Điều đó đã thể hiện sự quan tâm nhất định của Bộ luật dân sự - Một đạo luột giữ vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam tới lĩnh vực nghĩa vụ dân s ự ^ r o n g giai đoạn hiện
Trang 2B Ộ G IÁ O D Ụ C V À Đ À O T Ạ O» ■ ■ B Ộ T ư P H Á P
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Nguyễn Thái Mai
Ị - , ■ 1
\-vv\UM\cHr;r
ĐỂ TÀI:
MỘT SỐ VẤN ĐỂ Cơ BẢN VỀ NGHĨA v ự DÂN s ợ
Chuyên ngành Luật Dân sự
Mã Số: 5 0 5 0 f
NGUỜI HUỐNG DẪN KHOA HỌC PTS ĐINH VẢN THANH
Hà nội-1998
Trang 3M Ụ C L Ự C
T ra n ị
1.1 Khái niệm nghĩa vụ dân sự và bản chất pháp lý của nghĩa vụ dân sự 6
1.2 Các đặc điểm cơ bản của quan hệ pháp luật nghĩa vụ dân sự 131.3 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về nghĩa vụ dân sự 21
1.3.2 Quá trình hình thành và p h á t triển của p háp luật về nghĩa vụ
CHƯƠNG II: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ NGHĨA v ợ
2.2.1 C ác quy định clumg vê thực hiện nghĩa vụ dân sự 44
2.2.2 Thực hiện m ột s ố loại nghĩa vụ dân sự thông dụng 512.3 Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự 61
2.3.1 K hái niệm chung về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự 61
2.3.2 C ác biện pháp bào đởm thực hiện nghĩa vụ cỉân sự * ' 63
2.4.1 K h á i niệm chung về quan hệ nghĩa vụ dân sự có yếu t ố
2.4.2 M ột s ố nội dung cơ bản trong việc điều chỉnh các quan hệ
2.4.3 Đ iều chỉnh các quan hệ về nghĩa vụ dân sự có yêu tô'nước
Trang 4H oàn thành bản L uận án này tôi xin gỉrì lời cám ơn chân thành tới Thầy giáo Đ inh Văn T hanh - Phó tiến sỹ L uật học, Thầy giáo đ ã hướng dẫn và giúp
đỡ tôi rất nhiệt tình đ ể hoàn thành bản luận án.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các Thầy Cô giáo, các bạn đồng nghiệp
đ ã giúp đỡ, đống góp ỷ kiến trong quá trình tôi thực hiện đ ề tài.
H à nội, ngày ÍLO tháng i.d năm I 9 ỹQ
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tinh cấp thiết của đề tài:
Trotig đời sống hàng ngày, nghĩa vụ dân sự là một trong những loại quan hệ
xã hội phát sinh rất phổ biến Xác lộp và thực hiện nghĩa vụ dân sự luôn là phương thức chủ yếu để đáp ứng và thỏa mãn các nhu cổu về vật chất, về tinh thần ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội
Để cho các quan hệ nghĩa vụ dân sự phát sinh, tồn tại và phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp thông trị, lợi ích xã hội, các nước trên thế giới đều ban hành pháp luật để điều chỉnh các quan hệ nghĩa vụ dân sự
Điều chỉnh các quan hệ nghĩa vụ dân sự là một vấn đề pháp lý phức tạp Bởi lẽ quan hệ nghĩa vụ dân sự luôn liên quan trực tiếp tới các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên chủ thể Việc xác lập một cơ chế điều chỉnh không thích hợp, bất hợp lý sẽ ảnh hưởng rất lớn lới sự ổn định và phát triển của các giao dịch dân sự, cũng như tới sự ổn định và phát triển chung của nền kinh tế Mặt khác, việc điểu chỉnh các quan hệ nghĩa vụ đcìn sự còn liên quan mật thiết tói nhiều chế dinh quan trọng của pháp luật dân sự như: Chế định sở hữu; chế định Irách nhiệm dân sự; chế định bồi thường thiệt hại Từ ý nghĩa trên, các nội dung cư bản của nghĩa vụ dân sự như: Căn cứ phát sinh chấm dứt nghĩa vụ dân sự, thực hiện nghĩa
vụ dân sự luôn được quy định chi tiết và cụ thể trong pháp luật dán sự của các nước
Ở Việt Nam, chế định nghĩa vụ tlAn sự được xác định là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự Trong Bộ luật dftn sự Việt Nam (được Quốc hội thông qua ngày 28/10/1995 và có hiệu lực từ 01/07/1996) các quy định
về nghĩa vụ dân sự lần đầu tiên được quy định thành một chế định độc lập So với các ch ế định pháp luật khác, chế định nghĩa vụ dân sự và hợp đổng đản sự là một trong những chế định có nhiều chương, mục, điều, khoản nhất trong Bộ luật dân
sự Điều đó đã thể hiện sự quan tâm nhất định của Bộ luật dân sự - Một đạo luột giữ vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam tới lĩnh vực nghĩa vụ dân
s ự ^ r o n g giai đoạn hiện nay các quy định về nghĩa vụ dãn sự Irong Bộ luật dân sự
là nguồn luật cơ bản để điều chỉnh các quan hệ nghĩa vụ dân sự phát sinh trong giao lưu dân sự, là căn cứ pháp lý chủ yếu để Toà ấn áp đụng giải quyết các tranh chấp về nghĩa vụ dãn sự được thấu tình đạt lý, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật
Trang 6Góp phán nang cao hiệu quả diều chính của pháp luật về nghĩa vụ dãn sự, đảm bảo cho quá trình giải quyết các tranh chấp về nghĩa vụ chín sự đưực nhanh chóng Ihuộn lợi, việc nắm vững các kiến thức, các quy định cơ bản về nghĩa vụ dân sự là một yêu cầu thiết thực Đối với các nước cổ nền khoa học pháp lý thực
sự phát triển, những vấn đề cơ bản về nghía vụ dAn sự đã dược các chuyên gia
*f)háp luật dày công nghiên cứu tìm hiểu một cách sâu sắc và toàn diện Tại Việt nam , việc nghiên cứu về nghĩa vụ dân sự trước đây ít được quan tâm vì hệ thống pháp luật thực định hầu như không có Chỉ sau này khi Nhà nước ban hành pháp lệnh về nhà ở, pháp lệnh về hợp đổng dân sự, các cơ sở ban đầu của khái niệm về nghĩa vụ dân sự mói được ghi nhận Nghiên cứu về nghĩa vụ dân sự chỉ thực sự được chú ý khi BLDS ra đời và có hiệu lực Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu
về nghĩa vụ dân sự cho đến nay chưa nhiều, đặc biệt là những công trình nghiên cứu mang tính chất chuyên khảo và hệ thống Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thưc thi các quy định về nghía vụ dân sự liong BLDS cũng như tới quá trình hoàn thiện chế định nghĩa vụ dân sự trong tương lai
Xuất phát từ thực tiễn đó, Tác giả cho rằng vấn đề Ĩighĩa vụ dân sự nói chung, và pháp luật về nghĩa vụ dân sự nói riêng ở Việt Nam cần phải được nghiên cứu và tìm hiểu nhiều hơn nữa Do vậy, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Một số vấn đề CƯ bẩn về nghĩa vụ dân sự ” là để tài lốt nghiệp cho chương trình đào tạo Thạc sỹ Luật học của mình
2 Tinh hình nghỉên cứu dể tài
Như trên đã trình bày, nghĩa vụ dân sự là một quan hệ xã hội phát sinh rất phổ biến trong đời sống xã hội Thực hiện nghĩa vụ dân sự là phương thức cơ bản nhằm tlioả mãn lợi ích, nhu cổu hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác trong đời sống xã hội Với ý nghĩa đó, nghiên cứu về nghĩa vụ dân sự, là một trong những lĩnh vực cuốn hút sự quan tâm của nhiều lìhà nghiên cứu về luật học
Trong Bộ luật dân sự Việt nam, nghĩa vụ dân sự lần đầu tiên được quy định thành một chê định pháp luật có lính chất hệ thống chặt chẽ Điều đó đã khẳng định vai trò, ý nghĩa của nghĩa vụ dân sự trong đời sống xã hội Việt nam Xung quanh vấn đề về nghĩa vụ dân sự, hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu nhất định: Nghĩa vụ dân sự được trình bày tổng quát trong giáo trình luật dân sự Trường Đại học luật Hà nôi, nghĩa vụ dân sự trong các lác phẩm “ Bình luân về Bộ luật dân sự” của nhiều tác giả Đặc biệt dã có một công trình nghiên cứu đào tạo Thạc sỹ về nghĩa vụ dân sự của tác giả Vũ thị Hoài Phương Tuy nhiên, các công
Trang 7trình nghiên cứu đó mới chỉ là “ bước đi ” ban đÀu Irong việc nghiên cứu về nghĩa
vụ dân sự, khi BLDS mới ra đời Cụ thể, về mặt nội dung các công trình đó chưa
có sự nghiên cứu một cách hệ thống về nghĩa vụ dân sự Mặt khác trong quá trình nghiên cứu, các công (rình nghiên cứu đó cũng chưa có sự đối chiếu qua lại giữa quy định của pháp luật với thực tiễn áp dụng, dẫn đển hiệu quả thực thi các quy định của pháp luật về nghĩa vụ dân sự trong đòi sống xã hội chưa cao, chưa đáp ứng được các nhu cổu của Ihực tiễn Vì vậy, tiếp tục làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản về nghĩa vụ dân sự theo những hướng, những góc độ khác nhau là một việc làm có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay
Các quy định về nghĩa vụ dân sự trong BLDS, cùng với các quy định về hợp đồng đữn sự ỉà phần có nhiều chương, mục, điều, khoản nhất trong Bộ luật Với giới hạn của đề tài là tìm hiểu một số vấn dề cơ bản của nghĩa vụ dân sự, tác giả không có tham vọng nghiên cứu một cách sâu sắc mọi vấn đề về nghĩa vụ dân
sự Mục đích lớn nhất của Luận án là: Từ việc nghiên cứu những vấn đề lý luận
cơ bản về nghĩa vụ dân sự,-nghiên cứu nội dung các quy định về nghĩa vụ dân sự trong BLDS, để giúp cho việc hiểu biết và áp đụng các quy định trong Bộ luật thêm phần hiệu quả, từng bước hoàn thiện chế định này trong pháp luật dân sự Việt nam Bên cạnh đỏ, qua việc nghiên cứu các vấn đề cơ bản về nghĩa vụ dân sự tác giả mong muốn nâng cao hơn nữa chất lượng dạy và học pháp luật nói chung
và pháp luật về nghĩa vụ dân sự nói riêng trong các trường đào tạo cử nhân luật hiện nay ở Việt nam
4 Cơ SỞ lý luận vể phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận tổng quan của toàn hộ Luận án là dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê nin và khoa học lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật
Trang 8Các phương pháp nghiên cứu cụ thể để tiến hành Luận án gồm: phương pháp phân tích, chứng minh, thống kế, lịch sử so sánh Từ việc nghiên cứu những quy định chung để đi đến lý giải những trường hợp cụ thể qua đó để khảng định những vấn đề cư bản, những vấn đề then chốt của Luận án.
5 Những đóng góp mói của Luận án
Luận án là sự lổng hợp có tính chất tương dối toàn diện về nghĩa vụ dân sự Luận án đã nêu và phân tích những vấn đề cơ bản về nghìn vụ dân sự một cách có
hệ thống theo hướng chuyên khảo Từ việc nghiên cứu đó, lác giả có sự đối chiếu qua lại giữa các quy định của pháp luật với thực tiễn áp dụng qua đó nhằm đưa ra các kiến nghị, đề xuất phù hựp với yêu cầu của thực tiễn
Để khẳng định tính truyền thống, tính kê thừa và tính khoa học của các quy định về nghĩa vụ dân sự trong BLDS, luận án đã gắn việc phân tích đánh giá các quy định cụ thể của BLDS về nghĩa vụ dân sự với quá trình hình thành và phát triển của ch ế định này qua các giai đoạn lịch sử lộp pháp ử Việt nam Điều đó có
ý nghĩa rất quan trọng đối với việc rút ra những hiểu biết đúng đắn, và cần thiết về nghĩa vụ dân sự, qua đó nhằm nAiig cao hiệu quả áp dụng các quy định về nghĩa
vụ dân sự rong đời sống, từng bước hoàn thiện chế định này trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt nam
Ngoài những nội dung cơ bản trên, luận án còn tập trung vào nghiên cứu các quy định của p háp luâl Việt nam về điều chỉnh các quan hệ nghĩa vụ dân sự có yếu tố nước ngoài - Một lĩnh vực còn rất mới trong khoa học pháp
lý V iệt nam N ghiên cứu vấn đề này, luân án khẳng định sự phù hợp có tính tổng thể, giữa pháp luật Việt nam với pháp luật các nước trên thế giới trong việc điều chính các quan hệ Iighĩa vụ dân sự có yếu lố nước ngoài Điều này
có ý nghĩa đặc biệt quan Irọng đối với cá nhân - pháp nhân Việt nam khi tham gia vào giao lưu dân sự quốc tế, cũng như quá trình hội nhập vào cộng đồng quốc tế của Việt nam
Với ý nghĩa và nội dung trên, hy vọng luận án sẽ là một công trình nghiên cứu khoa học đáp ứng được phần nào nhu cầu nhất định của khoa học pháp lý Việt nam về nghĩa vụ dân sự
6 Cơ Cấu cúa bản Luận án
Luận án được kêì cấu theo logic sau:
Trang 9- Phán m ở đ á u : Nêu rõ lý do lựa chọn đề tài, tình hình nghiên cứu, mục đích nhiệm vụ của luận án cũng như khẳng định những đóng góp mói của luận án qua quá trình nghiên cứu.
- Phán nối d u n g : Gồm 2 chương cơ bản:
Chư ơng 1 : Khái quát chung về nghĩa vụ dân sự
Nội đung của chương này nhằm làm sáng tỏ những khái niệm cơ bản về nghĩa vụ dân sự, bản chất pháp lý của nghĩa vụ dân sự, nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về nghĩa vụ dân sự nói chung cũng như quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về nghĩa vụ đân sự trong lịch sử lập pháp của Việt nam nói riêng
Với những nội dung đó, kiến thức của chương 1 là cơ sở lý luận, làm nền tảng để nghiên cứu chương 2
Chương 2 : Những quy định chung về nghĩa vụ dân sự trong Bộ luật dân sự
Nội dung chính của chương 2 là làm sáng tỏ các quy định về nghĩa vụ dân
sự trong Bộ luật dân sự Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một luận án Thạc sỹ, tác giả không đi vào nghiên cứu tất cả các quy định của Bộ luật dân sự về nghĩa vụ dân sự, tác giả chỉ tập trung vào nghiên cứu, đánh giá, bình luận, những vấn đề cơ bản liên quan đến quá trình phát sinh, chấm dứt và thực hiện nghĩa vụ dân sự
Ngoài ra, một phần quan trọng trong nội dung của chương 2, còn tập trung vào nghiên cứu các quy định về điều chỉnh các quan hệ nghĩa vụ dân sự có yếu tố nước ngoài Ở phần này, sau khi làm sáng tỏ những đặc trưng cơ bản trong quá trình điều chỉnh các quan hệ nghĩa vụ dân sự có yếu tố nước ngoài, tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu, phân tích các quy định điều chỉnh các quan hệ nghĩa vụ dân
sự có vếu tố nước ngoài trong Bộ luật dân sự Việt nam, trong các Điều ước quốc
tế được ký kết giữa Việt nam với các nước Từ đó khẳng định sự phù hợp giữa pháp luật Việt nam với pháp luật các nước trên thế giới về vấn đề này
Trang 10CHƯƠNG I
K H Á I QUÁT CHƯNG V Ề N G H ĨA v ụ D ÂN s ự
1.1 KHÁI NIỆM NGHĨA v ụ DÂN s ự VÀ BẢN CHẤT PHÁP LÝ CỦA NGHĨA v ụ DÂN sự.
1.1.1 Khái niệm nghĩa vụ dân sự
Nghĩa vụ dân sự là một loại qunn hệ xã hội dược hình thành tương đối sớm trong lịch sử xã hội loài người Thông qua các quan hệ về nghĩa vụ mà các nhu cầu về vật chất và tinh thần của các thành viên trong xã hội được đáp ứng Thuật ngữ nghĩa vụ được sử dụng trong cuộc sống với nhiều nghĩa khác nhau:
— Theo nghĩa rộng nghĩa vụ dược hiểu là: “Sự xử sự mà một người phải thực hiện vì một hoặc nhiềụ người khác, nhưng sự thực hiện đó không được đặt dưới sự bảo đảm của Nhà nước bằng pháp luật Pháp luật không buộc ngưtV'
đó phải thực hiện, họ (hực hiện nghĩa vụ hoàn loàn (heo lương tâm của mình để làm tròn bổn phận làm người” (l) Ở phương diện này, nghĩa vụ được hình thành từ yếu tố tư tưởng tình cảm khát vọng của COI1 người Do đó, nghĩa vụ và việc thực hiện nghĩa vụ ử đay sẽ được điều chính thông qua các quy phạm đạo đức, tâm lý, truyển thống, lôi sống cộng dồng
— T rong inột số trường hợp khác nghĩa vụ Ịạị được hiểu là “ bổn
p h ận ” của m ột người, một cá nhân (rong những điều kiện bình thường nhận thức được việc mình phải làm một cách đương nhiên đối với tộp thể, đối với
N hà nước đối với xã hội hay đối với người khác Do tự nhện thức được bổn phận nên con người đã chủ động xử sự một cách thích ứng để làm tròn bổn phận của m inh Đây chính là một nội dung trong mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân với tập thể, với xã hội và được xem như mặt tích cực của nghĩa
vụ Cụ thể đối với những cá nhân luôn nhộn thức được trách nhiệm củ a m ình đối với xã hội và luôn thực hiện tốt nghía vụ của mình đối với xã hội thì có tác dụng tích cực đến sự phái triển của xã hội Ngược lại, đối với những cá nhân không nhận thức được nghĩa vụ của mình đối với xã hội thì trở thành gánh nặng cho xã hội Nghĩa vụ trong (rường hợp này là một phạm trù thuộc
về ý thức của con người, không thể hiện ra bên ngoài nên không phải là đối tượng điều chỉnh của luật dân sự
<n Giáo trình luậl dán sự - Trường Đại học LdẠt Hà nội - NXB Công an nhân clíìn 1997 Tập II, Trang 3
Trang 11- Ngoài ra, ở một góc độ khác, nghĩa vụ còn được xem là sự phản ứng của
Nhà nước trước nhũng hành vi sai trái, vi phạm pháp luật, phong tục tập quán, truyền thống tốt đẹp Sự phản ứng đó được thực hiện bằng những chế tài nhất định
mà người vi phạm phải gánh chịu Cụ thể người có hành vi vi phạm đó phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định như: Lao động công ích, nộp một số tiền phạt Nghĩa vụ thuộc loại bắt buộc này nhằm bảo vệ trật tự kỷ cương quy tắc xã hội và cộng đổng Theo nghĩa này, nghĩa vụ cũng được hiểu là một việc phải làm nên nó gần gũi với nghĩa vụ theo quy định của BLDS
- Theo nghĩa hẹp nhất: nghĩa vụ được hiểu là một việc làm cụ thể của người có nghĩa vụ Ví dụ nghĩa vụ trả tiền, nghĩa vụ giao vật Trong giao dịch dân sự nghĩa vụ được dùng theo nghĩa này rất phổ biến
Là một khái niệm pháp lý nghĩa vụ được hình thành từ hai tiền đề sau:
Tiền đề khách quan: Theo triết học Mác-Lê nin, do bản chất xã hội của con người, con người không thể sống đơn độc, không thể tách rời mọi quan hệ xã hội Bản chất của mối quan hệ giữa con người với các thành viên khác trong xã hội chính là quan hệ lợi ích Lợi ích được thực hiện thông qua các nhu cầu: Nhu cầu vật chất, văn hoá, và tinh thần Để tồn tại và phát triển, để thoả mãn các nhu cẩu chính đáng trong đời sống sinh hoạt và trong sản xuất con người phải có quan hệ hợp tác trao đổi với các chủ thể khác và họ phải tuân theo những qui tắc nhất định Sự chấp nhận tuân theo những qui tắc đó đã hình thành nghĩa vụ cho mọi thành viên của cộng đổng, đay chính là bản chất xã hội của nghĩa vụ Khi xã bội phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhu cẩu của mỗi con người với tư cách là chủ thể của xã hội cũng tăng lên Muốn thoả mãn nhu cáu ngày càng tăng đó tất yếu con người cần tham gia tích cực vào các quan hệ trao đổi Khi tham gia các quan hệ trao đổi, hành vi thực hiện nghía vụ của một người bao giờ cũng hướng tói để đáp ứng quyền lợi cho phía bên kia và ngược lại Đãy chính là tiền đề khách quan để hình thành nghĩa vụ
Tiền đề chủ quan: Tiền đề chủ quan cũng là yếu tố quan trọng không thể thiếu được trong quá trình hình thành nghĩa vụ Đó chính là vấn đề tự do ý chí của con người, v ề vấn đề này C.Mác đã chỉ ra rằng: Không thể bàn về luân lý, đạo đức và pháp quyền mà lại không đề cập đến tự do ý chí, đến quan hệ giữa tất yếu và tự do Tự do ý chí là tiêu chuẩn chủ quan để hình thành quan hệ nghĩa vụ
Từ sự tự do ý chí đòi hỏi các chủ thể của nghĩa vụ phải tự do lựa chọn cách xử sự trong những trường hợp cụ thể theo cách này hay theo cách khác mà không phụ
Trang 12thụôc vào bất cứ sự ràng buộc nào.Tự do ý chí đòi hỏi các chủ thể của nghĩa vụ phải sáng suốt đủ khả năng nhận thức điều khiển được việc mình làm Nghĩa vụ được hình thành trên cơ sở tự do ý chí và tự định đoạt của các chủ thể mới có ý nghĩa pháp lý Điều này có nghĩa là các chủ thể hoàn toàn có quyền lựa chọn, quyết định theo ý chí của mình, lựa chọn cách xử sự mà chủ thể cho là thích hợp trước nhiều khả năng để thoả mãn nhu cầu.
Tiền đề chủ quan trong quan hệ nghĩa vụ còn được thể hiện thông qua việc con người tự định ra những qui tắc về nghĩa vụ, theo đó mỗi thành viên của cộng đồng^mỗi chủ thể của xã hội phải chấp nhận và tuân theo Sự tự đo ý chí của con người vừa được thực hiện vừa được bảo đảm thực hiện
Hai tiền đề khách quan và chủ quan luôn hoà quyện vào nhau, bảo đảm sự tồn tại tất yếu của quan hệ nghĩa vụ trong đời sống xã hội Tuy nhiên, trong xã hội tồn tại Nhà nước, tồn tại pháp luật, các quan hệ xã hội về nghĩa vụ cần phải được điều chỉnh phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, lợi ích của xã hội Dưới tác động của các quy phạm pháp luật, các quan hệ xã hội về nghĩa vụ đã trở thành đối tượng điều chỉnh quan trọng của luật dân sự
Là một chế định quan trọng của luật đân sự, ngay từ trong luật La mã cổ
đại nghĩa vụ đã được định nghĩa: “Là những ràng buộc pháp lý mà theo đó chúng
ta buộc p h ả i làm m ột việc gì đó phù hợp với pháp luật của chúng ta ” (l)
Ngày nay, khái niệm về nghĩa vụ dân sự đã được quy định tương đối thống nhất trong Luật pháp của các nước trên thế giới:
Tại Điều 158 Bộ luật dan sự Nga định nghĩa: “Nghĩơ vụ là một quan hệ
pháp luật dân sự trong đó mội người phải làm một việc nhất định vì phía bên kia hoặc không được làm một việc nhất đinh”.
Điều 1101 Bộ dân luật Pháp định nghĩa : ‘77ợ/; đồng là sự th o ả thuận theo đó
m ột hoặc nhiều người cam kết vói một hoặc nhiều người khác chuyển giơo một vật, làm hoặc không làm một việc nào đó.”
Trong BLDS nước ta (được Quốc hội thông qua ngày 28/10/95) nghĩa vụ dân
sự được định nghĩa tại Điều 285: “ Nghĩơ vụ dân sự là việc mà theo quy định của
pháp luật, thì m ột hoặc nhiều chủ th ể (gọi là người có nghĩa vụ ) phải làm một
(1) Luật La M ã - Đại học quốc gia Hà nội - Hà nội 1994 - Trang 73
Trang 13('ôní> v iệ c h o ặ c kh ôn q dư ợc ỈÒ11Ì m ộ t CÔI1X việc 17 lợi ích củ a m ộ t h o ặ c nhiêu cỉìủ
th ế khác (gọi là ngiíòi có quvền) ".
So sánh định nghĩa về nghía vụ dân sự trong Bộ luật clân sự nước ta với định
nghĩa về nghĩa vụ dân sự trong Luật dân sự của một số nước, các định nghĩa đó
dù có sự khác nhau về câu chữ nhưng dã làm toát lên một khái niệm chung nhất
về nghĩa vụ dồn sự: Nghĩa vụ dân sự là một quan hệ pháp luật clíìn sự trong đó một bên chủ thể là một hoặc nhiều người phải làm hoặc khổng được làm một hoặc một sô công việc nhất định vì lợi ích của chủ thể phía bên kia Bên phải làm hoặc không được làm những công việc được gọi la người có nghĩa vụ Bên được hưởng lợi ích có quyền yêu cầu bên kia thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc nào đó vì quyền lợi của mình được gọi là người có quyền (Trước đây trong các quan hệ về nghĩa vụ, người có quyền được gọi !à trái chủ, người có nghĩa vụ
được gọi là thụ trái)
Về phương diện !ý luận và trên thực lế chế định “nghĩa vụ dân sự” có mối liên hệ chặt chẽ với chế định “trách nhiệm dân sự ” , nhưng hai chê định này có nội dung, tính chất, đặc điểm hoàn toàn khác nhau
Trách nhiệm dân sự hiểu theo nghĩa tlìông thường: “là việc bắt buộc phải sửa chữa mội Ihiệl hại do không (hực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ (lân sự ” (l)
Như vậy, trách nhiêm clAn sư là hô quả tất yếu của viôc không thưc hiện hoặc (hực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự Trong trường hợp này trách nhiệm dân sự chỉ đặt ra khi đã có một nghía vụ dân sự dược xác lộp Ví dụ, A và B ký kết hợp dồng mua bán hàng hoá A là bên bán, B là bên mua Đúng ngày giò quy định A không giao hàng cho B, A đã vi phạm nghĩa vụ giao hàng đúng thời hạn mà A và
B đã cam kết trong hợp đổng Trong (rường hợp này, trách nhiệm dân sự sẽ được đặt ra đối với A
Sự khác biệt về nghĩa vụ dân sự và trách nhiệm dân sự được cụ thể ờ hai điểm sau:
- Về mặt thời gian':.Thông thường nghĩa vụ dân sự là mối quan hệ được xác lập trước Trách nhiệm đftn sự là hậu quả pháp lý cùa việc không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ: “Ngiĩời có nghĩa VI I mà không thực hiện hoặc
tì ì ực hiện không đúng nghĩa vụ, thì phải chịu trách nhiệm dàn sự dôi với người có
<n Các thuật n g ữ c ơ bản trong Luật <.l;ìII sự Việl nam - N g ỏ Văn Thau, N gu yễn Hữu Đắc - NXB
Chính trị q u ố c g ia , 19 96, Trang 7 0 7 1.
Trang 14quyển” (Điều 308 BLDvS) Tuy nhiên, không phải bất cứ lúc nào việc không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đều làm phát sinh trách nhiệm dân sự
Có những trường hợp, bên có nghĩa vụ Irong quan hệ nghĩa vụ không thực hiện
hoặc thực hiện k h ô n g đúng Iighìn vụ vãn k h ôn g phải gánh chịu trách nhiệm dân
sự Đây là trường hợp bôn có nghĩa vụ gặp phải các trường hợp “miễn trách nhiệm” do pháp luật quy định hoặc do hai bôn ihoả thuận như: Tình trạng bất khả kháng, lỗi của người thứ ba, lỗi của người có quyền
- Về mặt tính chất: Trách nhiệm dân sự là một dạng cụ thể của trách nhiệm pháp lý, có đáy đủ cấc đặc điểm chung nhất của trách nhiệm pháp lý:
+ Là một trong những hình thức cưỡng chế cùa Nhà nưức.x
+ Áp dụng đối với các chủ Ihể vi plụim pháp luật '
+ Được Ihực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong phạm vi pháp luật cho phép
+ Sử dụng một số biện pháp chế tài nhất định do pháp luật quy đinh, đổ buộc người vi phạm phái gánh chịu những hậu quả bất lợi
Với các đặc điểm trên, mục đích cơ hán của trách nhiệm dân sự !à khôi phục lại tình trạng ban đầu cỉia một quyền dân sự bị vi phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội, công dân
Trái lại, vồ mặt tính chốt nghĩa vụ dAn sự In một quan hộ pháp luột ciAn sự, trong đó quyền và nghĩa vụ của hai bên chủ thể tương ứng với nhau Nghĩa là trong quan hệ nghĩa vụ, quyền của chù thể này sẽ là nghìn vụ của chủ thể kia, và việc thực hiện nghĩa vụ của chủ thể có nghĩa vụ bao giừ cũng hướng (ới việc thoả mãn những lợi ích nhất định cùa chủ thể có quyền So với trách nhiệm dân sự, tính chất “cưỡng chế'’ trong các quan hệ nghĩa vụ có đặc thù riêng, v ề nguyên tắc, các bên chủ thể có thể thoả thuận cả những biện pháp cưỡng chế và sẽ được các cơ quan có thẩm quyền áp dụng nếu một bên trong quan hệ nghĩa vụ đã không thực hiện nghiêm chính nghĩa vụ mà họ dã lự nguyện cam kết (trừ một số trường hợp đặc biệt việc thực hiện nghĩa vụ là bắt buộc theo quy định của pháp luật như: Nghĩa vụ lao động công ích: nghía vụ cấp dưỡng )- Mục đích cơ bản của nghĩa vụ chín sự là thông quy quan hệ về quyền và nghĩa vụ để thoả mãn những lợi ích nhất định cho các chù thể Đặc điểm trôn của nghĩa vụ dân sự được thể hiện rõ nét hơn khi nghiên cứu về bản chất pháp lý của nghĩa vụ dân sự
Trang 151.1.2 Bản chất pháp lý của nghĩa vụ dân sự
Nghiên cứu nghĩa vụ dân sự vói ý nghĩa là một chế định của luật dãn sự thì
m ộ t trong n h ữ n g y êu cầu qu an lĩỌĩig là phải x á c đ ịn h đ ư ợ c bản chất pháp lý củ a
nghĩa vụ dân sự Đây là một vấn đề có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn
Tuy Luật dồn sự của các nước có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về nghĩa vụ dân sự, nhưng tất cả các định nghĩa đó đều toát lên bản chất pháp lý của
nghĩa vụ dân sự: “ Là qnvềiì của một người nhất đinh vêu càu một ngỉCỜi khác thực
hiện các hành vi nhất đinh (2Ì Bản chất này cũng đã được Luột gia PaVel khẳng
định, khi nghiên cứu nghĩa vụ trong luật La Mã cổ đại: “ BỞ 1 Ì chốt của nghĩa vụ không phải ở chỗ đem lại cho chúng ta một vật thê hay một Servitns nào đó mà là buộc một người nùo đó phải đem lại hay làm một việc gì dó cho chúng tư ”(,)
Điểm nổi bạt trong bản chất pháp lý của nghĩa vụ dân sự đó là việc một người buộc phải thực hiện những hành vi nhất định vì lợi ích của ngưừi khác Điều này thể hiện sự ràng buộc pháp lý giữa người có Iighĩa vụ đối với người có quyền Những hành vi nhất định mà người có nghĩa vụ phải thực hiện vì lợi ích của người có quyền
có thể là: giao vật, thanh toán tiền, thực hiện một công việc, hoặc không thực hiện một công việc Mục đích của việc lhực hiện các hành vi đó luôn luôn hướng tới lợi ích của bên có quyền (có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác)
Trong phạm vi khả năng của mình, người có nghía vụ phải thực hiện các hành vi nhất đinh vì lợi ích của người khác (heo sự (hoả (huân của các bên (đối với nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồne ) với điều kiện các hành vi đó không được trái với pháp luật, trật tự công cộng và đạo đức xã hội Trậl lự công cộng hiểu Iheo nghla thông thường là những nguyên tắc cơ bản của mỗi một chế độ xã hội, của pháp luật Các nguyên tắc này được ghi nhộn trong Hiến pháp của các Nhà nước hoặc trong các Đạo luật quan trọng
Còn đạo đức xã hội mà Bộ luật dân sự quy định chính ià những phong tục tập quán tốt đẹp được hình thành và áp đụng lâu đời Các phong tục tập quán đó tạo nên bản sắc riêng biệt của mỗi một dân tộc
Ngược lại với bên có nghĩa vụ, bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ có quyển yêu cầu người có nghĩa vụ (lAiì sự thực biện những hành vi nhất định vì lợi ích của mình Trong Irường hợp bôn có nghía vụ cố ý không thực hiện yêu cầu
a ' Bình luân Bộ dân sự Nhật bàn - Nhà xuất bân chính Irị quốc gia - Hà nội, I995 - Trang 343
0 ) Bộ Degest: Quyển 44-Điểu 7, 3 Luật La Mã - Đại học quốc gia Hà nội - Hà nội, 1994 - Trang 73
Trang 16của bên có quyền, thì phải gánh chịu những hình Ihức trách nhiệm nhất định do pháp luật quy định.
Trước đổy, trong luật Ln mã cổ dại, trách nhiệm cùa bên có nghĩa vụ khi không thực hiện nghĩa vụ dược quy định rất hà khắc Cụ (hổ, khi người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình đôi với bên có quyền, thì bên có quyền được quyền xin “câu thúc thân thể của người có nghĩa vụ Ở thời kỳ này, bản thân người có nghĩa vụ cũng được coi như là một “vật” để bảo đảm nghĩa vụ Trong một
số Bộ luật cổ ở Việt nam như: Bô luật Hồng Đức, Bộ luậl Gia Long, cũng có những quy định hà khắc tương tự như vậy đối với bôn vi phạm nghĩa vụ dân sự Ngày nay, các quy định hà khắc trên đều đã bị bãi bỏ Tuy nhiên, khi bên có nghĩa vụ không thực hiộn nghĩa vụ, hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo yêu cáu của bên có quyền, thì vẫn phải gánh chịu những trách nhiệm vật chất nhất định
Việc một người buộc phải làm một việc gì đó vì lợi ích của người khác, thực chất là một hình thức hạn chế quyền lự do cá nhân của người có nghĩa vụ
Do vậy, sự hạn chế quyền tự do cá nhân này chỉ có Ihể xuất phát từ ý chí tự nsuyện của bên có nghĩa vụ, hoặc từ các quy định của pháp luật
Đặc điểm trên của nghĩa vụ dân sự gắn liền với hai căn cứ cơ bản làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là: hợp đồng ctòn sự và hành vi gây thiệt hại
Đổi với nghĩa vụ dân sự phái sinh lừ hợp đồng (tòn sự, sự tự ngúyện và tự
do ý chí của các bên chủ thể là điều kiện cơ bản để cho nghĩa vụ dân sự có hiệu lực pháp luật Xuất phát từ sự tự nguyện, sự tự do ý chí các bên chủ thể trong hợp đồng có quyền thoả thuận mọi vân đề liên quan đến việc xác lộp và thực hiện nghĩa vụ dân sự Nội dung sự cam kết thoa thuận của các bên luôn được pháp luật công nhận và bảo vệ, với điều kiện không được trái với pháp luật và đạo đức xã
hội “Mọi cam kết, thoả thuận ỉtợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện dối với
các bên.” (Đoạn 3 - Điều 7 BLDS) Điều này có nghĩa là, nếu một bên trong quan
hệ nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ mà người đó đã tự ngu vện cam kết, thì người đó sẽ bị cưỡng chế thực hiện theo quy định của pháp luật Đây là một trong những đặc điểm cơ bản tạo nôn b;ui chất pháp lý riêng biệt của nghĩa vụ cỉân sự
Khác với nghĩa vụ dân SƯ phát sinh từ hợp đồng, nghĩa vụ dãn sự phát sinh
từ hành vi gây thiệt hại (còn gọi là nghĩa vụ dân sự phát sinh ngoài hợp đồng) không xuất phát từ ý chí của hai bên chủ thể Ở trường hợp này, sự tự nguyện và
tự do ý chí của hai hên chu thể khi xác lập quan hệ nghĩa vụ khổng dược dặt ra,
tuy nhiên các bên vẫn có quyền thoa thuận về nguyên tắc, cách thức thực hiện
Trang 17nghĩa vụ đó Đặc điểm íiày xuất phát từ bản chất chune cùa quan hệ pháp luật dân
sự là: thoả thuận, bình đẳng, tư dịnli đoạt
Trong quá trình xác lập và lliực hiện nghĩa vụ đốn sự, về nguyên tắc các bên có quyền thoả thuận mọi vấn dề về quyền và nghía vụ dể bảo đám cho các lợi ích của mình Tuy nhiên, sự thoá thuận đó không dược trái với quy định cùa phnp luật Điều này thể hiện sự can thiệp nhất định của Nhà IIƯỚC vào quá trình xác lập
và thực hiện nghĩa vụ dân sự cùa các chủ thể Sự can thiệp nay ln tất yếu nhằm bảo đảm cho các quan hệ pháp luật về nghĩa vụ dân sự được phát triển một cách
ổn định, ỉạo ra sự hài hoà giữa các lợi ích khác trong xã hội
Cụ thể, theo quy định của Luật dân sự Việt Nam sự thoả thuận của các bên chủ thể chỉ được xem là liựp pháp, khi thoả thuận dó bắt nguồn lừ những giao dịch dân sự hợp pháp và phải tuồn thủ các điều kiện được quy định tại Điều 131 BLDS :
1 Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
2 Mục đích và nội dung của giao dịch không trái với pháp luật, đạo đức xã hội;
3 Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;
4 Hình thức của giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật
Từ sự phân tích trên có thể khái quát ngắn gọn về bản chất pháp lý củanghĩa vụ dan sự như sau: Nghĩa vụ dủn sự là quan hộ có lính chất ràng buộc pháp
lý được hình thành giữa bên có quyền và bên có nghĩa vụ Trong đó bên có nghĩa
vụ phải thực hiện những hành vi nhất định vì lợi ích của bên có quyền Sự ràng buộc pháp lý giữa các bôn về cơ bản được xác lập dựa trên sự tự nguyện và tự íio
ý chí của các bên wSự ràng buộc giữa các bên luôn được pháp luật công nhận và bảo vệ với điều kiện sự ràng buộc đó không được vi phạm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật và đạo đức xã hội
1.2 CÁC ĐẶC ĐIỂM C ơ BẢN CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT NGHĨA v ụ DÂN sự
Trong thực tiễn đời sống hàng ngày, các quan hệ pháp luật về nghĩa vụ dân
sự phát sinh rất đa dạng, phong phú về cả nội dung và tính chất Tuy nhiên, về mặt lý luận các quan hệ pháp luật nghía vụ dân sự đều có những đặc điểm đặc trưng cơ bản - là cơ sở phân biệt quan hệ pháp luật nghĩa vụ dân sự với các quan
hệ pháp luậl khác Cụ (hể là các đặc điểm sau:
Trang 18* Đăe điểm về đối tương: Đối tượng cùa nghìn vụ In cơ sơ quan irọng để phAnloại nghĩa vụ Đa số luật pháp cùa các nước tren thế giới, đều phân đôi tượng củanghĩa vụ ra làm 3 loại gắn liền với ba nhỏm nghĩa vụ cơ bản:
- Đối tượng là tài sản - gắn liền vơi nghĩa vụ chuyển giao tài sản
- Đối tượng là công việc - gắn liền với nghía vụ phái ihực hiện một cổng việcnhất định
- Đối tươĩig là công việc không dược làm - gắn liền với nghĩa vụ không đượcthực hiện một công việc nhất định
Tương tự Iìhư luật pháp cùn các nước, Điều 287 Bộ luủt dân sự Việt Namcũng đã quy định đối tượng của nghĩa vụ đfìii sự gồm 3 loại sau:
/
- Đối tượng của nghĩa vụ là một tài sản: Tài sản là đối tượng phổ biến nhất của nghĩa vụ dân sự Tài sán đưực hiểu theo nghĩa rộng, không chí là những vật có thực mà còn bao gồm cả tiền, các giấy từ trị giá được bằng tiền và các quyền (ài sản v ạ t có thực cỏ thể !à vật chia dược hoặc vật không chia được, có thể là vật cùng loại hoặc vật đặc định Ngoài ra, vật có thực có thể là vật được xác định theo chủng loại hay được xác định là vật đổng bộ Tuỳ theo lính chất của từng loại tài sản cụ thể mà các bên trong nghĩa vụ dân sự thoả thuận để xác định nội dung của các quan hệ nghĩa vụ (Quyền và nghĩa vụ của các bên)
- Đối tượng của nghĩa vụ là công việc phải làm: Công việc phải làm được xem là đối tượng của nghĩa vụ liêu (ừ một công việc được nhiều người xác lập với nhau một quan hệ nghĩa vụ, mà theo đó người có nghĩa vụ phải thực hiện công việc (heo đúng nội dung đã được xác định
Công việc phải làm có thể dược hoàn thành với một kết quả nhất định, nhưng cũng có Ihể không gắn liền với một kết qua (do các bôn llioá (huân hoặc do tính chất của cổng việc) Trên thực tế kết quả của công việc phải làm cỏ thể được biểu hiộn dưới dạng mội vậl cụ (hể (ví dụ: hợp đổng gia công) nhuìig cũng có thể không biểu hiện dưới (lạng một vột cụ thế nào (cóc loại dịch vụ)
- Đối tượng của nghĩa vụ (lAn sự là công việc không được làm: Cône việc không được làm đưực xem là đối tượng của nghĩa vụ (rong những trường hợp: Các bên từ công việc đa xác lập với nhau một quan hệ nghĩa vụ, mà theo đó người
có nghĩa vụ phải kiềm chế không được íhực hiện công việc theo những nội đung
mà các bên đã (hoả thuận hoặc pháp luật quy định Ví dụ: theo điểm đ Khoản 1
Trang 19-Điều 497 BLDS Việt nam, thì người thuê nhà không có quyền sửa chữa làm thay đổi cấu trúc nhà hoặc cho người khác thuê lại nhà đang thuê mà không có sự đồng ý của bên cho thuê Đối tượng của nghía vụ trong quan hệ này, chính là việc người thuê nhà không được sửa chữa, thay đổi cấu trúc nhà và không được cho người khác Ihuê lại nha.
Về cơ bản: Một tài sản, một công việc phải làm, hoặc một công việc không được làm chí có thể được coi là đối lượng của nghĩa vụ dân sự khi chúng thoả mãn các điều kiện sau:
+ Phải đáp ứng được một lợi ích nào đó cho chủ thể có quyền
Thông thường lợi ích mà các chủ thể có quyền hướng tới trong quan hệ nghĩa vụ luôn là một lợi ích vật chốt (một vật cụ thể, một khoản tiền .) Vì vậy,
để chủ thể có quyền đạt được lợi ích vật chốt của mình, thì đối tượng của nghĩa vụ phải đáp ứng được các lợi ích vật chất đó Ví dụ: Nếu đối tượng của nghĩa vụ là một vật cụ thể, thì vật đó phải mang đẩy đủ các thuộc tính của một hàng hoá, tức
là phải có giá trị, giá trị sử dụng và có thể trao đổi được Nếu đối tượng của nghĩa
vụ là một công việc, thì việc thực hiện công việc dó cũng phải mang lại một lợi ích vật chất nhất định cho bên có quyền
<1+ Phải được xác định hoặc có thể xác đinh dược
Khi các bên xác lập quan hệ nghía vụ với nhau, phải xác định rõ đôi tượng của nghĩa vụ là công việc gì hoặc là một vật cụ thể nào Nếu nghĩa vụ được thiết lập theo qui định của pháp luật, thì dổi tượng của nghĩa vụ được xác định theo quy định của pháp luật Việc xóc định rõ đối tượng cụ thể của nghĩa vụ có ý nghĩa quan trọng để xác định chính xác quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ
+ Phải thực hiện hoặc có thể thực hiện được
Khi đối tượng của nghía vụ dân sự là một công việc không thực hiện được thì sẽ không ihoả mãn được lợi ích của chủ thể có quyền.Vì vậy, nếu đối íượng của nghĩa vụ là một tài sản, thì phải là những tài sản được phép giao dịch, còn nếu
\ là công việc, thì phải là công việc có thể thực hiện dược.
Những tài sản mà pháp luật cấm giao dịch, những công việc mà pháp luật cấm làm, hoặc những việc làm, í l ái với đạo đức xã hội cũng là những dối lượng không thể thực hiện được Do vậy, những đối tượng đó sẽ không bao giờ được
Trang 20xem là đối tượng của nghĩa vụ dân sự (Ví dụ: Thuốc phiện là một vật luy có thực,
nhưng không thể đem giao dịch được vì bị pháp luật cấm lưu thông)
* Đăc điểm vế chủ thể: Chủ thể của nghía vụ là một khái niệm dùng để chỉ những người tham gia vào quan hệ pháp luật nghĩa vụ dãn sự (Khái niệm
người được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cá nhân và tổ chức) Trong quan hệ
nghĩa vụ các bên chủ thể có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau Nghía là,
quyền của bôn này sẽ là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Bên có quyền còn
được gọi là trái chủ (luật một số nước còn gọi là chủ nợ) bên có nghĩa vụ còn gọi
là thụ trái Do có tính chất tương ứng nên thực tế thường xuất hiện những quan hệ
nghĩa vụ mà các bên chủ thể vừa là người có nghĩa vụ vừa là người có quyền (ví
dụ: trong quan hệ hợp đồng mua bán) Tuy nhiên, cũng có những quan hệ nghĩa
vụ mà chỉ có một bên luôn là người có quyền còn một bên chủ thể luôn là người
có nghĩa vụ (ví dụ: quan hệ về bồi thường thiệt hại, vay tài sản .)•
So với các quan hệ pháp luật dân sự khác, một đặc điểm rất riêng biệt về
chủ thể của quan hệ nghĩa vụ dân sự là: Các chủ thể của quan hệ nghĩa vụ (bên có Ị quyền và bên có nghĩa vụ) luôn được xác định rõ từ khi bắt đáu xác lập quan hệ
nghĩa vụ, bất kể quan hệ nghĩa vụ đó có bao nhiêu người tham gia Đặc điểm này
xuất phát từ bản chất của quan hệ nghĩa vụ luôn là sự ràng buộc pháp lý giữa bên
có quyền và bên có nghĩa vụ Vì vậy, nếu không xác định trước chủ thể của quan
hệ nghĩa vụ, thì quan hệ nghía vụ sẽ không được xác lập
Về nguyên tắc, các cá nhốn và (ổ chức muốn trở thành chủ thể của quan hệ
nghĩa vụ thì phải có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi (năng lực chủ ' thể)
Năng lực pháp luật, theo nghía chung.nhất là khả năng hưởng các quyền và
nghĩa vụ pháp lý mà pháp Iuệt quy định cho cá nhân hoặc tổ chức Điều này có
nghĩa: Các chủ thể của quan hệ nghĩa vụ, khi tham gia quan hệ nghĩa vụ để thoả
mãn các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, họ có quyền thoả thuận mọi vấn đề
trong việc xác lập và thực hiện nghĩa vụ, nhưng không dược vượt quá giới hạn mà
pháp luật cho phép Hay nói một cách khác, các chủ thể của nghĩa vụ luôn bị giới
hạn bởi năng lực pháp luật, họ chỉ dược thực hiện những hành vi mà pháp luật cho
phép
Bên cạnh năng lực pháp luật, các chủ thể tham gia quan hệ nghĩa vụ còn
phải có đẩy đủ năng lực hành vi Năng [ực hành vi là khả năng cá nhân và tổ chức
Trang 21hằng chính hành vi của mình Ihực hiộn các quyền và nghĩa vụ dan sự mà pháp luật cho phép.
Cụ thể theo quy định của BLDS Việt nam, các cá nhân và lổ chức muốn tham gia vào quan hệ nghĩa vụ, phải có năng lực hành vi dân sự Năng lực hành vi dãn sự được xác định cho từng đôi tượng như sau:
- Đỏi với cá nhân:
+ Người từ đủ 18 tuổi trở lên không bị các bệnh điên, tâm thần, mất trí rnà khổng thể nhân thức điều khiển được hành vi của mình, có trí lực phát triển bình thường là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp họ bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi, (uyên bô' hạn chế năng lực hành vi (Điều 20, 21,
24, 25 BLDS) Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được toàn quyền xác lập mọi giao dịch dãn sự
+ Người từ đủ 6 tuổi đến chưn đủ I 8 tuổi xác lập, thực hiện giao dịch dân
sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ những giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoại hàng ngày phù hợp với lứa tuổi
+ Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được xác lập, (hực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi lài sản riêng mà họ có, trừ trường hợp pháp luộl có quy định khác (Lập di chúc phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý - Khoản 2 - Điểu 655 BLDS .)•
+ Người chưa đủ 6 tuổi, người mất năng lực hành vi khổng được phép xác lập giao dịch Mọi giao dịch dân sự của người này đều do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện
- Đối vái các tổ chức (phdn nhân, hố gia đình, tổ hơp tác)
Các chủ thể này tham gia vào giao dịch dãn sự thông qua người đại diện của họ (đại diện theo pháp luật, theo uỷ quyền) Người đại diệu xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhân danh người đại diện Các quyền, nghĩa vụ do người đại diện xác lập làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của pháp nhân, Ỉ1Ộ gia đình, tổ hợp tác Tuy nhiên, pháp nhân chỉ tham gia các giao dịch dân sự phù hợp với chức năng, nhiệm
vụ của pháp nhân Hộ gia đình chỉ được tham gia các giao dịch dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất, đến hoạt dộng sản xuất Iiông, iâm ngư nghiệp và trong một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác theo quy đinh của pháp luật Tổ hợp tác chỉ được tham gia các giao dịch đíln sự liên quan đến hoại động sản xuất kinh doanh của (ổ được xác định trong hợp đổng hợp lác
Trang 22Người đại diện xác lập siao địch dân sự, Ihin phát sinh quyền và nghĩa vụ của pháp nhân, hộ gia đình, lổ hợp lác, các quyền và nghĩa vụ dân sự đó được điều chỉnh bằng các quy định của điều lệ hoặc các quy định của phnp luật.
* Đăc điểm về măt [lỏi dung: Quyền và nghía vụ là nội dung chủ yếu của đa số các quan hệ pháp luật Tương lự như vậy, nôi dung cùa quan hệ pháp luật dân sự
về nghĩa vụ là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể tham gia quarrt
hệ nghĩa vụ dân sự Đặc trưng cư bản nhất về nội đung, của quan hệ nghĩa vụ dân
sự là: Các bên chủ thể của quan hệ nghĩa vụ dân sự khi tham gia quan hệ Iighĩa vụ dân sự có quyền lự do cam kết thoả thuận để hình thành các quyền và nghĩa vụ dân sự của mình Các cam kết thon thuận đó luôn luôn được pháp luật thừa nhận'
và bảo vệ, với điều kiện cam kết của các bên không được trái với nguyên lắc cơi bản của pháp luật, với phong tục tập quán, đạo đức xã hội Ngoài ra, quyền và nghĩa vụ của các bêĩi chủ thể, còn được xác định trên cơ sư các quy định của pháp luật
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cua bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ
là một trong những vấn đề trọng tâm của pháp luật về nghĩa vụ dãn sự Tuỳ thuộc từng đối tượng cụ thể , pháp luật có các phương thức bảo vệ các quyền dân sự của bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ là khác nhau Pháp luật dân sự Việt nam đã quy định các phương thức cụ (hể sau đAy:
- Nếu đối tượng của nghĩa vụ là việc chuyển giao vật, thì người có quyền, được yêu cầu người có nghĩa vụ phai giao đúng vật đó, nếu vệt không còn hoặc bị
hư hỏng, thì phải thanh toán giá trị của vật và bồi thường thiệt hại (Điểu 311 Bộ luật dãn sự)
- Nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự là việc trả tiền, khi người có nghĩa
vụ chậm trả liền, thì người có quyền dược quyền yôu cổu người có nghĩa vụ trả lai đôi với số tiền chậm trá theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng nhà nước quy định, tương ứng với thời gian châm (rả lại thời điểm thanh (oán (Khoản 2 điều
Trang 23+ Tự minh hoặc giao cho người thứ ba thực hiện công việc đó và mọi phí
tổn phát sinh, người có nghía vụ sẽ phải gánh chịu Trên thực tế biện pháp này
được gọi là biện pháp thay thế
- Trong trường hợp người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ có đôi tưựng
là không hành dộng, thì người có quyền được quyền yêu cáu người có Iigliĩa vụ :
+ Chấm đứt hành vi, khôi phục tình trạng hợp pháp ban đầu;
+ Bồi thường thiệt hại;
- Trong trường hợp ngựời có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ dẫn tới các quyền nhân thân bị xâm hại, thì bên có quyền có thể áp dụng các biện pháp sau:
+ Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu Toà án buộc người vi phạm chấm
dứt hành vi vi phạm, xin lỏi, cái chính công khai;
+ Tự mình cải chính trên các phương tiện thông tin đại chúng;
+ Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cắu Toà án buộc người vi phạm phải bồi
thường thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thổn (Điều 27 BLDS)
Tuy nhiên, khi nghiên cứu những vấn đề trên, điều cần lưu ý là: Quyền dân
sự của người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ (lân sự chí được pháp luật công
nhận và bảo vệ khi quyền đó được xác lập từ những căn cứ pháp lý hợp pháp,
được người có nghĩa vụ hoặc pháp luât công nhận
Trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp về nghĩa vụ dân sự à Việt nam, có
những trường hợp Toà án đã bác bỏ quyền yêu cổ 11 của người có quyền trong
quan hệ nghĩa vụ Bởi lẽ, khi đưa ra yêu cầu người có quyền không chứng minh
được quyền của họ là dược hình thành bởi sự cam kết của người có nghĩa vụ, hoặc
trên cơ sở quy định của pháp luật Ví dụ, vụ việc cụ thể sau:
Chị Nguyễn thị út Nghỉ làm đơn gửi tới Toà án nhân dân Thành phố Mỹ tho
kiện chị Nguyễn thị Luyến về việc: chị cho chị Luyến vay 4.000.000 đồng với lãi
suất là 100.000 đồng/tháng trong thời hạn ln 3 tháng Nhưng đã quá thời hạn
thanh toán mà chị Luyến vãn chưa trả tiền gốc và liền lãi cho chị Nghỉ Trong đơn
kiện chị Nghỉ đề nghị Toà án giải quyết để chị lấy lại liền gốc và lãi của mình
Trang 24Bản án sơ thẩm của Toồ án nhân dân Thành phô Mỹ tho, đã bác đơn kiện
Qua việc nghiên cứu hồ sơ vụ việc, cũng như qua sự (rình bày trước phiên toà của chị Luyến, Toà án nhân dân tính Tiền giang đã kết luận: lý do kháng cáo của chị Nghỉ là không thể chấp nhận được, bởi vì việc vay nợ giữa chị Luyến vồ
mẹ chồng chị mặc dù không có giấy biên nhận, nhưng mẹ chổng chị đã thừa nhận trước phiên toà là có vay của chị Luyến 7.000.000 đ - đây chính là cơ sở pháp lý
để Toà án buộc mẹ chổng chị phải trả tiền cho chị Luyến Còn viêc chị kiên chi Luyến vay tiền của chị mà không trả thì không được chị Luyến thừa nhận, và chị cũng không có một căn cứ nào chứng minh rằng chị Luyến đã vay chị
Tìr sự phân tích đó, toà phúc thắm của Toà án nhân dân tỉnh Tiền giang đã
ra quyết định bác đơn kiện của chị Nghỉ, cũng như yêu cầu của chị Nghỉ đối với chị Luyến
Qua vụ việc trên, một lần nữa đã khẳng định rõ bản chất pháp lý của nghĩa
vụ dân sự, đó là: Quvền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, phải được hình thành trên co sở sự tự nguỵên của các bên chủ thể Pháp luật chỉ bảo vệ quyền của bên có quyền, khi bên có quyền, có đầy đủ căn cứ pháp
lý chứng minh sự ràng buộc pháp !ý giữa mình đối với bên có nghĩa vụ
Trên điìy là 3 dặc điểm của quan hệ nghĩa vụ dân sự Nghiên cứu các đặc điểm trên cho thấy: Bên cạnh những tính chất, đặc điểm của một quan hệ pháp luật dân sự nói chung, quan hệ pháp luật nghĩa vụ dân sự còn có những đặc điểm,
Trang 25lính chất, dặc Irưng riêng hiệt Các dặc điểm, lính chất, đặc Irưng đó là cơ sư quan trọng để phân biệt quan hệ pháp luật nghĩa vụ clân sự đối với các quan hệ nghĩa
vụ khác Ví dụ, quati hộ nghĩa vụ trong pháp luật hành chính, nghĩa vụ chấp hành hình phạt trong luật hình sự Sự phân biệt này có ý nghía rất lớn trong việc xác định cơ chế điều chỉnh phù liựp đối với các quan hệ nghĩa vụ dân sự phát sinh trong giao lưu dân sự
1.3 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRlỂN c ủ a p h á p l u ậ t v ề n g h ĩa v ụ d â n sự
1.3.1 Nhận xét chung
Là một bộ phận của pháp luật dân sự, pháp luật về nghĩa vụ ra đời, xuất phát từ các nhu cầu của đời sông xã hội, cụ thể là nhu câu trao đổi hàng hoá giữa các chủ thể phát sinh trong giao lưu dân sự Nghiên cứu sự ra đời về pháp luật dân
sự cho thấy pháp luật về nghĩa vụ dAn sự ra đòi và được thừa nhận muộn hơn so với pháp luật về sở hữu Pháp luật về sở hữu ra đời ngay từ khi con người tạo ra của cải vật chất, và có nhu CÀU chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của cải đó Đối với pháp luât về nghĩa vụ dân sự, xuất phai từ đặc điểm: Trong giai đoạn đổu nền kinh
tế tự cung, tự cấp, pháp luật chỉ can công nhận quyền sở hữu cua mỗi cá nhân và quy định các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu dó, vì vậy ở thời kỳ nay sự tồn tại các quy định về pháp luật nghĩa vụ dân sự là chưa cẩn thiết Sự ra (tời và tồn tại của pháp luật về nghĩa vụ dân sự chỉ thực sự cần thiết, khi nhu cầu trao dổi lài sản giữa cá nhân, tổ chức trở thành một nhu cổu bức xúc Đặc biệt là khi nhu cổu trao đổi đó được tiến hành thông qua phương thức chủ yếu là Hàng - Tiền Nói theo một cách khác, pháp luật về nghĩa vụ dân sự chí ra đời và thực sự cần thiết khi nhu cầu trao đổi hàng hoá trong xã hội phát triển tới một mức độ nhất định
Sự phát triển đó phải bảo đảm được hai điều kiện: Một mặt các bên trong quan hệ nghĩa vụ sẽ tin nhau là mỗi bên sẽ tự nguyện thực hiện nghĩa vụ mà mình đã cam kết, mặt khác Nhà nước phải có hiện phííp cưỡng chế Ciin thiết dể bảo đảm cho bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ cun mình, bảo vệ quyền lợi cho bên có quyền
Về mặt hình thức, các quy định về nghía vụ lần đầu tiên được quy định trong Luậl La mã cổ đại (Luậl 12 bang, năm 451 thế kí Vỉ (rước công nguyên) Các quy định về nahìa vụ trong Luật La mã cliủ yếu là nhằm báo vệ quyền lợi cho các chủ I1Ợ (trái chủ) Theo quy định của Luật La mã cổ đại chủ nợ cỏ quyền áp
Trang 26(iụng những hình phạt hết sức dã man đối với người không trả được nợ: “Trong (rường hựp quá nợ kliông (rả được nự, người mắc Hự sẽ phải bắl giam, gông cùm, tùng xẻo thân thể Trong thời gian 60 ngày bị giam giữ con I1Ợ bị mang tới nơi
cồng cộng 3 lần để xét xử" (LuẠt La mã cổ đại - Những nền văn minh thế giới - NXB Văn hoá thông 1 in - Năm 1996 - Trang 1011)
Bên cạnh các quy định rất hà khắc để bảo vệ quyền lợi cho chủ nợ, thành tựu lớn nhất của Luột La mã cổ đại là đã ghi nhận những quy ctịnli rất quan trọng mang tính chất nguyên lý về nghĩa vụ dân sự như: Các quy định về căn cứ phát sinh nghía vụ dân sự, chấm dứt Iighìa vụ dân sự, thực hiện nghía vụ dân sự Cho đến ngày nay, các quy định mang tính chất nguyên lý về nghĩa vụ dân sự trong Luật La mã cổ đại vẫn là cơ sở lý luận quan trọng, được xem là nền tảns khi nghiên cứu về nghĩa vụ dân sự
Sau Luật La mã cổ đại các quy định về nghĩa vụ dân sự trong Bộ luật Napoleon 1804 đã đánh dấu một bước phái triển mứi của luật pháp về nghĩa vụ dãn sự Cụ thể, trong Bộ luật Napoleon 1804, ngoài các quy định mang tính chất nguyên lý về nghĩa vụ dân sự như: Căn cứ phát sinh, chấm dứt nghĩa vụ dân sự, thực hiện nghĩa vụ dân sự, Bộ luật còn ghi nhận những nguyên tắc rất tiến bộ về nghĩa vụ dân sự Các nguyên tắc đó cho đến ngày nay vãn còn nguvên giá trị Ví dụ: Về vấn đề hiệu lực của các thoả thuận giữa các bên chủ thể, Bộ luật Napoleon
quy định: “Tlìoử thuận không có hiệu lực liêu như tlìõở thuận cố được do hậu quả
của sự nhầm lẫn, hoặc nếu nhu' đạt được nhờ sức ép hoặc bâng cách lừa gạt”
(Điểu 1109 - Bộ luật Napoleon) Quy định này đã ghi nhận nguyên tắc sự tự do ý chí của các bên chủ thể Ih điều kiện bắt buộc, để mọi thoả thuận hình thành trong giao lưu dân sự có hiệu lực pháp luật Hoặc về trách nhiệm dân sự, Điều 131 Bộ luật Napoleon quy định: “Trách nhiệm mà không có cơ sở hoặc cơ sở giá tạo, hoặc cơ sở không đáng tin cây đều không có hiệu lực” Quy định này là cơ sở lý luận quan trọng để hình thành nên lý thuyết về trách nhiệm dân sự trong Luật dftn
sự hiện đại
Với những nét tiến bộ nhất định về nội dung, hình thức, Bộ luật Napoleon
đã ảnh hưởng rất lớn lới sự hình thành và phát triển của pháp luật dân sự nói chung và pháp luật về nghía vụ dân sự nói riêng ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt nam
Ngày nay, chế định pháp luật về nghĩa vụ dân sự (lã trở thanh một trong những chế định quan trọng trong luật (lân sự của các nước (Cá biệt có một số nước
Trang 27trên thế giới đã tách rời chế định nghĩa vụ ra khỏi Bộ luật dân sự thành một bộ luật riêng về nghĩa vụ như Thuỵ sỹ, Libăng .)• Sự tổn tại của chế định nghĩa vụ dân sự trong pháp luật dân sự có ý nghía quan trọng trong việc tăng cường sự liên kết kinh tế giữa các chủ thể trong xã hội, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức Chế định nghĩa vụ dân sự là công cụ pháp lý hữu hiệu để
Ổn định giao lưu dân sự^thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Trên đây là khái quát chung quá trình hình thành và phát triển của pháp luật
về nghĩa vụ dân sự Tuy nhiên, đo có sự khác nhau về chế độ kinh tế - chính trị -
xã hội, về phong tục tập quán truyền thống dân tộc, nên pháp luật về nghĩa vụ của các quốc gia có sự hình thành và phát triển khác nhau Điều này được thể hiện rõ
qua quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về nghĩa vụ dân sự ở Việt
nam
1.3.2 Quá trình hỉnh thành và phát triển của pháp luật vể nghĩa vụ dân sự ở Việt nam
Ở Việt nam, pháp luật về nghĩa vụ dân sự có quá trình hình thành và phát triển gắn liền với quá trình và phát triển của pháp luật dân sự Các quy định về nghĩa vụ dân sự trong Bộ luật dân sự được Quốc hội nước CHXHCN Việt nam thông qua 2S/Ỉ0/1995 là sự k ế thừa và phát huy có chọn lọc những linh hoa của luật pháp qua các thời kỳ lịch sử của Việt Nam Căn cứ vào các tài liệu mà sử sách để lại có thể chia quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về nghĩa vụ dân sự ở Việt nam thành một số giai đoạn chủ yếu sau:
* Thòi kỳ H ù ng Vương - A n Dương Vươtig
Thời kỳ Hùng Vương - An Dương Vương với sự ra đời của Nhà nước Văn Lang Âu lạc đã đánh dấu sự phát triển vượt bậc về mọi mặt trong tiến trình lịch sử: Từ thời đại m ông muội dã man sang thời đại văn minh Nhà mróc sơ khai đẩu
tiên xuất hiện - đã chứng minh rằng: “Sự tồn tại của mình như một quốc gia văn-
minh có đủ điều kiện và đủ khả năng vững vàng tiến lên vượt qua mọi thử thách bão táp của lịch sử.” (1)
Là một Nhà nước sơ khai - đặt nền móng cho sự hình thành các kiểu Nhà nước sau này ở Việt Nam, việc quản lý xã hội, điều chỉnh các hành vi xử sự của các thành viên trong xã hội trong thời kỳ này chủ yếu được tiến hành thông quá việc áp dụng các tập tục thói quen đã hình thành từ lâu trong các bộ lạc trước đây
(1) Lịch sử Việt Nam - Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng - Hà Nội, 1985
Trang 28Luật tục trong thời kỳ này, được ban hành chủ yếu là để diều chính các quan hệ
về sở hữu ruộng đất, như xác nhộn quyền sở hữu ruộng đất của công xã, quyền
chiếm hữu sử dụng ruộng đất của các Ihành viên trong công xã Các quan hệ về
nghĩa vụ trong thời kỳ này, cũng như hàng loạt các quan hệ dân sự khác không
được đề cập đến trong luật tục Điều này xuất phát từ đặc điểm của nền kinh tế
“Tự cung tự cấp” chưa làm phát sinh các quan hệ về trao đổi là tiền đề để xuất hiện các quan hệ nghĩa vụ trong xã hội
* Thời kỳ ph o n g kiến ị từ năm 905 đến năm 1858).
Đặc điểm về tinh hình kinh tế chính trị xã hội trong thời kỳ này là sự thay
nhau lên nắm quyền thống trị xã hội của các triều đại phong kiến Các triều đại phong kiến khi lên nắm quyền cai trị xã hội đều ban hành pháp luật để bảo vệ nền thống trị và chế độ sở hữu của giai cấp phong kiến Xuất phát từ một đất HƯỚC có nên nông nghiệp cổ truyền, đất đai là tài sản quý giá nhất nên các qui định của các pháp luật dân sự chủ yếu tập trung điều chỉnh và bảo vệ những quan hệ xã hội liên quan đến loại tài sản đặc biệt đó Các quan hệ tài sản được pháp luật của các triều đại phong kiến điều chỉnh, chủ yếu thông qua các chiếu chỉ, đạo dụ của nhà vua, hay trong một số Bô luật thành văn như Bộ luật Hổng Đức, Bộ luật Gia Long
Đặc điểm chung nhất của các Bộ luật trên là chưa có sự phân định quan hệ tài sản theo tính chất, đặc điểm do mỏi ngành luật điều chỉnh như pháp luật hiộn đại Các quy định pháp luật dân sự về nghĩa vụ trong thời kỳ phong kiến thường được qui định gắn chặt vói quy định về hợp đồng (khế ước), về trách nhiệm dân sự (ngliTa vụ bồi thường thiệt hại) Đặc điểm đó được thể hiện rất rõ trong hai Bộ luật tiêu biểu của Pháp luật phong kiến Việt Nam: Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long
- Bộ luật Hồng Đức: được ban hành vào năm 1483 Vào năm này vua Lê
Thánh Tông đã cho sưu tập và hệ thống toàn bộ chiếu chỉ, đạo dụ của các thời vua trước đó, sửa chữa bổ sung lại cho hoàn chỉnh thành Bộ luật Đây là Bộ luật thành văn hoàn chỉnh nhất trong lịch sử lập pháp nước ta Bộ luật Hồng Đức (hay còn gọi là Quốc triều hình luật) là thành tựu có giá trị đặc biệt quan trọng trong lịch sử lập pháp Việt Nam Theo bản dịch ra chữ quốc ngữ xuất bản năm 1991 Bộ luật này bao gồm 722 Điều chia làm 6 quyển mỗi quyển có 2 chương, riêng quyển thứ
ba là có 3 chương Vấn đề nghĩa vụ dân sự luy chưa được quy định thành chương, mục cụ thể trong Bộ luật, nhưng ở thời kỳ này những nhà lộp pháp cũng
đã chú ý tới một số lĩnh vực sau:
Trang 29- Các quan hệ về vay mượn, bán ruộng, cám cô được quy định rất chặt chẽ về phương diện hình sự Tuy nhiên, dưới góc độ dân sự, những vấn đề liên quan tới việc xác lập, thực hiện nghĩa vụ dân sự cũng đã được quy định, thông qua một số điều khoản sau:
+ Điều 355, 357, 377 đã quy định về nguyên tắc ‘T ự nguyện” của các bên khi
xác lập khế ước Ví dụ, Điều 355 Bộ luật Hồng Đức quy định “Người nào ức hiếp mua
mộng đất của người khác thì phải gĩáỉiíỊ hạ hai bậc nluúìg cho lấy lại tiền mua”.
+ Điều 366 đã ấn định cách thức làm văn tự và chúc thư Đây là điều duy nhất
trong cổ luật Việt nam quy định về vấn đề này Cụ thể, Điều 366 quy định “Nhữìig
người làm chúc thư, văn k h ế mờ không nhờ các người quan trưởng trong làng (bân hương quan trưởng) viết thay và clìiởĩg kiến thì phải phạt 80 trượiig vã phạt tiền íuỳ theo việc nặng nhẹ Chúc thư hay vân khê ấy s ẽ không có giá trị Nến biết chữ mà viết lấy thì được” (Bản hương quan trưởng thuật ngữ này nha làm luật dùng để chí
một cách tổng hợp những người có quan tước, hoặc những người tôn trưởng có tuổi ở trong họ, trong làng mà không bắl buộc là xã trưởng hay lý trưởng - Việt nam dân luật lược khảo - Vũ Văn MĂu)
+ Điều 384 quy định về vấn đề cầm cố ruộng đất - một hình thức cơ bản để
bảo đảm nghĩa vụ: “nêu ch ả ru ộn g đ ấ t cầ m ru ộn g xin c h u ộ c m à n gttòi câ m kỉìông
cho chuộc, hay không muốn chuộc m ò người cầm hắt phải chuộc, thì người cầm plưỉi phạt 80 trượng Nếu quả hạn chủ ruộng cầm c ố đòi chuộc thì chủ ruộng cũng phải p h ạ t như th ể và kììôĩig clìo chuộc”.
+ Điều 587, 656 quy định về khế ước cho vay và sự tính lãi Cụ thể, Điều
587 quy định “Bất luận thòi hạn cho vay dài hao nhiêu năm, cũng không được
tính tiền lãi quá m ột gốc lãi Trái luật thì phải giáng hạ m ột bậc và m ất tiền lãi
+ Điều 588 quy định về thời hạn trả nợ và đòi nợ: “M ắc nợ quá hạn không
trả thì phải tội trượng ừiỳ theo việc nặng, nhẹ Nến Ịựị cô' bướiig không chịu trả thì phải giáng hạ hai bậc, hồi thường gấp dôi
+ Điều 589 quy đinh về cách thức trả nợ và bằng chứng trả nợ
+ Điều 590 quy định về sự bảo lãnh Theo quy định tại Điều 590 thì người bảo lãnh có nghĩa vụ phải trả tiền gốc cho vay thay cho người được bảo lãnh Hoặc phải trả cả tiền gốc hoặc tiền lãi, nếu như Điều đó được quy định rõ trong hợp đồng bảo lãnh
Trang 30+ Điều 591 quy định về sự sai áp khi người thụ trái không được trả 11Ợ .
Ngoài một số vấn đề cơ han trên, Bộ luật Hồng đức còn quy định một sô
điều khoản cụ thể về trách nhiệm bổi (hường thiệt hại d o vi phạm nghĩa vụ, xâm
phạm trật tự công cộng như:
+ Trường hợp ẩu đả gAy thương tích hay làm chết người: Quy định tiền đền mạng (Điều 29), quy định phép nuôi bảo cô (Điều 648), quy định tiền mai táng (Điều 568)
+ Trường hợp tổn hại (lo súc vật gíìy ra : Phi ngựa làm chết người (Điều 553), súc vật ăn hại mùa màng (Điều 581), súc vật đá húc phải người (Điều 582).+ Trường hợp các kiến trúc phải phá huỷ vì gây thiệt hại cho người khác (Điều 568)
+ Tiền bồi thường về dân sự trong các tội hình sự (Điều 29)
+ Trường hợp vì chơi đùa lỡ tay làm chết người hay bị thương (Điều 498).+ Trường hợp bất khả kháng (Điều 499)
So với luật La mã cổ đại các quy định về bồi thường thiệt hại trên trong Bộ luật Hồng Đức là tương đối đầy đủ và thể hiện rõ nét phong tục tập quán cổ truyền Việt nam
- Bộ luật Cìia Long: Sau khi Nhà nước Tây Sơn bị lật đổ, Nhà Nguyễn xáclập sự thống trị của mình fìr năm 1802, khi Nguyễn Ánh chính thức lên ngôi vua lấy hiệu là Gia Long (đặt kinh đo ở Phú Xuân, (huộc TP Huế hiện nay) Vua Gia Long
và các triều đại vua tiếp íheo đã thiết lập chế độ quân chủ chuyên chế, tăng cường bộ máy đàn áp và các công cụ thống trị, thi hành hàng loạt các biện pháp nhằm củng
cố, bảo vệ quyền lợi của giai cấp địa chủ và quan lại Dưới triều đại vua Gia Long iuật dân sự không được phái triển do ánh hưởng của chính sách “trọng nông ức thương” và lệ Ihuộc nhiều vào hiệt lô nhà Thanh Bộ luật Gia Long (hay còn gọi bộ Hoàng Việt luật lệ) được vua Gia Long công bố vào năm 1815 gồm 938 Điều Trong Hoàng Việt luật lệ các quy định về dán sự chí chiếm một tỷ lệ rất nhỏ và thiếu những quy định cụ thể Các quy định về hộ, hôn, điền, sản được quy định rất sơ lược, bỏ qua các liến bộ của pháp luộl nhà Lê Các quy định vổ nghĩa vụ được đổ cấp trong
Bộ luật này tuy có đơn giản hơn so với Bộ luật Hồng Đức, nhưng về cơ bản nhà làm luật thời Nguyễn cũng đã ghi nhộn một số Điều khoản quan trọng liên quan đôn việc xác lập và thực hiện nghĩa vụ dân sự Ví dụ, một số Điều khoản sau:
+ Điều 87 quy định về giá trị của khế ước mua bán ruộng đốt: Người nào mua bán ruộng đất plìi pháp kể cả hoa lợi, đều phải trả lại cho chủ sở hữu
Trang 31+ Điều 134 quy định về sự trả nợ Theo quy định của Điều này khi đến hạn trả nợ mà người thụ trái không trả được nợ, họ sẽ bị phạt từ 10 trượng đến 60 trượng tuỳ theo số tiền nợ và sự chậm trễ trả nợ, nhưng bao giờ cũng cho họ được khất một thời hạn là 3 tháng để thi hành nghĩa vụ cam kết trong khế ước.
+ Điều 135 quy định về sự ký thác đồ vật, và bắt người nhận giữ vật phải bồi thường thiệt hại nếu đã tự tiện dùng đổ vật ký thác: “Người nào đã nhận ký thác tiền bạc, đồ vật hay súc vật của người khác và tự tiện tiêu dùng, sẽ bị phạt là lừa dối lầy của tư
+ Điều 137 quy định về nguyên tắc ưng thuận giữa người mua và người bán trong quan hệ mua bán: “Khi một người mua và một người bán một đồ vật gì nếu bên đương sự không đồng ý, và một bên cậy mình có tư cách nhà buôn dùng áp lực, hoặc những người buôn thông đồng với người có giấy phép dùng áp lực để mua bán cho được toàn lợi, hoặc những người buôn bán thồng đồng với người có giấy phép, để lừa dối bán những đồ vật rẻ tiền hoặc mua những đồ vật quý giá của người khác thl bị phạt 80 trượng”
+ Điều 282, là điều luật duy nhất trong Bộ luật Gia long quy định về quan
hệ giữa người có quyền với người có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ có đối tượng là một công việc phải làm: “Những người làm thuê nhận làm công việc cho người khác để lấy tiền, khi công việc được hoàn thành, họ chỉ là những người thường đối với chủ, họ không có thân phận của những nô tỳ”
Ngoài những quy định về quyền và nghĩa vụ trong các quan hệ mua bán, cầm cố ruộng đất, vay nợ cũng như Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long còn có một số quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể:
+ Vất bỏ, huỷ hoại những đổ vật lúa má của người khác (Điều 91)
+ Súc vật đá cắn người (Điều 208)
+ Bỡn chơi, lầm lỡ làm bị thương hay chết người (Điều 261, 264, 267)
+ Xe ngựa làm chết người hay bị thương (Điều 265)
+ Trách nhiệm của thầy thuốc làm chết người hay bị thương (Điều 266).+ Các trường hợp bất khả kháng (Điều 135)
Nghiên cứu các quy định trong luật Hồng Đức và luật Gia Long cho thấy: Trong cả hai Bộ luật bên cạnh các quy định về hình sự là chủ yếu, các vấn đề dân
Trang 32sự phát sinh trong đời sống xã hội cũng đã bước đầu được coi trọng Các quy định
về nghĩa vụ dân sự trong hai Bộ luật tuy còn rất sơ lược chưa tồn tại với tư cách là
một chế định độc lập, nhưng nó đã thể hiện một điều thực tế là: Vấn đề nghĩa vụ
dân sự, thực hiện nghĩa vụ dân sự không hoàn toàn xa ỉạ trong cổ luật Việt Nam
Những quy định về hợp đổng (khế ước), về trách nhiệm dân sự trong hai Bộ luật là
các cơ sở pháp lý quan trọng để điều chỉnh các quan hệ về nghĩa vụ phát sinh
trong xã hội phong kiến Việt natn Nội dung của những quy định đó đã cụ thể hơn
rất nhiều so với cổ luật La mã và mang đậm nét phong tục tập quán Việt nam Các
quy định này đã tạòl/đậc điểm riêng biệt của pháp luật về nghĩa vụ dân sự trong cổ
luật Việt nam
* Thòi kỳ P háp thuộc
Ngày 1/9/1858 Thực dân Pháp đã nổ súng tấn công vào bán đảo Sơn Trà
(Đà Nang) m ở đầu cho thời kỳ xâm lược và thống trị của thực dân Pháp ở Việt
Nam Trước thái độ nhu nhược của tập đoàn vua quan nhà Nguyễn, thực dân Pháp
đã từng bước xác lập ách thống trị của chúng ở Việt nam thông qua các hiệp ước
ký kết với triều đình nhà Nguyễn
Để tiện lợi cho việc cai trị, thực dân Pháp đã chia đất nước ta thành 3 xứ :
Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ với những quy chế chính trị khác nhau: Bắc Kỳ
Trung Kỳ là đất bảo hộ, quyền lập pháp về nguyên tắc vẫn thuộc về Vua nhà
Nguyễn Luật pháp được ban hành trong thời kỳ này là các Chiếu chỉ, Đạo dụ của
Nhà Vua Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, quyền luật pháp hoàn toàn thuộc về
Tổng thống Pháp bằng cách ban hành các sắc lệnh của Tổng thống Thời kỳ này
công dân Việt Nam sinh sống ở mỗi Kỳ có một qui chế chính trị riêng, chịu một
chế độ pháp lỷ riêng Cụ thể các quan hệ dân sự phát sinh ở 3 Kỳ chịu sự điều
chỉnh của 3 Bộ luật khác nhau: ở Nam Kỳ là Bộ dân luật giản yếu 1883, ở Bắc
Kỳ là Bộ dân luật Bắc kỳ 1931, ở Trung Kỳ là Bộ dân luật Trung Kỳ 1936
- Bộ d â n lu ật giản yếu được ban hành theo sắc lệnh Tổng thống Pháp ngày
3 tháng 10 năm 1883 v ề mặt hình thức và nội dung Bộ dân luật Giản yếu hầu
như sao chép q u y ển l của Bộ dãn luật Pháp - 1804 Vì vậy Bộ dân luật có rất
nhiều điểm thiếu sót: Nội dung của Bộ dân luật giản yếu gồm có 10 thiên nói
về vấn đề nhân thân, hộ tịch, giá thú, phụ hệ, vô năng thoát quyền giáng hộ
Vấn đề nghĩa vụ dân sự cũng như hàng loạt vấn đề quan trọng khác của dân
luật như: thừa kế, hợp đồng, trách nhiệm dân sự không được quy định trong
Bộ luật Y ề vấn đề này Luật gia Nguyễn Quang Quýnh đã nhận xét: “Bộ dân
luật giản yếu là sự gián đoạn vói truyền thống pháp luật V iệt Nam trước đó.
Trang 33N ó không phải là sản phẩm lự nhiên của x ã hội Việt N am mà là m ột Bộ luật Phương Tây được du nhập vào Việt N ơm cho nên nó không phản ánh các phong tục tập quán truyền thống của người V iệt N a m ”0)
- Bộ dân luật Bắc và IỊộ dân luật T ru n g
Bộ dân luật Bắc được ban hành bởi nghị định ngày 1/4/1931 của Toàn quyền Đông Dương bao gồm 1455 Điều Bộ dân luật Trung được ban hành bởi nghị định ngày 2/10/1936 gồm 1709 Điều Khác hẳn với Bộ dân luật giản yếu, Bộ dân luật Bắc
và Bộ dân ỉuật Trung đã quy định hầu hết các vấn đề cơ bản của Dân luật
Các quy định về nghĩa vụ được quy định tương đối cụ thể trong hai Bộ luật trên (quyển 3 Bộ dân luật Bắc, quyển 4 Bộ dân luật Trung), v ề cơ bản cả hai Bộluật Bắc - Trung đều đã I quy định những vấn đề mang tính chất nguyên lý vềnghĩa vụ dân sự Cụ thể:
- Cả hai Bộ luật đều đưa ra những khái niệm cụ thể về nghĩa vụ dân sự
Điều 641 Bộ dân luật Bắc 1931 đã quy định: “nghĩa vụ dân sự là mối liên lạc v ề
luật thực tại hay luật thiên nhiên, bố buộc một hay nhiều người phải làm hay đìứig làm sự gì đối với m ột hay nhiều người nào đó Người bị bó buộc vào nghĩa vụ gọi là người mắc nợ, người được hưởng nghĩa vụ gọi là người chủ n ự \ Tương tự, Điều 676
Bộ dân luật Trung quy đinh: “ nghĩa vụ là cái dây liên lạc về luật thực tại hay luật
thiên nhiên bó buộc một người hay nhiều người phải làm hay đủng làm sự gì đối vói một hay nhiều người nào đó, người bị bó buộc vào nghĩa vụ gọi là người mắc nợ, người được hưởng lợi về nghĩa vụ gọi là người chủ n ợ ”.
- Cả hai Bộ luật đều quy định rõ các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự
Cụ thể, Điều 643 Bộ đân luật Bắc, và Điều 679 Bộ dân luật Trung đã quy định các căn cứ sau đây làm phát sinh nghĩa vụ dân sự:
+ Nghĩa vụ sinh ra bởi hiệp ước hay khế ước
+ Nghĩa vụ sinh ra bởi thu nhận cái gì không phải là của mình hay là không có lý do chính đáng
+ Nghĩa vụ sinh ra bởi một sự thiệt hại không chính đáng do mình cố ý hay vô ý làm ra
+ Nghĩa vụ sinh ra bởi luật lệ quy định
(1) Nguyễn Quang Quýnh - Dân luật - Quyển 1 - Viện Đại học cá n Thơ 1967
Trang 34- Cả hai Bộ luật đều quy định tương đối cụ thể về nguyên tắc và cách thức thực hiện nghĩa vụ dân sự Các nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ được cả hai Bộ luật Bắc và Trung quy định nhân đạo hơn so với Luật phong kiến Theo quy định chung, các chủ nợ được quyền sai áp tài sản để lấy nợ, nhưng những tài sản tối thiểu của con nợ dùng cho sinh hoạt gia đình, cá nhân thì không được sai áp Quyền được thi hành trên bản thân con nợ trong pháp luật phong kiến bị bãi bỏ Chủ nợ chỉ được xin giam cầm con nợ khi người này có hành vi ác ý hoặc có tiền
mà không chịu trả Người có nghĩa vụ (người thụ trái) chỉ chịu trách nhiệm tài sản trên cơ sở có lỗi (Điều 712 Bộ dân luật Bắc, Điều 761 Bộ dân luật Trung)
Các quy định khác, liên quan đến cách thức xác lập và thực hiện nghĩa vụ dân sự, cũng đã được quy định cụ thể tại chương thứ ba thiên thứ nhất quyển thứ
IV Bộ dân luật Trung và quyển thứ III Bộ dân luật Bắc Nghiên cứu các quy định trong phần này cho thấy: Nhìn chung Bộ dân luật Bắc và Bộ dân luật Trung đều phân chia nghĩa vụ ra làm 3 loại theo đối tượng của nghĩa vụ: thứ nhất là nghĩa
vụ chuyển giao vật thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu, thứ hai là nghĩa vụ phải làm một việc gì và phương pháp thực hiện việc đó, và cuối cùng là nghĩa
vụ không được làm một công việc, thể hiện dưới dạng bất tác vi M ột số vấn
đề khác: Như điều kiện có hiệu lực của “hiệp ước” , “k h ế ước” , năng lực chủthể của người ký “hiệp ước” , “ khế ước” , việc đòi nợ, trả nợ, đều được quyđịnh rất cụ thể trong phần này của hai Bộ luật Bắc và Trung
- Cả hai Bộ luật đều quy định cụ thể các căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ dân sự Theo Điều 848, Bộ dân luật Trung, Điều 787 Bộ dân luật Bắc, nghĩa vụ dân sự sẽ được chấm dứt trong các trường hợp sau:
+ Khi nghĩa vụ đã thi hành xong
+ Khi chủ nợ thuận ý miễn trừ nghĩa vụ
+ Khi thế dịch nghĩa vụ
+ Khi hai bên cùng nợ lioà nhau
+ Khi hai bên chủ nợ, mắc nợ hỗn hợp ở một người.
+ Khi vật nợ mất
+ Khi có kiện, xin thủ tiêu khế ước hay xin cho vô hiệu
+ Khi tiêu diệt thời hiệu
Từ việc nghiên cứu các quy định về nghĩa vụ dân sự của hai Bộ luật: Bộ dãn luật Bắc và Bộ dãn luật Trung, cho thấy: sự ra đời của hai Bộ luật trên đã đánh dấu một bước đổi mới trong kỹ thuật lập pháp tại v i ệ t nam Lần đầu tiên
Trang 35các quy định về dân luật được tách riêng thành một lĩnh vực độc lập chấm dứt tình trạng điều chỉnh tổng hợp các đối tượng khác nhau của nhiều ngành luật (hình sự, dân sự ) trong cùng một văn bản pháp luật Các quy định về nghĩa vụ dân sự trong hai Bộ luật đều đã được cụ thể hoá hơn rất nhiều so với thời kỳ trước (Đã được quy định thành chương, điều, khoản, cụ thể), v ề mặt nội dung và hình thức, các quy định trên trong hai Bộ luật, tuy có sự sao chép nhất định luật của Pháp nhưng cũng đã thể hiện những đặc điểm riêng biệt về Ịđnh tế, chính trị của xã hội Việt Nam ở giai đoạn này Các qui định đó, đóng góp một vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh, ổn định các quan hệ nghĩa vụ dân sự phát sinh trong đời sống xã hội đương thời và là nền tảng quan trọng để xây dựng chế định pháp luật về nghĩa vụ dân sự trong luật dân sự hiện đại ở Việt nam.
* Thời kỳ 1945 đến nay
Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á đã ra đời Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã khẳng định: Việt Nam là một nước độc lập tự do dân chủ và thống nhất, một Nhà nước có chủ quyền Dưới sự lãnh đạo của Đảng sau khi giành được độc lập nhân dân ta đã đập tan bộ máy chính quyền của chế độ cũ và từng bước xây dựng bộ máy chính quyền của Nhà nước cách mạng mới
Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, nhận thức được ý nghĩa quan trọng của pháp luật dân sự trong đời sống xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh.đã ra sắc lệnh SỐ 90/SL ngày 10/10/1945 quy định việc tạm thời sử dụng các luật lệ hiện hành ở Việt Nam Ngày 22/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 97/SL về việc thay đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật cũ Tuy chỉ có 13 điều nhưng sắc lệnh 97/SL đã ohứa đựng các nguyên tắc rất cơ bản của Pháp luật dân
sự Việt Nam, đặt nền móng cho việc xây dựng và hoàn thiện các chế định dân sự Việt Nam trong các giai đoạn sau
Từ đó đến nay Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều các văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ dân sự Các vấn đề về nghĩa vụ dân sự và hợp đồng cũng được quy định trong hàng loạt các văn bản pháp luật quan trọng, (các văn bản luật
và dưới luật) cụ thể là một số văn bản pháp luật quan trọng sau:
+ Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam - 1987
+ Luật công ty ngày 21/12/1990
+ Luật doanh nghiệp tư nhân ngày 21/12/1990
Trang 36+ Luật bảo vệ và phát triển rừng ngay 2/8/1991.
+ Luật đất đai ngày 24/7/1993
+ Pháp lệnh về hựp đồng dân sự ngày 1/7/1991
+ Pháp lệnh nhà ở ngày 1/7/1 1991
+ Pháp lệnh về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày 28/1/1989
+ Pháp Lệnh về thừa kế ngày 30/8/1990
Nghiên cứu các văn bản pháp luật trên cho thấy, các vấn đề về nghĩa vụ dân
sự trong thời kỳ này không được quy địnli một cách hệ thống trong một văn bản pháp luật cụ thể Trên thực tế không có một văn bản pháp luật nào quy định những nguyên lý tổng quát về nghĩa vụ dân sự Các quy định về nghĩa vụ dân sự nằm tản mát trong các văn bản luật và dưới luật, điều đó gây rất nhiều khó khăn trong việc áp dụng và thực hiện pháp luật về nghĩa vụ
Qua một quá trình soạn thảo lâu dài, Bộ luật dân sự Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 28/10/1995 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/7/1996 Bộ luật dân
sự ra đời là một bước ngoặt lớn trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam, là sự kế thừa và phát huy có chọn lọc những tinh hoa trong Hnh vực luật pháp của dân tộc và của nhân loại Trong Bộ luật ctán sự các quy định về nghía vụ dân sự được quy định inột cách cụ thể rõ ràng tạo thành một chế định độc lập và là một phần quan trọng của Bộ luật dán sự Việt Nam (Phần 3) Lần đáu tiên Irong lịch
sử luật pháp của Việt Nam các quy định về nghĩa vụ được quy định một cách có hệ thống trong một đạo luật quan trọng có giá trị pháp lý cao Đay là cơ sở pháp lý cơ bản để điều chỉnh các quan hệ về nghĩa vụ phát sinh trong giai đoạn hiện nay
Trang 37CHƯƠNG IINHỮNG QUY ĐỊN H CHUNG VỂ N G H ĨA v ụ DÂN s ự
TRONG BỘ LUẬT DÂN s ự
2.1 CĂN Cứ PHÁT SINH VÀ CHẤM DỨT NGHĨA v ụ DÂN s ự :
2.1.1 Căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự
Trong đời sống hàng ngày, các quan hệ nghĩa vụ dân sự phát sinh và tồn tại rất đa dạng và phức tạp Việc quy định lõ các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân
Sự trong luật, là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng để xác định sự phátsinh và tồn tại hợp pháp của các quan hệ nghĩa vụ
Căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là những sự kiện mà trên cơ sở đổ pháp luật quy định việc xuấl hiện quyền yêu cầu và nghĩa vụ phải (hực hiện của các bên tham gia nghĩa vụ dân sự Ngay lừ thời kỳ La mã cổ dại, các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự cũng (1ã đưực quy định rất cụ l l i ể (rong luật 12 bảng , bao gồm :
+ Nghĩa vụ từ hợp dồng
4- Nghĩa vụ từ việc vi phạm plìáp luột
+ Nghĩa vụ như từ hợp đổng
+ Nghĩa vụ như là do việc vi phạm pháp luật <n
Ngày nay, các căn cứ lồm phát sinh nghĩa vụ dân sự được qui định trong luật dân sự của tất cả các nước Irên thế giới Ví dụ: Theo quy định của luật dân sự Nhậ( Bản, ngoài 4 căn cứ chính dã được quy định trong luật La mã cổ đại, luật dãn sự Nhật Bản còn quy (lịnh thèm các căn cứ khác, !à: Hành vi pháp lý đơn phươne, thu lợi không có căn cứ, quản lý sự vụ không có uỷ quyền
Tương tự như luật dân sự cùa các nước, các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự cũng được quy định cụ thể trong Bộ luật dân sự Việt Nam Điều 286 Bộ
luật dfm sự quy định : “ N ghĩa VII (làn sự phái sinh từ :
1 Họp âồỉỉg (ỉân sự ;
Luật La Mã - trường Đại học quốc gin Hà nội - 1994 - Trang 75
Trang 382 Hành ri (tân s ự don i>hifoHỉ>;
3 Ch iếm h ỉh i, sử (ÌU/11> tài sản ríiíực lọ i vê tài sản khôm> có căn cứ p h áp Ììt ậ í;
4 Gây thiệt hai iìo hành ri lì ái pháp ìuậl;
5 Thực hiệiì côiìg việc kììôììg ( ó ìiỷ ụitvêìi;
6 Những căn cử khúc (lo pháp luật quy (ĩịỉilt ”
Quy định trên cho thấy, các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ df\n sự trong Bộ luật dân sự Việt Nam bên cạnh những căn cứ mang tính “truyền thống" được quy định từ luật La mã cổ đại, Bộ luật còn bổ sung một số căn cứ khác, phù hợp với sự phát triển của giao lưu dân sự như : Chiếm hữu, sử dụng tài sản, dược lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, thực hiện công việc không có uỷ quyền Tuy nhiên, các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ theo Điều 286 chỉ mang tính chất liệl kê một số căn cứ
cơ bản nhất làm phát sinh nghĩa vụ dân sự chứ không phải là liệt kê một cách đầy
đủ Do đó, điều tấ( yếu không lliể cho lằng các quan hệ nghĩa vụ dân sự chỉ phái sinh
từ những căn cứ đã nêu, còn những nghĩa vụ phát sinh từ những căn cứ khác thì không phải là nghĩa vụ dân sự mặc dù ban chất của 11Ổ là nghĩa vụ dân sự Chính vì
vậy Khoản 6, Điều 286 BLDS quy (lịnh “những căn cứ khác do pháp luật quy định”
là tạo ra hướng “mở” cho việc xác định các căn cứ khác
Về nguyên tắc, nghĩa vụ dân sự phái sinh từ những căn cứ khác nhau có nội dung và tính chấl khác nhau Vì vậy, việc tìm hiểu línli cliấí, đặc điểm của các căn cứ làm phái sinh nghĩa vụ dân sự có một ý nghĩa quan Irọng khi nghiên cứu
về nghĩa vụ dân sự
Trong giới hạn của luận án, luận án không đi vào nghiên cứu, lìm hiểu mọi căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ tí ân sự, mà chỉ tập trung nghiên cứu 3 căn cứ phổ biến nhất làm phát sinh nghía vụ (lân sự là :
- Nghĩa vụ phái sinh từ hợp đồng dân sự
- Nghĩa vụ dân sự phát sinh từ việc gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật
- Nghĩa vụ dân sự phát sinh lừ các quy định của pháp luật
Trang 39đồng mua bán tài sản, thì tại thời điểm hợp đồng đó được coi là có hiệu lực pháp luật sẽ làm hình thành giữa hai bên chủ thể các nghía vụ giao vật, trả tiền Trên thực tế hợp đồng dân sự là căn cứ phổ biến làm phát sinh nghĩa vụ dân sự Đặc trưng cơ bản của nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đổng là luôn xuất phát từ sự thoả thuận của các bên Cụ thể các bên chủ thể của hợp đồng có quyền thoả thuận mọi vấn đề liên quan đến việc xác lập, thực hiện và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng, và sự thoả thuận đó luôn được pháp luật công nhận
và bảo vệ Tuy nhiên, khống phải mọi nghĩa vụ phát sinh từ hợp dồng déu đươc pháp luật công nhân và bảo vệ, m à pháp luât chỉ công nhận và bảo vê các nghĩa
vụ phát sinh từ các hợp đồng hợp pháp^ có hiệu lực pháj)Jjjật- Theo quy định của luật dân sự Việt nam, một hợp đồng chỉ được xem là hợp pháp, có hiệu lực pháp luật khi thoả mãn các điều kiện sau:
- Thứ nhất: Việc giao kết hợp đồng phải theo đúng những nguyên tắc do pháp luật quy định Cụ thể, là phải tuân thủ đầy đủ các nội dung được quy định tại
Điều 395 BLDS: “ 1 T ự do giao kết hợp đồng, nhưng không được trái pháp luật,
đạo đức x ã hội;
2 T ự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng”
- Thứ hai: Hợp đồng phải có hình thức phù hợp với quy định của pháp luật Điều 400 BLDS Việt nam quy định về hình thức của hợp đồng như sau: “ /
Hợp đồng dân sự có th ể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành
vi cụ thể, khi pháp luật không quy đinh đối với loại liỢỊ? đổng đó phải được giơo kết bằng m ột hình thức nhất đinh.
Khi các bên thoả thuận giao kết ỉìỢp đồng bằng hỉnh thức nhất định, thì họp đồng được coi là đ ã giao kết khi đ ã tuân theo hình thức đó.
2 Trong trường ỈÌỢỊ) pháp luật cố quy đinh lìỢp đồtig phải, được th ể hiện bằng văn bản, phải được chứng nhận của Công chúlĩg nhà nước, chửng thực dăng kỷ hoặc xin phép, thì phải tuân theo các quy định này.”
- Thứ ba: Hợp đồng phải có nội dung hợp pháp: Nội dung của hợp đồng là
tổng thể các điều, khoản quy định quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể Theo quy định tại khoản 2, Điều 401 BLDS nội dung của hợp đồng bao gồm các điều, khoản chính sau:
lía Đối tượng của hợp đồnq ì à tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc kỉiôĩig được làm;
Trang 40h Sô'lượng, chất ỉượtìg;
c Giá, phương thức thanh toán;
d Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hựỊ) đồng;
đ Quyền, nghĩa vụ của các bên;
sự Nói cách khác quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh từ hợp đồng vô hiệu
sẽ không được pháp luật công nhận và bảo vệ Ví dụ, trường hợp cụ thể sau:
Ngày 27/9/1988 anh Mâu đã bán căn nhà KP4/97a tại thị trần Gò Dầu - Tây Ninh cho chị Nhàn với giá 20 cây vàng Chị Nhàn đã trả cho anh Mậu 18 cây vàng, còn 2 cây thì hai bên thoả thuận Lúc nào chị Nhàn nhận nhà sẽ giao hết Giấy mua nhà của chị Nhàn và anh Mậu đã được ƯBND thị trấn chứng thực những chưa làm thủ tục trước bạ sang tên
Ngày 2/10/1988 anh Mậu lại bán 1/2 ngôi nhà trên cho anh Đức với giá 15
cây vàng Việc mua bán đã được sang tên và khi anh Đức đến ở dã xảy ra tranh
chấp với chị Nhàn
Giải quyết vụ tranh chấp này Toà án nhân dãn lỉnh Tây ninh đã hu ỷ hợp đồng mua bán nhà ký kết giữa anh Mậu và anh Đức ngày 2/10/1988, và anh Mậu phải trả lại tiền mua nhà cho anh Đức (trả lại 15 cây vàng)
Qua vụ việc trên cho thấy, việc mua bán nhà giữa anh Mậu và anh Đức đã
vi phạm nguyên tắc “trung thực” khi giao kết hợp đổng Cụ thể, khi giao kết hợp đổng bán nhà cho anh Đức, anh Mậu đã cố tình không cho anh Đức biết ỉà căn nhà đã được bán trước cho chị Nhàn Vì vậy, việc Toà án tỉnh Tây ninh huỷ hợp đổng mua bán giữa anh Mậu và anh Đức ỉà hoàn toàn đúng pháp luật, và như vậy hợp đồng đó không thể là căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dãn sự (nghĩa vụ trả tiền) giữa anh Mậu và anh Đức