Tham gia BHYT theo HGĐ lần đầu tiên được luật hóa tại luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT. Quy định về nhóm đối tượng tham gia BHYT theo HGĐ được xem là một trong những giải pháp quan trọng để đạt được mục tiêu BHYT toàn dân mà Đảng và nhà nước ta đã xác định. Được chính thức triển khai từ ngày 01/01/2015. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy những vấn đề đặt ra, cần có sự nhìn nhận thấu đáo để có giải pháp phù hợp, hiệu quả hơn. Bên cạnh những lợi ích thiết thực mà người tham gia BHYT theo HGĐ có thể được nhận, tham gia BHYT theo HGĐ đồng thời thể hiện trách nhiệm của mỗi cá nhân và gia đình đối với xã hội, bảo đảm tính nhân văn, tương trợ cộng đồng, nguyên tắc chia sẻ rủi ro ngay từ trong gia đình. Tuy nhiên, trước khi luật sửa đổi, bổ sung luật BHYT có hiệu lực, BHYT tự nguyện vẫn còn được triển khai, hiện tượng “lựa chọn ngược” diễn ra khá phổ biến, nhiều người dân khi có nhu cầu sử dụng đến dịch vụ y tế mới mua thẻ BHYT, hay các gia đình thường chỉ mua thẻ BHYT cho những thành viên có nguy cơ ốm đau, bệnh tật cao nhất. Điều này một mặt đã làm “méo mó” bản chất nhân văn vốn có trong BHYT cũng như không phù hợp với mục đích tạo nên một kênh tích lũy cho sức khỏe (khi khỏe mua BHYT để dành cho lúc ốm đau, bệnh tật, người khỏe mạnh chia sẻ với người ốm yếu hơn) của chính sách BHYT. Mặt khác, đó chính là một trong những nguyên nhân làm tăng thêm gánh nặng cho quỹ BHYT, gây khó khăn cho việc cân đối tài chính, đảm bảo thu, chi. Do vậy, quy định nghĩa vụ tham gia BHYT đối với toàn bộ thành viên HGĐ sẽ là một đảm bảo pháp lý để mỗi người dân, mỗi HGĐ xác định được động cơ đúng đắn hơn khi tham gia BHYT, thực hiện trách nhiệm đối với cộng đồng xã hội, mà trước hết là trách nhiệm với chính những người thân trong cùng một HGĐ. Tại tỉnh Sơn La việc triển khai thực hiện BHYT HGĐ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tăng tỷ lệ dân số tham gia BHYT. Theo quyết định số 1210/QĐ-UBND ngày 19/6/2013 của UBND tỉnh Sơn La, về ban hành chương trình hành động của UBND tỉnh Sơn La thực hiện nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ chính trị, phấn đấu đến năm 2020 số người tham gia BHYT đạt 94,3% dân số toàn tỉnh. Ngày 28/6/2016 tại quyết định số 1167 Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh giao chỉ tiêu thực hiện BHYT giai đoạn 2016 - 2020 toàn quốc phải đạt trên 90,7% dân số, trong đó đối với tỉnh Sơn La đạt 95,8% dân số tham gia BHYT. Theo niên giám thống kê của tỉnh Sơn La, dân số Sơn La năm 2015 là: 1.192.100 người (số liệu thống kê dân số mới, thì đến 31/12/2015 số người tham gia BHYT đạt 91,1%), như vậy để đạt được 95,8% (1.243.436 người) dân số tham gia BHYT vào năm 2020, phải phấn đấu giữ ổn định số người đang tham gia và phát triển tăng thêm khoảng 140.000 người (tính tỷ lệ bình quân dân số tăng hàng năm 1,9%, đến năm 2020 dân số dự kiến tăng lên 1.297.950 người). Qua khảo sát, đánh giá tình hình thực tế tại địa bàn tỉnh Sơn La, học viên thấy rằng nhiều người dân chưa hiểu được chính sách ưu việt về BHYT của Đảng và nhà nước, chưa thấy sự quan trọng, quyền lợi thiết thực của BHYT, cộng với điều kiện kinh tế ở nhiều vùng nông thôn còn nhiều khó khăn, từ đó chưa quan tâm đến quyền lợi của cá nhân và gia đình, dẫn đến tình hình kinh tế của nhiều gia đình đã khó khăn lại càng khó khăn hơn, đặc biệt khi gặp ốm đau, tai nạn, bệnh tật và già yếu…Để giúp người dân hiểu rõ được quyền lợi thiết thực của BHYT, chính sách ưu việt của Đảng và nhà nước nhằm chăm sóc sức khỏe tốt nhất cho người dân và ổn định kinh tế gia đình, xã hội, thì phải tăng cường, đẩy mạnh công tác truyền thông về BHYT, đặc biệt là BHYT đối với HGĐ, là đối tượng có đặc thù riêng, mang tính tự nguyện, tự giác tham gia. Xuất phát từ lý do trên học viên chọn đề tài ‘‘truyền thông BHYT hộ gia đình của bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Sơn La’’ làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của học viên.
Trang 3Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôicam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này này do tôi tự thực hiện vàkhông vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Vũ Quang Huy
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Quản lý kinh tế, Viện Đàotạo sau Đại học, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã giúp đỡ và hướng dẫn tôitrong thời gian tôi học tập tại trường Đặc biệt tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ tận tìnhcủa Tiến sỹ Lê Tố Hoa, giáo viên trực tiếp hướng dẫn, góp ý, giúp đỡ tôi xây dựng
và hoàn thiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La, Bảo hiểm xã hội cáchuyện, thành phố đã giúp đỡ tôi trong việc cung cấp số liệu, tài liệu và góp ý cho tôi hoànthành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Vũ Quang Huy
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN THÔNG BẢO HIỂM Y TẾ HỘ GIA ĐÌNH CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 7
1.1 Bảo hiểm y tế hộ gia đình 7
1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm y tế hộ gia đình 7
1.1.2 Sự cần thiết của bảo hiểm y tế hộ gia đình 8
1.2 Truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình của bảo hiểm xã hội tỉnh 9
1.2.1 Khái niệm truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình của bảo hiểm xã hội tỉnh trên địa bàn tỉnh 9
1.2.2 Mục tiêu và yêu cầu truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình của bảo hiểm xã hội tỉnh trên địa bàn tỉnh 11
1.2.3 Đối tượng truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình của bảo hiểm xã hội tỉnh trên địa bàn tỉnh 11
1.2.5 Nội dung truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình tại bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh 13
1.2.6 Hình thức và công cụ truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình của bảo hiểm xã hội tỉnh trên địa bàn tỉnh 13
1.2.7 Quy trình truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình của bảo hiểm xã hội tỉnh trên địa bàn tỉnh 19
1.2.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình tại bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh 25
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG BẢO HIỂM Y TẾ HỘ GIA ĐÌNH TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA GIAI ĐOẠN 2015-2017 31
2.1 Thực trạng bảo hiểm y tế hộ gia đình tại tỉnh Sơn La giai đoạn 2015-2017 31
2.1.1 Giới thiệu về tỉnh Sơn La 31
2.1.2 Khái quát về bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La 33
2.1.3 Quá trình và kết quả triển khai bảo hiểm y tế hộ gia trên địa bàn tỉnh Sơn La 37
2.2 Thực trạng truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình tại bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2015-2017 41
2.2.1 Thực trạng bộ máy truyền thông tại bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Sơn La 41
2.2.2 Nội dung truyền thông tại bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Sơn La 46
2.2.3 Các hình thức, công cụ truyền thông tại bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Sơn La 49
Trang 6tại bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Sơn La 62
2.3.2 Điểm mạnh truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình tại bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Sơn La 63
2.3.3 Hạn chế trong truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình tại bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Sơn La 64
2.3.4 Nguyên nhân hạn chế truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình tại bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Sơn La 64
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TRUYỀN THÔNG BẢO HIỂM Y TẾ HỘ GIA ĐÌNH TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2025 68
3.1 Định hướng hoàn thiện truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình tại bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Sơn La 68
3.1.1 Mục tiêu của truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình tại bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Sơn La đến năm 2020 68
3.1.2 Phương hướng hoàn thiện truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình tại bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Sơn La 69
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình tại bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Sơn La 69
3.2.1 Hoàn thiện bộ máy truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình tại bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Sơn La 69
3.2.2 Hoàn thiện nội dung truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình tại bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Sơn La 70
3.2.3 Hoàn thiện hình thức và công cụ truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình tại bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Sơn La 70
3.2.4 Hoàn thiện quy truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình tại bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Sơn La 71
3.2.5 Các giải pháp khác 72
3.3 Một số kiến nghị 74
3.3.1 Kiến nghị đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam và chính quyền địa phương ở tỉnh Sơn La 74
3.3.2 Kiến nghị đối với các cơ quan truyền thông 76
3.3.3 Kiến nghị với các cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế 76
3.3.4 Khuyến nghị đối với người dân 77
KẾT LUẬN 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7ASXH An sinh xã hội
Trang 8Bảng 1 1 Tiêu chí so sánh giữa hình thức truyền thông trực tiếp và hình thức truyền
thông gián tiếp 18
Bảng 1 2 Mẫu kế hoạch truyền thông BHYT HGĐ của ngành BHXH 21
Bảng 1 3 Mẫu khung thực hiện hoạt động truyền thông cụ thể 23
Bảng 2 1 Kết quả thực hiện BHYT HGĐ giai đoạn 2015-2017 40
Bảng 2 2 Thực trạng bộ máy truyền thông của BHXH trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2015-2017 43
Bảng 2 3 Đánh giá của cán bộ truyền thông về bộ máy truyền thông BHYT HGĐ của BHXH trên địa bàn tỉnh Sơn La 45
Bảng 2 4 Đánh giá của người dân về bộ máy truyền thông BHYT HGĐ của BHXH trên địa bàn tỉnh Sơn La 46
Bảng 2 7 Hình thức truyền thông trực tiếp của BHXH trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2015-2017 52
Bảng 2 8 Đánh giá của cán bộ truyền thông về hình thức và công cụ truyền thông BHYT HGĐ của BHXH trên địa bàn tỉnh Sơn La 53
Bảng 2 9 Đánh giá của người dân về hình thức và công cụ truyền thông BHYT HGĐ của BHXH trên địa bàn tỉnh Sơn La 54
Bảng 2 10 Thực trạng việc thực hiện kế hoạch truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình của bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La gia đoạn 2015-2017 59
Bảng 2 11 Đánh giá của cán bộ truyền thông về quy trình truyền thông BHYT HGĐ của BHXH trên địa bàn tỉnh Sơn La 61
Bảng 2 1 Đánh giá của người dân về chính sách BHYT HGĐ tại tỉnh Sơn La 62
SƠ ĐỒ Sơ đồ 2 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của BHXH trên địa bàn tỉnh Sơn La 37
Sơ đồ 2 2 Bộ máy truyền thông của BHXH trên địa bàn tỉnh Sơn La 41
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tham gia BHYT theo HGĐ lần đầu tiên được luật hóa tại luật sửa đổi, bổsung một số điều của Luật BHYT Quy định về nhóm đối tượng tham gia BHYTtheo HGĐ được xem là một trong những giải pháp quan trọng để đạt được mục tiêuBHYT toàn dân mà Đảng và nhà nước ta đã xác định Được chính thức triển khai từngày 01/01/2015 Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy những vấn đề đặt ra, cần có sựnhìn nhận thấu đáo để có giải pháp phù hợp, hiệu quả hơn
Bên cạnh những lợi ích thiết thực mà người tham gia BHYT theo HGĐ cóthể được nhận, tham gia BHYT theo HGĐ đồng thời thể hiện trách nhiệm của mỗi
cá nhân và gia đình đối với xã hội, bảo đảm tính nhân văn, tương trợ cộng đồng,nguyên tắc chia sẻ rủi ro ngay từ trong gia đình
Tuy nhiên, trước khi luật sửa đổi, bổ sung luật BHYT có hiệu lực, BHYT tựnguyện vẫn còn được triển khai, hiện tượng “lựa chọn ngược” diễn ra khá phổ biến,nhiều người dân khi có nhu cầu sử dụng đến dịch vụ y tế mới mua thẻ BHYT, haycác gia đình thường chỉ mua thẻ BHYT cho những thành viên có nguy cơ ốm đau,bệnh tật cao nhất Điều này một mặt đã làm “méo mó” bản chất nhân văn vốn cótrong BHYT cũng như không phù hợp với mục đích tạo nên một kênh tích lũy chosức khỏe (khi khỏe mua BHYT để dành cho lúc ốm đau, bệnh tật, người khỏe mạnhchia sẻ với người ốm yếu hơn) của chính sách BHYT Mặt khác, đó chính là mộttrong những nguyên nhân làm tăng thêm gánh nặng cho quỹ BHYT, gây khó khăncho việc cân đối tài chính, đảm bảo thu, chi Do vậy, quy định nghĩa vụ tham giaBHYT đối với toàn bộ thành viên HGĐ sẽ là một đảm bảo pháp lý để mỗi người dân,mỗi HGĐ xác định được động cơ đúng đắn hơn khi tham gia BHYT, thực hiện tráchnhiệm đối với cộng đồng xã hội, mà trước hết là trách nhiệm với chính những ngườithân trong cùng một HGĐ
Tại tỉnh Sơn La việc triển khai thực hiện BHYT HGĐ có ý nghĩa rất quantrọng trong việc tăng tỷ lệ dân số tham gia BHYT Theo quyết định số 1210/QĐ-UBND ngày 19/6/2013 của UBND tỉnh Sơn La, về ban hành chương trình hành động
Trang 10của UBND tỉnh Sơn La thực hiện nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ chính trị, phấnđấu đến năm 2020 số người tham gia BHYT đạt 94,3% dân số toàn tỉnh Ngày28/6/2016 tại quyết định số 1167 Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh giao chỉ tiêuthực hiện BHYT giai đoạn 2016 - 2020 toàn quốc phải đạt trên 90,7% dân số,trong đó đối với tỉnh Sơn La đạt 95,8% dân số tham gia BHYT Theo niên giámthống kê của tỉnh Sơn La, dân số Sơn La năm 2015 là: 1.192.100 người (số liệu
thống kê dân số mới, thì đến 31/12/2015 số người tham gia BHYT đạt 91,1%), như
vậy để đạt được 95,8% (1.243.436 người) dân số tham gia BHYT vào năm 2020,
phải phấn đấu giữ ổn định số người đang tham gia và phát triển tăng thêm khoảng
140.000 người (tính tỷ lệ bình quân dân số tăng hàng năm 1,9%, đến năm 2020 dân số
dự kiến tăng lên 1.297.950 người).
Qua khảo sát, đánh giá tình hình thực tế tại địa bàn tỉnh Sơn La, học viên thấyrằng nhiều người dân chưa hiểu được chính sách ưu việt về BHYT của Đảng và nhànước, chưa thấy sự quan trọng, quyền lợi thiết thực của BHYT, cộng với điều kiện kinh
tế ở nhiều vùng nông thôn còn nhiều khó khăn, từ đó chưa quan tâm đến quyền lợi của
cá nhân và gia đình, dẫn đến tình hình kinh tế của nhiều gia đình đã khó khăn lại càngkhó khăn hơn, đặc biệt khi gặp ốm đau, tai nạn, bệnh tật và già yếu…Để giúp ngườidân hiểu rõ được quyền lợi thiết thực của BHYT, chính sách ưu việt của Đảng và nhànước nhằm chăm sóc sức khỏe tốt nhất cho người dân và ổn định kinh tế gia đình, xãhội, thì phải tăng cường, đẩy mạnh công tác truyền thông về BHYT, đặc biệt là BHYTđối với HGĐ, là đối tượng có đặc thù riêng, mang tính tự nguyện, tự giác tham gia
Xuất phát từ lý do trên học viên chọn đề tài ‘‘truyền thông BHYT hộ gia đình
của bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Sơn La’’ làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ
của học viên
2 Tổng quan nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu để thực hiện đề tài luận văn của mình, họcviên đã nghiên cứu một số tài liệu, một số giáo trình của Trường Đại học Kinh tếQuốc dân
Ngoài ra, học viên đã nghiên cứu các luận văn thạc sĩ và đề tài nghiên cứu
Trang 11khoa học thuộc chuyên ngành BHXH, BHYT, qua đó tác giả đã kế thừa và phát huynhững tài liệu, số liệu liên quan đến luận văn của mình.
Đã có một số đề tài nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước về BHYTHGĐ như:
- Tác giả Hà Thị Thủy Tiên (2016) trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh
doanh - Đại học Thái Nguyên với Luận văn thạc sĩ Phát triển Bảo hiểm y tế hộ gia đình
trên địa bàn thành phố Thái Nguyên Đề tài đã phân tích, tìm ra những khó khăn gặp
phải và đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển BHYT hộ gia đình trên địa bàn thànhphố Thái Nguyên
- Tác giả Phạm Thị Giang (2016) trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh
doanh - Đại học Thái Nguyên với Luận văn thạc sĩ Giải pháp đẩy mạnh hoàn thiện
Bảo hiểm y tế hộ gia đình tại thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Tác giả phân tích,
tìm ra những khó khăn gặp phải và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện BHYT
hộ gia đình trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
- Đề tài khoa học của tác giả Chu Mạnh Sinh năm 2018 ‘‘Đổi mới côngtác truyền thông nhằm phát triển đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình trên địabàn tỉnh Sơn La” Đề tài đã chỉ ra thực trạng với những kết quả tích cực đạt đượccũng như những tồn tại, hạn chế, yếu kém của trong quá trình thực hiện, đồngthời đề xuất một số giải pháp tiếp tục thực hiện nhằm thực hiện tốt chính sáchBHYT toàn dân nói chung và trên địa bàn tỉnh Sơn La nói riêng trong giai đoạnhiện nay
Đây là những đề tài tham khảo hết sức bổ ích, đặc biệt là về phương diện cơ
sở lý luận và được tác giả tiếp thu, kế thừa, vận dụng vào nghiên cứu Tuy nhiên,chưa có đề tài nào nghiên cứu về Truyền thông BHYT hộ gia đình tại Bảo hiểm xãhội trên địa bàn tỉnh Sơn La Sơn La
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài hướng tới các mục tiêu cơ bản sau:
- Xác định được khung nghiên cứu truyền thông về BHYT HGĐ của BHXHtrên địa bàn tỉnh Sơn La
- Phân tích được thực trạng truyền thông về BHYT HGĐ của BHXH trên địa
Trang 12bàn tỉnh Sơn La; xác định được điểm mạnh, điểm yếu của truyền thông về BHYT HGĐcủa BHXH trên địa bàn tỉnh Sơn La và nguyên nhân của các điểm yếu.
- Đề xuất được một số giải pháp hoàn thiện truyền thông về BHYT HGĐ củaBHXH trên địa bàn tỉnh Sơn La đến giai đoạn năm 2020, định hướng đến năm 2025
Các câu hỏi nghiên cứu đặt ra là:
- Truyền thông về BHYT HGĐ của BHXH trên địa bàn tỉnh nhằm mục tiêu gì?
- Truyền thông về BHYT HGĐ của BHXH trên địa bàn tỉnh bao gồm nhữngnội dung cơ bản nào? Truyền thông được thông qua hình thức và công cụ nào?Quản lý truyền thông như thế nào? Chịu ảnh hưởng của các nhân tố nào?
- Truyền thông về BHYT HGĐ của BHXH trên địa bàn tỉnh Sơn La trong thờigian qua có các điểm mạnh, điểm yếu nào? Nguyên nhân của các điểm yếu đó?
- Truyền thông về BHYT HGĐ của BHXH trên địa bàn tỉnh Sơn La đếnnăm 2020 cần tập trung hoàn thiện các nội dung nào?
- Về không gian: Tại các cơ quan BHXH trên địa bàn tỉnh Sơn La bao gồmBHXH tỉnh Sơn La, BHXH các huyện, thành phố; đại lý thu BHXH, BHYT
- Về thời gian: Dữ liệu thu thập cho giai đoạn năm 2015-2017; điều tra đượctiến hành vào tháng 04 năm 2018; các giải pháp được đề xuất đến năm 2020, địnhhướng đến năm 2025
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Khung nghiên cứu
Khung nghiên cứu truyền thông về BHYT HGĐ của BHXH trên địa bàn tỉnh Sơn La được thể hiện trong sơ đồ 1
Các nhân tố ảnh hưởng tới
truyền thông về BHYT HGĐ
của BHXH trên địa bàn tỉnh
Truyền thông về BHYT HGĐ của BHXH trên địa bàn tỉnh
Quy trình truyền thông
Hình thức, công
cụ truyền thông
Nội dung truyền thôngCác yếu tố thuộc về
BHXH trên địa bàn
tỉnh
Các yếu tố khác
thuộc môi trường
bên ngoài của
BHXH trên địa bàn
tỉnh
Bộ máy truyền thông
Thực hiện mục tiêu của truyền thông về BHYT HGĐ của BHXH trên địa bàn tỉnh:
- Đề người dân biết và hiểu về BHYT HGĐ; tự giác và tự nguyện tham gia BHYT HGĐ
- Tăng số HGĐ tham gia BHYT HGĐ, tiến tới BHYT toàn dân
Trang 13Sơ đồ 1 Khung nghiên cứu của đề tài
(Nguồn: Học viên tự lập)
5.2 Quy trình nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài dự kiến áp dụng phương pháp nghiên cứuđịnh tính kết hợp với phương pháp nghiên cứu định lượng theo các bước sau:
Bước 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận nhằm xác định khung nghiên cứu vềtruyền thông BHYT HGĐ của BHXH trên địa bàn tỉnh Những phương phápđược sử dụng ở bước này là phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp tổnghợp và mô hình hóa
Bước 2: Thu thập dữ liệu thứ cấp thông qua các số liệu báo cáo, đánh giá củaBHXH trên địa bàn tỉnh để làm rõ thực trạng truyền thông BHYT HGĐ của BHXHtrên địa bàn tỉnh Sơn La; kết quả truyền thông BHYT HGĐ của BHXH tỉnh; thựctrạng tổ chức thực hiện công tác này Các phương pháp thực hiện chủ yếu là phươngpháp thống kê, so sánh số liệu qua các năm
Bước 3: Thu thập số liệu sơ cấp bằng việc khảo sát bằng bảng hỏi nhằm thu
Trang 14thu thập nhằm để người dân biết và hiểu về BHYT HGĐ; tự giác và tự nguyện thamgia BHYT HGĐ các đối tượng khảo sát là:
- Cán bộ truyền thông của BHXH trên địa bàn tỉnh Sơn La và bảo hiểm cáchuyện, thành phố của tỉnh Sơn La: 29 người
- Người dân: 50 người thuộc các HGĐ khác nhau tại 01 phường hoặc xã củaThành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
Bước 4: Phân tích và đánh giá truyền thông BHYT HGĐ của BHXH trên địabàn tỉnh Sơn La Thông qua đánh giá thực hiện các mục tiêu; phân tích các điểmmạnh, điểm yếu theo các nội dung truyền thông BHYT HGĐ, và tìm ra nguyênnhân dẫn đến những điểm yếu Phương pháp phân tích dựa trên các nhân tố ảnhhưởng đến truyền thông BHYT HGĐ của BHXH trên địa bàn tỉnh Sơn La
Bước 5: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện truyền thông BHYT HGĐ củaBHXH trên địa bàn tỉnh Sơn La
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các hình
và bảng, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về truyền thông BHYTHGĐ của BHXH tỉnh
Chương 2: Phân tích thực trạng truyền thông BHYT HGĐ của BHXH trênđịa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2015-2017
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện truyền thông BHYT HGĐ củaBHXH trên địa bàn tỉnh Sơn La đến năm 2020, định hướng đến năm 2025
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN THÔNG BẢO HIỂM Y TẾ HỘ GIA ĐÌNH CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
1.1 Bảo hiểm y tế hộ gia đình
1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm y tế hộ gia đình
Tham gia BHYT theo HGĐ là toàn bộ người có tên trong sổ hộ khẩu (khôngbao gồm người đã khai báo tạm vắng) hoặc sổ tạm trú cùng tham gia BHYT, trừ nhữngthành viên gia đình đã thuộc đối tượng đã tham gia BHYT thuộc nhóm do đơn vị củathành viên lao động đóng (khối doanh nghiệp nhà nước; khối doanh nghiệp có vốn đầu
tư nhà nước; khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh;khối học sinh, đảng đoàn; khốingoài công lập; khối hợp tác xã; khối phường xã, thị trấn; hộ sản xuất kinh doanh cáthể, tổ hợp tác; cán bộ phường xã không chuyên trách; người nước ngoài) nhóm do tổchức BHXH đóng (người cao tuổi; hưu trí, trợ cấp mất sức lao động; trợ cấp BHTN;trợ cấp TNLĐ, BNN; ốm đau dài ngày; cán bộ xã phường hưởng trợ cấp BHXH;hưởng chế độ thai sản) các nhóm được ngân sách nhà nước đóng (đại biểu quốc hội,hội đồng nhân dân; chất độc hóa học; lưu học sinh Lào; người có công; bảo trợ xã hội;cán bộ xã hưởng trợ cấp NSNN; cựu chiến binh; thân nhân sĩ quan quân đội; đối tượngnghèo; thân nhân sĩ quan nghiệp vụ công an; thân nhân người làm công tác cơ yếu; trẻ
em dưới 6 tuổi; thân nhân người có công; thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động; thamgia kháng chiến; người đã hiến bộ phận cơ thể; người dân tộc thiểu số sống vùng khókhăn, đặc biệt khó khăn; người sống tại vùng đặc biệt khó khăn) hoặc hỗ trợ mức đóngBHYT (học sinh, sinh viên trung ương; học sinh, sinh viên địa phương; người thuộc hộgia đình cận nghèo NSNN hỗ trợ 100% kinh phí mua thẻ BHYT; người thuộc hộ giađình cận nghèo NSNN hỗ trợ 70% kinh phí mua thẻ BHYT)
Như vậy, nếu người dân không thuộc các nhóm đối tượng tham gia BHYT có
sự hỗ trợ trực tiếp một phần hoặc toàn bộ phí tham gia BHYT từ người sử dụng laođộng, tổ chức BHXH hay nhà nước thì sẽ tham gia BHYT HGĐ bằng cách tự đóng
Trang 16góp phí BHYT BHYT theo HGĐ như là tấm “lưới đỡ” sau cùng cho những người dânchưa thuộc bất kỳ nhóm đối tượng tham gia BHYT nào khác, đảm bảo mọi người dântrong xã hội đều có cơ hội được bảo vệ bởi BHYT.
1.1.2 Sự cần thiết của bảo hiểm y tế hộ gia đình
BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượngtheo quy định của luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận donhà nước tổ chức thực hiện Tham gia BHYT HGĐ có nhiều lợi ích, cụ thể như sau:
- Thứ nhất, việc tham gia BHYT theo HGĐ là nhằm bảo vệ, chăm sóc sức khỏecho tất cả các thành viên trong HGĐ, phù hợp với mục tiêu chăm sóc, bảo vệ sức khỏetoàn dân mà Đảng và nhà nước ta đang hướng tới Trong điều kiện nhiều người dânchưa ý thức tự giác trong việc chăm sóc sức khỏe thông qua chính sách BHYT thì việcràng buộc tham gia BHYT theo HGĐ là giải pháp khả thi để đảm bảo phần lớn ngườidân được hưởng lợi từ chính sách BHYT, nhất là trong điều kiện hiện nay, tình hìnhdịch bệnh, ô nhiễm diễn biến hết sức phức tạp, mức độ bệnh tật, rủi ro dễ gặp phảitrong cuộc sống hằng ngày
- Thứ hai, mục đích của quy định BHYT theo HGĐ là rất rõ, vừa để tăng bao phủBHYT, vừa để cộng đồng có trách nhiệm với người bệnh Khi trong gia đình có người
ốm đau thì chính những người thân trong gia đình phải có trách nhiệm tham gia BHYT
để chia sẻ với những người thân của mình sau đó mới đến cộng đồng
- Thứ ba, sức khỏe là vấn đề rất nhiều rủi ro, không ai có thể biết trước ốmđau, bệnh tật đến với ta khi nào Có những người không tham gia, khi bị bệnh trởthành thảm họa với gia đình bởi chi phí y tế quá lớn mà không có BHYT chi trả
Nhất là những gia đình lao động nhỏ, thủ công, ở mức trung bình (không phải hộ
cận nghèo, hộ nghèo) nên việc tham gia BHYT theo HGĐ là tự trang bị “phao cứu
sinh” cho bản thân và gia đình, vì quỹ BHYT đã chi trả phần lớn chi phí trong quátrình điều trị cho những người bệnh có thẻ BHYT
- Thứ tư, tham gia BHYT theo HGĐ là giảm gánh nặng tài chính chongười đóng BHYT Nếu như tham gia BHYT theo quy định trước đây thì mọingười đều đóng một mức như nhau là bằng 4,5% mức lương cơ sở (hiện nay là1.390.000 đồng), quy định mới về tham gia BHYT theo HGĐ thì chỉ người đầu
Trang 17tiên đóng bằng số tiền trên, mức đóng BHYT được giảm dần theo số lượng thànhviên tham gia theo mức bằng 70%, 60%, 50% và 40% so với người đầu tiên,người dân được đóng BHYT 03 tháng, 06 tháng hoặc 12 tháng một lần cho sốtiền tham gia BHYT hằng năm Nếu trong HGĐ có một người mắc bệnh nặng thì
số tiền tham gia BHYT nói trên của hộ HGĐ không thể bù đủ cho chi phí KCBcho thành viên bị bệnh
- Thứ năm, việc tham gia BHYT theo HGĐ là nhằm từng bước thực hiệnmục tiêu cộng đồng cùng chia sẻ rủi ro với người bệnh, mà mức độ thấp nhất là cácthành viên trong cùng gia đình chia sẻ cho nhau, và mức độ cao nhất là thực hiệnBHYT toàn dân Thực tế cho thấy khi tham gia BHYT tự nguyện, người dân chỉmua thẻ BHYT cho những người có bệnh tật hoặc có nguy cơ mắc bệnh cao, nhữngngười mạnh khỏe trong gia đình thì không, thậm chí khi người bệnh nhập viện thìngười nhà mới đi mua thẻ BHYT, từ đó dẫn đến mất cân đối trong công tác thanhtoán chi phí KCB BHYT
- Như vậy, việc tham gia BHYT theo HGĐ là hết sức cần thiết và đúng đắn ĐểBHYT HGĐ sớm đi vào đời sống của người dân thì công tác truyền thông về BHYTHGĐ phải được tăng cường, đổi mới hình thức, phương pháp và biện pháp, đẩy mạnhcải cách hành chính, giảm thiểu những thủ tục không cần thiết tạo điều kiện thuận lợicho người dân khi tham gia BHYT
1.2 Truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình của bảo hiểm xã hội tỉnh
1.2.1 Khái niệm truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình của bảo hiểm xã hội tỉnh trên địa bàn tỉnh
Truyền thông là một quá trình giao tiếp, chia sẻ, trao đổi thông tin từ ngườitruyền thông tin đến người nhận thông tin nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi thái
độ và hành vi của người nhận thông tin Đặc trưng quan trọng của truyền thông làtính 2 chiều Truyền thông có mục tiêu và đối tượng cụ thể
Việc thay đổi hành vi của mỗi cá nhân là không dễ dàng Sự thay đổi hành vicủa mỗi cá nhân chịu ảnh hưởng bởi kiến thức, thái độ, kỹ năng/thực hành củachính đối tượng đó, ngoài ra còn chịu sự ảnh hưởng của cộng đồng xung quanh, môitrường chính sách, xã hội Để thực hiện các hoạt động truyền thông hiệu quả hướng
Trang 18tới sự thay đổi hành vi bền vững cần thực hiện đồng thời các hoạt động truyềnthông thay đổi hành vi, truyền thông vận động và truyền thông huy động xã hội.
Truyền thông thay đổi hành vi
Là biện pháp tiếp cận truyền thông có mục đích, có kế hoạch qua các kênhtruyền thông khác nhau để gửi các thông điệp phù hợp nhằm thúc đẩy và duy trìviệc thay đổi hành vi làm giảm nguy cơ nào đó của mỗi cá nhân và cộng đồng Nhưvậy, mục đích của truyền thông thay đổi hành vi là nhằm tăng cường và duy trìnhững thay đổi tích cực về hành vi của cá nhân và cộng đồng
Truyền thông thay đổi hành vi về BHYT được hiểu là việc thực hiện cáchoạt động truyền thông ở nhiều cấp độ (truyền thông với cá nhân, truyền thôngvới nhóm, truyền thông với cộng đồng), sử dụng nhiều hình thức truyền thông
đa dạng (truyền thông trực tiếp, truyền thông gián tiếp) để chuyển các thôngđiệp phù hợp tới người dân, các cơ quan/doanh nghiệp… nhằm nâng cao nhậnthức, thay đổi thái độ của đối tượng đích về BHYT từ đó khuyến khích họ thamgia BHYT Mục tiêu cuối cùng là tăng tỷ lệ người dân tham gia BHYT theo hộgia đình
Truyền thông vận động
Là tập hợp các hoạt động truyền thông có chủ đích, có kế hoạch, hướng tới
sự hoàn thiện môi trường chính sách, tạo nguồn lực cần thiết và sự ủng hộ của dưluận xã hội để thực hiện hành vi mong muốn của nhóm đối tượng cụ thể
Truyền thông vận động cho BHYT là thực hiện các hoạt động truyền thông
đa dạng, ứng dụng các kỹ thuật truyền thông để tiếp cận tới những người ra quyếtđịnh (nhà hoạch định chính sách, người có tầm ảnh hưởng, người có quyền quyếtđịnh ) nhằm hoàn thiện các chính sách về BHXH, BHYT, tăng cường nguồn lựchoặc tạo môi trường xã hội thuận lợi để thực hiện các chính sách liên quan đếnBHXH, BHYT
Truyền thông Huy động xã hội
Là một quá trình xây dựng liên minh, thu hút và tăng cường sự tham gia củacộng đồng nhằm tạo điều kiện và giúp đỡ nhóm đối tượng truyền thông thực hiệnhành vi mong muốn
Trang 19Huy động xã hội là hình thức truyền thông đồng thời hỗ trợ người dân bằng
cả vật chất, tinh thần tạo cơ hội để người dân tham gia BHXH, BHYT một cách tựnguyện và kịp thời
1.2.2 Mục tiêu và yêu cầu truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình của bảo hiểm xã hội tỉnh trên địa bàn tỉnh
Mục tiêu của truyền thông BHYT HGĐ:
Để người dân nâng cao nhận thức hiểu biết hơn về chính sách này, thayđổi thái độ của người dân về BHYT, từ đó tự giác chấp hành tham gia BHYTtheo HGĐ;
Mục đích của truyền thông BHYT HGĐ:
Là tăng tỷ lệ người dân tham gia BHYT theo HGĐ Phấn đấu đến năm 2020
cả nước đạt ít nhất 80% dân số tham gia BHYT như mong muốn của Nghị quyết số68/2013/QH13 về đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về BHYT, tiến tớiBHYT toàn dân
Yêu cầu của truyền thông BHYT HGĐ:
- Truyền thông phải đảm bảo tính tin cậy: Tức là chủ thể truyền thông phải làngười nắm vững vấn đề, các dẫn chứng phải mang tính thuyết phục
- Phương pháp truyền thông phải khoa học hợp lý
- Truyền thông phải mang tính khả thi tức là phải nói những điều mà có thểlàm được và đã làm là có kết quả
- Truyền thông phải có tính phù hợp về đối tượng nhận tin và phù hợp vềkhông gian, thời gian
- Truyền thông phải đảm bảo tính ưu tiên: Tức là truyền thông phải đi từ dễđến khó để giúp người nhận tin có thể hiểu và tiếp thu được
1.2.3 Đối tượng truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình của bảo hiểm xã hội tỉnh trên địa bàn tỉnh
Truyền thông nhằm thay đổi hành vi bền vững chịu ảnh hưởng bởi 3 yếu tốchính là cá nhân đối tượng đích, sự tham gia hỗ trợ của cộng đồng xung quanh và môitrường xã hội Vì vậy, đối tượng truyền thông được chia thành 03 nhóm như sau:
Trang 20- Đối tượng truyền thông thay đổi hành vi: là những người dân, các cơ quan/doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
- Đối tượng truyền thông huy động xã hội: là các cá nhân, đơn vị và tổ chứctrên địa bàn tỉnh
- Đối tượng truyền thông vận động: là lãnh đạo chính quyền địa phương vàtôn giáo trên địa bàn tỉnh
1.2.4 Bộ máy truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình tại bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh
Bộ máy truyền thông BHYT HGĐ của BHXH trên địa bàn tỉnh có sự thamgia, thuộc trách nhiệm đối với kết quả thực hiện bởi các chủ thể cơ bản sau:
- Giám đốc BHXH tỉnh: Là người đứng đầu cơ quan BHXH tỉnh, quyết định
các công việc thuộc phạm vi và thẩm quyền quản lý của BHXH trên địa bàn tỉnhvàchịu trách nhiệm về các quyết định trong đó có công tác truyền thông
- Phó giám đốc BHXH tỉnh phụ trách công tác truyền thông: Là người
chịu trách nhiệm thứ hai, giúp việc cho giám đốc 1 phần nhiệm vụ của cơ quantrong đó có công tác truyền thông Được giám đốc ủy quyền điều hành công táctruyền thông khi giám đốc đi vắng
- Văn phòng: Có chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng liên quan đến truyền
thông là chủ trì, phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ liên quan xây dựng kế hoạchthông tin, truyền thông, phổ biến các chế độ, chính sách, pháp luật về BHXH,BHTN, BHYT theo chỉ đạo, hướng dẫn của BHXH Việt Nam và tổ chức thực hiện
kế hoạch sau khi được phê duyệt; quản lý, trực tiếp biên tập thông tin đăng tải trênTrang tin điện tử của BHXH tỉnh trên Internet
- Phòng truyền thông: Chịu trách nhiệm chính về truyền thông Có chức
năng, nhiệm vụ là xây dựng, trình Giám đốc BHXH tỉnh chương trình, kế hoạchcông tác truyền thông về BHXH, BHTN, BHYT phù hợp với yêu cầu, mục tiêu,phương hướng, nhiệm vụ và quy định của BHXH Việt Nam; tổ chức, hướng dẫnthực hiện kế hoạch sau khi được phê duyệt
Trang 21- BHXH huyện: Có nhiệm vụ, quyền hạn của BHXH huyện là thực hiện
công tác thông tin, truyền thông, phổ biến các chế độ, chính sách, pháp luật vềBHXH, BHTN, BHYT trên địa bàn huyện theo quy định
- Đại lý thu BHXH, BHYT: Là tổ chức được cơ quan BHXH ký hợp đồng
đại lý thu BHXH, BHYT, gồm: UBND xã, phường, thị trấn; đơn vị sự nghiệp; tổchức chính trị - xã hội; tổ chức xã hội - nghề nghiệp và tổ chức kinh tế, một trongnhững nhiệm vụ đó là hàng tháng truyền thông, vận động thành viên HGĐ tham giaBHXH, BHYT Hướng dẫn người tham gia kê khai, thực hiện việc kiểm tra, đốichiếu thông tin và tiếp nhận giấy tờ có liên quan đảm bảo đầy đủ, chính xác
1.2.5 Nội dung truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình tại bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh
Hoạt động truyền thông về BHYT HGĐ của BHXH tỉnh bao gồm các nộidung truyền thông từ bản chất của BHYT HGĐ, quyền và lợi ích của việc thamgia…nhằm tạo điều kiện cho người dân hiểu và có ý thức chấp hành tham giaBHYT HGĐ
Các biện pháp truyền thông kịp thời còn giúp người tham gia BHYT HGĐ cóthể cập nhật thường xuyên thông tin về BHYT HGĐ khi có những sửa đổi, bổ sung
về chính sách để có những điều chỉnh cho phù hợp trong sản xuất kinh doanh vàthực hiện nghĩa vụ của mình Cụ thuể:
- Truyền thông phổ biến nội dung của chính sách BHYT HGĐ, quyền lợi vàmức hưởng khi tham gia BHYT HGĐ
- Phổ biến các vấn đề liên quan đến nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quanBHXH, của người tham gia BHYT HGĐ và các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội,trong việc cung cấp thông tin và phối hợp trong việc thực hiện chính sách BHYT
- Phổ biến các thủ tục liên quan đến việc tham gia BHYT
1.2.6 Hình thức và công cụ truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình của bảo hiểm xã hội tỉnh trên địa bàn tỉnh
Hình thức truyền thông là cách thức để chuyển tải thông điệp đến đối tượngtruyền thông Có nhiều cách phân loại hình thức truyền thông như: hình thức truyền
Trang 22thông đại chúng, hình thức truyền thông trực tiếp, hình thức truyền thông cơ hội, tàiliệu truyền thông… Tuy nhiên, tựu chung lại thì có 2 phương pháp truyền thôngchính: Truyền thông trực tiếp và truyền thông gián tiếp với mỗi công cụ gắn liền vớihình thức truyền thông đó.
1.2.6.1 Hình thức truyền thông gián tiếp
Hình thức truyền thông gián tiếp là truyền thông qua các công cụ truyền thôngmang tính kỹ thuật như đài phát thanh, đài truyền hình, các tài liệu in ấn như sách, báo,tạp chí, áp phích, tranh gấp, tranh quảng cáo, internet
Truyền thông đài phát thanh (Radio)
Là loại phương tiện thông tin đại chúng trong đó, nội dung thông tin đượcchuyển tải thông qua âm thanh (lời nói âm nhạc các loại tiếng động làm nền) Trongphát thanh có thể sử dụng nhiều thể loại tác phẩm chuyển tải thông tin như các thểloại tin tức, phỏng sự, phỏng vấn, toạ đàm, câu chuyện truyền thanh, quảng cáo, bàiviết, kịch nói v.v Đặc biệt các hình thức văn nghệ dân gian như ngâm thơ, chèo,tấu, hài được sử dụng trong các chương trình phát thanh sẽ rất phù hợp với hoạtđộng truyền thông vì được nhiều người ưa thích
Ưu điểm của công cụ truyền thông đài phát thanh:
- Phù hợp cho cả người biết chữ hay không biết chữ
- Phát được thông điệp thường xuyên và chuẩn xác
- Tiếp cận được đến đông đảo đối tượng trong cùng một thời điểm
- Củng cố các thông điệp đã đựơc chuyển tải qua các kênh khác
- Có thể tận dụng được các kiến thức của những người có uy tín
- Tạo ra một nhu cầu từ phía đối tượng
- Chi phí thấp và không đòi hỏi nhiều phương tiện hiện đại
- Có thể sử dụng pin, ắc qui, thuận tiện cho những vùng không có điện.Hạn chế của công cụ truyền thông đài phát thanh:
- Không thuận tiện trong việc hướng dẫn đối tượng thực hiện hành vi mới
- Thông tin dễ bị phân tán vì mọi người thường vừa nghe đài vừa làm việc khác
- Có thể khó khăn trong việc phối hợp với đài phát thanh
Trang 23- Khó khăn trong việc thu nhận thông tin phản hồi
- Cần nguồn điện
- Đòi hỏi đối tượng phải có đài
- Khó khăn điều chỉnh thông điệp cho từng nhóm đối tượng riêng biệt
Truyền thông đài truyền hình:
Truyền hình là một loại phương tiện thông tin đại chúng chuyển tải thông tinbằng hình ảnh động và âm thanh Do vậy, nó thực sự là phương tiện truyền thông cólợi thế trong việc chuyển tải thông tin tới quảng đại quần chúng Với lợi thếnhiều mặt, truyền hình là một phương tiện mang lại hiệu quả cao trong cácchiến dịch truyền thông Trong truyền hình, có nhiều thể loại tác phẩm có thểchuyển tải thông tin như: Bản tin, phóng sự, phỏng vấn, toạ đàm, các chươngtrình văn hoá, giáo dục, văn nghệ, vui chơi giải trí Tất cả đều có thể phù hợpvới các chiến dịch truyền thông
Ưu điểm của công cụ truyền thông đài truyền hình:
- Có giá trị thời sự, thông tin đến được với nhiều người một cách nhanh chóng
- Dễ hiểu kể cả người cỏ trình độ học vấn thấp
- Chỉ dẫn cách thực hiện một hành vi mới
- Giải thích được các ích lợi khi thực hiện một hành vi mong muốn
- Nêu gương điển hình và khuyến khích hành động
- Kết hợp cả hình và tiếng nên làm tăng hiệu quả truyền thông
- Thông tin có tính thuyết phục cao
Hạn chế của công cụ truyền thông đài truyền hình:
- Có thể không có sẵn
- Người dân ở một số vùng không có khả năng mua tivi hoặc bắt sóng ti vi kém
- Chi phí cho chương trình truyền hình thường tốn kém trong sản xuất (đòihỏi phương tiện hiện đại) và phát sóng
Các ấn phẩm truyền thông
Các ấn phẩm bao gồm: Tranh gấp, tờ rơi, biển hiệu quảng cáo ngoài trời, ápphích, sổ tay v.v có thể được sử dụng dễ dàng mọi lúc, mọi nơi, dưới nhiều hình thức
Trang 24khác nhau phù hợp với trình độ của từng đối tượng Dễ bảo quản, lưu giữ hấp dẫn vềmàu sắc và nội dung, không thể thiếu trong các chiến dịch truyền thông.
Ưu điểm của các ấn phẩm truyền thông:
- Cung cấp được các thông tin chi tiết hơn, người đọc có thể đọc đi đọc lạimột ấn phẩm cho đến khi nào hiểu thông điệp
- Nhiều người có thể cùng đọc, cùng nghe hoặc phát tay cho nhiều người
- Có thể lưu giữ và sử dụng trong thời gian dài, dễ sản xuất
Hạn chế của công cụ truyền thông bằng ấn phẩm truyền thông:
- Chỉ dành cho người biết chữ
- Tốn kém trong in ấn và phát hành
- Khó có thể sửa chữa sai sót do khâu in ấn khi đã phát hành
- Không phù hợp cho tất cả các đối tượng vùng miền, dân tộc
- Đòi hỏi phải có kinh nghiệm để thiết kế, sản xuất
- Tài liệu tranh lật/tranh tư vấn cần phải đào tạo cho người sử dụng
- Chậm đến được với đối tượng hơn các loại khác
Truyền thông qua internet
Truyền thông qua internet hiện nay đã trở nên khá phổ biến, đặc biệt phù hợpvới giới trẻ ở những vùng thành thị Các thông điệp truyền thông có thể chuyển tớingười nhận qua các trang tin/báo điện tử, các trang mạng xã hội Thậm chí mọingười có thể cùng nhau trao đổi, thảo luận về một nội dung nào đó trong các diễnđàn trên mạng
Ưu điểm của công cụ truyền thông internet:
- Có thể tiếp cận được rất nhiều người một cách nhanh chóng
- Có thể cập nhật hoặc loại bỏ thông tin thường xuyên
- Hấp dẫn do có thể kết hợp cả hỉnh ảnh và âm thanh
Hạn chế của công cụ truyền thông internet:
- Chỉ phù hợp với những người biết sử dụng máy tính và truy cập internet
- Đòi hỏi đối tượng phải biết cách tìm kiếm thông tin
- Các phản hồi không tích cực có thể ảnh hưởng đến hiệu quả truyền thông
Trang 25BHXH trên địa bàn tỉnh ưu tiên hình thức truyền thông gián tiếp chính sáchBHYT HGĐ khi:
- Đối tượng thiếu thông tin về chính sách BHYT HGĐ: Họ không biết về lợiích của việc tham gia BHYT HGĐ; không biết về quyền lợi cũng như nghĩa vụtham gia; không biết có thể đăng ký thông tin, mua BHYT HGĐ ở đâu…
- Có sự ra đời hoặc sửa đổi của một chính sách mới về BHYT HGĐ
- Dư luận xã hội chưa thực sự quan tâm đến vấn đề tham gia BHYT HGĐ
- Trong cộng đồng dân cư tồn tại những thông tin thất thiệt về BHYT HGĐ
- Muốn gửi thông điệp về BHYT HGĐ đến được nhiều người, trong một thờigian ngắn
- Phù hợp trong các chiến dịch truyền thông về BHYT HGĐ
- Điều kiện về tài chính và năng lực thực hiện
1.2.6.2 Hình thức truyền thông trực tiếp
Hình thức truyền thông trực tiếp là truyền thông mặt đối mặt giữa người truyềnthông tin và người nhận thông tin hoặc 01 người truyền thông tin với 01 nhóm ngườinhận thông tin Truyền thông trực tiếp bao gồm các hình thức như tư vấn, thảo luậnnhóm, nói chuyện sức khỏe, đối thoại chính sáchvới người dân tại nhà hoặc tại cơ sở xã,phường, tổ, bản và tiểu khu từ đó để người dân hiểu biết hơn về chính sách này CủaBHXH trên địa bàn tỉnh hình thức tuyền thông trực tiếp được thực hiện bởi chính cán bộtruyền thông của BHXH trên địa bàn tỉnh
Truyền thông của BHXH trên địa bàn tỉnh ưu tiên hình thức truyền thông trựctiếp khi:
- Đối tượng đã có kiến thức nhưng chưa thực sự tin tưởng vào chính sáchBHYT HGĐ
- Đối tượng muốn tìm hiểu thêm các thông tin liên quan đến chính sách BHYTHGĐ, đối tượng còn đang lưỡng lự về việc tham gia BHYT HGĐ
- Có mạng lưới nhân viên truyền thông đáp ứng các điều kiện về số lượng, kiếnthức, kỹ năng
Để truyền thông BHYT HGĐ của BHXH trên địa bàn tỉnhđạt hiệu lực, hiệuquả cao thì hình thức truyền thông cần đảm bảo:
Trang 26- Tiếp cận được đến đối tượng cần truyền thông
- Phù hợp với tính chất của thông điệp truyền thông
- Hấp dẫn, được người dân yêu thích
- Mức độ tin tưởng của người dân
- Mức chi phí phù hợp
- Khả năng nhân lực để triển khai
Tiêu chí so sánh giữa hình thức truyền thông trực tiếp và hình thức truyềnthông gián tiếp được thể hiện tại bàng 1.1 sau:
Bảng 1 1 Tiêu chí so sánh giữa hình thức truyền thông trực tiếp và hình thức
truyền thông gián tiếp
dễ bị khác biệt thông tin
5 Khả năng lựa chọn đối
9 Thu thập thông tin phản hồi Khó hoặc chậm Nhanh
10 Tác động thay đổi hành vi Tạo nên sự thay đổi về nhận thức, kiến thức và hành vi
Trang 271.2.7.1 Phân tích truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình của bảo hiểm xã hội tỉnh
Phân tích truyền thông BHYT HGĐ của BHXH trên địa bàn tỉnh cần tậptrung vào phân tích môi trường truyền thông; năng lực truyền thông; đối tượngtruyền thông; hình thức, công cụ truyền thông hiệu quả với từng nhóm đối tượng vàxác định thông điệp truyền thông chủ chốt cho từng nhóm đối tượng
Phân tích môi trường truyền thông của BHXH trên địa bàn tỉnh
Môi trường truyền thông cần phân tích các yếu tố đặc thù của địa phươngnhư vị trí địa lý, tình hình kinh tế, văn hóa xã hội, dân cư
Phân tích năng lực của BHXH trên địa bàn tỉnh
Năng lực của BHXH trên địa bàn tỉnh cần phân tích về nhân lực, về tàichính, về phương tiện, trang thiết bị, thực trạng các hoạt động truyền thông khảnăng phối hợp với các cơ quan khác trong truyền thông, bộ máy truyền thông Từ
đó xác định các điểm mạnh và điểm yếu của BHXH trên địa bàn tỉnh liên quan đếntriển khai các hoạt động truyền thông
Phân tích đối tượng cần truyền thông: Cần xác định nhóm đối tượng
truyền thông cho từng vấn đề truyền thông Phân tích đặc điểm từng nhóm đối tượng
truyền thông Mỗi nhóm đối tượng truyền thông cần tập trung phân tích những đặcđiểm cụ thể
Phân tích hình thức truyền thông hiệu quả với từng nhóm đối tượng và xác định thông điệp truyền thông chủ chốt cho từng nhóm đối tượng
Cần phân tích và lựa chọn ít nhất 01 hình thức truyền thông phù hợp và hiệu
quả cho từng nhóm đối tượng truyền thông và xác định trọng tâm truyền thông là
những thông tin chính về BHYT cần cung cấp cho đối tượng Trọng tâm truyềnthông là cơ sở để xây dựng và phát triển chi tiết các thông điệp để chuyển tải cáchình thức truyền thông
1.2.7.2 Xác định vấn đề truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình của bảo hiểm xã hội tỉnh
- Truyền thông nhằm mục đích hỗ trợ giải quyết các vấn đề nổi cộm về
Trang 28BHYT Vì vậy, vấn đề truyền thông về BHYT chính là vấn đề nổi cộm cần phải ưutiên giải quyết trong BHYT.
- Cơ sở dữ liệu cho xác định vấn đề truyền thông về BHYT phải được lấy từcác nguồn thông tin chính thức như báo cáo thực trạng về và BHYT, báo cáo đánhgiá thực hiện và báo cáo giám sát hàng năm về BHYT
- Một bản kế hoạch truyền thông chỉ nên tập trung giải quyết một hoặc mộtvài vấn đề truyền thông về BHYT Vì vậy, cần lựa chọn vấn đề truyền thông cần ưutiên giải quyết
- Lựa chọn vấn đề truyền thông BHYT HGĐ ưu tiên theo thứ tự sau:
+ Thứ nhất, liệt kê tất cả các vấn đề truyền thông về BHYT HGĐ
+ Thứ hai, thảo luận với lãnh đạo đơn vị xem vấn đề truyền thông nào vềBHYT HGĐ cần ưu tiên giải quyết để đưa vào kế hoạch
1.2.7.3 Lập kế hoạch truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình của bảo hiểm
xã hội tỉnh
Lập kế hoạch truyền thông BHYT HGĐ của BHXH trên địa bàn tỉnh vớimục đích là hoàn chỉnh bản kế hoạch đầy đủ về truyền thông BHYT, làm cơ sở cho
tổ chức thực hiện, theo dõi giám sát và đánh giá
Yêu cầu đối với công tác lập kế hoạch: Kế hoạch truyền thông phải theođúng các mục tiêu quản lý BHYT, phù hợp các chương trình, kế hoạch truyền thôngchung của toàn ngành BHXH Kế hoạch truyền thông được lập định kỳ hàng năm,đảm bảo tính kịp thời, hiệu quả, phù hợp với điều kiện cụ thể tại cơ quan BHXH cáccấp và tình hình thực tế tại địa phương
Lập kế hoạch theo các bước sau:
Bước 1: Phân tích các căn cứ lập kế hoạch:
Bước 2: Phân tích năng lực của BHXH trên địa bàn tỉnh: về nhân lực, về tàichính, về phương tiện, trang thiết bị, thực trạng các hoạt động truyền thông BHYTHGĐ, khả năng phối hợp với các cơ quan khác trong truyền thông, bộ máy truyềnthông, hỗ trợ Từ đó xác định các điểm mạnh và điểm yếu của của BHXH trên địabàn tỉnh liên quan đến triển khai các hoạt động truyền thông BHYT HGĐ
Trang 29Bước 3: Xác định mục tiêu truyền thông BHYT HGĐ
Mục tiêu bao gồm:
- Mục tiêu chung là đảm bảo người dân hiểu chính sách và tự giác tham giaBHYT HGĐ
- Mục tiêu cụ thể là tăng số lượng người tham gia BHYT HGĐ
Bước 4: Lập mẫu kế hoạch truyền thông và khung hoạt thực hiện hoạt độngtruyền thông cụ thể đã thống nhất của ngành Bảo hiểm xã hội:
- Mẫu kế hoạch truyền thông
Bảng 1 2 Mẫu kế hoạch truyền thông BHYT HGĐ của ngành BHXH
1 Tiêu đề kế hoạch Cụm chủ ngữ; Có vấn đề truyền thông; Có địa điểm và thời
Mỗi nhóm đối tượng truyền thông vận động và truyền thônghuy động xã hội chỉ nên xây dựng một mục tiêu về thay đổihành động của họ để hướng tới hỗ trợ cho thay đổi hành vi củađối tượng đích
Một mục tiêu hoàn chỉnh phải đảm bảo các 5 yêu cầu sau:
- Cụ thể: Mỗi mục tiêu chỉ tập trung cần đạt được thay đổi ởđối tượng một khía cạnh
- Đo lường được: Kết quả thay đổi của đối tượng truyềnthông trong mục tiêu phải đo lường được.Vì vậy, kết quả cầnđạt trong mục tiêu nên ghi bằng số
Trang 30STT Nội dung Hoàn thiện nội dung
- Có thể đạt được: Ước tính kết quả mong muốn đạt đượctrong mục tiêu ở con số có thể đạt được, tránh đặt ra ở mứcquá cao
- Thực tế: Phải bám sát thực trạng đối tượng và khả năngnguồn lực
- Giới hạn thời gian cần đạt được kết quả mong muốn trongmục tiêu
- Liệt kê tên địa bàn thực hiện truyền thông, địa bàn gồm baonhiêu thôn, tổ, bản
- Liệt kê thời gian tổng thể thực hiện kế hoạch truyền thông
là bao lâu, từ khi nào đến khi nào
7 Tổng kinh phí - Liệt kê tổng kinh phí thực hiện kế hoạch truyền thông
(Nguồn: Theo mẫu hướng dẫn của trung tâm truyền thông BHXH Việt Nam)
Trang 31- Khung thực hiện hoạt động truyền thông cụ thể Bảng 1 3 Mẫu khung thực hiện hoạt động truyền thông cụ thể
TT Hoạt động truyền thông
Đối tượng truyền thông
Chỉ tiêu truyền thông
Đơn vị thực hiện truyền thông
Đơn vị theo dõi
và giám sát truyền thông
Địa điểm truyền thông
Thời gian truyền thông
Kinh phí truyền thông
I Truyền thông thay đổi hành vi Đối
tượngcủahoạtđộngtruyềnthôngBHYTHGĐ
Chỉtiêu cầnthựchiệntruyềnthôngBHYTHGĐ
Ai chịutráchnhiệmthựchiệntruyềnthôngBHYTHGĐ
Ai chịutráchnhiệmtheo dõi
và giámsáttruyềnthôngBHYTHGĐ
ĐịađiểmthựchiệnhoạtđộngtruyềnthôngBHYTHGĐ
Thựchiệntruyềnthôngtrongbao lâu,vàothờigiannào
Kinhphí cầnthựchiệnchohoạtđộngtruyềnthôngBHYTHGĐ
là baonhiêu
1 Hình thức truyền thông trực tiếp
2 Hình thức truyền thông gián tiếp
II Truyền thông huy động xã hội
1 Hình thức truyền thông trực tiếp
2 Hình thức truyền thông gián tiếp
III Truyền thông vận động
1 Hình thức truyền thông trực tiếp
2 Hình thức truyền thông gián tiếp
IV Theo dõi, giám sát
Tổng kinh phí truyền thông
(Nguồn: Theo mẫu hướng dẫn của trung tâm truyền thông BHXH Việt Nam)
Bước 5, Quyết định và văn bản hóa kế hoạch: BHXH trên địa bàn tỉnh tổnghợp mẫu kế hoạch và khung thực hiện, lựa chọn các phương án phù hợp nhất rồi
đưa vào ban hành kế hoạch thực hiện truyền thông năm
1.2.7.4 Thực hiện kế hoạch truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình của bảo hiểm xã hội tỉnh
Căn cứ vào văn bản kế hoạch truyền thông đã ban hành, BHXH trên địa bàntỉnh tổ chức thực hiện truyền thông với những hoạt động cơ bản:
- Ban hành văn bản hướng dẫn hoặc tập huấn: Sau khi ra văn bản thực hiện
kế hoạch truyền thông, BHXH trên địa bàn tỉnh sẽ ra văn bản hướng dẫn hoặc tổ
chức tập huấn cho các cán bộ truyền thông của BHXH trên địa bàn tỉnh
- Tạo động lực: được hiểu là tất cả các biện pháp của BHXH tỉnh áp dụngnhằm tạo ra động lực cao trong hoạt động truyền thông Cụ thể là ban hành văn bản
Trang 32thi đua, khen thưởng, các văn bản quy định việc chi tiền thưởng, phụ cấp, trợ cấp,hoa hồng, dịch vụ ăn ở, đi lại, đào tạo và phát triển trong việc thực hiện công táctruyền thông theo kế hoạch đã ban hành.
- Vận hành ngân sách truyền thông: Căn cứ vào ngân sách truyền thông đãđược cấp theo chương trình truyền thông, BHXH trên địa bàn tỉnh sẽ tiến hành phân
bổ theo kế hoạch đã lập
- Phối hợp truyền thông: Căn cứ vào kế hoạch truyền thông, BHXH trên địabàn tỉnh sẽ tiến hành công tác phối hợp với các đơn vị liên quan đến công tác truyềnthông có trong kế hoạch
- Giải quyết xung đột truyền thông: Xung đột là sự bất đồng giữa hai haynhiều bên giữa các cá nhân, các nhóm, các đơn vị Xung đột xảy ra bất kỳ khi nàomột hành động nào đó của một bên được cho là ảnh hưởng hay can thiệp đến mụctiêu,các nhu cầu hoặc các hành động của bên kia Tùy vào tình hình thực tế BHXHtỉnh sẽ giải quyết xung đột bằng phương pháp hiệu quả nhất
- Đàm phán trong truyền thông: là một cuộc đối thoại giữa BHXH với cácbên liên quan trong công tác truyền thông để bàn bạc với nhau về những vấn đề đôibên cùng quan tâm (khối lượng công việc, kinh phí, thời gian thực hiện) nhằm tìm
ra một giải pháp mà các bên có thể chấp nhận được
1.2.7.5 Theo dõi, giám sát và đánh giá truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình của bảo hiểm xã hội tỉnh
- Đây là công theo dõi và giám sát truyền thông hỗ trợ nội bộ của BHXH trênđịa bàn tỉnh nhằm mục đích hỗ trợ trợ và đảm bảo các hoạt động được triển khai vàthực hiện theo đúng kế hoạch
- Phải lập kế hoạch theo dõi và giám sát cụ thể trước khi thực hiện theo dõi
và giám sát Kế hoạch theo dõi và giám sát phải bám sát các hoạt động đã xây dựngtrong kế hoạch
- Cần thực hiện kết hợp cả hai hình thức liên tục và định kỳ
- Có can thiệp hỗ trợ ngay trong khi theo dõi và giám sát hỗ trợ Sử dụng cácbảng kiểm phù hợp khi giám sát các hoạt động truyền thông trực tiếp tại cộng đồng
Trang 33- Có báo cáo đánh giá chia sẻ giữa các bộ phận ngay sau khi kết thúc đợt
giám sát
Trong quá trình thực hiện, căn cứ vào tình hình thực tế phát sinh tại địaphương, kế hoạch công tác truyền thông cần có sự thay đổi, BHXH trên địa bàn tỉnhthực hiện điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với yêu cầu và tình hình thực tế
1.2.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến truyền thông bảo hiểm y tế hộ gia đình tại bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh
1.2.8.1 Các yếu tố của bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh
Cơ sở vật chất của bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh
Về cơ sở vật chất của BHXH trên địa bàn tỉnh Hiện nay, việc ứng dụng khoahọc công nghệ đã trở nên phổ biến trên mọi ngành nghề lĩnh vực Bảo hiểm cũngnhư bất kỳ mọi lĩnh vực khác, đây là một ngành hết sức phức tạp, số liệu và thôngtin nhiều, cần phải xây dựng một hệ thống thống nhất, xử lý số liệu nhanh chóng,chính xác vì vậy nếu được trang bị máy móc hiện đại có thể thay một bộ phận lớn
về con người để làm các công việc phức tạp này sẽ tiết kiệm được thời gian, chi phí
mà lại đạt hiệu quả cao Bộ phận truyền thông và hỗ trợ là bộ phận hết sức quantrọng, vì nó trực tiếp nói chuyện, giải đáp những vướng mắc của người dân Việcnhận thông tin, xử lý nhanh, chính xác, là một vấn đề hết sức quan trọng của bộphận này, vậy để đáp ứng vấn đề đó được hay không, là do sự phát triển công nghệthông tin ngành Nếu BHXH trên địa bàn tỉnh được trang bị máy móc hiện đại sẽgiúp con người giải quyết được một số lượng công việc đáng kể, nhanh chóng giúpcho việc truyền thông, hỗ trợ được thuận lợi hơn mọi yêu cầu về giải đáp sẽ đượctrả lời nhanh hơn
Sự quan tâm của lãnh đạo BHXH trên địa bàn tỉnh
Truyền thông có vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển đối tượngtham gia BHYT HGĐ, nếu lãnh đạo BHXH trên địa bàn tỉnh coi trọng công tácnày, ưu tiên nguồn lực, đầu tư về nội dung cho các hoạt động truyền thông thìhoạt động này sẽ được tiến hành liên tục, tạo ra những phản hồi tích cực từ ngườidân, còn nếu lãnh đạo BHXH trên địa bàn tỉnh ít quan tâm đến truyền thông thìhoạt động này sẽ không được thực hiện như mong muốn và không được chia sẻ
Trang 34ưu tiên nguồn lực.
Năng lực của đội ngũ cán bộ BHXH trên địa bàn tỉnh
Số lượng, chất lượng, trình độ,… của cán bộ truyền thông Trong bất kì hoạtđộng nào thì nhân tố con người đều đóng vai trò quan trọng, nó ảnh hưởng không íttới vấn đề truyền thông Nếu một BHXH trên địa bàn tỉnh có số lượng nhân viênnhiều, trình độ chuyên môn cao, có tinh thần nhiệt huyết, khả năng truyền đạt tốt,thái độ ứng xử nhẹ nhàng, thân thiện với mọi người thì hiệu quả của công tác truyềnthông, hỗ trợ sẽ tăng lên và ngược lại Bởi người dân khi được truyền thông trựctiếp đều mong muốn được được hướng dẫn, tư vấn, giải đáp mọi thắc mắc một cách
dễ hiểu nhất, nhanh nhất với thái độ thân thiện, hòa nhã Điều này làm cho ngườidân có thái độ tích cực hơn và dần thay đổi thái độ cũng như sự nhận thức của họ vềquyền và nghĩa vụ tham gia BHYT HGĐ của mình Làm tốt điều này cũng chính làlàm tốt công tác truyền thông BHYT HGĐ
Ứng dụng công nghệ thông tin của BHXH trên địa bàn tỉnh
Việc tích cực cập nhật, áp dụng những tiến bộ trong ứng dụng công nghệthông tin trong hoạt động truyền thông sẽ giúp cung cấp được nhiều thông tin mộtcách nhanh chóng hiệu quả cho người dân, giảm bớt nguồn nhân lực thực hiện vàtạo sự thuận lợi trong việc truyền thông BHYT HGĐ , Ngược lại, nếu ứng dụngthông tin của BHXH trên địa bàn tỉnh kém hiệu quả sẽ gây ra những kết quả tiêucực trong hoạt động truyền thông
Kinh phí cho hoạt động truyền thông
Nếu BHXH trên địa bàn tỉnh dành đủ và ưu tiên kinh phí thì công táctruyền thông sẽ được triển khai một cách thường xuyên, đồng bộ, sâu rộng và cảithiện chất lượng các hình thức truyền thông Nếu thiếu nguồn lực và kinh phí hạnhẹp thì công tác truyền thông sẽ bị hạn chế, không đáp ứng kịp thời những thayđổi của luật BHYT, các chính sách, thủ tục hành chính liên quan và yêu cầu củangười dân
Sự phối hợp giữa BHXH trên địa bàn tỉnh và các đơn vị có liên quan
Việc cung cấp hoạt động truyền thông hỗ trợ về thuế đương nhiên do cơ quan
Trang 35thuế đảm nhiệm Nhiệm vụ này được quy định rõ trong các quyết định quy định vềchức năng, nhiệm vụ của cơ quan thuế các cấp Hoạt động truyền thông hỗ trợ vềthuế là một trong số các hoạt động hành chính công mà cơ quan thuế cung cấp choNNT bên cạnh hoạt động đăng ký thuế, cấp phát ấn chỉ thuế, hoàn thuế, miễn thuế,giảm thuế, xác nhận nghĩa vụ thuế, Cơ quan thuế cần biết phối hợp với các báo, đài,
Ủy ban Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, Đảng ủy, Bộ tài chính, các hội nghề nghiệp, banquản lý chợ, tổ khu phố, cùng truyền thông pháp luật thuế sâu rộng đến các đối tượng
1.2.8.2 Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài BHXH tỉnh
Yếu tố chính trị pháp lý
Vai trò của nhà nước trong việc cung cấp an sinh xã hội nói chung, BHYT nóiriêng hết sức quan trọng Thực chất BHYT cũng được coi là một hàng hóa công haynói cách khác cũng là một hàng hóa dịch vụ mà khu vực tư nhân không thể đảmnhiệm thực hiện được đầy đủ Chỉ có Chính phủ mới có thể đưa ra những chính sáchkhuyến khích phù hợp và ảnh hưởng để hỗ trợ người dân tham gia BHYT Để thựchiện vai trò và mục tiêu đó, Nhà nước sẽ ban hành các chính sách, cơ chế thực hiệnchính sách BHYT phù hợp điều kiện kinh tế xã hội trong từng giai đoạn Ở ViệtNam, Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đại diện
và vì quyền lợi của nhân dân lao động, luôn coi con người là chủ thể, nguồn lực chủyếu và là mục tiêu của sự phát triển, do vậy Nhà nước ta đặc biệt quan tâm mục tiêu
an sinh xã hội và xác định quan điểm phát triển: Tăng trưởng kinh tế phải kết hợphài hoà với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừngnâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân (Dương Thị Hồng Khánh Vân, 2011)
Yếu tố kinh tế
Là một trong những nhân tố quan trọng tác động đến công tác tham giaBHYT HGĐ Theo tháp nhu cầu của Maslow, nhu cầu được bảo hiểm của conngười chỉ được nghĩ đến khi những nhu cầu cần thiết về ăn, mặc, ở đã được đảmbảo Vì vậy, chỉ khi nào kinh tế xã hội phát triển, đời sống vật chất của mọi ngườidân trong xã hội được cải thiện thì chính sách BHYT mới phát huy được vai trò tolớn của mình Khi kinh tế phát triển, số lượng người lao động có việc làm sẽ tănglên do có sự mở rộng về quy mô sản xuất xã hội Từ đó làm cho đối tượng thuộc
Trang 36diện tham gia BHYT HGĐ không ngừng được tăng lên Người lao động không vìlợi ích kinh tế trước mắt mà tìm mọi cách né tránh chính sách xã hội thiết thực này.
Yếu tố văn hóa xã hội
Có thể nói, một địa phương có trình độ dân trí cao, văn hóa xã hội phát triển,khả năng có thể tiếp cận với thông tin, khoa học - kỹ thuật của người dân dễ dàng sẽtạo điều kiện thuận lợi cho các chính sách xã hội phát triển, đi sâu vào đời sốngngười dân hơn so với một địa phương có trình độ dân trí kém phát triển Đối vớichính sách BHYT HGĐ, trong điều kiện trình độ nhận thức của người dân tiến bộthì việc đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống cũng trở nên đơn giản hơn rất nhiều.Người dân nhanh chóng nắm bắt được ý nghĩa to lớn của chính sách, chế độ BHYTthông qua công tác thông tin truyền thông của ngành BHXH Khi nhận thức của đại
bộ phận người dân, đặc biệt là người lao động được nâng lên rõ rệt sẽ tác động tíchcực đến công tác truyền thông BHYT HGĐ Do nhiều người dân có trình độ văn hóathấp, lại là lao động chiếm số đông tập trung ở nông thôn, nhiều HGĐ ở vùng xa xôi,điều kiện tiếp cận với thông tin và khoa học ít, công tác truyền thông và tổ chức thựchiện của các cấp chính quyền, đoàn thể cơ sở và cơ quan BHXH làm chưa tốt, chưatruyền thông trức tiếp được đến với người dân, do đó hiểu biết và nhận thức của ngườidân về chính sách BHYT nói chung và BHYT HGĐ nói riêng còn rất hạn chế
Hệ thống công nghệ thông tin và truyền thông
Là một tập hợp có cấu trúc các trang thiết bị phần cứng, phần mềm, cơ sở dữliệu và hệ thống mạng để sản xuất, truyền nhận, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổithông tin Công nghệ thông tin giờ đây đã có mặt ở nhiều phương diện trong cuộcsống hàng ngày của chúng ta từ thương mại đến giải trí và thậm chí cả văn hóa.Ngày nay, điện thoại di động, máy tính để bàn, thiết bị cầm tay, thư điện tử và việc
sử dụng internet đã trở thành tâm điểm trong văn hóa và cộng đồng của chúng ta.Một bất lợi là những người thuộc thế hệ trước đây khó mà bắt kịp với những thayđổi của công nghệ ngày nay Sự phản kháng với thay đổi và không có khả năng theokịp với sự tiến hóa nhanh chóng của công nghệ cần được chú ý Nhiều người trong
xã hội không có điều kiện để tận hưởng công nghệ hiện có Lý do có thể là sự nghèokhó, vị trí địa lý hoặc thiếu tiếp cận với công nghệ ảnh hưởng hưởng đến việc
Trang 37truyền thông BHYT HGĐ.
Người tham gia BHYT
Số gia đình có số thành viên từ 4 - 10 người chiếm tỷ lệ chủ yếu Mặc dùchính sách hỗ trợ giảm mức đóng cho các thành viên trong cùng HGĐ là rất tốt, đãgiảm đáng kể mức đóng khi các HGĐ tham gia BHYT Xong do số người trên mộtHGĐ nhiều, nhiều HGĐ phải lo công ăn việc làm, kinh tế phục vụ cho cuộc sốnghàng ngày của họ, do vậy đã tác động đến việc có điều kiện để tham gia BHYT chotất cả thành viên HGĐ
Về tổ chức cung ứng dịch vụ y tế
Một trong những vướng mắc lớn nhất của quá trình thực hiện chính sách
BHYT trong nhiều năm qua là những hạn chế trong khả năng đáp ứng của hệ thốngcung ứng dịch vụ ở một số cơ sở KCB đặc biệt là tuyến xã, chưa đáp ứng được nhucầu chăm sóc sức khỏe cho người tham gia BHYT Những hạn chế đó dẫn tới sựchưa hài lòng của các bên tham gia BHYT, nhất là làm giảm niềm tin của người dânđối với chính sách BHYT
Mạng lưới chăm sóc ban đầu chưa thỏa mãn nhu cầu tiếp cận dịch vụ y tếthuận lợi và có chất lượng Ở khu vực nông thôn, trạm y tế xã là điểm tiếp cận gầndân nhất, nhưng đa số y - bác sĩ ở xã ít có thời gian và thiếu điều kiện (chuyên môn,trang bị kỹ thuật, thuốc) để chăm sóc, khám, chữa bệnh cho người có BHYT Điềunày càng rõ hơn khi cần chăm sóc, theo dõi các bệnh không lây truyền ở tuyến xã
Đa số người tham gia BHYT phải đến các bệnh viện tuyến trên để đạt được mụctiêu về chất lượng dịch vụ;
Khám, chữa bệnh vượt tuyến dẫn tới sự quá tải ở tuyến trên (bệnh viện tỉnh,đặc biệt là các bệnh viện trung ương) và sự tốn kém của người tham gia BHYT phảigánh chịu các chi phí không chính thức và chi phí cơ hội lớn ở tuyến trên; nhữngchi phí này thường lớn hơn so với chi phí được BHYT chi trả;
Những quy định trong thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT tiếp tụctạo ra một số bất cập mới trong phục hồi chi phí Việc áp dụng trần thanh toánquỹ khám, chữa bệnh của số người đăng ký khám, chữa bệnh tại cơ sở y tế đốivới chi phí khám, chữa bệnh tại cơ sở y tế đó và chi phi phát sinh của bệnh nhân
Trang 38tại cơ sở y tế tuyến trên dẫn tới tình trạng cơ sở y tế bắt buộc phải hạn chế quyềnlợi của bệnh nhân và hạn chế chuyển bệnh nhân BHYT đi khám, chữa bệnh tạicác cơ sở y tế khác
Về thủ tục KCB BHYT
Khác với người bệnh tự đóng viện phí, người bệnh có thẻ BHYT khi KCBphải có thêm các thủ tục hành chính liên quan đến xác nhận đối tượng vào KCB,xác nhận được sử dụng dịch vụ y tế để làm căn cứ thanh toán BHYT và các thủ tụccủa các bên liên quan trong việc tổng hợp, thanh toán chi phí KCB BHYT
Người bệnh có thẻ BHYT khi đến KCB phải làm các thủ tục hành chính liênquan đến BHYT như: Xuất trình thẻ BHYT, giấy tờ tùy thân có ảnh, các giấy tờ liênquan đến KCB đối với trẻ em dưới 6 tuổi (khi chưa có thẻ BHYT); giấy giới thiệuchuyển viện, hồ sơ chuyển viện hoặc giấy hẹn khám lại theo yêu cầu điều trị của cơ
sở KCB, nộp thẻ và nhận lại thẻ BHYT, để thanh toán chi phí KCB BHYT phải cóxác nhận của cơ sở cung cấp dịch vụ, xác nhận của cơ quan BHXH…
Nhiều thủ tục phiền hà (nộp tiền tạm ứng khi vào nhập viện, xếp hàng chờđợi để nhận lại tiền mặc dù đã có BHYT; phải xin giấy giới thiệu của cơ sở y tếtuyến dưới, mặc dù có chỉ định tái khám để theo dõi điều trị tiếp ở tuyến trên; xin cơquan BHXH chứng nhận thời gian tham gia BHYT liên tục để được hưởng một sốquyền lợi BHYT …);
Những điều đó đẫn đến tình trạng người dân không muốn tham gia BHYT
Trang 39CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG BẢO HIỂM Y TẾ HỘ GIA ĐÌNH TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA GIAI ĐOẠN 2015-2017
2.1 Thực trạng bảo hiểm y tế hộ gia đình tại tỉnh Sơn La giai đoạn 2015-2017
2.1.1 Giới thiệu về tỉnh Sơn La
Vị trí địa lý: Sơn La là tỉnh miền núi cao ở phía Tây Bắc, có diện tích
14.125 km² Phía bắc giáp tỉnh Lai Châu, Yên Bái; phía đông giáp tỉnh Phú Thọ,Hoà Bình; phía tây giáp tỉnh Điện Biên; phía nam giáp tỉnh Thanh Hoá và nướcCộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào
Về dân số: dân số năm 2017 là 1.233.649 người, với 12 dân tộc cùng
sinh sống, trong đó dân tộc Thái chiếm 54%, dân tộc Kinh 18%, dân tộc Mông12%, dân tộc Mường 8,4%, dân tộc Dao 2,5%, còn lại là các dân tộc: Khơ Mú,Xinh Mun; Kháng, La Ha, Lào, Tày và Hoa Số người trong độ tuổi lao động642.700 người, lao động tham gia hoạt động kinh tế thường xuyên khoảng561.000 người
Về kinh tế: Tỉnh có 11 huyện và 01 thành phố, có 204 xã, phường, thị trấn;
có 3.234 bản, tiểu khu, tổ dân phố; trong đó có 05 huyện nghèo, 112 xã và 1.708bản có điều kiện kinh tế - xã hội còn đặc biệt khó khăn Địa hình của tỉnh Sơn Lachia thành những vùng đất có đặc trưng sinh thái khác nhau Sơn La có hai caonguyên lớn là cao nguyên Mộc Châu và cao nguyên Nà Sản Cao nguyên Mộc Châu
có độ cao trung bình 1.050 m so với mực nước biển, mang đặc trưng của khí hậucận ôn đới, đất đai màu mỡ phì nhiêu, thuận lợi cho phát triển cây chè, cây ăn quả
và chăn nuôi bò sữa Cao nguyên Nà Sản có độ cao trung bình 800 m, chạy dài theotrục quốc lộ 06, đất đai phì nhiêu thuận lợi cho phát triển cây mía, cà phê, dâu tằm,xoài, nhãn, dứa… Sơn La có khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi, mùa đông lạnhkhô, mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều Địa hình bị chia cắt sâu và mạnh, hình thành
Trang 40nhiều tiểu vùng khí hậu cho phép phát triển một nền sản xuất nông - lâm nghiệpphong phú Cao nguyên Mộc Châu rất phù hợp với cây trồng và vật nuôi vùng ônđới Vùng dọc sông Đà phù hợp với cây rừng nhiệt đới quanh năm.
Do điều kiện thiên nhiên ưu đãi đã tạo cho Sơn La tiềm năng để phát triểncác sản phẩm nông, lâm nghiệp hàng hoá có lợi thế với quy mô lớn mà ít nơi cóđược đó là: Chè đặc sản chất lượng cao trên cao nguyên Mộc Châu, Nà Sản Là mộttỉnh có tiềm năng chăn nuôi gia súc, gia cầm, đặc biệt là đàn bò sữa đã được chănnuôi thuần hoá trên 40 năm nay đang ngày càng phát triển, mở rộng được các nhàkhoa học đánh giá là một trong những địa bàn lý tưởng để phát triển bò sữa, bò thịtchất lượng cao Nằm ở vị trí đầu nguồn của 2 con sông lớn: Sông Đà, sông Mã nênSơn La không chỉ là địa bàn phòng hộ xung yếu cho vùng đồng bằng bắc bộ và 2công trình thuỷ điện lớn nhất nước mà còn là địa bàn có tiềm năng để phát triểnrừng nguyên liệu với quy mô trên 20 vạn ha cung cấp nguyên liệu cho chế biến lâmsản, chế biến giấy, bột giấy Ngoài tiềm năng để phát triển một số cây công nghiệp,cây ăn quả, chăn nuôi gia súc ăn cỏ, phát triển rừng nguyên liệu; Sơn La còn có lợithế phát triển nhiều loại cây, con khác có giá trị kinh tế cao như trồng dâu nuôi tằm,phát triển cà phê chè, rau sạch, hoa cây cảnh, chăn nuôi gia súc, gia cầm Với tiềmnăng phát triển các sản phẩm nông nghiệp hàng hoá trên là tiền đề để cho Sơn Laphát triển các cơ sở công nghiệp chế biến nông, lâm sản như: Chế biến chè ,sữa, càphê, tơ tằm, thịt, giấy, thức ăn gia súc tham gia vào thị trường trong nước và xuấtkhẩu và phát triển kinh tế cho tỉnh
Với các lợi thế có được, tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế của tỉnh, từ đóphát triển được kinh tế tư nhân, kinh tế HGĐ, tạo được nhiều công ăn việc làm chongười lao động Đây là điều kiện thuận lợi cho người lao động phát triển kinh tế, cóđiều kiện tham gia BHYT cho bản thân và gia đình
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, Sơn La còn rất nhiều khó khăn, do địahình đồi núi dốc, chủ yếu là đất rừng, đất canh tác nông nghiệp và trồng cây chiếm
số ít, địa bàn rộng, còn nhiều vùng sâu vùng xa đi lại khó khăn, quy mô kinh tế nhỏ,đặc biệt công nghiệp chế biến các sản phẩm nông nghiệp còn hạn chế, ố doanh