1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Về Đặc Điểm Cấu Trúc Và Tái Sinh Tự Nhiên Của Một Số Thảm Thực Vật Phục Hồi Sau Nương Rẫy

103 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ÐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ HOÀNG GIANG NGHIÊN CỨU VỀ ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÁI SINH TỰ NHIÊN CỦA MỘT SỐ THẢM THỰC VẬT PHỤC HỒI SAU NƯƠNG RẪY TẠI XÃ MINH SƠN, HUYỆN

Trang 1

ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ÐẠI HỌC SƯ PHẠM

HÀ HOÀNG GIANG

NGHIÊN CỨU VỀ ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC

VÀ TÁI SINH TỰ NHIÊN CỦA MỘT SỐ THẢM THỰC VẬT PHỤC HỒI SAU NƯƠNG RẪY TẠI XÃ MINH SƠN,

HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ÐẠI HỌC SƯ PHẠM

HÀ HOÀNG GIANG

NGHIÊN CỨU VỀ ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC

VÀ TÁI SINH TỰ NHIÊN CỦA MỘT SỐ THẢM THỰC VẬT PHỤC HỒI SAU NƯƠNG RẪY TẠI XÃ MINH SƠN

HUYỆN HỮU LŨNG TỈNH LẠNG SƠN

Chuyên ngành: Sinh thái học

Mã số: 60 42 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Thị Phượng

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho bất kỳ một công trình nào

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016

Tác giả luận văn

Hà Hoàng Giang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Sinh thái học, tại khoa Sinh học Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy (cô), các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Đinh Thị Phượng - người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy (cô) khoa Sinh học, phòng Đào tạo - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn UBND xã Minh Sơn, trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Đông Bắc, Hạt Kiểm lâm huyện Hữu Lũng, Công ty Lâm nghiệp Đông Bắc, Trung tâm Khí tượng huyện Hữu Lũng đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể gia đình, bạn bè đã luôn cổ vũ, động viên tôi trong suốt thời gian qua

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016

Tác giả luận văn

Hà Hoàng Giang

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iv

LỜI CẢM ƠN v

MỤC LỤC vi

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT ix

DANH MỤC CÁC BẢNG x

DANH MỤC CÁC HÌNH xi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Những đóng góp mới của luận văn 3

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Khái niệm về thảm thực vật 4

1.1.2 Khái niệm về rừng 4

1.1.3 Khái niệm về tái sinh rừng 5

1.1.4 Khái niệm về phục hồi rừng 6

1.2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới 6

1.2.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật 6

1.2.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng 6

1.2.3 Những nghiên cứu về phục hồi rừng 8

1.2.4 Những nghiên cứu về thành phần loài 8

1.2.5 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống 9

1.3 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam 10

1.3.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật 10

1.3.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng 13

Trang 6

1.3.3 Những nghiên cứu về phục hồi rừng 16

1.3.4 Những nghiên cứu về thành phần loài 16

1.3.5 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống 18

1.4 Các nghiên cứu về thảm thực vật ở Lạng Sơn 20

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 21

2.1 Điều kiện tự nhiên 21

2.1.1 Vị trí địa lý 21

2.1.2 Địa hình 22

2.1.3 Khí hậu, thủy văn 22

2.1.4 Đất đai, thổ nhưỡng 24

2.1.5 Tài nguyên rừng 25

2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 25

2.2.1 Dân số, dân cư 25

2.2.2 Hoạt động nông - lâm nghiệp 26

2.2.4 Giáo dục, văn hóa và y tế 26

Chương 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

3.1 Đối tượng và nội dung nghiên cứu 29

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29

3.1.2 Nội dung nghiên cứu 29

3.2 Phương pháp nghiên cứu 29

3.2.1 Phương pháp điều tra 29

3.2.2 Phương pháp phân tích mẫu 31

3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 31

3.2.4 Phương pháp điều tra trong dân 33

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Đặc điểm của một số kiểu thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu 34

Trang 7

4.1.1 Đặc điểm thành phần loài 38

4.1.2 Đặc điểm thành phần dạng sống 44

4.2 Cấu trúc hình thái thực vật trong các kiểu thảm thực vật 52

4.2.1 Thảm cỏ 54

4.2.2 Thảm cây bụi 54

4.2.3 Rừng thứ sinh 55

4.3 Cấu trúc cây tái sinh trong các kiểu thảm thực vật 57

4.3.1 Đặc điểm cấu trúc tổ thành, số lượng, mật độ cây tái sinh 57

4.3.2 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao 61

4.3.3 Phân bố cây tái sinh theo chiều ngang 64

4.3.4 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 65

4.4 Đánh giá khả năng tái sinh và đề xuất các biện pháp phục hồi rừng 68

4.4.1 Đánh giá khả năng tái sinh của thảm thực vật sau nương rẫy 68

4.4.2 Đề xuất một số biện pháp thích hợp nhằm thúc đẩy quá trình phục hồi rừng 69

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71

1 Kết luận 71

2 Kiến nghị 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC 80

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

KVNC : Khu vực nghiên cứu

N : Mật độ (cây/ha) NXB : Nhà xuất bản ODB : Ô dạng bản OTC : Ô tiêu chuẩn TĐT : Tuyến điều tra TTV : Thảm thực vật QXTV : Quần xã thực vật UBND : Ủy ban nhân dân UNESCO : United Nations Educational Scientific and Cultural Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc)

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Số liệu các yếu tố khí tượng thủy văn huyện Hữu Lũng 2016 23 Bảng 4.1 Tỷ lệ phần trăm các họ, chi, loài trong các taxon ở KVNC 35 Bảng 4.2 Số lượng và tỷ lệ (%) các họ, chi, loài trong các trạng thái thảm

thực vật ở KVNC 36 Bảng 4.3 Số lượng và tỷ lệ (%) thành phần dạng sống của thực vật tại

KVNC 45 Bảng 4.4 Sự phân bố dạng sống của thực vật trong các trạng thái TTV 46 Bảng 4.5 Cấu trúc hình thái của các kiểu TTV tại KVNC 53 Bảng 4.6 Cấu trúc tổ thành, mật độ cây tái sinh của các TTV tại KVNC 58 Bảng 4.7 Mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao ở các trạng thái TTV 61 Bảng 4.8 Phân bố cây tái sinh theo chiều ngang ở các trạng thái TTV 64 Bảng 4.9 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh ở các trạng thái TTV 66

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ hành chính xã Minh Sơn 28

Hình 3.1a Đối với rừng thứ sin 30

Hình 3.1b Đối với thảm cây bụi 28

Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ các taxon trong các ngành của hệ thực vật ở KVNC 35 Hình 4.2 Biểu đồ số lượng và tỷ lệ (%) các họ, chi, loài trong các trạng thái thảm thực vật ở KVNC 36

Hình 4.3 Biểu đồ thành phần dạng sống thực vật trong KVNC 45

Hình 4.4 Đồ thị sự phân bố dạng sống của thực vật trong các trạng thái của TTV 46

Hình 4.5 Biểu đồ phổ dạng sống của thực vật tại KVNC 47

Hình 4.6 Đồ thị phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao 62

Hình 4.7 Biểu đồ chất lượng cây tái sinh tại các trạng thái TTV 66

Hình 4.8 Biểu đồ nguồn gốc cây tái sinh tại các trạng thái TTV 67

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1/3 diện tích lục địa trên thế giới được che phủ bởi rừng Bởi vậy, rừng còn được ví như “lá phổi xanh” của Trái đất Rừng có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của mỗi loài sinh vật và mỗi con người trên Trái đất Rừng là nơi cung cấp gỗ, củi, điều hòa khí hậu, là nơi cư trú của nhiều loài động - thực vật, là nơi dự trữ nguồn nước và nhiều nguồn gen quý hiếm Ngoài

ra, rừng còn có tác dụng hạn chế và ngăn chặn hạn hán, lũ lụt, gió bão, xói mòn, sạt lở… Vậy mà, nhiều năm gần đây, diện tích rừng trên Thế giới ngày càng bị thu hẹp Trong khoảng thời gian từ năm 2000 - 2012, có khoảng 2,3 triệu km2 rừng trên Trái Đất đã biến mất, gần bằng diện tích của Argentina, trong khi chỉ có khoảng 0,8 triệu km2 được phủ xanh trở lại Indonesia là nước

có tốc độ mất rừng tăng nhanh nhất, tăng hơn 50% lên tới 20.000 km2/năm vào thời điểm năm 2011 Tuy nhiên, Brazil lại là quốc gia có diện tích rừng mất đi hàng năm lớn nhất, giảm tới 50% từ mức 40.000 km2 của năm 2002 xuống còn 20.000 km2 vào năm 2010

Ở Việt Nam, theo kết quả của Viện Điều tra và Quy hoạch rừng (1995), thì trong thời gian 20 năm từ năm 1975 đến năm 1995, diện tích rừng tự nhiên giảm 2,8triệu ha Đặc biệt nghiêm trọng ở một số vùng như Tây Nguyên mất 440.000ha, vùng Đông Nam Bộ mất 308.000ha, vùng Bắc Khu IV cũ mất 243.000ha, vùng Bắc Bộ mất 242.500ha Nguyên nhân là do sau thời kỳ chiến tranh, dân địa phương tranh thủ chặt gỗ làm nhà và lấy đất trồng trọt Tình trạng đó vẫn còn đang tiếp diễn cho đến ngày nay

Từ năm 1990 đến năm 1999 chúng ta chỉ trồng được có 779.323ha thành rừng, trung bình đạt 86.591ha/năm, chiếm khoảng 36% tổng diện tích trồng rừng hàng năm, một kết quả hết sức thấp so với mong muốn Tuy nhiên, từ năm

2000 đến nay, công tác trồng rừng đạt kết quả khá hơn, hàng năm trung bình đã trồng được khoảng 130.000ha thành rừng

Trang 12

Huyện Hữu Lũng có diện tích rừng khá lớn Năm 2014, tổng diện tích rừng của huyện có khoảng 35.322,96 ha, trong đó rừng tự nhiên là 18.032,7 ha, chiếm 51,05%, đất có rừng trồng là 18.032,65 ha, chiếm 48,94% tổng diện tích rừng của huyện Rừng của Hữu Lũng trước đây thực vật, động vật đa dạng, phong phú, nhiều cây dược liệu quý và cây ăn quả đặc sản nổi tiếng Tuy nhiên, đại đa số người dân ở đây là dân tộc thiểu số, sống chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên rừng Dân số tăng, nhu cầu của con người ngày càng tăng làm cho diện tích rừng tự nhiên, các loài động, thực vật quý hiếm ngày càng khan hiếm Cùng với sự phát triển của xã hội, sự nhiệt tình của các cán bộ nông-lâm nghiệp trong việc vận động người dân trồng cây gây rừng, cải tạo và phủ xanh đất trống đồi trọc nên diện tích rừng trồng ngày càng tăng

Khoảng 10 năm trước đây người dân chủ yếu trồng cây bạch đàn Chính

vì vậy, cây bạch đàn đã thay thế gần như toàn bộ thảm thực vật của hệ sinh thái đồi núi đất ở Hữu Lũng Cây bạch đàn là loài dễ trồng, lá chứa nhiều tinh dầu,

ít kén đất tăng trưởng nhanh nhưng hấp thụ nhiều nước và dưỡng chất trong đất nên nếu trồng tập trung thành rừng thuần trên đất trống đồi trọc vô tình sẽ làm khô cằn và nghèo nàn đất đai sau một vài chu kỳ Vì thế địa phương đã hướng đến việc lập dự án tái tạo lại rừng tự nhiên Mục đích của việc này là nhằm trả lại môi trường sinh thái tự nhiên cho rừng, đồng thời giảm thiểu những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên của một số thảm thực vật phục hồi sau nương rẫy tại xã Minh Sơn, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định được đặc điểm cấu trúc và đánh giá được khả năng tái sinh tự nhiên của một số kiểu thảm thực vật phục hồi sau nương rẫy ở xã Minh Sơn, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn

Đề xuất một số biện pháp, tác động thích hợp nhằm đẩy nhanh quá trình phục hồi rừng

Trang 13

Bổ sung thêm các tư liệu về đặc điểm cấu trúc và tái sinh rừng của một

số TTV sau nương rẫy tại KVNC Góp phần làm sáng tỏ thêm quy luật tái sinh

tự nhiên của TTV

4.2 Ý nghĩa về thực tiễn

Kết quả nghiên cứu các đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên của một số TTV là cơ sở khoa học để đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh thích hợp để phục hồi rừng sau canh tác nương rẫy tại vùng nghiên cứu và đề xuất các công tác quản lý bảo vệ rừng

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Khái niệm về thảm thực vật

Thảm thực vật (vegetation) là một khái niệm được nhiều nhà khoa học

trong nước và nước ngoài đề cập đến Theo J Schmithusen (1959), thì thảm thực vật là lớp thực bì của Trái đất và các bộ phận cấu thành khác nhau của nó Theo Thái Văn Trừng (1978) 45, thảm thực vật là các quần hệ thực vật phủ trên mặt đất như một tấm thảm xanh Trần Đình Lý (1998) 31, thảm thực vật

là toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thực vật trên toàn bộ bề mặt trái đất

Vì vậy, thảm thực vật là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đối tượng cụ thể Nó chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định ngữ kèm theo như: thảm thực vật cây bụi, thảm thực vật thứ sinh, thảm thực vật nguyên sinh…

1.1.2 Khái niệm về rừng

Năm 1944, V.N Sukasốp đã phát triển học thuyết về rừng của G.F Môrôđốp đề xướng học thuyết sinh địa quần lạc Theo ông “Rừng là một sinh địa quần lạc” Sinh địa quần lạc là tổng hợp trên bề mặt nhất định của các hiện tượng tự nhiên đồng nhất (khí quyển, thảm thực vật, đá mẹ, thế giới

vi sinh vật, thế giới động vật, đất và điều kiện thủy văn) Các yếu tố tự nhiên

có vai trò thiết lập ra các mối quan hệ, cùng với các nhóm sinh vật chúng hình thành nên kiểu trao đổi chất và năng lượng đặc trưng giữa chúng với nhau và với các yếu tố tự nhiên, nó là một thể thống nhất, đang biến động và phát triển [dẫn theo 11]

Theo Đỗ Hữu Thư (1995), cho rằng sự có mặt của các loài cây gỗ có chiều cao và độ lớn nhất định Các thông số này được xác định theo tỷ lệ độ tàn che của cây gỗ có chiều cao từ 3m trở lên và độ tàn che (k), khi k < 0,3 đất chưa có rừng; k = 0,3 - 0,6 rừng thưa; k > 0,6 rừng kín [40]

Trang 15

Hiện nay, có một số nhà khoa học lâm nghiệp có đề xuất độ tàn che của cây gỗ là (k=0,1) đã đánh giá là rừng Trong đề tài chúng tôi theo quan điểm

của Đỗ Hữu Thư (1995)

1.1.3 Khái niệm về tái sinh rừng

Tái sinh rừng (forestry regeneration) là một thuật ngữ dùng để chỉ khả

năng tái tạo hay tự hồi sinh từ mức độ tế bào đến mức độ mô, cơ quan cá thể và

cả một quần lạc sinh vật trong tự nhiên

Tái sinh rừng (forestry regeneration) là một thuật ngữ được nhiều nhà

khoa học sử dụng để mô tả sự tái tạo (phục hồi) của lớp cây con dưới tán rừng Căn cứ vào nguồn giống, người ta phân chia 3 mức độ tái sinh: Tái sinh nhân tạo, nguồn giống do con người tạo ra bằng cách gieo giống trực tiếp Tái sinh bán nhân tạo, nguồn giống được con người tạo ra bằng cách trồng bổ sung các cây giống, sau đó chính cây giống sẽ là tạo ra nguồn hạt cho quá trình tái sinh Tái sinh tự nhiên: nguồn hạt (nguồn giống) hoàn toàn tự nhiên

Theo Phùng Ngọc Lan (1986), tái sinh được coi là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng Biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng

là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở các nơi có hoàn cảnh rừng Theo ông vai trò lịch sử của thế hệ cây con là thay thế thế hệ cây gỗ già cỗi Vì vậy, tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Ông cũng khẳng định: tái sinh rừng có thể hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh của một hệ sinh thái rừng [25]

Tái sinh rừng thúc đẩy việc cân bằng sinh học trong rừng, đảm bảo cho rừng tồn tại liên tục và đảm bảo việc cung cấp cho nhu cầu sử dụng rừng Do vậy, tái sinh rừng không chỉ còn là tự nhiên, kỹ thuật mà còn là vấn đề kinh tế xã hội [32]

Nguyễn Xuân Lâm (2000), tái sinh rừng là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở dưới tán rừng hoặc trên đất rừng (sau khi làm nương rẫy), thế hệ cây tái sinh này sẽ lớn dần lên và thay thế thế hệ cây già [26]

Trang 16

1.1.4 Khái niệm về phục hồi rừng

Phục hồi rừng được hiểu là quá trình tái tạo lại rừng trên những diện tích

đã bị mất Theo quan điểm sinh thái học thì phục hồi rừng là một quá trình tái tạo lại một thế hệ sinh thái mà trong đó cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu Đó

là một quá trình sinh địa phức tạp gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm thực vật cây gỗ bắt đầu khép tán [5], [6]

Để tái tạo lại rừng người ta có thể sử dụng các biện pháp khác nhau tùy theo mức độ tác động của con người: phục hồi nhân tạo (trồng rừng), phục hồi

tự nhiên và phục hồi tự nhiên có tác động của con người (xúc tiến tái sinh)

1.2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới

1.2.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật

Thái Văn Trừng (1978) [45], cho rằng hệ thống phân loại đầu tiên về thảm thực vật rừng nhiệt đới là của A.F.Schimper (1898), ông đã chia thảm thực vật thành 3 quần hệ: quần hệ thổ nhưỡng, quần hệ khí hậu và quần hệ vùng núi

H.G Champion (1936), khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - Miến Điện đã phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ đó là: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao

Năm 1973, UNESCO đã công bố một khung phân loại thảm thực vật thế giới dựa trên nguyên tắc ngoại mạo và cấu trúc, chia thảm thực vật thế giới thành 5 lớp quần hệ: lớp quần hệ rừng kín, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần hệ cây bụi, lớp quần hệ cây bụi lùn, lớp quần hệ cây thảo [57]

1.2.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành các loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố Sự tương đồng hay sự khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây gỗ lớn đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbread, 1930; Richards, 1933, 1939; Schultz, 1960; Baur, 1964; Rollet, 1969) Do tính chất phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài có giá trị thực tiễn

người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định [dẫn theo 42]

Trang 17

Van Steenis (1956), đã nghiên cứu 2 đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới: tái sinh phân tán liên tục của các cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng [58]

Các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh dựa trên hiệu quả của các cách thức xử lý lâm sinh học liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng Công trình của Bernard (1954, 1959); Wyattsmith (1961, 1963) với phương thức rừng nhiều tuổi ở Mã Lai; Taylor (1954), Jone (1960) với phương thức chặt dần tái sinh Gana; Donis

và Maudoux (1951, 1954) với công thức đồng nhất hóa tầng trên ở Zaia

Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng thông qua độ tán che của rừng, độ ẩm của đất kết cấu quần thụ, cây bụi thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng G.N Baur (1976) [1], cho rằng: sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến sự phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm và sự phát triển của cây mầm ảnh hưởng này không rõ ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây tái sinh Ở rừng nhiệt đới, tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn nhưng

số lượng loài cây có giá trị kinh tế thấp thường ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với cây tái sinh ở các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy

Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy

từ 1- 20 năm ở vùng Tây Bắc (Ấn Độ) Ramakrishnan (1981-1992) đã cho biết chỉ số đa dạng loài rất thấp, chỉ số loài ưu thế đạt đỉnh cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hóa

Những công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh rừng tự nhiên nhiệt đới đáng chú ý là công trình nghiên cứu của P.W Richards (1952), Bernard Rollet (1974) tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố cây tái sinh tự nhiên Ở Châu Phi, trên cơ sở các số liệu thu thập Taylor (1954), Barnard (1955) xác định số cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng rừng nhân tạo Các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu

Trang 18

Á như Bava (1954), Budowski (1956), Atinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế Do vậy, các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng [dẫn theo 13]

1.2.3 Những nghiên cứu về phục hồi rừng

Việc phục hồi rừng đang là vấn đề quan trọng, cấp bách và được nhiều nước trên thế giới quan tâm, phát triển mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu của cuộc sống, là vấn đề vô cùng khó khăn, đó là những thách thức đối với các nhà nghiên cứu Mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra các quan điểm và nghiên cứu khác nhau: Wadsworth (1960) khi nói về rừng trong kinh doanh, ông đã khẳng định trồng rừng thâm canh sẽ là nguồn cung cấp gỗ duy nhất có kinh tế ở các miền nhiệt đới R Catinot (1965) [8] cho rằng, vùng nhiệt đới ẩm Châu Phi sau khi khai thác có thể thay thế một quần thể rừng tự nhiên bằng rừng trồng mà vẫn mang lại hiệu quả kinh tế G Baur (1976) [1], khẳng định việc trồng rừng là cần thiết để mang lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng Nhưng nếu trồng rừng theo Wadsworth (1960) thì chỉ là giải pháp trước mắt

Bên cạnh những nghiên cứu về phục hồi rừng bằng trồng rừng thì phương thức phục hồi rừng bằng tái sinh tự nhiên được các nhà nghiên cứu quan tâm và được sử dụng rộng rãi ở Tây Ban Nha, Liên Xô (cũ) và một số nước Châu Âu khác [47]

P.W Richards (1964) [35], đã nhận định rằng: Tất cả các quần xã thực vật sinh ra từ rừng mưa nhiệt đới qua quá trình diễn thế thứ sinh như rừng thứ sinh, trảng cây bụi, trảng cỏ nếu được bảo vệ thì sau một thời gian có thể phục hồi trở lại thành rừng đỉnh cao Đây cũng là quan điểm chung của các nhà khoa học như G Baur (1976) [1], M.C Godl và M Hadley (1991) [55], H Lamprech (1989) [56],…

1.2.4 Những nghiên cứu về thành phần loài

Thành phần loài là một trong những vấn đề đã được tiến hành nghiên cứu từ lâu trên thế giới Ở Liên Xô (cũ) đã có nhiều công trình nghiên cứu của Vưsoxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1972), Sennhicop (1933), Creepva

Trang 19

(1978),… Theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt được thể hiện ở thành phần loài, thành phần dạng sống

Ramakrishnan (1981-1992), nghiên cứu thảm thực sau nương rẫy ở vùng Tây Bắc (Ấn Độ) đã khẳng định: Chỉ số đa dạng loài rất thấp, chỉ số loài ưu thế đạt cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần qua thời gian bỏ hóa

Long Chun và cộng sự (1993), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuang Bana, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) đã nhận xét: Tại Bana khi nương rẫy bỏ hóa 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hóa 19

năm thì có 60 họ, 134 chi, 167 loài [dẫn theo 41]

1.2.5 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống

Dạng sống của thực vât là sự biểu hiện về hình thái cấu trúc cơ thể thực vật thích nghi với điều kiện môi trường của nó, nên đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu từ rất sớm

I.K Patsoxki (1915), chia thảm thực vật thành 6 nhóm: Thực vật thường xanh; thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trên mặt đất trong thời kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm

G.N Vưsoxki (1915), chia thực vật thảo nguyên làm 2 lớp: Lớp cây nhiều năm và lớp cây hàng năm

Braun - Blanquet (1951), đánh giá cách mọc của thực vật dựa vào tính liên tục hay đơn độc của loài đã chia thành 5 thang: Mọc lẻ; mọc thành vạt; mọc thành dải nhỏ; mọc thành vạt lớn; mọc thành khóm lớn

Tuy có nhiều phương pháp phân loại dạng sống của thực vật nhưng phương pháp phân loại của Raunkiaer (1934) được sử dụng phổ biến hơn [dẫn theo 11] Cơ sở phân chia dạng sống của Raunkiaer là sự khác nhau về khả năng thích nghi của thực vật qua thời gian bất lợi trong năm từ tổ hợp các dấu hiệu thích nghi Raunkiaer chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở

Trang 20

đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm và ông đã chia thành 5 nhóm dạng sống cơ bản:

1 Phanerophytes (Ph): cây chồi trên mặt đất

2 Chamaectophytes (Ch): cây chồi mặt đất

3 Hemicryptophytes (He): cây chồi nửa ẩn

4 Criptophytes (Cr): cây chồi ẩn

5 Therophytes (Th): cây một năm

Ông đã xây dựng phổ chuẩn của các dạng sống ở các vùng khác nhau trên Trái Đất như sau: SB = 46Ph + 9Ch + 26He + 6Cr + 13Th

Xêrêbriacốp (1964), đưa ra bảng phân loại dạng sống mang tính chất sinh thái học hơn Raunkiaer Ngoài những dấu hiệu hình thái sinh thái Xêrêbriacốp sử dụng cả những dấu hiệu như ra quả một lần hay nhiều lần trong cả đời của cá thể để chia thành 3 ngành lớn là ngành A (thực vật thân

gỗ sống trên mặt đất, bì sinh); ngành B (cây bán mộc); ngành C (cây thảo) Trong các ngành này lại chia thành các kiểu và lớp khác nhau [dẫn theo 11]

1.3 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam

1.3.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật

Bảng phân loại đầu tiên của ngành lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực vật rừng ở Việt Nam là bảng phân loại của Cục điều tra và quy hoạch rừng (1960) Theo bảng phân loại này rừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia thành 4 loại hình lớn:

Loại 1: Đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại hình này cần phải trồng rừng

Loại 2: Gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc tỉa thưa

Loại 3: Gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh trở nên nghèo kiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ, cải tạo

Trang 21

Loại 4: Gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa bị phá hoại, cần khai thác hợp lý

Trần Ngũ Phương (1970), đưa ra bảng phân loại rừng ở miền bắc Việt nam được chia thành 3 đai theo độ cao: Đai rừng nhiệt đới mưa mùa, đai rừng á nhiệt đới mưa mùa, đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao [33]

Phan Nguyên Hồng (1970), phân chia kiểu thảm thực vật ven bờ biển miền Bắc Việt Nam thành rừng ngập mặn, rừng gỗ ven biển và thực vật bãi cát trống [19]

Thái Văn Trừng (1975), trên quan điểm sinh thái học ông đã đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt nam, theo ông, thảm thực vật rừng Việt Nam chia thành 14 kiểu: Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới; kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới; kiểu rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới; kiểu rừng kín

lá cứng hơi khô nhiệt đới; kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới, kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô nhiệt đới; kiểu trảng cây to, cây bụi, cây cỏ cao khô nhiệt đới; kiểu truông bụi gai hạn nhiệt đới; kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới; kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng, lá kim, ẩm á nhiệt đới núi thấp; kiểu rừng kín cây lá kim, ẩm ôn đới ẩm núi vừa; kiểu rừng thưa cây lá kim, hơi khô á nhiệt đới núi thấp; kiểu quần hệ khô lạnh vùng núi cao; kiểu quần hệ lạnh vùng cao [44]

Phan Kế Lộc (1985) [28], dựa trên bảng phân loại của UNESCO (1973), xây dựng thang phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 lớp quần hệ, 15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau Nguyễn Nghĩa Thìn (1994-1996), cũng đã áp dụng cách phân loại này trong những nghiên cứu của ông

Vũ Tự Lập và cộng sự (1995), cho rằng khí hậu ảnh hưởng đến sự hình thành và phân bố các kiểu thực bì thông qua nhiệt độ và độ ẩm Dựa vào mối quan hệ giữa hình thái thực bì và khí hậu chia ra 15 kiểu thực bì khác nhau: Kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa nửa rụng lá; kiểu rừng rậm nhiệt đới ẩm thường xanh; kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa rụng lá; kiểu rừng khô nhiệt đới

Trang 22

gió mùa khô rụng lá; kiểu rừng thưa nhiệt đới khô lá kim; kiểu savan nhiệt đới khô; kiểu rừng nhiệt đới khô; kiểu rừng nhiệt đới trên đất đá vôi; kiểu rừng nhiệt đới trên đất mặn; kiểu rừng nhiệt đới trên đất phèn; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm hỗn giao; kiểu rừng thưa á nhiệt đới hơi ẩm lá kín; kiểu rừng rêu á nhiệt đới mưa mùa; kiểu rừng lùn đỉnh cao [50]

Thái Văn Trừng (1998), khi nghiên cứu hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam đã kết hợp 2 hệ thống phân loại (hệ thống phân loại lấy đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thực vật dựa trên yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn) để phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5 kiểu thảm (5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (14 quần hệ) Bảng phân loại này của ông từ bậc quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973) [54]

Đặng Kim Vui (2002), nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã phân chia dạng sống thực vật dựa vào hình thái cây (cây gỗ, cây bụi, cây leo và cây cỏ), đồng thời đã xác định được có 17 kiểu dạng sống, trong đó có 5 kiểu dạng cây bụi (cây bụi; cây bụi thân bò; cây bụi nhỏ; cây bụi nhỏ thân bò; cây nửa bụi) [48]

Nguyễn Thế Hưng (2003), cũng dựa trên nguyên tắc phân loại của UNESCO (1973) đã xây dựng được 8 trạng thái thực vật khác nhau đặc trưng cho loại hình thảm cây bụi ở huyện Hoành Bồ, thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh) [22]

Lê Ngọc Công (2004), dựa trên bảng phân loại của UNESCO (1973), đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4 lớp quần hệ là: Rừng rậm, rừng thưa, trảng cây bụi và trảng cỏ [16]

Ngô Tiến Dũng (2004), dựa theo phương pháp phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973) đã phân chia thảm thực vật vườn quốc gia Yok Don thành: Kiểu rừng kín thường xanh; kiểu rừng thưa nửa rụng lá và kiểu rừng thưa cây lá rộng rụng lá, gồm 6 quần xã khác nhau [49]

Trang 23

Tuỳ vào mục tiêu quy hoạch mà cần xây dựng các phương pháp phân chia khác nhau, nhưng việc phân chia đều nhằm mục đích là làm rõ hơn các đối tượng cần quan tâm Công trình nghiên cứu của giáo sư Thái Văn Trừng (1975, 1978), đã đặt nền móng cho việc phân chia rừng tự nhiên ở nước ta một cách tổng quát Nhờ đó người quản lí hoạch định và phác hoạ được các biện pháp xử

lí lâm sinh tác động vào từng giai đoạn phát triển rừng

1.3.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng

Tái sinh rừng ở nước ta là một trong những vấn đề được quan tâm và nghiên cứu từ thập kỷ 60 của thế kỷ 20 Một số kết quả nghiên cứu về tái sinh thường được đề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật, trong các báo cáo khoa học và một phần công bố trên các tạp chí

Từ năm 1962 đến năm 1969, Viện Điều tra - Quy hoạch rừng đã điều tra tái sinh tự nhiên theo các "loại hình thực vật ưu thế" rừng thứ sinh ở Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969) và Lạng Sơn (1969) Đáng chú ý là kết quả điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu (1962-1964) bằng phương pháp đo đếm điển hình Từ kết quả điều tra tái sinh, dựa vào mật độ cây tái sinh, Vũ Đình Huề (1969), đã phân chia khả năng tái sinh thành 5 cấp: Rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu [20]

Trần Ngũ Phương (1970), khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lá rộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác động của con người khai thác hoặc làm nương rẫy, lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết quả cuối cùng là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc Nếu chúng ta để thảm thực vật hoang dã tự nó phát triển thì sau một thời gian dài trảng cây bụi, trảng cỏ sẽ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình tái sinh tự nhiên và cuối cùng rừng khí hậu sẽ có thể phục hồi dưới dạng gần giống rừng khí hậu ban đầu” [33]

Phùng Ngọc Lan (1984), khi bàn về vấn đề bảo đảm tái sinh trong khai thác rừng đã nêu kết quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng ở lâm trường Hữu

Trang 24

Lũng, Lạng Sơn Ngay từ giai đoạn nảy mầm, bọ xít là nhân tố gây ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ nảy mầm [24]

Nguyễn Vạn Thường (1991), đã tổng kết và bước đầu đưa ra kết luận về tình hình tái sinh tự nhiên ở một số khu rừng miền Bắc Việt Nam như sau: Hiện tượng tái sinh dưới tán rừng của các loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục, không mang tính chất chu kỳ Sự phân bố số cây tái sinh không đồng đều, số cây mạ

có h  20 cm chiếm ưu thế rõ rệt so với lớp cây ở các cấp có kích thước khác nhau Những loài cây gỗ mềm, ưa sáng, mọc nhanh có khuynh hướng phát triển mạnh và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh Những loài cây gỗ cứng sinh trưởng chậm chiếm tỷ lệ thấp và phân bố tản mạn, thậm chí còn vắng bóng trong thế hệ sau trong rừng tự nhiên [41]

Nguyễn Ngọc Lung và cộng sự (1993) [30], cho rằng nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên cho phép nắm vững các điều kiện cần và đủ để hướng sự can thiệp của con người đi đúng hướng Quá trình đó tuỳ thuộc vào mức độ tác động của con người mà ta thường gọi là xúc tiến tái sinh tự nhiên với mức độ cao nhất là tái sinh nhân tạo Theo các tác giả, quá trình tái sinh tự nhiên phụ thuộc vào 3 yếu tố chính sau đây:

- Nguồn hạt giống, khả năng phát tán hạt trên một đơn vị diện tích

- Điều kiện để hạt có thể nảy mầm, bén rễ (nhiệt độ, độ ẩm, thảm tươi…)

- Điều kiện để cây mạ, cây con sinh trưởng: Đất, nước, ánh sáng

Ba điều kiện đó chính là các nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh tự nhiên nói chung và tái sinh sau nương rẫy nói riêng

Năm 1993, Đinh Quang Diệp nghiên cứu tái sinh tự nhiên ở rừng khộp vùng Easup, ĐakLak đã kết luận: Độ tàn che, độ dày rậm của thảm tươi, thảm mục, lửa rừng và điều kiện lập địa là những nhân tố ảnh hưởng lớn đến số lượng và chất lượng cây tái sinh dưới rán rừng, lửa rừng là nguyên nhân gây

Trang 25

nên hiện tượng cháy chồi Quy luật phân bố cây trên mặt đất theo tác giả là khi tăng diện tích thì lớp cây tái sinh có phân bố cụm [17]

Trần Xuân Thiệp (1995), khi nghiên cứu về tái sinh tự nhiên trong rừng chặt chọn ở lâm trường Hương Sơn (Hà tĩnh) đã định lượng các cây tái sinh tự nhiên trong các trạng thái khác nhau Theo tác giả, rừng thứ sinh còn

có số lượng cây tái sinh theo 6 cấp chiều cao, cây tái sinh triển vọng có chiều cao h>1,5m [38]

Trần Đình Lý (1995, 1997) và nhiều cộng sự khi nghiên cứu về lớp cây tái sinh tự nhiên ở Phanxiphăng – Sa Pa – Lào Cai đã xác định được quy luật phân bố cây tái sinh trong vùng này [51], [52]

Trần Ngũ Phương (2000), khi nghiên cứu các quy luật rừng phát triển

tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng tự nhiên như sau: “Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu chỉ có một tầng thì trong khi nó già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện

và sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong, hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện thay thế, nhưng về sau dưới lớp thảm thục vật trung gian này sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai

và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi” [53]

Phạm Ngọc Thường (2003), khi nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên sau nương rẫy tại hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn đã cho thấy khả năng tái sinh của thảm thực vật trên đất rừng còn nguyên trạng có số lượng loài cây gỗ tái sinh nhiều nhất, chỉ số đa dạng loài của của thảm cây gỗ là khá cao [42]

Lê Ngọc Công (2004), khi nghiên cứu quá trình phục hồi bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên cho rằng giai đoạn đầu của quá trình diễn thế phục hồi rừng (giai đoạn 1- 6 năm) mật độ cây tăng lên sau đó giảm Quá trình này bị chi phối bởi quy luật tái sinh tự nhiên, quá trình nhập cư

và quá trình đào thải của các loài cây [16]

Trang 26

1.3.3 Những nghiên cứu về phục hồi rừng

Nguyễn Xuân Quát (2002), phục hồi rừng ở nước ta là vấn đề vô cùng quan trọng và cấp bách Vấn đề này được bắt đầu vào những năm 50 - 60 của thế kỷ 20 và lúc đó được gọi bằng thuật ngữ “ khoanh núi, nuôi rừng” Đến giữa những năm 80 thì việc phục hồi rừng ở nước ta được định hình và chuyển hướng theo thuật ngữ mới là “khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng” [34] Trong những năm đó Đảng và Nhà nước ta cũng đặc biệt quan tâm đến trồng rừng và nhiều chương trình trồng rừng được thực hiện như: Chương trình trồng cây phân tán, chương trình trồng rừng tập trung, chương trình PAM, chương trình 327, dự án 661 với 5 triệu ha rừng đến năm 2010,…

Lâm Phúc Cố (1994), nghiên cứu phục hồi lại rừng đầu nguồn sông Đà tại Mù Cang Chải cho rằng: Ở những nơi đất khó có thể tái sinh tự nhiên thì trồng rừng là một biện pháp kỹ thuật lâm sinh cần thiết Theo ông, đối với vùng đất nơi đó nên chọn phương thức trồng rừng hỗn giao nhiều loài với các loài cây thích nghi với điều kiện đồi núi trọc [13]

Nguyễn Tiến Bân (1997), cho rằng: Cần phải phục hồi hệ sinh thái rừng nhiệt đới bằng các loài cây bản địa để duy trì bảo vệ nguồn gen và tạo ra hệ sinh thái rừng hỗn giao bền vững [4]

Các tác giả Lê Đồng Tấn (2000) [36], Phạm Ngọc Thường (2003) [42], Nguyễn Ngọc Lung (1991) [29], cũng cho rằng: Quy luật diễn thế thứ sinh từ thảm cây tái sinh tới cao đỉnh thường diễn ra rất chậm so với các chu kỳ kinh doanh rừng Vì vậy, bằng các biện pháp lâm sinh tác động tích cực để rút ngắn giai đoạn thành rừng ổn định, bền vững và đáp ứng mục tiêu phục hồi rừng tự nhiên hỗn loài thường xanh nhiệt đới Việt Nam

1.3.4 Những nghiên cứu về thành phần loài

Hoàng Chung (1980), nghiên cứu về đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam đã công bố 233 loài thực vật thuộc 54 họ và 44 bộ [11]

Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1984), đã công bố kết quả nghiên cứu hệ thực vật ở Tây Nguyên với 3001 loài, chiếm 1/2 số loài đã biết của toàn Đông Dương [3]

Trang 27

Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993), trong công trình cây cỏ Việt Nam đã thống kê được một số loài hiện có của hệ thực vật Việt Nam là 10.500 loài [18]

Lê Mộng Chân (1994), điều tra tổ thành vùng núi cao Vườn quốc gia Ba

Vì đã phát hiện được 483 loài thuộc 323 chi, 136 họ thực vật bậc cao có mạch trong đó 7 loài được mô tả lần đầu tiên [9]

Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995), khi nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái, sinh vật học của savan Quảng Ninh và các mô hình sử dụng đã phát hiện được 60 họ thực vật khác nhau với 131 loài [21]

Lê Ngọc Công (1998), khi nghiên cứu tác dụng cải tạo môi trường của một số mô hình rừng trồng ở Quảng Ninh đã công bố danh sách thực vật gồm

211 loài, 64 họ [15]

Nguyễn Nghĩa Thìn (1998), khi tổng kết các công trình nghiên cứu về khu hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 1.373 loài thực vật bậc cao thuộc 2.524 chi, 378 họ [39]

Lê Đồng Tấn (2000), khi nghiên cứu quá trình hồi phục rừng tự nhiên sau nương rãy ở Sơn La đã kết luận: Mật độ cây giảm khi độ dốc tăng, mật độ cây giảm từ chân lên đỉnh đồi Mức độ thoái hoá đất ảnh hưởng đến mật độ, số lượng loài cây và tổ thành cây Kết quả cho thấy ở tuổi 4 có 41 loài, tuổi 10 có

56 loài, tuổi 14 có 53 loài [36]

Phạm Hồng Ban (2000) nghiên cứu tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng sau nương rãy ở vùng Tây Nam Nghệ An Tác giả đã xác định thành phần loài, mật độ cá thể và phổ dạng sống của thảm thực vật phục hồi sau nương rãy theo thời gian bỏ hóa Theo tác giả hệ thực vật sau nương rãy ở vùng đệm Pù Mat (Nghệ An) khá đa dạng về thành phần loài, gồm 586 loài thuộc

344 chi 105 họ thực vật bậc cao có mạch [2]

Đặng Kim Vui (2002), nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng sau nương rẫy

ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên cho thấy thành phần loài thực vật thay đổi theo tuổi Các cây 1 - 2 tuổi có 76 loài thuộc 36 họ, các cây 3 - 5 tuổi có 65 loài

Trang 28

thuộc 34 họ, các cây 5 - 10 tuổi có 56 loài thuộc 36 họ, các cây 11 - 15 tuổi có

57 loài thuộc 31 họ [48]

Phạm Ngọc Thường (2003), khi nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh

tự nhiên sau nương rãy ở Bắc Kạn đã kết luận quá trình phục hồi sau nương rãy chịu tác động tổng hợp của các nhóm nhân tố sinh thái như: Nguồn giống, địa hình, thoái hóa đất, con người Mật độ cây giảm theo thời gian phục hồi của thảm thực vật, cây gỗ trên đất tốt nhiều nhất 11-25 loài, trên đất xấu 8-12 loài [42]

Nguyễn Thế Hưng (2003), nghiên cứu tổ thành loài thực vật trong các trạng thái thực bì sau nương rãy ở Quảng Ninh Kết quả thu được 324 loài thuộc 251 chi 93 họ [22]

Lê Ngọc Công (2004), khi nghiên cứu quá trình hồi phục bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên đã xếp thảm thực vật tỉnh Thái Nguyên vào 4 lớp quần hệ: Lớp quần hệ rừng kín, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần hệ cây bụi, và lớp quần hệ cỏ Thành phần loài thực vật ở đây đã thống kê

sơ bộ được 654 loài thuộc 468 chi, 160 họ [16]

Vũ Thị Liên (2005) khi nghiên cứu một số thảm thực vật ở Sơn La đã thu được 452 loài thuộc 326 chi và 153 họ [27]

Trang 29

Lê Trần Chấn (1990) khi nghiên cứu đặc điểm hệ thực vật Lâm Sơn tỉnh Hòa Bình cũng phân chia hệ thực vật thành 5 nhóm dạng sống chính theo phương pháp của Raunkiaer (1934) Tuy vậy tác giả đã dùng thêm kí hiệu để chi tiết hóa một số dạng sống (a: kí sinh, b: bì sinh, c: dây leo, d: cây trồi trên thân thảo) Tác giả không xếp phương thức sống kí sinh, bì sinh vào dạng sống

cơ bản mà chỉ coi đây là những dạng phụ

Nguyễn Bá Thụ (1995), cũng phân chia dạng sống thực vật ở Vườn Quốc gia Cúc Phương theo nguyên tắc của Raunkiaer

Phạm Hồng Ban (2000) [2], nghiên cứu tính đa dạng của hệ sinh thái sau nương rãy vùng Đông Nam Nghệ An, áp dụng khung phân loại của Raunkiaer

để phân chia dạng sống, dạng phổ sống là:

SB = 67,40 Ph +7,33 Ch + 12,62 He + 8,53 Cr + 4,09 Th

Lê Đồng Tấn (2002), nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên phân chia dạng sống thực vật dựa vào hình thái cây: Cây gỗ, cây bụi, dây leo và cây cỏ Ông đã xác đinh được 17 kiểu dạng sống trong đó có 5 kiểu dạng cây bụi: Cây bụi, cây bụi thân

bò, cây bụi nhỏ, cây bụi nhỏ thân bò, cây nửa bụi

Nguyễn Thế Hưng (2003), nghiên cứu dạng sống trong trạng thái thảm thực vật thứ sinh tại Hoành Bố (Quảng Ninh) đã có kết luận: Nhóm cây chồi trên mặt đất có 196 loài chiếm 60,49% tổng số loài của toàn hệ thực vật; Nhóm cây chồi sát đất có 26 loài (chiếm 8,02%); Nhóm cây chồi nửa ẩn có 43 loài (chiếm 13,27%); Nhóm cây chồi ẩn có 24 loài (chiếm 7,47%); Nhóm cây một năm có 35 loài (chiếm 10,80%) [22]

Lê Ngọc Công (2004), khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở tỉnh Thái Nguyên đã phân loại thực vật có các dạng sống cơ bản như sau: cây gỗ, cây bụi, cây cỏ và dây leo [16]

Vũ Thị Liên (2005) [27], phân chia dạng sống trên thảm thực vật sau nương rãy ở Sơn La theo phân loại của Raunkiaer Kết quả của phổ dạng sống là:

SB = 69,66 Ph +3,76 Ch + 9,29 He + 10,84 Cr + 6,42 Th

Trang 30

1.4 Các nghiên cứu về thảm thực vật ở Lạng Sơn

Lạng Sơn là một tỉnh miền núi phía Bắc, Việt Nam Địa hình chủ yếu là đồi núi với diện tích rừng là 277.394 ha, chiếm 33,4% diện tích đất tự nhiên, trong đó, rừng tự nhiên 185.456 ha, rừng trồng 91.937 ha Thực vật ở tỉnh Lạng Sơn vô cùng phong phú và đa dạng với nhiều loài gỗ quý hiếm Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về thực vật ở tỉnh Lạng Sơn nói chung và ở các xã thuộc huyện Hữu Lũng nói riêng còn rất ít Một số công trình nghiên cứu về TTV ở Lạng Sơn là:

Nguyễn Mạnh Tường (2010) [46], “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng tinh dầu hồi tại Lạng Sơn”

Mạc Chí Thiện (2013) [37], “Nghiên cứu lượng CO2 hấp thụ của rừng trồng bạch đàn đỏ ở huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn”

Nguyễn Văn Kiên (2015) [23], “Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học rừng phục hồi bằng ô tiêu chuẩn định vị tại Hòa Bình, Lạng Sơn và Bắc Giang”

Qua các nghiên cứu tổng quan về tái sinh rừng ta thấy, tái sinh rừng là một vấn đề rộng, nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như điều kiện tự nhiên (địa hình, đất đai, thổ nhưỡng,…), điều kiện kinh tế - xã hội (dân số, hoạt động lâm nghiệp, giao thông, thủy lợi,…) và con người Hiện nay, nhiều khu vực ở nước

ta vẫn sử dụng biện pháp tái sinh tự nhiên là chủ yếu, còn biện pháp tái sinh nhân tạo mới chỉ được triển khai và áp dụng trên quy mô vừa và nhỏ Vì vậy, những nghiên cứu đầy đủ về tái sinh tự nhiên cho từng kiểu TTV cụ thể là hết sức cần thiết để kịp thời đề xuất các biện pháp kỹ thuật chính xác và hiệu quả

Trang 31

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1 Vị trí địa lý

Hữu Lũng là huyện nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Lạng Sơn, có toạ độ địa lý từ 21023’ đến 21045’ vĩ độ Bắc, từ 106010’ đến 106032’ kinh độ Đông với diện tích tự nhiên là 806,74 km2

Ranh giới của huyện:

- Phía Bắc giáp huyện Văn Quan và huyện Bắc Sơn

- Phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên

- Phía Tây Nam và Nam giáp tỉnh Bắc Giang

- Phía Đông giáp huyện Chi Lăng và huyện Lục Ngạn, Lạng Giang tỉnh Bắc Giang

Huyện Hữu Lũng có 26 đơn vị hành chính gồm 1 thị trấn Hữu Lũng và

25 xã (Đồng Tân, Cai Kinh, Hòa Lạc, Yên Vượng, Yên Thịnh, Yên Sơn, Hữu Liên, Sơn Hà, Hồ Sơn, Tân Thành, Hòa Sơn, Minh Hòa, Hòa Thắng, Minh Sơn, Nhật Tiến, Minh Tiến, Đô Lương, Vân Nham, Thanh Sơn, Đồng Tiến, Tân Lập, Thiện Kỵ, Yên Bình, Hòa Bình, Quyết Thắng) Trung tâm huyện lỵ đặt tại thị trấn Hữu Lũng, cách thành phố Lạng Sơn 70 km về phía Nam

Hữu Lũng là một huyện ở vị trí chuyển tiếp giữa vùng Trung du và miền núi phía Bắc, có đường quốc lộ 1A và đường sắt liên vận Quốc tế chạy qua theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, rất thuận tiện cho việc giao lưu hàng hoá thương mại, dịch vụ với các tỉnh trong nước, các tỉnh phía Nam Trung Quốc cũng như các nước ở phía Bắc Châu Á, tạo điều kiện thuận lợi cho Hữu Lũng trong việc giao lưu hàng hóa, tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến vào sản xuất và đời sống, là điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

Trang 32

Xã Minh Sơn nằm ở phía Tây Nam của huyện Hữu Lũng cách trung tâm huyện khoảng 4km, theo quốc lộ 1A, có diện tích 3.366ha

Ranh giới của xã:

- Phía Bắc giáp xã Nhật Tiến, huyện Hữu Lũng

- Phía Nam giáp xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

- Phía Đông giáp xã Sơn Hà, Minh Hòa, Đồng Tân, huyện Hữu Lũng

- Phía Tây giáp xã Đô Lương, huyện Hữu Lũng

Xã Minh Sơn có tuyến quốc lộ 1A đi qua trung tâm xã, từ tuyến đường này có thể liên kết dễ dàng đến trung tâm huyện Hữu Lũng và cách trung tâm kinh tế lân cận quan trọng khác như: Thành phố Lạng Sơn, thị trấn Đồng Mỏ, thị trấn Kép (tỉnh Bắc Giang),

2.1.2 Địa hình

Xã Minh Sơn nằm trong khu vực miền núi phía Đông Bắc, có địa hình bị chia cắt mạnh bởi các con suối và khe sâu với các đặc điểm chính:

- Các dải đồi chạy theo hướng Bắc Nam, thấp dần về phía Nam

- Độ cao tuyệt đối nơi cao nhất là 323m

- Độ cao tuyệt đối nơi thấp nhất là 10m

- Độ cao trung bình là 150m

- Độ dốc bình quan từ 180 – 250

Đây là điều kiện rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp, cây ăn quả, cây lâu năm và lâm nghiệp

2.1.3 Khí hậu, thủy văn

Hữu Lũng chịu sự ảnh hưởng của khí hậu vùng núi phía Bắc, khô lạnh và

ít mưa về mùa Đông, nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hè Mùa mưa kéo dài từ

Trang 33

tháng 4 đến tháng 9 và chiếm trên 80% lượng mưa cả năm Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau và chiếm trên 10% lượng mưa cả năm

Một số đặc điểm chính về khí hậu, thủy văn của huyện Hữu Lũng như sau:

Bảng 2.1 Số liệu các yếu tố khí tượng thủy văn huyện Hữu Lũng 2016

Nhiệt độ tối thiểu ( 0 C)

Độ ẩm trung bình (%)

Tổng lượng mưa (mm)

- Nhiệt độ trung bình năm: 23,3 0C

- Nhiệt độ tối cao trung bình: 33,6 0C

- Nhiệt độ tối thấp trung bình: 16,1 0C

- Độ ẩm bình quân: 81,4 %

- Tổng lượng mưa cả năm: 1360 mm

Trang 34

* Khí hậu: Xã Minh Sơn nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh

hưởng trực tiếp của khí hậu miền núi phía Bắc mang đặc điểm:

- Mùa Hè nóng ẩm mưa nhiều, mùa Đông có gió mùa Đông Bắc, sương muối giá rét và ít mưa

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm là 22,70C; nhiệt độ trung bình cao nhất 28,50C (vào tháng 7); nhiệt độ trung bình thấp nhất 150C(vào tháng 1); nhiệt độ cao nhất 390C; nhiệt độ thấp nhất 0,40C

- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm là 832,6mm Tập trung vào mùa Hè (từ tháng 4-10) với 1.349mm, chiếm 90,7% lượng mưa cả năm

- Chỉ số ẩm ướt hàng năm là 1,79

Nhìn chung khí hậu xã thuận lợi cho phát triển nông – lâm nghiệp Đặc biệt thời gian khô hạn kéo dài đúng vào dịp các loài cay lâu năm ra hoa rất thuận lợi cho việc thụ phấn và đậu quả Tuy nhiên, sự phân hó thời tiết theo mùa với những hiện tượng thời tiết như sương muối giá lạnh, gió mùa Đông Bắc khô hanh đòi hỏi phải có biện pháp phòng chống

* Thủy văn: Chế độ thủy văn của xã chịu ảnh hưởng chính của sông

Thương Ngoài ra, còn chịu ảnh hưởng bởi các suối nhỏ và ao hồ nằm rải rác trong khu dân cư Đây là nguồn cung cấp nước cho các công trình thủy lợi, phục vụ cho sản xuất nông – lâm nghiệp và sinh hoạt nhân dân địa phương

2.1.4 Đất đai, thổ nhưỡng

Đất đai của xã Minh Sơn cơ bản được chia làm 4 loại chính như sau:

- Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá mẹ macma axit, chiếm tới 70% diện tích của xã, phân bố ở phía Bắc, Tây và Nam

- Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét, chiếm tới 20% diện tích của xã, phân bố ở phía Tây và phía Đông

- Đất dốc tụ chân đồi: chiếm tỉ lệ nhỏ, phân bố rải rác

Trang 35

- Đất bồi tụ ven sông, suối: chiếm tỉ lệ nhỏ, phân bố ven sông Thương và các con suối nhỏ

Đất đai, thổ nhưỡng xã Minh Sơn rất thuận lợi cho sản xuất nông – lâm nghiệp Chủ yếu đất đai phù hợp với trồng cây lâm nghiệp, cây lâu năm

và cây ăn quả

2.1.5 Tài nguyên rừng

Xã Minh Sơn có diện tích rừng khá lớn Trong đó, tổng diện tích đất lâm ngiệp 1741,35 ha, chiếm 51,73 % diện tích đất tự nhiên Chủ yếu là rừng sản xuất với diện tích 1710,65 ha, chiếm 50,82% diện tích tự nhiên Còn lại là đất rừng phòng hộ với diện tích 30,70 ha, chiếm 0,91% tổng diện tich đất tựu nhiên Diện tích đất rừng sản xuất chủ yếu là bạch đàn và keo phục vụ cho nguyên liệu giấy và nguồn chất đốt của các gia đình

2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.2.1 Dân số, dân cư

*Dân số: Xã Minh Sơn năm 2010 có 8.388 người, số hộ là 1.806 hộ

Trong đó, nam là 4.201 người, chiếm tỷ lệ 50% dân số và nữ là 4.187 người, chiếm tỷ lệ 49% dân số

Mật độ dân số trung bình: 249,2 người/km2

Tỷ lệ tăng dân số năm 2010 là 0,71%

* Dân cư: Phân bố ở 10 thôn (Hố Mười, Coóc Mò, Cã Ngoài, Cã Trong,

Đình Bé, Đồng Diện, Lót Bồ Các, Văn Miêu, Đồn Vang, Bến Lường)

Dân cư phân bố không tập trung mà rải rác trên địa bàn xã theo điều kiện phân bố địa hình tự nhiên Đây cũng là khó khăn và thách thức lớn đối với hoạt động quản lý và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng

Trang 36

2.2.2 Hoạt động nông - lâm nghiệp

Hoạt động nông nghiệp: sản xuất vụ Đông - Xuân 2014 - 2015 gặp nhiều khó khăn do thời tiết diễn biến bất lợi (vụ Xuân ít mưa, lượng mưa nhỏ và muộn không đủ nước tưới để làm đất gieo trồng, ngoài ra còn nắng nóng và khô hạn kéo dài, nhiệt độ có thời điểm trên 370c Tuy nhiên, công tác phục vụ sản xuất được kịp thời, cung ứng giống cây trồng và vật tư phân bón, thuốc BVTV đảm bảo đủ về số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu sản xuất của nông dân Tổ chức tập huấn về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi được 22 lớp với hơn 1.200 lượt người tham dự; đã xây dựng được 06 mô hình trình diễn về giống cây trồng, vật nuôi mới để nông dân học tập làm theo

Hoạt động lâm nghiệp: công tác trồng rừng được tập trung chỉ đạo, đã trồng mới được 1.527,6 ha, bằng 101,8% kế hoạch, bằng 114% so với cùng kỳ Trồng mới cây ăn quả được 203,67 ha đạt 203,7% kế hoạch Công tác quản lý, bảo vệ rừng tiếp tục được chú trọng thực hiện, các lực lượng chức năng đã tăng cường kiểm tra, kiểm soát, tổ chức truy quét quyết liệt các đối tượng có hành vi

vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng Tổ chức tập huấn công tác xây dựng nông thôn mới cho cán bộ xã, thôn

2.2.4 Giáo dục, văn hóa và y tế

Về giáo dục: tiếp tục thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào thi đua do ngành, cấp trên phát động Các đơn vị trường giảng dạy theo đúng chương trình, định biên đề ra; thực hiện đánh giá xếp loại học sinh đúng quy định Công tác phổ cập giáo dục và xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia được quan tâm chỉ đạo, đã kiểm tra và quyết định công nhận phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi tại 25 xã, thị trấn, tăng 01

xã so với kế hoạch, toàn huyện hiện có 13 trường học đạt chuẩn quốc gia, đang đề nghị tỉnh kiểm tra công nhận trường Tiểu học 2 Minh Sơn đạt chuẩn quốc gia mức độ 1

Trang 37

Về văn hóa: thực hiện tốt công tác quản lý văn hoá trên địa bàn, tiến hành kiểm tra các hoạt động văn hóa, phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Người dân chú trọng việc xây dựng nếp sống văn minh tại khu vực sinh sống, xóa bỏ các quan điểm, tập tục lạc hậu

Về y tế: tiếp tục thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, chủ động làm tốt công tác tuyên truyền, phòng chống dịch bệnh, giám sát chặt chẽ các bệnh truyền nhiễm Thực hiện tốt Dự án tiêm chủng mở rộng cho các đối tượng và các chương trình mục tiêu về y tế Công tác truyền thông Dân số - Kế hoạch hoá gia đình vẫn tiếp tục được triển khai tại cơ sở và thực hiện tốt

Nhìn chung, xã Minh Sơn, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn có nền kinh

tế tương đối phát triển so với các xã khác trong khu vực do có điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội tương đối thuận lợi:

Có vị trí địa lý thuận lợi, giao thông thuận tiện, kết cấu hạ tầng hiện đại

Có mạng lưới sông ngòi phát triển, khí hậu có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô nên thành phần loài thực vật cũng phong phú và đa dạng Diện tích rừng khá lớn, thành phần loài nhiều, có nhiều loài cây gỗ và dược liệu quý có giá trị kinh tế cao Các hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp được quan tâm và đầu tư về kỹ thuật Các vấn đề về giáo dục, văn hóa, y tế cũng ngày càng được quan tâm, đầu tư về cơ sở vật chất, dân trí được nâng cao, người dân bắt đầu có

ý thức trong việc bảo vệ môi trường sinh thái

Tuy nhiên, còn có những khó khăn, hạn chế như: Địa hình chủ yếu là núi

đá, dốc, phức tạp, bị chia cắt bởi các dãy núi đá vôi và các dãy núi đất

Đất đai chủ yếu là đất đỏ vàng, đất sét,… khó canh tác nương rẫy và trồng rừng Do vậy, diện tích đất chưa được sử dụng còn nhiều Dân số khá đông tuy nhiên trình độ đào tạo còn thấp, lao động chủ yếu là hoạt động

Trang 38

trong ngành nông - lâm nghiệp, thu nhập thấp, các hoạt động trong ngành dịch vụ chưa được mở rộng Tuy trình độ giáo dục và văn hóa dần được nâng cao nhưng ở một số nơi vùng sâu, vùng xa, dân cư thưa thớt trình dộ dân trí còn thấp, còn nhiều hủ tục lạc hậu, chưa chịu tiếp thu nền văn hóa, văn minh tiên tiến

Hình 2.1 Bản đồ hành chính xã Minh Sơn

(Nguồn: UBND xã Minh Sơn)

Trang 39

Chương 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và nội dung nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Một số kiểu thảm thực vật tái sinh tự nhiên phục hồi sau nương rẫy:

- Thảm cỏ (thời gian phục hồi 1-3 năm)

- Thảm cây bụi (thời gian phục hồi 4-8 năm)

- Rừng thứ sinh (thời gian phục hồi 9-17 năm)

3.1.2 Nội dung nghiên cứu

Đặc điểm của một số kiểu thảm thực vật tại KVNC

- Đặc điểm thành phần loài

- Đặc điểm thành phần dạng sống

Cấu trúc hình thái thực vật trong các kiểu TTV

Cấu trúc cây tái sinh trong các kiểu TTV

- Đặc điểm cấu trúc tổ thành, số lượng, mật độ cây tái sinh

- Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao

- Phân bố cây tái sinh theo chiều ngang

- Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh

Đánh giá khả năng tái sinh và đề xuất các biện pháp phục hồi rừng

- Đánh giá khả năng tái sinh của TTV sau nương rẫy

- Đề xuất các biện pháp thích hợp nhằm thúc đẩy quá trình phục hồi rừng

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp điều tra

Để thu thập số liệu chúng tôi thực hiện phương pháp điều tra theo tuyến

và theo ô tiêu chuẩn của Hoàng Chung (2008) [11] như sau:

Trang 40

3.2.1.1 Phương pháp điều tra theo tuyến

Trước hết là xác định địa điểm nghiên cứu, căn cứ vào bản đồ của khu vực lập các tuyến điều tra (TĐT) TĐT đầu tiên có hướng vuông góc với đường đồng mức, các tuyến sau song song với tuyến đầu Khoảng cách giữa các tuyến

là 50 - 100m tùy vào địa hình cụ thể của từng quần xã Dọc tuyến điều tra bố trí các ô tiêu chuẩn (OTC) và các ô dạng bản (ODB) để thu thập số liệu Trên TĐT thống kê tất cả thành phần loài, thành phần dạng sống, giá trị sử dụng của các loài Những loài chưa biết tên lấy mẫu về phòng thí nghiệm để định loại

3.2.1.2 Phương pháp điều tra theo ô tiêu chuẩn

Để thu thập số liệu thảm thực vật được chính xác hơn, chúng tôi áp dụng OTC có diện tích 400m2 (20m x 20m) đối với rừng tái sinh, diện tích 100m2(10m x 10m) đối với thảm cây bụi và 10m2 đối với thảm cỏ Trong OTC lập các ODB có diện tích 25m2 (5m x 5m) đối với rừng tái sinh, 4m2 (2m x 2m) đối với thảm cây bụi và thảm cỏ là 1m2 để thu thập số liệu về thành phần của thực vật Các ODB được bố trí trên các đường chéo, đường vuông góc và các cạnh của OTC Tổng diện tích các ODB phải đạt ít nhất là 1/3 diện tích OTC Ngoài ra dọc hai bên tuyến điều tra cũng đặt thêm các ODB phụ để thu thập số liệu bổ sung

20m 10m

Hình 3.1a Đối với rừng thứ sinh Hình 3.1b Đối với thảm cây bụi

Ngày đăng: 02/08/2020, 21:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w