1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp thành phố trực thuộc trung ương

116 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 11,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của UBND thành phố trực thuộc trung ương; cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương của các đô thị lớn là công việc cẩn thiết phải được gi

Trang 2

-BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯPHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

VŨ HỮU KHÁNG

ĐỔI NỚI TỔ CHỨC VÀ HOAT BÔNG CỦA• •

IJỶ BAN NHÂN DÂN c ắ p THÀNH PBÔ' l » ụ t THUỘC n m M M ì

(QUA KINH NGHIỆM T ổ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA

UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢl PHÒNG)

ơ iu y ê n ngành : Lý luận chung về nhà nước và pháp luật

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Bản luận văn với đề tài 'Đổi mói tổ chức và hoạt động của u ỷ ban nhân dân

cấp thành phọ trực thuộc trung ương (qua kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của

u ỷ ban nhân dân thành p h ố H ải phòng)", được hoàn thành tại Trường Đại học

Luật Hà nội, với sự hướng dẫn tận tình của Tiến sỹ Phạm Hồng Thái

Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới Tiến sỹ Phạm Hồng Thái, người thầy hướng dẫn khoa học cho tác giả, để luận văn này được hoàn thành

Tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Luật Hà nội, thầy Lê Minh Tãm - Hiệu trưởng trường Đại học Luật Hà nội, Ban chủ nhiệm

và các giảng viêỊi, cán bộ Khoa sau Đại học Trường Đại học Luật Hà nội đã tận tình giạpg dạy, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận vân nay

Xin được bày tỏ lòng biết ơn tới lãnh đạo u ỷ ban nhân dân thành phố Hải phòng, lãnh đạo Văn phòng Hội đổng nhân dân và u ỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng đ ã giúp đỡ, tạo điều kiện về nhiều mặt để tác giả hoàn thành luận văn

Đề tài của luận văn có ỊỊỘi dung rất rộng lớn và phong phú, nên trong quá trình nghiên cứu không tránh khi)! những thiếu sót, hận chế Tác giả kính mong nhận được sự chỉ giáo của các thầy, cô trong Hội đồng khoa học chấm luận văn để luận văn này hoàn thiện hơn

Tác giả luận văn: v ũ HỦƯ KHÁNG

Trang 4

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Vũ Hữu Kháng

Trang 5

BẢNG KÝ HIỆU CHỬ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

H Đ N D - H ội đồng nhân dân

UBN D - U ỷ ban nhân dân

UBHC - U ỷ ban hành chính

UBK CHC- U ỷ ban kháng chiến hành chính

Trang 6

MỤC LỤC

Phần mở đầu:

1 Sự cấp thiết nghiên cứu của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu nội dung đề tài này ở nước t a 3

3 Mục đích, phạm vi và nhiệm vụ của luận văn 4

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên c ứ u 5

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 5

6 Kết cấu của luận văn 6

CHƯƠNG I Tổ chức và hoạt động của UBND thành phố trực thuộc trung ương ở nước t a 7

1.1 UBND Thành phô trực thuộc trung ưong - thiết chế quyền lực nhà nước của đơn vị hành chính lãnh thổ ở nước t a 7

1.1.1 UBND Thành phố trực thuộc trung ương - thiết chế quyền lực nhà nước ở địa phương 7

1.1.2 Các đặc trưng của thành phố trực thuộc trung ương và đặc điểm của quản lý đô thị tại các thành phố trực thuộc trung ương 11

1.2 Sự hình thành và phát triển chế định pháp luật về tổ chức và hoạt động của UBND thành phố trực thuộc trung ương 13

1.2.1 Về tên gọi 16

1.2.2 Về vị trí, tính c h ấ t , 17

1.2.3 Về cách thức thành lập và tổ chức ,f 17

1.2.4 Về chế độ làm việc 20

1.2.5 Về nhiệm vụ và quyền h ạ n 21

1.2.6 Về cơ quan chuyên môn 24

1.3 Tổ chức và hoạt động của UBND thành phố trực thuộc trung ương theo pháp luật hiện h à n h 25

1.3.1 Tính chất, vị trí, vai trò của UBND thành phố trực thuộc trung ương theo Hiến pháp 1992, Luật tổ chức HĐND và ƯBND (sửa đổi) năm 1994 7. 25

1.3.2 Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của UBND 28

1.3.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND thành phố trực thuộc T ư 29

1.3.4 Cơ cấu tổ chức, chế độ làm việc của UBND thành phố trực thuộc T ư 32

1.3.5 Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố trực thuộc T ư 35

1.3.6 Các hình thức làm việc của UBND thành phố trực thuộc T ư 37

Trang 7

1.3.7 Các mối quan hê của UBND thành phố trực thuộc T ư 42

CHƯƠNG II Thực tiễn tổ chức và hoạt động của UBND TP Hải phòng 52

2.1 Khái quát tình hình, đặc điểm vị trí địa lý kinh tê xã hội của thành phô Hải P hòng 52

2.2 Thực trạng về cơ cấu tổ chức của UBND thành phô Hải p h ò n g 56

2.2.1 Cơ cấu tổ chức của UBND thành phố Hải P hòng 56

2.2.2 Chế độ làm việc của UBND thành phố Hải p h ò n g 61

2.3 Thực trạng về hoạt động của ƯBND thành phô Hải phòng 69

2.3.1 Công tác chỉ đạo điều hành các vấn đề kinh tế xã hội, an ninh - quốc phòng của thành p h ố 70

2.3.2 Hoạt động quản lý đô thị cả UBND thành phố Hải Phòng 74

2.2.3 Hoạt động thanh tra, kiểm tra 75

2.3.4 Hoạt động ban hành văn bản quản lý nhà nước của UBND T P 76

2.3.5 Công tác cải cách hành chính 77

CHƯƠNG III Phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND thành phô trực thuộc trung ương 84

3.1 Các yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của ƯBND cấp thành phố trực thuộc trung ứơng 84

3.1.1 Các yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND cấp thành phố trực thuộc trung ương 84

3.1.2 Các quan điểm chỉ đạo trong quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của ƯBND thành phố trực thuộc T ư 88

3.2 Phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của ƯBND thành phô trực thuộc trung ương 89

3.2.1 Tên gọi 90

3.2.2 Về số lượng, cơ cấu thành viên UBND thành phố trực thuộc TƯ 91

3.2.3 Xác định rõ nhiệm kỳ và vấn đề phê chuẩn kết quả bầu cử UBND thành phố trực thuộc TƯ 94

3.2.4 Kết hợp chế độ bầu và bổ nhiệm chủ tịch UBND thành p h ố 95

3.2.5 Phân định rõ chức trách, thẩm quyền của chủ tịch UBND và thẩm quyền của UBND 96

3.2.6 Xác định rõ vị trí, vai trò của cơ quan chuyên môn thuộc ƯBND thành phố và phân cấp về thẩm quyền trong tổ chức cơ quan chuyên m ô n 98

3.2.7 Đẩy mạnh việc phân cấp cho UBND thành phố trực thuộc T ư 99

Trang 8

3.2.8 Đẩy mạnh cải cách hành chính cả về thể chế, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán

bộ công chức và tài chính công 1013.2.9 Xây dựng khu hành chính tập trung 102

Kết luận 103 Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 9

P H Ầ N M Ở Đ Ầ U

1 Sự cấp thiết của đẻ tài

Ngay sau khi nhà nước Việt nam dân chủ cộng hoà ra đời vào mùa thu cách mạng năm 1945, bộ máy chính quyền ở các địa phương đã được thành lập Trải qua các thời kỳ xây dựng và bảo vệ đất nước mấy chục năm qua, cùng với các cơ quan nhà nước ở trung ương, các cơ quan nhà nước ở địa phương cũng khỏng ngừng được củng cố và hoàn thiên, trong đó có các cơ quan hành chính nhà nước ờ địa phương

Trong mọi hoàn cảnh của đất nước, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm tới công tác xây dựng và củng cố chính quyển nhân dân Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, tháng 12/1986, Đảng ta chủ trương tiến hành công cuộc đổi mới đất nước trên các lĩnh vực thì vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cũng được đạt ra Thực hiện công cuộc đổi mới, việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam đã có những tiến bộ quan trọng, trong đó tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, trước hết là các cơ quan hành chính nhà nước, đã có một bước điều chỉnh theo yêu cầu của quá trình chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp sang quản lý nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Bên cạnh những mặt đạt được, bộ máy nhà nước còn những mặt hạn chế tổn tại, như Nghị quyết hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) đã nêu: "Tổ chức bộ máy nhà nước còn năng nề, sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp còn có những điểm chưa rõ về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hê phân cấp trang ương- địa phương còn một số mặt chưa cụ thể (như về quản lý đầu tư, tài chính, tổ chức bộ máy, kết hợp quản lý theo ngành và lãnh thổ ) làm cho tình trạog tập trung quan liêu cũng như phân tán cục bộ chậm được khắc phục"(5'tr 39) Để khắc phục tình trạng trên, Nghị quyết cũng chỉ rõ: "Nghiên cứu phân biệt sự khác, nhau giữa hoạt động của HĐND và nhiệm vụ quản lý hành chính ở đô thị với họạt động của HĐND và

nhiệm vụ quản lý hành chính ở nông thồn, có thể tiến hành thí điểm ở một vài địa

phương để thấy hết các vấn đề cần giải quyết UBND các cấp cần được kiện toàn theo hướng tinh gọn, giảm bớt số uv viên là thủ trưởng cơ quan chuyên môn; quy định rõ hơn trách nhiêm, thẩm quyền của tập thể UBND và chủ tịch ƯBND."(5‘tr55)

Trang 10

Đến hội nghị Ban chấp hành Truns ương Đảng lần thứ 7 (khoá VUI) Đảng ta

ra nghị quyết chỉ rõ nhiêm vụ trong thời gian tới là: "Tổ chức việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số vấn đẻ về tổ chức, bộ máy các cơ quan nhà nước liên quan đến Hiến pháp năm 1992 và các luật tổ chức các cơ quan nhà nước".(6)

Cụ chế hoá chủ trương của Đảng, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa 10, Chính phủ có báo cáo nêu rõ "Khẩn trương tổ chức nghiên cứu để tham gia ý kiến vào việc sửa Hiến pháp 1992 gắn với việc sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Chính phủ và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cho phù hợp với tình hình mới"(1)

Trên cơ sở các quan điểm chủ trương nói trên của Đảng và nhà nước cũng như các vấn đề thực tiễn đặt ra, cần thiết phải nghiên cứu tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước để giải quyết những vấn đề mới phát sinh khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, cũng như khắc phục các tồn tại, hạn chế của bộ máy nhà nước để không ngừng củng cố và hoàn thiện, làm cho bộ máy nhà nước vững mạnh, trong sạch Trong tổng thể vấn đề trên, việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của UBND các cấp, đặc biệt là UBND thành phố trực thuộc trung ương cả về lý luận và thực tiễn trong quá trình phát triển, để thấy rõ những mặt được, chưa được về tổ chức và hoạt động của nó, từ đó đề ra phương hướng đổi mới, đảm bảo cho hoạt động của ƯBND thành phố trực thuộc trung ương ngày càng hiệu quả hơn, góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, thực hiện thắng lợi các mục tiêu cải cách nền hành chính nhà nước là công việc cần thiết và cấp bách

Hơn nữa, việc tiếp tục cải cách nền hành chính nhà nước đòi hỏi phải nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước sâu sắc, toàn diện hơn

để thấy được những mặt tích cực và những mặt còn hạn chế của nó để có những chủ trương cải cách sát đúng với yêu cầu của nền hành chính nhà nước trong điều kiên mới Trong đó việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của UBND thành phố trực thuộc trung ương; cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương của các đô thị lớn là công việc cẩn thiết phải được giải quyết

Cũng có ý kiến cho rằng, về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta còn những bất cập là do chưa thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động Do đó cần phân biệt những vấn đề bất cập trong quy định của pháp luật

và những vấn đề trong thực tiễn đã được pháp luật quy định nhưng chưa được thực hiên tốt để từ đó có những chủ trương cụ thể trong việc sửa đổi bổ sung những quy định về tổ chức bộ máy nhà nước, nhất là trong thời điểm Đảng và nhà nước ta chủ trương lấy ý kiến toàn dân góp ỷ vào việc sửa đổi, bổ sung một số điểu của Hiến pháp 1992 Do đó, càng cần thiết phải nohiên cứu về tổ chức và hoạt động của bộ

Trang 11

máy nhà nước, đặc biệt là về cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương để xác định những vấn đề chưa được giải quyết trong việc xây dựng pháp luật, cũng như những vấn đề trong thực tiễn chúng ta chưa kiên quyết thực hiện Từ góc độ đó, cần thiết phải nghiôn cứu thực tiễn vấn đề tổ chức và hoạt động của UBND thành phố trực thuộc trung ương; cơ quan chịu tác động mạnh mẽ của quá trình đô thị hoá đang diễn ra nhanh chóng ở nước ta hiện nay cũng như trong chiến lược phát triển lâu dài của đất nước khi thực hiện đường lối phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm.

Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ, chúng tôi chọn đề tài "Đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND ĩhành phố trực thuộc trung ương (qua kinh nghiêm tổ chức và hoạt động của UBND thành phố Hải phòng)" để nghiên cứu nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đang đặt ra hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu nội dung đề tài này ở nước ta

Nghiên cứu về chính quyền địa phương, trong đó bao gồm cả việc nghiên cứu

tổ chức và hoạt động của UBND các cấp đã có nhiều công trình được đề cập ờ các giác độ khác nhau

Ngoài các công trình làm giáo trình của các trường đại học và các học viện như giáo trình Luật Hiến pháp, Luật hành chính của các trường Đại học luật Hà nội, Học viện hành chính quốc gia, Đại học khoa học xã hội và nhân văn, còn có các công trình nghiên cứu cụ thể từng vấn đé hoặc những khía cạnh khác nhau trong tổ chức

và hoạt động của UBND Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã tập trung vào việc nghiên cứu về vị trí, vai trò, chức năng nhiêm vụ cũng như các hình thức hoạt động, các mặt hoạt động cụ thể của ƯBND các cấp với tư cách là cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở địa phương Trong đó có các đề tài, công trình nghiên cứu

(theo trình tự thời gian ấn h àn h ) như Vũ Như Giới (1984), "Về luật tổ chức HĐND

và UBNƠ' NXB pháp lý, Hà nội; PTS.Bùi Xuân Đức, "Vấn dể tổ chức cơ quan chính quyền địa phương nước ta hiện nay", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3/1991; PTS

Phan Trung Lỷ, PTS Nguyễn Đăng Dung, "HĐND và UBND", Bình luận khoa học Hiến pháp 1992; PTS Đinh Vần Mậu, PTS Phạm Hồng Thái, "Vài nét về hành chính

Việt nam từ cách mạng tháng 8 đến nay", Tạp chí quản lý nhà nước năm 1996;

GS.TS Nguyễn Duy Gia (chủ biên) (1997), Một số vấn đề cơ bản về hoàn thiện bộ

máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội

; PGS.PTS Nguyễn Đăng Dung (1997), T ổ chức chính quyền nhà nước ỏ địa phương-

lịch sử và hiện tại, NXB Đổng nai; Tô Tử Hạ, Nguyễn Hữu Trị, PTS Nguyễn Hữu

Đức (1998), Cải cách hành chính ở địa phương- lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội; PGS.PTS Tiần Ngọc Đường (chủ biên) (1999), Bộ máy nhà nước

Trang 12

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, tập 2, NXB Chính trị quốc gia; Diệp Văn Sơn,

"Bộ máy hành chính thành p h ố Hồ Chí Minh từ dại thắng mùa xuân 1975 đến hôm nay", Tạp chí Tổ chức nhà nước 5/2000; TS Luật Trần Nho Thìn (2000), Đổi mới tổ chức và hoạt động của uỷ ban nhản dân xã, NXB chính trị quốc gia; TS Đinh Văn

Mậu, "Vài nét về cải cách hành chính ở thành phô'H ồ Chí Minh", Tạp chí Quản lý nhà nước, 4/2000; Tiến sỹ Vũ Đức Đán- Tiến sỹ Lưu Kiếm Thanh (2000), T ổ chức

và hoạt động của bộ máy chính quyền thành p h ố trực thuộc trung ương, sách tham

khảo, Nxb Thống kê; Bùi Xuân Đức, "Một s ố vấn đề cần hoàn thiện trong tổ chức và

hoạt động của UBND các cấp", Tạp chí Nhà nước và pháp luật 10/2000, Bùi Xuân

Đức "Hoàn thiện cơ sở pháp lý của tổ chức bộ máy nhà nước", Tạp chí Nhà nước và

pháp luật, số 5/2001 và nhiều công trình có liên quan khác

Các công trình trên chủ yếu nghiôn cứu những vấn đề có liên quan về tổ chức

và hoạt động của UBND các cấp, có công trình nghiên cứu vấn đề cụ thể về cải cách hành chính của một số địa phương Song để nghiên cứu sâu về tổ chức và hoạt động của UBND thành phố trực thuộc trung ương, cấp quản lý hành chính nhà nước ở địa phương của các đô thị lớn theo hướng đổi mới và hoàn thiện, đáp ứng các yều cầu của việc xây dựng bộ máy nhà nước trong tình hình mới thì chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện cả về lý luận và thực tiễn, dưới giác độ khoa học luật học

Do đó, việc chọn đề tài nói trên để nghiên cứu một cách có hệ thống về lý luận

và thực tiễn, đưa ra các kiến nghị đổi mới về tổ chức và hoạt động của ƯBND thành phố trực thuộc trung ương là cần thiết góp phần làm phong phú thêm khoa học về tổ chức và hoạt động của ƯBND

Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi kế thừa thành quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu nêu trên trong các vấn đề liên quan

3 Mục đích, phạm vi và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn là nghiên cứu một cách có hệ thống dưới giác độ luật học vể tổ chức và hoạt động của UBND thành phố trực thuộc trung ương về lý luận, đồng thời cũng thông qua nghiên cứu thực tiễn là kinh nghiêm tổ chức và hoạt động của UBND thành phố Hải phòng; một trong bốn thành phố trực thuộc trung ương hiện nay, để đề xuất đổi mới một số vấn đề về tổ chức và hoạt động của UBND thành phố trực thuộc trung ương

Với mục đích đó, luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của UBND thành phố trực thuộc trung ương trong quá trình hình thành và phát triển từ khi thành lập nhà nước ta cho đến nay, thông qua các quy định của pháp luật Trong

Trang 13

đó chủ yếu nghiên cứu làm rõ vị trí, tính chất, cơ cấu tổ chức, quyền hạn và nhiêm

vụ, các hình thức hoạt động của UBND thành phố trực thuộc trung ương theo các quy định của Hiến pháp 1992, Luật tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) năm 1994, Pháp lệnh về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của HĐND và UBND ở mỗi cấp năm 1996 Đổng thời, nghiên cứu thực trạng tổ chức và hoạt động của UBND thành phố Hải phòng từ khi thực hiên Luật tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) năm 1994 cho đến nay, từ đó đưa ra các kiến nghị đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND thành phố trực thuộc trung ương

Tuy nhiên, việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của UBND thành phố Hải phòng, tuy chỉ là một địa phương, một thành phố trực thuộc trung ương nhưng nó bao gồm rất nhiều vấn đề, nhất là về hoạt động, nẽn trong khuôn khổ luận văn này chỉ đề cập những khía cạnh hoạt động cơ bản nhất của UBND thành phố Hải phòng nhằm thực hiện chức năng, nhiêm vụ và quyền hạn của mình

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể như phương pháp so sánh, phương pháp khảo sát thực tiễn, phương pháp hê thống, phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp để chọn lọc tri thức khoa học cũng như kinh nghiêm thực tiễn

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tham khảo, kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu trước đây của các tác giả về tổ chức và hoạt động của chính quyền

địa phương.

5 ý nghĩa lý luận thực tiễn của luận văn

Đề tài nghiên cứu một cách hệ thống về tổ chức và hoạt động của UBND thành phố trực thuộc trung ương, qua kinh nghiêm tổ chức và hoạt động của UBND thành phố Hải phòng, một đô thị lớn, với bộ máy chính quyền quản lỷ đô thị được thành lập ngay từ khi Cách mạng tháng 8 thành công đến nay Nên việc nghiên cứu đề tài

có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn như sau:

- Đóng góp những kiến nghị về đổi mới một số vấn đề về tổ chức và hoạt động của UBND thành phố trực thuộc trung ương nói chung, những kiến nghị cụ thể về tổ chức và hoạt động của UBND thành phố Hải phòng nói riêng, góp phần cung cấp các luận cứ khoa học cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của ƯBND thành phố trực thuộc trung ương trong công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước

Trang 14

- Đóng góp các kiến nghị về việc tiếp tục sửa đổi bổ sung các vãn bản quy phạm pháp luật có liên quan tới tổ chức và hoạt động của ƯBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

- Luận văn còn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, làm phong phú thêm các kết quả nghiên cứu của khoa học luật học về bộ máy nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương nội dung thể hiên các kết quả nghiên cứu đề tài và danh mục tài liệu tham khảo

Trang 15

Chương I

T ổ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA

UBND CẤP THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯCNG ỏ NƯỚC TA.

Làm cơ sở lý luận và pháp lý cho việc nghiên cứu tếp theo ở các chương sau, trong chương này, chúng tôi tập trung phân tích những đặc trưng, quá trình hình

thành, phát triển của thành phố trực thuộc trung ương vi chế định pháp luật về tổ

chức và hoạt động của UBND thành phố trực thuộc trung ương Trong đó, đặc biệt chú ý phân tích vị trí, tính chất nhiệm vụ, quyền hạn, các hình thức làm việc, các quan hệ của UBND thành phố trực thuộc trung ương

NƯỚC CỦA ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH LÃNH T H ổ Ở NƯỚC TA

Nghiên cứu tổ chức và hoạt động của UBND thành phố trực thuộc dung ương

là nghiên cứu một bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máv nhà nước nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt nam; thiết chế quyền lực nhà nước ở địa phương Nên để tiếp

cận tói vấn đề, trong mục này chúng tôi trình bày những vấn đề về cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương, về những đặc trưng của thành phố trực thuộc trung ương- đơn vị hành chính lãnh thổ và những đặc điểm của quản lý đô thị- một trong những nhiệm vụ đặc thù của UBND thành phố trực thuộc tiung ương

1.1.1 UBND thành phố trực thuộc trung ương - thiết chế quyền lực nhà

nước ở địa phương

Như trên đã nêu, UBND thành phố trực thuộc trung ương - một bộ phân cấu

thành của tổ chức bộ máy nhà nước, thiết chế quyền lực nhà nước ở địa phương, được

tổ chức ra để thực hiện quyền lực nhà nước trên một địa bàn hành chính lãnh thổ là thành phố trực thuộc trung ương

Quyền lực nhà nước là bộ phận cơ bản của quyền lực chính trị do nhà nước thực hiện, là quyền và khả năng của nhà nước buộc các thành viên, các tổ chức xã hội phục tùng ý chí của mình Quyền lực nhà nước không tổn tại tự thân mà được thực hiện thông qua hoạt động của bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phưong Ở mỗi quốc gia, tuỳ thuộc vào thể chế chính trị, đặc điểm tình hình phát triển kinh tế chính trị xã hội mà cách thức tổ chức quyền lực có sự khác nhau Tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước không dừng lại ở tổ chức các cơ quan trung ương mà còn được triển khai xuống địa phương theo những nguvên tắc phân công quyền lực khác nhau, thông qua các hoạt động phân chia địa giới hành chính lãnh thổ, tổ chức cơ quan

Trang 16

chính quyền ở các đơn vị hành chính lãnh thổ và phân công quyền lực nhà nước dưới dạng nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể cho các cơ quan chính quyền điạ phương thực hiện Quyền lực phân xuống cho chính quyển địa phương thuộc phạm vi quyền hành pháp, được triển khai xuống các đơn vị hành chính lãnh thổ nằm trong mối liên hệ chạt chẽ với quyền tự chủ, tự quản của dân cư với cộng đồng hành chính lãnh thổ được thực hiên bởi các cơ quan chính quyền địa phương và các cơ cấu tổ chức ngoại thuộc.

Trên cơ sờ đó, tổ chức cơ quan chính quyền địa phương là hoạt động quan trọng trong quá trình triển khai thực hiện quyền lực nhà nước trên địa bàn lãnh thổ Các cơ quan chính quyển địa phương được lập ra với mục đích đưa quyền lực nhà nước vào hoạt động hàng ngày của địa phương, tác động nên các quan hệ xã hội, điều chỉnh chúng theo hướng đã được định sẩn Điều đó cũng có nghĩa là các cơ quan nhà nước ở địa phương được lập ra, sử dụng quyền lực nhà nước quản lý toàn diên các quá trình xã hội diễn ra trên địa bàn lãnh thổ, đảm bảo lợi ích của nhà nước

và của nhân dân Các cơ quan nhà nước thuộc chính quyền địa phương thực hiên chức năng chấp hành quyền lực nhà nước Mặt khác chúng sử dụng quyền lực nhà nước điều chỉnh các quá trình xã hội ở đây quyền lực nhà nước được biểu hiện dưới dạng những quyền hạn, nhiêm vụ do nhà nước quy định cho từng loại cơ quan Các

cơ quan nhà nước ở địa phương sử dụng những quyền hạn, nhiệm vụ đó định đoạt và điều hành công việc ở địa phương

Về phương diên tổ chức, các cơ quan chính quyền địa phương có cơ cấu khác với các cơ quan nhà nước ở trung ương Đó không phải là hình ảnh thu nhỏ của bộ máy nhà nước trên địa bàn lãnh thổ, mà là bộ phận trong bộ máy nhà nước thống nhất Hoạt động của cơ quan này là bộ phận trong hoạt động của bộ máy nhà nước trong quá trình điều hành quản lý xã hội Do đó, hoạt động của nó không thể vượt ra ngoài khuôn khổ những quy định do luật pháp thống nhất của nhà nước đạt ra

Về cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước, trên thế giới tổn tại nhiều mô hình khác nhau về tổ chức bộ máy chính quyền ở địa phương, điều này tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, đặc điểm của mỗi nước

Theo tác giả Bùi Xuân Đức thì có thể phân thành 3 hình thức sau:

- Cơ quan hành chính được bổ nhiệm từ trên

- Cơ quan quản lý địa phương do dân cư trực tiếp bầu ra hoặc do các Hội đồng cấp dưới bầu ra

- Cơ quan quản lý địa phương là một hội đổng- là cơ quan đại diên do dân trực tiếp bầu ra, chịu trách nhiêm trước nhân dân và trước chính quyền cấp trên Hội đồng

Trang 17

này có quyền quyết định mọi vấn của địa phương trên cơ sở pháp luật; hội đồng lập

ra cơ quan chấp hành của mình dưới dạng uỷ ban chấp hànhí9)

Cơ quan chính quyền địa phưong được bổ nhiệm từ trên là đại diên của nhà nước đặt tại địa phương, thực hiên việc cai trị đúng với nghĩa của nó Cơ quan này trực tiếp nhận mệnh lênh từ trung ương, hoạt động theo chỉ dẫn của trung ương, dập khuôn máy móc Hoạt động của chúng chủ yếu quan tâm tới lợi ích của toàn cục, ít chú ý đến lợi ích của địa phương

Cơ quan chính quyền do dân địa phương trực tiếp hoặc gián tiếp bầu là các cơ quan tự quản của địa phương, giải quyết các vấn đề địa phương, ở một số nước hiện nay, thông thường bên cạnh cơ quan tự quản địa phương có đặt một đại diên của trang ương với tư cách cơ quan nhà nước đặt tại địa phương nhằm giải quyết những vấn để của nhà nước tại địa phương Trong hoạt động có sự phối kết hợp giữa hai cơ quan này nhằm bảo đảm sự hài hoà giữa lợi ích của toàn cục với lợi ích của địa phương

Loại cơ quan nữa mà thường được áp dụng ở các nước xã hội chủ nghĩa, trong

đó có nước ta Đây là mô hình dựa theo tổ chức bộ máy của Công xã Pari, trong đó

cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương có cơ quan đại diện (hội đồng) do nhân dân trực tiếp bầu ra và cơ quan hành chính nhà nước do hội đổng bầu ra Hội đồng đại diện cho nhân dân địa phương trong phạm vi quyền hạn do luật pháp quy định, bảo đảm tổ chức thực hiện Hiến pháp, pháp luật nhà nước tại địa phương Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương do hội đổng bầu, có nhiệm vụ chấp hành nghị quyết của hội đồng và các văn bản của nhà nước cấp trên ở phạm vi địa bàn, thực hiên quản lý thống nhất các mặt ở địa phương, chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan đại diện ở địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Như vậy cơ quan hành chính nhà nước chịu sự kiểm tra giám sát từ hai phía: từ cơ quan quyền lực nhà nước

ở địa phương (HĐND) và cơ quan quản lý nhà nước cấp trên

ở nước ta, việc phân chia lãnh thổ quốc gia thành các đơn vị hành chính lãnh thổ và tổ chức thực hiên quyền lực nhà nước ở địa phương được quy định tại điều 118 Hiến pháp 1992: "Các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam được phân định như sau:

Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

Tỉnh chia thành huyên, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã;

Huyện chia thành xã, thị trấn, thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường

và xã, quận chia thành phường;

Việc thành lập HĐND và UBND ở các đơn vị hành chính do luật định"

Trang 18

Như vậy theo quy định hiện hành thì thành phố trực tiuộc trung ương là đơn vị hành chính lãnh thổ ngang với cấp tỉnh, do trung ương tiực tiếp quản lý, các mối quan hệ của thành phố đều tiến hành trực tiếp với trung ưmg, không thông qua cấp khác.

Theo quy định của Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức HĐND và UBND năm

1994 thì thành phố trực thuộc trung ương có 3 cấp chính quyền hoàn chỉnh Đó là cấp thành phố trực thuộc trung ương, cấp dưới là quận, huyện, thị xã; cấp dưới của quận là phường; cấp dưới của huyên là xã, thị trấn; cấp diới của thị xã là phường, xã

Các cấp chính quyền ở địa phương nói trên gồm HEND và UBND Trong đó cấp thành phố trực thuộc trung ương là cấp chính quyền cao nhất trong số các cấp chính quyền ở địa phương, chịu sự quản lý toàn diện, trực tiếp của Chính phủ, có quan hệ trực tiếp với trung ương trong các lĩnh vực kế hoạch, ngân sách, chủ động sử dụng ngân sách, thực hiện kế hoạch và chịu trách nhiệm tnnc Chính phủ về mọi mặt hoạt động quản lý thành phố của mình Đó là một lợi thế của chính quyền thành phố trong việc chủ động xây dựng kế hoạch phát triển toàn diên các mặt, các lĩnh vực đời sống trên địa bàn thành phố trong phạm vi quyển hạn, trách nhiêm của mình

Với cơ cấu tổ chức chính quyền địa phương gồm HĐND và ƯBND thì HĐND được xác định "là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phuơng, đại diện cho ý chí, nguyên vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiêm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên" (điều 119, Hiến pháp 1992)

HĐND thành phố căn cứ vào Hiến pháp, luật, vãn bản của cơ quan nhà nước cấp trên ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; về kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội và ngân sách; về quốc phòng, an ninh ở địa phương; về biên pháp ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao cho, làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước

Qua đó thể hiên HĐND vừa là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, vừa mang tính tự quản của nhân dân địa phương Để thực hiện các nghị quyết của mình, HĐND bầu ra ƯBND Nhưng ƯBND không những là cơ quan chấp hành của HĐND

mà còn là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương như Hiến pháp đã xác định Với tính chất, vị trí này UBND thành phố cũng được tổ chức và trao cho các nhiệm

vụ, quyền hạn để hoạt động quản lý nhà nước trên địa bàn lãnh thổ - đơn vị hành chính lãnh thổ trực thuộc trung ương

Với tư cách là một cấp kế hoạch, UBND thành phố tự xây dựng kế hoạch dài hạn 5 năm, hàng năm về kinh tế xã hội trên địa bàn thành phố, tự mình bảo vê kế hoạch, nhận kế hoạch kinh tế xã hội UBND thành phố là chủ đầu tư đối với các công

Trang 19

trình của thành phố, có trách nhiệm quản lý, sử dụng có hiệu quả, đúng mục đích số vốn đó, chủ động huy động các nguồn vốn khác để xây dựng thành phố.

Thành phố trực thuộc trung ương là cấp ngân sách, nên ƯBND thành phố trực thuộc trung ương chủ động xây dựng, bảo vệ, nhận kế hoạch thu chi ngân sách với

Bộ Tài chính, trực tiếp quản lý về mặt nhà nước vói tổ chức, đơn vị kinh tế thuộc thành phố trong hoạt động kinh tế đối ngoại, được trực tiếp liên hệ, trao đổi hợp tác liên doanh với nước ngoài, gọi vốn đầu tư để phát triển kinh tế xã hội của thành phố, giải quyết việc làm cho người lao động

UBND thành phố chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý toàn diện các quá trình, lĩnh vực đời sống xã hội trên địa bàn thành phố, từ việc lập quy hoạch tổng thể phát triển, xây dựng thành phố, sửa chữa, xây dựng các công trình công cộng, qua việc xây dựng nhà cửa của nhân dân, xây dựng cải tạo phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật đến thực hiện quản lý về mặt nhà nước đối vói các cơ quan nhà nước cấp trên

có cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại thành phố trên cơ sở phân cấp quản lý của trung ương

1.1.2 Các đặc trưng của thành phố trực thuộc trung ương và đặc điểm của quản lý đô thị tại các thành phố trực thuộc trung ương

Theo cuốn "Từ điển giải thích thuật ngữ luật học", Trường Đại học Luật Hà nội, Nxb Công an nhân dân (1999) thì:

Thành phố trực thuộc trung ương là đơn vị hành chính thuộc trung ương, phân chia thành các quận, huyện

Thành phố là nơi tập trung dân cư quy mô lớn, có công nghiệp và thương nghiệp phát triển Kinh tế trên địa bàn thành phố là khối thống nhất Thành phố có cơ cấu kinh tế chủ yếu là công thương nghiệp Các tổ chức kinh tế do trung ương và thành phố quản lý được phân bố trên các quận căn cứ vào cơ cấu và quy hoạch chung của thành phố và trung ương trên cơ sở xem xét tình hình kinh tế xã hội, giao thông, dân cư trong tổng thể thành phố và ở mỗi quận; giao thông vận tải và giao thông trong thành phố phát triển, thuận lợi, nhanh chóng; sự phân bố và di động dân cư, lao động giữa các quận trong thành phố thường xuyên và linh hoạt, yêu cầu về điều kiện lao động và sinh hoạt dân cư trong thành phố thường cao hơn, phong phú hơn so với tỉnh; việc quản lý an ninh trật tự khó khăn hơn và đòi hỏi chặt chẽ hon Kinh tế thành phố được tổ chức tập trung hơn, các phương tiện sản xuất và sinh hoạt chủ yếu nằm trong tay cấp thành phố cho nên người dân sống ở thành phố không chỉ quan hệ với các tổ chức thương nghiệp, dịch vụ của quận và phường nơi họ ở mà với nhiều quận và nhiều

tổ chức kinh tế và thương mại của trung ương và thành phố.(46'tr 1111

Trang 20

Theo các tác giả Vũ Đức Đán và Lưu Kiếm Thanh thì mặc dù có những khác nhau vể vị trí địa lý, cơ cấu kinh tế, dân cư nhưng các thành phố trực thuộc trung ương đều có những đặc điểm chung về phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá- xã hội Những điểm chung đó có tính chất đặc thù, phản ánh thực trạng các măt đời sống xã hội của thành phố, làm cho các thành phố trực thuộc trung ương khác biệt với các tỉnh đổng bằng, miền núi Tính chất đặc thù của các thành phố trực thuộc trung ương được thể hiện ở chỗ: mật độ dân số cao, tính chất dân cư đa dạng; nơi tập trung của hầu hết các cơ quan trung ương của nhà nước và các tổ chức xã hội; sự gần gũi về mặt không gian của các cơ quan quản lý các cấp của chính quyền thành phố; có tiềm năng kinh tế lớn, thể hiện rõ nét tính chất nhiểu thành phần của nền kinh tế với những diễn biến phức tạp của phát triển kinh tế; nơi tập trung hầu hết các cơ sở nghiên cứu, đào tạo cán bộ, nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật của đất nước; là trung tâm và là nơi giao lưu văn hoá với sự phát triển phong phú của các loại hình văn hoá, nghê thuật, là nơi tập trung các đầu mối giao thông quan trọng của đất nước, và có mạng lưới giao thông đường bộ dày đặc; là các trung tâm du lịch, dịch vụ; là nơi thu hút vốn đầu tư nước ngoài (8"tr 77,78)

Tính chất đặc thù của thành phố trực thuộc trung ương là những nhân tố thuận lợi đảm bảo cho hoạt động của chính quyền thành phố Mặt khác đó cũng là điềụ kiện làm nảy sinh những vấn đề phức tạp ảnh hưởng xấu tới việc triển khai tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, cản trở sự phát triển bình thường của các quan hệ trên địa bàn thành phố

Những đặc trưng trẽn của thành phố trực thuộc trung ương là một trong những căn cứ để phân biệt thành phố trực thuộc trung ương với tỉnh Bởi vì, tỉnh cũng là đơn

vị hành chính trực thuộc trung ương nhưng trên địa bàn lãnh thổ của tỉnh bao gồm và chủ yếu là vùng nông thôn, sản xuất nống nghiệp là chủ yếu, điều kiên tập trung dân

cư chỉ ở một số đô thị nhỏ của tỉnh như thành phố thuộc tỉnh hoặc thị xã, huyên lỵ, điều kiện giao thông nói chung còn hạn chế

Quản lỷ đồ thị nói chung và các thành phố lớn nói riêng có những đặc điểm riêng, xuất phát từ tính chất đặc thù của thành phố Đây là hoạt động phức tạp đòi hỏi có sự tập trung thống nhất cao, có sự phối hợp chạt chẽ giữa các ngành, các cấp, các cơ quan khác nhau của chính quyền thành phố, có sự chỉ đạo thường xuyên và sử dụng triệt để các tiềm năng vật chất, tinh thần của các lực lượng trong thành phố; có

sự phân công quyền hạn, nhiêm vụ, trách nhiệm hợp lý, rõ ràng giữa các cấp chính quyền thành phố Mỗi vấn đề đặt ra cần giải quyết triệt để nhất quán Từ đó yêu cầu đặt ra chính quyền thành phố trực thuộc trung ương cần có mô hình riêng, đáp ứng đòi hỏi của quản lý đô thị , trong đó cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền thành phố xuất phát từ thực tế khách quan của thành phố nên phải có sự khác biệt so với các

Trang 21

tỉnh Trong tổ chức bộ máy chính quyền thành phố cần tăng cường củng cố hoàn thiên bộ phận tham mưu, giúp việc, đặc biệt là các lĩnh vực công nghiệp, thương nghiệp, quản lý thị trường, du lịch, bảo vê trật tự trị an, xây dựng kết cấu hạ tầng, cảnh quan môi trường đô thị Trong hoạt động, thực hiện phân cấp quản lý chuyên môn hẹp theo từng vấn đề cụ thể cho cấp dưới, thực hiện sự kiểm tra thường xuyên(8'

Trước cách mạng Tháng 8 năm 1945, nước ta là nước thuộc địa nửa phong kiến, chịu ách thống trị của thực dân Pháp và triều đình phong kiến nhà Nguyễn Nền kinh tế què quặt và lạc hậu; công nghiệp và thương mại phát triển không đáng kể, chủ yếu vẫn là nền kinh tế thuần nông, nên các đô thị chậm phát triển, quy mô nhỏ bé

Tuy nhiên, dưới thời thuộc Pháp ở nước ta một số đô thị cũng dần được mở mang và phát triển như Hà nội, Sài gòn, Hải Phòng

Ở Nam kỳ, trong thời kỳ 1858- 1887, thực dân Pháp thành lập hai thành phố ở các cấp bậc khác nhau: Sài gòn (thành phố cấp I) được thành lập theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp ngày 8/1/1877 và thành phố Chợ Lớn (thành phố cấp n ) được thành lập theo Nghị định của Thống đốc Nam Kỳ ngày 20/10/1879 Đứng đầu các thành phố này là một viên đốc lý có mọi quyền hành như viên quan cai trị đứng đầu tiểu khu Phụ tá cho Đốc lý có Phó Đốc lý và Hội đồng thành phố (với thành phố cấp I)

và Uỷ ban thành phố (đối với thành phố cấp II), do Đốc lý làm Chủ tịch Hội đổng này được lựa chọn thông qua bầu cử Chức năng của Hội đồng này là bàn bạc, lấy biểu quyết rồi ra quyết định đối với những vấn để thuộc riêng thành phố, góp ý về những vấn đề mà cấp trên yêu cầu, đề đạt mọi nguyên vọng có liên quan đến lợi ích của thành phố ỉên cấp trên, nhưng không được đề cập đến những vấn đề chính trị(4?'

tr.234)

Từ sau khi thành lập Liên bang Đông Dương, toàn bộ Nam kỳ được chia thành

20 tỉnh, hai thành phố lớn: cấp I (Sài Gòn), cấp n (Chợ lớn và một số thành phố cấp III Đứng đầu thành phố cấp I và cấp II có Đốc lý và Phó Đốc lý Phụ tá cho các viên chức này có Toà Đốc lý tương đương với Sở Tham biện và Hội đổng thành phố cấp I, hoặc Uỷ ban thành phố (thành phố cấp II) Còn loại thành phố cấp rn sẽ do quan chủ

Trang 22

tỉnh người Pháp kiêm nhiêm, như cơ cấu tổ chức của loại thành phố cấp UI ở Bắc và Trung kỳ.

Ở Bắc kỳ có hai thành phố được xếp vào loại thành phố cấp I là Hà nội và Hải phòng được thành lập theo sắc lệnh ngày 19/7/1888 Đứng đầu là một viên đốc lý người Pháp, kiêm Chủ tịch Hội đổng thành phố Các đốc lý này do Thống sứ đề cử

và toàn quyền bổ nhiệm (Đốc lý thành phố Sài gòn tuyển lựa thông qua bầu cử) Quyền hạn của Đốc lý tương đương với quyên hạn của Công sứ v ề tổ chức hành chính của hai thành phố này cũng giống như thành phố Sài gòn Ngày 1/10/1888, Đồng Khánh đã ký đạo dụ nhượng hẳn cho thực dân Pháp quyền sở hữu hoàn toàn hai thành phố Hà nội và Hải phòng Ngoài thành phố cấp I này, thực dân Pháp còn cho chuyển một số thị xã quan trọng lên loại thành phố cấp in , như Nam Định (17/10/1921), Hải dương (12/2/1923) do các đốc lý đứng đầu nhưng do viên Công

sứ chủ tỉnh kiêm nhiệm Giúp việc cho Công sứ - Đốc lý là uỷ ban thành phố do thống sứ bổ nhiệm Nó chỉ có chức năng tư vấn (47 tr26°-261)_

Còn ở Trung kỳ, khi Đổng Khánh ra dụ ngày 1/10/1888 nhượng cho Pháp

quyền sở hữu hoàn toàn Trung kỳ, thì Toàn quyền ra Nghị định ngày 24/5/1889 thành lập thành phố đầu tiên ở khu vực này là thành phố Đà nẩng - thành phố cấp n

do một Đốc lý người Pháp đứng đầu Phụ tá cho Đốc lý là Ưỷ ban thành phố Mọi quyết định của ư ỷ ban thành phố đều phải được khâm sứ thông qua mới được thi hành

Ngoài ra, chính quyền thực dân còn cho chuyển một số thị xã quan trọng ở Trung kỳ lên cấp thành phố và xếp vào loại thành phố cấp m , do công sứ tỉnh hữu quan kiêm làm đốc lý Các thành phố này được thành lập theo Nghị định của Toàn quyền như Đà Lạt (31/10/1920), Vinh - Bến Thuỷ (10/12/1927), Huế (12/12/1929), Quy nhơn (30/4/1939), Phan Thiết (28/11/1933) phụ tá cho công sứ - đốc lý của loại thành phố cấp i n cũng là một Ưỷ ban thành phố, uỷ viên do Khâm sứ lựa chọn,

ư ỷ ban này chỉ có chức năng tư vấn Ngoài ra đối với thành phố cấp I và n còn có Toà Đốc lý - một tổ chức tương ứng với toà Công sứ các tỉnh Đối với thành phố cấp

n , toà Công sứ luôn làm chức năng của toà đốc lý(47'tr,271)

*

Tháng 8/1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đứng lên làm cuộc cách mạng, giành chính quvền về tay nhân dân Ngày 2/9/1945, Hồ Chủ tịch thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Bản tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt nam dân chủ cộng hoà, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông nam Á Ngay sau đó,

Trang 23

Chính phủ lâm thời đã ban hành một số sắc lệnh đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương Đó ỉà các sắc lênh 63 - SL ngày 23/11/1945 và Sắc lệnh số 77- SL ngày 21/12/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt nam dân chủ cộng hoà Theo sắc lênh số 77-SL ngày 21/12/1945 của Chủ tịch chính phủ thì các thị trấn Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh- Bến Thuv, Huế,

Khi thực dân Pháp rắp tâm quay lại cướp nước ta một ỉần nữa, ngày 20/12/1946, HỔ Chủ tịch đọc lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Khi đó, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước được chuyển sang thời chiến Ngày 19/11/1948, Chủ tịch Chính phủ Việt nam dân chủ cộng hoà ra sắc lệnh số 254 - SL quy định về tổ chức chính quyền nhân dân địa phương trong thời kỳ kháng chiến Khi đó cơ quan hành chính ở các địa phương được đổi tên là Uỷ ban kháng chiến hành chính

Sau khi hoà bình lập lại, miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, đáp ứng nhiêm vụ xây dựng chính quyền nhân dân thời kỳ đó, Quốc hội thông qua Luật tổ chức chính quyền địa phương ngày 29/4/1958 (sau đây xin được gọi tắt là Luật tổ chức năm 1958) Trong đó chương m quy định về tổ chức, nhiêm vụ, quyền hạn và chế độ làm việc của UBHC, chương IV quy định về các cơ các cơ quan chuyên môn

ở địa phương và quan hệ giữa UBHC với các cơ quan đó

Ngày 31/12/1959, Quốc hội nước ta thông qua Hiến pháp sửa đổi, thường được gọi là Hiến pháp 1959 với chương VII quy định về HĐND và UBHC các cấp Thể chế hoá Hiến pháp năm 1959, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá n , ngày 27/10/1962

đã thông qua Luật tổ chức HĐND và UBHC các cấp (sau đây xin được gọi tắt là Luật

tổ chức năm 1962) thay thế Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 1958 Luật này dành chương m quy định về UBHC các cấp

Các quy định của Hiến pháp 1959 và Luật tổ chức năm 1962 đã phát huy vai trò tích cực trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của dân tộc ta

Trang 24

Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, hai miền Nam, Bắc thống nhất về mặt nhà nước, nước ta đổi tên thành nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá VI năm 1976, đã thông qua Nghị quyết về tổ chức và hoạt động của nhà nước trong khi chưa có Hiến pháp mới: "Ở địa phương có các cấp chính quyền sau đâv: Tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương; huyên, khu phố, quận, thành phô' và thị xã trực thuộc tỉnh; xã và cấp tương đương Các cấp chính quyền nói trên đều có HĐND và cơ quan chấp hành là ƯBND" Như vậy, với Nghị quyết trên, UBHC cấp thành phố trực thuộc trung ương đổi tên thành UBND.

Thể chế hoá đường lối của Đảng trong giai đoạn cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, Quốc hội khoá VI, tại kỳ họp thứ 7 ngày 18/12/1980 đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam (gọi là Hiến pháp năm 1980), trong

đó có chương IX quy định về HĐND và UBND Tiếp theo, Quốc hội khoá vn, kỳ họp thứ 5, đã thông qua Luật tổ chức Hội đổng nhân dân và uỷ ban nhân dân ngày 30/6/1983, (sau đây xin được gọi tắt là Luật tổ chức năm 1983) thay thế cho Luật tổ chức năm 1962

Tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, năm 1986, Đảng ta chủ trương tiến hành đổi mới toàn diện đất nước, trong đó đổi mới cả về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, tiếp tục thể chế hoá Hiến pháp nãm 1980 trong điều kiên tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, trọng tâm là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Quốc hội khoá v m , kỳ họp thứ 5 đã xem xét và thông qua Luật tổ chức hội đồng nhân dân và

uỷ ban nhân dân ngày 30/6/1989 (sau đây xin được gọi tắt là Luật tổ chức năm 1989) thay thế cho Luật tổ chức năm 1983

Tiếp tục triển khai công cuộc đổi mới đất nước, Quốc hội khoá vni, kỳ họp thứ

11 đã thông qua Hiến pháp ngày 15/4/1992 (gọi là Hiến pháp 1992) với các quy định

về HĐND và UBND tại chương IX Thể chế hoá Hiến pháp năm 1992, kế thừa những quy định của Luật tổ chức năm 1989, Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 5 ngày 21/6/1994 đã thông qua Luật tổ chức hội đổng nhân dân và uỷ ban nhân dân (sửa đổi), (sau đây xin được gọi tắt là Luật tổ chức nam 1994) thay thế Luật tổ chức năm

1989 Thực hiện thẩm quyền được quy định tại Luật tổ chức năm 1994, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lênh về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của HĐND và ƯBND ở mỗi cấp ngày 25/6/1996

Trải qua 4 Hiến pháp, 3 sắc lệnh và 5 luật tổ chức và một số nghị quyết của Quốc hội, các văn bản pháp quy của Chính phủ, cơ quan hành chính nhà nước ở thành phố trực thuộc trung ương đã được pháp luật nước ta quy định như sau:

1.2.1 V ề tên gọi

Trang 25

Ngay từ khi đất nước mới dành được độc lập nẫm 1945, cho đến năm 1976, thì tên gọi của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, trong đó có cơ quan hành chính nhà nước cấp thành phố trực thuộc trung ương là UBHC (không kể thời gian do hoàn cảnh kháng chiến chống thực dân Pháp được gọi là UBKCHC) Từ Nghị quyết

kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá VI được ký ngày 2/7/1976 và sau đó được tiếp tục khẳng định tại Hiến pháp năm 1980 và cho đến nay được đổi tên là UBND (Do có tên gọi khác nhau như trên, trong luận văn này XÚI được gọi tắt là uỷ ban để chỉ ƯBHC và ƯBND)

1.2.2.Về vị trí, tính chất

Theo Sắc lệnh 77- SL thì ƯBHC thành phố vừa thay mặt cho nhân dân thành phố vừa thay mặt cho Chính phủ Hiến pháp 1946 quy định ƯBHC chịu trách nhiệm đối với cấp trên và đối với HĐND địa phương mình Từ Luật tổ chức năm 1958 đến nay uỷ ban thành phố trực thuộc trung ương đều được xác định là cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiêm

và báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp, chịu sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ

1.2.3 Vê cách thức thành lập và tổ chức

Uỷ ban thành phố trực thuộc trung ương do HĐND cùng cấp bầu ra

- Cách thức bầu uỷ ban: Tại kỳ họp đầu tién của mỗi khoá HĐND tiến hành bầu uỷ ban Cách bầu có những điểm khác nhau:

Theo Sắc lệnh 77-SL thì HĐND thành phố bầu ra UBHC theo cách bầu riêng chủ tịch, phó chủ tịch và thư ký, người muốn ứng cử vào UBHC phải có chân trong HĐND thành phố và phải biết đọc biết viết chữ quốc ngữ

Luật tổ chức năm 1962 quy định: HĐND bầu ra chủ tịch, một hoặc nhiều phó chủ tịch, uỷ viên thư ký và các uỷ viên khác của UBHC Thành viên UBHC phải là đại biểu HĐND Đến Luật tổ chức năm 1983 và Luật tổ chức năm 1989 quy định cụ thể hơn: HĐND bỏ phiếu kín bầu chủ tịch, các phó chủ tịch, uỷ viên thư ký và các uỷ viên khác của ƯBND cấp mình theo danh sách đề cử chức vụ từng người do đoàn chủ tịch kỳ họp và các tổ đại biểu giới thiêu chung; từng đại biểu HĐND cũng có quyền giới thiệu

Luật tổ chức nãm 1994 quy định trao quyền giới thiệu phó chủ tịch và các uỷ viốn khác cho chủ tịch UBND Theo đó, tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa, HĐND

bầu chủ tịch UBND trong số các đại biểu HĐND theo sự giới thiệu của chủ tịch

HĐND, bầu phó chủ tịch và các thành viên khác củạJJBND theo sự gịới-4hi&H-Ịpủa

Trang 26

chủ tịch UBND Đại biểu HĐND có quvền giới thiệu và ứng cử vào các chức vụ trên Việc bầu cử được tiến hành bằng cách bỏ phiếu kín theo danh sách đề cử chức

vụ từng người

- Về việc phê chuẩn kết quả bầu cử uỷ ban: Theo Sắc lệnh 77-SL thì sau khi

được bầu xong phải được UBHC kỳ hay Chính phủ (đối với thành phố Hà nội) chuẩn

y rổi mới được nhậm chức Uỷ viên nào không được chuẩn y thì phải bầu lại Nếu lần bầu lại, uỷ viên ấy vẫn được trúng cử thì UBHC kỳ hay Chính phủ (đối với thành phố

Hà nội) phải công nhận Luật tổ chức năm 1958 và Luật tổ chức năm 1962 không quy định vấn đề này Đến các Luật tổ chức năm 1983, 1989 và 1994 lại được quy định trở lại Kết quả bầu cử UBND thành phố trực thuộc trung ương phải được Hội đồng Bộ trưởng, nay là Chính phủ phê chuẩn

- Nhiệm kỳ của uỷ ban thành phố trực thuộc trung ương: Các văn bản pháp luật của nước ta đều quy định nhiêm kỳ của uỷ ban theo nhiệm kỳ của HĐND cùng cấp, khi HĐND hết nhiêm kỳ, uỷ ban tiếp tục làm nhiêm vụ cho đến khi HĐND bầu

ra uỷ ban mói Thời gian cụ thể của mỗi thời kỳ có khác nhau được so sánh theo bảng dưới đây:

Bảng 1 : Nhiệm kỳ của uỷ ban thành p h ố trực thuộc trung ương

01 Sắc lệnh 77-SL năm 1945 2 năm (khoá đầu chỉ lnăm )

02 Luật tổ chức năm 1958 3 năm

03 Luật tổ chức năm 1962 3 năm

04 Luật tổ chức năm 1983 4 năm

05 Luật tổ chức năm 1989 5 năm

06 Luật tổ chức năm 1994 5 năm

Theo bảng 1 nêu trên thì nhiệm kỳ của uỷ ban thành phố trực thuộc trung ương ngày càng được quy định dài hơn

Cơ cấu tổ chức: u ỷ ban thành phố trực thuộc trung ương có cơ cấu gồm chủ

tịch, các phó chủ tịch và các uỷ viên Số lượng thành viên uỷ ban mỗi thời kỳ có khác nhau và cơ cấu khác nhau (có thời kỳ còn có chức danh uỷ viên thư ký)

Trang 27

Bảng 2: Cơ cấu thành viên uỷ ban thành p h ố trực thuộc trung ương

S tt C ăn cứ p háp lý Quy định số th àn h viên uỷ ban

01 Sắc lệnh 77-SL UBHC thành phố có 3 uỷ viên chính thức (1 chủ

tich, lphó chủ tich và 1 thư kv), 2 uv viên dư khuyết (Hà Nội và Sài gòn- Chợ lớn có 5 uỷ viên chính thức: 1 chủ tịch, 2 phó chủ tịch, 2 uỷ viên thư

ký và 3 uỷ viên dự khuyết)

02 Sắc lênh 254-SL UBKCHC thành phố có từ 5 đến 7 uỷ viên gồm

chủ tịch, một phó chủ tịch và các uỷ viên

03 Luật tổ chức năm 1958 ƯBHC các cấp có từ 5 đến 19 người do Chính phủ

ấn định cụ thể, cơ cấu gồm chủ tịch và các phó chủ tịch

04 Luật tổ chức năm 1962 UBHC thành phố trực thuộc trung ương có từ 9 đến

15 người, sồm chủ tich, các phó chủ tich, uv viên thư kv và các uv viên

07 Luật tổ chức năm 1989 UBND thành phố trực thuộc trung ương có từ 11

đến 17 người gồm chủ tịch, các phó chủ tịch và các uỷ viên khác

08 Luật tổ chức năm 1994 ƯBND thành phố trực thuộc trung ương có từ 9

đến 11 người (Hà nội, TP Hồ Chí Minh không quá

13 người), gổm chủ tịch, các phó chủ tịch và các

uỷ viên

Trong cơ cấu tổ chức của uỷ ban còn quy định các thành viên uỷ ban phải là đại biểu HĐND cùng cấp Đến Luật tổ chức năm 1989 và năm 1994 chỉ quy định Chủ tịch ƯBND là đại biểu HĐND, các thành viên khác không nhất thiết là đại biểu HĐND

Về việc miễn nhiệm uỷ ban: Theo sắc lệnh 77-SL : Khi 1/3 tổng số hội viên

HĐND thành phố yêu cẩu phúc quyết UBHC thành phố thì UBHC thành phố phải triệu tập ngay HĐND thành phố để bỏ phiếu tín nhiệm Nếu quá nửa số hội viên HĐND thành phố bỏ phiếu khồng tín nhiêm UBHC thì ƯBHC thành phố bắt buộc

Trang 28

phải từ chức Những uỷ viên phải từ chức vẫn được giữ tư cách hội viên HĐND thành phố.

Nếu UBHC thành phố không tuân lệnh trên thì UBHC kỳ yêu cầu HĐND thành phố can thiệp Nếu HĐND không giải quyết xong thì UBHC kỳ đề nghị lên Chính phủ để giải tán UBHC thành phố Những uỷ viên uỷ ban bị giải tán sẽ mất cả tư cách hội viên HĐND thành phố Khi một uỷ viên UBHC thành phố phạm lỗi trong lúc thừa hành chức vụ thì ƯBHC kỳ theo đề nghị của UBHC thành phố, hoặc khiển trách, hoặc cách chức uỷ viên phạm lỗi Uỷ viên này bị mất luôn cả tư cách hội viên HĐND thành phố Khi UBHC bắt buộc phải từ chức hay bị giải tán thì trong thời hạn

5 ngày UBHC kỳ sẽ triệu tập HĐND thành phố để bầu người thay Khi một uỷ viên

bị cách chức hay xin từ chức thì những uỷ viên dự khuyết sẽ theo thứ tự được cử thay

Từ Luật tổ chức năm 1958 đến nay đều quy định HĐND có quyền bãi miễn các thành viên uỷ ban cùng cấp

1.2.4 Về chế độ làm việc

Các quy định của pháp luật nước ta về chế độ làm việc của uỷ ban như sau:

Sắc lệnh 77- SL chỉ quy định ƯBHC thành phố là một cơ quan thường trực và bao giờ cũng họp kín

Từ Luật tổ chức năm 1958 quy định uỷ ban làm việc theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách Những việc quan trọng đều do hội nghị uỷ ban thảo luận

và quyết định Các quyết định của uỷ ban không được trái với luật lệ của nhà nước, nghị quyết của HĐND cùng cấp và chỉ thị của cấp trên

Chủ tịch chủ trì các hội nghị và công tác của uỷ ban, đôn đốc, theo dõi kiểm tra toàn bộ công tác của uỷ ban, ban hành nghị quyết của HĐND và UBHC Phó chủ tịch giúp chủ tịch chấp hành chức vụ Chủ tịch và phó chủ tịch làm nhiêm vụ thường trực của uỷ ban Chủ tịch, phó chủ tịch và các uỷ viên khác phân công phụ trách các khối công tác hoặc phụ trách từng vấn đề và đi kiểm tra

Đến Luật tổ chức năm 1962 đã có xu hướng tăng cường trách nhiệm cá nhân trong uỷ ban Điều 53 quy định: mỗi thành viên uỷ ban chịu trách nhiêm chung về công tác của uỷ ban và chịu trách nhiệm riêng về công tác cuả mình Chủ tịch lãnh đạo công tác của ƯBHC, triệu tập và chủ toạ các cuộc họp của uỷ ban; bảo đảm việc chấp hành các nghị quyết HĐND cấp mình, các nghị quyết, quyết định, thông tư và chỉ thị của UBHC và cơ quan nhà nước cấp trên Phó chủ tịch giúp chủ tịch lãnh đạo cống tác của uỷ ban, có thể được uỷ ban phân công chỉ đạo từng khối công tác của

Trang 29

uỷ ban và uỷ nhiêm thay chủ tịch khi chủ tịch vắng mặt Uỷ viên thư ký lãnh đạo văn phòng của UBHC, giải quvết công việc hàng ngày của uỷ ban dưới sự lãnh đạo của chủ tịch và các phó chủ tịch Chủ tịch, các phó chủ tịch, uỷ viên thư ký họp thành bộ phận thường trực của ƯBHC.

Chế độ làm việc của uỷ ban như nêu ở trên được tiếp tục quy định trong luật tổ chức năm N1983, luật tổ chức năm 1989 Đến Luật tổ chức năm 1989 thì bỏ chức danh uỷ viên thư ký và không hình thành bộ phận thường trực của ƯBND

Hiến pháp 1946 quy định UBHC có trách nhiệm thi hành các mệnh lệnh của cấp trên, các nghị quyết của địa phương mình sau khi được cấp trên chuẩn y và chỉ huy việc hành chính trong địa phương UBHC chịu trách nhiêm đối với cấp trên và đối với HĐND địa phương mình Nhân viên HĐND và UBHC có thể bị bãi miễn

Từ Hiến pháp năm 1959 quy định về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của ƯBHC các cấp với những nội dung chủ yếu là: quản lý công tác hành chính của địa phương, chấp hành nghị quyết của HĐND cấp mình và nghị quyết, mệnh lệnh của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ƯBHC các cấp chiếu theo quyền hạn do luật định mà ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những quyết định, chỉ thị ấy

UBHC lãnh đạo công tác của các ngành thuộc quyền mình và của UBHC cấp dưới, có quyền sửa đổi, bãi bỏ những quyết định không thích đáng của các ngành công tác thuộc quyền mình và của UBHC cấp dưới, có quyền đình chỉ việc thi hành những nghị quyết không thích đáng của HĐND cấp dưới trực tiếp và đề nghị HĐND cấp mình sửa đổi hoậc bãi bỏ các nghị quyết ấy UBHC các cấp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cấp mình và trước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên trực tiếp

Trang 30

Trong mỗi thời kỳ cách mạng, thực hiện những nhiệm vụ quản lý nhà nước đạt

ra, các Luật tổ chức HĐND và UBND có những quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể cho uv ban cấp thành phố trực thuộc trung ương

Luât tổ chức năm 1958 quy định cụ thể các nhiêm vụ, quyền hạn của UBHC

tỉnh, thành phố trực thuộc trune ương Theo Điều 30 có thể phân thành các nhóm sau:

- Thi hành luật lệ của nhà nước, quyết định, chỉ thị của cơ quan hành chính cấp trên và nghị quyết của HĐND cấp mình; ra những quyết định, chỉ thị, thể lệ, đổng thòi kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các văn bản đó; tổ chức bầu cử HĐND cùng cấp; triệu tập hội nghị HĐND cùng cấp, báo cáo công tác và trình các đề án công tác trước HĐND;

-Lãnh đạo công tác của cơ quan chuyên môn và của ƯBHC cấp dưới; sửa đổi hoặc huỷ bỏ các quyết định, chỉ thị không thích đáng của các cơ quan chuyên môn

và ƯBHC cấp dưới, đình chỉ thi hành những nghị quyết không thích đáng của HĐND cấp d ư ớ i;

- Chấp hành kế hoạch kinh tế, văn hoá, quản lý dự toán ngân sách; quản lý các cán bộ, nhân viên công tác tại các cơ quan thuộc quyền địa phương mình; quản lý thị trường, công thương nghiệp quốc doanh, lãnh đạo sản xuất và cải tạo công thương nghiệp tư doanh ở địa phương, quản lý công tác thuế, giao thông vận tải, nhân lực, bảo đảm thi hành các luật lê lao động, quản lý công tác văn hoá, xã hội, kiến thiết sửa sang thành thị và nông thôn, tài sản công cộng;

- Chỉ đạo công tác an ninh, quốc phòng ở địa phương, bảo đảm quyền công dân, quyền bình đẳng của các dân tộc; giúp đỡ các dân tộc thiểu số phát triển về mặt chính trị, kinh tế, văn hoá;

-Thi hành các công tác do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên giao

Luât tổ chức năm ỉ 962 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn cho UBHC tỉnh,

thành phố trực thuộc trung ương là:

- Chấp hành k ế hoạch kinh tế, văn hoá và ngân sách, lãnh đạo việc củng cố và phát triển các hợp tác xã nông nghiệp, việc phát triển sản xuất nông nghiệp, quản lý công nghiệp địa phương, công tác xây dựng cơ bản, thuỷ lợi, lâm nghiệp và các lĩnh vực văn hoá xã hội

- Giữ gìn trật tự, an ninh và công tác quân sự địa phương;

Trang 31

- Tham gia quản lý các xí nghiệp, sự nghiệp của trung ương ở địa phương; cung cấp nhân lực, lương thực, thực phẩm và bảo đảm trật tự an ninh cho các xí nghiêp, sự nghiếp ấy;

- Quản lý công tác khác do Hội đồng chính phủ giao

Luăt tổ chức năm 1983 và luât tổ chức năm 1989 chỉ quy định nhiệm vụ chung

cho UBND các cấp, không định rõ nhiêm vụ, quyền hạn cho ƯBND mỗi cấp

Các nhiệm vụ, quyền hạn đó là:

- Chuẩn bị các kỳ họp của HĐND (luật tổ chức năm 1989 quy định ƯBND cùng Thường trực HĐND chuẩn bị); phối hợp với các Ban chuyên trách của HĐND xây dựng các đề án trình HĐND xét và quyết định;

- Chỉ đạo các ngành các cấp thực hiện kế hoạch và ngân sách, phát triển kinh

tế, văn hoá, xã hội, giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội, củng cố quốc phòng và cải thiên đời sống nhân dân địa phương, bảo đảm sự quản lý thống nhất của nhà nước

từ trung ương đến cơ sở, cùng với Mạt trận và các đoàn thể nhân dân tổ chức phong trào thi đua yêu nước xã hội chủ nghĩa (điều 46 luật tổ chức năm 1983, điều 44 Luật

tổ chức năm 1989)

- Giữa hai kỳ họp HĐND, UBND được xét và giải quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cùng cấp, trừ những vấn đề được luật quy định phải thảo luận và giải quyết trong các kỳ họp của HĐND và phải báo cáo trình HĐND phê chuẩn trong kỳ họp gần nhất (Điều 47 luật tổ chức năm 1983 và điều 45 Luật tổ chức năm 1989)

- Tiếp dân, giải quyết và chỉ đạo các ngành, các cấp thuộc mình giải quyết các khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của nhân dân (Điều 48 Luật tổ chức năm 1983 và điều

46 Luật tổ chức nãm 1989)

Cả hai luật trên tiếp tục quy định cho UBND quyền ra quyết định, chỉ thị theo

quy định của pháp luật cũng như quyền đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoăc bãi bỏ

các quyết định không thích đáng của các ngành thuộc quyển mình và của UBND cấp dưới, đình chỉ việc thi hành những nghị quyết không thích đáng của HĐND cấp dưới

trực tiếp, đề nghị HĐND cấp mình sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết đó

Luật tổ chức năm 1994 đã quy định bổ sung, sửa đổi một số nhiệm vụ, quvền

hạn của UBND Ngày 25/6/1996, Ưỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp

lệnh về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của HĐND và UBND ở mỗi cấp Trong đó đã

quy định tại mục 2, chương II về nhiệm vụ, quyền hạn của UBND tỉnh, thành phố

trực thuộc trung ương- Ngoài các quy định về nhiệm vụ và quyền hạn như của ƯBND

Trang 32

tỉnh, Pháp lênh còn quy định tại điều 29 về các nhiệm vụ, quyền hạn của UBND thành phố trực thuộc trung ương Các nội dung này xin được trình bày tại mục 3, chương I của Luận vãn.

1.2.6 Về cơ quan chuyên môn

Cơ quan chuyên môn của uỷ ban đã sớm được quy định trong pháp luật nước

ta Ngay từ sắc lênh 63-SL ngày 23/11/1945 đã quy định: Khi một cơ quan chuyên môn ở bất kỳ cấp nào nhận được một lệnh của cơ quan chuyên môn cấp trên phải thông tri cho UBHC cấp tương đương trước rồi mới được thi hành Khi có sáng kiến

gì muốn thực hiên trong phạm vi cấp mình thì phải thảo luận với UBHC cấp ấy trước rồi mới thi hành hay đề nghị lên cơ quan chuyên môn cấp trên

Nhưng phải đến Luật tổ chức năm 1958, cơ quan chuyên môn của uỷ ban mới được quy định một cách cơ bản Theo đó UBHC thành phố trực thuộc trung ương có văn phòng và có thể, tuỳ nhu cầu công tác, lập ra các cơ quan chuyên môn với ĩhủ tục thành lập là: Thủ tướng Chính phủ ra nghị định theo đề nghị của UBHC thành phố trực thuộc trung ương; UBHC thành phố trực thuộc trung ương quyết định sau khi được Thủ tướng Chính phủ chuẩn y đối với các bộ phận chuyên môn ở thành phố trực thuộc trung ương; Thủ tướng Chính phủ hỏi ý kiến các Bộ sở quản trước khi ra nghị định chuẩn y hoặc hướng dẫn trong các trường hợp nói trên

Cơ quan chuyên mồn chịu sự lãnh đạo thống nhất của UBHC cùng cấp, đổng thời chịu sự lãnh đạo của Bộ sở quản với nhiêm vụ và quyền hạn chủ yếu là căn cứ vào quyết định, chỉ thị của UBHC cùng cấp và chỉ thị của cơ quan chuyên môn cấp trên ra chỉ thị cho cơ quan chuyên môn bên cạnh UBHC cấp dưới, kiểm tra công tác của ngành mình ở cấp dưới

Đến Luật tổ chức năm 1962 về cơ bản vẫn có các quy định như trên, nhưng quy định cụ thể hơn về quan hê trực thuộc: Thủ trưởng cơ quan chuyên môn chịu trách nhiệm và báo cáo công tác với cơ quan hành chính cấp mình và với cơ quan chuyên môn cấp trên Luật tổ chức năm 1983 và Luật tổ chức năm 1989 tiếp tục quy định cụ thể hơn: UBND thành lập hoặc bãi bỏ các cơ quan chuyên môn thuộc ƯBND theo quy định của Hội đổng Bộ trường Các cơ quan chuyên môn giúp UBND cùng cấp thực hiên chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và bảo đảm sự thống nhất quản

lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở; chịu sự chỉ đạo và tổ chức, biên chế và công tác của UBND cấp mình, đồng thời, chịu sự chỉ đạo của cơ quan chuyên môn cấp trên Thủ trưởng cơ quan chuyên môn chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước UBND, báo cáo trước HĐND cấp mình khi cần thiết; đổng thời chịu trách nhiêm và báo cáo với cơ quan chuyên môn cấp trên

Trang 33

1.3 TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA UBND THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

Trong hê thống pháp luật của nước ta, thường đạt vấn đề tổ chức và hoạt động của UBND cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương trong một quy chế pháp lý thống nhất Tuy nhiên, đến Pháp lênh về nhiêm vụ và quyền hạn cụ thể của HĐND

và UBND mỗi cấp năm 1996, mặc dù vẫn quy định nhiệm vụ và quyền hạn của UBND cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương là như nhau trong nhiều lĩnh vực, nhưng cũng đã có quy định riêng về nhiêm vụ và quyền hạn của ƯBND thành phố trực thuộc trung ương trong lĩnh vực quản lý đô t h ị

1.3.1 Tính chất, vị trí, vai trò của UBND thành phô trực thuộc trung ương theo Hiến pháp 1992, Luật tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) năm 1994

Tính chất, vị trí của UBND thành phố trực thuộc trung ương cũng như của UBND các cấp được quy định trong Hiến pháp và Luật tổ chức HĐND và UBND Điều 123 Hiến pháp 1992 quy định: "ƯBND do HĐND bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND"

Như vậy, về tính chất thì UBND là cơ quan chấp hành của HĐND, về mặt vị trí thì UBND là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Trường Đại học Luật Hà nội thì "Cơ quan hành chính nhà nước là tổ chức cấu thành của hệ thống hành chính nhà nước thống nhất, nhân danh quyền lực nhà nước thực hiên hoạt động chấp hành, điều hành của nhà nước Cơ quan hành chính nhà nước giữ vị trí nhất định trong bộ máy nhà nước, có mối liên hê chặt chẽ với các cơ quan nhà nước khác đồng thời là hê thống nhất, trong đó các cấp, các bộ phận có liên hê hữu cơ với nhau và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ"*40- ^ ’

ƯBND thành phố trực thuộc trung ương ỉà một cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương nên nó có đầy đủ các đặc điểm của cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan hành chính nhà nước nói riêng:

- Những đặc điểm của cơ quan nhà nước: Là một tập thể người có tính độc lập tương đối về cơ cấu tổ chức; được nhà nước trao cho những thẩm quyển nhất định và chỉ hoạt động trong khuôn khổ thẩm quyền của mình.(43'tr U0~1U)

Trang 34

- Là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương nên ƯBND thành phố trực thuộc trung ương có những đặc điểm đặc thù của cơ quan hành chính nhà nước:

+ Được thành lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nước, nghĩa là thực hiện

hoạt động chấp hành và điều hành Hoạt động chấp hành và điều hành là hoạt động

mang tính dưới luật, được tiến hành trên cơ sở Hiến pháp, luật, pháp lệnh và để thực

hiện pháp luật,

+ Hoạt động mang tính thường xuyên, liên tục và tương đối ổn định, là cầu nối

trực tiếp nhất đưa đương lối, chính sách pháp luật vào cuộc sống,

+ Nằm trong một hê thống thống nhất từ Trung ương đến cơ sở, chịu sự lãnh

đạo, chỉ dạo của một trung tâm thống nhất là Chính phủ- cơ quan hành chính nhà

nước cao nhất,

+ Thẩm quyển của UBND chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành và

điều hành, được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật về tổ chức bộ

máy nhà nước,

+ Trực tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước là HĐND, chịu sự lãnh đạo,

giám sát, kiểm tra của HĐND thành phố và chịu trách nhiêm báo cáo công tác trước

HĐND,

+ Hoạt động của UBND là đối tượng giám sát của viện kiểm sát thông qua hoạt

động kiểm sát chung, của toà án thông qua hoạt động xét xử các vụ án hình sự, dân

sự, hành chính Các cơ quan hành chính có trách nhiệm xem xét và trả lời các yêu

cầu, kiến nghị, kháng nghị của viện kiểm sát và toà án trong những trường hợp nhất

định và trong thời hạn do luật định Ngược lại, các văn bản pháp luật của các cơ quan

quản lý nhà nước có thể là căn cứ pháp lý để viện kiểm sát và tòa án thực hiện hoạt

động kiểm sát và xét xử.(43'tr ll2' 114)

Xét về đối tượng quản lý thì UBND có đối tượng quản lỷ rộng lớn là các cơ

quan, tổ chức đơn vị trực thuộc (mà toà án và viện kiểm sát không có đối tượng quản

lý này)

Về phân loại trong hê thống cơ quan hành chính nhà nước thì ƯBND thành phố

trực thuộc trung ương là cơ quan hiến định, được thành lập do được bầu ra và được

Chính phủ phê chuẩn và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; có nhiêm vụ

quản lý nhà nước trong phạm vi một đơn vị hành chính lãnh thổ và là cơ quan có

thẩm quyền chung; quản lý chung mọi ngành, mọi lĩnh vực, mọi đối tượng trong

phạm vi đơn vị hành chính lãnh thổ (thành phố trực thuộc trung ương), v ề hình thức

tổ chức và chế độ giải quyết cồng việc thì UBND là cơ quan làm việc theo chế độ tập

Trang 35

thể; có xu hướng chuyển mạnh sanII kết hợp giữa chế độ tập thể lãnh đạo và chế đủ thủ trưởng nhàm nêu cao vai trò, trách nhiỗm người dứng đầu cơ quan.

* UBND là cơ quan chấp hành của HĐND HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, quyết định nhữns vấn đề quan trọng của địa phương như kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước ở địa phương Tuy nhiên, HĐND hoạt động không thường xuyên nên các chủ trương, biện pháp nhằm phát triển kinh tế xã hội của địa phương mà HĐND đã thông qua chỉ có thể được thực hiên thông qua cơ quan chấp hành là UBND, nghĩa là UBND là

cơ quan chịu trách nhiệm chủ vếu trong việc triển khai, tổ chức thực hiện các nghị quyết của HĐND, biến các nội dunẹ của Nghị quyết HĐND thành hiện thực Trên cơ

sở các qui định trong các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và của HĐND, UBND họp để thông qua và chỉ đạo triển khai thực hiện

UBND thành phố trực thuộc trung ương là cơ quan song trùng trực thuộc: chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp và Chính phủ ƯBND chịu trách nhiệm thi hành những nghị quyết của HĐND, chịu sự giám sát của HĐND cùng cấp HĐND có quyền bãi miễn nhữníỉ thành viên của UBND, giám sát, sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định không thích đáng của UBND

Về mặt chấp hành trong hoạt động quản lý địa phương của UBND thể hiện ở sự tuân thủ pháp luật và nghị quyết của HĐND cùng cấp, tổ chức thực hiện trong thực

tế trên địa bàn lãnh thổ Trone quá trình tổ chức thực hiên các văn bản đó, mọi quy định đều được tuân thủ nghi^r1 ngặt, từ trình tự thi hành đến nội dung thực tế cần áp dụng văn bản và thực hiện các biện pháp nhằm duy trì sự thực hiện trong thực tế

Tính chất điều hành trong hoạt động quản lý nhà nước của UBND còn thể hiện trong tổ chức chỉ đạo hoạt động của các cơ quan, đơn vị thuộc quyền Để đảm bảo chấp hành có hiệu quả luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp, UBND có những biện pháp thích hợp để triển khai thực hiện những nhiệm vụ được giao Đâv là những, công việc rất phức tạp, kế tiếp nhau từ khâu nắm bắt tình hình, lên kế hoạch hoạt động, tổ chức lực Ịượng, giao nhiêm vụ cho từng đơn vị, đến việc chỉ đạo thực hiện, điều hoà phối hợp hoạt động và kiểm tra tiến độ thực hiên nhiệm vụ Trong quá trình điều hành công việc, UBND có quyền nhân danh quyền lực nhà nước ban hành những quyết định, chỉ thị cụ thể có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các cơ quan đơn vị có liên quan Qua đó thể hiện tính chất điều hành trong hoạt độniỉ quản lý địa phương của UBND ở chỗ sử dụng quyển lực nhà nước để điều khiển và tổ chức thực hiện quá trình hoạt động của đối tượng quản

lý Các đối tượng này phải phục tùng những mệnh lệnh của chủ thể quản lý Nhờ

Trang 36

hoạt động điều hành, UBND bảo đảm việc chấp hành cụ thể, chi tiết các đạo luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND.

Tính chất, vị trí của ƯBND theo quy định của pháp luật theo chúng tôi cũng chứa đựng những mâu thuẫn nội taị của nó Bởi vì UBND là cơ quan chấp hành của HĐND, mà bản thân HĐND là cơ quan vừa mang tính tự quản lại vừa mang tính nhà nước Tính tự quản của HĐND có tính "trội hơn" so với "tính nhà nước" của nó Do vậy, nếu là cơ quan chấp hành của HĐND thì ƯBND phải thực hiện nghị quyết của HĐND tức là giải quyết những vấn để phát sinh ở địa phương có ý nghĩa địa phương Còn với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước thì UBND chấp hành mọi quyết định của cơ quan nhà nước cấp trên Phải chăng UBND giải quyết những vấn đề nhà nước phát sinh ở địa phương Với tính "hai mặt" của UBND dẫn đến tình trạng tính địa phương "tự quản" mâu thuẫn với tính nhà nước

Theo chúng tôi sẽ là hợp lý khi HĐND được quy định chỉ với tính chất là cơ quan tự quản và có một cơ quan chấp hành riêng của nó, còn để giải quyết những công việc nhà nước phát sinh ở địa phương cần có cơ quan đại diện nhà nước đóng tại địa phương Chỉ với cách tổ chức như vậy mới tách được tính tự quản với tính nhà

nước; bảo đảm phát huy được tính năng động, sáng tạo ở địa phương và bảo đảm

được tính thống nhất trong quản lý nhà nước, bảo đảm bộ máy hành chính vận hành thông suốt Tuy nhiên, đây là vấn đề rất lớn, liên quan tới toàn bộ cấu trúc tổ chức quyền lực nhà nước ở địa phương, nên trong khuôn khổ luận văn này chưa thể đề cập hết được vấh đề này

1.3.2 Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của UBND

Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của ƯBND nói chung cũng như của ƯBND thành phố trực thuộc Trung ương phải tuân theo các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam

Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam là những tư tưởng, nguyên lý mang tính chỉ đạo trong quá trình

tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, được xác định trong Hiến pháp và luật tổ chức của các cơ quan nhà nước như Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức HĐND và ƯBND Đối với tổ chức và hoạt động của ƯBND, các nguyên tắc này được quy định trong Chương I Hiến pháp 92 và Luật Tổ chức HĐND và ƯBND Những nguyên tắc đó là:

- Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân;

- Nguyên tắc Đảng Cộng sản lãnh đạo nhà nước và xã hội;

Trang 37

- Nguyên tắc tập trung dân chủ;

- Nguyên tắc bình đẳng và giúp đỡ giữa các dân tộc;

- Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa (48‘tr-277'284)

Ngoài các nguyên tắc cơ bản nêu trên, trong các công trình nghiên cứu xuất bản thời gian gần đây, có tác giả còn nêu một số nguyên tắc nữa Trong cuốn "Bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam" , tập 2, Nxb chính trị quốc gia,

Hà nội, 1999, PGS,PTS Trần Ngọc Đường (chủ biên) còn nêu thêm 3 nguyên tắc sau trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Đó là:

- Nguyên tắc có k ế hoạch;

- Nguyên tắc công khai, lắng nghe V kiến nhân dân;

- Quyền lực thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; có sự phân cấp rành mạch giữa nhà nước trung ương và chính quyền địa phương, cơ sở.a2‘tr 22'30)

1.3.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND thành phố trực thuộc, trung ương

Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND các cấp do Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ và HĐND cùng cấp quy định

Chức năng của UBND các cấp là quản lý địa phương theo Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa và chống các biểu hiện quan liêu, vô trách nhiệm, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác trong các cơ quan, cán bộ, viên chức nhà nước và trong bộ máy chính quyền địa phương

Do đặc điểm quản lý nhà nước ở mỗi cấp có khác nhau nên Luật tổ chức năm

1994, tại điều 7 đã quy định: "Nhiêm vụ, quyền hạn cụ thể của HĐND và UBND ở mỗi cấp do Chính phủ trình Ưỷ ban thường vụ Quốc hội quy định", u ỷ ban thường

vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của HĐND và UBND mỗi cấp năm 1996 Đây là một đòi hỏi thực tế, vì đối tượng, phạm vi và thẩm quyền quản lý của mỗi cấp là rất khác nhau Tuy nhiên, trong lịch sử lập pháp của nước ta, việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn của UBND mỗi cấp đã được quy định tại các luật tổ chức năm 1958 và 1962 Đến Luật tổ chức năm 1983, Luật tổ chức năm

1989 chỉ quy định nhiệm vụ, quyền hạn cho HĐND mỗi cấp mà không quy định cụ thể cho UBND mỗi cấp

Trang 38

Theo Luật tổ chức năm 1994, nhiệm vụ chung của UBND thành phố trực thuộc trung ương cũng như nhiệm vụ của UBND các cấp là: chỉ đạo việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp, chỉ đạo hoạt động của ƯBND cấp dưới Trong phạm vi nhiêm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định ra quyết định, chỉ thị và tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó Phối hợp với Thường trực HĐND và các ban của HĐND cùng cấp chuẩn bị nội dung các kỳ họp HĐND, xây dựng đề án trình HĐND xét và quyết định Thực hiện việc quản lý địa giói đơn vị hành chính.

Trong việc thực hiện quản lý nhà nước, UBND các cấp :

- Quản lý nhà nước ở địa phương trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học công nghệ và môi trường, thể dục, thể thao, báo chí và các lĩnh vực xã hội khác; quản lý nhà nước về đất đai và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, quản lý việc thực hiện tiêu chuẩn đo lường chất lượng sản phẩm hàng hoá;

- Tuyên truyền giáo dục pháp luật, kiểm tra việc thi hành pháp luật ở địa

phương;

- Bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng quốc phòng, quản

lý hộ khẩu, hộ tịch ở địa phương, quản lý việc đi lại của người nước ngoài ở địa phương;

- Phòng chống thiên tai, bảo vệ tài sản của nhà nước, các tổ chức và công dân, bảo vệ tính mạng, tự do danh dự nhân phẩm và các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân; chống tham nhũng, buôn lậu, làm hàng giả và các tệ nạn xã hội khác;

- Quản lý công tác tổ chức biên chế, lao động, tiền lương, đào tạo đội ngũ viên chức nhà nước;

- Tổ chức chỉ đạo công tác thi hành án ở địa phương;

- Tổ chức việc thu chi ngân sách của địa phương;

Ngoài các quy định của Luật tổ chức năm 1994, Pháp lệnh về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của HĐND và UBND mỗi cấp năm 1996 còn quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương từ điều 14 đến điều 30

Trên một số lĩnh vực cụ thể, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ và quyền hạn:

Trang 39

- Xây dựng các kế hoạch, quy hoạch, đề án phát triển các ngành như nông, lâm, ngư nghiêp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, giao thông vận tải, xây

dựng ở địa phương trình HĐND thông qua Sau khi được Chính phủ phê chuẩn, tổ

chức thực hiện các kế hoạch, quy hoạch, đề án đó ở địa phương Đồng thời chỉ đạo,

kiểm tra các cơ quan trực thuộc trong việc thực hiện

- Xây dựng kế hoạch dài hạn và hàng năm về phát triển kinh tế xã hội của

thành phố đưa ra HĐND thông qua để trình Chính phủ phê duyệt; tổ chức, chỉ đạo

thực hiên kế hoạch đó Lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách, lập quyết toán

ngân sách địa phương, xây dựng đề án thu phí và lê phí, phụ thu và các khoản đóng

góp của nhân dân, lập quỹ dự trữ tài chính theo quy định trình HĐND thành phố

quyết định và báo cáo cơ quan hành chính cấp trên; kiểm tra nghị quyết của HĐND

cấp dưới về dự toán ngân sách và quyết toán ngân sách; quyết định giao nhiệm vụ

thu, chi ngân sách cho từng cơ quan đơn vị trực thuộc; tổ chức thực hiện ngân sách

địa phương, chỉ đạo kiểm tra việc thực hiên nhiệm vụ thu ngân sách tại địa phương

- Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch, đề án, chương trình phát triển

các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế, văn hoá thông tin, thể dục thể thao, khoa học

công nghệ và môi trường ở điạ phương, thực hiện quản lý nhà nước đối với các hoạt

động trong các lĩnh vực trên

- Tổ chức thực hiện các biện pháp xây dựng lực lượng vũ trang, đảm bảo an

ninh quốc phòng trên địa bàn

- Tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiên pháp luật và chính sách dân tộc, tôn

giáo, bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, quyền bình đẳng giữa các

tôn giáo trước pháp luật; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ở địa

phương

- Tổ chức, chỉ đạo thực hiện việc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND;

xây dựng kế hoạch phân bổ biên chế hành chính sự nghiệp hàng năm, quản lý công

tác tổ chức, lao động tiền lương theo phân cấp của Chính phủ, tổ chức đào tạo đội

ngũ công chức; thành lập, sáp nhập, giải thể, quyết định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể

của cơ quan chuyên môn, tổ chức sự nghiệp thuộc ƯBND theo quy định của Chính

phủ, quản lý nhà nước đối với cơ quan trung ương ở trên địa bàn thành phố

Trong quan hệ với nước ngoài: UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

thực hiên một số hoạt động theo sự phân công và chỉ đạo thống nhất của Chính phủ

Ngoài ra, Pháp lênh về nhiệm vụ quyển hạn của HĐND và UBND mỗi cấp năm

1996 còn quy định cụ thể quyền hạn, nhiệm vụ của UBND thành phố trực thuộc

trung ương (mà UBND tỉnh không có) trong lĩnh vực quản lý đô thị; đó là việc tổ

Trang 40

chức chỉ đạo thực hiện các biện pháp, kế hoạch phát triển đô thị, trực tiếp quản lý các mặt đời sống thành phố và tổ chức thực hiện biện pháp phát huy vai trò trung tâm kinh tế- xã hội của đô thị lớn trong mối liên hệ vói các địa phương trong vùng, khu vực và theo phân cấp của Chính phủ (điều 29).

Vấn đề quản lý đô thị đã được cụ thể hoá trong Pháp lệnh trên rất rõ nét; không những quy định nhiệm vụ quyền hạn cho UBND thành phố trực thuộc trung ương mà

còn quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của UBND quận và UBND phường; các cơ

quan quản lý hành chính nhà nước ở đô thị Những quy định trên của Pháp lệnh thể hiên sự phân biệt về nhiệm vụ, quyền hạn của UBND thành phố trực thuộc trung ương với UBND các tỉnh, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý đô thị của ƯBND thành phố Việc phân biệt nhiệm vụ quyền hạn như trên là một yêu cầu cấp thiết trong điêù kiện quản lý nhà nước hiện nay khi nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Bởi vì, thành phố trực thuộc trung ương và tỉnh, tuy cùng một cấp hành chính nhưng quản lý nhà nước ở thành phố trực thuộc trung ương có những điểm khác với quản lý nhà nước ở các tỉnh

do đối tượng quản lý khác nhau

Ngoài Sắc lênh 77-SL năm 1945 quy định riêng về tổ chức chính quyền thành phố thì đến Pháp lệnh này mới tiếp tục có những quy định riêng cho thành phố những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể phù hợp với đặc điểm quản lý đô thị Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước sẽ tiếp tục đặt ra nhiều vấn đề về quản lý đô thị đòi hỏi pháp luật phải tiếp tục có những điều chỉnh kịp thời tạo điều kiện cho các đô thị phát triển theo những quy luật, đặc điểm riêng của nó

1.3.4 Cơ cấu tổ chức, chế độ làm việc của UBND thành phố trực thuộc trung ương

Cơ cấu tổ chức của UBND nói chung do Quốc hội quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức HĐND và ƯBND, còn cơ cấu cụ thể của từng UBND do HĐND cùng cấp quyết định theo hướng dẫn của Chính phủ Theo Luật tổ chức năm 1994 thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có từ chín đến mười một thành viên; UBND thành phố Hà nội và UBND thành phố Hổ Chí Minh có không quá mười ba thành viên

Nghị định số 174/CP ngày 29/9/1994 của Chính phủ quy định về cơ cấu tổ chức của UBND thành phố trực thuộc trung ương như sau:

- UBND thành phố Hà nội và UBND thành phố Hổ Chí Minh gồm 1 chủ tịch, 4 phó chủ tịch, 8 uỷ viên Các thành viên được phân công phụ trách các lĩnh vực công việc như sau:

Ngày đăng: 02/08/2020, 20:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w