hành Trong hoạt động tư pháp, để bảo đảm tính hiệu lực của các bản án, quyết định của Toà án, Nhà nước phải định ra các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc bảo đảm cho việc thi hành Thực ra khi Toà án ra bản án, quyết định thì bản thân sự phán quyết

đó đã thể hiện quyền lực đặc biệt của Nhà nước, thể hiện sự cưỡng chế của Nhà

Trang 27

nước Chính vì vậy, ở khía cạnh nào đó, nói đến thi hành án cũnơ có nghĩa là nói đến cưỡng chế Theo quyết định của Toà án, người bị kết án sẽ phải chịu một hình phạt nhất định, hoặc một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào đó sẽ phải gánh chịu một nghĩa vụ tài sản hay thực hiện một công việc vì lợi ích của người khác Các chế tài này hiển nhiên là hoàn toàn trái với ý muốn của những người

đó Khó có thể hy vọng vào sự tự “trừng phạt” hoặc sự tự nguyện tuyệt đối của những nsười phải thi hành án Chính vì vậy, việc pháp luật quy định các biện pháp nhằm bảo đảm việc thực thi các bản án, quyết định của Toà án là tất yếu

Tuy nhiên, hình thức cưỡng chế thi hành án phụ thuộc vào tính chất của chế tài được áp dụng Thi hành án ở nước ta được chia thành hai lĩnh vực: thi hành án hình sự và thi hành án dân sự Hệ thống tổ chức, thẩm quyền và trình

tự, thủ tục thi hành án hình sự và dân sự hoàn toàn khác biệt, bởi vậy, hình thức, mức độ và thẩm quyền áp dụng cưỡng chế cũng khác nhau Trong bản án, quyết định hình sự, các hình phạt được tuyên bản thân nó là sự cưỡng chế: “hình phạt

là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội”(Điều 26 Bộ luật hình sự) Như vậy, việc thi hành các hình phạt cũng đồng nghĩa với việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người bị kết án thi hành hình phạt Cưỡng chế thi hành án hình sự mang tính tuyệt đối, đối tượng cưỡng chế thi hành hình phạt có thể là quyền tự do thân thể, tài sản thậm chí cả tính mạng của người bị kết án

Đặc trưng của thi hành án dân sự là việc tổ chức thi hành phần quyết định

về tài sản trong các bản án, quyết định của Toà án Đối tượng của nghĩa vụ là tài sản hoặc một công việc nhất định, do vậy, nó cũng là đối tượng của cưỡng

chế thi hành án dàn sự Cưỡng chế thi hành ấn dân sự là các biện pháp được

pháp luật quy định, th ể hiện quyền lực của Nhà nước, do cơ quan Nhà nước có

Trang 28

thẩm quyền áp clụng, nhằm buộc người phải thi hành án thi hành đúng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án.

1.2.2 Đặc điểm của cưỡng chê thi hành án dân sự.

* Cưỡng chê thi hành án là quyền năng đặc biệt của N hà nước.

Chỉ có cơ quan chức năng của Nhà nước hoặc người có thẩm quyền mới được phép áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án và việc áp dụng cưỡng chế phải theo quy định của pháp luật Ví dụ: theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự thì cơ quan Công an mới có quyền thi hành án phạt tù; theo quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự thì chỉ có Chấp hành viên mới được quyền ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự Trong cổ luật Việt Nam, nguyên tắc này đã được ghi nhận Thậm chí, một số văn bản luật của Nhà nước phong kiến Việt Nam còn quy định rõ các chế tài ngay cả đối với người nào tự tiện cưỡng chế đối với người có nghĩa vụ (Điều 591 Bộ Luật Hồng Đức)

* Cưỡng ch ế là một nguyên tắc cở bản trong thi hành án dân sự.

Quá trình tổ chức thi hành án tuân theo nguyên tắc kết hợp giữa tinh thần

tự nguyện của người phải thi hành án và sự cưỡng chế của Chấp hành viên Tuy nhiên, cưỡng chế không phải là phương pháp bắt buộc duy nhất trong quá trình

tổ chức thi hành án Pháp luật thi hành án dân sự khuyến khích và tạo các điều kiện cho người phải thi hành án tự nguyện thi hành án, tránh việc phải áp dụng biện pháp cưỡng chế Người phải thi hành trong điều kiện nhất định có khả năng lựa chọn phương thức thi hành nghĩa vụ Tại Điều 6, Điều 13 và Điều 22 của Pháp lệnh thi hành án quy định: người phải thi hành án có thời gian tự nguyện thi hành án ít nhất một tháng kể từ ngày ra quyết định thi hành án trước khi có thể bị cưỡng chế

Trang 29

* Đôi tượng cưỡng c h ế thi hành án dân sự là tài sản hoặc hành vi của

người phải thi hành án.

Khác với thi hành án hình sự, các quy định về cưỡng chế thi hành án dân

sự c ũ n s như việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế đó không nhằm mục đích trừng trị người phải thi hành án Việc tước bỏ các lợi ích vật chất của bản thân người phải thi hành án là nhằm khôi phục những lợi ích về tài sản và các quyền dân sự của người khác đã bị người phải thi hành án gây tổn hại Người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản hoặc hành vi dân sự của bản thân

họ, bởi vậy, đối tượng cưỡng chế cũng chính là đối tượng nghĩa vụ dân sự

* Người phải thi hành án phải chịu mọi chi ph í về cưỡng chế.

Các hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình mang tính cưỡng chế tuyệt đối, người bị kết án không có khả năng lựa chọn cách thức chấp hành hình phạt Nhà nước phải thiết lập hệ thống trại giam và các trang thiết bị khác

để bảo đảm thi hành các hình phạt Người bị kết án ngoài nghĩa vụ lao động học tập, cải tạo thì được hưởng các chế độ vật chất do pháp luật quy định Tuy nhiên, bản chất của thi hành án là bảo vệ trật tự pháp luật, cưỡng chế thi hành

án dân sự là việc thực hiện quyền lực Nhà nước bằng các biện pháp bắt buộc người có nghĩa vụ phải thực hiên nghĩa vụ đối với người có quyền, do đó việc không tự nguyện của người phải thi hành án đã buộc cơ quan thi hành án tổ chức cưỡng chế và đương nhiên tổn phí cho việc cưỡng chế của cơ quan Nhà nước phải được hoàn trả Trong thi hành án dân sự, xuất phát nguyên tắc tự định đoạt của đương sự, người phải thi hành án có thể lựa chọn phương thức thi hành

nghĩa vụ: tự nguyện hoặc bị cưỡng chế Khi bị áp dụng biện pháp cưỡng chế, thì

ngoài khả năng bị tước đoạt một số tài sản để thi hành nghĩa vụ thì còn phải chịu mọi chi phí cho việc tổ chức cưỡng chế

* Hiệu ỉực của quyết định cưỡng chế.

Trang 30

Với tính chất là một văn bản áp dụng pháp luật, quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế có giá trị bắt buộc đối với người phải thi hành án Hơn nữa quyết định cưỡng chế được ban hành trên cơ sở bản án, quyết định của Toà án

và nhằm thi hành bản án, quyết định đó, bởi vậy, việc tuân thủ quyết định cưỡng chế cũng đồng nghĩa với việc chấp hành bản án, quyết định của Toà án Bên cạnh đó, quyết định cưỡng chế không chỉ có ý nghĩa bảo đảm thi hành án,

mà còn là căn cứ rất quan trọng trong việc xử lý hành vi vi phạm của người phải thi hành án Theo quy định tại Điều 304 Bộ luật hình sự 1999 (điều 240 Bộ luật hình sự 1985), một người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án, nếu sau khi đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết mà vẫn

cố ý không chấp hành Như vậy, quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế là yếu

tố bắt buộc về mặt khách quan trong cấu thành tội không chấp hành án Ngoài

ra, quyết định cưỡng chế không chỉ có giá trị bắt buộc thi hành đối với người phải thi hành án, mà tất cả những tổ chức, cá nhân có liên quan đều phải tôn trọng và thực hiện Nói một cách khác, ngoài bản thân người phải thi hành án, thì các tổ chức, cá nhân có liên quan đều phải thực hiện quyết định cưỡng chế của Chấp hành viên Ví dụ: khi Chấp hành viên ra quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án, thì theo quy định tại Điều 39 Pháp lệnh thi hành án dân sự cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người phải thi hành làm việc, nhận thu nhập, phải thực hiện quyết định này

1.3 Khái quát về sự hình thành và phát triển của chế định cưỡng ch ế thi hành án dân sự trong pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

1.3.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Một trong những thuộc tính chung của bất kỳ Nhà nước nào và ở mọi thời kỳ lịch tổn tại của Nhà nước, đó là sử dụng biện pháp cưỡng chế, Nhà nước

Trang 31

sử dụng ngay biện pháp cưỡng chế để bảo đảm quyền tuyệt đối của mình về cưỡng chế thực thi pháp luật Cách đây nhiều thế kỷ, trình độ lập pháp của Nhà nước phong kiến Việt Nam đã đạt đến trình độ khá cao so với các quốc gia khác trên thế giới, tiêu biểu như các bộ Quốc Triều Hình luật (còn gọi là luật Hổng Đức) và Hoàng Việt Luật lệ (luật Gia Long), v ề kỹ thuật, các luật trên chưa có sự phân ngành, mà là tổng hợp các quy phạm điều chỉnh các quan hệ xã hội khác nhau như hình sự, dân sự, tố tụng v.v Các văn này cũng chưa có điều khoản nào quy định riêng về thi hành án, mặc dù vậy, chế định về nghĩa vụ dân

sự và bảo đảm thi hành nghĩa vụ khá hoàn chỉnh, tất cả các trường hợp sai áp tài sản để thu nợ đều phải thưa quan và do quan có thẩm quyền quyết định Điều

591 Bộ Luật Hồng Đức có ghi: “không thưa quan mà tự bắt đồ đạc của người

mắc nợ quá s ố tiền trong văn tự thì phải phạt 80 t r ư ợ n g Tại Điều 134 của

Luật Gia Long cũng quy định cấm các chủ nợ không thể tự tiện bắt gia súc hay tài sản của con nợ để trừ nợ Như vậy, mậc dù không có các quy phạm trực tiếp quy định về cưỡng chế thi hành nghĩa vụ dân sự, nhưng cả hai bộ luật nói trên đều thừa nhận việc áp dụng các hình thức cưỡng bức nhằm thực hiện nghĩa vụ dân sự và chỉ có cơ quan công quyền mớí được phép áp dụng

Trong gần một thế kỷ đô hộ nước ta, nhằm áp đặt và củng cố ách thống trị của chế độ thực dân, Nhà nước “Bảo hộ” đã ban hành nhiều luật lệ mang đậm dấu ấn của pháp luật Pháp, tiêu biểu là ba bộ: Dân luật Bắc kỳ, Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật vậ Hộ Luật Nam kỳ giản yếu, đều bị ảnh sâu sắc của Bộ dân luật Napoléon Nhìn chung, các nguyên tắc cơ bản của cả ba bộ luật đều tương

tự nhau, trong đó có chế định về bảo đảm thi hành nghĩa vụ dân sự Theo quy định tại Điều 815 Bộ dân luật Bắc kỳ, thì khi nào một người mắc nợ khồng thể giả được nợ, nhượng lại tất cả tài sản của mình cho chủ nợ (di nhượng) Việc di nhượng có thể là tự ý của người mắc nợ hay do Toà án xử định, v ề phương thức thi hành, Điều 818 quy định: việc di nhượng do Toà án xử định, không ưao

Trang 32

quvền sở hữu cho các chủ nợ, chỉ cho chủ nợ được bán tài sản của người mắc nợ

để lấy nợ và được hưởng hoa lợi cho đến ngày phát mại Tương tự, Điều 883Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật quy định: việc di nhượng do luật pháp xử cho hay bắt buộc chỉ miễn cho người mắc nợ một số tiền ngang với giá các tài sản đã di nhượng, khi các tài sản đó không đủ trả nợ mà sau này người mắc nợ lại có của cải khác, thì cũne phải nhượng cho đến khi hết nợ Nếu người mắc nợ tẩu tán tài sản của mình (ẩn mặc), thì sẽ bị phạt theo Điều 365 luật hình hoặc có thể bị câu thúc thân thể v ề tố tụng, ở ba miền, chính quyền thực dân cũng ban hành ba bộ luật tố tụng đó là: Bộ dân sự tố tụng Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định ngày 16/3/1910 áp dụng tại Nam kỳ, Bộ hộ sự, Thương sự tố tụng Trung Việt (1942) áp dụng ở Trung kỳ và Bộ dân sự tố tụng Bắc kỳ (1917) áp dụng tại Bắc

kỳ Ngoài các hành vi tố tụng khác, Thừa phát lại có nhiệm vụ thi hành các bản

án Các biện pháp đảm bảo thi hành án chủ yếu bao gồm: Sai áp bảo toàn tức là

kê biên tài sản của đương sự theo lệnh của Tòa án để bảo đảm số nợ phải thanh

toán Sai áp ch ế chỉ, còn gọi là sai áp chi phó tức là sai áp một tài sản hoặc số

tiền của con nợ đang do người thứ ba giữ Nếu hai bên tự giải quyết được với nhau hoặc theo lệnh của Toà án, Thừa'phát lại phải giải trừ các sai áp này Trường hợp xử lý tài sản di nhượng, theo quy định tại Dụ số 31 ngày 23/7/1934

về cách thức thi hành án, thì Toà án nào đã cho phép xử di nhượng thì cử ra một người thanh toán để quản trị tài sản của người mắc nợ để lấy hoa lợi và phân phát tiền phát mại tài sản Khi phát mại, nếu không có ai trả giá đã đặt, thì người thanh toán tuỳ theo tình hình xin Toà án cho hạ giá

1.3.2 Giai đoạn từ 1945 đến 1989.

Sau Cách mạng Tháng Tám, do chưa thể ngay lập tức thiết lập bộ máy tư pháp và xây dựng hệ thống pháp luật mới, vì vậy, theo sắc lệnh ngày 10/10/1945 một số các thiết chế và một bộ phận của hệ thống pháp luật cũ vẫn

Trang 33

được áp dụna ở các thành phố lớn, việc thi hành án hộ và thương mại vẫn được giao cho Thừa phát lại, còn ở các tỉnh nơi chưa có Thừa phát lại thì giao cho Ban tư pháp xã hoặc Uỷ ban xã, thị xã, thành phố4 Các biện pháp cưỡng chế chưa được quy định cụ thể, tuy nhiên, cơ chế thực hiện việc cưỡng chế đã được

xác định trên cơ sở sự trợ giúp của lực lượng quân sự, theo đó các vị chỉ huy

binh lực có trách nhiệm giúp đỡ việc thi hành án mỗi khi đương sự chiếu luật yêu cầu Nếu qua việc nắm tình mà nhận thấy người phải thi hành án hoặc gia đình họ có th ể ngăn trở việc áp dụng những biện pháp cưỡng ch ế thi hành thì chấp hành viên cần bàn bạc với cơ quan Công an, Dân quân, Bảo vệ để yêu cầu những tổ chức này cử người đến đảm bảo trật tự trong khi thi hành án.

Năm 1950 đánh dấu một mốc quan trọng trong việc cải cách hệ thống tư pháp bằng việc ban hành sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950, nhiệm vụ thi hành

án có sự thay đổi, theo quy định tại Điều 19 của sắc lệnh này, thì Thẩm phán huyện có nhiệm vụ đẹm chấp hành các án hình về khoản bổi thường hay bồi hoàn và các án hộ mà chính Toà án huyện hoặc Toà án trên đã tuyên Việc cưỡng chế thi hành án đã có quy định khá cụ thể về thẩm quyền và đối tượng, theo đó thẩm phán huyện cũng đồng thời được giao việc cưỡng chế khi cần thiết

và đối tượng cưỡng chế là bất động sản: việc phát mại bất động sản và phân

phối tiền bấn được cũng do Toà án huyện phụ trách Trong trường hợp có nhiều bất động sản rải rác ở nhiều huyện khác nhau thì Biện lý s ẽ chỉ định một Thẩm phán huyện đ ể việc phát mãi đó vừa có lợi cho chủ nợ, lẫn người mắc nợ Các

quy định này trở thành nguyên tắc cưỡng chế thi hành án dân sự và tổn tại trong thời gian rất dài, mặc dù nhiệm vụ thi hành án có sự thay đổi Theo Luật tổ chức Tòa án 1960, tại các Toà án nhân dân địa phương có nhân viên chấp hành

án làm nhiệm vụ thi hành những bản án và quyết định dân sự, những khoản bồi

4 X em : Sắc lẽnh : số 13/SL ngày 2 4 /1 /1 9 4 6 ; số 130/SL ngày 19/7/1946; sò' 251 ngày 19/11/1948.

Trang 34

thường về tài sản trong các bản án, quyết định hình sự Việc thi hành án của Thẩm phán được giao cho người chuyên trách làm công tác thi hành án, tuy nhiên, trình tự, thủ tục và biện pháp bảo đảm thi hành án hầu như vẫn tuân theo các quy định trên.

Từ cuối năm 1954, miền Bắc bước vào công cuộc khôi phục, xây dựng đất nước và tiến hành cải tạo Xã hội Chủ nghĩa Do hoàn cảnh lịch sử cũng như các điều kiện về kinh tế xã hội, giai đoạn này các giao lưu dân sự nhìn chung không được phát triển Nền kinh tế quản lý theo cơ chế tập trung - kế hoạch hoá, đời sống của các tầng lớp nhân dân rất khó khăn, tài sản chủ yếu là các đồ dùng sinh hoạt tối thiểu và các tư liệu sản xuất Việc cưỡng chế kê biên tài sản trong hoạt động thi hành án dân sự vẫn được áp dụng, tuy nhiên phải theo nguyên tắc vừa đảm bảo thi hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ nhưng phải chú ý đến quyền lợi của người phải thi hành án Thông tư số 4176-HCTP ngày 28/11/1957 của Bộ Tư pháp hướng dẫn: “cần phải thi hành biện pháp cưỡng chế đối với người có khả năng nhưng ngang bướng, trây ỳ để buộc họ truất một phần tài sản bồi thường cho người bị thiệt hại do họ gây ra Tuy nhiên, quyền lợi của người mắc nợ cũng phải được pháp luật bảo vệ không vì lẽ phải bồi thường mà họ không còn sản xuất, sinh sống”, v ề các tài sản là đối tượng kê biên,-phát mại, Thông tư số 4-NCPL ngày 14/4/1966 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn: Toà án chỉ cần kê biên những tài sản đủ để thi hành án trong đó chú ý kê biên những tài sản có giá trị dễ bán để thi hành án (xe đạp, đồng hồ, rađiô, quạt máy, tre, soan, gỗ ) Nếu những tài sản đó không đủ để bảo đảm thi hành án thì mới

kê biên đến nhà cửa Ngoài ra, không được kê biên các đồ vật như: quần áo, chăn màn, giường chiếu, lương thực, đồ dùng tối cần thiết cho người phải thi hành án và gia đình họ hoặc đồ thờ cúng Nếu sau khi kê biên mà người mắc

nợ nộp tiền thì Toà án nhân các khoản tiền đó và ưả lại tài sản kê biên Việc bán các tài sản kê biên có thể giao cho cơ quan thương nghiệp, nơi nào chưa có

Trang 35

cơ quan thương nghiệp thì toà án tự đứng ra bán v ề thứ tự thanh toán tiền bán tài sản, Thông tư số 4296-DS ngày 9/12/1957 của Bộ Tư pháp quy định: sau khi trừ các chi phí thi hành án thì thanh toán theo thứ tự: tiền cấp dưỡng, bồi thường tổn hại sức khoẻ, tính mệnh công dân, tiển công lao độns, các món nợ của Nhà nước hoặc hợp tác xã.

Ngoài các biện pháp kê biên tài sản, Thông tư số 01-TTg ngày 4/1/1966 của Phủ Thủ tướng quy định biện pháp khấu trừ lương của cán bộ, cồng nhân, viên chức cơ quan Nhà nước và quân nhân đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng Trường hợp người phải thi hành án phải bồi thường Nhà nước, Nghị định số 49-

CP ngày 9/4/1968 của Hội đồng Chính phủ và Thông tư số 128-TT-LB của liên Bộ: Tài chính - Lao động và Tổng Công đoàn quy định biện pháp trừ vào lương hàng tháng từ 10% đến 30% Ngoài ra theo hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao, Toà án có thể áp dụng biện pháp khấu trừ tiền gửi tiết kiệm, quỹ tín dụng

hoặc khấu trừ các thu nhập xã viên Trường hợp cưỡng c h ế trả nhà, thì Toà án

phải liên hệ với phòng nhà đất đ ể tìm cho người bị đuổi nhà một chỗ ở khác trước khi thi hành án.

Theo Quyết định số 186-TC ngày 13/10/1972 của Toà án nhân dân tối cao, thì người chuyên trách làm công tác thi hành án dân sự có chức danh là

Chấp hành viên, v ề thẩm quyền trong quá trình tổ chức thi hành án, Chấp hành

viên được áp dụng những biện pháp cưỡng chế thi hành đã được luật pháp quy định, đồng thời có quyền yêu cầu các lực lượng bảo vệ trị an giúp sức Các biện pháp cưỡng chế đã được quy định trong sắc lệnh số 85/SL nay được giao cho Chấp hành viên Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại Thông tư số 187-TC ngày 13/10/1972, thì để đảm bảo cho việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế được thận trọng, Chấp hành viên có quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế thi

Trang 36

hành đa được luật pháp quy định, sau khi được sự thoả thuận của Chánh án Toà

án nhân dân nơi Chấp hành viên công tác

Như vậy, trong khoảng thời gian khá dài từ 1960 đến 1989, lĩnh vực thi hành án dân sự chỉ được quy định trong một số văn bản dưới luật: Nghị định, Quyết định, Thông tư của Chính phủ, các Bộ hoặc của Toà án nhân dân tối cao

Về trình tự, thủ tục, các quy định về biện pháp bảo đảm thi hành án được bổ sung trên cơ sở các nguyên tắc đã được quy định từ sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 Mặc dù vậy, các biện pháp cưỡng chế đã được quy định khá đa dạng

và được cụ thể hoá như: kê biên phát mại tài sản, thứ tự thanh toán khoản tiền bán tài sản, cưỡng chế trả nhà, khấu trừ thu nhập Đây là cơ sở cho việc tập hợp và pháp điển hoá nhằm ban hành một văn bản có hiệu lực cao và thống nhất

về thi hành án dân sự sau này

1.3.3 Giai đoạn từ 1989 đến nay.

Trước yêu cầu của công cuộc đổi’ mới về hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, trong đó có lĩnh vực thi hành án dân sự Ngày 28/8/1989, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh thi hành án dân sự, có thể nói đây là một bước ngoặt hết sức quan trọng về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự Trong Pháp lệnh này, các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được quy định thành một chương riêng, với 6 biện pháp: kê biên tài sản (Điều 23); trừ vào thu nhập của ngưòi phải thi hành án (Điều 32); trừ vào tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ (Điều 34); cưỡng chế giao đồ vật (Điều 35); cưỡng chế trả nhà (Điều 36); cưỡng chế chấm dứt hành vi trái pháp luật (Điều 37) Có thể nói, toàn bộ các nguyên tắc, phương thức thực hiện, trình

tự, thủ tục cưỡng chế trong Pháp lệnh thi hành án dân sự 1989 là kết quả của quá trình tập hợp và pháp điển hoá các quy định về lĩnh vực này trong các văn

Trang 37

bản pháp luật suốt từ năm 1945 Cho đến nay, mặc dù Pháp lệnh thi hành án dân sự 1989 đã được thay thế bằng Pháp lệnh 1993, song các quv định về cưỡng chế thi hành án cơ bản vẫn được giữ nguyên về nội dung.

1.4 Tìm hiểu chế định cưỡng chế thi hành án dân sự trong pháp luật một sô nước

Trong phần này, chúng tôi xin giới thiệu một số đặc trưng cơ bản của chế định cưỡng chế thi hành án trong pháp luật thi hành án dân sự một số nước như: Cộng Hoà Pháp, Cộng hoà liên bang Đức và Nhật Bản Đây là các quốc gia có nền kinh tế phát triển rất cao và hệ thống pháp luật hoàn thiện Mặc dù trình độ dân trí và ý thức pháp luật của người dân các nước này đều ở trình độ rất cao, song trong luật thi hành án, chế định cưỡng chế vẫn chiếm ví trí rất quan trọng

1.4.1 Thi hành án dán sự theo Bộ luật tô tụng dân sự CHLB Đức.

Theo quy định của Luật tố tụng dân sự Cộng hoà Liên bang Đức, việc cưỡng chế thi hành án là một thủ tục mầ Nhà nước thiết lâp dành cho chủ nợ nhằm buộc con nợ bị cưỡng chế thi hành án những quyền yêu cầu của của chủ

nợ theo luật tư đối với con nợ Mục đích của các biện pháp cưỡng chế nhằm tạo

ra công cụ pháp lý hữu hiệu để đảm bảo việc thi hành án cũng như ngăn chặn việc công dân phải tự tìm giải pháp cũng như dùng vũ lực để giải quyết các mối quan hệ Trong quạn hệ pháp luật tố tụng dân sự, công dân chỉ có quyền yêu cầu Nhà nước (cơ quan thi hành án) thi hành các biện pháp cưỡng chế đối với các con nợ, quyền này được quy định và bảo đảm bằng Hiến pháp, chứ không

có quyền tự mình có hành vi cưỡng bức hoặc sai áp con nợ để đảm bảo thi hành nghĩa vụ dân sự cụ thể Theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự, các văn bằng xác nhận quyền yêu cầu thi hành án đều có thể là căn cứ tiến hành cưỡng chế

Trang 38

thi hành, ví dụ các bản án, quyết định dân sự (gồm cả khoản án phí, lệ phí), các biên bản hoà giải thành, các quyết định của trọng tài hoặc các quyền dân sự khác như quyển yêu cầu ừả đồ vật, yêu cầu trả nợ, quyền yêu cầu thực hiện một công việc

v ể nguyên tắc, việc thi hành nghĩa vụ trả tiền sẽ được thực hiện thông việc cưỡng chế kê biên toàn bộ tài sản của con nợ gồm: động sản của con nợ: tiền mặt, ô tô, tư trang, kể cả các quyền về tài sản hoặc bất động sản: đất đai, nhà cửa thuộc sở hữu của con nợ Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải bảo đảm cho người bị cưỡng chế vẫn đủ khả năng tiếp tục cuộc sống ở mức

độ vừa phải, vẫn có điều kiện làm việc và nuôi sống gia đình Điều 811 Luật TTDS quy định danh mục hết sức chi tiết các loại tài sản không được tịch biên,

ví dụ các loại công cụ, phương tiện làm việc, các đồ dùng sinh hoạt, mức thu nhập tối thiểu đủ dùng cho người phải thi hành án và gia đình họ v.v •

Về thẩm quyền, Chấp hành viên được áp dụng các biện pháp cứng rắn khi áp dụng khi thực hiện cưỡng chế, Điều 758 BLTTDS quy định: Chấp hành viên có quyền khám nhà và những nơi cất giữ tài sản của con nợ, có quyền cho

mở khoá nhà, khoá phòng hoặc ngăn có chứa đồ đạc bị khoá nếu thấy việc đó cần thiết cho việc thi hành án Trong trường hợp con nợ chống đối hoặc phản kháng lại; Chấp hành viên có quyền dùng vũ lực và yêu cầu cảnh sát hỗ ượ Khi tiến hành kê biên tài sản mà con nợ cũng như người nhà của con nợ hoặc người làm công của gia đình con nợ vắng mặt, theo quy định tại Điều 759 BLTTDS, thì Chấp hành viên vẫn có quyền kê biên tài sản nhưng phải mời hai người đã thành niên hoặc nhân viên cảnh sát đến làm chứng Các tài sản hữu hình sau khi

có quyết định kê biên thì Chấp hành viên có quyền tịch biên và thu giữ để xử lý Đối với các tài sản khác như tiền, đồ kim hoàn, giấy tờ có giá vẫn có thể giao cho con nợ giữ nhưng Chấp hành viên phải dán niêm phong để ngăn cấm

Trang 39

chuyển dịch Các tài sản bị kê biên được chấp hành vièn tổ chức bán đấu giá để thanh toán cho các con nợ Chấp hành viên được trả lệ phí thi hành án, khoản lệ phí này bao gồm mức lệ phí cố định tính theo giá nsạch và các chi phí cho việc

tổ chức thi hành cũng như cưỡng chế Người triệu dụng Chấp hành viên phải ưả

lệ phí, trong trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu thì nsười phải thi hành án

có nghĩa vụ trả chi phí Nếu việc cưỡng chế không đạt kết quả thì người được thi hành án phải trả các chi phí cưỡng chế.5

1.4.2 Luật thi hành án của Cộng hòa Pháp

Theo quy định của Luật thi hành án Cộng hoà Pháp, thì hoạt động thi hành án dân sự vẫn được coi là chức năng của Nhà nước, nhưng cơ quan công quyền không trực tiếp tổ chức thi hành mà uỷ quyền cho người hành nghề thi hành án, đó là Thừa phát lại Căn cứ để Thừa phát lại thi hành là các bản án, quyết định của Toà án hoặc các quyết định, văn bản khác có giá trị như bản án

đã có hiệu lực pháp luật mà đương sự yêu cầu

Kể từ thời điểm người được thi hành “nhờ” thi hành cho mình, Thừa phát lại có quyền lựa chọn các biện pháp được phép để đảm bảo việc thi hành Như vậy, Thừa phát lại thực thi bản án với cả hai tư cách: vừa nhân danh Nhà nước

và vừa thừa uỷ quyền của người được thi hành

Pháp là một trong những quốc eia có nền kinh tế phát triển hàng đầu trên thế giới, đồng thời hệ thống pháp luật hoàn thiện trình độ ý thức pháp luật của người dân cũng rất cao, việc thi hành án dân sự nói chung chủ yếu là tự nguyện, chỉ khi con nợ không thực hiện nghĩa vụ thì người được thi hành mới phải nhờ đến Thừa phát lại Mặc dù vậy, các quy định về cưỡng chế thi hành án dân sự

Trang 40

quy định rất chi tiết Để đảm bảo thi hành án, theo Luật thi hành án 1991, Thừa

phát lại có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế sau:

1 Phạt tiền đ ể răn đe: áp dụng với việc thi hành nghĩa vụ là các việc phải

làm (ví dụ: một người phá nhà), nếu chậm mỗi ngày sẽ bị phạt một số tiền nhất

định, điều này được ghi rõ trong bản án Trong trường hợp đã bị phạt răn đe mà

vẫn không thực hiện nghĩa vụ thì chủ nợ có quyền yêu cầu Thẩm phán ra quyết

định phạt tiền nặng hơn ( khoản tiền phạt này chủ nợ được nhận ) và cưỡng chế

phải thực hiện

2 Trục xuất ra khỏi nhà: được áp dụng trong các trường hợp: người thuê

nhà không trả tiền; người cho thuê lấy lại nhà (mà đã hết hạn) hoặc người thuê

vi phạm các điều khoản của hợp đổng thuê nhà Luật cấm áp dụng biện pháp

này trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 11 năm trước đến ngày 15 tháng

03 năm sau (thời gian trùng với mùa đông)

3 Kê biên tài sản: về nguyên tắc,- luật không quy định thứ tự tài sản kê

biên, ngoại trừ một số tài sản được miễn trừ, tất cả các loại tài sản đều có thể bị

kê biên, bán đấu giá để thi hành án Thừa phát lại có quyền kê biên nhiều loại

tài sản cùng một lúc, cũng có thể kê biên nhiều lần cùng một tài sản Trên thực

tế, việc kê biên chủ yếu nhằm răn đe về tâm lý để buộc con nợ thanh toán Các

trường hợp kê biên:

- Kê biên động sản hữu hình: với điều kiện số nợ phải lớn hơn 3.500 FF Tài sản kê biên có thể do con nợ hay người thứ ba đang giữ, trong thời gian kê

biên mà con nợ trả được nợ thì phải giải toả ngay việc kê biên Khi đang kê biên

mà con nợ khác đến đòi thì phải lập biên bản đưa vào hồ sơ, các chủ nợ sau

cũng có quyền giải quyết việc nợ Việc bán đấu giá do Thừa phát lại tự tổ chức

Ngày đăng: 03/08/2020, 19:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w