5 59 MỤC LỤC MỞ ĐẨU Chương 1: TRÁCH NHIỆM HÀĨ*ÍH CHÍNH TRONG LỈNH v ự c AN NINH CHÍNH TRỊ, TRẬT T ự AN TOÀN XÃ HỘI THEO LUẬT HÀNH CHÍNH VIỆT NAM Khái niệm trách nhiêm hành chính Trách n
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC s ỉ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Chu Hồng Thanh
HÀ NỘI - 2001
Ị THU" VIỆ!^ _ ị
T RƯ Ô N G O Ạ Ỉ Ì I Ọ C U i Ầ í Hầm
■E2âểj
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi chân thành cám ơn Tiến s ĩ Chu Hồng Thanh, Phó Tổng thư kỷ Hội Luật gia Việt Nam - người hướng dẫn luận vân và các thầy, cô giáo đã giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này.
Trang 45
59
MỤC LỤC
MỞ ĐẨU
Chương 1: TRÁCH NHIỆM HÀĨ*ÍH CHÍNH TRONG LỈNH v ự c AN
NINH CHÍNH TRỊ, TRẬT T ự AN TOÀN XÃ HỘI THEO LUẬT HÀNH CHÍNH VIỆT NAM
Khái niệm trách nhiêm hành chính
Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội
Chương 2: THỰC TRẠNG VI PHẠM PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH
TRONG LỈNH v ự c AN NINH CHÍNH TRI, TRẬT T ự AN TOÀN XÃ HỘI VÀ CÔNG TÁC x ử LÝ VI PHẠM ĐÓ Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA
Thực trạng vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội
Thực trạng công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở nước ta trong thời gian qua
Chương 3: NHŨNG KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ CỦA BIỆN PHÁP TRÁCH NHIÊM HÀNH CHÍNH TRONGLỈNH v ự c AN NINH, TRẬT T ự
Hoàn thiện các qui đinh về vi phạm hành chính và trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự
Một số kiến nghị, giải pháp nhằm áp dụng đúng các biện pháp trách nhiệm hành chính
Các kiến nghị, giải pháp nhằm tổ chức thi hành quvết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHÁO
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trách lứiièm hành chính trong lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội là một dạng cụ thể của trách nhiệm hành chính Cũng như các trách nhiệm pháp lỷ khác nó có khả nâng và vai trò to lớn trong việc bảo đảm thi hành các qui phạm pháp luật
Với chức năng của mình trách nhiệm hành chính trong lĩnh vưc an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội là phương tiện quan trong thực hiện sự quản lỷ hành chính nhà nước về an ninh chính trị và trật tư an toàn xã hội
Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của trách nhiệm hành chính từ năm 1945 đến nay cho thấy: Đã từ lâu, các nhà quản lý mong muốn
có một văn bản pháp luật chính thức qui định về vi phạm hành chính và trách nhiệm hành chính, nhưng mãi tới năm 1989 mới có một pháp lệnh đầu tiên đề cập tới vấn để này, đó là Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chinh Sau gần 6 năm thực hiện, pháp lệnh này đã bộc lộ những mặt hạn chế nhất định,
đó là hoạt động bảo vộ lãnh tụ, bảo vệ các cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước
Trong những nãm qua diễn biến của tình hình vi phạm hành chính nói chung cũng nh.ư các vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, [rật tự
Trang 6nói riêng hết sức phức tạp và ngày càng có chiều hướng gia tâng Phải chăng các biện pháp trách nhiệm hành chính đã áp dụng đạt hiệu quả thấp?
Với những lý do trên chúng tôi chọn vấn đề: "Trách nhiệm hành
chính trong tĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội" làm đề tài
nghiên cứu của luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Ị "Trách nhiệm hành chính trong lĩnh, vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội" là vấn đề phức tạp và cấp thiết, mang tính lý luận và thực tiễn của khoa học pháp luật hành chính Nghiên cứu vấn đề này không những có
ý nghĩa trong cổng tác lập pháp mà còn tạo điều kiên để có thể áp dụng pháp luật một cách đúng đắn, có hiệu quả
Từ trước tới nay ở nước ta đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu
về trách nhiêm hành chính ở những khía cạnh khác nhau
Ví dụ: - Luận án phó tiến sĩ luật học của tác giả Vũ Thư nghiên cứu
một cách tương đối toàn diện về hệ thống chế tài hành chính Đề tài được công bố năm 1996
- Luận văn thạc sĩ khoa học luật học của tác giả Trần Thu Hạnh nghiên cứu về đề tài vi phạm hành chính và tội phạm - những vấn đề lý luận
và thực tiễn Đề tài được công bố năm 1998
- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Trọng Bình nghiên cứu về hoàn thiện các qui định pháp luật về các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính Đề tài được cổng bố năm 2000
Ngoài ra, còn có một số sách được các nhà xuất bản phát hành và một số bài viết ở các Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Pháp chế, Tạp chí Luật học đã đề cập tới những vấn đề có liên quan tới trách nhiệm hành chính
Nhìn chung đã có khá nhiều công trình lớn, nhỏ nghiên cứu về trách nhiệm hành chính và các vấn đề đơn lẻ có liên quan Nhưng chưa có một
Trang 7công trình nào nghiên cứu về trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự Luận văn này tập trung nghiên cứu vấn đề đó.
3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu: "Trách nhiộm hành chính trong lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội" là nhằm phát hiện được những thành tựu, những mật tích cực cũng như mặt hạn chế trong việc áp dụng các biện pháp trách nhiệm hành chính vào thực tiễn đấu tranh chống VI phạmpháp luật trên lĩnh vực an ninh, trật tự Từ đó đưa ra được các kiến nghị, gópphần hoàn thiện qui định pháp luật về trách nhiệm hành chính, đồng thời tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các biện pháp trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự
Phạm vi nghiên cứu của luận văn này là trách nhiêm hành chínhtrong lĩnh vực an ninh chính trị, trật rư an toàn xã hội
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận dùng để nghiên cứu của đề tài này là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các tư tưởng, quan điểm mang tính nguyên tấc của Đảng trong đấu tranh chống các vi phạm pháp luật ở từng thời kỳ
- Phương pháp luận được sử dụng để giải quyết những vấn đề đặt ra
từ luận văn là: Phương pháp biên chứng, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh và phương pháp thống kê
5 Những nét mới của luận văn
Luận văn có những nét mới sau đây:
- Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý nước ta nghiên cứu về trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội một cách tương đối toàn diện và có hệ thống
- Luận văn làm rõ được khái niệm trách nhiêm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự; chỉ rõ được những vấn để quan trọng về an
Trang 8ninh quốc gia đang thiếu sự điều chỉnh của pháp luật về trách nhiệm hành chính.
- Luận vãn phân tích kỹ lưỡng thực trạng của vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, ừật tự để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm hành chính; nâng cao hiệu quả của pháp luật trong đấu tranh chống và phòng ngừa vi phạm hành chính; góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã bội
6 Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận vãn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ quá trình hình thành, phát triển và nội dung pháp lý của trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự; đưa ra bức tranh khái quát về thực trạng áp dụng các biên pháp trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự; chỉ ra nhũng điểm chưa hợp lỷ trong quỉ định của pháp luật, những vướng mấc và hạn chế xuất hiên trong quá trình áp dụng các biện pháp trách nhiệm hành chính; đã đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự
Các kết quả nghiên cứu của luận ván có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tâp môn luật hành chính, đồng thời giúp ích phần nào cho cán bộ làm công tác thực tiễn trong viẹc tìm hiểu và áp dụng pháp luật xử phạt vi phạm hành chính
7 Kết cấu của luận văn
Luận ván này gồm có mở đầu, ba chương và kết luận
- Chương 1: Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội theo luật Hành chính Việt Nam.
- Chương 2: Thực trạng vi phạm pháp luật hành chính trong tĩnh
vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và công tác xử lý vi phạm đó
ở nước ta trong thời gian qua.
- Chương 3: Những kiến nghị và giải pháp nàng cao hiệu quả của biện pháp trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự.
Trang 9Chương I
TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH v ự c
AN NINH CHÍNH TRỊ, TRẬT T ự AN TOÀN XẢ HỘĨ
THEO LUẬT HÀNH CHÍNH VIỆT NAM
1.1 KHÁI NIỆM TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH
Khái niêm trách nhiẹm được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất là bổn phận, nghĩa vụ mà con người phải thực hiên; thứ hai là hậu quả pháp lý bất
lợi phải gánh chịu do việc thực hiện hành vi VI pham pháp luật
"Các sách, báo pháp lỷ ở nước ta khi đề cập đến trách nhiệm pháp lý đều theo nghĩa truyền thống, tức trách nhiẹm pháp lý gắn liền với vi phạm
là hậu quả pháp lý bất lợi đối với con người có hành VI vi phạm" [7, tr ỉ04]
Trong khuôn khổ luận vãn này, chúng tồi xem xét trách nhiệm hành chính với nghĩa truyền thống đó
"Trách nhiệm hành chính là một loại trách nhiệm pháp lý do Nhà nước đặt ra Đó là hậu quả bất lợi mà cá nhân, tổ chức vi pham hành chính phải gánh chịu trước Nhà nước" [10, tr 187],
Nhà nước qui định trách nhiệm hành chính để áp dụng với những cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính theo một thủ tục bắt buộc (thủ tuc hành chính) trách nhiêm hành chính được phát sinh từ khi có vi phạm hành chính
và cũng từ thời điểm đó Nhà nước có quyền vêu cầu các chủ thể vi phạm hành chính chịu ữách nhiệm về hành vi vi pham của mình
Trách nhiệm hành chính là một loại trách nhiẻm pháD lý, vì vậy nó
có những đặc điểm của trách nhiệm pháp lý nói chung, đó là khi áp dung các biện pháp trách nhiệm hành chính không những chỉ mang tính chất trừng phạt mà còn có mục đích bảo vệ trật tư pháp luật, trật tư quản lý giáo dục người VI phạm pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật
Trang 10Trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa, trách nhiệm hành chính ỉà phương tiện bảo vệ những quan hệ xã hội trước hành vi chống đối pháp luât, nhằm ngăn chặn những hành vi phạm pháp gây r ó ngại cho trật tự xã hội, trât tự quản lỷ Nhà nước còn thông qua việc truy cứu trách nhiẹm hành chính để giáo dục công dân có ý thức tuân theo pháp luật đồng thời cũng khôi phục những giá trị đạo đức tốt đẹp của cá nhân, tạo ra những thói quen
có ý thức và tự giác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Chúng ta giáo dục họ theo những cách mới tức là giáo dục để họ không đơn thuần là không gày nguy hiểm cho xã hội mà để họ trở thành người lao đông tích cực cho thời đại mới
Trách nhiệm hành chính có những đặc điểm sau:
Đặc điểm thứ nhất: Cơ sở của trách nhiệm hành chính là VI phạm hành chính, còn cơ sở của trách nhiệm pháp lý khác là hành vi phạm tội (đối với trách nhiẹm hình sự); là các vi phạm dân sự, kỷ luật đối với trách nhiệm dân sự, trách nhiệm kỷ luật
Ví dụ: Trách nhiệm hình sự phát sinh do các hành vi vi phạm, pháp
luật được Bộ luật hình sự coi là tội phạm, còn trách nhiệm dân sự xuất hiộn khi có hành vi gây thiệt hại về mặt tài sản cho Nhà nước và công dân Trách nhiệm kỷ luật do vi phạm các nội qui và điều lệ kỷ luật lao động
Trong số các trách nhiệm pháp luật thì trách niệm hình sự gần gũi hơn với trách nhiệm hành chính Giữa hai loại trách nhiêm này có nhiều dấu hiẹu chung, thậm chí một số người đã coi chúng như hai dạng của một khái niệm thống nhất Chúng đều là những biên pháp cưỡng chế cúa Nhà nước đối với người vi phạm và những người này không ở trong cùng quan hệ công vụ với nhà chức trách hoặc các cơ quan ấn định các hình thức trách nhiệm
Đặc điểm thứ hai: Trách nhiệm hành chính được áp dụng ngoài
trình tự xét xử của Tòa án Việc áp dụng các chế tài hành chính chú yếu bới
Trang 11các cơ quan quản lý nhà nước, người có thẩm quyền thực hiên theo thủ tục hành chính Đối với việc áp dụng các biện pháp tác động trách nhiệm hình
sự, được thực hiên thông qua trình tự và thủ tục chặt chẽ bởi Tòa án và các
cơ quan tiến hành tố tụng khác hay còn gọi là thủ tục Tòa án Còn đối với việc áp dụng các chế tài dân sự thì nhất thiết phải do Tòa án quyết định theo thủ tục tố tụng dân sự
Đặc điểm thứ ba: Trách nhiệm hành chính không chỉ áp dụng đối
với cá nhân mà còn áp dụng đối với tổ chức vi phạm hành chính, đây là điểm khác biệt với trách nhiệm hình sự, vì trách nhiêm hình sự chỉ được áp dụng đối với người vi phạm pháp luật hình sự hay nói cách khác là cá nhân người phạm tội vì luật hình sự Việt Nam qui định chủ thể của tội phạm chỉ
là cá nhân chứ không thể là pháp nhân Pháp luật hành chính nước ta qui định tổ chức cũng là chủ thể vi phạm hành chính Các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế nếu thực hiện vi phạm hành chính thì cũng bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền, tước quyển sử dụng giấy phép Khi tổ chức
bị xử phat vi phạm hành chính thì tổ chức đó phải tiến hành xác định người
có lỗi trực tiếp gây ra vi phạm để truy cứu trách nhiệm kỷ luật và bồi thường thiệt hại theo Điều 54, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ban hành nãm 1995
Đặc điểm thứ tư: Để truy cứu trách nhiệm hành chính nhà nước
không nhất thiết phải xét đến thiệt hại đã xảy ra trong thực tế hay chưa tức
là yếu tố thiệt hại thực tế khồng phải là dấu hiệu bắt buộc để truy cứu trách nhiệm hành chính
Ví dụ: Một công dân đi xe máy ngược đường một chiều hoặc vượt
đèn đỏ mặc dù chưa gây tai nạn nhưng vẫn bị xử phạt vi phạm hành chính
Nhưng nhìn ở góc độ quản lý nhà nước về lĩnh vực an toàn giao thông thì công dân nói trên đã xâm hại tới trật tự quản lý hành chính nhà nước về an toàn giao thông
Trang 12Đặc điểm thứ nám: Trách nhiệm hành chính được thể hiện ở chỗ
các cơ quan nhà nước người có thẩm quyền ấn đinh đối với người vi phạm hành chính các biện pháp xử phạt hành chính
Phạt hành chính khác phạt hình sự, kỷ luật và trách nhiệm dân sự về mục đích cụ thể, đặc điểm và mức độ tác động thực chất chế định trách nhiệm hành chính được hiện thực hóa đấu tranh phòng chống vi phạm hành chính thông qua hoạt động xử phạt hành chính
Từ sự phân tích trên có thể xác định trách nhiệm hành chính là một dạng trách nhiẹm pháp lý do Nhà nước đặt ra Đó là hậu quả bất lợi mà cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải gánh chịu trước Nhà nước
Cũng cần phân biệt trách nhiêm hành chính với trách nhiệm trong quản lý nhà nước Nếu hiểu trách nhiệm trong quản lý nhà nước là toàn bộ các dạng trách nhiệm pháp lý mà các chủ thể quản lý có quyển áp dụng trong hoạt động chấp hành và điều hành thì nó bao hàm trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm vật chất của cán bộ công chức đối với tài sản nhà nước Toàn bộ chế định trách nhiêm hành chính thuộc ngành luât hành chính: Nhưng đối với trách nhiệm kỷ luât và trách nhiêm vật chất trong quản lý nhà nước thì ngành luật hành chính chỉ điều chỉnh thủ tục áp dụns các biện pháp trách nhiệm đó, còn bản thân các biện pháp trách nhiệm kv luật và trách nhiệm vật chất, cơ sở và điều kiên áp dụng là
do luật lao động qui định
Trách nhiệm trong quản lý nhà nước còn được hiểu là những dạng trách nhiệm mà các chủ thể quản lý có thể phải gánh chịu do vi phạm các qui tắc quản lý nhà nước trong quá trình thực hiện hoạt động cổng vụ Dưới góc độ này trách nhiệm trong quản lỷ nhà nước bao hàm cả trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật, trách nhiêm vật chất
Như đã nêu ở phần trên thực chất chế định được thể hiện thông qua hoạt động xử phạt hành chính mà cơ sở để xử phat hành chính lại là vi
Trang 13pham hành chính, đây là một đặc điểm mang tính nguyên tắc đã được xác định tại khoản 2, Điều 3, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính: "Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật qui định".
Vì vậy có thể nói, cơ sở của trách nhiệm hành chính là vi pham hành chính, không có vi phạm hành chính thì không có trách nhiệm hành chính Nên khi áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính đòi hỏi các cơ quan hoặc cán bộ Nhà nước có thẩm quyền phải xác định rõ có vi phạm hành chính xảy ra hay không, tính chất và mức độ của vi phạm hành chính như thế nào, hành vi vi phạm đó đã được qui định trong các vãn bản pháp luật về xử phạt hành chính hay chưa, từ đó có thể lựa chọn và áp đụng các hình thức xử phạt hợp lý
Theo qui định tại Điều 11 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính thì có các hình thức xử phạt vi phạm hành chính như sau:
- Các hình thức xử phạt chính: Cảnh cáo, phạt tiền
- Các hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng giấy phép, tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính
- Các biện pháp khắc phục hậu quả:
+ Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép
+ Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường sống, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra Buộc bồi thường thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra đến 1.000.000 đồng
+ Buộc tiêu hủy văn hóa phẩm độc hại, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người và vật nuôi cây trổng
Trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 còn dành cả Chương 3 qui định các biện pháp xử lý hành chính khác đó là các biên pháp:
- Giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Trang 14- Đưa vào cơ sờ giáo dưỡng.
- Đưa vào cơ sở giáo dục
- Đưa vào cơ sở chữa bệnh
- Quản lý hành chính
Pháp lệnh gọi đây là các biện pháp xử lý hành chính khác, bởi vì
chúng không thuộc vào số những biên pháp xử lý vi phạm hành chính qui
định tại Điều 11 của Pháp lệnh, cơ sở áp dụng của chúng cũng không phải
là vi phạm hành chính
Ví dụ: Tại Điều 25, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính qui định:
"Đối tượng bị quản chế hành chính ỉà người có hành vi vi phạm pháp luật
phương hại đến lợi ích quốc gia nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiêm
hình sự
Người bị quản chế hành chính phải cư trú, làm án sinh sống ở một
địa phương nhất định và chịu sự quản lý, giáo dục của chính quyền và nhân
dân địa phương trong thời hạn từ sáu tháng đến hai năm
Như vậy có thể coi các biộn pháp xử lý hành chính khác là các biện
pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt
1.2 TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH TRONG LỈNH v ự c AN NINH CHÍNH TRỊ, TRẬT T ự AN TOÀN XẢ HÔI
1.2.1 Khái niệm về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Các khái niệm phạm trù đều bắt nguồn từ thực tiễn và phát triển
theo thực tiễn nhưng mặt khác nó vẫn là sự qui ước trong một thời kỳ nhất
định Vì lẽ nhận thức con người bao giờ cũng chỉ tiếp cận với chân lý và
bản thân mỗi sự vật vừa là nó, vừa không phải là nó, trong cái này có cái
kia Vì thế khi nghiên cứu vấn để an mnh chính trị, trật tự an toàn xã hội
cần đặt chúng trong mối quan hệ tổng thể của một sự vật lớn hơn, bao trùm
hơn đó là nền an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội
Trang 15Trước hết về an ninh: "An ninh theo nghĩa rộng là sự an toàn, ổn định chung của một chế độ một xã hội" [41, tr 12] Thông thường khái niệm an ninh biểu hiộn quan hộ chính trị, nhưng mỗi nước quan niệm khác nhau về vấn đề này.
ở nước ta lý tưởng chính trị, quan điểm chính trị, các chuẩn mực đạo đức, qui tắc xử sự đều thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân mà nền tảng là giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và trí thức được thể chế hóa thành Hiến pháp và pháp luật nhằm bảo vệ sự ổn định và phát triển của chế độ chính trị, chế độ xã hội chủ nghĩa Toàn bộ nội dung,
ý tưởng trên đã được thể hiện trong Điều 2 của Hiến pháp 1992: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là Liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức" Ngược lại, ở các nước tư bản an ninh quốc gia là khẳng định sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản, sự thống trị của giai cấp tư sản và duy trì ưật tự tư sản về tư tưởng chính trị, pháp quyền, đạo đức, lối sống
Như vậy khái niệm an ninh quốc gia thuộc lĩnh vực chính trị - pháp
lý có nội dung khác nhau giữa các nhà nước, nhất là các nước có chế độ chính tri khác nhau
ở Việt Nam, "Bảo vệ an ninh quốc gia là bảo vệ độc lập chủ quyển thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ nền kinh tế và hệ thống chính trị của chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Viột Nam" [41, tr 16] Nhiệm vụ này là nhằm thực hiện ý tưởng chính trị được khẳng định trong Điều 1 của Hiến pháp 1992: "Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập có chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ"
An ninh chính trị là một bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia, chỉ sự ổn định của chế độ chính trị, bảo đảm sự nhất trí về chính trị, tinh thần nội bộ giai cấp, nội bộ đảng cầm quyền Từ đó mà tích cực, chủ động
Trang 16phòng ngừa sẩn sàng đập tan mọi âm mưu và hoạt động phá hoai của bọn phản cách mạng từ bên trong hoặc từ bên ngoài, không đế xảy ra rối ren, bạo loạn lật đổ chế độ [41, tr 94],
Bảo vệ an ninh chính trị ở nước ta trong điều kiện hiện nay có nhiều nội dung, nhưng nhiêm vụ trong tâm chủ yếu hiện nay là nàng cao cảnh giác cách mạng, quyết tâm đánh bại âm mưu thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc trên đất nước ta
Trong khuôn khổ luận văn này nội dung về an ninh chính trị được
đề cập tới là trách nhiệm hành chính trong các hoạt động bảo vệ an ninh vănhóa tư tưởng, hoạt động quản lý người nước ngoài, nhập xuất cảnh ở ViệtNam, hoạt động bảo vệ lãnh tụ và bộ máy đầu não của Đảng và Nhà nước
Bảo vệ an ninh vãn hóa và chống địch phá hoại tư tướng thực chất là một bộ phận của công tác bảo vệ nội bộ ta trên lĩnh vực tư tưởng, vãn hóa Chống địch phá hoại tư tưởng là một bộ phận cua cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa Đây là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân và là loại công tác đặc biệt cúa cơ quan an ninh mà trước hết là của lực lượng bảo vệ an ninh vãn hóa - tư tưởng trong sự nghiêp bảo vệ an ninh quốc gia
Mục tiêu chủ yếu của bảo vệ an ninh văn hóa, tư tưởng là đảm bảo
an toàn cho tổ chức và đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức mà đặc biệt là giới văn nghẹ sĩ, trí thức Bảo đảm cho sự tổn tại, phát triển mở rộng ảnh hưởng của hệ tư tưởng và quan điểm văn hóa Mác - Lênin, cũng như bảo đảm việc thực hiện đúng đắn các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta trên lĩnh vực văn hóa Đồng thời phát hiện và đấu tranh chống mọi biểu hiện vãn hóa phi giai cấp hoặc hoạt động chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa thông qua thủ đoạn lợi dung hoat động văn hóa
Chống địch phá hoại tư tường là một loại công tác đặc biệt của cơ quan an ninh nhằm phát hiện và đấu tranh với mọi âm mưu phá hoại tư
Trang 17tường do bọn phản động quốc tế (trung tâm tình báo gián điêp phá hoai và lật đổ) cùng với các phần tử và tổ chức tay sai của chúng ở trong và ngoài nước thực hiện.
Hoạt động quản lý người nước ngoài nhập, xuất cảnh Viột Nam là một hoạt động quản lý nhà nước được thực hiện trên cơ sở Pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, góp phần thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển quan
hệ hữu nghị, hợp tác với nước ngoài, giữ gìn an ninh chính trị, bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia
Bộ Công an là cơ quan quản lý chuyên ngành và thực hiện đầy đủ các nội dung quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đối với việc nhập cảnh, cư trú, hoat động và xuất cảnh của người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam
Bộ Công an với chức năng nhiệm vụ của mình trong công tác quản lý xuất nhập cảnh bên cạnh viẹc làm thủ tục hành chính cho khách nhập, xuất cảnh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nước ngoài còn thông qua các khâu công tác đó mà chủ động phát hiện các đối tượng vi phạm pháp luật quốc gia và vi phạm pháp luật quốc tế, ngăn chặn kịp thời các đối tượng nghi vấn có biểu hiện xâm phạm an ninh quốc gia
Hoạt động bảo vệ lãnh tụ và bộ máy đầu não của Đảng và Nhà nước:
- Hoạt động bảo vộ an toàn tuyệt đối các đồng chí lãnh đạo Đảng và
Nhà nước
- Bảo vệ an ninh nội bộ cơ quan Trung ương, Quốc hội, Chính phủ
- Bảo vệ các cuộc mít tinh, hội nghị, chiêu đãi, vui chơi công cộng
có các đồng chí lãnh đạo Đảng Nhà nước và khách quốc tế quan trọng đến dự
- Bảo vệ lãnh tụ, các đoàn khách của Đảng, Nhà nước các nước đến thăm Việt Nam
- Bảo vệ một số cơ quan quan trong tập trung nhiều bí mật quốc gia của Trung ương và Chính phủ
Trang 18Đây là những mục tiêu số một mà kẻ địch và các phần tử xấu thường bằng mọi thủ đoạn thâm độc và xảo quyệt tấn công, phá hoại ám sát lãnh tụ, lấy cắp bí mật quốc gia, phục vụ cho mưu đồ đen tối của chúng.
Đảng, Nhà nước và Bộ Công an giao cho lực lượng Cảnh vệ là lực lượng quan trọng của ngành công an thực hiên trọng trách trên đây nhằm đập tan mọi âm mưu thâm độc xảo quyệt của kẻ thù, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội
Trật tụ an toàn xã hội là hệ thống các quan hệ xã hội được hình thành và điều chỉnh bởi hệ thống các qui phạm pháp luật của Nhà nước, qui phạm đạo đức thuần phong mỹ tục trong đời sống cộng đồng của một dân tộc một quốc gia Nhờ đó mọi công dân sống và lao động có tổ chức có kỷ cương mọi lợi ích chính đáng được bảo đảm không bị xâm hại [41, tr 258]
Cuộc đấu tranh giữ gìn trât tự an toàn xã hội ở nước ta bao gồm các nội dung chủ yếu là: phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự nơi công cộng, phòng ngừa tai nạn, bài trừ tệ nạn xã hội, chống ô nhiễm mỏi trường nhằm bảo đảm hoạt động bình thường yên ổn hợp pháp của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân
Theo quan niệm được đưa ra trong Từ điển bách khoa Cồng an nhân dân Việt Nam do Bộ Công an ban hành năm 2000 thì: "Trật tự an toàn xã hội là trang thái xă hội có trật tự, kỷ cương trong đó mọi người được sống yên ổn trên cơ sở các qui phạm pháp luật và chuẩn mực đạo đức, pháp lý xác đinh"
Trong phạm vi luận văn này nội dung trật tự an toàn xã hội được đề cập tới là trách nhiệm hành chính trong các hoạt động quản lý về phòng chống tộ nạn xã hội, quản lý về trật tự an toàn giao thông, quản lý về phòng cháy chữa cháy
Hoạt động quản lý về phòng chống tệ nạn xã hội: Công tác đấu
tranh phòng chống tệ nạn xã hội là một yêu cầu khách quan, một nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia
Trang 19Tệ nạn xã hội là hiện tượng xã hội bao gồm những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội có tính phổ biến từ các vi phạm có tính nguyên tắc về lối sống, truyền thống văn hóa, đạo đức xã hội tó i với thuần phong mỹ tục, các giá trị xã hội tốt đẹp cho đến các vi phạm những qui tấc đã được thể chế hóa bằng pháp luật kể cả pháp luật hình sự gây ảnh hưởng về đạo đức và những hậu quả nghiêm trọng trong đời sống kinh tế văn hóa - xã hội [41, tr 316].
Khi nói tới tệ nạn xã hội và các hành vi biểu hiện cụ thể có thể khái quát hóa các dấu hiệu đặc trưng của chúng như sau:
- Là hành vi tó i với chuẩn mực xã hội
- Có tính chất xã hội ở mức phổ biến, lây lan
- Xảy ra trong một phạm vi nhất định
- Gây ra những hậu quả nghiêm trọng
ở Việt Nam tộ nạn xã hội cũng luôn tồn tại trong các thời kỳ đã qua Mỗi giai đoạn chúng có qui mố và mức độ khác nhau Do đó việc đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội cũng rất khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử
Hoạt động quản lý về trật tự an toàn giao thông: Đây là một trong
các bộ phận của trật tự an toàn xã hội mà quốc gia nào cũng phải quan tâm Trật tự an toàn giao thông tốt thì sẽ hạn chế được thiệt hại về người và kinh
tế Liên hiệp quốc đã có các cơ quan chuyên theo dõi, thông tin, hướng dẫn cho các nước thực hiện có hiệu quả vấn đề này ở Việt Nam chúng ta trật tự
an toàn xã hội cũng đang dần từng bước hòa nhập vào cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực bảo đảm an toàn giao thông
Hoạt động quản lý về phòng cháy chữa cháy cũng là một bộ phận
của trật tự an toàn xã hội Thực tiễn cho thấy khi dân cư càng đông đúc, sản xuất Vinh doanh càng phát triển và tài sản hàng hóa vât tư càng tâp trung nhiều thì sơ hở về an toàn phòng cháy chữa cháy xảy ra nhiều và thiệt hại
do chúng gây ra ngày càng nghiêm trọng Vì vậy, Nhà nước cần phải có
Trang 20một lực lượng chuyên trách còng tác phòng cháy chữa cháy đồng thời phải
tổ chức cho toàn dân thực hiên các qui đinh pháp luật về công tác phòng cháy chữa cháy góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội
Mối quan hệ giữa an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội:
An ninh chính trị là một bộ phận quan trong chủ yếu của an ninh quốc gia, chỉ sự ổn định của chế độ chính trị, sự nhất trí cao về tinh thần của nhân dân đối với chế độ, của công dân đối với Nhà nước và của các thành viên trong nội bộ giai cấp, nội bộ Đảng cầm quyền An ninh chính trị được giữ vững là tạo nên một nền tảng tư tưởng, một thể chế chính trị vững chắc, bảo đảm quyền lãnh đạo của Đảng, sự an toàn nội bộ và bảo đảm việc thực hiện đường lối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Trật tự an toàn xã hội là trạng thái xã hội có kỷ luật, kỷ cương và mọi người sống yên vui, lành mạnh Trật tự xã hội là sản phẩm của một xã hội có Nhà nước và có pháp luật Trật tự xã hội được xác lập bằng phương pháp giáo dục thuyết phục kết hợp với hành chính pháp iý và cưỡng chế nhà nước
Vì vậy trong một quốc gia khi nói tới an ninh trật tự là ý muốn chỉ tới an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự là hoạt động quản lý nhằm bảo đảm sự ổn định và an toàn của toàn
bộ hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội
An ninh chính trị có được giữ vững thì mới có sự ổn đinh và phát triển mọi mặt của đời sống xã hội, con người mới được sống yện vui lành manh tạo nên một yếu tố trật tự xã hội Trật tự xã hội được bảo đảm có nghĩa là pháp luật được tôn trọng, tội phạm và các tiêu cực trong xã hội bị đẩy lùi tạo nên niềm tin giữa Đảng với nhân dân, giữa công dân và Nhà nước đó là nền tảng vững chắc của an ninh chính trị
Mối quan hệ giữa an ninh chính trị và trât tự an toàn xã hội không chỉ là quan hệ tương tác giữa chúng với nhau mà chúng còn quan hệ với
Trang 21nhau thông qua các lĩnh vực khác nữa, chẳng hạn như an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội quan hệ với nhau thông qua sự phát triển kinh tế xã hội Sự
ổn định và phát triển mọi mặt của đời sống xã hội là nền tảng của an ninh trât tự, nhưng xã hội muốn ổn định và phát triển thì phải có một nguồn lực kinh tế phát triển Hiệu quả của nền an ninh ừât tự là sư kết hợp chặt chẽ an ninh với các hoạt động khác của toàn dân của Nhà nước, kết hợp chặt chẽ giữa an ninh chính trị với trật tự an toàn xã hội, kết hợp chật chẽ giữa an ninh với kinh tế sao cho để vừa có kinh tế phát triển vừa có an ninh trật tự vững mạnh Kết hợp giữa an ninh với giáo dục văn hóa, khoa học công nghê
sẽ tạo nên tiềm lực to lớn về mọi mặt và đáp ứng yêu cầu an ninh, trật tự của đất nước
An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội có mối quan hẹ với nhau
vì chúng cùng được tiến hành trên bình diên rộng lớn quốc gia và quốc tế,
nó kết hợp đấu tranh giữa tội phạm trong nước và các thế lưc phản động bên ngoài, giữa tiêu cực, thoái hóa biến chất của một số cán bộ trong nội bộ cơ quan nhà nước với các vi phạm pháp luật ngoài xã hội
Trong cuộc sống đời thường đã xuất hiện nhiều vấn đề tiêu cực về kinh tế xã hội, nếu giải quyết không tốt sẽ chuyển hóa thành vấn đề chính trị
Ví dụ: Nông dân kéo nhau lên cơ quan Trung ương khiếu kiện việc
thực hiện không đúng chính sách ruộng đất ở cơ sở; hiên tượng lừa đảo tín dụng; sử dụng trái phép dự trữ lương thực quốc gia không những gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước mà còn ảnh hưởng xấu về mặt chính trị, sự buông lỏng giáo dục tư tưởng, đạo đức cùng với việc nhập lậu vân hóa phẩm đổi trụy, phản động không chỉ là vấn đề tư tưởng mà còn là vấn đề chính trị
Vì vậy cần phải nhận thức cho được mối quan hệ giữa an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội để có giải pháp đúng đắn phối hợp hai vấn đề trên góp phần xây dụng nền tảng vững chắc phát triển đất nước về mọi mãt
Trang 22Một trong những giải pháp đúng đắn đó là việc xác định trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Với khuôn khổ của luận vân này trách nhiệm pháp lý được đề cập tới là trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực an ninh chính trị, trật tư an toàn xã hội đó
là một dạng cụ thể của trách nhiệm hành chính là một nội dung của hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực an ninh, trật tự Vì trong nội dung quản lỷ nhà nước về an ninh trật tự có một phần gọi là xử lý vi phạm pháp luật thì ở đây xử phạt vi phạm hành chínỉi với ý nghĩa là trách nhiệm hành chính sẽ thể hiện nội dung ấy
Từ sự phân tích trên có thể xác định trách nhiêm hành chính trong ĩĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội là một dạng trách nhiệm pháp lý và là hậu quả pháp lý bất lợi mà cá nhân, tổ chức phải gánh chịu trước Nhà nước do họ đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội mà không phải là tội phạm hình
sự và theo qui định của pháp luật phải chịu xử phạt hành chính
1.2.2 Cơ sở của trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Cơ sở của trách nhiệm hành chính là vi phạm hành chính Nếu không
có vi phạm hành chính thì không có trách nhiệm hành chính Do đó cơ sở của trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội là vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội
Theo qui định tại Điều 1, Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989: "Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm các qui tắc quản lý nhà nước mà không phải
là tội phạm hình sự và theo qui định của Pháp luật phải bị xử phạt hành chính"
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính nãm 1995 không nêu lên khái niệm vi phạm hành chính một cách trực tiếp như qui định ở Điều 1 của
Trang 23Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính 1989 mà nêu một cách gián tiếp ở khoản 2, Điều 1 của Pháp lệnh với nội dung sau: "Xử phat vi pham hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các qui tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính".
Thông tư số 01 TT/BNV của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) ban hành ngày 20 tháng 01 năm 1997 hướng dẫn thi hành Nghị định 49/CP về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự đã xác định: "Vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự là những hành vi vi pham do
cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến an ninh, trật tư mà chưa đến mức truy cứu trách nhiêm hình sư
Như vậy, trên cơ sở qui đinh của pháp luật đã trình bày trên có thể xác định những dấu hiệu cơ bản của vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự như sau:
- Là hành vi thể hiện bằng hành động hoặc không hành động mà xâm phạm đến an ninh, trật tự
vi phạm hành chính chỉ được căn cứ vào qui định của Pháp luật, không được
áp dụng theo nguyên tắc tương tự, có như vậy mới tránh được xứ lý tùy tiện, bảo đảm pháp chế
Trang 24Sở dĩ hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải chịu
trách nhiêm hành chính trước Nhà nước, vì họ có điều kiện tự do lựa chọn
khi vi phạm hành chính Nói cách khác, họ đã có lỗi vì họ đã chọn hành
động ngược lại với lợi ích của xã hội
Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội là thể hiện sự phản ứng có tính chất phủ định của Nhà nước đối
với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự
Một hành vi chỉ bị coi là vi phạm hành chính khi có đủ các dấu hiệu
được pháp luật hành chính qui định
Hệ thống các dấu hiộu cần và đủ đặc trưng điển hình phản ánh bản
chất của từng vi phạm hành chính cụ thể là cấu thành vi phạm hành chính
Cấu thành của vi phạm hành chính được hợp thành bởi những yếu tố
nhất định, những yếu tố đó theo khoa học pháp lý nói chung và luật hành
chính nói riêng bao gồm: Khách thể của vi phạm hành chính, mặt khách
quan của vi phạm hành chính, chủ thể của vi phạm hành chính và mật chủ
quan của vi phạm hành chính
Chúng ta sẽ xem xét dưới đây những đặc điểm của cấu thành vi
phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
I.2.2.I Khách thể của vi phạm hành chính ừ-ong lĩnh vực an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Cũng như mọi vi phạm pháp luật khác, vi phạm hành chính cũng
nhằm vào những khách thể nhất định, gây tác hại cho chính những khách
thể ấy trong chừng mực nhất định Nói cách khái quát hơn khách thể của VI
phạm hành chính là cái mà vi phạm hành chính xâm hại tới, là cái mà pháp
luật hướng tới để bảo vệ khỏi sự xâm hại
Khách thể của vi phạm hành chính cũng được chia thành ba loại:
- Khách thể chung
- Khách thể loại
Trang 25- Khách thể trực tiếp.
"Khách thể chung của quản lý nhà nước là các quan hệ xã hội phát
sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước hay nói cách khác là trật tự quản lý nhà nước nói chung" [10, tr 179]
Khách thể loại là những quan hệ xã hội có cùng hoặc gần tính chất
với nhau trong lĩnh vực nhất định của quản lý nhà nước
Ví dụ: Các qui tắc quản lý nhà nước về lĩnh vực an ninh; trật tự; các
qui tắc quản lý nhà nước về lĩnh vực hải quan, lĩnh vực y tế, lĩnh vực môi trường v.v
Nhưng cũng cần phải nhận thấy rằng vi phạm hành chính có thể diễn ra ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nên nó rất đa dạng và phức tạp
Để đấu tranh có hiệu quả cao với những vi phạm đó nhằm bảo vệ các quan
hệ xã hội khỏi bị vi phạm hành chính xâm hại, duy trì trật tự quản lý hành chính nhà nước, pháp luật phải qui định sắp xếp chúng theo từng lĩnh vực, đồng thời cũng qui định các biện pháp trách nhiệm hành chính tương ứng đối với mỗi loại vi phạm
Như yậy khách thể của vi phạm hành chính không chỉ là trật tự quản
lý và không phải là toàn bộ các quan hệ quản lỷ nhà nước mà chỉ những quan hệ xã hội nào được pháp luật hành chính bảo vệ bằng các biện pháp trách nhiệm hành chính trong số đó mà thôi Những quan hẹ xã hội nào mà không được luật hành chính bảo vệ thì không trở thành khách thể của vi phạm hành chính mà có thể là khách thể của tội phạm hoãc vi phạm pháp luật khác
Khi nghiên cứu về khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tức là chúng ta nghiên cứu khách thể loại của vi phạm hành chính trong đó các quan hệ xã hội cần được bảo vệ được xếp cùng với nhau trên một lĩnh vực quản lý nhà nước - lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Hay nói một cách khái quát, khách thể
Trang 26của vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội là hộ thống các quan hộ xã hội được pháp luật bảo vệ có liên quan đến lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Ví dụ: "Hội đồng Việt Nam cho một Việt Nam tự do” do tên Lê
Phước Sang cầm đầu đã có những hành vi tuyên truyền đòi tự do nhân quyền, bôi nhọ uy tín Đảng Cộng sản Việt Nam kích động chia rẽ nhân dân với Đảng, gày mâu thuẫn tôn giáo, dân tộc phá hoại những nỗ lực phát triển kinh tế của nước ta Hay những hành vi của một số người ở Thái Bình, Nam Định, Gia Lai, Kon Tum Đắk Lắk lợi dụng quyền khiếu nại của công dân
để tổ chức khiếu kiện một cách bất hợp pháp gây rối trật tư xả hội và ảnh hưởng tới an ninh chính trị trong những năm 1999, 2000, và đầu năm 2001 vừa qua
Đó là những hành vi đã xâm hại tới trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Vì nó đã làm xáo trộn mất
ổn định các hoạt động bình thường của hoạt động quản lỷ nhà nước và xã hội
Khách thể trực tiếp là quan hệ xã hội cụ thể được pháp luật qui định
và bảo vệ, bị chính hành vi VI phạm hành chính gây tác hại
Ví dụ: Theo Nghị định 87/CP ngày 12 tháng 12 nãm 1995 của
Chính phủ về tăng cường quản lý các hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa, đẩy manh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng, tại Điều 23 có qui định: "Tổ chức, cá nhân kinh doanh hoạt động karaôkê phải thực hiện các qui đinh sau: Phòng hát karaôkê phải có diện tích từ 20 m2 trở lên; đảm bảo ánh sáng trong phòng trên 10 LUX; cửa phòng karaôkê phải có kính, bên ngoài có thể nhìn rõ toàn bộ phòng"
Rõ ràng đây là những quan hộ xã hội cụ thể nó được phát sinh khi
có người thực hiện việc kinh doanh hoạt động karaỏkê và họ phải thực hiện đúng các qui định của Nhà nước: "Phòng hát karaôkê phải có diện tích từ
20 m2 trở lên; ánh sáng trong phòng trên 10 LUX "
Trang 27Như vậy nếu ai kinh doanh hoạt động karaôkê không thực hiện đúng
qui định này là đã xâm hại tới các quan hệ xã hội nêu trên tức là đã xâm hại
tới khách thể trực tiếp
I.2.2.2 Chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội
Chủ thể của vi phạm hành chính là cá nhân, tổ chức thực hiện VI
phạm pháp luật hành chính Hành vi trái pháp luật, có lỗi mới ỉà vi phạm
pháp ỉuật vì vậy chủ thể của vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực an
nmh, trật tự phải là người có nãng lực hành vi trong lĩnh vưc này
Năng lực hành vi là khả năng của chủ thể, khả năng này được Nhà
nước thừa nhận, bằng các hành vi của mình thực hiện trên thực tế các quyền
chủ thể và nghĩa vụ pháp lý, tức là tham gia vào các quan hệ pháp luật
Năng lực hành vi trách nhiệm pháp lý của con người phu thuộc và đô tuổi,
tình trang sức khỏe (có mắc bệnh làm mất hoặc hạn chế khả năng nhận thức
về hành vi của mình hay không) và tùy theo từng loại trách nhiệm pháp lý
mà được pháp luật qui định cụ thể
Theo qui định tại Điều 5, Điều 6, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
nãm 1995 thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị xử phạt hành chính
đối với những vi phạm hành chính thực hiện do cố ý Người từ đủ 16 tuổi
trở lên phải chịu trách nhiệm về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra
Pháp luật nước ta coi tổ chức cũng là chủ thể vi phạm hành chính
Đối với việc xác đinh nãng lực chủ thể của tổ chức có khác với việc xác
định năng lực chủ thể của cá nhân, vì không thể xác đinh được lỗi của tổ
chức do đó trong trường hợp này có thể được xem tổ chức như là một chủ
thể đặc biệt của vi phạm hành chính Song nó cũng cần phải thỏa mãn một
số điều kiện sau:
- Nếu là cơ quan nhà nước (kể cả doanh nghiệp nhà nước) thì cơ quan đó phải được phép thành lập và hoạt động theo qui định của pháp luật
Trang 28Năng lực pháp lỷ của cơ quan nhà nước được phát sinh khi có quyết định
thành lập cơ quan ấy
- Nếu là tổ chức xã hội thì việc tổ chức và hoạt động của tổ chức đó
phải có tôn chỉ mục đích rõ ràng Năng lực pháp lý hành chúih của tổ chức
xã hội phát sinh khi có phê chuẩn hoặc thừa nhận của Nhà nước
- Nếu là doanh nghiệp ngoài quốc doanh (công ty trách nhiệm hữu
hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân ) thì phải đăng ký kinh doanh
theo qui định của pháp luật Năng lực pháp lý của chúng sẽ phát sinh khi có
quyết định của Nhà nước cấp giấy phép kinh doanh
Đối với các chủ thể là cá nhân, tổ chức nước ngoài thực hiên hành vi
VI phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng đặc quyển kinh tế và thềm
lục địa của Việt Nam thì bị xử phạt như đối với công dân và tổ chức theo
pháp luật Việt Nam về xử phạt vi phạm hành chính, trừ trường hợp điều ước
quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có qui định khác Chủ thể của vi
phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội là
một dạng chủ thể của vi phạm hành chính trong những trường hựp cụ ihể
khi chúng xâm hại tới trật tự quản lý hành chính và các quan hệ xã hội
trong lĩnh, vực an ninh, trật tự Vì vậy về năng lực chủ thể chúng cũng phải
thỏa mãn các điều kiện một chủ thể của vi phạm hành chính
I.2.2.3 Mặt khách quan của vi phạm hành chính trong Unh vực
an ninh chính trịỹ trật tự an toàn xã hội
Mặt khách quan của vi phạm hành chính là biểu hiên của vi phạm
hành chính diễn ra bên ngoài thế giới khách quan, tác động vào các quan hộ
xã hội mà pháp luật hành chính bảo vệ
Mặt khách quan của vi phạm hành chính bao gồm các dấu hiệu:
Hành vi, tính trái pháp luật của hành vi, hậu quả thiệt hại mà hành vi gây ra
cho xã hội, các điều kiện bên ngoài khác như mối quan hộ nhân quả, thời
gian, địa điểm, công cụ, phương tiện vi phạm
Trang 29Không có hành vi thì không có vi phạm pháp luật nói chung và không có VI phạm hành chính nói riêng Những suy nghĩ, quan niệm, tư tưởng khi chưa thể hiện thành hành vi thì dù xấu thế nào cũng chưa phải là
vi phạm pháp luật Nhưng để được coi là hành vi khách quan của vi phạm hành chính thì hành vi đó phải thỏa mãn hai điều kiện:
- Được ý thức kiểm soát
- Được ý chí điều khiển
Một hành vi mà không thỏa mãn điều kiện trên thì không phải là hành vi khách quan của vi phạm hành chính
Ví dụ: A không làm chủ tốc độ nên lái xe đâm vào xe của B làm cho
xe của B tông vào xe của c và gây mất trật tự an toàn giao thông Hành vi của B không được coi là vi phạm hành chính
Tính trái pháp luật của vi phạm hành chính được thể hiện ở những hành vi xâm phạm những qui định pháp luật và được trách nhiêm hành chính bảo vộ
Mặt khách quan của vi phạm hành chính còn thể hiện qua dấu hiệu hậu quả thiệt hại của hành vi và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của nó Tuy nhiên không phải tất cả các cấu thành vi phạm hành chính đểu bắt buộc phải có dấu hiệu này vì có trường hợp chỉ cần tồn tại "dấu hiệu hình thức của nó" (hành động hay không hành động trái pháp luật) là đủ cân cứ để áp dụng biên pháp trách nhiêm hành chính
Ví dụ: Một cửa hàng bán xăng dầu không có phương tiện phòng
cháy chữa cháy theo qui định của pháp luật Đó là biểu hiện hành vi dưới dạng không hành động nên hành vi đó bị coi là vi phạm hành chính
Nhưng khi đã cần thiết xét đến hậu quả thì phải chứng minh cho được là hậu quả thiệt hại gày ra cho các quan hệ xã hội được luật hành chính bảo vệ, hậu quả đó là của hành vi ấy Muốn thế thì hành vi tó i pháp luật phải xảy ra trước hậu quả xâm hại các quan hệ xã hội về mặt thời gian
và hành vi đó phải chứa đựng khả năng thực tế dẫn đến hậu quá Ngoài ra,
Trang 30khi xem xét về mặt khách quan của vi phạm hành chính phải chú ý tới các điều kiện bên ngoài khác như địa điểm công cụ, phương tiện thưc hiện hành
vi phạm hành chính để từ đó có thể khẳng định hậu quả xảy ra đúng là hiện thực hóa khả nâng nói trên
Các hành vi khách quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự được qui định cụ thể trong Nghi định 49/CP ngày 15/8/1996 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật
tự Ngoài ra nó còn được qui định ở các văn bản pháp luật khác nữa
Ví dụ: Pháp lệnh xuất nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài tại
Việt Nam có ban hành tháng 4 năm 2000; Nghị định 39/CP năm 2001 của Chính phủ ban hành ngày 13 tháng 7 năm 2001 qui định xử phạt hành chính
về hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tụ an toàn giao thông đô thị; Nghị định 26/CP của Chính phủ ngày 26 tháng 4 năm
1996 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Nghị định 88/CP ngày 14 tháng 12 năm 1995 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa và phòng chống một
số tệ nan xã hội và mới đâv ngày 12 tháng 7 nãm 2001 Chủ tịch nước công
bố Luật Phòng cháy chữa cháy có hiệu lực từ ngày 4 tháng 10 năm 2001 và Luật Giao thông đường bộ có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2002
1.2.2.4 Mặt chủ quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Mặt chủ quan của vi phạm hành chính bao gồm các dấu hiệu lỗi, động cơ, mục đích vi phạm hành chính Vi phạm hành chính ìà một thể thống nhất giữa các yếu tố khách quan và chủ quan Sự thống nhất đó thể hiện ở chỗ mặt khách quan và khách thể của vi phạm hành chính phản ánh mạt chủ quan của vi phạm hành chính Đồng thời mặt chủ quan được biểu hiện thông qua mặt khách quan của vi phạm hành chính Tuy nhiên các dấu hiệu trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính không phải bao giờ cũng thể hiện đầy đủ với hình thức và mức độ như nhau trong mặt chủ quan của
Trang 31các vi phạm hành chính Vì vậy, trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính, có những dấu hiệu là mang tính chất bắt buộc, chẳng hạn như dấu hiẹu "Lỗi" Nhưng cũng có những dấu hiệu như "Động cơ", "Mục đích" thường không mang tính bắt buộc vì phần lớn các vi pham hành chính không có động cơ rõ rẹt (trừ trường hợp cố ý) và muc đích của chúng cũng không rõ nét, đa số vi phạm hành chính nói chung là họ không muốn (trừ trường hợp cố ý).
Ví dụ: Hành vi của người vượt đèn đỏ hoặc không đi đúng làn
đường qui định, yếu tố động cơ, mục đích ít khi xét tới Nhưng "Lỗi" thì lại
là điều bắt buộc
Tại khoản 2, Điều 1, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính qui định:
"Xử phạt vi phạm hành chính được áp dung đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các qui tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiêm hình sự"
Nội dung của lỗi là tổng hợp các yếu tố tâm lý, trong đó phản ánh các dấu hiêu khách quan của vi pham hành chính và cũng phản ánh thái đô chủ quan của người vi phạm đối với hành vi và hậu quả của hành vi vi phạm hành chính đó
Chính yếu tố lỗi đã được Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm
1995 tính đến khi qui định về độ tuổi phải chịu trách nhiệm hành chính và những trường hợp như: tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành chính trong khi đang mắc bênh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển của mình (khoản 6, Điều 3) ở mặt chủ quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực
an ninh chính trị thường lại mang tính đặc thù đó là nếu xét về lỗi thì thường là lỗi cố ý, nếu xét về động cơ, mục đích thì cũng là dấu hiộu mang tính bắt buộc
Ví dụ: Mục đích của tuyên truyền tài liệu phản động là phản cách
mạng, lỗi cố ý ở đây thể hiện ở chỗ người có hành vi vi phạm nhận thức
Trang 32được tính chất hành vi của mình nhưng ván thực hiện Trường hợp của Võ
Văn Ái là một thực tế, hắn đã phát động "chiến dịch chuyển lửa vẻ què nhà"
mở đầu cho chiến dịch "góp gió thành bão", "phổ biến tin tức về Việt
Nam" Nội dung chiến dịch này là vận động người Việt Nam hải ngoại gửi
ồ ạt thư từ ấn phẩm phản động vào trong nước tạo áp lực quốc tế gây sức ép
với ta Âm mưu của chúng là đầu độc bầu không khí chính trị, gây rối loạn
nội bộ ta Chúng cho rằng với số lượng lớn tài liệu, ấn phẩm, thư từ, bưu
phẩm thì ta không thể ngăn chặn hết được Nếu có bị ngăn chặn thì các
nhân viên bưu điện, công an cũng sẽ đọc, qua đó những "tư tưởng tự do dân
chủ sẽ được truyền bá trong dân chúng"
1.2.3 Quá trình hình thành và phát triển trách nhiệm hành chính trong lĩnh yực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Nghiên cứu trách nhiệm hành chính trong quá trình hình thành, biến
đổi, gắn với các điểu kiện xã hội cụ thể ở nước ta là một công việc cần thiết
giúp ta nhìn nhận trách nhiêm hành chính trong lĩnh vực an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội một cách đầy đủ có tính hệ thống Đồng thời qua đó
thấy được vai trò của trách nhiệm hành chính ở các giai đoạn lịch sử khác
nhau và sự kế thừa, phát triển liên tục của nó
Có thể phân kỳ phát triển của trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực
an ninh, trật tự an toàn xã hội theo các giai đoạn gắn với sự ra đời của các
Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992 Đó là các mốc lớn phản ánh tình hình
kinh tế, chính trị, tư tưởng và những vấn đề khác của xã hội, cơ sở cho việc
xây dựng Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước
Giai đoạn thứ nhất: Từ năm 1945 - 1954, ở giai đoạn này quản lý
nhà nước thực hiện nhiệm vụ của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
nhằm phục vụ kháng chiến và bảo vệ trật tự xã hội mới Khi mới ra đời,
Nhà nước chưa thể có ngay đầy đủ hệ thống pháp luật nói chung và pháp
luật hành chính nói riêng Vì vậy để bảo vệ nền độc lạp của đất nước, đấu
tranh với các vi phạm hành chính giữ gìn an ninh trât tự, Hồ Chủ tịch đã ký
Trang 33Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 qui đinh tạm thời giữ các luật lệ của chế
đô cũ ở Bắc - Trung - Nam Bộ cho đến khi ban hành được những qui định mới trên tinh thần chí được thi hành khi nào khổng trái với nguyên tắc độc lập của Nhà nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa
Với Sắc lệnh số 175/SL ngày 18 tháng 8 năm 1953 của Chủ tịch nước đã qui định biện pháp quản chế trong trật tự hành chính theo Điều 1 và 4 của sắc lệnh thì vi phạm bị áp dụng quản chế được xác định là "Đã phạm tội nhưng chưa đáng phạt tù" như các hành vi làm tay sai cho địch, chưa thực sự hối cải, bọn lưu manh chuyên nghiệp Như vậy nếu coi đây là biện pháp trách nhiệm hành chính thì chưa đúng mà nói đó là trách nhiệm hình
sự thì cũng không phải Thật ra nó chỉ được coi là biện pháp cưỡng chế hành chính áp dụng đối với người vi phạm pháp luật, ở giai đoạn này các khái niệm vi phạm hành chính, ừách nhiệm hành chính hầu như chưa có vấn bản nào qui định, thậm chí hành vi vi phạm hành chính còn được gọi là
"tội vi cảnh" nó ẩn chưa trong luật hình sự
Ví dụ: ở Sắc lênh 73/SL ngày 17/8/1947 qui định những tội đao
thiết, lừa đảo, biển thủ và thiện thủ nếu tang vật không đáng giá 100 đổng
sẽ coi như tội vi cảnh Nhưng các biện pháp trách nhiệm hành chính thì được biểu hiện tương đối rõ ở nhiều hình thức khác nhau như: phê bình, cảnh cáo, phạt tiền, tịch thu giấy phép, buộc làm thêm ngày phục vụ dân cồng, giam hành chính Nhìn chung các văn bản qui định về trách nhiệm hành chính trong các giai đoạn này còn có nhược điểm nhất định nhưng về
cơ bản nó thích ứng với hoàn cảnh xã hội cũng như nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước khi đó
Giai đoạn thứ hai: Từ 1954 đến 1986, ở giai đoạn này có những sự
kiện đặc biệt nổi bật đó là: Năm 1954 sau thất bại ở chiến trường Điện Biên Phủ thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ chấm dứt hơn 100 năm
có mặt trên đất nước Việt Nam, tiếp đó là đại thắng mùa xuân năm 1975,
Tổ quốc hoàn toàn thống nhất và bước vào xây dựng đất nước
Trang 34ở giai đoạn này hoàn cảnh kháng chiến chống Mỹ và công cuộc khôi phục lại đất nước sau chiến tranh có ảnh hưởng lớn đến hoạt động quản lý của Nhà nước Nhưng điều nổi lên lại là chỗ quản lý nhà nước nhầm xác lập và bảo vệ các quan hệ xã hội mới xã hội chủ nghĩa Về công tác quản lỷ hành chính được Nhà nước coi trọng hơn.
Trong lĩnh vực an ninh trật tự đã có một số văn bản quản lý hành chính tương đối cụ thể như:
- Nghị định số 246-TTg ngày 17 tháng 5 năm 1958 của Thủ tướng Chính phủ ban hành thể lệ dùng súng săn
- Nghị quyết số 49/NQ/TVQH ngày 20 tháng ố năm 1961 của ủ y ban Thường vụ Quốc hội về việc tập trung giáo dục cải tạo những phần tử
có hành động nguy hại cho xã hội
Cụ thể tại Điều 1 của Nghị quyết đã xác định đối tượng phải đưa đi tạp trung cải tạo là "những phần tử phản cách mạng ngoan cố, có hành động phương hại đến an ninh chung, những phần tử lưu manh chuyên nghiệp" [24, cr 2Ố7]
- Nghị định 143/CP ngày 27 tháng 5 năm 1977 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ về phạt vi cảnh Theo đó việc xử lý những hành vi xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội mà bị coi là phạm pháp vi cảnh thì có thể bị xử lý bằng các hình thức: cảnh cáo, phạt tiền từ 1 đồng đến 10 đồng, phạt lao động công ích tò 1 ngày đến 3 ngày, phạt giam từ 1 ngày đến 3 ngày Đây là hình thức phạt có độ nghiêm khắc cao trong biện pháp trách nhiệm hành chính Chúng như nấc thang chuyển tiếp từ trách nhiệm hành chính sang trách nhiệm hình sự Tuy vậy Điều lệ mới chỉ đề cập tới vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự an toàn xã hội chứ chưa nói tới lĩnh vực an ninh chính trị
Giai đoạn thứ ba: Từ năm 198Ố đến nay, đây là giai đoạn đất nước
bước vào công cuộc đổi mới toàn diện về mọi mật Đương nhiên cùng với quá trình, đổi mới vai trò quản lý của Nhà nước phải được tăng cường Ngày
Trang 3530 tháng 11 nám 1989 Hội đổng Nhà nước (nay là ủ y ban Thường vụ Quốc hội) thông qua Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính, Pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 1990 Đây là lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật Viêt Nam một Pháp lệnh khung qui định những vấn đề cơ bản mang tính nguyên tắc về xử phạt vi phạm hành chính, hình thức và mức phạt trong các lĩnh vực quản lý nhà nước Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ra đời kéo theo việc ban hành một loạt các vân bản dưới dạng Nghị định trong có Nghị định 141/HĐBT ngày 25 tháng 4 nãm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng qui định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự Tiếp đó ngày 30 tháng 12 năm 1991 Bộ Nội vụ có thổng tư số 09/TT-BNV (C ll) hướng dần thực hiện Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính và Nghị định 141/HĐBT nói trên.
Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 sau một thời gian thực hiện đã bộc lộ một số điểm hạn chế Do đó ngày 6 tháng 7 năm 1995
ủ y ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh xử lỷ vi phạm hành chính Đây là vãn bản có giá trị pháp lý cao nhất hiên nay qui định về xử lý
vi phạm hành chính Ngoài ra còn có rất nhiều các Nghị định của Chính phủ
cụ thể hóa Pháp lệnh trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó Nghị định số 49/CP ngày 15 tháng 8 năm 1996 qui định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự Tiếp đó ngày 20 tháng 11 năm 1997
Bộ Nội vụ cũng đã kịp thời ra thông tư hướng dẫn thị hành Nghị định 49/CP nói trên
Nhìn chung Pháp lênh xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành đã góp phần thiết lập hệ thống các qui phạm pháp luật về xử phạt hành chính nói chung và trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự nói riêng Cho tới nay hệ thống các biện pháp trách nhiệm hành chính không có các hình, thức đa dạng như ở giai đoạn trước nhưng lại hoàn chỉnh hơn nhiều Đó là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của pháp luật về vi phạm hành chính ờ nước ta Tuy vậy khả
Trang 36năng đáp ứng thực tiễn đấu tranh với các vi phạm hành chính trong lĩnh
vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vẫn là điều cần phải xem xét
và hoàn thiện
1.2.4 Các hình thức trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội theo pháp luật hiện hành
Trong quá trình phát triển từ năm 1945 đến nay các hình thức trách
nhiệm hành chính được hình thành trong pháp luật rất đa dạng, các hình
thức đó bao gồm: phê bình, cảnh cáo, phạt tiền, phạt lao động công ích, phạt
giam hành chính, tịch thu giấy phép, tước quyền sử dụng giấy phép v.v
Theo pháp luật hiộn hành đến nay các biện pháp trách nhiệm hành
chính nói chung và trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự
nói riêng đã được xác định cụ thể tại Điều 11, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính nãm 1995 như sau:
Đối với mỗi vi phạm hành chính cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu
một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phat tiền
Tùy theo tính chất mức độ VI phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm hành
chính còn bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung sau đây:
a) Tước quvền sử dụng giấy phép
b) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dựng để vi phạm hành chính
Ngoài phải chịu các hình thức phạt cá nhân, tổ chức vi phạm hành
chính còn có thể bị áp dụng một hoặc các biện pháp hành chính khác được
chia thành hai nhóm:
a) Buộc khôi phục lại tình trang ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm
hành chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình, xây dựng trái phép
b) Buộc thực hiện các biên pháp khấc phục tình trạng ô nhiễm môi
trường sống, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gâv ra
c) Buộc bồi thường thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra đến
1 triệu đồng
Trang 37d) Buộc tiêu hủy vãn hóa phẩm độc hại, vật gây hại cho sức khỏe con người và vật nuôi cây trồng.
Tóm lại: Trách nhiêm hành chính là một loại trách nhiệm pháp lý,
nó có đặc điểm riêng so với các trách nhiệm pháp lý khác Trong Nhà nước
xã hội chủ nghĩa trách nhiệm hành chính là phương tiện được sử dụng để
đấu tranh với những vi phạm hành chính nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội
trong lĩnh vực quản lý nhà nước
Từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (1945) tới nay,
trách nhiệm hành, chính đã qua 56 nãm hình thành và phát triển Trong
khoảng thời gian dài đó những nhà quản lý muốn xây dựng một văn bản
pháp luật chung hoàn hảo về trách nhiệm hành chính Nhưng mãi tới nám
1989 các nhà làm luật mới tiến hành pháp điển hóa pháp luật về vi phạm hành
chính với kết quả là Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính được ban hành
Nhưng, khi mà quá trình xã hội có những đổi thay cùng với những
biến động lớn của cơ chế thị trường, Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính
(1989) đã bộc lộ những mặt hạn chế nhất định Do đó nó được thay thế bởi
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995
Pháp lệnh mới này đã thể hiện bước tiến vượt bậc so với các vãn bản
trước nó, các hình thức trách nhiệm hành chính từ chỗ qui định còn tản
mạn, không thống nhất và nhiều thiếu sót khác đã trở thành một hệ thống
tương đối hoàn chỉnh
Tuy nhiên, trước đòi hỏi của thực tiễn hiện nay hệ thống này đang
bộc lộ những bất cập, vấn đề hoàn thiện pháp luật hành chính nói chung và
trách nhiêm hành chính trong lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội nói riêng đang là yêu cầu lớn và cấp bách đối với các nhà làm luật Giải
quyết được yêu cầu này là góp phần vào công cuộc cải cách nền hành chính
quốc gia, xây dựng Nhà nước pháp quyền, đảm bảo thắng lợi của công cuộc
đổi mới nước nhà
Trang 38Chương 2
THỰC TRẠNG VI PHẠM PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH v ự c AN NINH CHÍNH TRỊ, TRẬT T ự AN TOÀN
XÃ HỘI VÀ CÔNG TÁC XỬ LÝ VI PHẠM ĐÓ
ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA
Thực trạng vi phạm luật hành chính và công tác đấu tranh chống hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội ở nước ta luôn luôn gắn liền với những thay đổi về mọi mặt diễn biến trong đời sống xã hội ở nước ta Những thay đổi lớn trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học công nghệ v.v những giai đoan khác nhau trong tiến trình phát triển của xã hội đã và đang tác động rất lớn đến tình hình vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm pháp luật hành chính trên lĩnh vực an ninh, trật tự nói riêng
Thực tiễn công tác nghiên cứu và thu thập để xác định và đưa ra số liệu chung về tình hình VI phạm pháp luật hành chính và còng tác giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nước ta trong thời gian qua là một công việc rất khó khăn và bất cập Bởi vì trong lĩnh vực an ninh chính trị có một số công tác chưa có sự đăng ký thống kê về tình hình vi phạm, chẳng hạn như trong công tác chống địch phá hoại tư tưởng văn hóa, công tác bảo
vệ lãnh tụ và bảo vệ bộ máy đầu não của Đảng, Nhà nước ta Mặt khác có những vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự (tiềm ẩn) chưa được phát hiện bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, như do không có
sự phản ánh của người bị hại cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, do thiếu sót trong hoạt động phát hiện, điều tra, xử lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền v.v Chính vì lý do đó mà phạm vi của luận văn này chọn những trường hợp điển hình về vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự và công tác xử lý các vi phạm luật hành chính và công tác đấu tranh chống vi phạm pháp luật hành chính
Trang 39trong lĩnh vực an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở nước ta trong thời
gian qua
2.1« THỰC TRẠNG VI PHẠM PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH V ự c AN NINH CHÍNH TRỊ TRẬT T ự AN TOÀN XÃ HỘI
2.1.1 Hoạt động chống phá cách mạng nước ta của các thè lực thù địch trẽn lĩnh vực tư tưởng - vãn hóa
Phá hoại tư tưởng vãn hóa là một dạng đặc biệt của chiến tranh lạnh,
một hình thức chủ yếu trong cuộc đấu tranh tư tưởng của chủ nghĩa đế quốc
chống chủ nghĩa xã hội Nó được khởi xướng ngay từ khi Cách mạng Tháng
Mười thành công và được tiến hành trong tất cả các giai đoạn của thời kỳ
quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội
Hoạt động phá hoại tư tưởng vãn hóa diễn ra trên các lĩnh vực chính
trị, triết học, luật học, đạo đức, thẩm mỹ, văn học, nghê thuật, tôn giáo có
nghĩa là nó diễn ra trong phạm vi tư tưởng, ở những nơi nào có cuộc đấu
tranh tư tưởng đang diễn ra
Mục tiêu chủ yếu của kẻ địch hoạt động phá hoại tư tưởng - vãn hóa
trên đất nước ta là chúng tìm cách làm lung lay, suy yếu và tan rã tư tưởng
xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta
Hoạt động phá hoại tư tưởng chủ yếu do bộ máy thông tm, tuyên
truyền, bộ máy chiến tranh tâm lý, các trung tâm phá hoại và lật đổ, các lực
lượng đặc biệt của các nước đế quốc và phản động quốc tế tiến hành dưới sự
chỉ đạo của cơ quan tình báo, gián điệp
Trong hoạt động phá hoại tư tưởng kẻ địch thường tìm mọi cách
quan hệ (móc nối, lôi kéo, khống chế, mua chuộc, tài trợ vật chất, kích
động tinh thần) với các phần tử bất mãn, suy thoái về tư tưởng, sa đọa về lối
sống đạo đức ở trong nước để tìm cách chống phá lật đổ chế độ xã hội chủ
nghĩa Thông qua hệ thống thông tin đại chúng các thế lực phản động tăng
cường hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng Chẳng hạn, với đài "Châu
Trang 40Á tự do" chúng đang hy vọng với vũ khí tuyên truyền lợi hại này sẽ làm cho tình hình Việt Nam chuyển biến như ở Đông Âu và Liên Xô Thời gian qua khi đài "Việt Nam kháng chiến" hoạt động ở các tỉnh phía nam nước ta có những tổ chức phản động lấy cương lĩnh của "Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam" (tổ chức phản động lưu vong của Hoàng Cơ Minh) làm tôn chỉ mục đích hoạt động Tại diễn đàn câu lạc bộ trên các bản tin nội
bộ của một số tổ chức xã hội, cá biệt có người đã đưa ra luận điệu đòi đa nguvên, đa đảng, phê phán tình hình xã hội ta với dụng ý xấu Hiện nay các thế lực trong và ngoài nước vẫn tãng cường cấu kết với nhau chống phá cách mạng Viột Nam Chứng phát tán tài liệu có nội dung phản động xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta Hiện nay có trên 200 tổ chức chính trị phản động người Việt lưu vong tại các nước tư bản, các tổ chức phản động này có cơ quan ngôn luận khổng lồ gồm trên 50 nhà xuất bản, hơn 500 tờ báo việt ngữ, 6 chương trình truyền hình, 10 đài phát thanh, hàng nghìn cơ sở in sao băng viđeo và catsset phục vu cho viẹc tuyên truyền chống phá cách mạng nước ta Phong trào "Hưng ca Việt Nam" do Nguyễn Hữu Nghĩa, Đào Trường Phúc, Nguyệt Ánh cầm đầu, tập hợp ca sĩ, nhạc công sáng tác ca khúc kích động tư tưởng hằn thù chống đối chế độ Nguyệt Ánh đã từng tuyên bố "Nguyệt Ánh không thể giết quân thù bằng súng đạn, nên dùng lời ca tiếng hát khơi cao ngọn lửa câm thù trong lòng những người Việt ly hương xin mọi người hãy vì lá cờ vàng ba sọc đỏ mà nuôi chí phục thù rửa hận " Các tổ chức phản động ỉưu vong còn mở các chiến dịch "Niềm tin thắng bạo lực", "Hoa lê vàng", "ủy ban bảo vê huyền quang" "ủy ban bảo vệ Đoàn Viết Hoạt” với các hoạt động tuyên truyền
vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo, đàn áp những người bất đồng chính kiến, đàn áp văn nghệ sĩ, đòi nhà nước ta phải trả tự do cho những phần tử phản động vi phạm pháp luật bị ta xử lý
Theo báo cáo của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về công tác kiểm sát 6 tháng đầu nâm 2001 thì trong 6 tháng đầu năm 2001 đã nổi lên vấn đề