Tư tưởng chỉ đạo của đường lốì, chính sách, của Hiến pháp năm 1980 trong giai đoạn này đã được chi tiết hóa trong các văn bản pháp luật nói chung và các văn bản pháp luật kinh tế nói riê
Trang 2-TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI• • • •
P H Ù N G T H Ị H Ò A
NGUYÊN TẮC BÌNH ĐANG GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUÂT KINH TÊ HIÊN HÀNH
7 ;• ■' • r ' J h 1 ( " Ị I I Ị V í
ĨHƯVIỆN GIAO V i I n
s.•/[■:< LA 4 7
LUẬN ÁN THẠC s ĩ LUẬT HỌC• • • •
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI• • • •
Trang 4GIỮA CÁC DOANH N G H IỆP2.1 Những quy định chung của pháp luật kinh tế về nguyên tắc bình đẳng giữacác doanh nghiệp 332.2 Sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong việc thành lập và đăng ký kinhdoanh 372.3 Sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp ttong việc huy động quản lý và sử dụng vốn 43
Trang 52.4 Sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong linh vực k ế hoạch hóa và hạch toán kinh tế 532.5 Sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong việc tổ chức, quản lý và sử dụnglao động 622.6 Sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp ttong lĩnh vực cung ứng vật tư và tiêuthụ sản phẩm 712.7 Sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong việc ký kết hợp đồng kinh t ế 782.8 Sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong lĩnh vực gian nộp thuê'.852.9 Sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong việc sử dụng các khoản lợi nhuậnthu được 912.10 Sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong việc tổ chức lại doanh
nghiệp 962.11 Sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong việc áp dụng thủ tục phá sản
cỉoanh nghiệp 102CHƯƠNG 3 : MỘT s ố ĐE XưẤT, KĩẾ N n g h ị n h a m h o à n t h i ệ n
VỀ M ẶT PHẤ P LUẬT NGUYÊN TAC b ì n h đ a n g g i ữ a c á c
DOANH N G H IỆ P TRONG PHÁ P LUẬT KINH T Ế H IỆ N HÀNH
3.1 Nhận xét chung về nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong phápluật kinh tế hiện hành 1093.2 Một sô" đề xuất, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện về mặt pháp luật nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong pháp luật kinh tế hiện hành 110PHẦN K Ế T L U Ậ N 117DANH MỤC TÀI L IỆ U TH AM K H Ả O 119
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp th iế t của đề t à i :
Trong tiến trình xây dựng và phát triển kinh tế của nước ta Đại Hội Đảng lần thứ VI (1986) được ghi nhận như một mốc son lịch sử, đánh dâu một bước ngoặt quyết định đôi với sự hình thành mô hình kinh tế phù hợp với yêu cầu của quy luật khách quan
Dưới ánh sáng của đường lôi đổi mđi bắt nguồn từ Đại Hội Đảng lần thứ VI, một cơ ch ế quản lỷ kinh tế mới đã ra đời, thay thế cho cơ chế quản lý kinh tế
cũ Với đường lôi đổi mới toàn diện, một cuộc cách mạng sâu sắc đã thực sự được tiến hành đồng thời trên các lĩnh vực, mà mục tiêu là :
- Chuyển tó nền kinh tế k ế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN
- Chuyển từ nền kinh tế chủ yếu là kinh tế Quốc doanh và kinh tế tập thể sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thực hiện tự do kinh doanh theo pháp luật
- Chuyển từ nền kinh tế được xây dựng theo hướng có cơ cấu hoàn chỉnh sang một nền kinh tế mới, đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, từng bưđc hội nhập với nền kinh tế khu vực và nền kinh tê" thế giới
Đường lối đổi mới này đã được Đại Hội Đảng lần thứ VII (1991) bổ sung và phát triển, thể hiện ở cương lĩnh, chiến lược và báo cáo chính trị mà Đại Hội VII
Trang 7hỏi phải có sự đầu tư nghiên cứu làm sáng tỏ nhằm đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của công cuộc đổi mới của Cách mạng nước ta Một trong những vấn đề đó
là : Cần xác lập nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp, để tạo thuận lợi như nhau cho các doanh nghiệp trong phát triển sản xuât, kinh doanh Làm cho các doanh nghiệp có được một “sân chơi” bình đẳng để phát huy được những Ưu việt của mỗi loại hình kinh tế ; làm cho mỗi loại hình kinh tế đóng góp tốt hơn vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Vđi lý do như vậy, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp và pháp luật kinh tế hiện h àn h ” làm luận án tốt nghiệp cao học luật của mình
2 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu :
Việc nghiên cứu đề tài này có mục đích góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn, xây dựng quan niệm đầy đủ về sự bình đẳng trước pháp luật giữa các doanh nghiệp Từ đó đề xuâ't những cơ chế pháp lý thích hợp đới với việc tổ chức và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp
Đ ể thực hiện được m ục đích trên, luận án có nhiệm vụ :
- Nghiên cứu, phân tích làm rõ sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp trước
pháp luật trong cơ chê quản lý kinh tê cũ và những bât lợi của nó,
- Làm rõ đường lôi, chính sách của Đảng về nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp
- Nghiên cứu các văn bản pháp luật kinh tế thể hiện rõ nguyên tắc này Từ đó đưa ra một sô" kiến nghị về mặt pháp luật nhằm đảm bảo sự bình đẳng, công bằng cho các loại hình doanh nghiệp
v ề phạm vi nghiên cứu của luận án :
Nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp và pháp luật kinh tế hiện hành là một đề tài rất mới và phức tạp Vổi trình độ và nhận thức có hạn, tài liệu tham khảo ít, tôi chỉ đề cập đến nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp đã được khẳng định và thể hiện ttong các quy định cụ thể của pháp luật Ngoài ra luận
án cũng sẽ đi sâu phân tích thực ưạng về sự bình đẳng của các doanh nghiệp trong thực tế Qua đó, luận án đưa ra một số những nhận định, những kiên nghị
Trang 8cần thiết để bảo đảm nguyên tắc binh đẳng tníớc pháp luật của các doanh nghiệp.
3 Phương pháp nghiên cứu :
Thực hiện đề tài trên tôi đã vận dụng phương pháp luận của Chủ Nghĩa Lênin, quan điểm về vai trò quyết định của kinh tê đối với pháp luật và vai trò tác động tích cực của pháp luật đôi vđi sự phát triển của kinh tê
Mác-Bên cạnh đó đề tài còn được nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mđi Xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường,
có sự quản lý của Nhà nước theo định hưđng XHCN
Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử, phân tích, đôi chiếu, so sánh, tổng hợp Trong quá trình lý giải các vấn đề
đã được đặt ra
4 Những đóng góp mđi của luận án :
Hiện nay, quan niệm về sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp đang có sự khác biệt và chưa thông nhất Luận án sẽ phân tích một cách có cơ sở về lý luận, và thực tiễn sự cần thiết phải xác lập nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp, quan niệm về sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nền kinh t ế thị trường.Luận án phân tích một cách khoa học về tính tất yếu khách quan, nhu cầu cần phải xác lập nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp Đồng thời luận án xây dựng phương hưđng cùng các giải pháp để đảm bảo cho các doanh nghiệp cùng cạnh tranh và phát triển dựa trên sự bình đẳng, công bằng ưong một môi trường pháp lý thuận lợi
Luận án được nghiên cứu dưới góc độ của nhà nghiên cứu luật học, hy vọng luận án sẽ là một tài liệu tham khảo cho những nhà hoạch định đường lối, chính sách của Đảng Cho những nhà làm luật trong việc xây dựng các văn bản pháp luật quản lý kinh tế Đồng thời luận án còn có thể là tài liệu tham khảo cho các nhà làm công tác thực tiễn, các doanh nghiệp, tạo điều kiện góp phần thúc đẩy phát triển sản xuâỴ, kinh doanh
Trang 95 K ết cấu của luận án :
Luận án gồm lời nói đầu , 3 chương, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
Cụ thể là :
- Lời nói đầu :
- Chương 1 : Cơ sở lý luận của việc xác lập nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp
- Chương 2 : Thực trạng pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp
- Chương 3 : Những đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện về mặt pháp luật nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong pháp luật kinh tế hiện hành
- K ế t luận
- Danh m ục tài liệu tham khảo
Trang 10CHƯƠNG 1:
BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP.
1.1 Sự cần thiết của việc xác lập nguyên tắc bình đẵng giữa các doanh
nghiệp,
1.1.1 Sự b ấ t bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong cơ c h ế quản lý kinh t ế
Trong cơ chế quản lý kinh tế cũ vđi chính sách : Cải tạo quan hệ sản xuất cũ, củng côf và hoàn thiện quan hệ sản xuất Xã Hội Chủ Nghĩa ( XHCN ), Đảng ta chủ trương :
Ở Miền Bắc : “Đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN để tăng cường “cơ sở vật
ch ất’* cho quan hệ sản xuất mđi, củng cố và mở rộng nhanh chóng thành phần
quốc doanh, tăng cường hơn nữa vai trò chủ đạo của nó ưong toàn bộ nền kinh
tế quốc dân Đẩy mạnh cuộc vận động tổ chức lại sản ximt nông nghiệp theo
hướng sản xuất lớn XHCN, kết hợp củng cố HTX với xây dựng huyện thành đơn
vị kinh t ế Nông-Công nghiệp, ở Miền núi là Nông - Lâm - Công nghiệp Đôi với bộ phận kinh tế cá thể còn tồn tại trong một sô ngành nghề cần hướng dẫn phát triển đúng hướng, không để nó lấn chiếm trận địa của kinh tế tập thể và kinh tế Quốc doanh, phá rối giá cả và thị trường XHCN”
Ở Miền Nam : “Xóa bỏ các giai cấp bóc lột, cải tạo các thành phần kinh tế phi XHCN đ ể tiến tới thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần : Kinh tế quốc doanh và kinh tếhỢp tác x ã ” 1
Vđi chủ trương này ở Miền Bắc, sau những năm thực hiện chính sách cải tạo XHCN về cơ bản chỉ còn lại hai thành phần kinh tế là kinh t ế quốc doanh và kinh tế tập thể Ở Miền Nam, ngay từ cuối năm 1976, Nhà nước ta đã xóa bỏ xong giai cấp tư sản, quốc hữu hóa các cơ sở sản xuất, kinh doanh, thành lập
' (Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV).
Trang 11một hệ thông công nghiệp Quôc doanh Nhà nước cũng đã hoàn thành việc cải tạo Chủ Nghĩa Tư Bản tư doanh, chuyển các xí nghiệp tư nhân thành xí nghiệp quôc doanh hoặc công tư hợp doanh Đên năm 1978, Nhà nước đã xóa bỏ kinh
tế thương nghiệp tư sản, chuyển tư sản thương nghiệp sang sản xuât
v ề nông nghiệp, Nhà nước phát động phong trào làm ăn tập thể dưđi hai hình thức : tổ đoàn kết sản xuât và tập đoàn sản xuât và bước đầu xây dựng một sô hợp tác xã
Với đường lối đã được ghi nhận trong báo cáo chính trị của Ban Châp Hành trung ương Đảng, thông qua nghị quyết của Đại Hội lần thứ IV của Đảng, lúc này Nhà nước chỉ thừa nhận và khuyến khích hai thành phần kinh tế phát triển,
đó là thành phần kinh tế quốc doanh và thành phần kinh tế tập thể Thời kỳ này chúng ta chủ trương cải tạo thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, bắt đầu là “sử dụng”, sau đó là hạn chế và đi tới “cải tạo” thành phần kinh tế này thành thành phần kinh tế XHCN Chúng ta đã tiến hành xây dựng các doanh nghiệp Nhà nước (viết tắt là DNNN ) và đưa thương nghiệp quốc doanh cũng như mạng lưới hợp tác xã (viết tắt là HTX ) mua bán vào thay thế các doanh nghiệp và thương nghiệp ngoài qucíc doanh Trong công nghiệp sử dụng quan hệ, “Cung cấp và giao n ộ p ” còn trong thương nghiệp sử dụng quan hệ “Cung ứng và thu m ua” Việc sử dụng chính sách và các mối quan hệ kinh tế ưên đã làm cho thành phần kinh tế ngoài quốc doanh bị tê liệt và lâm vào trạng thái trì trệ, phá sản
Trong thời kỳ này, thực hiện chính sách cải tạo XHCN, thành phần kinh tế tư nhân bị coi là đôì tượng của chính sách cải tạo Sản xuất, kinh doanh của các thành phần kinh tế này bị trói buộc, kìm hãm và bị kinh tế quốc doanh chèn ép, lân lướt
Với cơ ch ế quản lý kinh tế k ế hoạch hóa tập trung, sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp thể hiện rõ nét Ở đây có sự kỳ thị , phân biệt đốì xử rất rõ ràng,
cụ thể Điều này không chỉ được thể hiện ở đường lôi chính sách của Đảng, mà còn được thể chế hóa bằng pháp luật Vị thế của các doanh nghiệp trước pháp luật lúc này là hoàn toàn khác nhau Quan niệm “Con đẻ, con nuôi”, trong đôi
xử đã xuất hiện ở vào thời kỳ này Và như vậy, khi tham gia vào các quan hệ
Trang 12pháp luật, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau có những quyền và nghĩa vụ khác nhau Sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong thời kỳ mà ở đó cơ chế là cơ chế quản lý kinh tế tập trang quan liêu bao cấp được thể hiện trong hầu hết các lĩnh vực : Từ đăng ký kinh doanh, huy động vốn, sử dụng lao động, tổ chức quản lý, phân chia lợi nhuận v.v
Hiến pháp năm 1980 ra đời trong cơ chế cũ, vì vậy nó mang những dâu ấn, đặc tính của cơ chế này Chương II quy định về chế độ kinh tế, tại điều 18 có ghi rõ : “Nhà nưđc tiến hành cách mạng về quan hệ sản xuất Hướng dẫn, sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế phi XHCN ; thiết lập và củng cô' ch ế độ sở hữu XHCN về tư liệu sản xuâ't nhằm thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yêu có hai thành phần : Thành phần kinh tế Quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế HTX thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động
Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh t ế quốc dân và được phát triển ưu tiên ”
Lúc này, quan niệm về Chủ Nghĩa Xã Hội ( CNXH ) còn có những lệch lạc, chủ quan, duy ý chí, sự hòa nhập gần như đồng nhất giữa CNXH và kinh tế quốc doanh đã dẫn đến sự thị phi, không coi trọng quy luật kinh tế khách quan, cản trớ và loại bỏ dần các thành phần kinh tế khác ngoài quốc doanh, đặc biệt là thành phần kinh tế tư nhân và kinh tế tư bản chủ nghĩa
Tư tưởng chỉ đạo của đường lốì, chính sách, của Hiến pháp năm 1980 trong giai đoạn này đã được chi tiết hóa trong các văn bản pháp luật nói chung và các văn bản pháp luật kinh tế nói riêng, thể hiện rõ nét sự phân biệt đôi xử, sự bất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, giữa các doanh nghiệp Trong đó doanh DNNN được coi trọng, được Nhà nước dành cho mọi ưu tiên, ưu đãi Sau đó là đến các HTX và cuối cùng là thành phần kinh tế tư nhân, “con g h ẻ ” của nền kinh tế XHCN
v ề nguyên tắc chung, ai muôn kinh doanh thì phải được Nhà nước cho phép kinh doanh thông qua đăng ký kinh doanh Tuy nhiên, trong cơ ch ế cũ tại bản điều lệ đăng ký kinh doanh đã cho phép : “Xí nghiệp quốc doanh, không thuộc diện phải đăng ký kinh doanh”
Trang 13Lúc này, điều lệ đăng ký kinh doanh chỉ áp dụng cho khu vực kinh tế tập thế và
cá thể Do đó, nếu là HTX mua bán, tiêu thụ và cá nhân muôn kinh doanh thì phải đăng ký kinh doanh, còn nếu đó là xí nghiệp quốc doanh thì không phải trải qua thủ tục này
Như vậy, ngay ở thủ tục đầu tiên, giúp cho các doanh nghiệp có thế đi vào hoạt động, pháp luật quy định đã có điểm khác nhau Có loại hình doanh nghiệp thì không phải đăng ký kinh doanh, lại có loại hình doanh nghiệp bắt buộc phải đăng ký kinh doanh và đây chính là trở ngại đầu tiên, mà các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh gặp phải khí muôn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh
Vốn là một vấn đề hết sức quan trọng, có ý nghĩa tiên quyết, sông còn
đốì với hoạt động của doanh nghiệp, có vốn mđi có thể nói đến hoạt động sản xuất, kinh doanh Vốn là cơ sỏ vật chất tài chính quan trọng nhất để doanh nghiệp triển khai các hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình Ở đãy, ngoài việc phân biệt đôi xử trong việc cấp phát vốn, pháp luật còn thể hiện sự phân biệt đốì xử giữa các doanh nghiệp qua điều kiện cho vay vốn, thời hạn cho vay
và tỷ lệ lãi suất cho vay của Ngân hàng đối với tòng loại hình doanh nghiệp
Quyết định số 172/HĐBT ngày 8.10.1982 về tiền tệ, tín dụng quy định :
2 Cùng vđi việc tận dụng vốn tự có của các xí nghiệp và tổ chức kinh tế, Nhà nước dùng nguồn vốn ngân sách đầu tư vào các công trình xây dựng cơ bản thuộc k ế hoạch Nhà nưđc bằng phương pháp cấp phát và tín dụng Mặt khác, bằng nguồn vốn tự huy động ngân hàng phát triển tín dụng đôi với những công trình xây dựng cơ bản trong khu vực kinh tế quốc doanh không thuộc k ế hoạch đầu tư tập trung của Nhà nước, chủ yếu nhằm vào những mục tiêu đầu tư theo chiều sâu và giúp đỡ xây dựng cơ sỏ vật chất, kỹ thuật đối với khu vực kinh tế tập thể
3 Ngân hàng phải bảo đảm kịp thời và đầy đủ mọi nhu cầu vay vcm lưu động hợp lý của các đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể
Trang 144 Vay ngoại tệ, xí nghiệp phải lập phương án sản xuât, kinh doanh cụ thể trình
bộ chủ quản (đôì với xí nghiệp trung ương) hoặc Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phô, đặc khu trực thuộc trung ương (đôi với xí nghiệp địa phương)
5 Đối với các tư nhân và tổ hợp tác đã được cấp giây phép sản xuất, kinh
doanh, ngân hàng cho vay đủ số vốn cần thiết cho các nhu cầu sản xuất kinh
doanh, trước hết là vô"n để thực hiện hợp đồng đã ký vổi các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước ”
Như vậy, đối với các DNNN, vốn cố định ban đầu do Nhà nước cấp phát Nguồn vốn lưu động được ngân hàng ưu tiên bảo đảm và cũng chỉ riêng các DNNN mới được quyền vay vốn bằng ngoại tệ Các HTX cũng được ưu tiên, quan tâm thỏa đáng, trong khi đó đôi vđi thành phần kinh tế tư nhân phải tự xoay sở vốn, việc vay ở ngân hàng hết sức khó khăn Ngân hàng cho vay nhỏ giọt, với thời gian ngắn, điều kiện thế chấp ngặt nghèo, với mức lãi suât cao,
Mà cũng chủ yêu cho vay để thực hiện các hợp đồng đã ký với các đơn vị Nhà nước, nhằm thực hiện k ế hoạch Nhà nưđc
Cụ thể trong biểu lãi suất tiền gửi và cho vay ban hành kèm theo Nghị định 165/HĐBT ngày 23.01.1982 của Hội đồng bộ trưởng quy định :
“Lãi suất cho vay vốn lưu động :
- Đối vđí các tổ chức kinh tế quốc doanh : 5% - 9%
- Đôi với các tổ chức kinh tế tập thể : 6% - 12%
- Đốì với xã viên HTXvà công nhân viên chức vay để phát triển kinh tế cá thể :9% - 12%
- Đối vđi người lao động cá thể vay để sản xuất :12% - 18%
- Đôì với các tổ chức kinh tế quốc doanh : 3.6% - 6%
- Đốì với các tổ chức kinh tế tập thể : 4.2% - 9%
Việc thực hiện nghĩa vụ đôi vđi Nhà nước cũng có sự phân biệt rạch ròi.DNNN được phép nộp tích lũy cho Ngân sách Nhà nước theo chê độ thu quôc doanh Các loại hình doanh nghiệp khác thì phải nộp thuế công thương nghiệp Ngay cả
Trang 15đôì với sản phẩm phụ, việc quy định cũng khác nhau Nghị định scí 279/CP ngày 2.8,1979 về chính sách khuyến khích sản xuất và lưu thông những mặt hàng không do Nhà nước quản lý và cung cấp vật tư, những mặt hàng sản xuất bằng nguyên vật liệu địa phương và phế liệu, p h ế phẩm quy định :
“ - Thu quốc doanh và thu thuế
+ Các xí nghiệp quốc doanh tổ chức phân xưởng phụ hoặc bộ phận sản xuất phụ
để tận dụng phế liệu, p h ế phẩm sản xuất ra những sản phẩm mới, nếu bưđc đầu gặp khó khăn thì được giảm hoặc miễn thu quốc doanh trong một thời gian
+ Khí sản xuất đã đi vào ổn định xí nghiệp phải nộp thu quốc doanh nhưng mức nộp thấp hơn so với sản phẩm chính
+ Đôi vđi kinh tế tập thể và cá thể : Nếu bước đầu gặp khó khăn thì được xét giảm hoặc miễn thuế hàng hóa trong một thời gian nhất định”
Tiếp đó, ngày 23/6/1980 ủy ban thường vụ Qucíc hội đã ban hành pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một sô" điểm về thuế công thương nghiệp, sau đó ngày 26/2/1983 Hội đồng Nhà nưđc đã ban hành pháp lệnh sửa đổi một sô" điều về thuế công thương nghiệp vẫn chỉ áp dụng cho khu vực kinh tê tập thể và cá thể, các DNNN tóc này vẫn không phải chịu thuế mà vẫn được hưởng c h ế độ thu quốc doanh
v ề điều kiện xét giảm thuế cho các HTX và các cá nhân cũng dựa trên cơ sở mức động quan hệ kinh tế với Nhà nước của họ Điều 16 pháp lệnh thuế sửa đổi quy định :
“HTX được giảm thuế lợi tức từ 5% đến 12% tùy theo trình độ quan hệ sản xuất
và mức động quan hệ kinh tế vđi Nhà nưđc”
Điều 22 pháp lệnh quy định :
“Đôi vđi các hộ riêng lẻ ; những hộ có quan hệ kinh tế với Nhà nước được giảm thuế lợi tức từ 5% đ ế 10% tùy theo mức độ quan hệ
Trang 16Trong lĩnh vực xuât nhập khẩu, quyền ưu tiên cũng chỉ thuộc về các doanh nghiệp Nhà nước Thông tư sô" 53/BNgT/VF ngày 2.10.1982 quy định về thủ tục xin và cấp giây phép xuất khẩu, nhập khâu hàng hóa quy định :
“Đôi tượng được cấp giấy phép xuât khẩu, nhập khẩu là các tổng Công ty, công
ty xuất nhập khẩu trung ương, các công ty xuất nhập khẩu tỉnh, thành phô trực thuộc trung ương Tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân chỉ được phép xuât khẩu, nhập khẩu hàng phi mậu dịch”
Đây là một đặc quyền riêng có của các doanh nghiệp Nhà nước Ngoài ra, ở các lĩnh vực khác như : sử dụng lao động, phân phôi lợi nhuận v.v ở lĩnh vực nào thì sự bâ't bình đẳng, sự phân biệt đôi xử cũng thể hiện rõ nét Lúc nào, ở đâu, doanh nghiệp Nhà nước cũng được coi trọng, được ưu tiên, ưu đãi Phần thua thiệt bao giờ cũng nghiêng về các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đặc biệt là Ihành phần kịnh tế cá thể
sổ sách, hạch toán kinh tế chỉ là hình thức, không mang nội dung thực chất
Trong khi đó thì tổ hợp sản xuất bánh kẹo Hải Đường ra đời vào năm 1979 do thiếu vốn, thiết nguyên vật liệu, lại không có thị trường tiêu thụ sản phẩm nên sản xuất của tổ hợp ngày càng bị thu hẹp, sản phẩm ứ thừa, không tiêu thụ kịp,
bị tồn kho và vốn liếng khê đọng Tổ hợp không còn cách nào khác ngoài việc buộc phải ngừng sản xuất, đi đến chỗ phá sản
Trang 17Như vậy, trong cơ chế quản lý kinh tế cũ, với đường lôi, chính sách và pháp luật cuả thời kỳ này đã tạo ra hàng loạt những bất bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp Do đó đã kìm hãm sự phát triễn, làm thui chột sự chủ động, sáng tạo, làm mất đi tính cạnh tranh vcm của một nền kinh tế.
1.1.2 Những hạn ch ế và bất lợi do cơ chế bât bình đẳng gây ra cho các doanh nghiệp và cho nền kinh t ế quốc dân.
Sự tồn tại và phát triển của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta trong những năm vừa qua là một thực tế khách quan, phù hợp với qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp vđi tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản x u ât Quy luật “phù hợp” giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là quy luật của mọi hình thức kinh tế - xã hội
C.Mác đã chỉ ra rằng : “Một ch ế độ xã hội mới - ở đây là một ch ế độ sở hữu xã hội chỉ có thể xuất hiện khi những điều kiện tồn tại của nó đã có hoặc ít ra cũng hình thành” 1
Ở nước ta trong cơ chê' cũ, do không tôn trọng yêu cầu của quy luật “phù h ợp”, chúng ta đã nôn nóng, đôì cháy giai đoạn Muôn thiết lập nhanh chóng quan hệ sản xuất XHCN mà không tính đến sự phát triển của lực lượng sản xuất nên đã phải chịu nhiều hậu quả nặng nề
Vđi cơ c h ế k ế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp Vđi ý thức dựa vào đội
quân chủ lực là các DNNN, chúng ta đã không giải quyết được các vấn đề kinh
tế, xã hội một cách căn bản và có hiệu quả Nhiều nguồn lực sẩn có trong nưổc, trong các tầng lđp dân cư đã không được khơi dậy để huy động vào mục đích đúng Trong thời kỳ này, vđi chính sách cải tạo XHCN, đặc biệt là chính sách đôl với Công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam Với quan niệm thành phần kinh t ế cá thể là mầm mống của “chủ nghĩa tư bản, là di sản” của ch ế độ
cũ để lại, cần cải tạo, xóa bỏ Từ đó, bằng chính sách và pháp luật, đã gò ép tập thể hóa, áp đặt hình thức kinh doanh Chỉ chú ưọng và ưu tiên, ưu đãi hai thành
1 Lời tựa cuốn “ góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị C.Mác, tiếng Việt, NXB Tiến Bộ Matxcơva -1976
Trang 18phần kinh tế là thành phần kinh tế Quốc doanh và thành phần kinh tố tập thể Điều đó dẫn đến các doanh nghiệp không có cùng các điều kiện để phát triển,
có sự khác biệt về quyền và nghĩa vụ giữa các doanh nghiệp, Cùng là doanh nghiệp nhưng có ỉoại hình doanh nghiệp thì được cấp phát vốn đầy đủ, được tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuât, kinh doanh Trong khi đó, có loại hình doanh nghiệp phải tự bươn trải, hầu như hoàn toàn không nhận được sự trợ giúp từ phía Nhà nước
Trong tuyên bcí của chính phủ về chính sách đôi vđi Công thương nghiệp tư bản
tư doanh ở Miền Nam, phần nói về quan hệ giữa kinh tế quốc doanh và công thương nghiệp tư bản tư doanh đã khẳng định :
“Dưới ch ế độ ta, thành phần kinh tế quôc doanh giữ vị trí lãnh đạo Đôi với Công thương nghiệp tư bản tư doanh, kinh tê' quốc doanh có nhiệm vụ giúp đỡ, phôi hỢp và hướng dẫn hoạt động theo một quy hoạch và k ế hoạch chung nhằm phát triển nền kinh tế q u ô c d ân ”
Với vị trí đã được xác định “Giữ địa vị lãnh đạo" lúc này thành phần kinh tê' quốc doanh là tất cả, là hướng đi, là CNXH Cùng vđi thành phần kinh tế quốc doanh là thành phần kinh tế tập thể Với tư tưởng chỉ đạo được thể hiện rõ trong báo cáo chính trị của ban chấp hành trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV : “ Phải xóa bỏ chế độ sỡ hữu tư bản chủ nghĩa và cải tạo ch ế
độ sở hữu cá thể của nông dân và thợ thủ công, xác lập c h ế độ sở hữu XHCN dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, bằng những phương pháp
và bước đi thích hợp, phải ra sức phát triển thành phần kinh tế quốc doanh ngày càng lớn mạnh, xây dựng nhanh chóng thành phần kinh t ế tập thể, tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp và đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn XHCN
VI vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, chúng ta đã chạy theo hình thức, sô" lượng, phát triển nhanh chóng tổ chức kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Nôn nóng, chủ quan, duy ý chí thể hiện trong cả bước đi, quy mô và hình thức
Được xác định là cơ sở nền tảng của nền kinh tế quốc dân Vì vậy chỉ hai thành phần kinh tế là thành phần kinh tế quốc doanh, thành phần kinh tê tập thể được Nhà nước quan tâm, coi trọng Thành phần kinh tế cá thể thì bị kỳ thị, ỏ vào vị
Trang 19thế hết sức thấp kém Chẳng những không được Nhà nước khuyên khích phát triển mà còn là đôi tượng của chính sách cải tạo, cần phải loại bỏ dần, Điều này
đã được minh chứng rất rõ qua những chủ trương, chính sách, những quy định cụ thể của Đảng và Nhà nước,
Sự bao cấp toàn diện, mọi mặt của Nhà nước đối với doanh nghiệp Nhà nước Những ưu tiên, ưu đãi nhâ't định đôi với doanh nghiệp tập thể đã dẫn đến tình trạng thụ động, gây ra tâm lý ỷ lại, trì trệ, trông chờ vào Nhà nước Làm triệt tiêu khả năng sáng tạo, thui chột những tài năng, các sáng kiến, năng động của người lao động, của các doanh nghiệp Làm mất đi “Động lực bên trong” của mọi sự phát triển
Đôi với DNNN, nhiệm vụ cơ bản của các DNNN là : “phân đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu k ế hoạch Nhà nước giao” Tức là chỉ lo khâu
tổ chức, chỉ đạo sản xuất, còn “đầu v ào ” và “đầu r a ”, của các doanh nghiệp, về
cơ bản là được Nhà nưđc lo liệu Nguyên vật liệu do Nhà nước cung cấp, muôn nhập máy móc, thiết bị doanh nghiệp chỉ việc đề nghị Bộ chủ quản nhập Kê hoạch, chỉ tiêu pháp lệnh Nhà nước đưa từ trên xuống, sô" lượng và chât lượng sản phẩm chủ yếu tiêu thụ theo địa chỉ qui định Vì vậy, doanh nghiệp không cần quan tâm đến thị trường, không quan tâm đến “đầu v à o ”, đầu r a ”, cũng không cần tính đến khả năng sinh lợi, vì rằng : lãi thì nộp ngân sách Nhà nước,
lỗ thì đã có Nhà nước bù
Đôi với các hợp tác xã, vđi phương thức “cung ứng và thu m u a”, quản lý theo
hệ thông chỉ tiêu pháp lệnh, thực hiện cơ chế giá chỉ đạo, hạn chế lưu thông lương thực, hàng hóa Thực hiện chủ trương “ngăn sông, câm ch ợ ” đã làm cho các HTX k ém phát triển Riêng đôl với thành phần kinh tế cá thể thì bằng mọi biện pháp, chính sách, hạn ch ế sự phát triển và tiến tới ỉoại bỏ dần
Một cơ c h ế quản lý xơ cứng, thể hiện sự bất bình đẳng nghiêm trọng giữa các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế vđi nhau hậu quả là đã làm cho sức lao động của nước ta bị kìm hãm, nền kinh tế của nước ta lâm vào tình trạng trì trệ, thậm chí có những lĩnh vực bị suy thoái nặng nề, dẫn đến khủng hoảng Đời
Trang 20sông của tuyệt đại bộ phận nhân dân lao động sa sút, lòng tin vào Đảng, vào Nhà nưđc trong một bộ phận nhân dân suy giảm.
Có thể nối, những hạn chế và bất lợi do cơ chê' bất bình đẳng gây ra cho các doanh nghiệp và cho nền kinh tế qucíc dân là vô cùng nghiêm trọng Nó đã làm mất đi khả năng sáng tạo, sức cạnh tranh, sự phát triển của các doanh nghiệp Làm cho nền kinh tế của nước ta kém phát triển trong một thời gian dài
Thực tế, chúng ta chưa hiểu được, sự tồn tại mô hình cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là một quá trình lịch sử tự nhiên, có ý nghĩa chiến lược lâu dài, là tính quy luật của quá trình chuyển sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN Vì vậy, cần phải
có một cơ ch ế quản lý kinh tế mới, tạo ra sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cùng phát triển trong những điều kiện, môi ưường thuận lợi,
1.1.3 Sự cần thiết phải xác lập nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp.
Thời kỳ 1976 - 1986, sau khi hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Mặc dù chúng ta ỷ thức rất rõ về sự cần thiết phải xây dựng một nước Việt Nam hùng mạnh - cả về kinh tế - chính trị và xã hội Song do bối cảnh lịch sử
và do những khó khăn bắt nguồn từ các nguyên nhân chủ quan và khách quan,
Cơ ch ế quản lý kinh tế xơ cứng đã làm cho nền kinh tế của nước ta ỉâm vào tình
trạng kém phát triển, trì trệ và khủng hoảng Với tỷ lệ lạm phát lên tới 3 con số,
mà đỉnh điểm là năm 1986, lạm phát ở chỉ sô" 774, 7% thì nhiều người cho rằng
nền kinh tế Việt Nam đã lùi vào chân tường
Đ ể có một nước Việt Nam hùng cường, có thể sánh vai với các cường quốc năm châu theo ý nguyện thiết tha của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, chúng ta phải tìm được con đường ra
Vđi xu thế phát triển chung của thế giới vào những năm 1980 là cải cách công nghệ với tộc độ nhanh và thị trường hóa Cũng như tạo ra một xu thế tập trung hóa và toàn cầu hóa cao Việt Nam muôn phát triển không thể đứng ngoài
Trang 21Với mong muôn “hòa n h ập ”, “Việt Nam muôn làm bạn vđi tất cả các nước”, nhât là ưong lĩnh vực kinh tế, điều tất yếu là chúng ta phải tạo ra nét tương đồng với họ Chúng ta không thể giữ lại những quan niệm, đường lôi, cơ c h ế cũ, không còn phù hợp vđi thực tế của chính nưđc ta và khác xa vđi các nước khác Lúc này, một yêu cầu khách quan được đạt ra là : Muôn phát triển kinh tế, muôn “hòa n h ập ” với thế giới, điều đầu tiên, chúng ta phải xóa bỏ cơ ch ế cũ, một cơ ch ế đã cản đường chúng ta trên con đường phát triển Từ đó, hạn ch ế và khắc phục những bất lợi mà cơ chế cũ đã gây ra; tạo ra một hưđng đi mđi cho các doanh nghiệp, cho nền kinh tế nước nhà Hai chữ “đổi m ới” lúc này vang lên như một khẩu hiệu chiến lược bao trùm trong đời sông xã hội Đảng ta đã xem “đổi m ớ i” là vân đề có ý nghĩa sông còn, ưong đó phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, tạo ra sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp, từ đó phát huy nguồn lực của mọi thành phần kinh tế, góp phần công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Cùng với việc xóa bỏ sự bất bình đẳng của cơ chế cũ, lúc này yêu cầu của công cuộc đổi mới tòan diện đất nước đòi hỏi cần phải dân chủ hóa nhiều mặt mà trước hết là dân chủ hóa trong đời sông kinh tế, Muôn vậy phải bảo đảm nguyên tắc tự do kinh doanh Quyền này đã được ghi nhận trong hiến pháp 1992
và trở thành một nguyên tắc hiến định Sẽ không đảm bảo được quyền tự do kinh doanh và sẽ chỉ là hình thức nêu chúng ta không xác lập nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp Hơn thế nữa chỉ thiết lập nguyên tắc bình đẳng mới có thể tạo ra được sự cạnh tranh lành mạnh, nếu chỉ có sự bất bình đẳng, sẽ không có sự cạnh tranh và cũng sẽ không có sự tự do cạnh tranh lành mạnh nếu thiếu sự qui định của pháp luật nhằm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng của các doanh nghiệp trước pháp l u ậ t
Việc cần thiết phải xác lập nguyên tắc bình đẳng của các doanh nghiệp còn xuất phát từ nguyên lý : ngòai quan hệ hàng dọc giữa các doanh nghiệp còn có quan
hệ ngang VI vậy cần tạo ra hành lang như nhau đốì vđi các loại hình doanh nghiệp, có nghĩa là : trong những hòan cảnh như nhau, doanh nghiệp đuỢc hưởng những khả năng điều kiện và cơ hội như nhau, không có sự phân biệt đối
xử nào
Trang 22Với sự chuyển đổi cơ chế từ cơ chế’quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN Với sự nhận thức đúng đắn quy luật khách quan trong thời kỳ quá độ xây dựng CHXN Đảng và Nhà nước đã nhìn nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế trong một cơ chê mđi.
Như vậy, vổi sự tồn tại và họat động của các chủ thể kinh doanh thuộc nhiều thành phần kinh tế buộc Nhà nước ta với tư cách là một tổ chức quyền lực công phải xác lập nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp
Cần tạo ra một hành lang pháp luật, cần tạo ra một “sân chơi” bình đẳng cho các doanh nghiệp, Các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau cần có một cơ hội như nhau Đó là một môi trường kinh doanh tương đốì thông thoáng nhưng cũng không kém phần quyết liệt, “thương trường” như
“chiến trường” Với một thực tế như thế, các doanh nghiệp đều phải năng động, sáng tạo, tự vươn lên để khẳng định mình
Bằng việc xóa bỏ bao cấp trong sản xuất, kinh doanh, giao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp, để các doanh nghiệp tự hạch toán độc lập, đã khiến cho DNNN, doanh nghiệp tập thể không thể ỷ lại, trổng chờ vào Nhà nước được nữa Lúc này, chỉ có làm ăn có hiệu quả mới có thể làm cho doanh nghiệp đứng vững Hiện tượng “lời giả, lỗ thật” ưong các DNNN trước đây không còn “đ ấ t” để tồn
Sự sông động của cơ chế thị trường cho phép khẳng định doanh nghiệp nào làm
ăn có hiệu quả, doanh nghiệp nào làm ăn thua lỗ Trưđc đây, các khoản bao cấp
bù lỗ đã cào bằng những cố" gắng thực sự của một số DNNN làm ăn tốt và che lâTp những m ặt yêu kém của những doanh nghiệp làm ăn tồi Hậu quả là đã triệt tiêu động lực của tất cả các đơn vị kinh tế cơ sở Sự điều chỉnh k ế hoạch một cách chủ quan, tùy tiện đã làm cho hầu như DNNN nào cũng hoàn thành kê hoạch, cũng có thưởng và như th ế cũng có nghĩa là các doanh nghiệp đều hoạt động có hiệu quả
Nay, cơ ch ế quản lý kinh tê mổi đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phát huy được tiềm năng thực sự của mình Quyền tự
Trang 23chủ sản xuât, kinh doanh, sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp ưong cơ chê quản
lý kinh tế mới đã đem lại nguồn sinh lực mđi, kích thích các doanh nghiệp tận dụng và khai thác mọi khả năng tiềm tàng của mình mà trong cơ chê quản lý kinh tế cũ không có điều kiện để tận dụng và phát huy
Trong nền kinh tế nhiều thành phần, hoạt động trong môi trường cạnh tranh theo cơ chế thị trường, mỗi doanh nghiệp là một chủ thể kinh doanh độc lập Mục tiêu hàng đầu trong hoạt động cửa doanh nghiệp là phải sinh lợi
Lúc này, các quy luật của nền kinh tê' thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh ngày càng có dịp thể hiện Tồn tại và phát triển là một thử thách lớn đồi vđi các doanh nghiệp Cũng tò đây, quyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp mới được thực hiện một cách đầy đủ và sáng tạo Đ ể có thể sản xuât và sinh lời, các doanh nghiệp phải tự mình xác định chủng loại mặt hàng để sản xuất, điều quan trọng là làm sao mặt hàng đó được thị trường chấp nhận
Các doanh nghiệp phải tự chủ đầu tư cải tạo, trang bị lại máy móc, thiết bị, kỹ thuật và công nghệ để đổi mđi mặt hàng, nâng cao chất lượng sản phẩm, cạnh trang với hàng trong nước và hàng ngoại nhập
Thực tiễn ở nước ta trong những năm vừa qua đã chỉ ra rằng : Chúng ta không
thể tiếp tục quản lý nền kinh tế theo cơ chế cũ mà phải quản lý theo một cơ chế mới, phù hợp vđi đặc điểm của sự phát triển lịch sử, xã hội, phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Không như vậy sẽ làm thui chột các sáng kiến, sự năng động của người lao động, của các cơ sở sản xuất, làm mất đi “động lực bên ư o n g ” của mọi sự phát triển
Cơ chê quản lý kinh tế mđi đã tạo ra sự bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Từ đó phát huy và tận dụng tôi đa nguồn lực trong rníđc và ngoài nưđc, tạo tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ của đất nước ta trong những năm sắp tới
1.2 Đường lốì, chính sách của Đảng về việc xác lập nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp.
Trang 24Hơn 50 năm đã đi qua kể từ ngày Cách Mạng Tháng 8 thành công và nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời Từ đó đến nay, chúng ta đã chứng kiến biết bao sự kiện trọng đại trong đời sông chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước Trên góc độ xây dựng và phát triển kinh tế, nửa th ế kỷ qua cũng là thời kỳ nước
ta đã trải qua nhiều bước thăng trầm, gặp phải nhiều khó khăn, thử thách Nhưng chúng ta có một thuận lợi rất cơ bản là có sự lãnh đạo đúng đắn và tài tình của Đảng Cộng Sản Việt Nam suốt các chặng đường lịch sử được cụ thể hóa ưong đường lốì phát triển kinh tế - xã hội nói chung, đường lốì phát triển kinh tế nói riêng đặc biệt trong thời kỳ đổi mổi và mở cửa
Vđi đường lôi đổi mđi bắt nguồn từ Đại hội Đảng lần thứ VI, sau đó được tiếp tục khẳng định và hoàn thiện tại Đại hội Đảng lần thứ VII, Đại hội Đảng lần thứ VIII Tầm vóc trí tuệ của Đảng ta đã ngày càng được khẳng định
Trải qua 10 năm đổi mới, với việc thực hiện hai k ế hoạch 5 năm tò 1986 đến
1995, nước ta đã đạt được những thành tựu đáng phân khởi trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội
NgƯỢc dòng thời gian trở lại trước đây hơn 10 năm Mặc dù vẫn còn có bao cấp của quôc tê khá lđn nhưng nền kinh tẻ nưdc ta luồn trong tình trạng trì trệ, kém phát triển, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân mỗi năm của k ế hoạch 5 năm
1976 - 1980 là 0,4%, 1981 - 1985 là 6,4% Tiếp đến là những tháng năm chuyển đổi nền kinh tế và trả giá cho sai lầm của quá khứ Vì vậy tốc độ tăng bình quân mỗi năm của k ế hoạch 5 năm 1986 - 1990 chỉ đạt 3,9% Chỉ đến năm 1990, chúng ta mới cơ bản đoạn tuyệt được với cơ ch ế quản lý kinh tế cũ, xác lập được
cơ c h ế mới về nguyên tắc Từ năm 1991 đến nay công cuộc đổi mới kinh tế mới đích thực đi vào quỹ đạo Mức độ tăng trưởng kinh tế trong k ế hoạch 5 năm
1991 - 1995 của nước ta đã đạt ỏ tốc độ cao, không thua kém tốc độ của những
“con rồ n g ”, “con h ổ ” d khu vực và ở trên thế giới
Năm 1991 tăng 6%, 1992 tăng 8,6%, 1993 tăng 8,1%, 1994 tăng 8,5%, 1995 tăng 9,5% Tính bình quân mỗi năm tăng 8,2%l Không chỉ cao hơn tốc độ tăng
' Nguồn :Trung tâm báo chí Đại Hội ĐCS Việt Nam lần thứ VIII
Trang 25bình quân của ba k ế hoạch 5 năm trước mà còn cao hơn cả mục tiêu đề ra cho
k ế hoạch 5 năm này là tăng bình quân mỗi năm từ 5,5% - 6,5% Cứ đà này, năm
2000 nền kinh tế nước ta sẽ có quy mô gấp hơn hai lần năm 1990
Một thành tựu quan trọng khác là chúng ta đã đẩy lùi được siêu lạm phát Trong những năm 1986 - 1988, giá bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tăng hàng
năm ồ mức ba con sô", năm 1986 là 774,7%, 1987 là 223,1%, 1988 là 393,8%
nhưng năm 1989 chỉ còn 34,7%, năm 1990 67,4%, 1991 là 67,6%, 1992 là 17,6%, 1993 là 5,2% 1994 14,4% và 1995 là 12,7%1 Từ đó đến nay lạm phát được kiềm c h ế ở mức tương đôi ổn định
Là một nưđc nông nghiệp, chúng ta đã coi trọng sự phát triển của nông nghiệp
Đã 7 năm nay, chúng ta vượt ngưỡng ước mỏ 21 triệu tân lương thực mỗi năm
và năm sau luôn tăng hơn năm trước - sản lượng lương thực quy thóc năm 1989 cũng như năm 1990 đều đạt 21,5 triệu tấn, 1992 : 24,2 triệu tấn, 1993 : 25,5 triệu tân, 1994 : 26,2 triệu tân và năm 1995 : 27,5 triệu tấn2 Hiện nay, mỗi năm chúng ta đã xuất khẩu từ 2,5 triệu tấn đến 3 triệu tân gạo, đứng vào vị trí thứ ba trong danh sách các nước xuât khẩu gạo nhiều nhất của năm châu lục (chỉ đứng sau có Mỹ, Thái Lan)
Những thành tựu kinh tế - xã hội đạt được trong những năm đổi mới vừa qua, nhâ't là trong 5 năm 1991 - 1995, là kết quả của đường lốì đổi mới do Đảng ta khởi xưđng và lãnh đạo Đó cũng là kết quả của sự phù hợp giữa ý Đảng với lòng dân
Đâ't nước ta tiến hành đổi mới trong bôi cảnh có nhiều khó khăn, kể cả khách quan và chủ quan Trong nước kinh tế yếu kém, trì trệ, khủng hoảng Bên ngoài, các nước Đổng Âu và Liên Xô lâm vào tình ưạng khủng hoảng toàn diện
và đi đến sụp đổ Điều này càng chứng minh sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta, sự nhạy bén chuyển đổi kịp thời về đường lối, chiến lược trong một giai đoạn cực
kỳ khó khăn, gian khổ
1 Nguồn : tổng cục thông kề
2 Nguồn : tổng cục thống kê
Trang 26Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VI - Khóa VI đã khẳng định : “Thực hiện nhất quán chính sách cơ câu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi năng lực sản xuất là vấn đề có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên CNXH”.
Đây thực sự là những tiền đề lý luận quan trọng cho việc xác định cơ chế quản
lỷ kinh tế mới Đó cũng là cơ sở cho bước chuyển từ cơ ch ế tập trung quá mức, quan liệu, bao cấp sang cơ chế k ế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh XHCN Trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật và phạm trù kinh
tế của sản xuâ't và lưu thông hàng hóa : Quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, hạch toán kinh tế, quan hệ tiền - hàng,
Như vậy, Đại hội Đảng lần này đã khẳng định chính sách xây dựng cơ cấu kinh
tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH
Báo cáo chính trị của Ban Châp Hành Trung Ương tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cũng đã chỉ rõ :
“Xuất phát từ sự đánh giá những tiềm năng tuy phân tán nhưng rất quan trọng trong nhân dân, cả về sức lao động, kỹ thuật, tiền vốn, khả năng tạo việc làm, chúng ta chủ trương : Đi đôi vđi việc phất triển kinh tê quôc doanh, kinh tê tập thể, tăng nguồn tích lũy tập trung của Nhà nưđc và tranh thủ vô'n nước ngoài, cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác” và
“giải pháp đó xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vận dụng quan điểm của LêNin coi nền kinh tế có cơ câu nhiều thành phần là một đặc trứng của thời kỳ quá độ
Đại hội lần thứ VI của Đảng đã xem việc : “ Đẩy mạnh cải tạo XHCN là nhiệm
vụ thường xuyên, liên tục ttong suốt thời kỳ quá đ ộ ” chứ không chỉ trong chặng đường đầu tiên Đó là quan điểm mới, thể hiện tư tưởng của V.I LêNin về việc
sử dụng các thành phần kinh t ế dưới các hình thức của chủ nghĩa tư bản Nhà nước, Trong chính sách kinh tế mới của mình (N.E.P) V.I.Lênin đã chỉ ra là :
“Chỉ trông vào bàn tay những người cộng sản để xây dựng xã hội Cộng sản, đó
là một tư tưởng hết sức ngây thơ mà phải biết dùng bàn tay của người khác để xây dựng nền kinh t ế ây và bản thân mình học tập giai cấp tư sản ấy và hướng
Trang 27giai câp ấy theo con đường mình muôn, khi đó ta mới có thể lãnh đạo được nền kinh t ế ” 1
Vận dụng sáng tạo tư tưởng V.I.Lênin, từ nhận thức đúng đắn, Đại hội lần thứ
VI của Đảng đã phê phán nghiêm khắc những khuyết điểm trong cải tạo và sử dụng các thành phần kinh tế : “Chúng ta chưa xác định rõ ràng, nhất quán những quan điểm, chủ trương và chính sách chỉ đạo công cuộc cải tạo XHCN
Đã có những biểu hiện nóng vội, muôn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi XHCN, nhanh chóng biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh” và “cách làm thường theo kiểu chiến dịch, gò ép, chạy theo sô' lượng, coi nhẹ chết lượng
và hiệu quả; sau những đợt làm nóng vội, lại buông lỏ n g ”
Để tạo lập ưật tự kinh tế tiến bộ, từng bước cải tạo và quản lý, sử dụng cơ cấu kinh t ế nhiều thành phần Đại hội lần thứ VI của Đảng đã vạch rõ : “Cuộc sông cho ta một bài học thấm thìa là không thể nóng vội, làm trái quy luật Nay phải sửa lại cho đúng như sau : Đẩy mạnh cải tạo XHCN là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH, vđi những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuât phù hợp vđi tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, luôn luôn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản
xu ất”
Trước hết, sự khẳng định chính sách sử dụng cơ câu kinh tế nhiều thành phần trong suôt thời kỳ quá độ tức là khẳng định đổi tượng khách quan của quản lý bao gồm không chỉ thành phần kinh tế XHCN mà là tất cả các thành phần kinh
tế sản xuất, kinh doanh hợp pháp Nói cụ thể hơn, các thành phần kinh tế đều là đôi tượng lãnh đạo của Đảng, đôi tượng quản lý của Nhà nước
v ề mục tiêu và nhiệm vụ quản lý cũng được đặt lại một cách cơ bản : Mục tiêu không phải ngay lập tức đưa các thành phần kinh t ế tư nhân, cá thể trở thành kinh t ế quốc doanh và tập thể, tức là lấy công hữu hóa, tập thể hóa, lấy quan hệ
sở hữu làm mục tiêu cơ bản Ngày nay, mục tiêu là huy động, sử dụng sức sản xuâ't của các thành phần kinh tế tư nhân, cá thể trong chừng mực nó còn có lợi cho quốc k ế dân sinh
' V ỉ L ê Nin, tò a n tập, Tiếng Việt, NXB T iến bộ M atxơva 1978 T 43, tr 276
Trang 28Như vậy, quá trình cải tạo đồng thời là quá trình sử dụng, đưa vào quỹ đạo để quản lý, khắc phục tính tự phát, vô tổ chức vô"n có của kinh tế tư nhân, cá thể, trong sản xuất cũng như trên thị trường.
Theo quan điểm mới, các thành phần kinh tê XHCN và tư nhân, cá thể không bị phân cách, đôi lập, loại trừ nhau mà liên kết, liên doanh, trong đó thành phần kinh tế XHCN là chủ đạo
Với việc thừa nhận sự tồn tại khách quan của các thành phần kinh tế, với chính sách cải tạo và khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế ngoài quôc doanh phát triển, Đại hội Đảng lần thứ VI đã khẳng định một nguyên tắc hết sức quan trọng mà ở trong cơ chế quản lý kinh tế cũ không có Đó là nguyên tắc bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, giữa các loại hình doanh nghiệp trước pháp luật
Trên cơ sđ quan điểm đổi mới của Đại hội VI, một cơ chế quản lý vĩ mô đã được xác lập Tuy nhiên, xét về tổng thể thì việc đổi mới quản lý lúc này mới thực hiện việc di chuyển quân cờ trên bàn cờ, chưa tạo được một th ế cờ vững chắc Vì vậy, tổng kết quá trình bước đầu đổi mới cơ ch ế quản lý kinh tê trong những năm đầu, Đại hội Đảng lần thứ Vỉỉ đã chỉ rõ : “Phải tiêp tục xóa bỏ cơ
ch ế tập trang, quan liệu, bao cấp, chuyển sang cơ ch ế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, k ế hoạch, chính sách và các công cụ k h ác” Và :
“Chúng ta chủ trương thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, theo định hướng XHCN, Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp Các hình thức sở hữu có thể hỗn hợp, đan k ết với nhau, hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng Các doanh nghiệp, không phân biệt quan hệ sở hữu, đều tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh vđí nhau, bình đẳng trước pháp luật
Đường lôi đổi mđi toàn diện của Đại hội VI, được k ế thừa và khẳng định tại Đại hội VII “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” và
“chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000” đã được thông qua Các nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương và của Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII đã cụ thể hóa cương lĩnh và chiến lược đó
Trang 29trên hầu hết các lĩnh vực, từ kinh tù' đến xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh,
đôì ngoại, xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước Tất cả đều thể hiện đường lôi đổi mới sinh động, toàn diện của Đảng ta
Ciiơng lĩnh xây dựng đất nước trong thời kv quá độ lên CNXH đã khẳng định :
“Phát triển một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo Kinh tế tập thể không ngừng được củng
cố và mở rộng Kinh tế cá thể còn có phạm vi tương đôi lớn, từng buớc đi vào con đường làm ăn hợp tác trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi
Tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quôc t ế dân sinh
do pháp luật quy định ”
Đồng thời p h ả i :
“Xóa bỏ triệt để cơ ch ế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, hình thành cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nưđc bằng pháp luật, k ế hoạch, chính sách và các công cụ khác ”
Tiếp đó, các văn kiện của Đại hội VIII đã k ế thừa và phát ưiển hơn nữa nhữog đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng ta trong sự nghiệp đổi mđi Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng Khóa VII tại Đại hội, Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định : “Thực hiện nhâ't quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Lấy việc giải phóng sức sản xuất, động viên tôi đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho công nghiệp hóa, hiện đại h ố a ”
Với chính sách : Tiếp tục thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, khuyên khích mọi doanh nghiệp, cá nhân
trong và ngoài nưđc khai thác các tiềm năng, ra sức đầu tư phát triển, yên tâm
làm ăn lâu dài, hợp pháp, có lợi cho quốc k ế dân sinh Đốì xử bình đẳng với mọi thành phần kinh tế trước pháp luật, không phân biệt sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh, đã thực sự làm cho nền kinh tế của nước ta tiếp tục khởi sắc, đưa lại những thành tựu đáng mừng, khiến cho nhân dân ta càng vững tin vào đường lôi
Trang 30đổi mới của Đảng, đồng thời tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của dư luận quốc tế.
Báo cáo của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa VII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng phần : “Phương hướng, nhiệm vụ k ế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996 - 2000” trong đó “Nhiệm vụ tổng quát” được chỉ rõ :
“Giai đoạn từ nay đến năm 2000 là bước râ't quan trọng của thời kỳ phát triển mới - đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhiệm vụ của nhân dân ta là tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát ưiển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN ”
Trên cơ sở nhiệm vụ tổng quát trong phát triển kinh tế phải thấu suôt tư tưởng chỉ đạo sau đây : “Tiếp tục thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh t ế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hưđng XHCN; phát huy mọi nguồn lực để phát triển lực liíỢng sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đai hóa Đổi rađi căn bản tổ chức và quản lý, nâng cao hiệu quả khu vực kinh tế Nhà nước để phát huy vai trò chủ đạo Đổi mới và phát ưiển đa dạng các hình thức kinh tế hợp tác từ thâ'p đến cao, triển khai thực hiện luật hợp tác xã Mở rộng các hình thức liên doanh, liên k ế t giữa kinh tế Nhà nưđc với kinh tế tư nhân trong và ngoài nước Phát huy khả năng của kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân ”
Mặc dù cho đến nay, nền kinh tế nước ta vẫn còn có những mặt chưa thật vững chắc, đường lên phía trưổc không phải chỉ có thảm đỏ và hoa tươi mà còn đầy rẫy những thử thách, nhưng không phải vì thế mà không thây hết những thành tựu to lớn đã đạt được qua 10 năm đổi mđi
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với đường lôi đổi mđi đầy trí tuệ và đúng đắn Nước ta đã vượt qua những thách đô' gay go nhất của thời kỳ chuyển đổi toàn bộ nền kinh tế, từ cơ ch ế quản lý kinh tế cũ sang cơ ch ế mđi, sự hụt hẫng về viện trợ, đảo lộn về ngoại thương do sự sụp đổ của Liên Xô cũ và của các nước Đông
Trang 31Âu Khó khăn đang tồn tại và sẽ phát sinh là có thực nhưng chỉ là khó khăn của yêu cầu phát triển, tăng tốc nền kinh tế chứ không phải là khó khăn có thể dẫn nền kinh t ế đến chỗ sụp đổ như những năm trước đây.
Vđi đường lối đổi mđi bắt đầu tư Đại hội VI, được k ế thừa, phát triển và khẳng định tại Đại hội VII, Đại hội VIII Chắc chắn nền kinh tế nước ta sẽ cất cánh.Trong buổi lễ ưao tặng nưđc ta danh hiệu : “Nước quản lý kinh tế tốt nhâ't Châu
Á năm 1992” (21/11/1993) Ông Ri-Sôt En-So giám đốc điều hành của tổ chức tiền tệ Châu Âu đã nói : “Việt Nam đã đạt được thành tựu kinh t ế ngoạn mục
với mức tăng trưởng kinh tế cao và hạ thấp tỷ lệ lạm phát ở con số mà nhiều
nưđc đang phát triển mơ ước”
Lại nữa, Viện phát triển quốc tế Ha-Vđt sau nhiều lần đến tìm hiểu và nghiên cứu động thái kinh tế Việt Nam trong những năm thực hiện đường lối đổi mổi
do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã viết cuốn : “Theo hướng Rồng bay : cải cách kinh tế ổ Việt N am ” Ngay những dòng đầu tiên của lời mở đầu đã ghi : “Việt Nam đạt được nhiều thành tựu đáng kinh ngạc trong những năm đầu của quá trình chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường Trong vòng có 7 năm, Việt Nam đã thực hiện đươc những bưđc chuyển tiêp lớn lao, nhanh hơn cả Trung Quốc và hiệu quả cao hơn cả Nga và Đông Âu vào cùng thời đ iể m ”
Có thể sẽ là không khách quan nếu chúng ta tự nhìn nhận, đánh giá và ngợi khen mình Còn người nước ngoài đâu dễ đưa ra một lời khen trao tặng một danh hiệu cho chúng ta Điều này, càng khẳng định đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta trong những năm vừa qua cũng như trong những năm sắp tđi
1.3/ Các quan điểm về bình đẳng trưđc pháp Luật giữa các doanh nghiệp.
Trong các văn kiện của Đảng tại Đại hội VI, Đại hội VII và Đại hội VIII đều khẳng định : Giữa các thành phần kinh tế, giữa các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu, hình thức tổ chức kinh doanh đều bình đẳng trước pháp luật
Trang 32Vậy quyền bình đẳng giưa các doanh nghiệp trước pháp luật được hiểu như thê nào ?.
Theo 'nghĩa thông thường chúng ta hiểu binh đẳng ở đây là các doanh nghiệp được đốì xử như nhau, không có sự nặng nhẹ cho một lọai hình doanh nghiệp nào,
Trên phương diện pháp lý quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp được hiểu là doanh nghiệp được hưởng những quyền và phải gánh chịu những nghĩa vụ như nhau trong những điều kiện như nhau
Giáo trình Luật kinh tế - trường đại học luật Hà nội đã định nghĩa :
“Quyền bình đẳng trước pháp luật được hiểu là các doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế khi tham gia vào các quan hệ pháp luật đều có quyền và nghĩa vụ như nhau
Như vậy, chúng ta hiểu quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp như là một sự chuẩn mực về pháp l u ậ t , vừa hiểu nó như như một giá trị xã hội Bởi bình đẳng
là thưđc đo trình độ văn minh, tiến bộ của xã hội đồng thời nó còn là lý tướng, hòai bão mà xã hội cần phải vươn tới
Trên thực t ế hiện nay, trong giđi nghiên cứu khoa học, các luật gia luật sư, các nhà quản ly, các nhà doanh nghiệp, còn có những cách hiểu khác nhau về quyền bình đẳng của các doanh nghiệp tníđc pháp luật
- Quan điểm thứ nhất cho rằng : Khi nói các doanh nghiệp bình đẳng trước pháp
luật có nghĩa là nếu đã là doanh nghiệp, không phân biệt đó là loại hình doanh nghiệp nào : DNNN, HTX , công ty, doanh nghiệp tư nhân ( viết tắt là DNTN ) hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài( viết tắt là DNCVDTNN ) thì đều được hưởng những quyền và phải thực hiện những nghĩa vụ như nhau, không có
sự chêch lệnh, không có sự khác biệt Người ta cho rằng cần có mộtu đãi đôi với các DNCVDTNN Điều này thể hiện rõ trong chính sách thuế, chính sách ưu đãi đầu tư V V
Tại kỳ họp lần thứ 10 - Khóa IX, quốc hội đã thồng qua “Luật đầu tư nước ngoài tại Việt N am ” Khi luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được thông qua
Trang 33vào ngày 8/11/1996, đã có khá nhiều ý kiến lo ngại về những điều khoản về định hướng và chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, trong đó vẫn dành nhiều ưu đãi cho DNCVDTNN
Điều đó, theo đánh giá của một sô" nhà chuyên môn có thể sẽ “dồn các doanh nghiệp ttong nước vào chân tường” Giáo sư Trần Đình Bút khi nói về vấn đề này đã đưa ra một hình ảnh doanh nghiệp trong nước đôi chọi với DNCVDTNN , cũng giông như “Một chú bé con so với người khổng l ồ ” Vì vậy, khi được Ưu đãi hơn nữa, DNCVDTNN sẽ càng có cơ hội đè bẹp doanh nghiệp trong nưđc
Do đó, để các doanh nghiệp trong nước có đủ sức cạnh tranh trong một môi trường thuận lợi, nhất thiết phải tạo ra và bảo đảm cho được một “sân chơi
p h ẳn g ” tuyệt đổi, trong đó tất cả các doanh nghiệp đều phải được hưởng những quyền và phải thực hiện những nghĩa vụ cụ thể như nhau, hoàn toàn không có
sự khác biệt, không có ranh giới, tất cả đều phải đồng nhất
- Quan điểm thứ hai cho rằng : Trong nền kinh tế thị trường, vđi sự tồn tại nhâ't quán, ỉâu dài của các thành phần kinh tế, cần thiết phải bảo đảm sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp, làm cho các doanh nghiệp có thể cạnh tranh trong một môi trường thuận lợi, thông thoáng, các doanh nghiệp đều có cơ hội đ ể tồn tại
và phát triển
Tuy nhiên, sự bình đẳng d đây phải được hiểu là về nguyên tắc, thể hiện trong
cơ c h ế quản lý của Nhà nước, thể hiện ở trên bình diện chung; Các doanh nghiệp bình đẳng trước pháp luật
Nhà nước thực hiện việc quản lý các doanh nghiệp bằng pháp luật, bằng đường lốì, chính sách cụ thể chứ không phải bằng chỉ tiêu, pháp lệnh, bằng mệnh lệnh hành chính như trước đây Đối vđi các doanh nghiệp, nếu có chung một điều kiện, hoàn cảnh như nhau thì sẽ được hưỏng những quyền lợi và phải thực hiện những nghĩa vụ như nhau Sự bình đẳng ở đây không phải là thứ bình đẳng tuyệt đôi, tất cả đều đồng nhất, không có sự khác biệt mà là một sự bình đẳng tương đôi, đ ể có thể đạt đến một sự công bằng nhất định
Trang 34Ví như : Đôi với doanh nghiệp trong nước Tuy ở đầu ra như thuế phải chịu cao
hơn so với DNCVDTNN nhưng ở đầu vào như giá đất, nhân công, chi phí điện thoại, điện, nước và các dịch vụ khác lại rẻ hơn
Như vậy, mỗi bên đều có những thuận lợi và bất lợi riêng ỏ phần những quy định cụ thể ,cũng như giữa DNNN và DNTN cũng vậy Song nêu so đến cùng,
kể cả ở những quy định cụ thể, thì sự khác biệt không nhiều lắm và tuyệt nhiên không thể đạt đến một sự bình đẳng tuyệt đôi bởi đôi với các doanh nghiệp khác nhau, chúng có địa vị pháp lý khác nhau Chính do có địa vị pháp lý khác nhau dẫn đến giữa chúng không thể đồng nhất, và như vậy dẫn đến một quy kết tất yếu là : Không thể có những quy định hoàn toàn đồng nhất cho tất cả những loại hình doanh nghiệp
Tôi hoàn toàn thông nhất với quan điểm thứ hai này Tuy nhiên, sau hơn 10 năm đổi mới, đ ể phát huy được “th ế ” và “lực” của đất nước, huy động được sức dân, tận dụng nguồn lực trong và ngoài nưđc, cần thiết phải có sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, giữa các doanh nghiệp một cách thực c h â l Làm sao để các doanh nghiệp đều có thể tồn tại và phát triển trên một “sân chơi” bình đẳng nhưng vẫn bảo đảm thành phần kinh tế Quôc doanh giữ vai trò chủ đạo; khuyến khích được đầu tư nước ngoài, kêu gọi được đầu tư trong nước
Thủ tướng Võ Văn Kiệt khi nói về vấn đề này đã khẳng định : “Cần phải coi các thành phần kinh tế Quốc doanh, ngoài quốc doanh đều bình đẳng kể cả doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nước và doanh nghiệp nước ngoài Phải
cô gắng đi đến thực hiện sự bình đẳng mới tạo điều kiện khuyến khích các thành phần kinh tế khác phát triển”.1 Thủ tưổng cũng cho rằng, sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế không có gì mâu thuẫn vđí việc vẫn coi quốc doanh
là chủ đạo “Bởi vì quốc doanh có vai trò quan trọng không chỉ là lợi nhuận mà còn có nghĩa vụ tác động điều phôi nền kinh t ế ”.2
1 B áo “Tuổi Trẻ ” s ố ra ngày 24.10.1996, trang 3
2 B áo “Tuổi Trẻ ” s ổ ra ngày 24.10.1996, trang 3
Trang 35Tôi cũng đồng ý với quan điểm của Bộ trưởng Bộ k ế hoạch - đầu tư Đỗ Quổc Sam trong buổi tọa đàm với báo chí về một scí vấn đề : Chiến lược kinh tê, hợp tác đầu tư vđi nước ngoài trong giai đoạn 1996 - 2000 tại trung tâm báo chí Đại hội Đảng lần thứ VIII ngày 29.6.1996, khi nói về luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và luật khuyến khích đầu tư trong nước Bộ tníởng nói rằng :
“Hiện nay, chúng tôi đang điều chỉnh để làm sao hai luật gần nhau hơn, ccí gắng đến cuối k ế hoạch 1996 - 2000, hai luật này sẽ tương đồng với nhau, tuy không phải là đồng nhất Vào CUỐI tháng 10.1996, việc nhập thiết bị máy móc xây dựng nhà máy theo dự án của doanh nghiệp trong và ngoài nước sẽ bình đẳng như nhau Có thể ưong những năm tới sẽ có một luật đầu tư thống nhât nhưng
có những điều khoản riêng cho từng loại doanh nghiệp” 1
Tôi cũng đứng về phía một doanh nhân trong nước khi họ nói đại ý rằng : Họ không yêu cầu Nhà nưđc phải ưu tiên bảo hộ hàng sản xuất ưong nước bằng những biện pháp gây khó khăn cho các Công ty nước ngoài đến làm ăn tại Việt
Nam bởi họ hiểu và họ đặt lợi ích của â ũ nước lên trên, vì nếu làm như vậy sẽ
hạn c h ế tốc độ đầu tư vào Việc Nam trong khi chúng ta đang mỏ cửa kêu gọi đầu tư để xây dựng đất nước Thêm nữa, họ châp nhận rằng đã làm ăn thì phải cạnh tranh, phải đưa đến người tiêu dùng những sản phẩm tốt, giá cả chấp nhận được Họ chỉ yêu cầu có sự bình đẳng, công bằng, đặc biệt đôi với chính sách thuế
Điều này, chứng tỏ họ chấp nhận “Cuộc chơi” tỏ ra “biết người, biết ta” mà đằng sau là một tâni lòng nghĩ đến đất nưđc
1 Báo Thanh Niên s ố ra ngày 01.10.1996 Tr3.
Trang 36CHƯƠNG 2 :
T H ự c t r ạ n g p h á p l u ậ t v ề q u y ề n b ì n h đ ẳ n g g iữ a
CÁC DOANH NGHIỆP
2.1 Những quy định chung của pháp luật kinh tế về nguyên tắc bình đẳng
giữa các doanh nghiệp
Thực hiện chủ trương đổi mđi theo Nghị quyết của Đại Hội Đảng lần thứ VI, Đến nay, nền kinh tế nước ta từng bước được sắp xếp lại theo hướng tòng bước chuyển nền kinh tế tập (xung quan liêu bao cấp, với hai thành phần chủ yếu là : Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể sang nền kinh t ế hàng hóa nhiều thành phần
Những tư tưởng cơ bản này đã được tiếp tục khẳng định tại Nghị quyết Đại Hội Đảng lần thứ VII, thứ VIII và tòng bước được thể chế hóa trong hệ thông pháp luật nói chung và pháp luật kinh tế nói riêng
Đối với DNNN, việc ban hành quyết định số 217/HĐBT (ngày 14.11.1987) của
Hội đồng Bộ Trưởng là cái mốc đánh dâu bưổc chuyển đổi quan trọng nhất về chính sách đổi mới k ế hoạch hóa và hạnh toán kinh doanh đ ể từng bước thích ứng với bước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường
Nghị định 50/HĐBT (ngày 22.3.1988) ban hành điều lệ xí nghiệp công nghiệp quô'c doanh và nghị định 27/HĐBT (ngày 22.3.1989) ban hành điều lệ liên hiệp
xí nghiệp quốc doanh để thay th ế cho những điều lệ cũ, không còn phù hợp vđi
cơ ch ế quản lý kinh tế mới Ngoài ra, còn một loạt các văn bản khác, đã có tác động tốt theo hưđng đổi mới, phát huy quyền chủ động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, động viên và khơi dậy mọi tiềm năng phát triển sản xuất của các
• doanh nghiệp
Đối vđi khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, Nghị định 29/HĐBT (ngày 9.3.1988), Nghị định 170 - Nghị định 171/HĐBT (ngày 14.11.1988) của Hội đồng Bộ trưởng đã quy định chế độ, chích sách đôi với kinh tế hộ gia đình, kinh tê cá thể, xí nghiệp tư doanh Nghị định sô' 22/HĐBT (ngày 23.7.1991) đã tạo điều
Trang 37kiện cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển vđi tốc độ và quy mô mới, trong đó chủ yếu là đối vđi kinh tế hộ gia đình và kinh tế cá thể.
Điểm mốc quan trọng của thời kỳ này là sự ra đời của luật công ty, luật DNTN (ngày 21.12.1990) luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (ngày 29.12.1987), nay
là luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (12.11.1996) luật thuế doanh thu, thuế lợi tức (ngày 30.6.1990) luật thuế xuất, thuế nhập khẩu (26.12.1991) Hiến pháp năm 1992, luật đất đai (25.10.1993) luật phá sản doanh nghiệp (30.12.1993), luật khuyên khích đầu tư trong nưđc (22.6.1994) Bộ luật lao động (ngày 23.6.1994), luật DNNN (ngày 20.4.1995), luật HTX (20.3.1996)v.v
Các văn bản pháp luật cơ bản nói trên đã cụ thể hóa quan điểm đổi mới của Đảng Hệ thông pháp luật cùng các đòn bẩy kinh tế vĩ mô của Nhà nước đã tạo
ra cơ sở pháp lý và môi trường kinh tế cần thiết cho cơ c h ế quản lý doanh
nghiệp
Bằng các quy định của pháp luật, Nhà nưđc đã công nhận sự tồn tại và phát triển của các thành phần kinh tế Điều 21 Hiến pháp năm 1992 ghi nhận : “Cho phép kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chê' về quy mô, hoạt động trong những ngành, nghề có lợi cho quốc k ế dân sinh Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển”
Hiến pháp 1992 đã quy định những nguyên tắc quan trọng như : phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, đa dạng hóa các hình thức sở hữu (Điều 15), giải phóng mọi năng lực sản xuât của xã hội, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế (Điều 16), doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được liên doanh, liên kết vđi cá nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nưđc (Điều 22), tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức kinh tế Việt Nam không bị quốc hữu hóa (Điều 23)
Những nguyên tắc hiến định này cũng đã được ghi nhận và cụ thể hóa trong các đạo luật cụ thể của Nhà rníđc ta
Trang 38Điều 3 Luật DNTN quy định : “Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của DNTN , thừa nhận sự bình đẳng trước pháp luật của DNTN với các doanh nghiệp khác và tính sinh lợi hợp pháp của việc kinh doanh.
Trong khuôn khổ pháp luật, chủ DNTN có quyền tư do kinh doanh và chủ động trong mọi hoạt động kinh doanh
Tương tự như vậy, Điều 4 Luật công ty quy định : “Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của công ty; thừa nhận sự bình đẳng trước pháp luật của công ty với các doanh nghiệp khác và tính sinh lợi hợp pháp của việc kinh doanh ”
Đôi vđi DNNN, Điều 4 luật DNNN khẳng định : “Nhà nước bảo hộ các quyền
và lợi ích hợp pháp, bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật của các DNNN ”
Và cũng như vậy, Điều 5 luật HTX quy định : “Nhà nước bảo hộ quyền lợi hợp pháp của hợp tác xã, bảo đảm quyền bình đẳng của HTX trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Đôi vđi DNCVDTNN, Điều 1 luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định :
“Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khuyên khích các nhà đầu tư nưđc ngoài đầu tư vào Việt Nam trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và tuân thủ pháp luật của Việt Nam, bình đẳng và các bên cùng có l ợ i ”
Bằng những quy định cụ thể, rõ ràng Nhà nước đảm bảo quyền tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau giữa các doanh nghiệp, bình đẳng trưđc pháp luật, xóa bỏ mọi kiêng kỵ, phân biệt đối xử Lúc này, sản xuất cái gì, sản xuât như thế nào, sản xuất cho ai, là căn cứ vào yêu cầu của thị trường, tức căn
cứ vào cung - cầu và giá cả thị trường Hiên pháp năm 1992, cùng các đạo luật
cụ thể đã khẳng định nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp trước pháp luật Trong cơ ch ế thị trường, DNNN không còn được hưởng những đặc quyền, đặc lợi, không còn được Nhà nước bao cấp từ “đầu v à o ” đến “đầu r a ” Các doanh nghiệp đều phải tham gia vào quan hệ mua bán, trao đổi trên thị trường bằng “sức” và “lực” của chính mình Vđi tư cách là những chủ thể kinh doanh độc lập, các doanh nghiệp vừa phải hợp tác với nhau vừa phải cạnh tranh vđi
Trang 39nhau Lúc này, tính hiệu quả của sản xuât, kinh doanh đã thực sự là chuẩn mực,
là thước đo sự tồn tại của doanh nghiệp
Nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp còn được thể hiện rõ nét trong việc phá sản doanh nghiệp Trong quá trình sản xuất, kinh doanh hiện nay, bên cạnh một sô" doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, không ít doanh nghiệp do nhiều nguyên nhân khác nhau đã lâm vào tình trạng nợ nần, lỗ lã chồng chất không thể cứu vãn được Trường hợp doanh nghiệp đã lâm vào “sự khánh tận ” như vậy thì đều phải bị tuyên bcí phá sản, không phân biệt đó là DNNN, doanh nghiệp tập thể hay DNTN
Điều 1 Luật phá sản doanh nghiệp quy định : “Luật này áp dụng đốì vđi doanh nghiệp thuộc mọi hình thức sở hữu được thành lập và hoạt động theo pháp luật nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam khi lâm vào tình trạng phá sản
Chính phủ quy định cụ thể việc thi hành luật này đôi với các doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và dịch vụ công cộng quan trọng”
Như vậy, chỉ riêng các DNNN hoạt động công ích thì được giải quyết theo một
cơ c h ế khác, còn tất cả các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sỏ hữu, nếu làm ăn không có hiệu quả, lâm vào tình trang lỗ lã, không guựng đứng vững được thì đều phải gánh chịu một hệ quả tất yếu là bị tuyên bô' phá sản Không còn tình trạng, nếu đã là DNNN thì dù làm ăn thua lỗ đến đâu cũng được Nhà nước bù lỗ để tiếp tục tồn tại như trước đây nữa
Bên cạnh hiên pháp, các đạo luật cụ thể của pháp luật kinh tế hiện hành, còn một loạt các văn bản pháp luật khác có liên quan, cũng đã thể hiện rõ nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp trước pháp luật
Điều 2 Bộ luật lao động đã chỉ rõ : “Bộ luật lao động được áp dụng đối với mọi người lao động, mọi tổ chức, cá nhân sử dụng lao động theo hợp đồng lao động thuộc các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu ”
Như vậy, không phân biệt người lao động và người sử dụng lao động làm việc ở
đâu, thuộc thành phần kinh tế nào, với hình thức sở hữu gì, cũng đều phải tuân theo các quy định của Bộ luật lao động về ký kết hợp đồng lao động, về việc
Trang 40làm, tiền lương, tiền công lao động không còn cảnh phân biệt đôi xử giữa người trong biên chê' và người ngoài biên chế, giữa những người lao động trong DNNN với người làm việc trong những doanh nghiệp ngoài quôc doanh Đôi với các doanh nghiệp, dù đó là DNNN hay DNTN , nếu sử dụng lao động dưới hình thức ký kết hợp đồng lao động thì đều bình đẳng như nhau ưong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
Trong luật đất đai, Điều 1 quy định : “Nhà nưổc giao đất cho các tể chức kinh
tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nưđc, tổ chức chính trị, xã hội (gọi chung là tổ chức), hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài ”
Đâ't đai, loại tài sản qúy giá đặc biệt, Nhà nước đã quy định giao cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng “ổn định lâu d ài”, không còn sự phân biệt “nặng”,
“n h ẹ ” giữa các tổ chức, cá nhân
Như vậy, vđi sự ra đời của một loạt các văn bản pháp luật, Nhà nưđc ta đã tạo ra được những tiền đề pháp lý ban đầu để ổn định quan hệ kinh tế, làm cho mọi thành phần kinh tế, mọi công dân bước đầu có thể yên tâm, chủ động huy động tiềm năng sáng tạo và tiềm lực kinh tế vào sản xuẩt, kinh doanh, góp phần quan trọng tạo ra cơ sở pháp lý cho bước chuyển sang cơ ch ế kinh tế thị trường
Nói đến kinh tế thị trường là nói đến đa hình thức sở hữu, đa thành phần kinh tế
và đa lợi ích Từ đó, yêu cầu đạt ra là phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng và công bằng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh Quyền tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh lành mạnh sẽ chỉ là hình thức nếu thiếu sự quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp
Trong những hoàn, cảnh điều kiện như nhau, các doanh nghiệp phải được hưởng những khả năng, điều kiện và cơ hội như nhau, phải ngang quyền trong quan hệ với nhau, không có sự phân biệt đôi xử nào
2.2 Sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong việc thành lập và đăng ký kinh doanh.