1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đức trị và pháp trị quá trình hình thành, phát triển và sự kết hợp đức trị và pháp trị trong pháp luật phong kiến đại việt thế kỷ XV

107 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 9,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phân tích sự kết hợp các yếu tố của Đức trị và Pháp tri Irong pháp luẠl phong kiến Đại Việt thế kỷ XV để thấy được sự ảnh hưởng của Đức trị và Pháp trị trong việc hình thành và phát tr

Trang 1

Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRUỒNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 2

BÔ GIÁO DỤC V À ĐÀO TẠO BÔ T ư PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

VŨ THỊ NGA

ĐỨC TRỊ VÀ PHÁP TRỊ-QƯÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ Sự KẾT HỢP ĐỨC TRỊ VÀ PHÁP TRỊ TRONG PHÁP LUẬT PHONG KIẾN ĐẠI VIỆT

THẾ KỶ XV

Chuyên ngành: Lý luận lịch sử

Mã số: 50501

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS TS Lê M inh Tâm

jm r VIỆN

TRƯỜNG DAỈHOGLUẢT HÀ tói

Trang 3

L u ậ n á n t h ạ c s ỹ l u ậ t h ọ c V ũ Thị N g a

LỜI CẢM ƠN

£7ồi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lê Minh Tâm_người hướng dẫn khoa học luận án và khoa Sau đại học trường Đại học Luật Hà Nội cùng các Thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành bản luận án này.

Vũ Thị Nga

Trang 4

I Quá trình hình thành và phát triển của đường lối đức trị 10

II Quá trình hình thành và phát triển của đường lối pháp trị 21 III Xu hướng kết hợp Đức trị và Pháp trị trong đường lối cai

PHÁP LUẬT PHONG KIẼN ĐẠI VIỆT THẾ KỶ XV

1 Pháp luật quy định nghĩa vụ sửa đức, tu thân của nhà vua 41

và các quan

2 Pháp luật thể chế hoá lễ để cai trị và giáo hoá dân chúng 50

3 Pháp luật quy định về miễn hình, giảm hình và chuộc hình 74 bằng tiễn

4 Pháp luật quy định mức hình phạt và các hình thức áp dụng 77 hình phạt đã man tàn bạo để đảm bảo lễ nghi và các chuẩn

mực đạo đức Nho giáo

5 Pháp luật quy định mở rộng phạm vi truy cứu trách nhiệm 83 hình sự và áp dụng hình phạt

Trang 5

L u ậ n á n t hạ c s ỹ l uậ t h ọ c V Ũ Th i N g a

PHẨN MỞ ĐẤU

ỉ Tính cấp thiết của để tài

Đức trị và Pháp trị là hai đường lối về cai trị xuất hiện ở Trung Quốc vào thời kỳ Xuân Thu- Chiên Quốc và đã tồn tai trong suốt hơn hai mươi thế

kỷ Đức trị là học thuyết về cai trị của phái Nho gia, Pháp trị là học thuyết về cai í rị của phái Pháp gia v ề cơ bản, Nho gia chủ trương dùng đức đổ cai trị; Pháp gia chủ trương dùng pháp luật để cai trị Đây là hai đường lối cai trị liêu biểu của phương Đông và có ảnh hưởng đến nhiều nước

Việt Nam, do bị chinh phục và chịu ách cai trị, đổng hoá của phong kiến Trung Quốc hơn 1000 năm kể từ khi mới lâp nước nên cũng sớm chịu ánh hưởng sâu sắc của vãn minh chính trị - pháp lý Trung Quốc Bắt tay vào xây dựng nhà nước độc lập tự chủ saư đêm trường nô lệ, giai cấp thống trị ở Việt Nam buộc phải tìm cho mình những lý thuyết và kinh nghiệm về tổ chức, quản

lý nhà nước, quản lý xã hội, phương thức cai trị dân chúng Như Các Mác dã tìmg nói: "Con người làm ra lịch sử của chính mình, nhưng không phải làm theo ý muốn tuỳ tiện của mình, trong những điều kiện tự mình chọn lấy, mà là trong những điều kiện trực tiếp có trước mắt, đã cho sẵn và do quá khứ để lại

"(1) Vì vậy, như một tát yếu lịch sử, những học thuyết về tổ chức nhà nước,

về phương thức cai trị truyền thống của giai cấp phong kiến Trung Quốc đã được giai cấp thống trị Việl Nam tiếp thu

Vận dụng một cách có chọn lọc các lý thuyết và phương pháp Cíii trị cló, khai thác và phát huy những yếu tố truyền thống trị nước của dân tộc, giai cấp pkorg kiến Việt Nam cùng vó'ị nhân dân Việt nam qua nhiều thế hộ đã xây

(l) rj.i/:ác,Ph.Ảng ghen, tuyển lập, tập II, N X B sự Ihại, Hà nội 1 9 8 1 ,tr 3 86

Trang 6

L u ậ n á n t h ạ c s ỹ l u ậ t h ọ c Vũ Thi N g a

dựng một quốc gia hùng mạnh ờ phương Nam với một nến văn hiến lâu đời,

một truyền thống văn hoá chính trị- pháp lý rực rỡ mà kết tinh là bộ Quốc triều hình ỉuật thời Lê Những giá trị văn hoá pháp lý truyền thống ấy đã góp phần tạo nên nguồn sức mạnh quật khởi của đân tộc Việt Nam trong lịch sử giữ nước và đựng nước Tư tưởng đức trị và pháp trị đã ảnh hưởng sâu sắc đến lịch

sử hình thành và phát triển của hặ thống pháp luật phong kiến nói riêng và chế

độ phong kiến Việt Nam nói chung Đó là điếu mà nhiều nhà nghiên cứu trong nước đều thừa nhận(l) Thâm chí có tác giả còn cho rằng "Lịch sử Nhà nước phong kiến Việt Nam, có thể nói cũng là lịch sử giáng co giữa hai trường phái Đốc trị và Pháp trị"í2) Vì vậy, nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của Đức trị, Pháp trị và xu hướng kết hợp đức với pháp thành đường lối cai trị truyền thống trong quá trình phát triển của lịch sử dan tộc là một vấn đề cần thiết

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đế Đức trị và Pháp trị trong lịch sử chế độ phong kiến Việt nam nói chung và lịch sử pháp luật Việt nam nói riêng chưa được nghiên cứu một cách

cơ bản, đầy đủ và hệ thống Vấn để đó chỉ được để cập đến như một khía cạnh

nhỏ của các công trình nghiên cữu về lịch sử tư tưởng Việt Nam của giáo sư

(l) X in x em : V ũ V ăn M ẫu, Pháp luẠt diễn g iảng, Sài g ò n 1975

- N g u y ễ n Đ ă n g Thục, Lịch sử tư tưởng Viẹt nam, N X B thành p h ố IIỔ Chí minh 1992

- Phan Đ ạ i D o ã n , M ộ t s ố vấn đổ v é quan c h ế Triều N g u y ỗ n , N X B Thuận lioá 1997

- N g u y ễ n Tài Thư, N h o h ọc và N h o h ọc ở V iệ l nam, N X B k h o a h ọc xã hội Hù nội 1997

<2) Lỗ Q ua n g Thưởng, tìm hiểu vồ m ố i quan hộ giữa d ạo đức truyền ihôYig và pháp luậl Xã

hội vè pháp luậl N X B chính trị q u ố c gia, Hà nội 1 9 94, trang 186

Trang 7

L u ậ n á n t hạ c s ỹ l u ậ t h ọ c V ũ T h i N g a

Trần Văn Giầu, của Phó giáo sư Nguyễn Tài Thư; của các công trình nghiên cứu về lịch sử pháp luật Việt Nam của giáo sư Vũ Văn Mẫu ( c ổ luật Việt Nam thông khảo; Pháp luật điễn giảng, cổ luật Việt Nam và tư pháp sử diễn giảng, Sài gòn 1975) và của một số đề tài khoa học cấp nhà nước như đề tài: Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật ( đề tài KX-02- 13); Cơ sở khoa học của việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật ( đề tài KX-07-17) Ngay trong công trình nghiôn CỨL1 về Lịch sử các định chế chính trị và pháp quyền Việt Nam của hai luật gia Phan Đăng Thanh và Trương Thị Hoà ( Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995), vân đề Đức trị và Pháp trị cũng chỉ được đề cập đến một cách sơ lược trong phần phụ lục Theo Giáo sư Vũ Khiêu, vấn đề Đức trị và Pháp trị trong lịch sử chế độ phong kiến Việt nam "là một đề tài lớn cần được nghiên cứu sâu sắc(l) Trong tình hình đó, với mong muốn góp phần vào việc nghiên cứu những vấn đề thuộc đề tài lớn đó, tôi mạnh đạn chọn "Đức trị và Pháp trị - Quá trình hình thành, phát triển và sự kết hợp Đức trị và Pháp trị trong pháp luật phong kiến Đại Việt thế

kỷ XV" làm đề tài luận án thạc sỹ của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu

M ục đích của luận án

Thông qua việc nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển và nội dung

cơ bản của hai đường lối đức trị, pháp trị và sự thể hiện các yếu tố đức trị và pháp trị trong pháp luật phong kiến Đại Việt thế kỷ XV để bước đẩu luận chứng về xu hướng kết hợp Đức trị và Pháp trị thành đường lối cai trị của các

(l) V ũ K hiêu, x â y dựng ý thức và lối số n g theo pháp luật, dồ tài K X - 0 7 - 1 7 , Hà nội 1995,

Ira n g 110

Trang 8

L u ậ n án t hạc s ỹ l uậ t h ọc V ũ T h ị Nga

quốc gia phong kiến nói chung, và của nhà nước phong kiến Đại Việl Ihời kỳ

Lê sơ thế kỷ XV nói riêng, góp phần tạo cơ sở cho việc tiếp tục nghiên cứu, kế thừa và phát triển những yếu tố hợp lý của xu hướng này trong giai đoạn hiện nay

Nhiệm vụ của luận án

- Trình bày một cách có hệ thống và có tính khái quát hoá về quá trình hình thành, phát triển và những nội đung cơ bản của hai đường lối Đức í rị và Pháp trị

- Phân tích những điểm, (yếu tố) hợp lý và bất hợp lý của mỗi đường lối cai trị đó để đưa ra những luận chứng ban đầu về nguyên nhân dẫn đến xu hướng kết hợp Đức trị và Pháp trị thành đường lối cai trị của các quốc gia

phong kiến ở Trung Quốc và Việt Nam.

- Phân tích sự kết hợp các yếu tố của Đức trị và Pháp tri Irong pháp luẠl phong kiến Đại Việt thế kỷ XV để thấy được sự ảnh hưởng của Đức trị và Pháp

trị trong việc hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật ở nước ta thời kỳ

Lê sơ, đổng thỡi chỉ ra những nét riêng của hệ thống pháp luật đó so với hệ thống pháp luật phong kiến Trung Quốc

- Rút ra những kết luận ban đầu về nhũng giá trị tích cực cần phát huy

và những hạn chế cẩn loại bỏ của đường lối đúc trị và pháp trị truyền thống, để tiếp tục nghiên cứu kế thừa và phát triển những gia trị đích thực của chúng trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ỏ' nước ta trong giai đoạn hiện nay

Gi,ới hạn nghiên cứu của luận án:

Trang 9

L u ậ n án thạc s ỹ l uật học Vũ T hi N g a

Đức !.rị và Pháp trị là những đề tài lớn và rất phức tạp, trong khuôn khổ một luân án Thạc sỹ luật học, luận án chỉ tập trung nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển và nội dung cơ bản của đường lối đức trị và pháp trị, khái luận

về xu hướng kết hợp Đức và Pháp trị thành đường lối cai trị truyền thống củaIihà nước phong kiến ở Trung Quốc và Việt Nam thời kỳ Trung cổ và phân tích

sự íhể hiện các yếu tố Đức trị và Pháp trị trong hệ thống pháp luật phong kiến

Lê sơ thế kỷ XV

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luân án được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng HỒ Chí Minh về nhà nưóc và pháp luật Đồng thời luận án sử dụng các phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp để giải quyết các vãn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Đường lối Đức trị và Pháp trị đã hình thành và tổn tại hơn hai mươi thế

kỷ qua và có ảnh hưởng rất lớn đến việc xãy đựng và triển của pháp luât, tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, đuy trì và bảo đảm trật tự xã hội ở nhiều

CU1ỐC gia, đặc biệt là Trung quốc và Việt Nam thời kỳ phong kiến Và, ngay cả írong xã hội hiện đại chúng vẫn còn có những ảnh hưởng sâu sắc Tuy nhiên ở r*ước ta, nhất là trong khoa học pháp lý việc nghiôn cứu cơ bản vồ Đức trị và Pháp trị hầu như chưa được tiến hành, vì vậy với tư cách là một luân án Thạc

sỹ luật học đầu tiên tiếp cận và giải quyết một số vấn đề về Đức trị và Pháp trị ỏ' góc độ là những đường lối cai trị sẽ có ý nghĩa góp một phần nhỏ vào việc

Trang 10

phong kiến, đù còn ở mức độ nhất định, cũng có ý nghĩa giúp cho chúng ta có

được sự nhện thức rõ hơn về nguồn gốc, những yếu tố hợp lý, tích cực cũng như những hạn chế tiêu cực của mỗi đường lối đó, để từ đó liên hộ và vân dụng vào quá trình học tập, nghiên cứu, giảng dạy về nhà nước và pháp luật cũng như vào việc nghiên cứu và giải quyết một số vấn đồ thực tiễn của đời sống pháp luật hiện nay

Với viộc nghiên cứu để đưa ra những luân chứng ban đầu vé sự Ihể hiện các yếu tố của Đức trị và Pháp trị trong pháp luật phong kiến Đại Việt, thời kỳ

Lê sơ thế kỷ XV, Luận án góp phần làm sáng tỏ sự chịu ảnh hưởng cũng như những nét riêng mang tính truyền thống pháp lý Việt Nam của pháp luạt Lê sơ Điều đó có ý nghĩa nhất định về lý luận và thực tiễn, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy m«ạnh xây dụng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, xây dựng và phát triển nén văn hoá ( trong đó có văn hoá pháp luật) tiên tiên đậm đà bản sắc dân tộc, khẳng định" Các nhân tố văn hoá phải gắn kết chặt chẽ với dời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương,., biến thành nguồn lực nội sinh quan tiọng nhất của phát triển"(,)

(,) V ă n kiện Hội nghị lần thứ năm BCH T W khoá VIII, N X B CTQG, Hà Nội 1998,

Trang 11

L u ậ n án t hạ c s ỹ l uật họ c Vũ Thị Nị>a

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, bảng danh mục tài liệu tham khảo, luân án gồm hai chương

Chương I: Quá trình hình thành, phát triển và nội dung của đường lổi đức trị và pháp trị

Chương II: Đường lối cai trị kết hợp Đức và Pháp trong pháp luật phong

kiến Đại Việt thế kỷ XV

Trong quá trình làm luận án, mặc dù đã có sự cố gắng lớn, song bản luận án không thể tránh khỏi những điểm hạn chế, thiếu sót nhất định, tối rất mong có được sự chỉ bảo của các tháy cô và đổng nghiệp đỏ tiếp tục nghiên cứu có kết quả tốt hơn

Trang 12

Luậ n ân t hạc s ỹ l uật h ọ c Vũ Thi N ỵ a

Chưong 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THANH VÀ PHÁT TRIEN CỦA ĐƯỜNG LỐI ĐỨC TRỊ VÀ PHÁP TRỊ

I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRlỂN c ủ a ĐUỜNCÌ LÔÌ ĐÚC TRỊ

í Chủ trương đức trị của Khổng tử (551 TCN-479TCN) - ("() sở của

dưừng lõi đức trị

Đến cuối thời Xuân thu ( 770-403) hệ thống tổ chức chính trị xã hội cũn

nhà Tây Chu xây dựng trên chế độ phân phong, chế độ tông pháp và chính

sách cai trị lễ kết hợp với hình đã bị suy yếu Trật tự đẳng cấp xã hội Iheo danh

phận được qui định bằng lễ của nhà Tây Chu bị rối loạn; các chư hầu xAm lấn

và thôn tính nhau, thậm chi có chư hổu lấn cá đất của thiên lử nhà Chu Mâu

thuẫn giai cấp giữa nông dân và các lãnh chúa phong kiến ngày càng phát

Í.iíển, địa vị của các lãnh chúa lớn ngày càng suy yếu Trong lình hình đó,

Khổng tử, xuất phát từ quyền lợi và địa vị của một chúa phong kiến bị sa SIÍ1

đã suy nghĩ và hệ thống hoá các quan điểm triết học, đạo đức chính Irị của

người Trung Quốc đã có từ trước thành mộl học thuyết chính trị mà xuất phát

điểm !à đạo Nhân vói mục đích dùng học thuyết đó để ổn định Lình hình chính

t.;:ị '■ xã hội, thiết lộp lại chế độ chính trị - xã hội như thời Tcìy Chu Ỏng cho

rằng trời sinh ra người và phú cho người cái đức lớn của trời đất là sự sinh; đạo

người phải theo đạo trời "Đạo trời có bốn đức là nguyên, hanh, lợi, trinh; đạo

7 3UCÌ bởi đó mà có bốn đức là: nhân, nghía, lễ, trí Nguyên tức là nhân đứng

c ẩ u c á c điều thiện; hanh lức ỉà !ễ, hội hợp các cái đẹp; lợị tức lò nghĩa, định rõ

Trang 13

L u ậ n án t hạ c s ỹ l uật hực Vũ Thi Nmi

các phận cho điểu hoà; trình tức ià trí, giữ vững cai chính để làm gốc cho mọi sự Vậy nhân là đầu các điều thiện, chủ bồi dưỡng sự sinh eủa trời đất "(l) Coii người noi theo đạo Nhãn thì vạn vật phát triển, xã hội bình yên

Cũng theo ông trật tự xã hội sở đĩ rối loạn là do người quân tử ( bậc thương trí- người cai trị người) đã xa rời đạo Nhăn; kẻ tiểu nhăn ( kẻ hạ ngu - người bị người cai trị) đã bỏ mất đạo Nhân Cả hai hạng người này đều bị chìm đắm vào viộc tranh giành vật dục mà quên đi thiên lý khiến xã hội rối loạn Từ

đó ông đưa ra chủ trương dùng Đức để cai trị với những nội dung chủ yếu sau:

- Người trị dân phải có đức; phải sửa mình làm tấm gương đ c Ị O đức cho dân chúng nói theo; phải cai trị dân bằng đức Ông từng nói "Tòng sự chính trị- tức làm việc trị đAn- không có gì là khó, nêu biếl giữ cho ihân mình đoan chính nếu không giữ mình cho đoan chính thì không làm sao sửa người khác cho đoan chính được "(2) "Làm chính tri mà dùng đức ( để cảm hoá dân) thì

như sao Bắc Đẩu ở một noi, mà các ngôi sao khác hương về cả ^

- Phải giáo hoá dân, đưa dAn trở về với con đường ngay thảng bằng lẽ vànhạc

- Khi đã giáo hoá mà có người còn không theo, vẫn làm điều trái ngược mới dùng đến hình phạt, việc dùng hình cũng phải có hạn đệ

Khổng tử rất coi trọng lễ, ông cho rằng lỗ là hình thức biểu hiện Irât lư dựa irên cơ sở của đức, là phương pháp để giáo hoá dân chúng Theo ông: "cai trị, dân bằng chính lệnh, đưa đãn vào khuôn phép bằng hình phạt, người díìn sợ

(1) Ti'Ền Trong Kim, N h o g iá o , quyổn Ihượng, Bộ G iá o dục, Trung lAm học liệu xuấl bản,

Ỉ 9 7 l , trang 44

(2) Luận ngữ, Bài XII I

iV Lu?r ngữ, bài XII, l

Trang 14

L u ậ n án t hạ c s ỹ l uật h ọc Vũ Thị N iịơ

mà tránh điều tội lỗi nhưng trờ nên vô sỉ Dẫn dắt dân bẳng đức độ, đưa đfln

vào khuôn phép bằng lễ, người dân sẽ biết xấu hổ mà không làm bậy và lai

còn có chí vươn lẽn đẽn chỗ hoàn thiện"(1) Đổng thời với việc đề cao đức trị,

ông còn đề xướng các chủ trương cử trực ( tiến cử, cất nhắc người ngay thảng,

tôn hiền ( tôn trọng người có đức độ) và nhiệm năng, coi đó là nhũng chủ

trương phải được thi hành một cách đồng thời mới có thể thực hiện được đức

trị Chủ trương đức trị của Khổng Tử là sự khởi đàu, đặt nền móng cho việc

hình thành, phát triển và hoàn thiện đường lối đức trị mang nét độc đáo phương

Đông Mặc dù còn nhiều hạn chế, nhưng chủ trương đức trị của Khổng tử đã

hàm chứa những hạt nhân có giá trị nhân bản rất lớn

2 Bước phát trién mới của chủ trưong đức trị với đóng góp tủa Tăng Tử, Tử Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử

^ Sau khi Khổng tử mất, một học trò của ông là Tăng Tử ( Tăng Sâm) đã

giải thích một cách có hệ thống chủ trương Đức trị vào "ba đức" và "tám mục"

trong sách Đại học "Cái đạo của bộc Đại học là ở sự làm cho sáng cái đức

sáng, ở sự thân yêu người, ỏ' sự đến chí thiện mới thôi Đời xưa người muốn

làm sáng cái đức sáng ở thiên hạ, thì trước phải trị nước mình, ngưỡi muốn trị

nước mình, thì trước phải tề nhà mình; người muốn tề nhà mình thì trước phải

sửa thân mình; người muốn sửa thân mình thì trước hết phải chính cái tâm của

mình; người muốn chính cái íâm của mình, thì trước hết phải làm cho tinh

thành cối ý của mình, người muốn làm cho tinh thành cái ý của mình, thì Inrớc

bêt phải biết đẽn chỗ cùng cực Biết đến chỗ cùng cực là ở sự suốt tới chồ uyên

ihârn của sư v ậ t

(l) Àirnanaeh những nẻn văn minh thế giới, N X B V H T T UN 1996, Ir 1396

Trang 15

Lu ậ n â n thạc s ỹ l uậí học Vũ Thị N ịịơ

Suốt tới chỗ uyên thâm của sự vật, thì sau mới biết đến chỗ cùng cực; biết đến chỗ cùng cực, thì sau cái ý mới tinh thành; cái ý đã tinh thành thì sau cái tâm mới chính, cái tâm đã chính, thì sau cái thân mới tu; cái thân dã tu, thì sau nhà mới tề; nhà đã tề, thì sau nước mới trị; nước đã trị, thì sau thiện hạ mới bình Từ đấng thiên tử cho đến kẻ thứ nhan, ai cũng phải lấy sự sửa mình làm gốc"(1)' Như vậy, Tăng Tử đã chỉ ra đạo của bậc thánh nhân (người trị dân) là phải trau dổi đức nhãn ( làm sáng cái đức sáng của mình); phải trị dân bằng đức nhân ( thương yêu dân, đổi mới cho dân); việc trau dổi đức, việc đổi mớicho đân phải đạt đến đạo trung hoà, chí thiện/không thiên lệch như "làm vua

/thì ngừng ở đạo nhân; làm bề tôi thì ngừng ở chỗ kính cẩn; làm con thì ngừng

ở đạo hiẽu, làm cha thì ngừng ở lòng từ; giao du với mọi người trong nước thì ngừng ở đạo tín"(2)

Trong tám mục: Cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, lề gia, trị quốc, bình thiên hạ, ông đã sắp xếp nhận thức luân, đạo đức luận, chính trị luận thành một hệ thống chặt chẽ không thể tách rời để đi đến khẳng định cái gốc của đạo trị nước là sửa mình, tu thãn; sửa mình, tu thân để trị nước Chính

ở đây, Tăng Tử đã vạch ra công thức của chủ trương Đức trị là tu, tề, trị, bình Khi trình bầy ba đức, tám mục trong sách Đại học, Tăng Tữ đã vạch ra phương pháp tu thân nhằm đạt tới đức của người trị dân

V Tiếp tục phát triển chủ trương Đức trị, trong Trung Dung Tử Tư đã chỉ

rõ đạo của bậc thánh nhAn căn bản ở trời Đạo trời là trung hoà "trung hoà là cồ' tính hình tự nhiên của trời đất" Đạo người là trung dung "Trung là giữa,

(l) ” rẩn Trọng K im , N h o giáo, quyòn Ihượng S Đ D , trang 173, 174

(2> /À'-, , ;hií; trích Ihco Lã Trấn Vũ; Lịch sử tư urởng chính Irị trung quốc, NX R ST, I l;ì nội

19 í ắ ị irarĩg 114.

Trang 16

"hành vi có thể đời đời làm khuôn phép cho thiên hạ, nói năng có thể đời đời làm mực thước cho thiên hạ, người ở xa trông mong, người ở gần không bao giờ chán"(2) ' Như vậy theo Tử Tư, người trị đân phải có đức sánh ngang với trời đất, hết sức theo đạo nhãn để cho thiên hạ được bình trị.

^Xì M ạnh Tử ( 372-289 TCN) tiếp tục tuyên truyền cho chủ trương Đức tri Thòi chiẽn quốc, tình hình chính trị đầy biến động, các nưóc chư hầu đánhnhau liên miên, khốc liệt để tranh giành quyền lực, mâu thuẫn xã hội gay gắt Trước tình hình đó, Mạnh Tử, xuất phát từ thuyết tính thiện đã cụ thể hoá chủ trương đức trị của Khổng Tử Ông cho rằng việc chính trị phải lấy lìhAn nghĩa íàĩĩì gốc, /lấ y nhân nghĩa mà nói, thì người làm tôi đem lòng nhân nghĩa mà thò1 VU33 người làm con đem lòng nhăn nghĩa mà thờ cha, người làm em đem ỉèng nhân nghĩa mà thờ anh Vua tôi, cha con, anh em, đều bỏ lợi, chỉ đem lòng nhân nghĩa mà tiếp đãi nhau, như thế mà không trị được thiên hạ, là chưa

(,) Trần Trọng K im , nho giáo, quyổn íhượng, S Đ Đ Iraug 179

l2) 7 ;ẩ n Trọng K im, N h o giáo, quyổn thượng sđtl, li ang 182

Trang 17

L u ậ n á n t hạ c s ỹ l uật học Vũ Thi Nf>a

Cồ vậy(l) ' Nền chính trị như vẠy được gọi là Vương đạo Vương đao là dùng nhân nghĩa để cai trị, "thi hành nhân chính mà cai trị thiên hạ thì chẳng ai có thể chống nổi Nền chính trị Vương đạo lẩy nhân nghĩa làm gốc có nội dung

cụ thể là:

- Phải "dạy dỗ "dãn đạo làm người, cha con phải thương yêu nhau, vợ chổng phải kính nể nhau, lớn bé phải có thứ bậc trên dưới, bè bạn phải giữ tín với nhau"' Tức là phải giáo dục tam cương ngũ thường, trói buộc dân chúng vào những giáo điều luân lý của chế độ tông pháp

- Phải bổi dưỡng dân, làm cho dân "hằng sản", giảm thuế má, khuyên khích sản xuất nông nghiệp phát triển, bảo đảm cho dân có mức sinh hoạt vật chất tối thiểu Đồng thời với nền chính trị Vương đạo, ông còn chù trương một "nền chính trị của các bậc hiền tài Theo ông, người cai trị thiên hạ

mà "không tin người hiền thì nước trống không" nên làm vua phải sử dụng

người có đức, có tài mà không căn cứ vào nguồn gốc quí tộc hay bình dân

V Vào cuối thời Chiến quốc, Tuân Tử - một bậc đại Nho đã tiếp tục phát triển chủ trương đức trị v ề chủ trương cai trị, ông văn tiếp tục đề cao vương đạo- tức là vẫn lấy nhân nghĩa làm gốc của đạo trị nước Ông đã nói "Quân giả

là cái nguồn của đân, cái nguồn trong thì dòng nước trong, nguồn đục thì dòng nước đục Cho nên người có xã tắc, không yêu dân(2) , không làm lợi cho dan

mà cần dân thân yêu mình thì không thể được vậy Muốn cho dan yêu mình thí phải có nhân có nghĩa, "hết nhân với thiên hạ, hết nghĩa với thiên hạ(3) Nhưng khác với Khổng-Mạnh, ông cho răng bản tính con người là ác nên ông

(1) M ạnh Tử , liiclì Lhco TỉÀn Trọng Kim, nho giáo, sđđ, liani; J.\{)

(2)(,) Tuân Tử, Irích theo Tríìn Trọng Kim, s đ đ, quycn Ihượng, l i 2 8 9 , 2 9 0

Trang 18

L u ậ n án t hạc s ỹ l uật hoc Vũ Thi N íịci

hết sức chú trọng đến việc giáo hoá dân bằng lỗ để dân có thể hoá lính ác Lhàiìh tính íhiện và dùng lễ để chính danh Ông nói "Người sinh ra là có lòng muốn, muốn mà khống được thì không thể tìm, tìm mà không có chừng mực giới hạn, thì không thể không tranh Tranh thì loạn, loạn thì khốn cùng Tiên vương ghét cái loạn, cho nên chế lễ nghĩa để phân ra trật tự, dể nuôi cái muốn của người ta, cấp cái tìm của người ta, khiên cái muốn không đến cùng kiệt các vật, các vật không làm cùng kiệt cái muốn; các vật vói cái muốn phù trì lẫn nhau mà sinh trưởng, ấy là cái sơ khởi của lễ" "Lễ có 3 cái gốc: trời đất là gốc sự sinh, tổ tiên là gốc chủng loại, vua là thđy là cái gốc sự trị Ba điều ấy

mà thiẽu đi một thì người ta không yên được Cho nên tiên thờ trời, dưới (hờ đất, tôn tổ tiên, trọng vua và thổy, ấy là ba gốc của lễ vạy"(IJ Từ đó ông cho rằng lễ là đầu mối của sự trị hay loạn của một quốc gia Do đó người trị dân phải đặt ra lễ nghĩa và dùng lễ nghĩa giáo hoá dân: "Lễ là cái cùng cực của sự trị và sự biền biệt, cái gốc của sự làm cho nước mạnh, cái đạo của sự uy hành, cái cốt yêu của công danh Bậc vương bậc công theo đó mà được thiên hạ, không theo đó thì làm hỏng xã tắc Cho nên đùng lễ thì việc gì cũng thi hành được, không đùng lễ thì việc gì cũng bỏ cả"(2) Theo Tuân Tử, đặt ra lễ để phân biệt rõ trật tư, xác định rõ giới hạn, ngăn cấm lòng muốn của mọi người nên trong quan điểm trọng lễ của ông, ông nhấn mạnh đến danh phạn, danh nào phận ãy Như vây, chủ trương đức trị của Tuân tử rất chú ưọng đến việc dùng lễ nghĩa để tu thân, chính danh phận và giáo hoá dân, cai trị dân Điểu đó đương nhiên dẫn đẽn hệ quả là phải dùng hình phạt để ngăn cấm, t r ừ n g phạt những người không chịu tuân theo giáo hoá lễ nghĩa Quan điểm chính trị của

(1) Tuân Tử, trích theo Trđn Trọng Kim, quyổn Ihưựng s đ ti, lr.282, 28 3

(2) Tuân Tử-trích Iheo Trổn Trọng Kim, quyển Ihơợng s đ d, tr 28

Trang 19

L u â n á n t hạc s ỹ l uật h ọ c Vũ Thị Nịịa

Tuân £Ỉr tuy trọng lễ nghĩa nhưng do thuyết "tính ác" của ông đã đưa đến hệ

quả tự nhiên là trọng hình pháp Điều đó giải thích vì sao mà Hàn Phi - Một

học trò của ông cũng xuất phát từ quan điểm "tính ác" đã rời bỏ phái Nho gia

bước sang phái Pháp gia

Như vậy, vào thời kỳ Xuân Thu - Chiến quốc ỏ Trung quốc, Khổng Tử

và các môn đệ của đạo Nho đã chủ trương dùng Đức để cai trị nhằm ổn định

tình hình chính trị - xã hội, xây đựng củng cố một nhà nước tập quyền thống

nhất theo công thức tu, tề, trị, bình với những nội dung cơ bản sau:

- Nhà Vua và giai cấp thống trị ( quân tử) phải tu thân, nêu một tấm gương sáng về đạo đức cho dãn chúng noi theo, cần nhất là các đức ngay

thẳng, thương yêu dân, trọng lễ, thành tín Người trị dân phải vừa có đức vừa

- Trước hết phải giáo hoá dân theo đạo luân thường bàng lễ và nhạc Lễ

là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của nhân, người có nhân phải biết giữ lễ

Lễ theo nghĩa rộng bao gồm:

+ Nghi thức để thờ cúng trời đất, quỷ thẫn, tổ tiên

+ Phong tục tập quán trong dân ginn

+ Sự kỷ luật tinh thần của mỗi cá nhân; cách xử thế của mỗi cá nhân đẽ

bảo đảm được luân thường, phân biệt được trên dưới, làm tròn phận sự của

mình

+ Lễ còn bao gổm cả quyền lực của nhà vua, pháp điên của nhà nước để

duy trì trât tự xã hội Chính vì vây, sách Lễ ký đã ghi rõ tám quan trọng của lỗ:

"đao đức nhân nghĩa không lễ không thành; day bảó sửà đổi phong tục, không

lể không quyết; vua tôi, trên dưới, cha con anh em không lễ không định; thờ

thầy, không lễ không thân; xếp đãí thứ vị trong triều, cai trị quân lính, làm

có tài

Trang 20

L u ậ n án t hạc s ỹ l u ậ t học Vũ Thị Nị!a

Ouan thi h ành p há p lệnh, k h ô n g !ễ k h ô n g uy n g h i ê m ; CÀU khấn t ế lư, c ú n g cáp

quỷ thần, không lễ không thành kính "(1) Lễ trở thành hình thức ràng buộc xử

sự của mỗi cá nhân Giáo hoá dân bằng lễ có hiệu quả rất tích cực vì nó ngăn cấrrì được việc chưa xảy ra

- Muốn đân trọng lễ nghĩa "hằng tâm" thì phải chú ý bổi dưỡng sức dân

để dân "hằng sản" như giảm thuế má, khuyến khích sản xuất nông nghiệp, bảo đảm đời sống vật chất tối thiểu cho dân

- Khi đã giáo hoá dân mà dân không theo mới dùng hình phạt Việc dùng hình vẫn theo hướng khoan giảm

3 Chủ trưưng đức trị trở thành điiỜDg lối cai trị chủ yếu của nhà nước phong kiến Trung Quốc với sự đóng góp của Đổng Trọng Thư

Nhà Tây Hán thay thế nhà Tẩn, tiếp tục phát triển chế độ phong kiến tập quyền ở Trung Quốc Muốn vây, nhà Tây Hán phải củng cố sự thống nhất lãnh thổ và thống nhâ't quyền lực nhà nước Để đáp ứng hai yêu cầu trên, vấn đề đặt

ra là phải thu phục được nhân tam và thống nhất được tư tưởng Người đã cung cấp cho nhà Hán một ý thức hệ chính trị khá chạt chẽ một chủ trương cai trị

thu phục được nhân tâm là Đổng Trọng Thư

Xuất phát từ lập trường thần học, ông đưa ra quan điểm "thiên nhan hợp nhất" " Trời cũng là tằng tổ phụ của người Do đấy nhân loại cũng bắt chước giống với trời ở trên Hình thể của người là hoá Thiên số mà nên, huyết khí nghi lực của ngưòi là hoá Thiên chí làm đức nhân ái Đức hạnh của người là

hoá Thiên lý thành ra chính nghĩa" (1) Theo Đổng Trọng Thư thì hình thể của

(1) T h e o Trần V ăn Giàu, Sự phái Iriổn của lư lưởng ở Viộí nam lữ Ihố kỷ X I X đốn cách

m ạng tháng lám Tạp I, N X R khoa hoc xã hội Hà nội 1973, Ir 27 0.

Trang 21

L u ậ n á n t hạc vỹ l uát h ọ c Vũ Thị Nịịơ

người và mọi biểu hiện linh thán của người đều hoàn toàn phù hựp với bản thê của írời, nói một cách khác, trời đã dựa theo cấu tạo của bản thân mình mà sống tạo ra loài người Trời đã sáng tạo ra loài người thì tổ chức xã hội loài người cũng do trời sáng tạo hoàn toàn phù hợp với tổ chức cõi thán, đổng thời trời cũng đặt ra cho xã hội cõi người một vị vua có quyền lực tối cao để " thay trời hành đạo" Quyền lực của nhà vua là do "vua chịu mệnh giỡi, ấy là ý giời cho vây" Chẳng những giải thích một cách thẩn bí vương quyền, Đổng Trọng Thư còn thần bí hoá cả đạo trị nuớc của nhà vua và coi đó là phép trị nước tất yếu Ông cho rằng "bậc thánh nhan bắt chước theo giời mà đặt ra đạo"(l) "Cái nguồn lớn của đạo xuất phát từ giời, giời không thay đổi, đạo cũng không lliay đổi"(2) Ông đã đùng thuyết Âm Dương để giải thích đạo giời và di đến kết luận: Vương đạo là dùng đức để trị dãn, giáo hoá dân "Cái to lớn của đạo giời

là ở Âm Dương, Dương là đức độ, âm là hình phạt, hình hạt chủ về việc giết hại, đữc độ chủ về việc sinh sống Do đó mà xét thì giời chú trọng về đức

độ, mà không chú trọng về hình phạt Người làm vua theo ý giời mà làm việc, cho nên phải chú trọng vào đức giáo"(3ì Từ chỗ thần bí hoá vương quyền,

Đổng Trọng Thư còn thần bí hoá cả vương đạo Đồng thời, ông Lại quay vể với

cái gốc của đạo trị nước là tu thân, tu thổn để trị quốc, bình thiên hạ "nhà vua phải chỉnh đốn lòng mình để chỉnh đốn Iriểu đình; chỉnh đốn triều đình để chỉnh đốn trăm quan; chỉnh đốn trăm quan để chỉnh đốn muôn dân; chỉnh đốn muôn dân để chỉnh đốn bốn phương; bốn phương được chỉnh đốn thì xa gần

(1) Đ ổ n g T rọn g Thư, X u ân Thư phần lộ, Irích th eo N g ư y ỗ n Đ ă n g T hụ c, Lịch sử triết học phương Đ ô n g , tập 4, N X B Ihành p h ố H ổ C hí m in h, 1991 trang 5 0

<2) Đ ổ n g T rọn g Thư, T hâm XỔI danh hiệu, trích llicn Lã Trấn Vũ sclci, tr.374

(3) Hán Thư, Trích theo Lã Trấn Vũ scld, Ir 3 7 5 , 3 8 4 , 3 8 5

Trang 22

Luận án t hạc s ỹ l u ậ t h ọ c Vũ Tiu Ng a

chẳng ai dám không một mực ngay thảng"(l) Ngoài việc phải theo ý trời, dạotrời, nhà vua " dưới có nhiệm vụ sáng tỏ giáo hoá đAn để hoàn thành cái tính.(2) Theo Đổng Trọng Thư, tính người tuy có chất thiện nhưng chưa thể hoàn toàn íhiện nên " lộp ra vua để làm cho thiên., thừa cái ý trời để làm nên lính của dân, đây là trách nhiệm của nhà vua"f1ỉ Làm cho dân thiện là đưa dân theo đạo luân thường, để bề tôi trung với vua, con hiếu với cha, vợ thuận tùng chổng; để dân cũng trau đổi năm đức nhân, lễ, nghĩa, trí, tín Vương đạo, theo Đổng Trọng Thư ngoài việc theo ý trời, giáo hoá đân còn phải "giữ pháp độ cho ngay thẳng đáng nên, phân biệt thứ tự trên dưới để phòng ngừa duc vọng"(4) Việc dụng pháp là biện pháp thứ ba trong vương đạo và dụng pháp phải "ngay thẳng đáng nên" Tựu chung lại, Đổng Trọng Thư vAn chủ trương đùng Đức để trị dân, đó là Vương Đạo, dùng nhan nghĩa để giáo hoá dân chứ không dùng lợi để sai khiến dân Nhưng ông đã thán bí hoá vương đạo, biến MÓ thành một đường lối cai trị tất nhiên

Trong bài đối sách thứ nhất dăng lên vua Hán Vũ Đế, ông viết "Tôi xem quãng trời đất và người quan hệ với nhau rất đáng sợ vây Khi Quốc gia sắp bị hư hỏng vể sự mất đạo, trời đem tai biến để trách bảo Đã trách báo mà người không biết tự xét, trời đem quái dị để làm cho sợ Thế mà người VÃI1

không biết đổi, thì sự bại vong mới đên Lấy đó mà xem, thì thây rõ lòng trời đối với đấng nhân quân vẫn có lòng nhân ái, mà muốn trước ngăn sự loạn vậy

(5) Như vậy, từ quan điểm "thiên nhân hợp nhất" đến "thiên nhân tương cám",

(1) Hán Thư, trích Iheo Lã Trấn V ũ, stki, Irang 3 8 3

<2)Tiến Hán Thư, trích th eo N g u y õ n Đ ă n g M ạnh, sckl (rang 68, lập IV

n) Đ ổ n g Trọng ihư, XuAn Thun pliíỉn lộ, trích ílico Nguyõn Đăng Thục, sikl, lộp 4, Ir 67 (4)Tiổn Hán Thư, trích Ihco N g u y õ n Đ ă n g Thục, silcl, lẠp IV, liíiiiị; 6 8 ,6 9

<5> Trích theo Tríia T rọn g K im , N h o giá o , Cịiiyổn li;i, sctil, Iniiig 18

Trang 23

Luậ n Ún thai: s ỹ ìiúĩt liọc ì ũ r i u Nx<i

Đổng Trọng Thư chỉ ra lằng tròi chầng những dặt ra vua mà còn giiím sái chíìl chẽ và buộc nhà vua phải thi hành thiôn đạo (ý tròi) , đổng thời dìmg lai hoạ (te báo ngẩm cho vua biết những sai trái trong đạo trị nước an dfln Nếu vua Ihi hành thiên đạo thì vương quyén bền vững, ngược lại sẽ mA'l vương qiiyổn

Chủ l rương Đức trị đã được thân bí hoa của Đổng Trọng Thư vừa góp phán củng cố, thông nhA'í được vương quyổn, vừa lừa bịp, ru ngủ dược nồng dồn, góp phổn xoa dịu mAu IhuÃn xã hội, thu phục clược nhAn lAm Bới vẠy, dưới đời vua Hán Vũ Đố, Nho giáo được dưa lôn vị trí quốc giáo; chủ trương

Đức trị cùa Nho giáo ựở thành đường lối chính trị chủ ycu của nhà TAy Hán viì

của nhà nước phons, kiến Trung quốc trong hơn hai thiên niên kỷ

II Q U Ả T R Ì N H I I Ì N I I T I Ỉ Ả N I I V Ả P I I Á T T R I Í i N C : Ủ A Đ U Ờ N í i l , ố l

PHÁP TRỊ

1 Chủ Irưong dề cao pháp luật của Quan Trọng và TỈr siỉn-sự khỏi

đầiì cửa đường lối ph áp trị

Tư tưởng pháp trị xuất hiện ở Trung Quốc ứr rất sớm và cũng sớm dược

ỉVíộí số nước chư hầu sử dụng để cai trị đa't nước từ thời Xuftn Thu Vào thòi

kỳ này, Trung Quốc chin ra hàng trâm nước, do đó các nước thường rấl nhỏ bé Giữa quí tộc và dftn lao động có quan hệ trực tiếp Xã hội chia ra đẳng cấp, trên dưới rõ ràng Luật pháp chỉ áp dụng cho dân thường còn từ đại phu trử lên nẽu có sai lâm chỉ dìing lễ khiển trách chứ không trừng phạt Iheo nguyên tắc " hình không đốn bạc đại plui, lỗ không đốn thứ clAn" Viộc sử dụng ỉuột pháp là quyền của quí tộc, dAn chí biết Luân theo Cách cai trị đổ lất ycu dẫn đến sự hủ bại của tầng lớp thống trị, dAn oán, nước suy Trong lình hình

ấy, việc xây dựng nước gi ẩu, binh mạnh để (hôn tính các nước khác, đổ xưng

Trang 24

Luận án t hạc s ỹ l uật hoc Vũ Thị NfỊ(i

bá đf trở thành yêu cầu và mục đích chính trị của nhiều quốc gia, nhiều nhà lư

Muốn nước giầu binh mạnh thì phải đề cao pháp luật, đề cao người sản

và chiến đấu, tước bớt đặc quyền của tầng lớp quí tộc, không chấp nhận ÌT Ộ1 1C'P người sử dụng pháp luât mà không bị pháp luật chi phối và Iĩiộl lớp ng,ười luôn là đối tượng bị pháp luật hạn chế mà không được pháp luật bảo vệ Quản Trọng, tướng quốc nước Tề dưới thời Tể Hoàn Công ( 682-645 TCN) - người đầu tiên làm cho Vua Tề thành Bá chủ đã có tư iưởng đề cao pháp luật,dùng nháp luật để trị nưóc Ồng khẳng định "Pháp là cái qui tắc của thiên hạ., cho nên lấy pháp luật mà chu phạt thì dân có phải chết cũng không oán, lấy pháp lượng công thì dân nhận thưởng không có chịu ơn công đức cho nên các quan cai trị sai khiến dân điều gì có pháp luât thì dân theo, không có pháp luật íhì dân không theo nữa Dân lấy pháp luật mà cùng với quan chống cự nhau, người dưới với người trên lấy pháp luật mà cùng làm công việc Cho kẻ dối trá không được khinh chủ mình, kẻ ghen ghét không được dùng lòng giặc cướp của mình, kẻ dèm pha nịnh hót không được thi hành xảo quyệt, ở ngoài

ngàn đăm không ai dám tự tiện làm điều phi pháp"(1).

Tiếp đó, đến thế kỷ 6 TCN, Tử Sản, một chính khách của nước Trịnh

đã làm ra hình luật và năm 513 TCN nước Trịnh đã đúc đỉnh đổng để khắc luật hình Những đại biểu đàu tiên của.phái Pháp trị như Quản Trọng, Tử Sán mới chỉ chú trọng đến yếu tố pháp luật, chủ trương dùng pháp luât để cai trị đất nước thay ỉễ nghĩa

(1) Qu^n Tử, trích Iheo N g u y ễ n Đ ă n g Thục, sđd lập 2, Irang 291

Trang 25

Luận án thục s v l uật h ạ c Vũ Thị N g a

2 Bước phât triển mói của chủ trương pháp trị với sự đóng góp của

£»# ptỉái pháp, thuật, thế qua ba đại diện điển hình Thận Đáo, Thưong

ìJỗBg và T h â n lĩấ t Hại

Đến thời Chiến Quốc, phái Pháp gia ngày càng phát triển và chia ra ba

nhóm: Nhóm chú trọng vào thế ( quyền thế, quyền lực, uy quyền) mà đại biểu

ỉà Thận Đáo; nhóm chú trọng đề cao pháp luật mà đại biểu là Thương Ưởng,

tướng quốc nước Tần đời vua Tán Hiếu Công và nhóm chú trọng đến thuât ca[

trị ríìà đại biểu là Thân Bất Hại

Thân Bất Hại làm tướng quốc của nước Hàn dưới thời vua Hàn Chiêu

Hầu ( 351-337 TCN) trong 15 năm Xuất phát từ lập trường của một địa chủ

mới kiêm thương nhân, khi tham chính, ông cực lực phản đối chế độ danh

phận đẳng cấp và cách cai trị chỉ dựa vào lễ Ông ủng hộ chủ trương dùng pháp

để phủ uịiih lễ, dùng pháp để thay thế lễ Ông cũng cho rằng pháp luật là úêu

chuẩn khách quan để bảo vệ trật tự xã hội, tiât tự hành chính nhà nước và trật

íự trong hoạt động kinh tế Tuy nhiên "học thuyết của Thân tử lấy việc hình

danh làm chủ(1) , tức là chú trọng và đề cao các thủ pháp cai trị Ông cho rằng

"Tai, mắt, tâm và trí người ta không đủ để dựa vào Vì vậy làm vua thiên hạ,

không thể không xét đên lẽ ấy Các bậc vua xưa kia, chỉ làm râ't ít, nhưng gợi

cho người ta làm thì nhiều Gọi cho người ta làm đó là thuật của người làm

vua Thuật íức là phải tùy tài mà giao chức, theo đanh vị mà đòi trách lây việc

thực, nắm quyền sinh sát, xét tài năng của cả quẩn thẩn đó là cái mà bậc dứng

đầu người ta phải nắm vậy cai trị thì không được vượt các quan chức, tuy

biết mà không nói"(2) Khi đưa ra nguyên tắc "xét công mà ban tước, tuỳ tài

(1) Từ M ã Thiỏn, s ử ký, tạp I, N X B văn học, HN 1988 tr 3.15

(2) Trích th eo Lã Trấn Vũ, s đ d, !.rang 177, 178

Trang 26

Luận Ún t hạc s ỹ l uật học Vũ Thi Nyci

n:à trao quan chức", Than Bất Hại đã phủ định đặc quyền thế tập iước vị và chức vụ nhà nước của giai cấp quý tộc Vì vậy ông vấp phải sự chống đối quyết liệt của các quý tộc cũ và chủ trương cai trị của ông đã thất bại Sau này Hàn Phi đã phê bình rằng, Thăn Bất Hại chỉ biết dùng thuật cai trị mà không

ũú hành các yếu tố khác của Pháp gia nên đã thất bại trên chính trường Ông

viết " Thân Bất Hại có giúp cho Chiêu Hầu dùng thuật đến mười lần, kẻ gian vẫn có chỗ để nói qủy quyệt được Cho nên dầu có dựa vào sức mạnh một vạn

xe của nước Hàn, mà 17 năm cũng không làm nên nghiệp bá vương, dâu cho bên trên có dùng thuật giỏi thì cũng bị cái vạ là pháp luật không thấm nhuần vào được các quan"(1)'

Thận Đáo là người nước Triệu, đổng thời với Thân Bất Hại Cũng như Thân Sất Hại, ông cực lực đả kích chủ trương nhân trị của giai cấp quý tộc cũ

và cho rằng phải xây đựng một nền chính trị đựa trên cơ sở pháp luật, pháp luật

là nguyên tắc cao nhất của chính trị Ông nói "Pháp luật không hoàn hảo cũng còn hơn không có pháp luật, vì nó có thể thống nhất được lòng người(2) Song ông lại cho rằng tuy pháp luật là nguyên tắc cao nhất của chính trị nhưng nếu

không có quyền thế để thi hành thì pháp luật cũng vô hiệu Vì vậy, Thân Đáo

hết sức đề cao quyền thế, xem quyền thế là yếu tố cơ bản nhất của chính trị; quyền thế đặt ra pháp luật và bảo đảm cho pháp luật được thi hành Ông nói

"Khi ông Nghiêu còn ở hàng thấp thì đân không nghe lời giáo huấn nhung đến

khi ở địa vị ngoảnh mặt về phương Nam và làm vua thiên hạ thì mệnh lệnh

được tuân hành và cấm đoán thì ngừng Do đấy ta thấy rằng hiền với trí chưa

(1) Trích Ihco í nín V ũ, s đ d,tr 178,179

(2) Trích Ihco Lã Trấn V ũ, s đ d, !r 182

Trang 27

Luận á n t hạ c s ỹ l uật học Vũ Thi N g a

đủ để khuất phục dân chúng mà quyền thế với địa vị lại đủ để giao trách nhiệm cho người hiền vậy"(1) Để đảm bảo quyền thế của người cai trị, Thận Đáo chủ írươỉìg thiết lập một nhà nước tập quyền thống nhất - nhà nước quân chủ chuyên chế trong đó mọi quyền lực đều thuộc về nhà vua Được phong làm thượng đại Dhu dưới đời vua Tề Tuyên Vương, Thân Đáo mong muốn thực hiện chủ trương chính trị của mình nhưng do xung đột gay gắt với các quý tộc

cũ trong triều nên ông phải bỏ trốn

Nếu Thân Bất Hại chú trọng vào thuật, Thận Đáo đề cao thế thì Thương Ưởng lại nhấn mạnh đến pháp luật Thương Ưởng đã từng làm tướng quốc nước Tần dưới đời vua Tần Hiếu Công Xuất phát từ lâp trường của tẩng lóp địa chủ mới, theo quan điểm lịch sử tiên hoá, ông cho rằng lịch sử là phát triển, là biến động nên chế độ của các đời không giống nhau, pháp luật của các dời cũng phải thay đổi theo chế độ Pháp luât là cái gốc để thiết lập và phát triển chế độ mới Ông kẽt luận ráng "Cai trị một nước có ba điều, một là pháp luật, hai là lòng tin của dân, ba là quyền lục"(2) "Điều làm lợi cho dân trong thiên hạ không gì lớn bằng sự yên trị; mà yên trị không gì tốt bằng lập ra vua Đạo ỉập ra vua không gì rộng bằng làm cho pháp luật mạnh"(3) ' Hơn nữa ông còn cho rằng không những nhất thiết phải đật ra pháp luật để cai Irị mà pháp luật còn phải rõ ràng, dễ hiểu để "kẻ ngu, người giỏi đều có thể hiểu được’,(4)

Để xây dựng "lòng tin của dân" vào pháp luật, ông đã cho chuyển gỗ thưởng tiền Đồng thời ông chủ trương "hình phạt nghiêm" vì như vậy "dân không đám phạm pháp" Để pháp luật được thi hành, ngoài những yếu tố trên, (heo ông

(1) Trích theo N g u y ỗ n Đ ă n g Thục, s d cỉ, tạp II, tr.284

(2) (3) Trích theo Lã Trấn Vũ s đ đ, Ir 199, i 96

<4) Trích theo Lã Trấn Vũ, s đ đ, tỉ' 1 9 7 ,1 98

Trang 28

Ln ọn án t hạc vỹ luật h ọ c Vũ Tliị N y a

Cồn phải củng Cố bộ máy quan lại thực thi pháp luật "phải đặt ra pháp quan

lo về pháp ỉuật, đặt người chủ trì pháp luật, làm gương cho thiên ha"(1) Mặt khác, ông cũng cho rằng pháp luãt muốn được thực thi thỉ phải tập trung quyền

ỉ ực vào nhà vua Ông nói "quyển lực là cái nhà vua được nắm một mình", "nhà vua một mình nắm lấy quyền lực thì sẽ có uy thế.(2) Trong 10 năm làm tướng quốc nước Tần, Thương Ưởng đẫ thi hành chủ trương pháp trị của mình, làm cho nước Tẩn giàu mạnh lên nhung cuối cùng ông lại trở thành nạn nhân của chủ trương cai trị đó

3= Chủ írương pháp trị trở thành đường lối cai trị chủ yếu của các rlĩầ Bĩễổc phong kiến Trung Quốc vói sự đóng góp của Hàn Phi Tử

Tiếp thu thuyết "bản tính con người là ác" của Tuân Tử, quan điểm vô vi cửa Lão Tử, với học vấn uyên bác tiếp thu rữ đạo Nho, trên cơ sỏ' tổng hợp oưan điểm của ba nhóm pháp, thuật thế Hàn Phi đã viết 55 thiên sách, xfly dựng học thuyết Pháp trị hoàn chỉnh, trong đó ba yếu tố: pháp, thuật, Ihế được kết hợp hài hoà trong một thể thống nhất, tương tác và hổ trợ nhau

Mặc dù trước Hàn Phi, một số nước chư hầu đã thi hành chủ trương Pháp trị để trị nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, đưa nước lên vị trí bá chủ mội thời như nước Tề đời Tể Hoàn Công, nước Tấn đời Tấn Văn Công ( 635­

628 TCN), nước Tần đời Tẩn Hiếu Công ( 361-330 TNC) Nhưng phải nhờ có

sự đóng góp của Hàn phi thì chủ trương pháp trị mới thực sự trở thành đường

16ì cai trị phổ biến của các quốc gia phong kiến Trung Quốc Nội dung cơ bản

của học thuyết pháp trị của Hàn Phi thể hiện ở những điểm chính yêu dưới

(t) (2)7rích Ihco Lã Trấn Vũ, s đ d, ÍỈ- Ỉ 9 7 1 9 8

Trang 29

L u ậ n án t hạ c s ỹ l uật học Vũ Thi N ịịo

3.1 Dũng pháp ỉưật lảm công cụ tri nước

Xuất phát từ nhận thức luận của chủ nghĩa tham nghiệm và quan điểm ỉ: ch sử tiến hoá, Hàn Phi đã bò í bác, phủ nhận chủ trương Đức trị của phái Nho

g ‘a Ống đã viết " Các đời Ân, Chu hơn bẩy trăm năm, đời Ngu, Hạ hơn hai nghìn năm, không thể xác định được Nay lại muốn xét cái đạo của Nghiêu 7fcuấn ở hơn ba nghìn năm trước, có lẽ việc ấy có thể đúng được chăng? Không "tham nghiệm" mà cứ cho là đúng, là ngu vậy, không thể chắc được

mà cứ dựa vào, !à nói láo Thế cho nên những người cứ dựa vào các vua xưa,

cứ xấc định một cách chắc chắn, thì nếu không phải ngu cũng là nói láo vậy"(1) Từ đố, ông cho rằng^pháp trị là chính sách duy nhai, thích hợp với yôu cầu chírủr trị đương thời Ông đứng trên quan điểm chủ nghĩa khách quan chính trị, bài bác chủ nghĩa chủ quan chính trị và khẳng định sự tâ't yếu phải trị nước bằng pháp luật "Bỏ pháp luật mà lấy cái tâm để cai trị thì Nghiêu không thể chỉnh đốn được một nước Bỏ cái quy, cái củ để lấy ý mà đo đạc thì Hề Trọng không thể làm thành một bánh xe Bỏ thước tấc để so sánh cái dài cái ngắn thì

Vương Nhĩ không nêu được chỗ ở giữa Nhưng nếu một ông vua trung binh

nắm lây pháp luật một người thô vụng giữ cái quy cái củ, cái thước cái tấc, thì vạn điều không sai một điều Kẻ làm vua chúa nếu có thể bỏ được cái điểu

mà người giỏi cũng không làm đuợc để giữ lấy cái mà người vụng làm vạn điều khổng sai một thì sức người dùng được hết mà cồng danh được xác lập"(2) Ông cho rằng sự an hay nguy của nước nhà phụ thuộc vào việc pháp luật có được tôn trọng hay không Bởi vậy mọi hoạt động.của người trị nước đều phải

(l) Hàn Phi, Hiển học, trích iheo Lã Trấn Vũ, Sí.kl, (rang 281

:2) Hàii Phi, Hàn Phi Tử, N X B văn học, HÌ! nội ' 9 9 2 , Irang 2 0 6 , Cập I

Trang 30

"Việc trị dân không có cái nguyên tắc bãt biến, chỉ có pháp luật làm cho dântrị an Pháp ỉuật thay đổi theo thời thì trị, bậc thánh nhân trị dân thì pháp luậltheo thời mà thay đổr®

Cũng theo Hàn phi, đã đặt ra pháp luật thì từ trên xuống dưới, từ sang đến hèn bất cứ ai cũng phải tuân theo pháp luật, cũng bình đẳng trước pháp luật Nguyên tắc này chống lại nguyên tắc "hình không tới đại phu", "thân yẽu người thân" của phái Nho gia, Ông viết " Pháp luật không hùa theo người sang khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể từ, kẻ đũng cũng không dám tranh Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu'i(4) Tư tưởng đùng pháp luật làm công cụ trị nước của Hàn Phi là sự k ế thừa quan điểm của nhóm chủ pháp, phái Thượng Ưởng,

nhưng nó đã được phát triển ở trình độ rất cao, bao quát tất cả những vấn đề

chính yếu như khẳng định tầm quan trọng của pháp luật, tính nghiêm minh và

(1) Hàn Phi, sdđ, iạp I, Irang 2 1 2

(2) Hàn Phi, sđd, lập I, trang 3 7 4

(3)Hàp, Phi, sđd iftp I, Irang 4 8 3

(4) Hàn Phi, s đ d tap I, trang 49

Trang 31

L u ậ n án t hạ c s ỹ l uât hoe Vít Thi NịỊd

còng khai của pháp luật, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luât và sư phù hợp

giữa hình và danh Mặc dù tư tưòng của Hàn Phi đã được trình bày cách đay

hơn hai nghìn năm, nhưng sự rõ ràng, khúc triết, tính sâu sắc, toàn diên của nó

vẫn có những giá tri cần được nghiên cứu để vAn dụng trong thời hiện đai ngày

nay

2.2 Phải có uy quyền VÙ tì lủ pháp cai trị dê bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ và tỉìi hành đúng.

Vẫn đề căn bản trong chủ trương chính tri mà phái Pháp gia nêu ra là đề

cao nháp luật, coi pháp luật là công cụ hữu hiệu duy nhất để trị nước Tuy

nhiên, đặt ra pháp luật nhưng không có quyền lực để bảo đảm cho pháp luật

đ\iỉgc thi hành thì pháp luât cũng vô hiệu Do đó, Hàn Phi cho rằng "thế" là

điểu đặc biệt cẩn thíẽí Ông viết "không dựa vào cái thế của mình mà lại dợi

vào lỗ tai để tỏ ra thính thì nhũng điều nghe được sẽ rất ít Đó không phải !à

cách khiến người ta không lừa mình Vi Vua sáng khiến người ta không ihể

VÀO không vì mình mà nhìn, khiến thiên hạ không thể nào không vì mình mà

nghe Cho nên tuy thftn mình ở nơi thâm cung mà cái sáng chiếu cả bốn biển,

thiên hạ không thể nào che !ấp được, không thể nào lừa dối được Tại sao thế?

Bởi vì con đường đen tối ỉàm loạn bị bỏ và cái thế sáng tỏ nổi lên"(1) Để giữ

vững uy thế, củng cố uy quyền, theo Hàn Phi, nhà vua phải thau tóm mọi

quyền lực vào tay mình, trong đó quan trọng nhất là quyền thưởng và

phạt Ông chỉ rõ "cái uy không thể cho mượn, cái quyền không thể dùng

chung với người khác"(2) "Bậc vua sáng suốt sở dĩ lãnh đạo và chế ngự được

(1) Hàn Phi, s cl d tíip I, (ranp, 104

(2) l iàn Phi, s d d tAp ỉ, Irang 48

Trang 32

L u ậ n ủn t hạc vỹ lĩiậ! hoe Vu Tlii Nạt/

bểy tối chẳng qua chỉ nhờ hai cái căn bản mà thôi Hai cái căn bản ấy là: hình

và đức giết tróc gọi là hình phạt; khen thưởng gọi là ân điíc"<‘,) Việc thưởng

và phạí phải căn cứ vào pháp luật, trong khuôn khổ của pháp luật

Một vấn để đặt ra là, tuy có pháp luật tốt, có uy quyền để bảo đảm cho pháo luật thi hành nhưng nhà vua không thể tự mình áp đụng pháp luật mà phải thông qua đội ngũ quan lại Nếu quan Lại " tô vẽ pháp luật để làm việc sai trái" thì pháp luật của nhà vua bất lực, quyền uy của nhà vua bị lạm dụng Đổ phòng ngữa tinh trạng đó, Hàn Phi coi IhuẠL là mộ! yếu tố không thể thiếu Ông phê bình Thương uờng là chỉ biết có pháp luật nhưng không có thuật để biết rõ kẻ gian Thuật là những thủ đoạn, giải pháp để người làm vua điều khiển quan lại, buộc họ phải tuân thủ pháp luật, bảo vệ pháp luật, ngăn ngừa quan lại lạm dụng pháp !uât Chính ở đây, Hàn Phi đã phát triển quan điểm vô vi của Lão

Tử thành thuật trị nước tinh vị đẩy mưu mẹo Ông viết "Thuật là gì, là cái nằm kín đáo trong bụng, để so sánh các đầu mối sự việc, và ngấm ngẩm cai trị các

bề tôi đùng thuật thì phải làrr cho kẻ thân yêu gần gũi cũng không ai biết

đ ’jợ c " (2) Về đại thể, thuật của Hàn Phi thể hiện một số điểm lỡn sau:

- Phân cống, phAn nhiệm cụ thể, rõ ràng và có kỷ luật chặt chẽ, ai không ỉàm hết trách nhiệm hay vượt quá trách nhiệm đều xử phạt

- Nhà vua không tự mình làm mà đổ bề tôi đề xuất, sau đó giao viộc, căn

cứ vào kết quả công việc ( hình) và lời tâu bày xét thấy phù hợp thì thưởng, trái ỉại sẽ phạt

- Nhà vua phải đề phòng mọi nguy cơ bị lừa đối, bị lấn quyền từ khi nguy cơ đó mới nhú mẩm

vl) Hàn-Phi sđđ tạp 1, trang 50

(2) Hàn Phi, trích theo Lã Trấn Vũ sđđ , (rang 2 9 0 '

Trang 33

Luận án t hạc s ỹ luât học Vũ Thị Nịịd

Hàn Phi cho rằng, thế và thuật là những điều kiện Ihiêì yếu để đảm bảo

cho nháp luật có hiệu lực Tư tưởng đề cao thế và thuật của Hàn Phi Ihể hiện

rõ sự k ế thừa và phát triển quan diểm của phái chủ thế của Thân Bất Hại và

phái chủ thuật của Thận Đáo, nhưng do chịu ảnh hưởng sau sắc lý luận "Bản

tính ác" của Tuân Tử và lý thuyết vô vi của Lão Tử, nên Ông đã trình bày các

vấn đề một cách toàn diện, cụ thể thành hệ thống các thao tác có tính thủ thu ạt.,

kỹ sảo và mưu mẹo - Điểu rất phù hợp với xã hội phong kiến dương Ihời vì

vậy, tư tưởng này của Hàn Phi đưọc các nhà nước phong kiến Trung Quốc khai

thác và sử dụng triệt để khi thực hiện đường lối cai trị của mình Tuy nhiên,

nhìn nhộn một cách khách quan, bên cạnh những hạn chế của nó, lư tưởng đề

cao thế và thuật của Hàn Phi cho đến ngày nay vẫn còn nhiổu yêu tố hợp lý

cần được nghiên cứu để vận dụng phù hợp với xã hội hiện đại./róm lại, Pháp,

thuật, thế !à ba bộ phân hợp thành của học thuyết pháp trị, chúng liên quan

chặt chẽ và không thể tách rời nhau Pháp chỉ có thể được thực hiện khi dựa

vào thế và thuật; thuật về thế chỉ phát huy tác dụng và dược giữ vững khi phííp

được íhiết lạp rõ ràng, minh bạch, cồng khai và bản than thế và thuạt cũng gắn

bó hữu cơ với nhau: Thế thiếu thuật thì không bền vững; thuật không có Ihế Ihì

cũng chỉ là những; thủ thuật, mưu mẹo chưa hiên thực, t /

III XU HUỚNG KẾT HỢP ĐÚC TRỊ VÀ PHÁP TRỊ TRONG ĐUỜNG LỐI CAI TRỊ CỬA CÁC Q ư ố c GIA PHONG KI ẺN

Bàn về phép trị Rước của người Trung Quốc cổ, nhà sử học nổi tiếng của

Trung quốc thời Hán Vũ Đ ế ỉà Tư Mã Thiên đã tổng kết "Chính trị nhà Hạ

-.rung thực Nhà Ân kế tiếp theo đùng chữ "kính" để cai trị nhà Chu kế tiếp

Trang 34

L u ậ n ớn t hạ c vỹ l uật học Vũ Thi N y a

■đừng "văn" để trị"(l) Qua đó có lliổ thấy phép í rị nước của các đừi Hạ,

Thương, Chu ở Trung quốc chủ yếu thiên về đức tuy nội dung của chủ trương

cai trị đó chưa đẩy đủ như Đức trị sau này Đến thời kỳ Xuân Thu- Chiến quốc xuất hiện hai chủ trương Đức trị và Pháp trị Đức trị của Nho gia và Pháp trị của Pháp gia đã công kích nhau, tranh giành địa vị thống trị tiên lĩnh vực tư íưởỉig chính trị trong suốt thời kỳ Xuân Thu-Chiến Quốc đẫm máu ở Trung Quốc Vua một số nước chư hầu như Tề Hoàn Công (682-645 TCN); rân Văn công (535- 628 TCN); đã thi hành chù trương pháp trị, làm cho dan giàu, nước mạnh, binh cường, trở thành bá chủ có quyền sai khiến các nước chư háu khác trong thòi Xuân Thu Sang (hời Chiến Quốc, tư tưởng pháp trị ngày càng phát

triển, phái pháp gia ngày càng được các nước trọng dụng nhất là ở nước Tần

Tần Hiếu Công ( 361-330 TCN) phong Thương Ưởng làm tể lirớng và thi hành một số biện pháp của Pháp gia như chế độ trách nhiệm liên đới, chế độ thưởng phạt công minh, căn cứ vào công lao trong lao động sản xuất và chiến đấu mà khổng phân biệt sang hèn giàu nghèo Sau một (hời gian (hi hành chủ írương Pháp trị, nước Tán trở nên giẩu mạnh Năm 221 TCN, Tẩn Doanh Chính đã thôn tính được các nước chư hầu, thống nhất Trung Quốc, xây dựng nhà nước phong kiến tập quyền manh và xưng là Tẩn Thu ỷ Hoàng đế Tắn Thuỷ Hoàng triệt để thi hành chủ trương Pháp trị "Cai trị thì cứng rắn nghiêm nghị, gay gắt, sâu sắc, mọi việc đểu đùng pháp luật để quyết định, khắc bạc, không dùng nhân đức, An nghĩa trong một 1 hời gian dài không tha lội cho ai" (1) Tư tưởng trọng pháp triệt để của Tổn Thuỷ Hoàng đã dẫn đến chính sách đàn ốp phái Nho gia, hơn 460 nhà Nho bị chôn sống vào năm 212 TCN, tất cả

(l) Tư Mã Thiên, Sử ký, N X B Văn ì,ọc, Hà nổi 19K8, tíVp I,lr 162 {

(1) Tư Mã Thiên sđíi, lẠp ỉ, lr.45

Trang 35

L u ậ n á n t hạ c s ỹ l uậ t h ọ c Vli Thi NíỊa

sách của Bách gia đều bị tịch thu và huỷ bỏ trừ sách thuốc, sách bói và sáchírổng cSy Chảng những thống nhất quốc gia, Tần Thu ỷ Hoàng còn thực hiệnthống nhất vể chữ viết, đơn vị đo lường, pháp luật và thống nhất về tư tưởng.írọng phán K ế tục sự nghiệp của Tổn Thuỷ Hoàng, Tần Nhị Thế càng gia tăngthi hành chủ trương pháp trị đến nỗi "ở ngoài đường số người bị hình phạtchiếm một nửa"(1) Chính sách cai trị tàn bạo, vô nhân đạo, quá lạm dụng phápluật của nhà Tần đã khiến đí\n chúng căm giận, quan lại chán ghét và nhà TÃnnhanh chóng bị điệt vong ( 206 TCN) Trung Quốc lại bị phân chia thành 6nước và phải sau 5 năm dẹp loạn, Lưu Bang mới thống nhâ't lại đưoc Trungquốc, !ập ra nhà Hán Nhà Hán thiết lệp nền thống trị của mình trong một hoàncảnh khó khăn, sự thống nhất quốc gia chưa vững chắc, các thế lực quý tộc cũcửa các nước chư hầu vẫn còn đe doạ, kinh tế bị tàn phá trong nội chiến, càquý íộc và nhân dân đều rất căm phẫn chế độ pháp luật hà khắc dưới thờiTần Kinh nghiệm ỉịch sử cũng cho các vua Hán thấy sự bâ't ]ực của Đức trịtrước tình trạng chiến tranh tàn khốc để tranh giành đất đai và quyền lực trongthời Xuân Thu-Chiến Quốc, sụ diệt vong nhanh chóng của nhà Tẩn do thi hànhchế độ pháp luật hà khắc tàn bạo Trong hoàn cảnh đó, để thu phục nhíln (<1n,củng cố sự thống nhất quốc gia, củng cố nhà nước trung ương lập quyền, nhàKến đã chủ yếu thi hành Đức trị của Nho gia đổng thời kết hợp sử dụng Pháptrị để trấn áp các thế lực chống đối, nhanh chóng ổn định trật tự xã hội và

kỷ cương nhà n ư ớ ^ T ừ thời Tây Hán, xu hướng kết hợp Đức trị và Pháp trịthành cường lối cai trị của nhà nước phong kiến Trung quốc được thực hiện,

Trang 36

L u ậ n á n t họ c s ỹ l uật h ọ c V i l T l n N g a

khác nhau, mỗi triều đại có thể hoặc chú trọng Đức trị hơn hoặc chú trọngvirị hơn và sự xung đột giữa hai trường phái này chưa hẳn đã chấm dút* Song nhìn chung, đường lối cai trị truyền thống của nhà nước phong kiến Trung quốc từ thời Tây Hán cho đến đàu thế kỷ XX ( 1911) là đường lối cai trị kế! hợp Đữc trị và Pháp trị theo xu hướng Đức chủ Pháp bổ

Đường lối cai trị kết hợp Đức và Pháp đã đem lại cho nhà nước phong kiến Trung Quốc những biện pháp cai trị linh hoạt, vừa mém dỏo, đủ đổ lim phục nhân tâm, điếu hoà máu thuẫn xã hội, vừa cứng rắn, tàn bạo đủ để trấn áp

sự phản kháng của những người bị trị và mọi thế lực chống đối khác Mặl khác, Đức trị hay Pháp trị cũng đều nhằm vào mục đích đuy nhất là xây dựng một nhà nước thống nhấL, một chính quyền lộp (.rung; củng cố địa vị và uy quyền tuyệt đối của nhà vua chuyên chế

/ Ở nuóc la, trong hơn 10 thế kỷ Bắc thuộc, hệ tư tưởng Nho và đường lối cai trị truyền thống của Trung Quốc được áp đặt từ rất sớm nhưng để trở thành đường lối cai trị chủ đạo của nhà nước phong kiến Đại Việt cần phải có một quá trình lau dài và phải thích ứng với hoàn cảnh, tập quán, truyền thống của cộng đổng người Việt

Trong thế kỷ X, do tình hình chính trị đày biến động và X I I hướng đấu tranh quyết liệt chống phong kiến xâm lược Trung Quốc giành độc lộp dan tộc nên Nho giáo chưa được nhà nước Đại Cồ Việt sử dụng

^ T h ò i T ốn g , lể tướng Phạm T rọ n g y ê m ( đời vua T ố n g Nhân T ô n g ) và lể tướng V ư ơn g An Thạch ( đời vua T ố n g Thẩn T ổ n g ) đã lừng đ ề c a o pháp luật, thi hành cải cách chính Irị và lài chính nhưng d o vãp phải sự c h ố n g đối của giai cấp quý lộ c và đại địa chủ nên clổu ihAÌ bại.

Trang 37

L u ậ n án t hạc s ỹ l uật học Vũ Thị /V ÍỊCI

Đến thời Lý, do nhu cẩu xAy dựng, củng cố bộ máy nhà nước {rung ương tập quyển, giai cấp thống trị buộc phải tìm kiếm những cơ sở lý luân và kinh nghiệm quản lý nhà nước, phương thức cai trị dân chúng Nho giáo cùng với đường lối cai trị truyền thống của Nhà nước phong kiến Trung Quốc dã đáp ứng yêu cầu cấp thiết của Nhà Lý Tuy nhiỏn, do-ảũh_hưỞHg rất lớn của đạo Phật mà đường lối cai trị • ủa Nhà lý chủ yéu nghiêng vể Đức trị Khi đáp lời quần thần xin dâng tôn hiệu, Lý Thái Tông đã nói "Trẫm chưa biêì lA'y gì để thấu trời đâ't, lấy đức gì để kịp Đường Nghiêu Ngu thuân"(I) Nêu ra những điển tích ấy với tư cách là khuôn mẫu cho đạo trị nước an dân, vua Lý Thái Tông đã nêu rõ chủ trưong dùng đức trị dân của mình Chủ trương đức trị dưới thời Lý chưa chú trọng nhiều vào việc giáo hoá đân chúng theo những chuẩn mực đạo đức Nho giáo mà hướng tới việc chăm lo cho đời sống thiết llụrc của dân Trong bài văn lộ bố khi đánh Tống, Lý Thường Kiệt viết "Đạo làm chủ dân, cốt ở nuôi dfln"(2) Trong lúc thi hành chính sự, ông "khoan hoà giúp dỡ nhản từ yêu mến mọi người Thái uý biết dân lấy no ấm làm đầu, nước lấy nghể nông làm gốc, cho nên không đổ lỡ thời vụ"(:i) Qường lối đức trị đuới

thời Lý được thể hiện qua chính sách thAn dftn tích cực và thiết thực ) ổng

thời, nhà Lý cũng chú trọng đúng mức đến việc sử dụng pliáp luât, đặt ra luật

lệ để trị nước Từ năm 1042 Vua Lý Thái Tông đã cho biên soạn và ban hành Hình Thư Đường lối cai trị đó đã được các đại sư, tẩng lóp trí thức đương thời tán thưởng "không dũng không thẳng mà khoan mãnh dựa nhau; không mểm nắn rắn buông mà cương nhu hợp độ(4) "Phép lắc như vậy có thể gọi là cái gốc

(1)Thơ Văn Lý Tríìn, NSB khoa học xã hội HN 1997, Ir 2 4 6 , (Ạp I

(2)Thơ Văn Lý Trđn, sđd, Irang 32 0

<3)Thơ Văn Lý TrÀn, sđtl, trang 362

<4)Thơ Văn Lý Trân, stltl, Inmy 375

(4) Thư Vãn Lý T r ín , sđđ, Irang 375

Trang 38

L u ậ n án thạc s ỹ l uật học Vũ Tlìi N y a

trị nước, cái thuật: yên dAn, sự tốt đẹp đểu ở đấy cả"(1) Dưới thời Trân, trong thời kỳ đầu, do phải củng cố địa vị thống trị của dòng họ Trân, tổ chức, sắp xếp, chấn chỉnh lại bộ máy nhà nước, tiêu diệt các thế lực chống đối, Trấn Thủ

Độ chú trọng Pháp trị; sử dụng biện pháp cai trị cứng rắn, thậm chí cả những thù đoạn tàn ác và trái ngược vói tâp quán đạo đức vốn có của dân tộc Khi địa

vị thống trị của nhà Trần đã vững vàng, do nhu cầu tổ chức, xAy dựng bộ máy nhà nước và quản lý xã hội, các Vua Trần iại chủ trương đùng Đức đế cai trị Đức trị của các vua Trán trưóc hết chú trọng đến Nhân chính, tức là chú trọng đẽn tư cách của bậc làm vua, chú trọng đến việc sửa đức, chính tâm, tu thận của nhà vua v iệ c sửa đức không phải tùy tiện mà căn cứ vào những chuẩn mực của đạo Nho, vào những tấm gương đã được khẳng định trong Kinh Thư

"Nguyễn Nhược Pháp trong bài Phú Lẫu Cẩn Chính" đã khuyên vua Tràn

"Thanh sắc lánh xa chẳng thiết, săn bắn bỏ đứl không chơi Câm gấm vóc không cho là quí, mặc giản đơn làm (rước mọi người Dù phú quí không màng dột lại, nghĩ nghiệp vua khó nhọc lau dài Thức khuya dạy sớm, sử dụng hiển tài Thân coi chính sự, nắm hết quyền oai Đức Nghiêu Thuấn mong rằng sách kịp, công vua Văn cố gắng theo đòi"(2)^ Nhà vua tu thân, sửa đúc là để làm gương cho đân chúng và giáo hoá dân chúng; để xây đụng những chuẩn mực đạo đức cho toàn xã hội Vì vậy các vua Trần hết sức chú ý đến việc rèn cap các hoàng tử 'kăm 1251, Trần Thái Tông tự tay viết bài minh ban dạy các hoàng tử những điều: Trung với vua, hiếu với cha mẹ, hoà nhã và khiêm tốn

(1>T hơ Văn Lý trần sckl, trang 3 6 2

^ Trích ihco Lịch sử tư lưởng v i ộ l Iiiiin, N X B KI IXII, I là nội 1993, líỊp I, Npuyễn Tiìi Thư

chủ biCn, nliiồu lác giả, Irang 223

Trang 39

L u ậ n án t hạ c s ỹ l uật học Vũ Thị Nf>d

vô: rr.ọi người, ngôn ngữ, cử chỉ mềm mỏng, gián dị, giữ mình nghiêm trang

kírìh cẩn, tiêu dùng có tiết độ

Noi gương Trần Thái Tông, các vua sau đều làm sách minh dạy thái lử

ĩ ắt nghiêm khắc, chu đáo Ngoài việc rèn giũa nhân cách chính trị, lý tưởng

cho người k ế vị, đề cao việc sửa đức tu thân của nhà vua, Đức trị của nhà Trân còn chú trọng đến đời sống thiết thực của dân chúng như giảm tô thuế, đắp dê chống lụt để bảo vê sản xuất nông nghiệp/T rần Hưng Đạo, khi được vua Trần Ânh Tông hỏi về kế sách giữ nước đã khảng định " khoan thư sức dân đổ làm

k ế sâu gốc, bển rễ"(1) Thượng hoàng Trần Minh Tông từng nói " trẫm là cha

mẹ dân, nếu thấy đân lầm than thì phải cứu ngay, há nên so đo khó dồ lựi hại"(2' Mỗi khi có thiên tai, nhà Trần đều giảm thuế cho dân Sử chép, năm

1354 "mùa thu, tháng 9, có sâu lúa Xuống chiếu giảm một nửa tô ruộng"(,) Năm 1362" "từ tháng 5 đến mùa thu tháng 7, đại hạn., xuống chiếu miễn cho

cả nước một nửa tô thuế năm ấy"(4)

'Đ ổ n g thời, nhà Trần nhanh chóng ban hành nhiều văn bản pháp luât để trị nước Năm 1230 Vua Trần Thái Tông cho soạn "Quốc triều hình luật"; năm

1341, Vua Trần Đụ Tông cho biên soạn bộ Hoàng Triều Đại điển và bộ Hình thư để ban hành Pháp luật của nhà Trán, theo nhận xét của Phan Huy chú " thì lỗi ở nghiêm khắc"

Đến thế kỷ XV, do những đóng góp lớn lao của Nho giáo cho cuộc

chiến tranh giải phóng-, đã đưa nhà Lê lên địa vị thống trị, Nho giăo được nhà nước Lê sơ coi là quốc giáo, trở thành hệ tư tưởng thống trị xã hội Đồng thời,

(l) Đ ại V iệt sử k ý loàn thư, tạp II, N X B K H X H , Hà nội 1971 trang 89

(ĩ) Đ ại Việt s ừ k ý toàn thư, tâp II, sđđ, Iraiìg 134

c3> Đ ại V iệt sử ký toàn thư tạp II, sđd, Irang 156

(4> Đại V iệt sử ký loàn ihư, tẠp II, sđđ, Irang 162

Trang 40

Luận á n t hạc s ỹ l u ậ t học Vũ Thi Ng a

đường ỉối cai trị kết hợp Đức và Pháp theo xu hướng "đức chủ, pháp bổ" của nhà nước Trung Quốc được nhà Lê sử dụng toàn diện, triệt để hơn, nhất là dưới triều Vua Lê Thánh Tông Điều đó thể hiện rất rõ qua tư tưởng và hành động của các Vua Lê

Lê Lợi thấy sự cần thiết phải xây dụng ngay một hệ thống pháp luật và nhận thức được vai trò của pháp luật trong việc trị nưóc, trong việc thiết lập lại

kỷ cương, trât tự xã hội đã bị đảo lộn sau một thời gian chiến tranh kéo dài Đầu năm 1428, ông giao việc xây dựng pháp luật cho các quan tư không, tư

đổ, tư mã, thiếu uý, hành khiển Ông khăng định "từ xưa đến nay, trị nước phải

có pháp luật, người mà không có phép để trị thì loạn Cho nên bắt chước đời xưa đặt ra pháp luật, để dạy các quan, dưới đến nhân dan cho biết thế nào là thiện ác, điểu thiện thì làm, điều ác thì lánh, chớ có phạm pháp"(l) Nhưng cũng chính năm đó, ông lại theo đường lối Nhân chính, lệnh cho các quan văn

võ tiến cử người hiền tài để nhà nước trọng đụng, tiến người có thể dạy bảo Thái tử Tháng 10/1429, ông lại hạ chiẽu cho các quan đại thần từ tam phẩm trở lên phải tiến cử người hiền tài cho nhà nước Các Vua Thái Tông và Nhân Tông vẫn tiếp tục phương châm cai trị của Lê Thái Tổ nhưng phải đợi đến triều vua Lê Thánh Tống ( 1460-1497) thì Nho giáo mới có địa vị thống trị chính íhống và đường lối cai trị đức chủ pháp bổ mới được thể chế triệt để trong pháp ỉuật

Lê Thánh Tông từng chúng kiến sự đãu tranh giữa các phe phái trong triều đình và thế yếu của nhà vua trong cuộc đấu tranh đó nên ông tìm mọi biện pháp tăng cường quyền lực của nhà vua Ông thấy hộ thống lý luận đạo đức chính trị của đạo Nho đã củng cố chế độ tông pháp, chế độ đẳng cấp xã

(l) Đại V iệt sử ký Loàn thư, tóp III, N X B K H X H , Hà nội 1972, trang 5 9

Ngày đăng: 03/08/2020, 19:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w