NHIỆM VỤ NGHIÊN cúu CỦA ĐỀ t à i Trước những vấn đề đặt ra từ thực tiễn giao dịch công nghệ và những bất cập trong hệ thống pháp luật về chuyển giao công nghệ, tác giả đã đặt ra các nhiệ
Trang 2BÔ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TAO BÔ TưPHÁP
TRUỜNG ĐAI HOC LUÂT HÀ NÔI
Tác giả: Nguyễn Đức Hiếu
TRONG PHÁP LUẬT DÂN s ự
MẢ SỐ: 50507
LUẬN ÁN THẠC sĩ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS ĐINH VĂN THANH
HÀ NỘI - 1997 - 2000
Trang 3M fo &ẨM tím
v ề mặt khoa học, luận Ún này có thế được đánh giá lù đã hoặc chưa thành công, nhưng đối với túc giả nó là thành quá của
cả một quá trình tìm tòi, nỗ lực Đ ể có được thành quả ấy, không thể không nói đến sự giúp đỡ tận tình của các thầy giáo giảng dạy trong chuyên tìghành Luật dân
sự, Khoa sau đại học, trường Đại học Luật
Hà nội, đặc biệt lù TS Đinh Văn Thanh, người hướng dẫn khoa học cho đê tủi Nhân dịp này, túc giả xin được câm ơn sự giúp đỡ quí báu của TS Đinh Văn Thanh, của các thầy giáo giảng dạy trong chuyên nghùnh Dân sự cũng như các thầy, cô giáo trong Khoa sau Đại học trường Đại học Luật Hù nội.
Kính chúc các thủy, các cô luôn mạnh khỏe.
TÁC GIẢ
Trang 4MỤC LỤC
C H Ư Ơ N G I - K H Á I N IỆ M
1.1 Lược sử về sự ra đời và phát triển của công nghệ 11
1.3.3 Li-xăng công nghệ và chuyển giao công nghệ 19
2.1 Lược sử về sự ra đời và phát triển của hợp đồng CGCN 23
2.3.1 Ý chí của các bên tham gia hợp đồng CGCN 272.3.2 Đối tượng của nghĩa vụ chuyển giao công nghệ 292.3.3 Đặc trưng của các đối tượng chuyển giao cổng nghệ 312.3.4 Ý chí của các bên - đối tượng được chuyển giao 312.3.5 Quan điểm khoa học liên quan đến hợp đồng CGCN 37
3 Hệ thống các quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng CGCN 75
C H Ư Ớ N G I I I - T H Ụ C T R Ạ N G V À G IA I P H Á P
1.1 Tổng quan về chuyển giao công nghệ tại Việt Nam 791.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với hợp đồng CGCN 821.3 Thực tiễn giao dịch dân sự về chuyển giao công nghệ 85
2 Xu hướng phát triển của hợp đổng CGCN tại Việt Nam 852.1 Hiện đại hóa, công nghiệp hóa - chuyển giao công nghệ 872.2 Hội nhập kinh tế quốc tế - chuyển giao công nghệ 87
1
Trang 52.3 Xu hướng phát triển của hợp đồng CGCN 88
B K IN H N G H IỆ M V À G IA I P H Á P
1 Kinh nghiệm từ các nước công nghiệp mới trong khu vực 94
2 Phương pháp luận cho quá trình hoàn thiện pháp luật về CGCN 952.1 Gắn việc hoàn thiện pháp luật với yêu cầu công nghiệp hóa 95
và hiện đại hóa
2.2 Gắn việc chuyển giao công nghệ với xu thế hội nhập và toàn 96cầu hóa
2.3 Gắn việc hoàn thiện với chính sách khuyến khích đầu tư nước 96ngoài
2.4 Gắn việc hoàn thiện hoàn thiện pháp luật về chuyển giao 96công nghệ với điều kiện và hoàn cảnh
3.4 Sửa đổi phương thức quản lý đối với hợp đồng CGCN 104
Trang 6PHẦN I - LÒI NÓI ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ t à i
Trong những năm qua, pháp luật chuyển giao công nghệ nói chung và các qui định của Bộ luật dân về hợp đồng chuyển giao công nghệ nói riêng
(sau đây gọi là “pháp luật vê chuyển giao công nghệ”) đã phần nào minh
chứng cho tính phù hợp của chúng với thực tiễn Ngoài khả năng phúc đáp kịp thời các “nhu cầu” đang gia tăng về chuyển giao/tiếp nhận công nghệ, pháp luật về chuyển giao công nghệ đã truyền tải được các chính sách khuyến khích phát triển công nghệ của Đảng và Nhà nước ta, cụ thể là:-
M ở rộng phạm vi áp dụng của hợp đồng chuyển giao công nghệ Trước đây (trước khi Bộ luật dân sự có hiệu lực), hợp đồng chuyển giao công
nghệ chỉ được áp dụng đối với các hoạt động chuyển giao công nghệ từ
nước ngoài vào Việt Nam (theo tinh thần của Pháp lệnh chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam) Tuy nhiên, sau khi Bộ luật dân
sự có hiệu lực, hợp đồng chuyển giao công nghệ không chỉ còn áp dụng riêng cho các hoạt động chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam, mà còn được áp dụng đối với cả các hoạt động chuyển giao công nghệ trong nước và chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài
Hiệu quả điều chỉnh được nâng cao Các quy định của Pháp luật về
chuyển giao công nghệ được xây dựng theo hướng tạo cho các chủ thể
tham gia các giao dịch về chuyển giao công nghệ có được một “khoảng không gian pháp lý” rộng hơn so với trước kia để họ có thể thỏa thuận và
lựa chọn các công nghệ đưa vào giao dịch phù hợp với nhu cầu của mình
3
Trang 8Như vậy, nhu cầu tìm hiểu và làm sáng tỏ bản chất của hai dạng hợp đồng CGCN và hợp đồng li-xăng, và đặc biệt là các đối tượng của các hợp đổng này, là rất cấp thiết Một khi những vấn đề này được làm sáng tỏ, nó sẽ rất có ý nghĩa đối với công tác hoàn thiện hệ thống pháp luật về chuyển giao công nghệ, đồng thòi sẽ khuyến khích và đẩy mạnh các hoạt động chuyển giao công nghệ thông qua các hợp đồng CGCN Với ý nghĩa đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Bàn về hợp đồng chuyển giao công nghệ trong pháp luật dân sự” cho bản luận án Thạc sĩ Luật học.
2 NHIỆM VỤ NGHIÊN cúu CỦA ĐỀ t à i
Trước những vấn đề đặt ra từ thực tiễn giao dịch công nghệ và những bất cập trong hệ thống pháp luật về chuyển giao công nghệ, tác giả đã đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
Trình bày một cách hệ thống các khái niệm và quan điểm khoa học liên quan đến hợp đồng CGCN, từ đó, rút ra các đặc trưng của hợp đồng CGCN và hợp đồng li-xăng, đặc biệt là các đối tượng của hai dạng hợp đồng này;
Nêu khái quát các quy định của pháp luật hiện hành về chuyển giao công nghệ, qua đó, trình bày và phân tích các nội dung liên quan tới quan hệ pháp luật về hợp đồng chuyển giao công nghệ
Trình bày một cách tổng quan về thực trạng các giao dịch chuyển giao công nghệ tại Việt Nam; xu thế phát triển của các giao dịch này Ngoài
ra, tác giả sẽ trình bày thực tiễn pháp luật và các giao dịch chuyển giao công nghệ của một số nước, từ đó, đưa ra các đề xuất sửa đổi pháp luật và chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động chuyển giao công nghệ
5
Trang 93 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN cúu
3.1 Phạm vi
Trong qua trình nghiên cứu đề tài này, tác giả đã gặp không ít khó khăn trong thu thập tài liệu, đặc biệt là các tài liệu chuyên khảo về hợp đồng CGCN Hơn nữa, việc nghiên cứu rộng hon, sâu hơn về hợp đồng CGCN có lẽ
sẽ thích hợp hơn nếu như nó được tiến hành ở cấp độ nghiên cứu cao hơn - Luận án Tiến sĩ Vì thế, phạm vi nghiên cứu của đề tài này chỉ giới hạn trong
một số quan hệ xã hội liên quan tới sở hữu ị nghĩa là các quan hệ này đang ở trạng thái tĩnh) và sử dụng và chuyển giao (nghĩa là các quan hệ này đang ở trạng thái động) các đối tượng, như: các đối tượng sở hữu công nghiệp, các
kiến thức và bí quyết kỹ thuật
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong luận án là một số nội dung của hợp đồng CGCN Như vậy có nghĩa là tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu những mặt, thuộc tính chủ yếu của đối tượng công nghệ được chuyển giao, có ý nghĩa chi phối mọi nội dung của hợp đồng
4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CÚtJ VÀ ĐlỂM m ớ i c ủ a đ ề t à i
Trước khi tác giả nghiên cứu đề tài này, hợp đồng CGCN cũng đã được một số tác giả và nhà nghiên cứu khoa học pháp lý tìm hiểu, nghiên cứu và trình bày trong một số bài viết trên các tạp chí khoa học pháp lý và trong một
số luận văn tốt nghiệp Cử nhân luật Mặc dù vậy, do tính chất mới mẻ của dạng hợp đồng này, nó mới chỉ được các tác giả và nhà nghiên cứu này nghiên cứu một cách tổng quan hoặc mới chỉ dừng lại ở một số khía cạnh Chẳng hạn, trong tạp chí “Nhà nước và Pháp luật”, số ra tháng 1/1999, TS Luật học Trần
Trang 12PHẦN II - NỘI DUNG
CHƯƠNG I - KHÁI NIỆM CÔNG NGHỆ & HỢP ĐồNG CHUYEN g ia o c ô n g n g h ệ
1 Khái niệm công nghệ
1.1 Lược sử về sự ra đời và p h á t triển của công nghệ
Có thể nói rằng “công nghệ” - theo nghĩa nó mới chỉ là sản phẩm của trí
tuệ con người ở trình độ thấp - đã được phôi thai kể từ khi con người bắt đầu
biết nhận thức về thế giới, biết thích nghi vái thế giới và cải tạo thế giới Thông qua quá trình thử đúng-sai, con người đã biết vận dụng các tri thức vào
thực tiễn, tuy vẫn còn à trình độ kinh nghiêm, vào ngay quá trình lao động của
mình, để rồi, thông qua đó, con người lại thu lượm thêm tri thức về thế giới cho mình
Kế thừa và phát triển là quy luật vận động trong thế giới tri thức của con người, tri thức của ngày hôm nay là sản phẩm của cả một quá trình tích lũy và khám phá trước đó, đồng thời nó sẽ là bước đệm, sự chuyển tiếp để con người
đi xa hơn trong hiểu biết của mình Lịch sử văn minh loài ngưòi, nếu nhìn từ góc độ của khoa học và công nghệ, là nền văn minh được tạo lên bởi nhiều tầng tri thức và các thế hệ công nghệ khác nhau, trong đó, tầng tri thức và thế
hệ công nghệ sau bao giờ cũng tiến bộ hơn so với tầng tri thức và thế hệ công nghệ trước Như chúng ta đã biết, nền văn minh nông nghiệp vói công nghệ chăn nuôi và trồng trọt đã được tiếp bởi nền văn minh công nghiệp với công
nghệ cơ khí-máy móc (nền văn minh của nhữnọ, chiếc máy hơi nước, máy chạy
9
Trang 13dộng cơ đốt tronq, máy chạy điện vv) và cho tới nay, nó lại được thay thế
bởi nền văn minh của kỷ nguyên thông tin với vô vàn công nghệ mới như: công nghệ tự động hoá, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học w , đem lại cho con người khả năng khối lượng của cải vật chất khổng lồ Người ta đã đưa
ra một phép so sánh rằng của cải vật chất do con người tạo ra trong gần một thế kỷ qua đúng bằng tổng số của cải do con người tạo ra của toàn bộ lịch sử của loài người trước đó
Xuyên suốt trong quá trình phát triển của công nghệ, hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới của con ngưòi luôn đóng vai trò trung tâm, luôn song hành trong hoạt động sáng tạo ra của cải vật chất Nói cụ thể hơn, nghiên cứu
- ứng dụng, mà kết quả tất yếu của chúng là sự ra đời của các thế hệ công nghệ, tạo ra động lực cho sự phát triển của sản xuất vật chất nói riêng và của
xã hội nói chung Thành tựu khoa học của con người sẽ mãi mãi chẳng là gì ngoài những thông tin nằm trên giấy nếu như những thành tựu ấy không được con người tiếp tục nghiên cứu để ứng dụng Ngược lại, sẽ không thể có bất kỳ ứng dụng mới nào được con người tạo ra nếu thiếu các hoạt động nghiên cứu
Như vậy, giữa khoa học và công nghệ luôn luôn tồn tại mối quan hệ rất khăng khít, một mối liên hệ được gắn kết bởi nhu cầu không ngừng tìm hiểu
và khai thác thiên nhiên của con người Trong mối liên hệ ấy, khoa học đóng vai trò là tiền đề cho công nghệ, ngược lại công nghệ không chỉ đơn thuần là chiếc gương phản chiếu thành tựu của khoa học ứng dụng trong đời sống, mà còn định hướng cho những tìm tòi, phát hiện khoa học của con người
Tóm lại, sự tương tác qua lại giữa khoa học và công nghệ đã là hình thức tạo nên sự phát triển, sự phát triển mang tính quy luật, với những đặc trưng:
Khoa học ngày càng thâm nhập nhanh hơn vào quá trình sản xuất hay nói
Trang 14cách khác, khoảng cách giữa khoa học và thực tiễn ngày càng được thu hẹp Thậm chí giờ đây khoa học đã trở thành nhân tố trực tiếp của quá trình sản xuất Nếu như trước kia người công nhân bị gắn chặt vào các dây chuyền sản xuất như là một mắt xích trong các công đoạn sản xuất, thì giờ đây nhò công nghệ tự động hóa và công nghệ thông tin, con người chỉ còn đóng vai trò giám sát quá trình sản xuất tự động thông qua các thiết bị (lẽ tất nhiên bản thân người lao động ngày nay cũng phải là những người có tri thức và trình độ để sử dụng các công nghệ hiện đại).
Hàm lượng chất xám có trong các công nghệ được con người đưa vào sản xuất ngày càng gia tăng Nếu như trước kia, giá cả của sản phẩm phần lớn phụ thuộc vào đầu vào của quá trình sản xuất như: nguyên nhiên vật liệu, lao động .w , thì ngày nay tỷ trọng rất lớn trong giá thành một sản phẩm lại là chi phí dành cho các hoạt động “trí tuệ” Theo ước tính của các nhà kinh tế học, trong những năm 80, giá trị chất xám đã chiếm tới 60% đến 70% giá thành của sản phẩm, và những năm 90 và những năm đầu của thế kỷ 21 này, giá trị chất xám trong mỗi đơn vị sản phẩm (hoặc dịch vụ) chắc chắn còn vượt xa các con số đó
Vòng đời của các công nghệ ngày càng được rút ngắn lại nhờ tri thức khoa học và khoa học ứng dụng của con người ngày càng gia tăng Các nhà khoa học chuyên nghiên cứu về công nghệ cho biết, vào những năm của thập kỷ 80 và 90, vòng đời của các công nghệ thường nằm trong khoảng trên dưới 10 năm, nhưng vào những năm cuối của thế kỷ 20, vòng đời của công nghệ đã rút xuống khoảng trên dưóti 7 năm
1.2 Công nghệ
Ngày nay thuật ngữ “công nghệ” thường xuyên được sử dụng trên các tạp
11
Trang 15chí và trên các phương tiện thông tin đại chúng Thời đại chúng ta là thời đại của khoa học và của các thế hệ công nghệ mới, sự ra đời của chúng đã tạo ra nhiều sự biến đổi, làm thay đổi diện mạo của cuộc sống chúng ta Sự ra công nghệ vật liệu mới, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học (công nghệ sinh học cấy ghép, công nghệ gien) w, đã tạo ra những thay đổi căn bản phương thức tiến hành sản xuất của con người Như thế, việc các nhà khoa học dành nhiều thời gian để nghiên cứu về công nghệ cũng là điều dễ hiểu Tuy nhiên, công nghệ cần được quan niệm như thế nào? bản chất của nó ra sao? chúng có những đặc điểm gì?
Thuật ngữ “công nghệ” mà ngày nay chúng ta đang sử dụng là thuật ngữ
có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp - “TECHNE LOGOS” Trong hai từ này, từ
“TECHNE” ngụ ý đến “các kỹ năng, kỹ thuật cần thiết để làm ra một cái gì đó”, và từ “LOGOS” mang nghĩa “tri thức về một sự vật hiện tượng” Ngay từ
sự kết hợp của các từ này, nội dung mà nó truyền tải đã được thể hiện rất rõ ràng: “công nghệ là kết quả của việc áp dụng các tri thức của con người trong thao tác kỹ thuật (hay cách thức, phương pháp) tạo ra một sản phẩm nào đó”
Trong tiếng Anh, từ “công nghệ” là “Technology” , trong đó, tiền tố
“techno” có nghĩa là “kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật” , còn hậu tố “logy” có nghĩa
là “đối tượng nghiên cứu có hệ thống” Như thế, từ “technology” là từ mang tính khái niệm, với nội hàm phản ánh: “quá trình áp dụng các kỹ năng, kỹ thuật (tri thức của con người) một cách có hệ thống (khoa học)”
Tiếp cận “công nghệ” dưới góc độ ngôn ngữ cũng phần nào cho thấy nội hàm của khái niệm về công nghệ Để có quan niệm thấu đáo hơn, chúng ta có nhiều cách tiếp cận khác nhau, chẳng hạn cách tiếp cận từ góc độ quản lý vĩ
mô, từ góc độ kinh tế, pháp lý .vv
Trang 16Dưới góc độ nghiên cứu để phục vụ cho mục đích quản lý và thúc đẩy các hoạt động chuyển giao công nghệ, ủ y ban kinh tế-xã hội của khu vực châu Á- Thái bình dương (Economic Social Commision for Aisia and The Pacific -
ESCAP) đã đưa ra khái niệm: □ Công nghệ là tập họp các công cụ phương tiện dùng đ ể biến đổi các nguồn lực tự nhiên, nguồn lực sản xuất trung gian thành hàng hóa tiêu dùng hoặc thành các nguồn lực trung gian k h á c ư “Công cụ”
và “phương tiện” được đề cập trong định nghĩa này không đơn giản chỉ là các công cụ sản xuất, mà còn bao hàm cả các phương thức dùng để chế tạo và sử dụng các công cụ, phương tiện này, các kiến thức và kinh nghiệm về khoa học
- kỹ thuật, sản xuất và thương mại
Dưới góc nhìn về “cấu trúc” của công nghệ (hay các hình thức chứa đựng công nghệ), một trong những phương pháp tiếp cận phổ biến, công nghệ được quan niệm
là sự kết hợp của bốn “yếu ư f’ có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau:
Máy móc, thiết bị, công cụ, nẹuyên vật liệu Thành tố này được gọi là
phần kỹ thuật của công nghệ (technoware), với vai trò như là các phương tiện vật chất của công nghệ;
K ỹ năng, kinh nghiệm, khả năng sáng tạo, bí quyết kinh doanh vv của con người Thành tố này được gọi là phần con người của công nghệ
(humanware), phản ánh năng lực của con người;
Tài liệu kỹ thuật như: dữ kiện, thiết kế, khái niệm, phương pháp, k ế hoạch, các định mức, các hướng dẫn nghiệp vụ, bí quyết kỹ thuật Thành
tố này được gọi tên là phần thông tin về công nghệ, thể hiện phần thông tin được tư liệu hoá, các tri thức được tích luỹ;
13
Trang 17' “ C h u y ển g iao c ô n g n g h ệ tro n g n ề n k in h tế thị trường và vận d ụ n g v ào V iệt N a m ” - N X B N ô n g n g h iệp
Các thiết ch ế (liên quan tới thẩm quyền và trách nhiệm của từnq cơ quan trong thiết chế) Thành tố này được gọi là phần tổ chức của công nghệ,
phản ánh mọi khuôn khổ, tổ chức của việc hoạch định chiến lược, kế hoạch, tổ chức động viên thúc đẩy và kiểm soát các hoạt động gắn vói công nghệ nằm trong các cấu thành của nó
Tiếp cận công nghệ dưới góc độ quản lý và khuyến khích phát triển công nghiệp, tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) lại cho rằng công nghệ là: “việc áp dụng khoa học vào công nghiệp, thông qua việc sử dụng những nghiên cứu một cách có hệ thống và phương pháp”
Tiếp cận công nghệ từ góc độ pháp lý, tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giói (World Intellectual Property Organization - WIPO), đã định nghĩa công nghệ
là: “hệ thống các kiến thức được sử dụng đ ể sản xuất một sản phẩm, ứng dụng một dây chuyền sản xuất hoặc cung cấp một dịch vụ, không kể các kiến thức này đã được thể hiện trong văn bằng bảo hộ sáng chế, kiểu dán ạ công nghiệp, mẫu hữu ích, hoặc dưới dạng giống cây trồng mới, hoặc các kỹ năng hay thông tin kỹ thuật, hoặc các dịch vụ do các chuyên gia thực hiện đ ể thiết kế, lắp đặt, vận hành hoặc bảo trì cho một nhà máy sản xuất công nghiệp, hoặc các dịch vụ quản lý xí nghiệp công nghiệp hay cơ sở kinh doanh thương mại hay hoạt động của các xí nghiệp và cơ sở này”].
Các khái niệm về công nghệ được xây dựng qua những cách nghiên cứu
và tiếp cận khác nhau, mỗi cách tiếp cận đều có tính hợp lý và giá trị khoa học riêng Trong khoa học tính đa chiều trong quan điểm là cần thiết, trái lại, trong thực tiễn tính nhất quán trong quan điểm lại được xem là quan trọng hơn
cả và vì thế, việc “dung hòa” các cách hiểu khác nhau về “công nghệ” là việc làm hết sức cần thiết
Trang 18'L ic e n s in g g u id e fo r d e v e lo p in g c o u n tr ie s - W IP O
Chỉ đơn cử như quan niệm công nghệ được tạo bởi bốn thành tố (bao gồm: máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu; kỹ nănq kinh nghiệm, khả nănẹ sánạ tạo; tài liệu kỹ thuật; các thiết ch ế tươnạ ứnẹ), hiện nay đang tồn tại hai
khuynh hướng khác nhau trong vận dụng quan niệm này
Cách hiểu thứ nhất, hợp đồng chuyển giao công nghệ nhất thiết phải bao
gồm các điều khoản mà theo đó bên giao phải thực hiện đầy đủ các hành vi: chuyển giao các máy móc và thiết bị kỹ thuật (hoặc lựa chọn cho bên nhận các máy móc thiết bị này từ một bên thứ ba); chuyển giao các tài liệu kỹ thuật; tiến hành đào tạo cho nhân viên của bên nhận công nghệ (bao gồm các nội dung đào tạo như: sử dụng và vận hành công nghệ; bảo trì công nghệ); trợ giúp bên nhận trong quản lý và khai thác thương mại công nghệ
Cách hiểu thứ hai, hợp đồng mua bán máy móc và thiết bị kỹ thuật là hợp đồng chuyển giao công nghệ (họ đồng nhất công nghệ với thiết bị máy móc).
Thực ra, cả hai khuynh hướng vận dụng này đều không hợp lý do chưa có phương pháp luận phù hợp Vốn dĩ quan niệm về các thành tố của công nghệ chỉ thích hợp khi đánh giá vai trò của từng “yếu tố” trong sử dụng công nghệ, nên nó không thể là quan niệm áp dụng cho giao dịch về công nghệ, ở đó, quyền và nghĩa vụ của các bên được hình thành chủ yếu liên quan đến “nội dung” của công nghệ được chuyển giao
Vì vậy, đối với pháp luật về hợp đồng chuyển giao công nghệ, định nghĩa một khái niệm rõ ràng, phản ánh được bản chất của công nghệ là vô cùng quan trọng Trước đây, tại điều 1.1, Thông Tư số 28/TT-QLKH, hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam, có định
15
Trang 19nghĩa: “Công nqhệ ỉà ạiải pháp được tạo nên bởi sự ứnq dụnq các kiến thức khoa học, được sử dụnẹ đ ể giải quyết một hoặc một số nhiệm vụ thực tiễn tronạ sản xuất kinh doanh, được thể hiện dưới dạnẹ:
Các bí quyết kỹ thuật, phương án công nghệ, qui trình công nghệ, tài liệu thiết k ế sơ bộ và thiết k ế kỹ thuật; công thức, bản vẽ, sơ đồ, bảng biểu; các thônẹ s ố kỹ thuật và thônẹ tin kỹ thuật khác.
Các đối tượng sở hữu công nẹhiệp theo điều 4, chương I, Pháp lệnh bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày 28/111989.
(các giải pháp nói trên có thể bao gồm máy móc, thiết bị có hàm chứa nội dung công nghệ);
Các dịch vụ hỗ trợ và tư v ấ n ”
Sau khi Bộ luật dân sự có hiệu lực, pháp luật về chuyển giao công nghệ ở
nước ta không có bất kỳ điều nào định nghĩa về công nghệ, ngoại trừ những qui định gián tiếp về “công nghệ”, như định nghĩa về chuyển giao công nghệ tại điều 2, Nghị Định 45/1998/CP-NĐ: “Chuyển giao công nghệ là hình thức mua và bán công nghệ trên cơ sở hợp đồng Bên bán có nghĩa vụ chuyển giao các kiến thức tổng hợp về công nghệ” Hay gần đây, nhà nước ta đã ban hành Luật Khoa học và Công nghệ (được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2000), trong đó, công nghệ được định nghĩa từ góc độ quản lý vĩ mô: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”
Nhìn tổng quan, dẫu đâu đó trong những quan niệm trên còn có những điểm chưa hợp lý, chưa có tính thuyết phục về mặt khoa học, nhưng qua đấy,
có thể tóm lược được các đặc trưng của công nghệ:
Trang 20Công nghệ là một sản phẩm của trí tuệ con người - “tri thức” (có thể là các tri thức khoa học hoặc các tri thức ở trình độ kinh nghiệm), và không
đồng nhất với các đối tượng vật chất cụ thể
Công nghệ là tri thức của con người (bao ẹồm cả tri thức khoa học và tri thức có từ kinh nghiệm) mang tính chất hệ thống Nghĩa là, các tri thức
ấy không phải là các tri thức có nội dung rời rạc, mà là “khối tri thức” có tính chất hệ thống, được con người áp dụng để tạo ra một giải pháp cụ thể cho một vấn đề nào đó trong thực tiễn
Công nghệ luôn luôn hướng tới các mục tiêu rất cụ thể, chẳng hạn như công nghệ xử lý rác thải công nghiệp, công nghệ sản xuất xe hơi không gây ô nhiễm môi trường .w
1.3 Công nghệ và các khái niệm liên quan
Phân biệt khái niêm “công nghệ” với các các khái niệm khác có liên quan như: khoa học, kỹ thuật w , là điều hết sức cần thiết bởi vì sự gắn bó, đan xen lẫn nhau giữa các hiện tượng, yếu tố được mô phỏng trong khái niệm “công nghệ” dễ khiến cho chúng ta bị nhầm lẫn
1.3.1 Khoa học và công nghệ
Đây là hai hiện tượng có mối liên hệ rất khăng khít với nhau, trong mối liên hệ ấy, khoa học luôn đóng vai trò là nhân tố quyết định cho sự hình thành
và phát triển của công nghệ, và ngược lại công nghệ cũng đóng vai trò là nhân
tố tác động tới xu hướng nghiên cứu và phát triển của khoa học Tuy cùng là hai sản phẩm của trí tuệ con người, cùng tương đồng về mục đích phục vụ con ngưòi, nhưng giữa khoa học và công nghệ vẫn có điểm khác biệt Thứ nhất, nếu như khoa học chỉ hướng tói việc tìm hiểu bản chất của thế giới là gì, thì công nghệ lại chỉ chú trọng tới việc áp dụng những hiểu biết về thế giới vào
T H ự V í E H
17
Trang 21sản xuất tạo ra sản phẩm cụ thể để phục vụ con người Thứ hai, nghiên cứu khoa học là hoạt động ít hoặc thậm chí không bị khống chế về thời gian, trái lại nghiên cứu ứng dụng công nghệ thường gắn rất chặt chẽ với yếu tố thời gian vì công nghệ luôn bị thúc bách bởi nhu cầu cải tiến để đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh và phát triển của nền kinh tế Thứ ba, mục tiêu của hoạt động nghiên cứu khoa học là làm “cường hóa” tri thức con người về thế giới cũng như chính bản thân con người, trong khi đó, các mục tiêu của hoạt động ứng dụng công nghệ lại là giải quyết những vấn đề kinh tế-kỹ thuật rất cụ thể, chẳng hạn như tận dụng tối đa các nguyên liệu đầu vào để tạo ra các sản phẩm
có chất lượng cao hơn .vv
1.3.2 Công nghệ và kỹ thuật công nghiệp (industrial technique).
Đã có thời kỳ thuật ngữ “kỹ thuật công nghệ” thường xuyên được sử dụng, thậm chí nó còn được sử dụng để ngụ ý tới hoạt động ứng dụng khoa học vào sản xuất - hoạt động mà giờ đây chúng ta gọi nó là “nghiên cứu và triển khai công nghệ” Thực chất, đây là hai khái niệm không đồng nhất Kỹ thuật công nghiệp là khái niệm dùng để chỉ tất cả các hoạt động áp dụng cả tri thức khoa học lẫn kinh nghiệm mà con người thu được trong thực tiễn khoa học (thể hiện dưới dạng các kỹ năng, kỹ xảo) Như vậy, nếu so sánh với khái niệm công nghệ - là sự ứng dụng các tri thức khoa học, khái niệm kỹ thuật công nghiệp có nội hàm rộng hơn
1.3.3 Li-xăng công nghệ - chuyển giao công nghệ
Li-xăng công nghệ Li-xăng vốn là thuật ngữ được phiên âm từ một từ
tiếng Anh - từ “License” Thuật ngữ này, trong ngữ cảnh của chuyển giao
công nghệ, được sử dụng để chỉ: “việc một nạười có quyền sở đối với các đối tượng sở hữu cônq nghiệp (bao %ồm: sán % chế, qiải pháp hữu ích, kiểu dáng
Trang 22công nghiệp và cả bí quyết kỹ thuật) cho phép người khác làm một việc í>ì đó trong phạm vi mà pháp luật đã bảo hộ cho nẹười chủ sở hữu các đối tượnẹ sở hữu công nghiệp” (Licensing ạuide fo r developing countries I I sđd)1 Ngày
nay, do đối tượng chuyển giao công nghệ thường chủ yếu là đối tượng sở hữu công nghiệp - công nghệ càng tiên tiến thì chủ sở hữu công nghệ càng muốn bảo hộ nó dưới dạng đối tượng sở hữu công nghiệp, nên thuật ngữ li-xăng thường xuyên xuất hiện trong chuyển giao công nghệ Thậm chí, nhiều khi, ở các nước phát triển, người ta còn coi li-xăng bao hàm cả nghĩa “chuyển giao” các kiến thức công nghệ đã được bảo hộ dưới dạng đối tượng sở hữu công nghiệp Sự thực, li-xăng có bao hàm nghĩa chuyển giao các kiến thức công
nghệ hay không, câu trả lời không phải nằm ở chỗ nghĩa của từ “License” (li-
xăng) - với tính cách là một từ vựng, sẽ được người ta hiểu như thế nào mà là ở chỗ “công nghệ”, trong điều kiện cụ thể ở từng quốc gia, sẽ được chuyển giao như thế nào Riêng ở Việt Nam, thuật ngữ li-xăng chỉ được sử dụng theo nghĩa rất hẹp, giống như cách hiểu đã được trích dẫn ở đoạn1 trên đây, nghĩa là, nó chỉ đơn giản là việc cho phép sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp Khoản 2, Điều 35, NĐ63/CP ngày 24/10/1996 có qui định: “Việc chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp phải được thực hiện thông qua hợp đồng bằng văn bản (“Hợp đồng li-xăng”)
Chuyên giao công nghệ Chuyển giao “công nghệ” là một quá trình mà
nó vốn không mang nghĩa “cơ học” của cụm từ này Là một loại hàng hóa đặc biệt, hành vi chuyển giao “công nghệ” đương nhiên sẽ không giống với các loại hàng hóa thông thường khác Có nhiều người nhầm tưởng rằng công nghệ
có thể được chuyển giao sau khi chủ công nghệ (hay người có quyền chuyển giao công nghệ) chuyển giao các tài liệu được cập nhật, hệ thống hóa các tri thức công nghệ Thực ra, chuyển giao công nghệ hoàn toàn không đơn giản thế, nó là một quá trình, trong đó, diễn ra sự “truyền đạt” hay “bộc lộ” kiến
19
Trang 24Cho đến nay, qua những tài liệu, các công trình nghiên cứu đã được công
bố trong và ngoài nước mà tác giả có thể tiếp cận, chưa có bất kỳ tài liệu nào khẳng định chính xác là các giao dịch chuyển giao công nghệ đầu tiên có từ bao giờ Chính vì thế, nội dung trình bày trong phần này, có phần tác giả đã tham khảo các tài liệu khoa học để trình bày, có phần tác giả đã suy đoán, chủ yếu dựa trên mối liên hệ giữa nội dung của công nghệ với các giao dịch chuyển giao công nghệ
Công nghệ - với tính cách là biểu hiện của quá trình áp dụng các tri thức của con người vào sản xuất vật chất - có lẽ đã ra đời từ rất sớm Tuyệt nhiên, không phải là từ khi mới phôi thai, công nghệ đã trở thành đối tượng của các giao dịch chuyển giao công nghệ Chỉ khi, công nghệ đã đạt một trình độ nhất định, có khả năng khai thác “công nghiệp”, nhất là trong thời kỳ “công nghiệp hóa” - nghĩa là, công nghệ đã là kết quả của quá trình vận dụng trực tiếp tri thức loài người vào sản xuất công nghiệp - thì khi đó các giao dịch chuyển giao công nghệ mới bắt đầu ra đời vì rằng, khi ấy, công nghệ mới thực sự trở thành thứ “hàng hóa” đặc biệt, đóng vai trò là đối tượng của các quan hệ trao đổi và chuyển giao Vì thế, trong một trừng mực nào đó, có thể khẳng định rằng các hợp đồng CGCN chỉ thực sự ra đời vào giai đoạn mà con người đã chuẩn bị bước vào cuộc cách mạng công nghiệp
Theo cuốn “Tài liệu tham khảo cơ bản về sở hữu trí tuệ” (Background Reading Material on Intellectual Property) của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (World Intellectual Property Organization - WIPO), trước thế kỷ thứ XII hoặc XIII, vào thời của Nữ hoàng Anh Elizabet I, ở nước Anh các giao dịch về chuyển giao công nghệ vào nưóc Anh đã trở nên phổ biến và nhà nước Anh thời bấy giò rất khuyến khích các doanh nhân của Anh nhập các công nghệ của nước ngoài để nhằm tiếp nhận các công nghệ mới mà ở nước Anh chưa hề
có Hình thức bảo hộ cho các giao dịch chuyển giao công nghệ thành công ở
21
Trang 25thời kỳ bấy giờ là nhà nước công nhận và bảo hộ độc quyền cho người đã nhập các công nghệ mới trong một khoảng thời hạn tương đối dài, nhờ đó, người
được bảo hộ có thời gian đưa công nghệ vào khai thác thương mại (nói cách khác là khai thác đ ể có thể bù đắp các chi phí nhập công nghệ và thu lời nhuận từ việc khai thác đó) và chuyển giao lại công nghệ cho những người
khác Cùng với Anh, ở châu Âu, nhiều quốc gia khác đang trong thời kỳ phát triển công nghiệp cũng đã quan tâm và bảo hộ cho những người nhập khẩu hoặc áp dụng công nghệ mới vào sản xuất công nghiệp với hình thức giống như nước Anh đã áp dụng
Như thế, ngay từ những ngày đầu hình thành, các giao dịch chuyển giao công nghệ đã mang ý nghĩa là hình thức tiếp nhận và phát triển công nghệ Để phát triển nhanh, đuổi kịp các nước khác, các quốc gia không có cách thức nào khác hay hiệu quả hơn việc nhập khẩu công nghệ, thông qua đó, nắm bắt, làm chủ công nghệ và dần tích luỹ khả năng độc lập phát triển công nghệ cho mình Với ý nghĩa như vậy, các giao dịch chuyển giao công nghệ diễn ra ngày càng nhiều hơn, quy mô và hình thức chuyển giao công nghệ qua các hợp đồng đó ngày càng đa dạng Dòng công nghệ được chuyển giao không còn chỉ giới hạn giữa các nước công nghiệp phát triển với các nước đang phát triển hoặc kém phát triển, mà còn diễn ra giữa các nước phát triển với nhau, giữa các nước đang phát triển này với các nước đang phát triển khác w
Ngày nay, hoạt động chuyển giao công nghệ diễn ra rất phổ biến và chúng ngày càng mang ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển Hơn bao giờ hết, khi mà các nền kinh tế có xu hướng chuyển mình sang dạng thức nền kinh tế
“tri thức”, các quốc gia đang phát triển cũng đã nhận thức sâu sắc và rõ ràng hơn về vai trò của các hoạt động chuyển giao công nghệ trong quá trình nâng cao trình độ công nghệ của quốc gia mình Trên thực tế, hoạt động chuyển
Trang 26giao công nghệ được thực hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau: hợp tác và hỗ trợ kỹ thuật; tư vấn, đào tạo, nâng cao năng lực quản lý công nghệ thông qua các chương trình hỗ trợ do các tổ chức quốc tế, tổ chức cho các quốc gia đang phát triển; các chương trình hợp tác, hỗ trợ về khoa học và công nghệ cấp quốc gia .w , trong đó, hình thức chuyển giao mang tính chất “thương mại”- thông qua các hợp đồng chuyển giao công nghệ/hợp đồng mua bán công nghệ
- là hình thức chủ yếu
Đối với Việt Nam, các hoạt động chuyển giao công nghệ và các giao dịch chuyển giao công nghệ cũng mới chỉ thực sự phát triển sau khi Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới (sau Đại hội Đảng VI) Kể từ sau khi Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam được ban hành (ngày 23/12/1988), các giao dịch chuyển giao công nghệ đã thực sự có đầy đủ cơ sở pháp lý để phát triển Quá trình phát triển của các giao dịch công nghệ tại Việt Nam diễn
ra cụ thể như thế nào, tác giả xin được trình bày kỹ ở Chương III của luận án
2.2 Bản chất của hợp đồng CGCN
Hợp đồng CGCN, về bản chất, là một dạng của họp đồng dân sự Để dịch chuyển công nghệ, về mặt pháp lý, từ chủ sở hữu công nghệ cho người khác, đương nhiên các bên có liên quan phải xác lập các quan hệ hợp đồng Mác nói: “Tự chúng, hàng hóa không thể đi đến thị trường và trao đổi với nhau được Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau, thì những người giữ chúng phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật đó” (Các Mác: “Tư bản” quyển 1, tập 1, Nxb Sự thật, Hà nội 1973, Tr 163) “Công nghệ”, một loại hàng hóa đặc biệt, được hình thành trên cở sở các thành tựu khoa học và ứng dụng khoa học vào sản xuất (ngày nay, công nghệ còn được ứng dụng ngay cả trong lĩnh vực dịch vụ), và nó được dịch chuyển từ người này sang người khác cũng xuất phát từ nhu cầu tiếp thu và hấp thụ các thành
23
Trang 27tựu và tri thức khoa học ấy Động lực khiến các bên có liên quan đi đến thống nhất về “ý chí” chính là “lợi ích” của từng bên, thứ lợi ích mà các bên đã nhận thức rõ khi ký kết hợp đồng CGCN, rằng chúng sẽ được thỏa mãn thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ từ phía bên kia, để rồi sau đó, mình cũng cam kết các nghĩa vụ tương ứng Bản chất của hợp đồng chuyển giao công nghệ, suy cho cùng, là một quan hệ, trong đó, các bên “thỏa thuận” và “thống nhất ý chí” về việc chuyển giao công nghệ.
2.3 K hái niệm hợp đồng CGCN
Thông thường, khái niệm hợp đổng Hợp đồng CGCN được tiếp cận từ hai phương diện Thứ nhất, nếu nhìn từ phương diện khách quan, hợp đồng CGCN được hiểu là một bộ phận các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình “chuyển giao” và “tiếp nhận” công nghệ Qua các quy phạm pháp luật, một mặt, Nhà nước thể hiện
“ý chí” của mình là thừa nhận hoặc không thừa nhận tính hợp pháp của nghĩa
vụ được các bên tham gia hợp đồng CGCN thoả thuận, mặt khác, Nhà nước cũng đặt ra một số nghĩa vụ (“mang tính chất bắt buộc”) cho các bên tham gia hợp đồng Tiếp cận theo cách này, khái niệm sẽ chỉ ra ranh giói giữa “khoảng không gian pháp lý”, trong đó, các bên tham gia hợp đồng có quyền tự do
“thỏa thuận” với những hạn chế hoặc giới hạn do nhà nước đặt ra Chẳng hạn:
về các sự kiện pháp lý phát sinh quan hệ - đó là sự thỏa thuận của các bên; nội dung của thỏa thuận ấy phải được thể hiện dưới dạng văn bản, đồnẹ thời phải được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đănẹ ký/hoặc phê duyệt.
Nhìn từ phương diện chủ quan, hợp đồng CGCN được xem là sự “thoả thuận” giữa các bên tham gia hợp đồng, theo đó, bên sở hữu hoặc bên độc
quyền sử dụng công nghệ (gọi là “bên qiao”) có nghĩa vụ chuyển giao “công nghệ” cho phía bên kia (gọi là “bên nhận”), và bên nhận có nghĩa vụ trả cho
Trang 28bên giao một khoản tiền, hoặc thanh toán cho bên giao một khoản lợi ích vật chất nào khác, tương ứng với công nghệ được chuyển giao Nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng dân sự nói chung, và hợp đồng CGCN nói riêng, vốn là mối “liên hệ” về nghĩa vụ giữa các bên, nên các quan hệ nghĩa vụ đặc trưng cho mỗi loại hợp đồng cụ thể thường được sử dụng để định nghĩa về hợp đồng
Ví dụ, Điều 421 Bộ luật dân sự có qui định về hợp đồng mua bán: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nẹhĩa vụ giao tài sản và chuyển quyền sở hữu tài sản đó cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền”.
Ngoài hai cách tiếp cận từ phương diện khách quan và chủ quan như đã trình bày, chắc hẳn đã hoặc sẽ có rất nhiều quan điểm khoa học và phương pháp nghiên cứu khác, và mỗi quan điểm và phương pháp riêng như thế đương nhiên đều có các cơ sở và luận cứ khoa học riêng Trong phần dưới của luận
án, tác giả xin được trình bày rõ hơn về khái niệm hợp đồng CGCN từ phương diện chủ quan vì theo tác giả, nội dung “ý chí” và “sự thống nhất ý chí” của các bên tham gia hợp đồng không chỉ cho người nghiên cứu thấy được mối liên hệ pháp lý giữa những người kết ước (hay tham gia hợp đồng), mà nó còn cho thấy các yếu tố, thông tin liên quan đến điều kiện khách quan đang tác động và chi phối “ý chí” của các bên Hơn nữa, hiện nay, thực tiễn đòi hỏi cần phải nghiên cứu khái niệm hợp đồng CGCN “sâu sắc hơn”, có như vậy lý luận mới thực sự đóng vai trò là người định hướng cho các hoạt động thực tiễn liên quan tới chuyển giao công nghệ
2.3.1 “ý chí” của các bên tham gia hợp đồng CGCN
Điều 394 Bộ luật dân sự qui định: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” Quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên vừa là hậu quả pháp lý tất yếu của
25
Trang 29hành vi giao kết hợp đồng giữa các bên, vừa là những mối liên hệ pháp lý tạo nên nội dung của hợp đồng, ứng với mỗi điều kiện hoặc điều khoản được các bên thỏa thuận trong hợp đồng sẽ là nghĩa vụ của từng bên (hoặc các bên), những nghĩa vụ mà các bên đã nhận thức rõ khi “đề nghị” (hoặc chấp nhận đề nghị) và “giao kết” hợp đồng, từ đó đi đến thống nhất “ý chí” về một cách
thức cụ thể thỏa mãn lợi ích của từng bên (thông qua các hành vi thực hiện nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồnạ của phía bên kia) Bên cạnh mối liên
hệ giữa sự “mong muốn” (ý chí) thỏa mãn nhu cầu ấy với “nhu cầu” cần thỏa mãn, tồn tại bên trong mỗi chủ thể, còn có mối liên hệ khác có ý nghĩa chi phối đến nội dung “ý chí” của các bên Đó chính là các điều kiện khách quan, bên ngoài chủ thể, như các quy định có liên quan của pháp luật (“ý chí” của
Nhà nước), và ngay cả các đối tượng của nghĩa vụ (đặc biệt tronạ các hợp đồng liên quan tới tài sản), chúng cũng đóng vai trò là các nhân tố khách quan
có ảnh hưởng tới nội dung của ý chí của các bên chủ thể Nghĩa là, trong các điều kiên và hoàn cảnh khách quan cụ thể, các bên phải nhận thức được và đi đến lựa chọn phương thức thích hợp nhất nhằm thỏa mãn nhu cầu cho mỗi bên Lấy ví dụ như trong hợp đồng mua bán, nghĩa vụ chuyển giao tài sản là
“động sản” đương nhiên sẽ có nội dung, thủ tục pháp lý khác với nghĩa vụ chuyển giao tài sản là “bất động sản”
Đối với hợp đồng chuyển giao công nghệ cũng vậy, nội dung của hợp
đồng chính là các quan hệ nghĩa vụ (được thể hiện trong các điều kiện và điều khoản cụ th ể của hợp đổng) được các bên cam kết và thỏa thuận trên nguyên
tắc “tự do ý chí” Ngoài mối liên hệ mà chúng ta dễ nhận thấy, mối quan hệ
giữa các ý chí của Nhà nước (thể hiện trong các quy định của pháp luật vê hợp đồng CGCN) với ý chí của các bên trong hợp đồng CGCN, công nghệ, với
tính cách là đối tượng của nghĩa vụ “chuyển giao” của bên chuyển giao công nghệ, có ảnh hưởng rất sâu sắc tới “ý chí” của các bên - tương tự như mối liên
Trang 31ii Bí quyết, kiến thức kỹ thuật về công nghệ dưới dạng phương án công nghệ, các giải pháp kỹ thuật, qui trình công nghệ, phần mềm máy tính, tài liệu thiết kế, công thức, thông sô kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật có kèm hoặc không kèm theo máy móc thiết bị;
iii Các dịch vụ kỹ thuật, đào tạo nhân viên kỹ thuật, cung cấp thông tin về công nghệ được chuyển giao;
iv Các giải pháp hợp lý hóa sản xuất
Sở dĩ Bộ luật dân sự liệt kê các hình thức cụ thể của công nghệ là do thực tiễn chuyển giao công nghệ, đặc biệt là đối với các bên giao kết hợp đồng CGCN, đòi hỏi phải có những qui định cụ thể, rõ ràng về các hình thức chuyển giao công nghệ khác nhau Dẫu rằng như vậy, cách định nghĩa về các đối tượng chuyển giao công nghệ theo quy định này dường như vẫn còn có những hạn chế nhất định vì nó dễ khiến người ta nhầm lẫn giữa “công nghệ” với các đối tượng vật chất cụ thể
Căn cứ p h ả n loại Trên thực tế, có nhiều cách phân loại khác nhau áp
dụng cho đối tượng chuyển giao công nghệ Chẳng hạn, dựa vào hình thức tồn tại của “công nghệ”, Bộ luật dân sự đã phân chúng thành các nhóm khác nhau, như nhóm các đối tượng được chuyển giao qua sự truyền đạt kiến thức của các
chuyên gia kỹ thuật của chủ công nghệ (troníỊ điều luật gọi là các dịch vụ kỹ thuật và đào tạo); nhóm các kiến thức kỹ thuật tồn tại dưới dạng các kiến thức
chưa được bảo hộ như là các đối tượng sở hữu công nghiệp w Mỗi cách phân loại đều có giá trị khoa học và thực tiễn riêng, đồng thòi mỗi cách phân loại cũng có những yếu chỉ riêng khi được áp dụng trong các hoàn cảnh nghiên cứu cụ thể
Để thấy được mối liên hệ giữa các “đối tượng” với nghĩa vụ chuyển giao cồng nghệ, bên cạnh việc nghiên cứu các “đối tượng” theo nhóm như vẫn
Trang 32thường được áp dụng, tác giả xin mạnh dạn đưa ra tiêu chí mới để nghiên cứu các đối tượng chuyển giao công nghệ, đó là: “Nội dung của công nghệ” Tiêu chí này sẽ giúp cho việc tiếp cận tới bản chất của đối tượng chuyển giao được
dễ dàng hơn, không làm người nghiên cứu nhầm lẫn về các đối tượng cần thiết phải tiếp cận Hơn thế nữa, đối với các bên ký kết hợp đồng CGCN, nó cũng giúp họ phân biệt được các đối tượng hàm chứa thông tin công nghệ với các đối tượng khác Khi được áp dụng, tiêu chí này cho phép chúng ta nhận dạng được hai nhóm đối tượng chính: (1) nhóm đối tượng chứa các thông tin công nghệ, bao gồm: các giải pháp kỹ thuật (được bảo hộ dưới dạng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, bí quyết kỹ thuật; các kiến thức công nghệ); (2) nhóm đối tượng đi kèm với công nghệ, như: quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp và các máy móc thiết bị có liên quan
2.3.3 Đặc trưng của các đối tượng chuyển giao công nghệ
Tính đồng bộ Công nghệ được áp dụng là để giải quyết những nhiệm vụ rất cụ thể được đặt ra trong sản xuất kinh doanh (cũnẹ như cung cấp các dịch vụ) Do chịu sự phối bởi yêu cầu phải giải quyết những vấn đế rất cụ thể, nảy
sinh từ thực tiễn sản xuất, các kiến thức công nghệ được chuyển giao luôn xâu chuỗi và gắn kết với nhau Trong các hơp đồng CGCN, tính đồng bộ của công nghệ được chuyển giao được thể hiện rõ nhất thông qua cam kết (bảo đảm) của bên giao, theo đó, các sản phẩm được sản xuất theo công nghệ được chuyển giao phải đạt các chỉ tiêu chất lượng nào đó; trong trường hợp công nghệ được chuyển giao không thể sản xuất được sản phẩm đạt được chất lượng như vậy, bên giao có nghĩa vụ kiểm tra, khắc phục những sai sót của công nghệ ,.w
Tính xác định Thông thường, công nghệ được quan niệm là sản phẩm
của trí tuệ con người, không phải là những đối tượng vật chất cụ thể Tuyệt
29
Trang 33nhiên, không phải vì thế mà công nghệ thiếu tính xác định Cho dù, công nghệ được phôi thai từ quá trình tư duy của con người, với nội dung là làm thế nào
để có thế giải quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn sản xuất, một khi nó được hình thành - với tư cách là sản phẩm từ quá trình áp dụng tri thức của con người vào sản xuất, công nghệ đã mang tính “vật chất” Đặc biệt, với vai trò là đối tượng của nghĩa vụ chuyển giao trong các quan hệ hợp đồng liên quan tới tài sản, các đối tượng chuyển giao công nghệ phải là các đối tượng có tính xác định, vì nếu không có thuộc tính này, nghĩa vụ “chuyển giao” sẽ không thể thực hiện được Trong các hợp đồng CGCN, thuộc tính này được biểu hiện thông qua các điều khoản liên quan tới nghĩa vụ “tập hợp” và hệ thống hóa nội dung của công nghệ dưới dạng các tài liệu, bản vẽ sơ đồ, bảng biểu w , hoặc nghĩa vụ truyền đạt tri thức công nghệ thông qua đào tạo, vói nội dung chương trình học, chất lượng của các học viên được đào tạo rõ ràng
Tính không đồng nhất về giá trị với các đối tượng vật chất được sử dụnẹ cùng công nghệ Giá trị của công nghệ không bao giờ đồng nhất với các máy
móc, thiết bị, các tài liệu, bản vẽ thiết kế w , mặc dù trong nhiều hợp đồng các bên có thỏa thuận bên nhận công nghệ bù đắp các chi phí liên tói việc hệ thống hóa và chuẩn bị tài liệu ,.w cho bên giao Không giống như các loại tài sản hoặc các máy móc thiết bị thông thường, với giá trị của chúng được khấu hao dần vào sản phẩm, tự thân chúng không thể đem lại cho nhà sản xuất một chút giá trị thặng dư nào, công nghệ trên thực tế lại có thể tạo ra giá trị thặng
dư rất lớn (gần như là không có giới hạn) cho người áp dụng nó Vì thế, giá trị
của công nghệ không thể đánh giá theo theo các cách đánh giá vẫn thường được áp dụng cho các tài sản thông thường khác
Tính giới hạn về lãnh thổ và thời hạn bảo hộ Hầu hết các tri thức công
nghệ đều được bảo hộ dưới dạng các đối tượng sở hữu công nghiệp như: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, bí mật thương mại Là nhóm
Trang 34tài sản không những liên quan tới lợi ích của người tạo ra chúng (hoặc nắm giữ chúng), mà còn liên quan tới lợi ích của nhân loại trong việc thừa hưởng những lợi ích chung do trí tuệ của con người mang lại Do vậy, để giải quyết mối quan hệ lợi ích này, pháp luật chỉ bảo hộ cho các đối tượng này (trên một lãnh thổ cụ thể nào đó) trong một khoảng thời gian nhất định và hết thời hạn
đó, các tri thức kết tinh trong đối tượng này sẽ trở thành sở hữu chung của nhân loại
2.3.4 “ý c h i ’ của các bên và đối tượng được chuyên gmo
Đây là một biểu hiện của mối quan hệ giữa chủ quan và khách quan “Ý chí” của các bên tham gia hợp đồng CGCN luôn bị chi phối bởi các đối tượng được chuyển giao Đối với các công nghệ phức tạp, tinh xảo đòi hỏi phía bên nhận công nghệ phải được đào tạo và có một khoảng thời gian thích hợp để tiếp thu công nghệ, các bên tham gia hợp đồng không thể thỏa thuận với nhau rằng nghĩa vụ của bên giao được xem là đã thực hiện xong kể từ thời điểm họ chuyển giao các tài liệu có liên quan cho bên nhận công nghệ Nói rõ hơn, nghĩa vụ “chuyển giao” do các bên thoả thuận trong hợp đồng không thể mang nội dung vượt ra ngoài phạm vi nào đó, được hình thành từ chính bản chất của các đối tượng này Nghĩa vụ chuyển giao công nghệ không đơn thuần
là hành vi tập hợp, hệ thống hóa và chuyển các tài liệu cho bên nhận, mà nó phải là tập hợp các hành vi cần thiết để hình thành một quá trình, trong đó, có
sự dịch chuyển và tiếp nhận tri thức từ bên giao sang bên nhận công nghệ
Ngược lại, trong quan hệ tương tác giữa “ý chí’ của các bên với các đối tượng được chuyển giao, “ý chí” của các bên không chịu sự lệ thuộc hoàn toàn vào các đối tượng được chuyển giao Các bên có thể chủ động lựa chọn các đối tượng chuyển giao phù hợp vói lợi ích của các bên, chủ động tìm ra các phương thức phù hợp để thực hiện các nghĩa vụ trong họp đồng
31
Trang 352.3.5 Các quan điểm khoa học liên quan tới họp đồng CGCN
Đ ánh giá chung, v ề đại thể, có thể quan niệm rằng trong hợp đồng CGCN, các quan hệ nghĩa vụ chuyển giao công nghệ (ẹắn với chủ công nghệ hoặc người có quyền chuyển giao công nghệ) - đồng thòi, cũng là quyền sử
dụng công nghệ của phía bên nhận công nghệ, là quan hệ chính yếu của hợp đồng, có vai trò chi phối các quan hệ nghĩa vụ khác Bởi thế, các quan điểm khoa học liên quan tới hợp đồng CGCN thường tập trung quanh trục quan hệ giữa hành vi chuyển giao công nghệ vói đối tượng được chuyển giao, trong đó đặc biệt chú ý đến trạng thái pháp lý của đối tượng được chuyển giao - các đối tượng này đã được bảo hộ hay chưa, và nếu có thì dưới hình thức nào
Các quan điểm cụ thể Cho đến nay, trên thế giới, các quan điểm khoa
học liên quan đến hợp đồng CGCN có không ít Đáng chú ý nhất có hai quan điểm, đó là;
Q uan điểm 1 Quan điểm này cho rằng chỉ có những người có quyền tuyệt đối - là những người được pháp luật bảo hộ với tư cách là chủ sở hữu độc quyền các đối tượng sở hữu công nghiệp - đối với các kiến thức công nghệ mới có quyền cho phép người khác sử dụng các kiến thức này (quan điểm tiêu cực) Theo cách hiểu này, hợp đồng chuyển giao công nghệ sẽ bao gồm hai
dạng: (1) hợp đồng chuyển giao các kiến thức công nghệ đã được cấp văn
bằng bảo hộ (thường là văn bằng bảo hộ sáng chê) - được gọi là hợp đồng li-
xăng; và (2) hợp đồng chuyển giao các kiến thức chưa được bảo hộ dưới dạng các đối tượng sở hữu công nghiệp - được gọi là hợp đồng chuyển giao các bí quyết kỹ thuật
Trang 36ứng với mỗi dạng hợp đồng theo cách phân loại như thế, rõ ràng là cách
thức “hành xử” (thực hiện các nẹhĩa vụ của mình theo hợp đồnẹ) của các bên
có liên quan là khác nhau Cụ thể:
Bên giao công nghệ - người nắm giữ hay người có quyền chuyển giao các
kiến thức công nghệ - chỉ có thể cho phép người khác sử dụng ị hay có quyền cấp li-xăng) các kiến thức công nghệ khi các kiến thức công nghệ
ấy đã được pháp luật bảo hộ dưới dạng các đối tượng sở hữu công nghiệp
Bên giao công nghệ không có quyền ngăn cấm người khác (kể cả bên nhận trong quan hệ hợp đồng CGCN với chủ sở hữu) sử dụng các kiến thức công nghệ ấy nếu như các kiến thức công nghệ đã hết thời hạn được bảo hộ dưới dạng các đối tượng sở hữu công nghiệp Trái lại, nếu thời hạn bảo hộ cho các kiến thức công nghệ vẫn còn, nhưng thời hạn hợp đồng CGCN đã hết, bên giao lại có quyền ngăn cấm bên nhận trong hợp đồng CGCN tiếp tục sử dụng công nghệ
Quan điểm 2 Quan điểm này có khuynh hướng cho rằng chủ sở hữu các
kiến thức công nghệ có quyền li-xăng cho người khác sử dụng các kiến thức
công nghệ, bất kể các kiến thức này đã được bảo hộ hay chưa (quan điểm tích cực) Theo đó, hợp đồng chuyển giao công nghệ được xem là hợp đồng li-
xăng, theo đó, không kể các kiến thức công nghệ đã được bảo hộ dưới dạng các đối tượng sở hữu công nghiệp hay chưa, bên giao luôn có quyền cho phép
(hay có quyền cấp li-xăng) người khác sử dụng các kiến thức công nghệ đó.
Với cách nhìn tương đối tích cực của quan niệm này, phạm vi thực hiện quyền chuyển giao công nghệ (gắn với chủ sở hữu hay người có quyền chuyển giao công nghệ) cũng như quyền sử dụng công nghệ (gắn với bên nhận công nghệ) đã được mở rộng đáng kể Cụ thể:
33
Trang 37Chủ sở hữu các kiến thức công nghệ luôn có quyền cấp li-xăng cho người khác sử dụng các kiến thức công nghệ (không phụ thuộc vào tình trạng pháp lý của các kiến thức này).
Hết thời hạn hợp đồng, bên nhận kiến thức công nghệ vẫn có quyền sử dụng tiếp các kiến thức này mà không cần có sự đồng ý của chủ sở hữu hay người có quyền chuyển giao công nghệ
Cơ sở thực tiễn cho các quan điểm này Có một thực tế là ở quốc gia này
li-xăng được coi là chuyển giao công nghệ, còn ở quốc gia khác, li-xăng chỉ
có thể là chuyển giao công nghệ trong một số trường hợp, hoặc thậm chí li- xăng không được xem là có liên quan gì tới chuyển giao công nghệ Nếu nhìn nhận vấn đề một cách biện chứng, thì những khác biệt trong quan niệm về hợp đồng CGCN tồn tại là lẽ đương nhiên, vì rằng mỗi quốc gia có những điều
kiện về kinh tế (đặc biệt là công nghệ) - xã hội đặc thù Nghiên cứu sâu hơn
về khía cạnh này là công việc của các chuyên gia, của các nhà hoạch định chính sách về công nghệ và phát triển công nghệ cũng như các nhà quản lý ởtầm vĩ mô Ở đây, tác giả chỉ có thể trình bày về các điều kiện tác động tới chính sách pháp luật về hợp đồng CGCN ở các nhóm quốc gia, phát triển và đang phát triển, ở những nét rất đại thể
a Đ ối với các quốc gia ph á t triển Khó có thể khẳng định một cách chắc
chắn rằng hiện nay các nước này có xu hướng áp dụng một dạng quan
điểm cụ thể nào (quan điểm tích cực/tiêu cực) về hợp đồng CGCN Trong
một chừng mực nào đó, chúng ta thấy họ dường như cũng có cách nhìn tích cực đối với hợp đồng CGCN khi họ luôn coi hợp đồng li-xăng là hợp đồng CGCN Thậm chí, nếu xem xét kỹ hơn, họ không sử dụng thuật ngữ
hợp đồng CGCN (trong tiếng Anh có nẹhĩa là: ‘Technology Transfer Contract’’'') cho các thỏa thuận về chuyển giao công nghệ, mà thay vào
Trang 38đó, họ dùng thuật ngữ: “hợp đồng li-xăng” (trong tiếng Anh có nẹhĩa là
“Licensing Contract”) Sở dĩ có hiện tượng như vậy là do:
* Về điểu kiện kinh tế-xã hội Điểm nổi bật về điều kiện kinh tế- xã
hội của các quốc gia này là lực lượng sản xuất phát triển ở trình độ rất cao, không có sự chênh lệch về năng lực công nghệ giữa các khu vực kinh tế Trên nền tảng đó, công nghệ được “chuyển dịch” không phải theo các phương thức vẫn thường thấy ở các quốc gia đang phát
triển Chẳng hạn, một công ty nào đó (hay nói rộnẹ ra là một chủ
th ể nào đó) buộc phải tiếp nhận “công nghệ” từ người khác nhiều
khi không phải là do họ thiếu khả năng tự phát triển công nghệ ấy,
mà vì các kiến thức công nghệ ấy đã sớm được người khác sở hữu
dưới dạng đối tượng sở hữu công nghiệp, như: sáng chế Patent"), giải pháp hữu ích (“Utility Solution”), kiểu dáng công nghiệp Industrial Design”) và bí quyết kỹ thuật Ợ'Know-how") Bên cạnh
đó, do có quan niệm đề cao quyền sở hữu cá nhân (trong đó cố quyền sở hữu trí tuệ), nên về mặt tâm lý xã hội (ngoài yếu tố pháp lý), người ta thích sử dụng thuật ngữ “li-xăng” (trong tiếng Anh có nghĩa là “Licence”) - vói nghĩa là: “cho phép ai làm gì trên cơ sở
quyền năng mà pháp luật thừa nhận hoặc bảo hộ” - hơn là thuật ngữ chuyển giao công nghệ (Technology Transfer”)
* Về cơ sở pháp lý Pháp luật ở các quốc gia này bảo hộ các đối tượng
sở hữu trí tuệ, như: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa; quyền tác giả; và bí quyết kỹ thuật
(Know-how) và thừa nhận quyền chuyển dịch quyền sử dụng (cũng như quyền sỏ hữu) đối với các đối tượng này từ chủ sở hữu cho
người khác Tuy nhiên, vốn dĩ đã có trình độ công nghệ phát triển ở
35
Trang 39mức độ cao, quan điểm pháp luật của họ về li-xăng, hầu như không còn bao hàm ý nghĩa là hành vi chuyển giao kiến thức công nghệ
nữa bởi vì bên nhận (trong hợp đồng ỉi-xăng) Nhiều khi, bên nhận
đã có sẵn các kiến thức công nghệ rồi, hoặc nếu không tự mình phát triển các kiến thức công nghệ đó, bên nhận vẫn có thể tiếp thu công nghệ thông qua tiếp cận với các nguồn thông tin công khai như: các tài liệu công bố sáng chế, giải pháp hữu ích và kiểu dáng công nghiệp w Có lẽ vì thế, trong pháp luật của mình, các nước phát triển thường không quy định mang tính chất bắt buộc đối với các
điều khoản liên quan tới: đào tạo hay hỗ trợ kỹ thuật (là các quá trình mà qua đó kiến thức công nghệ được truyền thụ từ bên giao sang cho bên nhận), mà để dành cho các bên tham gia hợp đồng có
thể tự do thỏa thuận về các điều khoản này
b Đ ối với các quốc gia đang ph á t triển Cũng giống như trường hợp của
các quốc gia phát triển, câu hỏi có hay không việc áp dụng triệt để quan
niệm tích cực (hay quan niệm tiêu cực) về hợp đồng CGCN quả thực là
rất khó trả lời Trên thực tế, bên cạnh các quy định về hợp đồng li-xăng các đối tượng sở hữu công nghiệp, pháp luật của các quốc gia này còn có quy định về hợp đồng chuyển giao kiến thức kỹ thuật (hay còn gọi là hợp đồng chuyển giao “know-how”) Căn nguyên của hiện tượng này có lẽ là
ở chỗ:
* Vê điều kiện kin h tế-xã hội Yêu cầu bắt nhịp với nền kinh tế thế
giới cũng như theo kịp sự phát triển kinh tế của các nước phát triển đòi hỏi các quốc gia này phải đổi mới và phát triển công nghệ Khả năng các nước này tự mình nghiên cứu và phát triển công nghệ là rất
ít, thậm chí là không thể thực hiện được trong thời gian trước mắt vì
Trang 40các hoạt động này cần các khoản đầu tư rất lớn, vượt ra ngoài khả năng của các nước này Bởi thế, cách đi ngắn nhất cho các quốc gia
này là nhập khẩu (hay tiếp nhận) công nghệ từ các nước phát triển,
không kể các kiến thức công nghệ này đã được bảo hộ dưới dạng các đối tượng sở hữu công nghiệp hay chưa
* Vê cơ sở pháp lý Các quốc gia đang phát triển cũng đã bảo hộ kiến
thức công nghệ dưới dạng các đối tượng sở hữu công nghiệp, một phần là nhằm khuyến khích các hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ trong nước, một phần, thông qua bảo hộ các kiến thức công nghệ cho công dân của các nước phát triển, đảm bảo cho việc tiếp nhận công nghệ thành công Vì thế, các quốc gia đang phát triển thường quy định đồng thời về hợp đồng li-xăng và hofp đồng CGCN hoặc trong trường hợp không tách ra như vậy, thì có qui định
về hợp đồng li-xăng (theo quan điểm tích cực) Đặc biệt, bên cạnh
xu hướng công nhận tiếp tục có quyền sử dụng công nghệ sau khi hợp đồng CGCN hết hiệu lực, pháp luật ở các nước này thường xem các điều khoản về đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật w là các điều khoản mang tính chất bắt buộc trong hợp đồng CGCN
Tóm lại, dù còn nhiều quan điểm khoa học khác biệt, mỗi quốc gia vẫn buộc phải tự mình tìm ra hướng đi riêng cho mình về vấn đề này Lý luận không phải là cái gì đó “khuôn cứng”, mà nó luôn vận động cùng với sự phát triển của xã hội nhất là khoa học-kỹ thuật Bên canh cái chung, các quan niệm
về hợp đồng, mà cụ thể là hợp đổng CGCN, còn mang những đặc thù riêng do điều kiện kinh tế-xã hội cụ thể ở mỗi quốc gia qui định Do vậy, không thể đơn giản qui đổng các quan điểm khoa học về li-xăng, cũng như về hợp đồng CGCN để rồi áp dụng chung cho các quốc gia
37