1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá tại việt nam theo quy định của pháp luật dân sự

107 50 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 11,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

o Các dấu hiệu hình thuộc trường họp loại trừ theo Điều 6 khoản 2 điểm a nêu trên bao gồm: > Dấu hiệu chỉ bao gồm một hình không có ý nghĩa xác định, không thể > Dấu hiệu là một hoặc một

Trang 2

TRƯÒNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI• a 0 ■

vũ THÍ HẢI YẾN

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢO HỘ QUYỀN s ỏ hữu c ô n g NGHIỆP ĐỐI VỐI NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ TẠI VIỆT NAM

THEO QUY ĐịNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN sự í ■ ■

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN sự

MÃ SỐ: 50507

LUẨN VÃN THẠC sỉ LUẬT HỌC■ ■ ■ ■

Ngưòi hướng dẫn khoa học: TS Đinh Vãn Thanh

HÀ NỘI NĂM 2001

Trang 3

Trước tiên, tôi xin chân Ihành cảm Oìì Ban giám hiệu, Khoa tư pháp, Khoa sau đại học Trường đại học Luật Hà N ội đã tạo m ọi điêu kiện thuận lợi cho tôi được học tập và nghiên cứu theo chương trình sau đại học chuyên ngành Luật dân sự.

Đặc biệt, tôi muốn dược bày tỏ lòng biết OÌ1 sâu sắc tới Thầy giáo, Tiến s ĩ Đinh Văn Thanh - Người Thầy hướng dẫn khoa học cho đề tài, đã tận tình chỉ bảo, giúp tôi từ việc chọn đề tài, trong quá trình nghiên cứu, phát triển và hoàn thiện công trình khoa học này.

Tôi cũng s ẽ m ãi m ãi không quên công ơn của cấc thầy, cấc cô giáo g iả n g dạy chyên ngầnh Luật dân sự và rất nhiều bạn bè đổng nghiệp, những người đã có nhiều ý kiến đóng gó p q u ý báu cùng những lờ i động viên chân thành.

Vũ Thị Hải Yến

Trang 4

Chương I: Nhũng vấn đề chung về nhãn hiệu hàng hóa 06

tại Việt Nam trước khi ban hành Bộ luật dân sự

văn bản pháp luật có liên quan

3.1 Nhãn hiệu hàng hóa là cắc dấu hiệu có khả 10

năng phân biệt 3.2 Nhãn hiệu hàng hóa là các dấu hiệu được sử 27

dụng đ ể phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau

thường gắn với hàng hoá, dịch vụ

5.1 Phân biệt nhãn hiệu hàng hóa với nhãn hàng hóa 39

Trang 5

5.3 Phân biệt nhãn hiệu hàng hóa với chỉ dãn địa lý

và tên g ọ i xuất x ứ hàng hóa

6 Ý nghĩa của việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trong nền kinh

tế thị trường tại Việt nam

Chương II: Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đôi với nhãn

hiệu hàng hoá - Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá

1 Xác lập quyén sở hữu cổng nghiệp đối với nhãn hiệu hàng

hóa

1.1 Căn cứ phát sinh quyền sở hữu công nghiệp đối với

nhãn hiệu hàng hóa 1.2 Thời hạn bảo hộ nhãn hiệu hằng hóa

2 Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa

2 ỉ Quyền của chủ sở hữu nhẫn hiệu hằng hóa 2.2 Nghĩa vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa

Chương III: Bảo vệ quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa

chống lại các hành vi xâm phạm và các giải pháp nhằm bảo đảm thực thi quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa

1 Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với

nhãn hiệu hàng hóa được bảo hộ

1.1 Thực trạng vi phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với

nhẫn hiệu hàng hóa 1.2 X ác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công

Trang 6

2 Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa

2.1 Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhẫn hiệu

hàng hóa bằng biện pháp hành chính 2.2 Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

hàng hóa bằng biện pháp hình sự 2.3 Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

hàng hóa bằng biện pháp kiện kiện dân sự

luật dân sự trong việc thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa

Kết luận

Danh mục tài liệụ tham khảo

Trang 7

Thuật ngữ

1 Sở hữu công nghiệp

Chính phủ quy định chi tiết về sở hữu công

nghiệp, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị

định số 06/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày

01/02/2001

4 Thỏa ước về các khía canh liên quan đến

thương mại của quyền sở hữu trí tuệ

5 Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công

Thỏa ước TRIPS

Công ước Paris

Thỏa ước Madrid

Trang 8

PHẦN M Ở ĐẨU

Kể từ khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang cơ chế thị trường nhiều thành phần, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bộ mặt kinh tế-xã hội của đất nước đã có những thay đổi mạnh mẽ Khi trình độ phát triển và tiến bộ xã hội ngày càng cao, các quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức càng phải được đảm bảo Hiến Pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam ghi nhận: “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp của công dân” trong đó

quyền sở hữu trí tuệ cũng là một trong những quyền cơ bản của công dân được tôn

trọng và bảo vệ Điều 60 Hiến pháp 1992 qui định: “Nhà nước bảo hộ quyền tác

giả, quyền S H C N Bộ luật dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra

đời trong thời kỳ đổi mới của đất nước, với nhiệm vụ “bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, bảo đảm sự bình đẳng và an toàn về mặt pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội” Để bảo vê các quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức trong lĩnh

vực sở hữu trí tuệ nói chung và lĩnh vực SHCN nói riêng, Bộ luật dân sự giành phần thứ sáu, chương II để qui định về quyền SHCN Có thể nói quyền SHCN là một vấn

đề khá mới mẻ ở nước ta Nếu so sánh với các quan hệ dân sự khác như sở hữu tài sản thông thường, hợp đồng, thừa kế thì quan hệ về quyền SHCN mới được pháp luât dân sự ở nước ta đé cập tới trong khoảng thời gian gần đây Sau khi Bộ luật dân

sự ra đời, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật nhằm cụ thể hoá các qui định của Bộ luật dân sự liên quan đến quyền SHCN nhưng đây là một vấn đề phức tạp và còn rất mới mẻ không chỉ đối với nhận thức của nhân dân mà ngay cả đối với những người làm công tác bảo vệ pháp luật

Qua hơn năm năm kể íừ khi Bộ luật dân sự có hiệu lực, thực tế đã cho thấy còn nhiều những qui định chưa được làm rõ dẫn đến việc nhận thức về các qui định của pháp luật chưa được đúng đắn, đầy đủ; Một số qui định có những điểm bất cập, khồng phù hợp với thực tế Mặt khác, các văn bản pháp luật về quyền SHCN cũng còn thiếu một số qui định cụ thể dẫn tới gây khó khăn cho các cơ quan áp dụng pháp luật khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền SHCN Một thực trạng hiện nay là mặc dù quyền SHCN là một loại quyền dân sự và việc bảo hộ quyền SHCN bằng pháp luật dân sự phải là chủ yếu nhưng việc bảo vệ quyền năng này bằng các biện pháp dân sự lại không phổ biến và tỏ ra hữu hiệu Phần lớn những hành vi xâm phạm quyền SHCN thường bị xử lý về mặt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, rất hiếm khi được giải quyết bằng thủ tục tố tụng dân sự trong khi về mặt lý thuyết thì biện pháp dân sự đáng lẽ là biện pháp bảo vệ quyển sở hữu một cách hữu hiệu nhất

Hiện nay,trong cơ chế thị trường, cùng với sự phát triển mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội thì cũng tồn tại những mặt trái trong đó nổi lên một thực trạng là các

Trang 9

hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác trong lĩnh vực SHCN xẩy

ra rất phổ biến, ngày càng đa dạng và gia tăng về số lượng Nếu không thực hiện tốt việc bảo hộ quyền SHCN thì sẽ không thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, không những thế còn gây ra những hậu quả xấu cho nền kinh tế xã hội của đất nước Để có thể bảo hộ quyền SHCN được hữu hiệu, trước tiên phải có các qui định pháp luật dân sự thống nhất, hoàn chỉnh

Việt Nam mới đây đã ký kết Hiệp định thương mại với Chính phủ Hoa Kỳ

Có Ihể nói đây là một sự kiện quan trọng đánh dấu một bước ngoặt của Việt Nam trên con đường tiến tới hội nhập với các quốc gia trên thế giới Chúng ta cũng đang

có những bước chuẩn bị để gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO Một trong những điều kiện để có thể trở thành íhành viên của WTO là các qui định của chúng

ta về lĩnh vực Sở hữu trí tuệ phải phù hợp với Thoả ước về các khía cạnh có liên quan đến thương mại của quyén sở hữu trí tuệ (Thoả ước TRIPS) Những qui định pháp luật của chúng ta hiên nay vẫn có những điểm chưa hoàn toàn thống nhất với Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ và Thoả ước TRIPS Vì vậy, việc nghiên cứu để chỉ ra những điểm chưa phù hợp trong các qui định pháp luật của chúng ta là một yêu cầu rất cấp thiết để Việt Nam có thể sớm đáp ứng các yôu cầu ra nhập WTO

Với một số lý do trên đây, việc nghiên cứu các qui định pháp luật dân sự về quyền SHCN là rất cần thiết Trước hết, việc làm rõ một số qui định pháp luật dân

sự sẽ góp phần nâng cao sự hiểu biết và nhận thức đúng đắn các qui định của pháp luật về lĩnh vực mới mẻ này; bên cạnh đó tìm ra những qui định chưa phù hợp với thực tế để các nhà làm luật nghiên cứu, sửa đổi nhằm ngày càng hoàn thiện hệ thống pháp luật Thực chất, lĩnh vực SHCN là một lĩnh vực rất rộng lớn Trong khuôn khổ hạn chế của một luận văn Thạc sĩ Luật học, theo chúng tôi không thể có điều kiện

để nghiên cứu sâu sắc toàn bộ các qui định của Bộ luật dân sự về quyền SHCN Vì vậy, chúng tôi chỉ đi sâu phân tích, làm rõ những qui định liên quan đến việc bảo hộ quyền SHCN đối với một trong các đối tượng SHCN: đó là nhãn hiệu hàng hóa nhãn hiệu hàng hóa là một trong các đối tượng SHCN được qui định trong Bộ luật dân sự mà trong thực tế bị xâm phạm nhiều nhất Có thể nói, trong thời đại hiện nay, nhãn hiệu hàng hóa luôn được coi là “vật báu” của các nhà sản xuất, là minh chứng cho sự thành công của người sản xuất kinh doanh trên thường trường nếu nhãn hiệu hàng hoá của họ được người tiêu dùng biết đến Tuy nhiên, rất nhiều nhà sản xuất chân chính đang phải rung tiếng chuông báo động về nạn xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa, mà việc vi phạm gây cho họ những tổn thất nặng nề về vật chất cũng như về tinh thần Hành vi xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa không chỉ gây thiệt hại cho chủ sở hữu, người sử dụng nhãn hiệu mà còn gây thiệt hại cho người tiêu dùng và ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế, xã hội Cũng như các quốc gia trên thế giới có nền kinh tế thị trường đang phát triển, vấn đề bảo hộ quyền SHCN nói chung và bảo vệ quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa nói riêng đang là vấn đề rất bức xúc được quan tâm hàng đầu Chính vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Một số vấn đề về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa

Trang 10

bé để bảo đảm thực thi quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa trên thực tế.

Sở hữu trí tuệ, trong đó có SHCN là một vấn đề hoàn toàn mới đối với nước

ta Trước đây, ở miền Nam Việt Nam dưới thời Mỹ-Ngụy cũng có một số qui định

về SHCN nhưng thực chất chỉ để phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản khi miền Nam Việt Nam nằm dưới sự thôn tính của đế quốc Mỹ Sau khi hoàn toàn thống nhất đất nước, mãi đến đầu những năm 80 chúng ta mới thực sự xây dựng những văn bản pháp lý đầu tiên qui định về quyền SHCN, nhưng những qui định này chịu sự ảnh hưởng không nhỏ của cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp Kể từ khi chúng ta chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các văn bản pháp qui có liên quan đến SHCN lần lượt ra đời: đầu tiên là Pháp lệnh bảo hộ quyền SHCN và sau đó được thay thế bằng một văn bản có hiệu lực pháp lý cao hưn là Bộ luật dân sự Cho đến nay, Bộ luật dân sự đã trải qua năm năm áp dụng trên thực tế

Đã có một số công trình khoa học nghiên cứu có liên quan đến quyền SHCN, đáng

kể là: Công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ của Viên Khoa học xét xử, Toà án nhân dân tối cao về “Nâng cao vai trò và năng lực của Toà án trong việc thực thi quyển sở hữu trí tuệ ở Việt Nam-Những vấn đề lý luận và thực tiễn”; cuốn “Bình luận khoa học các qui định của Bộ luật dân sự” của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý-Bô tư pháp; tập bài giảng “Sở hữu trí tuệ” của tổ Dân sự, trường Đại học Luật Hà Nội Ngoài ra, một số cuộc hội thảo chuyên đề nhằm bàn bạc, thảo iuận về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã được tổ chức Một số sinh viên chuyên ngành Luật đã chọn “Bảo hộ quyền SHCN” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp đại học của mình nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức độ tìm hiểu sơ lược về SHCN Tuy nhiên, những công trình khoa học này chỉ đề cập tới các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ nói chung chứ không đi sâu nghiên cứu riẽng về vấn đề bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam Có thể nói rằng cho đến nay, chưa có một công trình khoa học nào ở nước ta nghiên cứu một cách cụ thể và sâu sắc về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa: khái niệm nhãn hiệu hàng hóa; những yêu cầu

để nhãn hiệu hàng hóa được bảo hộ; căn cứ xác lập quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa; các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa; bảo vệ quyền sỏ hữu nhãn hiệu hàng hóa khi bị xâm phạm Vì vậy, việc chọn và nghiên cứu đề tài:

“Một số vấn đề về việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam theo qui định của pháp luật dân sự” là một đề tài độc lập mà trước đây chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu Tuy nhiên, để hoàn thành đề tài này, tác giả phải tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan đền vấn đề sở hữu trí tuệ đã được công bố và các tạp chí nghiên cứu khoa học khác

• Mục đích của đề tài:

Trang 11

□ Nghiên cứu các qui định của Pháp luật dân sự Việt Nam về quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hóa trong sự đối chiếu, so sánh với các qui định có liên quan trong các Hiệp ước quốc tế.

□ Nghiên cứu thực trạng vi phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hóa và việc bảo hộ quyền này trên thực tế

□ Phát hiện, tìm ra những qui định chưa phù hợp để đề xuất, kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền nhằm ngày càng hoàn thiện hơn các qui định của Pháp luật dân

sự Việt Nam , góp phần bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được hữu hiệu

• Phạm vi nghiên cứu đề tài: tập trung giải quyết một số vấn đề về việc bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hóa Bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hóa là một lĩnh vực rất rộng, là việc Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật qui định từ việc xác lập quyền, thực hiện quyền SHCN trên thực tế cho đến việc bảo

vệ quyền đó chống lại bất kỳ hành vi xâm phạm nào Trong khuôn khổ giới hạn của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi không có tham vọng nghiên cứu toàn bộ các qui định của Pháp luật về việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa mà chỉ đi sâu nghiên cứu một số vấn đề về việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam Cụ thể, luận văn tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:

□ Thế nào là nhãn hiệu hàng hóa; các tiêu chí để một nhãn hiệu hàng hóa được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam

□ Căn cứ xác lâp quyền SHCN đối với nhãn hiêu hàng hóa, quyền và nghĩa vu của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa

□ Thực trạng vi phạm, các hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hóa, và các biên pháp bảo vê khi quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa bị xâm phạm

Cơ sở phương pháp luận của luận văn là dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của học thuyết Mác-Lê nin để tìm ra mối liên hệ giữa các hiện tượng nhằm đánh giá các vấn đề nghiên cứu một cách khoa học

Bên cạnh đó, tác giả cũng vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như: phân tích chứng minh, phân tích tổng hợp, so sánh, diễn giải, suy diễn lôgic để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính hệ thống và tương đối hoàn thiện về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam Cụ thể:

• Phân tích, làm rõ khái niệm nhãn hiệu hàng hóa và xác định những tiêu

Trang 12

chí cơ bản để một nhãn hiệu hàng hóa được bảo hộ.

• Trình tự, thủ tục xác lập quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hóa tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền

• Phân tích, so sánh các biện pháp bảo vệ quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hóa trong hành chính, hình sự, dân sự để từ đó tìm ra những đặc trưng của mỗi ngành luật trong việc bảo vệ quyền SHCN

• Tìm ra những qui định của Pháp luật dân sự hiện hành chưa phù hợp với thực tế cũng như tập quán và thông lệ quốc tế, có những đề xuất, kiến nghị để các nhà làm luật nghiên cứu, tham khảo trong quá trình sửa đổi bổ sung Bộ luật dân sự sắp tới, nhằm bảo đảm quyền SHCN được bảo hộ đầy đủ và hiệu quả hơn

Về mặt khoa học, luận văn cần có sự đánh giá của các nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu chuyên ngành luật vẻ sở hữu trí tuệ- một lĩnh vực còn mới mẻ ở nước ta hiện nay

Sau khi hoàn thành luận văn, chúng tôi rất mong nhận được sự đánh giá góp

ý của các nhà chuyên môn, các đồng nghiệp cùng tất cả các độc giả quan tâm đến lĩnh vực này

□ Phần mở đầu

□ Chương /: Những vấn đề chung về nhãn hiệu hàng hóa.

□ Chương //: Xác lập quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hóa -Quyền và nghĩa vụ

của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa

□ Chương ///: Bảo vệ quyển của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa chống lại các hành

vi xâm phạm và các giải pháp nhằm bảo đảm thực thi quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa

□ Kết luận

Trang 13

1 Sự ra đời của nhãn hiệu hàng hóa

Một số nghiên cứu về khảo cổ đã tìm thấy trong hang động của người nguyên thủy sống khoảng 5000 năm trước Công nguyên có hình vẽ các con lợn rừng mà trên hông của chúng có những dấu hiệu riêng Các nhà khảo cổ cho rằng từ xa xưa, trong thời tiền sử, người nguyên thủy đã sử dụng những dấu hiệu để thể hiên sự sở hữu của mình đối với các con vật mà họ săn bắt được hoặc đối với vật nuôi Người ta còn phát hiện ra trên đồ gốm thủ công, đá, tấm lợp mái xuất hiện khoảng 3000 năm trước Công nguyên tại Ai cập cũng có những dấu hiệu mà người làm ra chúng đã tự tạo ra [44] Hiên nay có rất ít tài liệu xác định về sự ra đời và phát triển của nhãn hiệu hàng hóa Một trong số những tài liêu ít ỏi đó cho rằng “những dấu hiệu mà người nguyên thủy đánh dấu lên tài sản là để chỉ sự sở hữu và đó cũng chính là nguồn gốc ra đời của nhãn hiệu hàng hóa” [44]

Với sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất: Công cụ lao động được cải tiến, con người được phát triển về thể lực và trí lực, ngày càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm, năng suất lao động cao đã dần dần làm thay đổi bộ mặt kinh tế-xã hội của chế độ Cộng sản nguyên thủy Qua hai lần phân công lao động xã hội lớn đầu tiên trong lịch sử: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt và thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp đã làm cho của cải vật chất trong xã hội dư thừa, từ đó xuất hiên nhu cầu trao đổi hàng hóa trong xã hội và sản xuất hàng hóa ra đời Nền sản xuất hàng hóa xuất hiện dẫn đến thương nghiệp phát triển và cũng là lần phân công lao động thứ ba trong lịch sử loài người Sự ra đời của sản xuất hàng hóa đánh dấu sự tan rã của chế độ Cộng sản nguyên thủy Nền sản xuất hàng hóa tổn tại và phát triển trong xã hội chiếm hữu nô lệ, trong xã hội phong kiến, đạt tới đỉnh cao trong xã hội

tư bản chủ nghĩa và tiếp tục tổn tại phát triển trong xã hội xã hội chủ nghĩa “Sản xuất hàng hóa được hiểu theo nghĩa rộng là sản xuất những vật phẩm, mở những dịch vụ không phải để cho người sản xuất trực tiếp tiêu dùng mà để trao đổi”[30, tr

n

Khi thị trường phong phú, nhiều người cùng sản xuất ra một loại sản phẩm, đương nhiên là có sự cạnh tranh Người íhợ muốn phân biệt hàng hóa do mình sản xuất với hàng hóa của những người khác “Đến thời kỳ Phục Hưng, nhãn hiệu hàng hóa đã được sử dụng với mục đích như ngày nay” [44] Đầu tiên nhãn hiệu hàng hóa được sử dụng để chỉ ra người thợ đã tạo ra sản phẩm hàng hóa đó, sau đó còn để chỉ

ra một phường hội người thợ nhằm bảo vệ sự độc quyền của hội này Dần dần, nhãn hiệu hàng hóa được công nhận là có lợi cho người sản xuất vì trong thời kỳ này việc các nhà sản xuất tự quảng cáo cho sản phẩm của mình không được khuyến khích và

bị coi là một việc không trung thực Nếu nhà sản xuất nào quảng cáo sản phẩm của mình một cách rộng rãi thì sẽ bị coi là có ỷ đồ lừa dối Vì vậy uy tín của người sản xuất được chuyển tải nhờ nhãn hiệu Mặt khác, nhãn hiệu hàng hóa cũng bảo đảm

Trang 14

cho người tiêu dùng trong việc lựa chọn hàng hóa Giữa bao nhiêu hàng hóa cùng một loại nhưng khác nhau về người hoặc nguồn sản xuất và đương nhiên chất lượng cũng khác nhau, nhãn hiệu hàng hóa giúp cho người mua nhanh chóng nhận ra sản phẩm mà mình ưa thích Trên thị trường, dần dần hình thành mộl nhận định của người mua hàng là khi hàng hóa được gắn với một nhãn hiệu là hàng hóa đó đã có một chất lượng được nhà sản xuất bảo đảm Chính nhờ nhãn hiệu hàng hóa đã làm tăng thêm giá trị vốn có của hàng hóa Càng ngày, những hàng hóa có nhãn hiệu càng được ưa chuộng và được đánh giá cao hơn về giá trị so với những hàng hóa cùng loại không rõ nguồn gốc Và cuối cùng thì giá trị tài sản của nhãn hiệu hàng hóa đã được công nhận mặc dù thời kỳ này chưa có những qui định cụ thể về việc bảo hộ giá trị này.

Trong giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, việc sử dụng nhãn hiệu cho hàng hóa đã rất phổ biến Ví dụ nhãn hiệu Coca-Cola được sử dụng cho nước khoáng có pha hương vị từ năm 1887 tại Hoa Kỳ Năm 1857 Pháp đã thông qua luật nhãn hiệu hàng hóa Năm 1862 luật nhãn hiệu hàng hóa đã được thông qua tại Anh Năm 1883, một Công ước quốc tế liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa đầu tiên ra đời là Công ước Paris về bảo hộ SHCN và tính đến ngày 22/6/1999 đã có tới

155 nước thành viên Năm 1891, Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế các nhãn hiệu hàng hóa đã ra đời, tạo ra khả năng đăng ký nhãn hiệu hàng hóa cùng một lúc tại nhiều quốc gia bằng việc nộp một đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa quốc tế duy nhất

2 Khái luợc các qui định về việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại

Tại Việt Nam, việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa đã có từ trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam theo luật số 13/57 ngày 1/8/1957 và luật số 14/59 ngày 11/6/1959 về chống sản xuất hàng giả Tại miền Bắc, ngày 03/01/1958 Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 175-TTg trong đó có đề cập đến việc đăng ký nhãn hiệu thương phẩm Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam và thống nhất đất nước, từ năm 1975 đến năm 1981, việc bảo hộ pháp lý đối với các đối tượng SHCN trong đó có nhãn hiệu hàng hóa tạm thời bị gián đoạn do đất nước còn bề bộn đối phó với những hậu quả nặng nề của chiến tranh

Ngày 14/12/1982, Hội đồng bộ trưởng đã ra Nghị định 197/HĐBT kèm theo Điều lê về nhãn hiệu hàng hóa Đây là văn bản pháp lý đầu tiên thống nhất về việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở nước ta trên toàn quốc “Đối với những nhãn hiệu thương phẩm đã đăng ký theo Nghị định số 175-TTg ngày 1/03/1958 cũng như những nhãn hiệu chế tạo hay thương hiệu đã đăng ký tại miền Nam Việt Nam trước ngày 30-04-1975 muốn tiếp tục được bảo hộ về pháp lý đều phải đăng ký lại theo các quy định của Điều lệ này” [7J Năm 1984, văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa đầu tiên, là Giấy chứng nhận hàng hóa đã được cấp Từ đó đến năm 1988, số đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nộp trực tiếp cho Cục SHCN là 1234 đơn trong

Trang 15

đó đơn của cá nhân tổ chức Việt Nam là 461 đơn Nếu chỉ so sánh với số đơn đăng

ký bảo hộ của riêng năm 1990 là 1482 đơn-hai năm sau khi Pháp lệnh bảo hộ quyền SHCN được công bố, chúng ta đã thấy sự chênh lệch rõ rệt [24] Số lượng đơn đăng

ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa của một năm 1990 cũng nhiều hơn số đơn của cả tám năm trước đó Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là do những đặc thù của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã có ảnh hưởng tới hoạt động SHCN Trong mô hình kinh tế này, Nhà nước là người đặt ra kế hoạch sản xuất, phân phối sản phẩm, quyết định về sản lượng và ấn định giá cả Một thời gian dài chúng ta còn tồn tại chế độ tem phiếu phân phối Người tiêu dùng chỉ có thể mua những mặt hàng phân phối mà chủ yếu do các tổ chức kinh tế tập thể sản xuất Họ chỉ mong mua được hàng chứ không có cơ hội lựa chọn thứ hàng hóa mình thích vì tình trạng thiếu hụt khan hiếm hàng hóa là phổ biến Trong giai đoạn này, cung không cân đối với cầu và dẫn đến

sự mất cân bằng của thị trường Chính vì “số lượng cung không đáp ứng được số lượng cầu trên thị trường” [30] nên đương nhiên người tiêu dùng không có cơ hội chọn lựa hàng hóa và vì vậy cũng không quan tâm lắm đến nhãn hiệu của hàng hóa Nhà sản xuất cũng ít chú ý đến việc nâng cao chất lượng, mẫu mã.'., sản phẩm vì đã được Nhà nước bao tiêu sản phẩm, chắc chắn có nơi tiêu thụ mà không phải cạnh tranh với ai cả Thực tế đó đã thể hiện ngay trong những nguyên tắc và nội dung của việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa Trong Nghị định 197/HĐBT chỉ thiên về việc bảo

hộ pháp lý cho các nhãn hiệu hàng hóa của các cơ quan, xí nghiệp Nhà nước hoặc các tổ chức kinh tế tập thể XHCN Các biện pháp bảo vệ quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa chủ yếu là các biện pháp hành chính như: Khiếu nại tới cơ quan hữu quan (tài chính, thuế vụ, cổng an) hoặc ủ y ban nhân dân hay cơ quan quản lý thuôc Bô, ngành “Trong trường hợp mức độ vi phạm lớn mới truy tố trước Tòa án” [13] Các

cơ quan để đảm bảo thực thi cũng là các cơ quan hành chính như: ú y ban Khoa học

kỹ thuật Nhà nước, các Bộ, ú y ban nhà nước, các ú y ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Kể từ sau khi Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986, đất nước ta chuyển đổi nền kinh tế từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường Nền kinh tế thị trường ở bất kỳ một nước nào cũng

có một cơ chế vận hành tuân theo những qui luật cơ bản, đó là qui luật giá trị, qui luật cung-cầu, qui luật cạnh tranh Các sản phẩm hàng hóa dịch vụ ngày càng phong phú về chủng loại, dồi dào về số lượng, nâng cao về chất lượng Các nhà sản xuất từ đủ các thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể, tư nhân đều phải cạnh tranh nhau trên thị trường để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Nếu như trước đây, mọi hàng hóa sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước đều

có nơi tiêu thụ; người tiêu dùng buộc phải chấp nhận những hàng hóa được bán theo chế độ tem phiếu thì nay nhà sản xuất lại phải tìm cho hàng hóa của mình một chỗ đứng trên thị trường và người tiêu dùng được tự do chọn lựa hàng hoá, dịch vụ phù hợp với nhu cầu, sở thích của mình Trong thời đại ngày nay, khi mà nhịp sống công nghiệp chi phối đời sống con người, người tiêu dùng tìm cách chọn lựa hàng hóa, dịch vụ sao cho tiết kiệm được thời gian mà lại đạt hiệu quả cao Để tìm hiểu thông

Trang 16

tin về hàng hóa, dịch vụ, về nguồn hàng hóa, dịch vụ thì cách tốt nhất là dựa vào nhãn hiệu hàng hóa được gắn trên hàng hóa, dịch vụ đó Với cách này họ sẽ nhanh chóng tìm được những hàng hóa đang được tín nhiệm trên thị trường mà không phải tốn thời gian, công sức cho việc kiểm tra, tìm hiểu về chất lượng của sản phẩm Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của nhãn hiệu hàng hóa ngày càng trở nên quan trọng Nhà sản xuất luôn luôn muốn khẳng định uy tín nhãn hiệu của mình trên thương trường và bảo vệ nó như một tài sản giá trị Người tiêu dùng cũng dựa vào nhãn hiêu hàng hóa để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau Yêu cầu đặt ra là phải đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các nhà sản xuất, tạo môi trường cho sự cạnh tranh lành mạnh giữa những doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trên thương trường trong việc sở hữu các đối tượng SHCN Một đòi hỏi bức thiết là phải có những văn bản pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành để có cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo hộ các đối tượng SHCN- trong đó có nhãn hiệu hàng hóa.

Pháp lệnh bảo hộ quyền SHCN được công bố ngày 11/02/1989 theo lênh công bố số 13 LCT/HĐNN của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước đã mở ra một chương mới trong lĩnh vực bảo hộ quyền SHCN ở Việt Nam Việc bảo hộ các đối tượng SHCN được thực hiện trên cơ sở văn bản pháp luật do cơ quan thường trực của bộ máy lập pháp ban hành, đã nâng cao hiệu lực pháp lý của hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam Trong Pháp lệnh này có nhiều điểm tiến bộ so với Nghị định

197/ HĐBT trước đây Tại điều 1 của Pháp lệnh đã khẳng định “Nhà nước công

nhận và bảo hộ quyền SHCN của tổ chức Nhà nước, tập th ể và tư nhân có tư cách pháp nhân (gọi tắt là tổ chức)và cả nhân bao gồm quyên sở hữu đối VỚIi sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa và quyền sử dụng đối với tên gọi xuất xứ hàng hóa” Như vậy, trong Pháp lệnh này đã khẳng định một

nguyên tắc rất quan trọng và phù hợp với cơ chế thị trường, đó là: Nhà nước thực hiên nguyên tắc bình đẳng trong việc bảo hộ quyền SHCN đối với mọi thành phần kinh tế Pháp lênh bảo hộ quyền SHCN lần đầu tiên xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp và vi phạm quyên SHCN thuộc về Tòa án-là cơ quan có thẩm quyền xét

xử Có thể nói, Pháp lệnh bảo hộ quyền SHCN là một văn bản đơn hành có ý nghĩa rất quan trọng, nó kịp thời đáp ứng nhu cầu của công cuộc đổi mới nền kinh tế, góp phần điều chỉnh những quan hệ liên quan đến một tài sản đặc biệt-quyền SHCN, bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người chủ của những đối tượng này Nội dung cơ bản của văn bản này đã được thu hút gần như toàn bộ vào phần thứ VI của Bộ luật dân

sự ban hành năm 1995

3 Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa trong Bộ luật dân sự và các

văn bản có liền quan

Sau 15 năm soạn thảo, xây dựng, Bộ luật dân sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 28 tháng 10 năm 1995, Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 9 tháng 11 năm 1995 Việc ban hành Bộ luật dân sự đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp

Trang 17

luật Việt Nam thời kỳ đổi mới.

Trong phần thứ sáu “Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ” của Bộ luật dân sự đã dành mội chương qui định về quyền SHCN Theo Điều 780 Bộ luật

dân sự “Quyền SHCN là quyền sỏ hữu của cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế,

giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hóa và quyền sở hữu đối với các đối tượng khác do pháp luật qui định” Như vậy nhãn hiệu hàng hóa là một trong những đối tượng của quyền SHCN.

Điều 785 Bộ luật dân sự qui định: “Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu

dùng đ ể phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuấl kinh doanh khác nhau Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó”.

Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa theo Điều 785 Bộ luật dân sự được hiểu là bao gồm cả nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ Dựa vào định nghĩa trên, chúng ta thấy nhãn hiệu hàng hóa có hai đặc điểm cơ bản:

- Thứ nhất: Nhãn hiệu hàng hóa phải là những dấu hiệu có khả năng phân biệt Nhãn hiệu có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc

- Thứ hai: Nhãn hiệu hàng hóa được dùng để phân biệt các hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau

3.1 Nhãn hiệu hàng hóa phải là các dâu hiệu có khả năng phân

biệt.

3.1.1 Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu

Điều 785 Bộ luật dân sự đã cụ thể hóa các dạng dấu hiệu có khả năng thực hiện

chức năng của một nhãn hiệu hàng hóa: “Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình

ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tô' đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc”

Theo Điều 785 Bộ luật dân sự thì có ba dạng dấu hiệu nhãn hiệu hàng hóa Đó là dấu hiệu từ ngữ, dấu hiệu hình ảnh hoặc dấu hiệu kết hợp cả từ ngữ và hình ảnh

♦ "Từ ngữ” là một thuật ngữ chỉ từ và ngữ “Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định; ngữ là đơn vị ngữ pháp ở bậc trung gian giữa

từ và câu” [32 tr 1035] Một ngữ thường có từ hai từ trở lên Như vậy, thuật ngữ “từ ngữ” nếu hiểu theo nghĩa trên thì chỉ bao gồm các dấu hiệu dạng chữ cái có thể ghép lại thành từ, ngữ có một nghĩa hoàn chỉnh Tuy nhiên, nếu hiểu như vậy sẽ không đúng vì trong thực tế những nhãn hiệu hàng hóa có tính phân biệt cao nhất lại

là những từ tự đặt không có nghĩa Ví dụ nhãn hiệu “KODAK”, “SONY” Hoặc có nhiều khi dấu hiệu được dùng làm nhãn hiệu hàng hóa lại chỉ là một hoặc một vài chữ cái không tạo nên một từ hoặc nhãn hiệu hàng hóa là một chữ số nào đó

Trang 18

Thực tế ở nước ta cũng như ở nhiều các quốc gia khác cho thấy rằng dấu hiệu

“từ ngữ” trên đây cần phải được hiểu là các dấu hiệu chữ bao gồm các chữ cái hoặc chữ số, trong đó chữ cái là đon vị ký tự cơ bản dùng trong chữ viết của một ngôn ngữ

♦ Dấu hiệu hình ảnh (còn được gọi là dấu hiệu hình) bao gồm các hình vẽ hoặc ảnh chụp Trong dấu hiệu hình còn một dạng đặc biệt: đấu hiệu hình khối-là hình ảnh được thể hiện trong không gian ba chiều

♦ Dấu hiệu kết hợp là dấu hiệu bao gồm cả dấu hiệu chữ và dấu hiệu hình kết hợp với nhau

Những dấu hiệu này theo qui định của Điểu 785 Bộ luật dân sự có thể được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc Như vậy, mầu sắc chỉ được coi là phương thức thể hiện của nhãn hiệu hàng hóa Tuy nhiên, tổ hợp hai hay nhiều màu sắc tùy từng trường hợp cụ thể có thể được coi là dấu hiệu hình và vì vậy có thể được đăng

ký nhãn hiệu hàng hóa

Thực tế, nước ta cũng như tại các nước trên thế giới cho thấy ba loại dấu hiệu trên đây được sử dụng một cách rộng rãi nhất trong các nhãn hiệu hàng hóa Tuy nhiên, hiện nay tại nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia phát triển, những dấu hiệu

mà con người có khả năng “tri giác” được đều có thể sử dụng như là một nhãn hiệu hàng hóa Vì vậy, ngoài những dấu hiệu nhìn thấy được (như từ ngữ, hình ảnh, mầu sắc, sự kết hợp của các yếu tố này), thì những dấu hiệu nghe thấy được (như âm Ihanh) hoặc thậm chí chỉ ngửi thấy dược (như mùi vị) cũng dược một số quốc gia bảo hộ như là nhãn hiệu hàng hóa “Tại Hoa Kỳ đã có đến 30 nhãn hiệu được đăng

ký là âm thanh Tiêu biểu cho nhãn hiệu thuộc dạng âm thanh là tiếng sư tử gầm của hãng phim MGM (Metro-Goldwyn-Mayer) đăng ký cho các sản phẩm phim hoạt hình Năm 1991 một phụ nữ tại Califomia đã đăng ký một nhãn hiệu hàng hóa là mùi cho chỉ khâu và chỉ thêu Nhãn hiệu được mô tả là gợi lại hương thơm ấn tượng, tươi trẻ của hoa plumeria Cũng tại Hoa Kỳ năm 1985 hãng Owens Corning Fiberglass đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa cho màu hồng đon (single pink) đối với vật liệu cách nhiệt cho nhà ở được làm từ sợi thủy tinh” [43] Hiện nay ở nước ta những nhãn hiệu là màu sắc đơn, nhãn hiệu mùi vị hay âm thanh chưa được đăng kỷ bảo hộ Các loại hàng hóa dịch vụ ngày càng phong phú, đa dạng, các nhà sản xuất luôn luôn muốn tìm kiếm những nhãn hiệu mới lạ, độc đáo, hấp dẫn cho sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của mình để tạo một ấn tượng đến công chúng Đó là mong muốn hết sức chính đáng Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra và việc công nhận, bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại các quốc gia khác là một xu thế tất yếu của thời đại Nếu việc sử dụng những nhãn hiệu

đó không trái với qui định của pháp luật, cũng không ảnh hưởng đến quyền lợi của người khác thì theo chúng tôi, pháp luật của chúng ta nên bảo hộ cho những dạng nhãn hiệu mới này

Trong Điều 785, các nhà làm luật dùng cụm từ “Nhãn hiệu hàng hóa có thể

Trang 19

là ” Cách quy định này dẫn đến nhiều cách hiểu Có thể hiểu là chỉ có các dấu hiệu đã được liệt kê mới có thể được coi là nhãn hiệu hàng hóa Hoặc cũng có thể hiểu theo một cách khác tức là ba dạng dấu hiệu được nêu ra trong Điều 785 Bộ luật dân sự chỉ là các dạng nhãn hiệu hàng hóa điển hình chứ điểu luật không mang tính chất liệt kê đầy đủ Theo chúng tôi nôn hiểu theo cách thứ hai Tức là, thực chất qui định của điều 785 Bộ luật dân sự mang tính chất mở Điều luật chỉ đưa ra những dạng nhãn hiệu phổ biến nhất là từ ngữ, hình ảnh, sự kết hợp giữa từ ngữ và hình ảnh, trong đó dạng từ ngữ được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các loại dấu hiệu chữ như chữ cái, chữ số, từ, ngữ Trong tưưng lai, nếu chúng ta mở rộng phạm vi bảo hộ đối với các dạng nhãn hiệu thì chỉ cần bổ sung thêm trong các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật dân sự và có thể coi là những “trường hợp khác” mà Điều 785 chưa liệt kê cụ thể.

3.1.2 Dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu hàng hóa phải có khả năng

phân biệt.

Một dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu hàng hóa được công nhận là có khả năng phân biệt nếu dấu hiệu này đáp ứng được Điều 6 khoản 1 và không thuộc các đối tượng loại trừ tại Điều 6 khoản 2 Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ quy định chi tiết về SHCN, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 06/2001/NĐ-CP ngày 01/02/2001 của Chính phủ

Điẻu 6, khoản 1 Nghị định 63/CP qui định: Dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu hàng hóa được công nhận là có khả năng phân biệt nếu đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau:

ũ Được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố độc đáo, dễ nhận biết hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng th ể độc đáo, dễ nhận biết nhưng không phải dấu hiệu quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 63ICP;

b Không được trùng hoặc không tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đang dược bảo hộ tại Việt Nam k ể cả các nhãn hiệu hàng hóa đang được bảo hộ theo các Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia;

c Không trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hóa nêu trong đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa đã nộp cho cơ quan có thẩm quyền với ngày ưu tiên sớm hơn k ể cả các đơn về nhãn hiệu hàng hóa được nộp theo các Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia;

d Không trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lần với nhãn hiệu hàng hóa của người khác đã hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ hiệu lực bảo hộ nhưng thời gian tính

từ khi hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ hiệu lực chưa quá 5 năm, trừ trường hợp bị đình chỉ hiệu lực vì nhãn hiệu hàng hóa không được sử dụng theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 28 Nghị định 63/CP;

e Không trùng hoặc không tương tự tới mức gây nhầm lần với nhãn hiệu hàng hóa

Trang 20

của người khác được coi là nổi tiếng (theo điều 6bis Công ước Paris) hoặc với nhãn hiệu hàng hóa của người khác đã được sử dụng và thừa nhận một cách rộng rãi;

f Không trùng hoặc không tương tự tới mức gảy nhầm lần với tên thương mại của người khác đang dược bảo hộ, hoặc với chỉ dẫn địa lý (kể cả tên gọi xuất xứ hàng hóa đang được bảo hộ);

g Không trùng với kiểu dáng công nghiệp đã được bảo hộ hoặc đã được nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ với ngày ưu tiên sớm hơn.

h Không trùng với một hình tượng, nhân vật đã thuộc quyền tác giả của người khác trừ trường hợp dược người đó cho phép.

Điều 6 khoản 2 Nghị định 63/CP quy định các dấu hiệu sau đây không đượcbảo hộ với danh nghĩa là nhãn hiệu hàng hóa:

a Dấu hiệu không có khả năng phân biệt như các hình và hình học đơn giản, các chữ số, chữ cái, các chữ không có khả năng phát âm như một từ ngữ; các chữ nước ngoài thuộc các ngôn ngữ không thông dụng trừ trường hợp các dấu hiệu này dã được sử dụng và thừa nhận một cách rộng rãi;

b Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc lên gọi thông thưởng của hàng hóa thuộc bất kỳ ngôn ngữ nào dã dược sử dụng rộng rãi, thường xuyên được nhiều người biết đến;

c Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị mang tính mô tả hàng hóa, dịch vụ và xuất xứ của hàng hóa và dịch vụ;

d Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lần hoặc có tính chất lừa đảo người tiêu dùng về xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị của hàng hóa dịch vụ;

e Dấu hiệu giống hoặc tương tự với dấu chất lượng, dấu kiểm tra hảo hành của Việt Nam, nước ngoài cũng như của các tổ chức quốc tế;

f Dấu hiệu, tên gọi (bao gồm cả ảnh, tên, biệt hiệu, bút danh), hình vẽ, biểu tượng

giống hoặc tương tự tới mức gây nhẩm lần với hình quốc kỳ, quốc huy, lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân, địa danh, các tổ chức của Việt Nam cũng như của nước ngoài nếu không được các cơ quan người có thẩm quyền tương ứng cho phép;

Nói một cách khái quát, để được coi là có khả năng phân biệt, dấu hiệu sửdụng làm nhãn hiệu hàng hóa phải thỏa mãn hai điều kiên sau đây:

♦ Điểu kiên 1: Dâu hiệu phải có khả năng tự phân biệt:

Điều kiện này đòi hỏi nhãn hiệu hàng hóa phải có khả năng phân biệt tự

Trang 21

thân, tức là nhãn hiệu phải mang một hoặc một số đặc điểm riêng biệt, đủ để tác

động vào nhận thức, gáy nên ấn tượng cho người tiêu dùng mà nhờ đó họ có thể

chọn lựa hàng hóa mang nhãn hiệu thông qua trí nhớ của mình Ân lượng mà người

tiêu dùng có được về nhãn hiệu là kết quả của những gì mà dấu hiệu của hàng hóa

tác động lên tư duy họ, có thể hình thành từ lần đầu tiếp xúc hoặc hình Ihành qua

quá trình sử dụng hàng hóa lâu dài

Điều 6 khoản 1 điểm a Nghị định 63/CP quy định: “Dâw hiệu dùng làm nhãn

hiệu hàng hóa phải được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố độc đáo, dễ nhận biết

hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể độc đáo, dễ nhận biết và không

phải là dấu hiệu qui định tại khoản 2 điều n à y”.

Như vậy, khả năng tự phân biệt của một dấu hiệu được đánh giá bằng hai tiêu

chí:

Thứ n h ất Dấu hiệu phải được tạo thành từ một hoặc một sô yếu tô

độc đáo, dễ nhận biết hoặc từ nhiều yếu tỏ kết hợp thành một tổng thê độc đáo,

dễ nhận biết.

Thuật ngữ “yếu tố” dùng để chỉ một bộ phận cấu thành dấu hiệu, nó có tính

độc lập so với bộ phận còn lại của dấu hiệu khi xét về tương quan vị trí, về ý nghĩa

hoặc về phong cách thể hiện Pháp luật không đòi hỏi toàn bộ dấu hiệu dùng làm

nhãn hiệu hàng hóa phải độc đáo, dễ nhận biết mà chỉ yêu cầu một hoặc một số yếu

tố cấu thành nên dấu hiệu đáp ứng được yêu cầu này

“Độc đáo”[32, tr 173] là có đặc điểm riêng biệt, duy chỉ có một, không giống

với các cái khác, tương tự như tính chất “đặc định” của vật Nếu theo ý nghĩa này,

yếu tố cấu thành nên dấu hiệu được coi là độc đáo nếu yếu tố đó có nét đặc sắc,

khác lạ, không giống với những dấu hiệu cùng dạng mà chúng ta thường gặp Trên

thực tế, các nhãn hiệu đã được bảo hộ không hẳn là độc đáo theo nghĩa này Có

không ít các nhãn hiệu là các từ được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày được viết

một cách chân phương vẫn được bảo hộ như là nhãn hiệu hàng hóa Ví dụ như nhãn

hiệu “Điện Quang” của Công ty bóng đèn điên quang được đăng ký cho bóng đèn

điện thuộc nhóm 11 [23, tr 86]

Theo chúng tôi, khi dùng từ “độc đáo” các nhà làm luật muốn nhấn mạnh

yêu cầu phải có khả năng tự phân biệt của nhãn hiệu hàng hóa Tuy nhiên để có khả

năng tự phân biệt, không nhất thiết nhãn hiệu hàng hóa phải độc đáo, khác lạ, mang

tính độc nhất mà chỉ cần dễ dàng phân biệt được với các nhãn hiệu khác Cách dùng

từ "độc đáo" ở đây theo chúng tôi không hoàn toàn chính xác vì dễ làm người đọc

nhận thức rằng nhãn hiệu hàng hóa phải cầu kỳ, lạ mắt, phức tạp Điều này rõ ràng

không đúng với thực tế So sánh với khái niêm nhãn hiệu hàng hóa trong Thỏa ước

TRIPS hoặc Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, chúng ta đều không thấy yêu

cầu “dộc đáo” được đề cập Điều 15 khoản 1 Thỏa ước TRIPS qui định: “Bất kỳ một

dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch

Trang 22

có thể là nhãn hiệu hàng hóa” Điều 16 khoản 1 Hiệp định thương mại Việt Nam-

Hoa Kỳ qui định: “Nhãn hiệu hàng hóa được cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự

kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của

một người với hàng hóa hoặc dịch vụ của người khác ” Chúng ta thấy rằng Thỏa

ước TRIPS cũng như Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ đều quy định rằng

bất kỳ một dấu hiệu nào có khả năng phân biệt đều có thể đăng ký như một nhãn

hiệu hàng hóa Trong khi đó Điều 785 Bộ luật dân sự qui định: “Nhãn hiệu hàng hóa

phải là những yếu tố độc đáo, dễ nhận biết ” Thực chất yêu cầu độc đáo, dễ nhận

biết cũng chỉ để nhãn hiệu đó thực hiên chức năng phân biệt mà thôi

Cách qui định của Điều 785 Bộ luật dân sự có thể làm người đọc nhầm tưởng

rằng nhãn hiệu hàng hóa luôn luôn phải độc đáo, khác lạ những gì chúng ta thường

thấy Trên thực tế không phải như vậy nhãn hiệu hàng hóa không phải là vật trang

trí trên hàng hóa mà nó chỉ dùng để phân biệt hàng hóa do các cơ sở khác nhau sản

xuất Vì vậy, có nhiều dấu hiệu không có gì là độc đáo (ví dụ dấu hiệu dạng từ ngữ

được trình bày theo một phong cách thông dụng) nhưng nó có khả năng phân biệt

với những nhãn hiệu khác thì vẫn được sử dụng là nhãn hiệu hàng hóa Việt Nam đã

ký kết Hiệp định thương mại với Chính phủ Hoa Kỳ và trong tương lai không xa

chúng ta sẽ gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO Một trong những điều kiện

để gia nhập WTO là những qui định về sở hữu trí tuệ của chúng ta phải phù hợp với

Thỏa ước về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ-Thỏa

ước TRIPS Như vậy chúng ta nhất thiết phải đáp ứng các qui định trong hai văn bản

kể trên Theo chúng tôi, yêu cầu nhãn hiệu hàng hóa phải độc đáo trong điểu luật

này không phù hợp với thực tế và cũng không phù hợp với những Điều ước quốc tế

mà Việt Nam đang và sẽ tham gia Vì vậy, các nhà làm luật nên nghiên cứu sửa đổi

cho phù hợp hơn

Yếu tố đăng ký bảo hộ của nhãn hiệu phải dễ nhận thấy, có nghĩa là nó phải

đủ để tác động vào nhận thức của chúng ta, tạo ra một ấn tượng về dấu hiệu đó và

chúng ta có thể ghi nhớ vào bộ óc Nói cách khác, người tiếp xúc với nhãn hiệu phải

dễ dàng tri giác về nó Đây cũng là một yêu cầu quan trọng vì có nhiều yếu tố độc

đáo, không giống những cái đã có nhưng lại quá nhiều chi tiết phức tạp, hoặc quá

nhiều đường nét hình vẽ rắc rối dẫn đến khi tiếp cận với nó trong một thời gian

tương đối ngắn chúng ta sẽ không dễ dàng nhận ra được điểm độc đáo khác biệt và

không thể ghi nhớ được nội dung hoặc cấu trúc của nó Vì thế, yếu tố đó lại làm cho

chúng ta khó phân biệt với các nhãn hiệu khác

Thứ hai: Dấu hiệu không thuộc các dấu hiệu loại trừ được quy định tại khoản 2 điều 6 Nghị định 63/CP:

Điều 6 khoản 2 qui định các dấu hiệu loại trừ không được Nhà nước bảo hộ

với danh nghĩa là nhãn hiệu hàng hóa: Nếu dấu hiệu được dùng làm nhãn hiệu hàng

hóa rơi vào một trong những trường hợp loại trừ thì sẽ không được chấp nhận bảo

hộ

Trang 23

Điêu 6 khoản 2 điểm a qui định các dấu hiệu loại trừ là: “Dấu hiệu không

có khả năng phân biệt như các hình và hình học đơn giản, các chữ số, chữ cái, các

chữ không có khả năng phát âm như một từ ngữ; các chữ nước ngoài thuộc các ngôn

ngữ không thông dụng, trừ trường hợp các dấu hiệu này đã dược sử dụng và thừa

nhận một cách rộng r ã i”.

Như trên chúng tôi đã trình bầy, dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu hàng

hóa có thể là một trong các dạng: Dấu hiệu dạng chữ, dấu hiệu dạng hình, và dấu

hiệu kết hợp

[3 Các dấu hiệu chữ thuộc trường hợp loại trừ theo Điều 6 khoản 2 điểm a nêu

trên bao gồm:

a Thứ nhất: các dấu hiệu chữ thuộc các ngôn ngữ thông dụng nhưng:

> Dấu hiệu chỉ bao gồm một chữ cái (ví dụ chữ cái A); hoặc

> Chỉ bao gồm một hoặc một số chữ số (ví dụ số 21); hoặc

> Bao gồm chữ cái và chữ số nhưng phần chữ cái không thể phát âm như một

từ, ngữ Ví dụ: Các chữ: MXX không có khả năng phát âm như một từ ngữ;

nhưng các chữ MAXX lại có khả năng phát âm như một từ và đang được bảo

hộ dưới dạng nhãn hiệu hàng hóa cho sản phẩm đồ may mặc [23, tr 65] Việc

các chữ có khả năng phát âm như một từ ngữ hay không phụ thuộc vào loại

chữ cái là nguyên âm hay phụ âm và phụ thuộc vào sự sắp xếp các chữ cái đó

Nếu hai hay nhiều nguyên âm đứng cạnh nhau có những trường họp không

thể phát âm được (ví dụ các chữ EAE) Hoặc hai hay nhiều phụ âm đứng

cạnh nhau không thể phát âm được (ví dụ MXX) Thông thường trong tiếng

Việt, nguyên âm thường đứng sau phụ âm(ví dụ SA), hoặc đứng trước phụ âm

(ví dụ ƯP), hoặc đứng giữa (ví dụ SAO MAI) thì phát âm được như một từ

Với những chữ cái đáp ứng được điều kiện có khả năng phát âm như một từ

thì các chữ cái đã có khả năng phân biệt nếu không thuộc các trường hợp loại trừ Ví

dụ hãng HONDA MOTOR c o LTD đăng ký dấu hiệu chữ FƯTURE cho xe gắn

máy, phương tiện giao thông trên bộ và trên không, kể cả các thiết bị và phụ tùng

cho các hàng hóa kể trên [23, tr 139] Hãng YAMAHA của Nhật bản đăng ký dấu

hiệu chữ SIRIUS cho xe mô tô, bộ phận cấu thành và đồ gá lắp cho xe mô tô [23, tr

68] Bản thân hai chữ này đã có khả năng phân biệt ngay cả khi chúng được trình

bầy theo một phong cách thông dụng Vì vậy có thể được sử dụng làm nhãn hiệu

hàng hóa

Thứ hai: các dấu hiệu chữ thuộc các ngôn ngữ không thông dụng khiến người

tiêu dùng không thể đọc được nó Đối với các dấu hiệu chữ thuộc loại ngôn ngữ

không thông dụng thì hiện nay vản chưa có một qui định nào trong các văn bản pháp

luật của chúng ta xác định rõ những ngôn ngữ nào là thông dụng Có quan điểm cho

rằng những ngôn ngữ nào dùng chữ cái La tinh có thể coi là ngôn ngữ thông dụng vì

Trang 24

có cách đọc, viết tương tự Ví dụ: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức Theo quan điểm này thì những ngôn ngữ dùng chữ tượng hình như: Tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật, tiếng Thái Lan sẽ không được coi là ngôn ngữ thông dụng Quan điểm khác lại cho rằng những ngôn ngữ nào phổ biến trên thế giới, được nhiểu người sử dụng

và ở Việt Nam cũng nhiều người biết thì được coi là ngôn ngữ thông dụng Ví dụ trôn thế giới hiện nay có hon một lỷ người sử dụng tiếng Trung quốc và ở Việt Nam cũng có một bộ phận dân chúng biết tiếng này nên tiếng Trung Quốc được coi là thông dụng Hiên nay, một dấu hiệu sẽ có khả năng được đăng ký tại Cục SHCN nếu dấu hiệu này thuộc ngôn ngữ tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga và tiếng Trung Quốc Như vậy là mặc dù không có một văn bản nào qui định rõ về vấn

đề này nhưng có thể nói Cục SHCN theo quan điểm thứ hai, tức là ngôn ngữ thông dụng là bất kỳ ngôn ngữ nào được sử dụng và nhiều người biết đến tại Việt Nam Tuy nhiên, nếu có xác định được các ngôn ngữ thông dụng thì cũng không thể kết luận rằng các dấu hiệu thuộc các ngôn ngữ còn lại là không được đăng ký Vấn đề ở đây là người tiêu dùng có thể đọc được dấu hiệu thuộc các ngôn ngữ không thông dụng này hay không Có những dấu hiệu thuộc ngôn ngữ ít được sử dụng tại Việt Nam, tuy nhiên nếu người tiêu dùng có thể đọc được thì đương nhiên vẫn có khả năng được bảo hộ tại Việt Nam Ví dụ tiếng Ý là ngôn ngữ ít được sử dụng tại Việt Nam Từ “Ciao” là một từ trong tiếng Ý Tuy nhiên vì người Việt chúng ta có thổ đọc được từ này cho nên nó hoàn toàn có khả năng được đăng kỷ Nói tóm lại nếu một dấu hiệu thuộc loại ngôn ngữ không thông dụng thì không thể kết luận ngay rằng nó không có khả năng đăng ký

o Các dấu hiệu hình thuộc trường họp loại trừ theo Điều 6 khoản 2 điểm a nêu trên bao gồm:

> Dấu hiệu chỉ bao gồm một hình không có ý nghĩa xác định, không thể

> Dấu hiệu là một hoặc một số hình học đơn giản đã được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực hoạt động của con người khiến cho khi được sử dụng trên nhãn hiệu hàng hóa, dấu hiệu không hoàn thành được chức năng phân biệt của nhãn hiệu như các hình: hình vuông, hình tròn, hình tam giác

> Dấu hiệu là tập hợp của quá nhiều đường nét, hoặc hình vẽ rắc rối hoặc bao hàm một hoặc một số đặc điểm quá chi tiết khiến cho không thể nhận biết hoặc ghi nhớ được nội dung, ý nghĩa hoặc cấu trúc của hình vẽ đó

Trên thực tế việc đánh giá khả năng tự phân biệt của dấu hiệu hình thường khó khăn hơn nhiều so với việc đánh giá khả năng tự phân biệt của dấu hiệu chữ do

sự phong phú, phức tạp của dấu hiệu hình cũng như khả năng và phương pháp nhận thức của con người với các dấu hiệu hình là rất khác nhau Nếu các hình hình học đơn giản có những biến thể, cách điệu tạo ra khả năng tự phân biệt thì có thể đăng

ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa

Trang 25

G3 Dấu hiệu kết hợp sẽ bị coi thuộc trường hợp loại trừ theo Điểu 6 khoản 2 điểm a nêu trên nếu đồng thời xảy ra các tình huống sau: Phần chữ không có khả năng tự phân biệt; phần hình không có khả năng tự phân biệt và phần chữ kết hợp với phần hình không đủ tạo thành một yếu tố độc đáo dễ nhận biết Như vậy, chỉ cần phần hình hoặc phần chữ của dấu hiệu kết hợp có khả năng tự phân biệt thì dấu hiệu kết hợp đã được coi là có khả năng tự phân biệt Thậm chí nếu cả phần hình và phần chữ đứng riêng rẽ đều không có khả năng tự phân biệt thì một dấu hiệu kết hợp phần hình và phần chữ này sẽ được coi là có khả năng tự phân biệt nếu sự kết hợp phần chữ và phần hình lại tạo thành một tổng thể độc đáo dễ nhận biết.

Tuy nhiên Điều 6 khoản 2 điểm a vẫn có quy định cho các trường hợp ngoại

lệ Nếu một dấu hiệu lúc đầu không có khả năng tự phân biệt nhưng do đã được sử dụng rộng rãi với danh nghĩa là một nhãn hiệu hàng hóa đến mức người tiêu dùng

đã có thể phân biệt được hàng hóa, dịch vụ mang dấu hiệu này với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu hàng hóa khác, thì dấu hiệu sẽ có thể được đăng ký như là một nhãn hiệu hàng hóa Ví dụ nhãn hiệu “J&B” hiện nay đã được đăng ký bảo hộ tại Cục SHCN Việt Nam cho các sản phẩm rượu Nhãn hiệu trôn lúc đầu đã bị từ chối đăng ký vì bị coi là không có khả năng tự phân biệt Iheo Điều 6 khoản 2 điểm a Nghị định 63/CP Tuy nhiên sau khi người nộp đơn cung cấp các tài liệu chứng minh được rằng nhãn hiệu trên đã được người nộp đơn sử dụng rộng rãi cho rượu tại nhiều quốc gia trong đó có cả Việt Nam, Cục SHCN đã đồng ỷ cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu trên tại Việt Nam

■ Điều 6 khoản 2 điểm b qui định các dấu hiệu loại trừ là; “Dấu hiệu, biểu tượng,

quy ước, hình v ẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hóa thuộc bất kỳ ngôn ngữ nào

đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết dến'”

Trong điểm này, các nhà làm luật đặt ra ba trường hợp loại trừ

(53 Những dấu hiệu, biểu tượng, qui ước đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên nhiều người biết đến sẽ không được sử dụng làm nhãn hiệu hàng hóa Hiện nay có nhiều dấu hiệu, biểu tượng, qui ước đã được thừa nhận chính thức như các ký hiệu giao thông, năm vòng tròn lồng vào nhau là biểu tượng cho các thế vận hội thể thao, hình chữ thập đỏ biểu tượng cho ngành y tế Bên cạnh đó cũng có những biểu tượng, qui ước chưa được thừa nhận một cách chính íhức ở nước ta nhưng đã được

sử dụng thường xuyên, nhiều người biết đến như: Hình cán cân công lý biểu tượng cho ngành tư pháp, hình con rắn quấn cốc biểu tượng cho ngành y học cổ truyền, quyển vở và cây bút biểu tượng cho ngành giáo dục Những biểu tượng qui ước này không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu hàng hóa

(S Hình vẽ của hàng hóa đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến Những dấu hiệu là hình vẽ chính sản phẩm hàng hóa, dịch vụ hoặc hình vẽ một phần sản phẩm hàng hóa, dịch vụ sẽ không được bảo hộ vì nó đã được sử dụng rộng rãi, không có tính phân biệt, ở đây, điều luật không đề cập tới dấu hiệu là ảnh chụp của hàng hóa Theo chúng tôi, ảnh chụp của hàng hóa lại càng không có tính

Trang 26

phân biệt so với hình vẽ, vì vậy đương nhiên là không được bảo hộ Ví dụ: không Ihể đùng hình vẽ hoặc ảnh chụp một đôi giầy thể Ihao để làm nhãn hiệu hàng hóa cho sản phẩm giầy thể thao hoặc dịch vụ bán giầy dép.

(=3 Tên gọi thông thường của hàng hóa thuộc bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến cũng không được sử dụng làm nhãn hiệu hàng hóa vì như vậy dấu hiệu lại trùng với tên gọi thông thường của sản phẩm Ví dụ: Không thể sử dụng từ CAR làm nhãn hiệu hàng hóa cho sản phẩm ô tô

vì từ CAR tiếng Anh có nghĩa là ôtô

■ Điều 6 khoản 2 điểm c qui định các dấu hiệu loại trừ là “các dấu hiệu chỉ thời

gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị mang tính mô tả hàng hóa, dịch vụ và xuất xứ của hàng hóa, dịch vụ” Đây là những dấu hiệu chỉ có chức năng thông tin về các vấn đề

cần thiết và chủ yếu liên quan đến hàng hóa chứ không có chức năng phân biệt Những hàng hóa cùng loại của các cơ sở sản xuất khác nhau cũng có thể có chung dấu hiệu về tính chất, thành phần công dụng, chủng loại, số lượng, chất lượng Vì vậy, những dấu hiệu này không có khả năng phân biệt và không thể sử dụng làm nhãn hiệu hàng hóa

Thực tế cho thấy rằng khi chọn nhãn hiệu hàng hóa cho sản phẩm, dịch vụ của mình, những nhà sản xuất, cung cấp dịch vụ thường gặp phải khó khăn là chọn dấu hiệu nào làm nhãn hiệu hàng hóa cho mình, đặc biệt là đối với các loại nhãn hiệu là dấu hiệu chữ v ề nguyên tắc, những dấu hiệu là tên chung hay những dấu hiệu mang tính mô tả sẽ bị loại trừ Trái ngược với tên chung của hàng hóa, những dấu hiệu là các chữ do con người tự nghĩ ra, chưa hề có trong bất cứ ngôn ngữ nào được coi là mang tính tự phân biệt cao nhất Ví dụ nhãn hiệu “SONY”, “KODAK”,

“NOKIA” là những từ được nghĩ ra không hề có nghĩa Những nhãn hiệu này có khả năng được bảo hộ cao nhất vì có tính phân biệt cao Các nhãn hiệu là các từ có nghĩa nhưng được sử dụng cho các sản phẩm không liên quan đến nghĩa của từ này cũng được coi là có khả năng tự phân biệt và có thể sử dụng làm nhãn hiệu hàng hóa Ví dụ nhãn hiệu “APPLE” cho máy vi tính “Apple” tiếng Anh có nghĩa là quả táo nhưng nghĩa này hoàn toàn không liên quan gì đến sản phẩm mang nhãn hiệu là máy vi tính Tiếp theo là những nhãn hiệu mang tính gợi ý Những nhãn hiệu này ngầm chỉ ra các đặc điểm của hàng hóa mang nhãn hiệu này nhưng không mô tả hàng hóa, dịch vụ, tức là người tiêu dùng phải suy luận mới thấy được sự liên quan giữa nhãn hiệu và các đặc tính của hàng hóa và dịch vụ mang nhãn hiệu Nhãn hiệu này cũng có khả năng phân biệt và có thể được đăng ký bảo hộ nếu người nộp đơn chứng minh được nhãn hiệu đó không mang tính mô tả Ví dụ: nhãn hiệu “IVORY” cho xà phòng “Ivory” trong tiếng Anh có nghĩa là ngà voi Ngà voi có màu trắng Bản thân từ Ivory không hề có tính mô tả sản phẩm, tuy nhiên người tiêu dùng có thể liên tưởng màu trắng của ngà voi với tính chất của xà phòng là để tẩy trắng Hay nhãn hiệu “DREAM” cho xe máy Dream tiếng Anh có nghĩa là giấc mơ Bản thân

từ này không có tính mô tả chiếc xe máy nhưng có thể làm chúng ta liên tưởng sản

Trang 27

phẩm xe máy này đáp ứng được các yêu cầu mơ ước của người tiêu dùng đối với một chiếc xe máy Những nhãn hiệu mang tính mô tả thì khả năng phân biệt rất thấp Ví dụ như “CLEAR” cho nước gội đầu vì clear tiếng Anh có nghĩa là sạch sẽ, làm sạch, vì vậy hiếm khi được bảo hộ Và cuối cùng những nhãn hiệu là tên chung của hàng hóa như “CAR” cho ô tô, “SOAP” cho xà phòng là những nhãn hiệu hoàn toàn không có khả năng phân biệt và không thể đăng ký bảo hộ.

Những nhãn hiệu tự nghĩ ra không có nghĩa, và những nhãn hiệu là những từ

có nghĩa được sử dụng cho các sản phẩm không liên quan đến nghĩa của từ này trên thực tế luôn luôn được Cục SHCN công nhận là những dấu hiệu có khả năng tự phân biệt Đối với các nhãn hiệu mang tính gợi ý về nguyên tắc cũng có tính tự phân biệt, tuy nhiên trong thực tế có nhiều trường hợp rất khó xác định nhãn hiệu này thuộc loại gợi ý hay thuộc loại mang tính mô tả do nhãn hiệu này nằm tại ranh giới của hai loại nhãn hiệu nêu trên Đối với các nhãn hiệu mang tính mô tả, theo quy định

sẽ không được đăng ký bảo hộ Tuy nhiên trong thực tế, ở nước ta cũng như nhiều quốc gia khác vẫn có trường hợp ngoại lệ Đó là khi nhãn hiệu mang tính mô tả này được sử dụng một cách rộng rãi trong một thời gian dài đã được người tiêu dùng chấp nhận như là có một nghĩa thứ hai không mang tính mô tả Tức là trong trường hợp này khi đọc nhãn hiệu, người tiêu dùng không liên hệ nghĩa của nhãn hiệu này với tính chất của hàng hóa nữa Một ví dụ tại nước ta là trường họp nhãn hiệu

“CLEAR” cho nước gội đầu Do được sử dụng rộng rãi trong một thời gian dài, hiện nay nhãn hiệu này đã được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam cho nước gội đầu

■ Điều 6 khoản 2 điém d qui định các dấu hiệu loại trừ là: “Dấu hiệu làm hiểu sai

lệch, gây nhầm lần hoặc có tính chất lừa đảo người tiêu dùng về xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị của hàng hóa hoặc dịch vụ

Ở đây đặt ra hai trường hợp loại trừ:

E3 Trường hợp thứ nhất: là những dấu hiệu dễ gây ra cách hiểu sai lệch hoặc

nhầm lẫn về xuất xứ, tính năng, công dụng, chủng loại, chất lượng, giá trị của hàng hóa, dịch vụ Những dấu hiệu này mặc dù không chỉ dẫn trực tiếp đến điều đó nhưng khi có mặt trên nhãn hiệu sẽ khiến cho người tiêu dùng lầm tưởng hoặc dễ dàng liên tưởng sai lệch không đúng với thực chất của hàng hoá Trong trường hợp này, người tiêu dùng có thể lựa chọn hàng hóa do nhận thức sai lầm về một đặc điểm của hàng hóa

[3 Trường hơv thứ hai: những dấu hiệu được sử dụng rõ ràng là có dụng ỷ lừa

đảo người tiêu dùng, nhằm làm cho người tiêu dùng hình dung sai về xuất xứ, công dụng, chủng loại, chất lượng của hàng hóa, với động cơ trục lợi

Cả hai trường hợp trên đều dẫn đến một hệ quả giống nhau là làm cho người tiêu dùng nhận thức sai về hàng hóa, dịch vụ đó và có thể sẽ giao kết hợp đồng mà ý chí bày tỏ trong hợp đồng không phù hợp với mong muốn chủ quan bên trong do ảnh hưởng của sự nhầm lẫn hoặc lừa dối

Trang 28

■ Điều 6 khoản 2 điểm e qui định các dấu hiệu loại trừ là “các dấu hiệu giống hoặc

tương tự với dấu chất lượng, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của Việt Nam, nước ngoài cũng như các tổ chức t ể \ Mục đích của quy định cũng dễ hiểu Chúng ta hãy

hình dung điều gì sẽ xảy ra nếu một người được phép cho đăng ký nhãn hiệu ISO

9000 Việc độc quyền của người này không chỉ gây thiệt hại cho người tiêu dùng do việc liên tưởng hàng hóa dịch vụ mang nhãn hiệu này với với tổ chức quốc tế cấp chứng chỉ ISO 9000 và còn gây thiệt hại cho tổ chức quốc tế trên vì độc quyền sử dụng dấu hiệu ISO 9000 đối với các hàng hóa, dịch vụ được đăng ký kèm theo nhãn hiệu này đã thuộc về người đăng ký nhãn hiệu này tại Cục SHCN

■ Điều 6 khoản 2 điểm g qui định các dấu hiệu loại trừ là “các dấu hiệu, tên gọi

(bao gồm cả ảnh, tên, biệt hiệu, bút danh), hình vẽ, biểu tượng giống hoặc tương tự gây nhầm lần với hình quốc kỳ, quốc huy, lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân, địa danh, các tổ chức của Việt Nam cũng như của nước ngoài nếu không được các C.Ơ quan, người có thẩm quyền tương ứng cho phép

553 Nhữns yếu tố dang chữ bi loai trừ là: Tên gọi của lãnh tụ, anh hùng dân tộc

hoặc danh nhân; tôn địa đanh các vùng, miền; tên của các tổ chức

Tên gọi của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân có thể là tên thật, tên hiệu hoặc bút danh Yếu tố trùng với tôn của những chủ thể này bị loại trừ Với tên địa danh, điều luật không nói rõ đó là tên hiên dùng hay tên gọi cũ nhưng theo chúng tôi, chúng ta phải hiểu là bất cứ tên gọi nào mang ý nghĩa chỉ vùng hay lãnh thổ được nhiều người biết hoặc nổi tiếng đều không được sử dụng làm nhãn hiệu hàng hóa Một trong những lý do cơ bản là yếu tố đó có thể làm cho người tiêu dùng lầm tưởng rằng sản phẩm hay dịch vụ mang nhãn hiệu đó được sản xuất (hoặc tiến hành) tại vùng đó Những yếu tố chỉ thông tin về nguồn gốc địa lý của hàng hóa chỉ có thể được bảo hộ dưới dạng đối tượng là chỉ dẫn địa lý Tên gọi chính thức của các tổ chức đã được công nhận hoặc được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, dù

là tên đầy đủ hay tôn viết tắt thì các chủ thể khác không được sử dụng làm nhãn hiệu hàng hóa

E3 N hữ m yếu tố dang hình:

Những yếu tố như ảnh chụp, hình vẽ, biểu tượng giống hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy, lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân, địa danh, các tổ chức sẽ không được bảo hộ Trong hình ảnh có thể ghi tên hoặc không ghi tên người, địa danh, tổ chức Theo qui định này thì không cẩn quan tâm nguyên mẫu để chụp ảnh hay vẽ có phải là hình quốc kỳ, quốc huy, lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân, địa danh hay không, nếu dấu hiệu đó trùng hoặc tương tự thì đều không được sử dụng làm nhãn hiệu hàng hóa

Tuy nhiên việc sử dụng những dấu hiệu kể trên nếu được cơ quan, người có thẩm quyền tương ứng cho phép và không thuộc các trường hợp loại trừ khác thì có thể sử dụng làm nhãn hiệu hàng hóa Khi gửi đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ

Trang 29

nhãn hiệu có sử dụng những dấu hiệu này, người nộp đon phải đưa ra những giấy tờ

xác nhận sự cho phép của cơ quan, người có thẩm quyền

Vậy những trường hợp nào việc sử dụng phải được sự đổng ý của cơ quan có

thẩm quyền, và cơ quan đó là cơ quan nào? Theo chúng tôi, nếu yếu tố liên quan

đến quốc gia như hình quốc kỳ, quốc huy thì cơ quan có thẩm quyền phải là cơ

quan cấp quốc gia; nếu yếu tố liên quan đến vùng lãnh thổ thì cơ quan có thẩm

quyền là cơ quan hành chính quản lý vùng lãnh thổ; nếu yếu tố liên quan đến tổ

chức quốc tế thì cơ quan có thẩm quyền là tổ chức quốc tế tương ứng

Những trường hợp nào việc sử dụng phải được sự đồng ý của người có thẩm

quyền? Quyẻn đối với hình ảnh là một trong những quyền nhân thân của cá nhân

được Pháp luật tôn trọng và bảo vệ Khoản 2 điều 31 Bộ luật dân sự qui định: “Việc

sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người dó đồng ý hoặc thân nhăn người đó

đồng ý, nếu người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp Pháp

luật có qui định khác ” Theo chúng tôi, những người được để cập tới trong trường

hợp này không phải là những cá nhân bình thường mà họ là những lãnh tụ, anh hùng

dân tộc, danh nhân-những người mà tên tuổi, hình ảnh của họ gắn liền với lịch sử

dân tộc Tùy từng trường hợp, ngoài sự đồng ý của chính họ hoặc thân nhân, theo

chúng tôi, việc sử dụng hình ảnh, tên gọi trùng hoặc tương tự còn phải đáp ứng các

qui định khác của Pháp luật

Điều kiên 2 : Dâu hiệu dùng làm nhăn hiệu hàng hóa phải không trùng hoặc không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với các đối tượng Pháp luật qui định

Khả năng tự phân biệt là điều kiện cần nhưng chưa đủ để một dấu hiệu có thể

hoàn thành chức năng của một nhãn hiệu hàng hóa Một dấu hiệu có khả năng tự

phân biệt chỉ có thể thực hiên được chức năng của một nhãn hiệu hàng hóa nếu nó

thỏa mãn điều kiên không được trùng hoặc không được tương tự tới mức gây nhầm

lẫn với các đối tượng do pháp luật quy định Các đối tượng do pháp luật quy định

được hiểu là các đối tượng được quy định tại Điều 6 khoản 1 từ điểm b đến điểm h

Nghị định 63/CP

■ Tại Điều 6 khoản 1 các điểm b, c, d, e chúng ta thấy có khái niêm “Tương tự” gây nhầm lẫn giữa một dấu hiệu và một “Nhãn hiệu hàng hóa đã được đăng ký

bảo hộ”, hoặc “Nhãn hiệu hàng hóa đã được nêu trong đơn đăng ký bảo hộ đã được

nộp”, hoặc với một “nhãn hiệu nổi tiếng”, hoặc với một “nhãn hiệu đã được sử dụng

và thừa nhận một cách rộng rãi” [9] (sau đây xin gọi chung là nhãn hiệu đối chứng)

Đối tượng của sự gây nhầm lẫn ở đây chính là người tiêu dùng hàng hóa, sử dụng

dịch vụ mang nhãn hiệu hàng hóa

Hiện nay, việc xác định xem một dấu hiệu có trùng với một nhãn hiệu đối

chứng hay không là tương đối dễ dàng Dấu hiệu bị coi là trùng với nhãn hiệu đối

chứng nếu dấu hiệu trùng với nhãn hiệu đối chứng và hàng hóa của dấu hiệu cùng

loại với hàng hóa của nhãn hiệu đối chứng (trùng cả nhãn hiệu và hàng hóa)

Trang 30

Việc xác định tính tương tự gây nhầm lẫn của nhãn hiệu hàng hóa thường khó khăn hơn Cùng một trường hợp nhưng có thể có nhiều ý kiến đánh giá trái ngược nhau Trong các văn bản pháp quy hiên nay của chúng ta vẫn chưa có những quy định cụ thể để căn cứ vào đấy chúng ta có thể xác định một dấu hiệu có tương

tự đến mức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu hàng hóa khác hay không Thực tế của Việt Nam cũng như của các nước trên thế giới cho thấy không thể có một hoặc những quy tắc chuẩn nào mà trong mọi trường hợp sẽ cho chúng ta một lời giải đáp chính xác Có rất nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến khả năng gây nhầm lẫn giữa hai nhãn hiệu, cũng không có yếu tố nào được coi là có tính quyết định hơn yếu tố nào Tuy nhiên để kết luận một dấu hiệu có tương tự gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu khác (nhãn hiệu đối chứng) hay không, theo chúng tôi có thể dựa trên một số tiêu chí sau: (không xếp theo thứ tự quan trọng)

□ Dấu hiệu có tương tự về mặt cấu trúc, ý nghĩa và hình thức thể hiện với nhãn hiệu đối chứng hay không?

□ Bản chất của hàng hóa, dịch vụ mang dấu hiệu có tương tự với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đối chứng không?

□ Phương thức lưu thông hàng hóa trên thị trường (kênh thương mại) của hàng hóa mang dấu hiệu và hàng hóa mang nhãn hiệu đối chứng có tương tự không?

□ Hoàn cảnh mà trong đó việc mua bán hàng hóa được tiến hành Ví dụ nếu hàng hóa đó có giá trị rất lớn (như một chiếc ô tô chẳng hạn) thì khi mua bao giờ người mua cũng xcm xét kỹ và rất hiếm khi xẩy ra trường hợp nhầm lẫn ngay cả khi những chiếc ô tô đó có nhãn hiệu gần giống nhau;

□ Mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu đối chứng;

□ Số lượng và bản chất của các nhãn đối chứng tương tự;

□ Số lượng và bản chất của các trường hợp nhầm lẫn trên thực tế;

□ Thời gian và điều kiên mà trong đó dấu hiệu và nhãn hiệu đối chứng đã cùng được sử dụng song song mà không gây ra sự nhầm lẫn cho người tiêu dùng

□ Thỏa thuận giữa người nộp đơn đăng ký dấu hiệu như một nhãn hiệu hàng hóa và chủ sở hữu của nhãn hiệu đối chứng

□ Tất cả các yếu tố có liên quan khác

Một dấu hiệu bị coi là tương tự về cấu trúc so với nhãn đối chứng nếu cấu trúc của dấu hiệu đó được tạo thành bởi việc thêm những thành phần mới thứ yếu vào nhãn hiệu đối chứng, hoặc bằng cách loại bỏ hay thay đổi phần thứ yếu của nhãn hiệu đối chứng Trường hợp này thường xảy ra với nhãn hiệu dạng chữ Trong tiếng Việt, có những nhãn hiệu hàng hóa dạng chữ tuy khác nhau về dấu nhưng vẫn

có thể bị coi là tương tự nhau về mặt cấu trúc Ví dụ: Các nhãn hiệu SAO VÀNG,

Trang 31

SÁO VÀNG, SAO VANG Hoặc có những nhãn hiệu dạng chữ tuy viết khác nhau nhưng cách đọc giống do thổ ngữ của địa phương dẫn đến cũng tương tự nhau Ví

dụ: Các nhãn hiệu TÂN KÝ và TĂNG KÝ Trường hợp nhãn hiệu có phần chủ yếu

(là phần có tính phân biệt cao) lại trùng với toàn bộ hoặc phần chủ yếu của một nhãn hiệu khác thì bị coi là tương tự Ví dụ: Nhãn hiệu KODAK GOLD tương tự với nhãn hiệu KODAK T R O PIC A L vì thành phần chủ yếu có tính phân biệt của

hai nhãn này giống nhau-đều là KODAK Tuy nhiên nếu hai nhãn hiệu có thành

phần thứ yếu (là phần không có tính phân biệt) giống nhau nhưng phần chủ yếu

không giống nhau thì vẫn có khả năng phân biệt Ví dụ: Nhãn hiệu BẢO TÍN và

TRƯỜNG TÍN.

Một dấu hiệu bị coi là tương tự về mặt ý nghĩa so với nhãn hiệu đối chứng nếu dấu hiệu và nhãn hiệu đối chứng, hoặc phần chủ yếu của chúng có cùng một nội dung diỗn đạt cùng một đối tượng (sự vật, hiên vật hay khái niệm ), hoặc hai đối

tượng tương tự nhau Ví dụ: Nhãn hiệu KIM TINH và SAO VÀNG; nhãn hiệu

KIM CHUNG và CHUÔNG VÀNG.

Một dấu hiệu bị coi là tương tự về mặt hình thức thể hiện so với nhãn hiệu đối chứng nếu nếu toàn bộ hoặc phần chủ yếu của dấu hiệu và nhãn hiệu đối chứng được trình bày theo một phong cách, trong đó màu sắc của nhãn hiệu được coi là một yếu tố của phong cách trình bày

Khái niệm “phần chủ yếu” của nhãn hiộu hay dấu hiệu được hiểu là một hoặc một số yếu tố kết hợp với nhau tạo thành một bộ phận của nhãn hiệu hay dấu hiệu,

có khả năng ảnh hưởng lớn nhất đến khả năng cảm nhận của người tiêu dùng, có tác dụng gây ấn tượng cho người tiêu dùng khi tiếp xúc với hàng hóa

Tính tương tự của hàng hóa được đánh giá trên cơ sở xem xét về bản chất (cấu tạo, thành phần, hình dáng ), chức năng (công dụng hay mục đích sử dụng) và phương thức thực hiện chức năng Nếu hai hàng hóa có cùng bản chất, có cùng chức năng và cùng phương thức thực hiện chức năng đó thì chúng được coi là hai hàng hóa cùng loại

Như trên đã trình bày, để kết luận một dấu hiệu có tương tự gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu khác hay không (nhãn hiệu đối chứng), thì phải xem xét một cách tổng thể đến mọi yếu tố có liên quan Ví dụ sau đây phần nào cho thấy vấn đề này Một công ty của Nhật bản là Kyowa Hakko Kogyo Co Ltd đã được đăng ký nhãn hiệu “LEUNASE” cho dược phẩm, cụ thể là thuốc chống ung thư ngày 25.05.2000 với số giấy chứng nhận là 34109 cho dù trước ngày nộp đơn của nhãn hiệu trên, ngày 29.04.98 đã có một công ty khác là MERCK GesmbH của Áo đăng ký nhãn hiệu “LEUKASE” cũng cho dược phẩm, cụ thể là thuốc kháng sinh theo con đường Thỏa ước Madrid từ ngày 09.11.1984 với số giấy chứng nhận là R290740 Chúng ta

dễ dàng nhận thấy rằng nếu xét về mặt cấu trúc và phong cách thể hiện thì hai nhãn hiệu trên rất giống nhau Chúng đều được viết bằng các chữ cái chuẩn, và khác nhau

Trang 32

đúng một chữ cái nằm cùng một vị trí là “K” và “N” Theo chúng tôi, các lý do mà Cục SHCN chấp nhận bảo hộ đổng thời cả hai nhãn hiệu này là: Thứ nhất cho dù các nhãn hiệu này đều được đăng ký cho dược phẩm thuộc nhóm 05 Bảng phân loại quốc tế về hàng hóa và dịch vụ, nhưng do thuốc chống ung thư và thuốc kháng sinh mang các nhãn hiệu này khác nhau vể bản chất, chức năng và phưưng thức thực hiôn chức năng của mình Thứ hai là đối tượng sử dụng thuốc kháng sinh và thuốc chống ung thư là những người cho trình độ chuyên ngành, có khả năng nhận ra sự khác biệt giữa hai nhãn hiệu Thứ ba là nhãn hiệu “LEUNASE” đã được đăng ký và sử dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới cùng với nhãn hiệu “LEUKASE” mà không gây ra nhầm lẫn Và thứ tư là chủ sở hữu nhãn hiệu đối chứng “LEUKASE”

đã có văn bản khẳng định rằng trên thực tế đã không xảy ra nhầm lẫn cho người tiêu dùng, và đổng thời đồng ý đổ cho công ty của Nhật bản sử dụng và đăng ký nhãn hiệu “LEUNASE” cho thuốc chống ung thư

> Theo Điều 6.1.Ồ và Điều 6.1.C Nghị định 63/ CP, dấu hiệu phải không trùng hoặc không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hóa của người khác đang được bảo hộ tại Việt Nam, (kể cả các nhãn hiệu hàng hóa đang được bảo hộ theo các Điểu ước quốc tế mà Việt Nam tham gia) hoặc không trùng hoặc khổng tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hóa nêu trong đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa đã nộp cho cơ quan có thẩm quyền với ngày ưu tiên sớm hơn (kể cả các đơn nhãn hiệu hàng hóa được nộp theo các điểu ước quốc tế

mà Việt Nam tham gia).Tại thời điểm hiện nay, Điều ước quốc tế được đề cập tại điểm b và c khoản 1 Điều 6 Nghị định 63/CP được hiểu là Thỏa ước Madrid về đăng

ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa (Mađriđ Agreement Conccrning the International Registration of Marks) Điểm b nêu trên đề cập đến nhãn hiệu đối chứng đã được đăng ký, còn điểm c để cập đến các nhãn hiệu đang được xem xét bảo hộ, tức là các nhãn hiệu nêu trong đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa đã được nộp cho cơ quan có thẩm quyền với ngày ưu tiên sớm hơn Theo chúng tôi quy định tại điểm c có phần cứng nhắc Chúng ta có thể thấy rõ vấn đề trong tình huống người nộp đơn nhãn hiệu đối chứng rút đơn, hoặc đơn đăng ký nhãn hiệu đối chứng

vì một lý do gì đấy bị từ chối đăng ký Trong trường hợp này, sau khi nhãn hiệu đối chứng đã bị từ chối bảo hộ hay đơn đăng ký nhãn hiệu này đã được rút thì dấu hiệu cần được tiếp tục xem xét bảo hộ Thực tế cho thấy tại một số nước như Hoa Kỳ, nếu một dấu hiệu tương tự với một nhãn hiệu nêu trong một đơn khác với ngày ưu tiên sớm hơn thì đơn đăng ký dấu hiệu này sẽ bị treo, ngừng xem xét cho đến khi có quyết định cuối cùng về nhãn hiệu đối chứng về việc nhãn hiệu này có được đăng ký hay bị từ chối Trong trường hợp nhãn hiệu đối chứng bị từ chối thì đơn đăng ký dấu hiệu sẽ được tiếp tục xem xét bảo hộ Ngược lại trong trường hợp nhãn hiệu đối chứng được đăng ký bảo hộ thì dấu hiệu sẽ bị từ chối

> Theo điểm d khoản 1 Điều 6 Nghị định 63/CP thì một dấu hiệu cũng không thể được đăng ký như là nhãn hiệu hàng hóa nếu dấu hiệu này trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hóa của người khác đã hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ hiệu lực bảo hộ nhưng thời gian tính từ khi hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ hiệu lực

Trang 33

chưa quá 5 năm, trừ trường họp hiệu lực bị đình chỉ vì nhãn hiệu hàng hóa khổng được sử dụng theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 28 Nghị định này.

Thực chất những nhãn hiệu hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ không phải là những nhãn hiệu đang được bảo hộ Tuy nhiên, những sản phẩm hàng hóa mang nhãn hiệu này vẫn có thể còn tồn tại trên thị trường hoặc không còn tồn tại trên thị trường nhưng những ấn tượng về những yếu tố độc đáo, dễ nhận biết của nhãn hiệu vẫn còn lưu giữ trong trí nhớ của người tiêu dùng trong một khoảng thời gian nhất định Theo chúng tôi các nhà làm luật ấn định thời hạn năm nãm sau khi các nhãn hiệu hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ mới được sử dụng nhãn hiệu khác Irùng hoặc tương tự

để tránh cho người tiêu dùng nhầm lẫn trong việc lựa chọn hàng hóa, mặt khác cũng nhằm bảo vệ quyền lợi của ngưòi chủ nhãn hiệu Trong trường hợp nhãn hiệu đối chứng bị đình chỉ hiệu lực vì lý do không sử dụng thì dấu hiệu có khả năng được đăng ký bảo hộ ngay Điều này cũng dễ hiểu bởi nếu một nhãn hiệu bị đình chỉ hiệu lực vì lý do không sử dụng thì trên thực tế nhãn hiệu này đã không được sử dụng trước thời điểm bị đình chỉ hiệu lực đến 5 năm Cần lưu ý rằng thời hạn 5 năm trên đây không áp dụng cho trường hợp nhãn hiệu đối chứng bị hủy bỏ hiệu lực Dấu hiệu có thể được đăng ký bảo hộ ngay sau khi nhãn hiôu đối chứng bị hủy bỏ hiệu lực

> Điểm e, khoản 1 Điều 6 Nghị định 63/CP đề cập đến các nhãn hiệu đối chứng là các nhãn hiệu nổi tiếng (theo điều 6bis Công ước Paris) hoặc với nhãn hiệu của người khác đã đã được sử đụng và thừa nhận một cách rộng rãi Nghị định 63/CP

đinh nghĩa về nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng tai Khoản 8B Điều 2: “Nhãn hiệu nổi

tiếng là nhãn hiệu hàng hóa được sử dụng liên tục cho sản phẩm, dịch vụ có uy tín khiến cho nhãn hiệu đó được biết đến một cách rộng rãi” Một nhãn hiệu không

nhất thiết phải được đăng ký tại Cục SHCN mới được công nhận là nổi tiếng, tuy nhiên chủ sở hữu nhãn hiệu này phải làm thủ tục yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận nhãn hiệu nổi tiếng Cơ quan có thẩm quyền ở đây là Cục SHCN Một khi được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng thì nhãn hiệu này sẽ được hưởng sự bảo hộ rộng rãi hơn so với nhãn hiệu thông thường Việc xem xét một dấu hiệu có tương tự gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu nổi tiếng hay không cần được tiến hành một cách kỹ lưỡng hơn nhiều so với một nhãn hiệu thông thường Một nhãn hiệu hàng hóa được sử dụng và thừa nhận một cách rộng rãi được hiểu là nhãn hiệu chưa đạt được mức độ của nhãn hiệu nổi tiếng nhưng ở Việt Nam đã được sử dụng và nhiều người biết đến Chúng tôi sẽ trình bày cụ thể về nhãn hiệu nổi tiếng tại phần 1.4.5 của chương này

> Điểm f khoản 1 Điều 6 Nghị định 63/CP quy định: một dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu hàng hóa không trùng hoặc không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với tên thương mại của người khác đang được bảo hộ, hoặc với chỉ dẫn địa lý (kể cả tên gọi xuất xứ hàng hóa) đang được bảo hộ Khái niệm “tên thương mại”, “chỉ dẫn địa lý”, được qui định trong Nghị định số 54/2000/NĐ-CP “Về bảo hộ quyển SHCN đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyển chống cạnh

Trang 34

tranh không lành mạnh liên quan đến SHCN” của Chính phủ và“tên gọi xuất xứ hàng hóa” được qui định trong Nghị định 63/CP Những đối tượng này có những điểm giống và khác nhãn hiệu hàng hóa mà chúng tôi sẽ trình bầy kỹ trong phần 1.5 chương I của luận văn.

> Điểm g khoản 1 Điều 6 Nghị định 63/CP quy định một dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu hàng hóa không được trùng với kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ hoặc đã được nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ với ngày ưu tiên sớm hơn Theo điều

784 Bộ luật dân sự: “kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm,

được th ể hiện bằng đường nét, hình khối, mầu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố đó,

có tính mới đối với th ế giới và dùng làm mẩu đ ể c h ế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công n g h i ệ p Dấu hiệu là đường nét, hình khối, màu sắc vừa có thể dùng làm

nhãn hiệu hàng hóa vừa có thể đăng ký bảo hộ dưới dạng kiểu dáng công nghiệp Ví

dụ những đường nét hoa văn trên vải vừa có thể dùng làm nhãn hiệu hàng hóa, vừa

có thể đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp; hoặc hình khối chai nước ngọt Coca- cola đã được đăng ký bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu hàng hóa mặc dù cũng có thể coi

đó là kiểu dáng công nghiệp Vì vậy, nếu nhãn hiệu hàng hóa lại trùng với kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ thì không được coi là có khả năng phân biệt Nếu nhãn hiệu hàng hóa tương tự với một kiểu dáng công nghiệp thì vẫn được coi là có khả năng phân biệt

> Theo điểm h, khoản 1 Điều 6 Nghị định 63/CP thì một dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu hàng hóa không được trùng với một hình tượng nhân vật đã thuộc quyển tác giả của người khác trừ trường hợp được người đó cho phép Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật có những tác phẩm mà hình tượng một nhân vật đã được biết đến rộng rãi trong công chúng Quy định này nhằm mục đích bảo hộ quyền lợi hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm Theo chúng tôi việc sử dụng hình tượng một nhân vật đã thuộc quyền tác giả của người khác sẽ bị coi là một hình thức sử dụng tác phẩm và theo các quy định về quyền tác giả hiện nay thì việc sử dụng hình tượng nhân vật này sẽ hoàn toàn thuộc về tác giả, chủ sở hữu tác phẩm Quy định tại Điều6.1.h là sự khẳng định lại quy định về quyền tác giả trong lĩnh vực nhãn hiệu hàng hóa Ví dụ hình tượng nhân vật Siêu Nhân (SƯPERMAN) nổi tiếng của công ty DC Comics Hoa Kỳ, được xây dựng từ những năm 30 của thế kỷ 20 Việc sử dụng hình tượng nhân vật này làm nhãn hiệu hàng hóa cần phải có sự đồng ý của công ty DC Comics Hoa Kỳ

3.2 Nhãn hiệu hàng hóa là các dấu hiệu được sử dụng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau

Nhãn hiệu hàng hóa không phải là tên của một sản phẩm, nó luôn luôn là một tính từ bổ nghĩa cho một danh từ là tên của hàng hóa để chỉ ra nguồn gốc của hàng hóa Nó trả lời câu hỏi người cung cấp hàng hóa, dịch vụ là ai mà không trả lời câu hỏi hàng hóa là gì Đây chính là chức năng cơ bản nhất của nhãn hiệu hàng hóa

Trang 35

Ví dụ nhãn hiệu SONY được sử dụng cho vô tuyến Vô tuyến là tên chung của hàng hóa, nó cho ta biết đây là cái gì SONY mặc dù là một từ hoàn toàn không có nghĩa

gì tuy nhiên nó lại nói cho ta biết nhà sản xuất, cung cấp loại vô tuyến này là công

ty SONY

Như đã được đề cập ở trên, một nhãn hiệu hàng hóa không trả lời cho câu hỏi hàng hóa, dịch vụ này là gì, như thế nào mà chỉ trả lời cho câu hỏi hàng hóa, dịch vụ này từ đâu tới, có nguồn gốc như thế nào Trong thực tế xảy ra nhiều trường hợp một nhãn hiệu hàng hóa, thường là những nhãn hiệu mạnh được nhiều người biết đến, dần dần đánh mất chức năng của mình khi nó có khả năng trả lời cho câu hỏi đây là cái gì Trong trường hợp này nhãn hiệu hàng hóa đã trở thành tên chung của hàng hóa Ví dụ “Aspirin” đã từng là nhãn hiêu hàng hóa của sản phẩm thuốc giảm đau của công ty Bayer Do sản phẩm thuốc này được sử dụng rộng rãi và phổ biến đến mức nhãn hiệu aspirin đã trở thành tên chung của hàng hóa và không còn được bảo hộ nữa Thay vì gọi là thuốc giảm đau, người tiêu dùng gọi luôn là thuốc aspirin

Điều 785 Bộ luật dân sự qui định: “Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu để

phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác

nhau” Hiện nay khái niêm “hàng hóa cùng loại” được hiểu là những hàng hóa có cùng bản chất (cấu tạo, thành phần), có cùng hình dáng nhất định, có cùng chức năng (công dụng hoặc mục đích sử dụng) có cùng phương thức để thực hiên chức năng đó Ví dụ ô tô chạy bằng xăng và ô tô chạy bằng dầu là hàng hóa cùng loại; hay bút bi do công ty Thiôn Long sản xuất được coi là cùng loại với bút bi của công

ty “BIC” Nếu chỉ căn cứ vào Điều 675 Bộ luật dân sự thì nhãn hiệu hàng hóa chỉ để phân biệt những hàng hóa cùng loại Do vậy, một nhãn hiệu khi được cơ sở sản xuất kinh doanh này sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ của mình thì vẫn có thể được các cơ

sở khác sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ của họ nếu những hàng hóa, dịch vụ đó khác loại với nhau Có nghĩa là cùng một dấu hiệu có thể sử dụng làm nhãn hiệu hàng hóa cho hàng hóa, dịch vụ của nhiều nhà sản xuất, miễn là những hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đó phải khác loại nhau

Có khái niêm hàng hóa cùng loại thì cũng sẽ có khái niệm hàng hóa không cùng loại mà có thể hiểu là bao gồm hàng hóa tương tự và khác loại Nhãn hiệu hàng hóa có vai trò gì không trong việc phân biệt hàng hóa không cùng loại của các

cơ sở kinh doanh khác nhau? Chúng ta thử cùng hình dung tình huống sau đây Quần áo nói chung và dây thắt lưng rõ ràng không phải là hai hàng hóa cùng loại Tuy nhiên do dây thắt lưng thường được sử dụng cùng với quần nên tại các cửa hàng, các siêu thị, hai thứ hàng hóa này thường được bày bán cùng nhau Chuyện gì

sẽ xảy ra nếu một nhà sản xuất quần áo và một nhà sản xuất dây thắt lưng cùng sử dụng một nhãn hiệu giống nhau hoặc rất lương tự nhau cho các sản phẩm của mình,

và các sản phẩm này cùng được này bán tại một nơi? Người mua hàng có thể nghĩ rằng hai hàng hóa này đều do một người sản xuất ra, và như vậy nhãn hiệu hàng hóa được sử dụng không hoàn thành được chức năng của mình Trong trường họp này,

Trang 36

những hàng hóa dù khác loại nhưng nếu chúng tương tự hoặc liên quan đến nhau thì cũng không thể sử dụng cùng một dấu hiệu làm nhãn hiệu hàng hóa Một ví dụ khác nữa: Chúng ta biết rằng tại Việt Nam, HONDA được nhiều người biết đến như là một nhà sản xuất xe máy và phụ tùng của chúng Nếu trên thị trường xuất hiện một loại nước khoáng mang nhãn hiệu HONDA do một cơ sở nào đó sản xuất Ihì có xảy

ra vấn đề gì không? Nước khoáng rõ ràng khác loại với và ô tồ và xe máy Tuy nhiên do nhãn hiệu HONDA đã được biết đến rất rộng rãi tại Việt Nam, người tiêu dùng cũng có thể suy luận rằng nước uống kia cũng được HONDA sản xuất, hoặc

có liên quan đến công ty HONDA Trong các trường hợp này nhãn hiệu hàng hóa cũng không hoàn thành được chức năng phân biệt của mình Theo qui định của Điều

6 khoản 1 điểm e thì những nhãn hiệu trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc được thừa nhận rộng rãi của người khác sẽ không được chấp nhận Như vậy, qua hai ví dụ trôn đây thì chúng ta còn có thể thấy rằng trong một chừng mực nào đó thì nhãn hiệu hàng hóa còn để phân biệt hàng hóa và dịch vụ không cùng loại Theo chúng tôi tuy “phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại” là chức năng của nhãn hiệu hàng hóa mà chúng ta thường gặp nhất trong thực tế, tuy nhiên trong nhiều trường hợp, nhãn hiệu hàng hóa còn để phân biệt cả những hàng hóa tương tự và khác loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau Cụ thể trong một số trường hợp sau: Nếu một nhãn hiệu hàng hóa được coi là nổi tiếng hoặc đã được sử dụng và thừa nhận một cách rộng rãi thì những cơ sở sản xuất, kinh doanh khác sẽ không được sử dụng làm nhãn hiệu hàng hóa cho hàng hóa, dịch vụ của mình, ngay cả khi hàng hóa, dịch vụ đó hoàn toàn khác loại với hàng hóa, dịch vụ

có gắn nhãn hiệu nổi tiếng hoặc được sử dụng và thừa nhận một cách rộng rãi; Hoặc nếu nhãn hiệu hàng hóa của cơ sở sản xuất, kinh doanh này lại trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu hàng hóa của cơ sở khác mà hàng hóa, dịch vụ của họ lại trùng hoặc tương tự nhau thì cũng bị coi là không có khả năng phân biệt

Việt Nam đã nộp đơn gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO Một khi gia nhập chúng ta sẽ bị ràng buộc bởi các quy định trong Thỏa ước TRIPS Liên quan đến khái niệm nhãn hiệu hàng hóa, Khoản 1 Điều 15 của Thỏa ước này quy

định “Bất kỷ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt

hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có th ể làm nhãn hiệu hàng hóa Các dấu hiệu đó đặc biệt là các từ, k ể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa”.

Ngày 13.07.2000 Việt Nam và Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã ký Hiệp định thương mại Tại Điều 6 khoản 1 chương II “Quyền sở hữu trí tuệ” đã có quy định đề

cập đến nhãn hiệu hàng hóa: ‘Trong hiệp định này, nhãn hiệu hàng hóa được cấu

thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một người với hàng hóa, dịch vụ của người khác, bao gồm từ ngữ, tên người, hình, chữ cái, chữ số, tổ hợp mầu sắc, các yếu tô' hình hoặc hình dạng của hàng hóa hoặc hình dạng của bao bì hàng hóa Nhãn hiệu hàng

Trang 37

hóa bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận”.

Đối chiếu qui định của điều 785 Bộ luật dân sự và hai văn bản trên

đây, chúng ta đểu thấy các văn bản này không qui định “nhãn hiệu hàng hóa là dấu

hiệu đ ể phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng /oạ/”của các cơ sở sản xuất, kinh doanh

khác nhau bởi lẽ nhãn hiệu hàng hóa không chỉ để phân biệt hàng hóa dịch vụ cùng loại, mà có nhiều trường hợp nó còn để phân biệt hàng hóa không cùng loại của các

cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau Vì vậy, theo chúng tôi, các nhà làm luật nên

bỏ cụm từ “cùng loại” để điều luật chính xác hon Điêu 785 Bộ luật dân sự nên sửa thành “nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau ”

Tóm lại: nhãn hiệu hàng hóa phải là gì? Qua những phân tích trên đây, có thể thấy nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu có khả năng phân biệt, không thuộc vào các dấu hiệu loại trừ, không trùng lặp hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với những đối tượng khác Pháp luật qui định, có khả năng thực hiện được chức năng phân biệl các hàng hóa, dịch vụ của cơ sở sản xuất, kinh doanh này với cơ sở sản xuất kinh doanh khác

Cần lưu ý là để được coi là nhãn hiệu hàng hóa theo điều 785 Bộ luật dân sự thì việc đăng ký các dấu hiệu có khả năng phân biệt mà các cơ sở sử dụng đổ phân biệt hàng hóa và dịch vụ của mình với hàng hóa và dịch vụ của các cơ sở sản xuất và kinh doanh khác là điều không bắt buộc Hay nói một cách khác có thể hiểu rằng sẽ tồn tại những nhãn hiệu đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền là Cục SHCN

và những nhãn hiệu hàng hóa chưa được các cơ sở sản xuất kinh doanh đăng ký hoặc không đăng ký Tuy nhiên, khi sử dụng một nhãn hiệu cho sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của mình, các cơ sở sản xuất kinh doanh phải tuân thủ theo những qui định của Pháp luật

4 Các loại Nhãn Hiệu Hàng hóa

Hiện nay có rất nhiều cách để phân loại nhãn hiệu hàng hóa Nếu dựa vào loại dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu hàng hóa thì có thể phân thành: đấu hiệu chữ, dấu hiệu hình và dấu hiệu kết hợp Tuy nhiên trong các văn bản hiên hành chúng ta thường gặp các thuật ngữ chỉ các loại nhãn hiệu hàng hóa như: nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu liên kết, nhãn hiệu nổi tiếng

4.1 Nhãn hiệu hàng hóa:

Là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau Hàng hóa được hiểu là những vật phẩm có nguồn gốc tự nhiên hay được sản xuất, chế tạo để bán, nó có hai thuộc tính là giá trị trao đổi và giá trị sử dụng Chủ yếu các hàng hóa trên thị trường hiện nay là sản phẩm của lao động, còn những hàng hóa có nguồn gốc tự nhiên thì không nhiều

Trang 38

Khái niệm hàng hóa ở đây để chỉ những hàng hóa là những tài sản hữu hình

mà bằng các giác quan thông thường, chúng ta có thể nhận biết được nó nhãn hiệu hàng hóa có thể gắn ngay trên hàng hóa hoặc thể hiện trên bao bì của hàng hóa đó

4.2 Nhãn hiệu dịch vụ:

Là những dấu hiệu dùng để phân biệt dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau Dịch vụ được hiểu là các hoạt động thực tế, có thể là chân tay hoặc đầu óc được thực hiện theo yêu cầu hoặc vì lợi ích của người không phải là người thực hiện các hoạt động này Khái niêm dịch vụ ở đây phải được hiểu

là những dịch vụ độc lập Các hoạt động cụ thể nhằm thực hiện một công việc nào

dó của ngưòi làm dịch vụ nhiều khi không được coi là một dịch vụ độc lập Ví dụ hoạt động của một cửa hàng thực phẩm rõ ràng là một dịch vụ, nhưng việc gói thực phẩm cho khách hàng trong trường hợp này không phải là một dịch vụ độc lập, nó chỉ là một phần hoạt động tạo nên dịch vụ của cửa hàng Tương tự như vậy hoạt động sửa chữa hàng hóa được công nhận là một dịch vụ nhưng việc bảo hành hàng hóa sau khi mua của cửa hàng sẽ không được coi là một dịch vụ độc lập

Nhãn hiệu dịch vụ thường được gắn trên bảng hiệu các dịch vụ để người có nhu cầu hưởng thụ dịch vụ đó có thể dỗ dàng nhận ra Ngày nay, khi đời sống kinh

tế ngày càng được nâng lên, các loại hình dịch vụ ngày càng phong phú đa dạng để đáp ứng được nhu cầu mọi mặt của con người Thực chất, dịch vụ là một dạng hàng hóa đặc biệt mà khi chúng ta trả tiền thì sẽ được hưởng một lợi ích nhất định

4.3 Nhãn hiệu tập thể:

Theo Điều 2 Nghị định 63/CP qui định chi tiết về SHCN được sửa đổi bổ

sung theo Nghị định số 06/NĐ-CP ngày 01/2/2001, “nhãn hiệu tập thềUà nhãn hiệu

hàng hóa dược tập th ể các cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ th ể khác cùng sử dụng, trong đó mối thành viên sử dụng một cách dộc lập theo qui c h ế do tập th ể đó qui định.

Nhãn hiệu tập thể có thể là nhãn hiệu dùng cho hàng hóa hoặc dịch vụ Mỗi thành viên của tập thể được sử dụng nhãn hiệu đó cho hàng hóa, dịch vụ của riêng mình nhưng đều phải tuân thủ qui chế do tập thể đặt ra Qui chế này có thể qui định

về chất lượng hàng hóa, dịch vụ hoặc qui trình sản xuất, chế biến Tập thể phải quản lý việc các thành viên khi sử dụng nhãn hiệu có tuân thủ những qui định chung hay không Tuy nhiên cần phải lưu ý là khi tập thể sử dụng một nhãn hiệu nhân danh tập thể thì nhãn hiệu này không được coi là nhãn hiệu tập thể mà sẽ chỉ là một nhãn hiệu bình thường vì nhãn hiệu chỉ do một chủ thể sử dụng Đặc trưng của nhãn hiệu tập thể là nhiều người cùng sử dụng nhãn hiệu đó

4.4 Nhãn hiệu liên kết

Theo Điều 2 Nghị định 63/CP qui định chi tiết về SHCN được sửa đổi bổ

Trang 39

sung theo Nghị định số 06/NĐ-CP ngày 01/2/2001, “nhãn hiệu liên kết” là các nhãn

hiệu tương tự với nhau do cùng một chủ thể dăng ký đ ể dùng cho các sản phẩm, dịch

vụ cùng loại, tương tự với nhau hoặc có liên quan tới nhau, và các nhãn hiệu hàng

hóa trùng nhau do cùng một chủ thể đăng ký đ ể dùng cho các sẩn phẩm, dịch vụ

tương tự với nhau hoặc có liên quan tới nhau.

Qua khái niệm này, chúng ta có thể thấy nhãn hiệu liên kết có các đặc điểmsau:

> Bao gổm nhiều nhãn hiệu hàng hóa tương tự nhau hoặc trùng nhau.Thông thường các nhãn hiệu liên kết giống nhau phần chủ yếu của nhãn hiêu-là phần có tính phân biệt cao nhất trên một nhãn hiệu hàng hóa

> Các nhãn hiệu này do cùng một chủ thể đăng ký bảo hộ

> Các nhãn hiệu này dùng cho các sản phẩm, dịch vụ cùng loại, tương tự với nhau hoặc có liên quan tới nhau

Nhãn hiệu liên kết mang lại nhiều lợi thế cho người chủ sở hữu nhãn hiệu Thứ nhất

là chủ nhãn hiệu được độc quyền sử dụng dấu hiệu có khả năng phân biệt cho nhiều loại hàng hóa, dịch vụ không cùng nhóm của mình miễn là những hàng hóa, dịch vụ này có liên quan tới nhau Thứ hai là tạo ra cho người tiêu dùng một liên tưởng là các hàng hóa, dịch vụ này cùng một nguồn gốc Đây là một lợi thế rất lớn tạo ra uy tín cho chủ sở hữu, tạo tâm lý tin tưởng, yên tâm cho người sử dụng đối với hàng hóa, dịch vụ đó Thứ ba là khi một trong các nhãn hiệu liên kết đã được cấp Văn bằng bảo hộ thì việc đăng ký bảo hộ các nhãn hiệu liên kết khác rất dễ dàng và thuận lợi vì dấu hiệu có khả năng phân biệt của nhãn hiệu liên kết đã được cơ quan

có thẩm quyền chấp nhận từ lần đăng ký bảo hộ trước đó

4.5 Nhãn hiệu nổi tiếng

Trong danh sách mười nhãn hiệu hàng hóa được xếp hàng đầu về măt giá trị của nhãn hiệu được công bố trong tạp chí của Hoa Kỳ “Financial World” (tháng 10 năm 1997), giá trị của cả hai nhãn hiệu “COCA-COLA” và “MARLBORO” đều được ước lượng vào khoảng 6,2 nghìn tỷ yên *, “IBM” được đánh giá vào khoảng 3,1 nghìn tỷ yên, và “SONY”, nhãn hiệu duy nhất từ quốc gia không phải Hoa Kỳ

có mặt trong danh sách 10 nhãn hiệu hàng đầu này, đứng hàng thứ 6 với giá trị được ước lượng vào khoảng 1,9 nghìn tỷ yên Tất cả các nhãn hiệu này đều rất nổi tiếng trên toàn cầu, được mọi người trên thế giới công nhận do hàng hóa và dịch vụ mang các nhãn hiệu này có mặt khắp nơi trên thế giới

Trong những năm gần đây, cơ cấu xã hội và kinh tế ngày càng mang tính toàn cầu Nhãn hiệu nổi tiếng “CNN”, một đài truyền hình 24 giờ mỗi ngày và

“DHL”, dịch vụ chuyển bưu kiện, xuất hiện cùng với những thay đổi này đã trở

* Đơn v ị tiền tệ của Nhật Bản

Trang 40

thành rất nổi tiếng trên toàn thế giới, đại diện cho những nhãn hiệu hàng hóa được

in đậm trong tâm trí mọi người tại mọi nơi Trong lĩnh \ạrc máy vi tính nơi mà phạm

vi người sử dụng đang mở rộng một cách mạnh mẽ, thật không phóng đại khi nói rằng “MICROSOFT”, “INTEL”, và các nhãn hiệu nổi tiếng cho các chương trình phần mềm khác đã trở thành rất nổi tiếng trên phạm vi toàn thế giới

Thêm vào đó, các nhãn hiệu hàng hóa của các nhà tài trợ được phô bày một cách nổi bật tại các sự kiên thể thao thế giới như là đại hội thể thao Olympic, giải vô địch bóng đá thế giới được hàng tỷ người nhìn thấy, hoặc các nhãn hiệu được quảng cáo qua mạng thông tin liên lạc toàn cầu như “CNN” và Internet đang chiếm được

sự mến mộ của công chúng một cách mạnh mẽ

Đại đa số những nhãn hiệu này được biết đến vượt ra ngoài ranh giới của một quốc gia khi thị trường của chúng được mở rộng và được công nhận trở thành những nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng mang tính quốc tế với thị trường là cả thế giới Mặt khác, những nhãn hiệu này tiếp tục cung cấp cho đông đảo người tiêu dùng những hàng hóa và dịch vụ với chất lượng cao trong nhiểu năm trong khi vẫn tiếp tục duy trì được sự tín nhiệm, trở thành nhãn hiệu nổi tiếng hoặc rất nổi tiếng trong một phạm vi địa lý nhất định

Tuy nhiên, cho dù một nhãn hiệu hàng hóa đã tiến được đến vị trí nổi tiếng hoặc rất nổi tiếng trên toàn cầu theo nghĩa được mô tả ở trôn, thì cũng không thể nói ràng hàng hóa hoặc dịch vụ của chúng thực sự được cung cấp tại thị trường của mỗi quốc gia và hơn nữa, điều này cũng không có nghĩa là các nhãn hiêu này được đăng

ký tại mỗi quốc gia trên toàn thế giới Do dó trong trường hợp một nhãn hiệu như vậy bị bắt chước hoặc sao chép tại một quốc gia, nơi mà nó chưa được đăng ký hay

sử dụng, cụ thể là khi một nhãn hiệu trùng lặp hoặc tương tự với một nhãn hiệu nổi tiếng hoặc rất nổi tiếng được nộp đơn yêu cầu đăng ký, hoặc bắt đầu được sử dụng bởi một bên thứ ba không có quan hệ thì Cơ quan có thẩm quyền giải quyết sẽ gặp phải những vấn đề pháp lý phức tạp để xử lý tình huống này

Việc công nhận và bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng ngày càng trở nên một vấn đề mang tính cấp thiết và thu hút được sự chú ý của nhiều quốc gia Ớ nước

ta, thuật ngữ “nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng” đã được đề cập tới trong các văn bản Pháp luật liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa Trước khi Bộ luật dân sự ra đời, Thông

tư số 437/SC ngày 19 03 1993 của BKHCNMT có một số quy định về căn cứ để xác định một nhãn hiệu nổi tiếng Các căn cứ để đánh giá là: Lượng người tiêu dùng

đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng sản phẩm (hoặc địch vụ) mang nhãn hiệu đang được lưu hành; doanh số từ việc bán sản phẩm mang nhãn hiệu hoặc số lượng sản phẩm đã được bán ra; thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu;

uy tín sử dụng rộng rãi sản phẩm (dịch vụ) mang nhãn hiệu; số lượng quốc gia bảo

hộ nhãn hiệu Tuy đã đề ra một số căn cứ để xác định xem một nhãn hiệu có được coi là nổi tiếng hay không, nhưng trên thực tế chúng ta vẫn gặp nhiều khó khăn vì chúng ta chưa có một điều khoản nào quy định cụ thể về thủ tục xác lập quyền

Ngày đăng: 02/08/2020, 20:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w