1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xã hội hoá thi hành án dân sự

86 36 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 7,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Yêu cầu này đã trở thành một nguyên tắc Hiến định: "Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,

Trang 2

L Ê XUÂN HỔNG

XÃ HỘI HÓA THI HÀNH ÁN DÂN s ự■ ■

Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự

M ã số : 5.05.07

LUẬN VÃN THẠC s ĩ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Trung Tụng

HÀ N Ộ I 2001

Trang 3

Chương I : LÝ LUẬN VỂ XÃ HỘI HÓA THI HÀNH ÁN DÂN s ự 7

1.1 Khái niệm chung về xã hội hóa thi hành án dân sự 71.2 Tính tất yếu của việc xã hội hóa thi hành án dân sự 131.3 Sơ lược lịch sử xã hội hóa thi hành án dân sự Việt Nam 211.4 Xã hội hóa thi hành án dân sự một số nước 26

Chương 2: THỰC TRẠNG T ổ CHÚC VÀ HOẠT ĐỘNG THI HÀNH 37

ÁN DÂN Sự

2.1 Thực trạng tổ chức thi hành án dân sự 372.2 Thực ưạng hoạt động thi hành án dân sự 442.3 Đánh giá chung về tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự 52

Chương 3: MỘT s ố KIẾN NGHỊ VỂ XÃ HỘI HÓA THI HÀNH ÁN 62

Trang 4

bè, đồng nghiệp và gia đình - những người

đ ã giúp đ ỡ tôi hoàn thành luận văn này.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Xuân Hồng

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhà nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu dân giàu, nước manh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong tiến trình đổi mới đó của đất nước, vấn đề cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền với mục đích xây dựng một nền hành chính, tư pháp vững mạnh, hoạt động có hiệu quả, hiệu lực, đáp ứng và phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới và phát triển đất nước có ỷ nghĩa hết sức quan trọng

Thi hành án dân sự có một ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án nói riêng và trong hoạt động tư pháp nói chung Bản án, quyết định của tòa án chỉ là những phán quyết trên giấy, nếu nó không được thực thi trên thực tế Hoạt động thi hành án nói chung và thi hành án dân sự nói riêng có hiệu quả sẽ góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân, góp phần củng cố bộ máy nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Yêu cầu này đã trở thành một nguyên tắc Hiến định: "Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân

đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành" (Điều 136 Hiến pháp 1992)

Trong thời gian qua, bên canh những kết quả đã đạt được, thi hành

án dân sự đã bộc lộ nhiều tồn tại, bất cập, cần được khắc phục Biểu hiện tập trung của những tồn tại đó là số lượng án tồn đọng đang có xu hướng ngày một gia tăng Theo thống kê, số lượng án tồn của năm 1999 chuyển sang nãm 2000 là 238.641 việc trên tổng số 405.082 việc phải thi hành và năm 2000 chuyển sang để thi hành trong 6 tháng đầu năm 2001 là 258.987

Trang 6

việc trên tổng số 426.667 việc phải thi hành Đây là một vấn đề hết sức bức xúc đặt ra cho hoạt động thi hành án dân sự hiện nay.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên có nhiều: về cơ chế, điều kiện con người, các quy định của pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa nhất là hoạt động thi hành án dân sự chưa bắt kịp với sự chuyển đổi manh mẽ và hội nhập quốc tế của đất nước, mà nền tảng là sự chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa kéo theo sự thay đổi các quan hệ xã hội về dân

sự, kinh tế, hành chính

Việc đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án đã được đặt

ra trong thời gian qua, đặc biệt là việc chuyển công tác thi hành án từ Tòa

án nhân dân các cấp sang các cơ quan thuộc Chính phủ từ năm 1993 Hiện nay một số giải pháp cũng đang tiếp tục được triển khai thực hiện, như đào tạo, nâng cao năng lực cho các chấp hành viên, cán bộ thi hành án; tăng cường cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động cho cơ quan thi hành án; sửa đổi,

bổ sung các quy đinh pháp luật về thi hành án, trước hết là Pháp lệnh thi hành án dân sự và các văn bản liên quan Tuy nhiên, các giải pháp này còn mang tính chất đơn lẻ, tình thế, thiếu đồng bộ Thực tế cho thấy, các giải pháp mà chúng ta đã áp dụng trong thời gian qua chưa giải quyết triệt để những tồn tại trong hoạt động thi hành án dân sự Vì vậy, cần dựa trên tính chất, đặc thù của thi hành án dân sự và những điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay của đất nước để có giải pháp phù hợp, trong đó lấy việc đổi mới cơ chế tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự làm then chốt, chủ đạo

Trong thi hành án dân sự, quan hệ giữa các bên mang đậm tính dân

sự, theo đó các bên có quyền định đoạt, thỏa thuận để thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo phán quyết của tòa án; Nhà nước không cần thiết can thiệp trực tiếp hay thực hiện thay các bên trong quan hệ đó Tuy nhiên, hoạt động thi hành án hiện đang do Nhà nước, trực tiếp là cơ quan thi hành án đảm

Trang 7

nhận Điều đó đã phần nào phá vỡ tính chủ động cũng như trách nhiệm của các bên trong thi hành án, góp phần gây nên tình trạng quá tải, sự cổng kềnh của bộ máy nhà nước Cơ chế tổ chức và hoạt động đó lại càng không phù hợp khi Nhà nước ta đang thực hiện xã hội hóa manh mẽ một số lĩnh vực hoạt động của cơ quan nhà nước, đặc biệt là các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế, dân sự, vãn hóa, thể thao Vì vậy có thể nói, xã hội hóa thi hành án dân sự là giải pháp cần thiết, vừa có tính lâu dài, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vừa giải quyết những vướng mắc trước mắt hiện nay trong công tác này Điều đó cho thấy tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài và tác giả đã lựa chọn vấn đề này để làm luận văn thạc sĩ luật học.

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Việc nghiên cứu đề tài nhằm đề xuất các giải pháp xã hội hóa hoạt động thi hành án dân sự với mục đích:

- Tăng cường hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự;

- Tạo điều kiện để nhân dân tham gia và giám sát hoạt động thi hành án dân sự;

- Giảm chi phí về nhân lực và ngân sách cho Nhà nước

Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về thi hành án dân sự, chủ trương cải cách hành chính, cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Thi hành án dân sự là lĩnh vực tương đối rộng, không chỉ là hoạt động của cơ quan thi hành án mà còn bao gồm cả việc thực hiện bản án, quyết định của các bên không thông qua cơ quan thi hành án, do đó cần nhiều công trình nghiên cứu với quy mô và thời gian thích hợp v ề phần mình, đề tài chủ yếu nghiên cứu vẩn đề xã hội hóa thi hành án dân sự với

Trang 8

tính chất là hoạt động của cơ quan nhà nước, trực tiếp là cơ quan thi hành

án, bao gồm việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về dân sự, kinh tế, lao động, hành chính, phá sản doanh nghiệp; quyết định của Trọng tài được thi hành theo Pháp lệnh thi hành án dân sự Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở cơ sở lý luận và thực tiễn về xã hội hóa, thực trạng cũng như các giải pháp nhằm xã hội hóa thi hành án dân sự

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước và pháp luật, luận văn đã kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể, như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp điều tra khảo sát, đánh giá và tổng kết kinh nghiệm

5 Tình hình nghiên cứu và những điểm mới của việc nghiên cứu

đề tài

Có thể nói, trong các nãm trước đây, lĩnh vực thi hành án dân sự ít được các nhà nghiên cứu quan tâm, coi đây là một hoạt động gắn liền với hoạt động tố tụng Các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý về hoạt động tư pháp chủ yếu tập trung vào hoạt động xét xử và giai đoạn trước xét

xử như điều tra., truy tố Hoạt động thi hành án, đặc biệt là thi hành án dân

sự chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống Những năm gần đây, trong tiến trình đẩy manh cải cách tư pháp, khi thực tiễn hoạt động thi hành án đặt ra nhiều vấQ đề cần giải quyết, thì hoạt động thi hành án dân sự mới thực sự được quan tâm nghiên cứu đúng mức Đã có một số công trình nghiên cứu và bài viết trên các tạp chí về hoạt động thi hành án và thi hành

án dân sự, như: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Những cơ sở lý luận và thực tiễn về ch ế định Thừa phát lại", mã số 95-98-114/ĐT do Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh

Trang 9

chủ trì thực hiện; Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: "Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án", mã số 96-98-027/ĐT do Cục quản lý thi hành án dân

sự Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện; Đề tài cấp Nhà nước đang được thực hiện:

"Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mớí", mã số 2000-58-189 do Bộ Tư pháp chủ trì, trong đó có vấn đề về xã hội hóa thi hành án dân sự Một số luận án và công trình nghiên cứu khác, như: Luận văn Thạc sĩ luật học "Cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự” của tác giả Trần Văn Quảng; Luận văn thạc sĩ luật học "Các biện pháp cưỡng c h ế thi hành án dân sự, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện" của tác giả Nguyễn Công Long; Giáo trình môn Luật tố tụng dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội

và các trường đại học có chuyên ngành luật; một số bài viết trên các Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật v.v

Các công trình nghiên cứu trên mới chỉ đề cập đến một lĩnh vực cụ thể về một vẩn đề cụ thể hoặc đề cập đên vấn đề mang tính tổng thể như hoàn thiện tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự nói chung Riêng về vấn đề xã hội hóa thi hành án dân sự, nói chung còn là vấn đề mới, mặc dù bước đầu đã được các nhà nghiên cứu và những người làm công tác thi hành án quan tâm

- Về mặt lý luận, luận văn đưa ra một số quan điểm về thi hành án dân sự và xã hội hóa thi hành án dân sự, góp phần bổ sung, làm phong phú thêm hoạt động nghiên cứu khoa học về thi hành án dân sự

- Trên cơ sở luận cứ về lý luận cũng như thực tiễn thi hành án dân

sự, quan điểm của Đảng, Nhà nước về cải cách hành chính, cải cách tư pháp nói chung và thi hành án nói riêng, luận văn đưa ra các giải pháp đồng bộ

về xã hội hóa thi hành án dân sự phù hợp với điều kiện trước mắt, vừa có thể áp dụng cho hoạt động thi hành án dân sự trong thời gian tới

- Những vấn đề được làm sáng tỏ trong luận văn có thể góp phần cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự, trong đó

Trang 10

có Dự án Pháp lệnh thi hành án dân sự sửa đổi, Dự án Luật thi hành án, đặc biệt là các quy định về vấn đề xã hội hóa thi hành án dân sự.

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương ỉ: Lý luận về xã hội hóa thi hành án dân sự

Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự Chương 3: Một số kiến nghị về xã hội hóa thi hành án dân sự

Trang 11

Chương 1

L Ý LUẬN V Ể XÃ HỘI HÓA THI HÃNH ÁN DÂN s ự

1.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỂ XÃ HỘI HÓA THI HÀNH ÁN DÂN s ự 1.1.1 Quan niệm về xã hội hóa

Theo Từ điển tiếng Việt, xã hội hóa là làm cho cái gì đó, việc gì đó trở thành của xã hội (Đại Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Bách khoa, Hà Nội, 1999) Khái niệm xã hội hóa có thể được hiểu theo nhiều cấp độ khác nhau, tùy từng mối quan hệ mà nó được xem xét V í như xã hội hóa tương phản với tập trung hóa, cá thể hóa, tư nhân hóa; xã hội hóa tương phản với Nhà nước hóa Nếu một cái gì đó, việc gì đó đang thuộc Nhà nước, thì xã hội hóa là làm cho nó trở thành của cá nhân, tổ chức phi nhà nước; nếu một cái

gì đó, việc gì đó đang thuộc một số cá nhân, tổ chức, thì xã hội hóa là làm cho nó trở thành của toàn dân, cộng đồng, ví dụ: xã hội hóa tư liệu sản xuất

Chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật đã chỉ rõ, Nhà nước và xã hội là hai hiện tượng có quan hệ với nhau, giữa chúng vừa có sự khác biệt, vừa có sự thống nhất Sự thống nhất thể hiện ở chỗ, trong xã hội

có giai cấp thì có Nhà nước; còn sự khác biệt thể hiện ở chỗ, khái niệm xã hội rộng hơn khái niệm nhà nước, xã hội giữ vai trò quyết đinh, là cơ sở cho Nhà nước tồn tại và phát triển Xã hội có thể được hiểu theo nghĩa rộng: là hình thức sinh hoạt chung có tổ chức của loài người ở một trình độ phát triển nhất định trong lịch sử, được xây dựng trên một phương thức sản xuất nhất định Dưới góc độ khác, xã hội có thể được hiểu như là tập thể người sống trong một thời kỳ lịch sử Nhà nước cũng có thể được hiểu theo góc độ rộng hay hẹp ở góc độ rộng, Nhà nước là thượng tầng chính trị - pháp lý; còn ở góc độ hẹp, Nhà nước là bộ máy quyền lực bao gồm hai yếu tố: bộ máy quản lý và bộ máy cưỡng chế Như vậy, khi nói xã hội hóa là chuyển

Trang 12

công việc của Nhà nước thành công việc của xã hội cũng chỉ là cách hiểu tương đối (góc độ hẹp) Vì rằng, bản thân Nhà nước cũng là một bộ phận cấu thành xã hội và hoạt động Nhà nước cũng là một dạng hoạt động của xã hội Nhà nước là người đại diện cho xã hội, chức năng xã hội của Nhà nước ngày càng được thể hiện rõ nét, đặc biệt đối với Nhà nước xã hội chủ nghĩa với bản chất là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Vì vậy, xã hội hóa trong trường hợp nào đó lại đồng nhất với nhà nước hóa khi Nhà nước đó thực sự đại diện cho toàn xã hội.

Xã hội hóa không chỉ phân biệt với Nhà nước hóa mà còn phân biệt với tập trung hóa, độc quyền hóa Với ý nghĩa này, đó là sự chuyển một cái

gì đó, một công việc gì đó đang do một số ít người nắm giữ thành của chung của cả cộng đồng, xã hội Đây là trường hợp thường thấy trong việc cải tạo quan hệ sản xuất và trong các chính sách về lĩnh vực phát triển kinh tế

Xã hội hóa cũng không đồng nhất với tư nhân hóa Đây là hai khái niệm khác nhau, tuy cũng có những điểm chung Dưới góc độ tương phản với tập trung hóa, thì xã hội hóa và tư nhân hóa là khác biệt nhau, trong đó xã hội hóa là nhầm xóa bỏ tư nhân hóa, chống tập trung, độc quyền Còn dưới góc độ tương phản với Nhà nước hóa, thì xã hội hóa có nhiều điểm trùng với tư nhân hóa, theo đó các công việc đang do Nhà nước trực tiếp nắm giữ sẽ được chuyển giao cho tư nhân, tổ chức phi nhà nước và toàn xã hội đảm nhận

Hiện nay xã hội hóa được nhắc đến nhiều với ý nghĩa như một giải pháp cải cách tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, tăng cường trách nhiệm, động viên, tổ chức đông đảo nhân dân tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội thể hiện dưới các hình thức:

- Tổ chức và huy động toàn dân quan tâm, tham gia vào một hoạt động nào đó;

- Tăng cường trách nhiệm của cá nhân, của cộng đồng vào một công việc nào đó, theo đó Nhà nước không can thiệp trực tiếp hay thực hiên

Trang 13

thay công việc mà cá nhân, tổ chức liên quan có trách nhiệm, bổn phận phải

thực hiện

- Có cơ chế, hình thức tổ chức để các cá nhân, tổ chức phi nhà nước đảm nhiệm một số công việc đang do các cơ quan nhà nước trực tiếp thực hiện

Như vậy, ngoài ý nghĩa là một biện pháp cải cách tổ chức, hoạt

động của bộ máy Nhà nước, xã hội hóa còn thể hiện tính dân chủ trong hoạt

động quản lý nhà nước, thực hiện một cách hữu hiệu các quyền, nshĩa vụ và

phát huy nguồn lực của nhân dân

1.1.2 X ã hội hóa thi hành án dân sự

1.1.2.1 Khái niệm thi hành án dân sự

Về đặc thù, tính chất của thi hành án nói chung và thi hành án dân

sự nói riêng còn có ý kiến khác nhau Có quan điểm cho rằng, đây là một

giai đoạn tố tụng, trong khi có ý kiến lại cho đây là một hoạt động thuộc

hoạt động quản lý hành chính nhà nước

Ý kiến coi đây là một giai đoạn tố tụng cho rằng: Thi hành án nói

chung và thi hành án dân sự nói riêng là một giai đoạn nằm trons: quá trình

giải quyết vụ án, theo đó, giai đoạn tố tụng trước của giai đoạn xét xử là

giai đoạn chuẩn bị cho quá trình xét xử, còn quá trình thi hành án là giai

đoạn hậu xét xử, giai đoạn thực thi các phán quyết của Tòa án trẽn thực tế

và có quan hệ chặt chẽ với các giai đoạn tố tụng trước Theo đó, khái niệm

thi hành án được hiểu “là giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng

kết thúc một vụ án được xét xử làm cho phán quyết của Tòa án nhất định có

hiệu lực pháp luật” (Từ điển Luật học-Nhà xuất bản Bách khoa Hà Nọi, 1999)

Với ý kiến xem thi hành án dân sự là hoạt động quản lý hành chính

nhà nước thì cho rằng, quá trình tố tụng mà trọng tâm là việc xét xử của

Tòa án chấm dứt khi Tòa án ra phán quyết nhân danh Nhà nước, trong đó

Tòa án đã xác định quyền, nghĩa vụ của các bên Còn việc thi hành phán

Trang 14

quyết đó lại là một giai đoạn khác, không thuộc quá trình tố tụng, đặc biệt

kể từ khi công tác thi hành án dân sự được chuyển giao từ Tòa án nhân dân các cấp sang các cơ quan thuộc Chính phủ

Theo chúng tôi, cần có cách nhìn nhận rộng hơn về thi hành án, đặc biệt là thi hành án dân sự Khác với thi hành án hình sự, thi hành án dân sự mang đậm tính chất "tư", tính dân sự, theo đó các bên có quyền tự thi hành, thỏa thuận, định đoạt các quyền, nghĩa vụ đã được tòa án quyết định Vì vậy, thi hành án dân sự cần được hiểu không chỉ là một hoạt động của cơ quan nhà nước, trực tiếp là cơ quan thi hành án, mà còn bao gồm cả sự thực hiện của bản thân các bên có quyền, nghĩa vụ theo bản án, quyết đinh của tòa án Với ý nghĩa đó, thi hành án dân sự được hiểu theo nghĩa rộng là sự thực hiện các bản án, quyết định về dân sự của tòa án, cụ thể là sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự (chủ yếu là các quyền, nghĩa vụ về tài sản) của các bên theo phán quyết của tòa án.

Với tính chất là hoạt động của cơ quan nhà nước, chúng tôi tán thành với quan điểm của PGS.TS Lê Minh Tâm cho rằng, thi hành án (đặc biệt là thi hành án dân sự) không phải là giai đoạn tố tụng, bởi vì thi hành

án có mục đích khác với mục đích tố tụng; tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra trên thực tế, trên cơ sở đó đưa ra cách giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật, còn thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của của Tòa

án đã có hiệu lực pháp luật (Lê Minh Tâm: Thử bàn mấy vấn đề lý luận về thi hành án, Tạp chí Luật học, số 2/2001) Tuy nhiên, hoạt động này gắn kết với quá trình tố tụng trước đó, nó vừa thể hiện tính chất tố tụng tư pháp, vừa thể hiện tính chất quản lý hành chính nhà nước Nó thể hiện quyền lực nhà nước về tư pháp (cơ quan thi hành án có quyền ra các quyết định cưỡng chế, chấp hành viên hoạt động độc lập, cơ quan thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án giải thích, xem xét lại bản án, có quyền hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ

Trang 15

thi hành ), nhưng cũng mang nhiều yếu tố của hoạt động quản lý hành chính nhà nước, như: sự phối hợp của các ngành, chính quyền địa phương,

sự thỏa thuận của các đương sự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo, kháng nghị Với tính chất đó, thi hành án dân sự được hiểu theo nghĩa hẹp là hoạt động nhà nước mang tính chất hành chính- tư pháp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhầm thi hành bản án, quyết định về dân sự theo quy định của pháp luật.

L l.2 2 Khái niệm xã hội hóa thi hành án dân sự

Như trên đã nêu, xã hội hóa là làm cho cái gì đó, việc gì đó trở thành của xã hội Vì vậy, một cách giản đơn, có thể xem xã hội hóa thi hành án dân sự là làm cho việc thi hành bản án, quyết định về dân sự của Tòa án trở thành công việc của xã hội Trên cơ sở quan niệm về thi hành án

mà có thể hiểu xã hội hóa ở các góc độ khác nhau: Nếu thi hành án dân sự được hiểu theo nghĩa rộng là sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ của các bên theo phán quyết của Tòa án, thì xã hội hóa thi hành án dân sự là việc vận động, tổ chức và nâng cao trách nhiệm của các bên có quyền, nghĩa vụ, của cộng đồng và của toàn xã hội trong việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án. Nếu thi hành án dân sự được hiểu theo nghĩa hẹp là hoạt động của cơ quan nhà nước, trực tiếp là cơ quan thi hành án, thì xã hội hóa thi hành án là việc chuyển hoạt động này từ cơ quan thi hành án cho các cá nhân, tổ chức phi nhà nước thực hiện.

Cũng như xã hội hóa nói chung, về hình thức, xã hội hóa thi hành án dân sự thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, xã hội hóa thi hành án dân sự là tạo môi trường pháp lý

để xã hội, cộng đồng tham gia vào hoạt động thi hành án dân sự, trong đó thái độ của xã hội, của cộng đồng trong việc giáo dục, thuyết phục người phải thi hành án thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định của Tòa án Đồng thời cộng đồng xã hội phải có trách nhiệm

Trang 16

giúp đỡ đối với các bên đương sự trong việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án; giúp đỡ cá nhân, tổ chức là người có chức năng thực hiện việc thi hành án.

Thứ hai, xã hội hóa thi hành án dân sự là tạo cơ sở cho các bên liên quan đến thi hành án chủ động thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo phán quyết của Tòa án cũng như xác định rõ trách nhiệm của họ để thực hiện các quyền, nghĩa vụ đó, mà bản chất là xem việc thi hành án như một loại hình dịch vụ pháp lý công

Thứ ba, xã hội hóa thi hành án phải tạo ra một cơ chế tổ chức và hoạt động mới, trong đó từng bước chuyển một số hoạt động thi hành án đang do cơ quan nhà nước, trực tiếp là cơ quan thi hành án thực hiện cho cá nhân, tổ chức phi nhà nước thực hiện Đây là nội dung trọng tâm, đảm bảo cho việc xã hội hóa Các cá nhân, tổ chức này hoạt động với tư cách là tổ chức xã hội nghề nghiệp, được Nhà nước trao cho quyền lực công trong lĩnh vực tư pháp, hoạt động mang tính dịch vụ, nhưng phải bảo đảm những tiêu chí, nguyên tắc nhất định, đảm bảo thi hành kịp thời, đúng đắn bản án, quyết định của Tòa án, bảo đảm quyền lợi của các bên đương sự

Cuối cùng, xã hội hóa thi hành án dân sự không tách rời, làm giảm,

mà góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động thi hành án dân sự; bảo đảm quyền, lợi ích của các bên đương sự, của cộng đồng và của toàn xã hội

Như vậy, xã hội hóa thi hành án dân sự là việc nâng cao trách nhiệm của các bên có quyền, nghĩa vụ, của cộng đồng và của toàn xã hội trong việc thi hành án; từng bước chuyển hoạt động thi hành án dân sự cho cá nhân, tổ chức thực hiện nhằm thi hành kịp thời, đúng đắn các bản

án, quyết định dân sự của Tòa án theo quy định của pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, lợi ích của Nhà nước và của toàn

x ã hội.

Trang 17

1.2 TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC XÃ HỘI HÓA THI HÀNH ÁN DÂN s ự 1.2.1 Cơ SỞ lý luận

Lý luận Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật đã chỉ rõ, với sự phát triển của lực lượng sản xuất, Nhà nước hình thành như một quy luật tất yếu, nhưng đến một lúc nào đó, Nhà nước sẽ tiêu vong, các chức năng của Nhà nước sẽ được chuyển cho các tổ chức xã hội tự quản Tất nhiên, để đi đến thời

kỳ đó, Nhà nước và xã hội loài người còn phải trải qua một thời kỳ phát triển rất lâu dài, song những gì mà lịch sử xã hội loài người trải qua đã chứng minh quy luật đó Từ Nhà nước chiếm hữu nô lệ, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư bản, đến Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một quá trình mà chức năng

xã hội của Nhà nước ngày càng đóng vai trò quan trọng Và đến một lúc nào

đó, khi xã hội không còn giai cấp, chức năng giai cấp của Nhà nước không còn, thì Nhà nước sẽ không còn đúng với nguyên nghĩa của nó như là bộ máy chuyên chính giai cấp và sẽ trở thành một tổ chức xã hội rộng lớn Như vậy, có thể nói, xã hội hóa công việc Nhà nước có tính quy luật khách quan

ở nước ta, trong nhiều nãm trước đây, với việc xây dựng nền kinh tế

kế hoạch, tập trung, Nhà nước đã thay xã hội trực tiếp thực hiện các công việc của xã hội, trở thành người "bao cấp" cho xã hội, làm thay các chức năng mà đáng lý xã hội phải có trách nhiệm thực hiện và có thể thực hiện tốt hơn Xét điều kiện nước ta trong những năm trước đây, thì cơ sở kinh tế -xã hội chưa cho phép Nhà nước trực tiếp thực hiện tất cả các công việc mà

lẽ ra phải do chính xã hội đảm nhận Vì vậy, việc Nhà nước bao sân, can thiệp một cách cứng nhắc vào các quan hệ xã hội đã gây nên tình trạng trì trệ, chậm phát triển, tạo nên sự cồng kềnh, quá tải trong công việc của bộ máy nhà nước cần được giải quyết

Hiện nay, với chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, từng bước xóa bỏ cơ chế quản lỷ kế hoạch tập trung, bao cấp,

Trang 18

tạo sự bình đẳng cho các chủ thể tham gia các giao lưu dân sự, kinh tế Đây

có thể nói là một biểu hiện sinh động và rõ nét nhất của việc xã hội hóa trong lĩnh vực phát triển kinh tế - lĩnh vực đóng vai trò quyết định trong đời sống xã hội Trên cơ sở nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều lĩnh vực trước đây vẫn được coi là chỉ thuộc chức năng của các cơ quan nhà nước đã được giao cho cá nhân, tổ chức phi nhà nước thực hiện Những lĩnh vực mà chúng ta đã và đang tiến hành xã hội hóa manh mẽ là lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa - thể thao

Như chính tên gọi của nó, hoạt động thi hành án dân sự mang đậm tính chất dân sự Mặc dù phán quyết của Tòa án có giá trị bắt buộc đối với các bên trong một vụ án cụ thể, nhưng về bản chất đó mới chỉ là sự phân xử nhân danh nhà nước nhằm xác định quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan

hộ tranh chấp Hoạt động xét xử là hoạt động của nhà nước, có tính chất công, mang tính quyền lực nhà nước về tư pháp và không thể chia sẻ cho cá nhân, tổ chức nhân danh nhà nước thực hiện Tuy nhiên, sau khi Tòa án đã xét xử vụ việc, các quyền, nghĩa vụ của các bên đã được xác định, thì việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ đó lại mang tĩnh chất “tư” giữa các bên, không nhất thiết phải do một cơ quan nhà nước trực tiếp thực hiện Tính dân

sự của thi hành án dân sự thể hiện ở các điểm:

- Các quyền, nghĩa vụ mà các bên đương sự phải thi hành theo bản

án, quyết định của Tòa án là mang tính "tư" (không có tính chất công) Khác với hình phạt trong thi hành án hình sự có tính bắt buộc thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các quyền, nghĩa vụ trong thi hành án dân sự chủ yếu là các quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh giữa các cá nhân, tổ chức phi nhà nước (chỉ trừ một số ít trường hợp quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh giữa cá nhân, tổ chức với nhà nước, như: nộp án phí, tiền phạt, tịch thu )

- Sau khi có bản án, quyết định của Tòa án, các bên đương sự hoàn toàn có thể tự thi hành không cần thông qua cơ quan nhà nước, trực tiếp là

Trang 19

cơ quan thi hành án Cơ quan thi hành án chỉ tổ chức thi hành khi có đơn

yêu cầu của người được thi hành án, trừ trường hợp vì lợi ích công cộng thì

cơ quan thi hành án mới chủ động thi hành

- Dù các quyền lợi và nghĩa vụ của các bên đương sự đã được phân định, định đoạt trong bản án, quyết định của Tòa án, nhưng tại bất kỳ giai

đoạn nào của thi hành án, các bên đương sự vẫn có quyền thỏa thuận với

nhau và tự định đoạt các quyền và nghĩa vụ theo một cách khác đi so với

bản án về phương thức thi hành, thậm chí về nội dung thi hành Cơ quan

thi hành án phải tôn trọng và thực hiện các thỏa thuận đó

Tuy nhiên, trong thi hành án dân sự, nhiều trường hợp cũng thực thi

quyền lực nhà nước về tư pháp Ví dụ: trường hợp áp dụng biện pháp cưỡng

chế thi hành án chẳng hạn Vì vậy, có quan điểm cho rằng, trong tình hình

hiện nay, khi chúng ta đặt vấn đề xã hội hóa thi hành án dân sự phải chăng

sẽ chia sẻ cả quyền lực nhà nước về tư pháp?

Chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng, quyền lực nhà nước

nói chung và quyền lực tư pháp nói riêng bắt nguồn từ nhân dân; cơ quan

nhà nước được trao quyền lực này không phải để phục vụ chính nó mà là để

phục vụ nhân dân Mặt khác, quyền lực nhà nước được thể hiện ở nhiều lĩnh

vực, bằng nhiều hình thức khác nhau Một tổ chức không phải là của nhà

nước nếu được pháp luật giao cho trách nhiệm giải quyết một loại công việc

(thi hành án dân sự chẳng hạn), dù khi cần thiết cũng có thể được sử dụng

những yếu tố của quyền lực nhà nước: có quyền yêu cầu sự hỗ trợ của chính

quyền, của cơ quan cảnh sát v.v để thực thi công việc được giao Đặc biệt

trong thi hành án dân sự, việc thực hiên bản án, quyết định của Tòa án trước

hết thuộc về các bên có quyền và nghĩa vụ; ngay cả sau khi cơ quan thi

hành án đã thụ lý thi hành, thì nhiều hoạt động cũng không cần phải sử

dụng quyền lực tư pháp, như: tống đạt các quyết định, giấy tờ, xác minh tài

sản của người phải thi hành án v.v [36, tr 116]

Trang 20

Cần nói thêm rằng, trong hoạt động quản lý xã hội của nhà nước ta hiện nay còn mang nặng tính bao cấp của nhà nước, nhiều hoạt động thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, dịch vụ công cộng , vẫn do cơ quan nhà nước trực tiếp thực hiện Trong hoạt động tố tụng, sự bao cấp này cũng thể hiện khá rõ nét từ hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ đến thi hành án Điều này đã gây nên sự quá tải ừong việc giải quyết các tranh chấp, dẫn đến tình trạng tồn đọng, chậm trễ, thiếu chính xác trong hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và tư pháp nói riêng Ngày nay chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền, đề cao nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, cần có cách nhìn mới về việc phân định trách nhiệm và thẩm quyền giải quyết công việc phục vụ lợi ích của cộng đồng Theo chúng tôi, cần xác định rõ hơn trách nhiệm của nhà nước, của cá nhân các bên trong các quan hệ dân sự -tế, theo

đó, trong các quan hệ dân sự-kinh tế, trách nhiệm hàng đầu trước hết là thuộc về các bên với những nguyên tắc đặc thù đã được ghi nhận trong Bộ luật dân sự: trung thực, tự thỏa thuận, tự chịu trách nhiệm Nhà nước không thể đứng ra bảo đảm cho dân trong mọi quan hộ dân sự, kinh tế, lại càng không thể làm thay cho dân những công việc mà đáng lẽ chỉ nên để dân tự làm lấy Vai trò của Nhà nước trong một số lĩnh vực nhất định chỉ là trọng tài, là người làm chứng cho giao dịch của các bên, bảo đảm những điều kiện nhất định cho việc thực hiện các giao dịch đó

Tóm lại, thi hành án dân sự là hoạt động nhằm bảo vệ "tư quyền", vì vậy trước hết do các bên thực hiện Nhà nước không nên, và trong điều kiện hiện nay cũng không thể làm thay một cách có hiệu quả toàn bộ hoạt động trong lĩnh vực này Việc thi hành bản án, quyết đinh dân sự của Tòa án trước hết phải do các bên thực hiện; nhà nước chỉ nên đóng vai trò trung gian, áp dụng quyền lực nhà nước để thực hiện khi cần thiết Muốn như vậy, nhà nước cần tạo cơ sở pháp lý để các bên dễ dàng thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình theo bản án, đặc biệt cho phép các cá nhân, tổ chức phi

Trang 21

nhà nước hành nghề trong việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa

án với tính chất là hoạt động dịch vụ pháp lý công Có như vậy mới giảm

thiểu gánh nặng về nhân lực, ngân sách cho nhà nước, tạo sự chủ động, phát

huy nguồn lực nhân dân, tăng cường hiệu quả trong hoạt động thi hành án

Đây cũng là cách làm mà nhiều quốc gia đã áp dụng thành công

1.2.2 Cơ sở thực tiễn

Về thực ừạng tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự với những tồn

tại, bất cập và phương hướng giải quyết sẽ được đề cập cụ thể ở phần sau ở

đây, chúng tôi xin nêu một số lợi ích chủ yếu mà xã hội hóa thi hành án dân

sự đem lại

Thứ nhất, xã hội hóa sẽ làm giảm khối lượng công việc của cơ quan thi

hành án dân sự hiện nay, khắc phục được một bước tình trạng tồn đọng án.

Số liệu thống kê cho thấy, số việc tồn đọng chuyển từ năm trước

sang năm sau đang ngày càng tăng và hiện nay đã chiếm quá nửa vụ việc

phải thi hành Vấn đề án tồn đọng sẽ được giải quyết cơ bản nếu thực hiện

xã hội hóa với các lý do:

- Thực hiện xã hội hóa với việc giới hạn tối đa loại việc cơ quan thi hành án chủ động thi hành cũng như hình thức miễn, giảm thi hành án (đối

với các khoản trực tiếp nộp ngân sách nhà nước) sẽ góp phần làm giảm

lượng án tồn đọng do người phải thi hành án không có điều kiện thi hành

đối với khoản cơ quan thi hành án chủ động thi hành Mặt khác, trách

nhiệm xác minh điều kiện thi hành của người phải thi hành án và phải nộp

phí thi hành án, trước khi yêu cầu thi hành án, người được thi hành án phải

cân nhắc, xem xét hiệu quả của việc thi hành án, nếu xét thấy người phải thi

hành án không có điều kiện thi hành, thì họ sẽ không yêu cầu cơ quan thi

hành án thi hành Như vậy, lượng việc phải thi hành giảm đi, cơ quan thi

hành án sẽ có điều kiện tập trung chấp hành viên, cán bộ thi hành án cũng

như kinh phí để tổ chức thi hành có hiệu quả những việc còn lại

Trang 22

- Do tồn tại như một loại hình dịch vụ công, nên khi thực hiện xã hội hóa, tính chất, phương cách thi hành án, lề lối, thái độ phục vụ trong thi hành

án dân sự sẽ tốt hơn Như thế sẽ tránh được sự quan liêu, cửa quyền, sách

nhiễu, một hiện tượng đang tiềm ẩn trong hoạt động thi hành án dân sự hiện

nay Khi đã được xã hội hóa, các tổ chức, cá nhân có chức năng thi hành án

sẽ cạnh tranh lành manh trên cơ sở nâng cao hiệu quả thi hành án để bảo vệ

uy tín cho tổ chức mình Và như vậy sẽ tạo thêm sự lựa chọn cho người dân

trong thi hành án, phù hợp vói điều kiện, khả năng cụ thể của mình

Thứ hai, xã hội hóa góp phần làm giảm gánh nặng về nhãn lực và

chi phí tài chính của Nhà nước cho hoạt động thi hành án dân sự.

Tổng biên chế của các cơ quan thi hành án hiện nay đã thực hiện lên

đến 4.212 người, trong đó có 1.778 chấp hành viên (số liệu tính đến tháng 6

năm 2001) với số kinh phí cấp cho hoạt động của cơ quan thi hành án là

hơn 90 tỷ đồng, bao gồm kinh phí cho hoạt động thường xuyên, kinh phí

cho xây dựng trụ sở và kinh phí mua sắm tài sản cố định Nếu thực hiện xã

hội hóa, hoạt động thi hành án sẽ do cá nhân, tổ chức xã hội đảm nhận; họ

không phải là công chức nhà nước, tự trang trải cho hoạt động của mình

Như vậy, xã hội hóa thi hành án dân sự sẽ giảm được tối đa số biên chế

cũng như kinh phí cho hoạt động thi hành án, góp phần khắc phục tình trạng

cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả của bộ máy nhà nước ta hiện nay

Thứ ba, x ã hội hóa hoạt động thi hành án dân sự s ẽ khuyến khích

nhân dân tham gia vào tĩnh vực thi hành án dân sự, nâng cao tính tích cực,

tự chủ của nhân dân, chia sẻ trách nhiệm với Nhà nước, góp phần tăng

cường dân chủ trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước.

Cuối cùng, xã hội hóa hoạt động thi hành án dân sự góp phần tạo

sự bình đẳng giữa các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ dân sự, kinh tế,

tạo động lực cho phát triển kinh tế- xã hội.

Toàn bộ những điều trên đây góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động

thi hành án dân sự, góp phần kiện toàn bộ máy nhà nước ta

Trang 23

1.2.3 Chủ trương xã hội hóa của Đảng và Nhà nước

Với chủ trương xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung bao cấp, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện xã hội hóa nhiều lĩnh vực hoạt động của

bộ máy Nhà nước Chủ trương đó bắt nguồn từ bản chất tốt đẹp của chế độ, của Nhà nước ta - Nhà nước của dân, do dân và vì dân Bài học dựa vào dân, lấy dân làm gốc đã được Đảng ta đúc rút từ thực tiễn cách mạng và truyền thống tốt đẹp hàng ngàn năm của dân tộc Ngày nay, trong công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng ta tiếp tục huy động sức manh, nguồn lực của tất cả các tầng lớp nhân dân, coi đây là yếu tố quyết định đảm bảo cho thắng lợi của mọi nhiệm vụ cách mạng Từ thực tiễn mười lăm năm đổi mófi, Đảng ta đã rút ra bài học: Đổi mới phải dựa vào dân, vì lợi ích của dân, phù hợp với thực tiễn luôn luôn sáng tạo [3, tr 81] Xã hội hóa các công việc Nhà nước là hình thức, biện pháp nhằm thực hiện chủ trương phát huy sức manh và quyền làm chủ của nhân dân trong điều kiện Đảng ta chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng xác định: "Thực hiện phương châm xã hội hóa các hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình và các mặt xã hội khác, hướng vào nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất, tinh thần và thể lực của nhân dân" [2, tr 39] Đánh giá việc thực hiện chủ trương này trong Báo cáo của Chính phủ trình bày tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa X đã nhận định: "Chủ trương xã hội hóa các hoạt động văn hóa, xã hội đã được cụ thể hóa phương hướng, biện pháp đối với từng lĩnh vực cụ thể Tuy đã có một số chuyển động bước đầu, song nhìn chung hoạt động của các đơn vị sự nghiệp làm dịch vụ công về văn hóa, xã hội vẫn nặng tính chất hành chính, ỷ lại, trông chờ vào kinh phí Nhà nước, chưa có phân biệt rõ cơ quan hành chính công quyền với các đơn

vị sự nghiệp về tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động Để khắc phục tình

Trang 24

trạng này Chính phủ đưa ra giải pháp: " thực hiện Nghị định khuyên khích các thành phần kinh tế tham gia và áp dụng bước đầu cơ chế mới đối với các đơn vị sự nghiệp làm dịch vụ công theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 Chủ trương này có liên quan đến cuộc sống và lợi ích của mọi gia đình, nên cần làm thí điểm với sự chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm trước khi mở rộng".

Tại Nghị quyết đại hội lần thứ IX, Đảng ta tiếp tục chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa với nhiều hình thức: Phát triển nhanh các loại hình dịch vụ tài chính, ngân hàng, kiểm toán, tư vấn pháp luật, dịch vụ trí tuệ, tin học, dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục, thể thao Đối với hoạt động tư pháp, Nghị quyết của Đảng đã chỉ rõ: "Cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan Tư pháp Tổ chức lại cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án theo nguyên tắc gọn đầu mối Thành lập Cảnh sát tư pháp" và: "Cải cách hệ thống tư pháp, bảo đảm các quyển dân chủ của công dân, tăng cường các tổ chức hỗ trợ tư pháp Nâng cao việc giám sát của nhân dân đối với các cơ quan nhà nước Hỗ trợ và khuyến khích các tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận mà vì nhu cầu và lợi ích của dân Những tổ chức này có thể được Nhà nước ủy quyền thực hiện một số nhiệm vụ, cung cấp một số dịch vụ công với sự giám sát của cộng đồng Thông qua đó Nhà nước có thể tập trung sức lực để thực hiện những nhiệm

vụ quan trọng hơn" [3, tr 339]

Chủ trương trên của Đảng đã được Nhà nước triển khai thực hiện trên thực tế, đặc biệt là trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, thể thao, văn hóa Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật cụ thể hóa chủ trương xã hội hóa của Đảng, như Nghị định số 90/CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các lĩnh vực hoạt động giáo dục, y

tế, văn hóa; Nghị đinh của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao Trong

Trang 25

lĩnh vực thi hành án dân sự, Chỉ thị số 20/2001/CT-TTg ngày 11/9/2001 của

Thủ tướng Chính phủ về tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành

án đã chỉ rõ: " sự phối hợp của các cấp, các ngành, các đoàn thể trong công

tác thi hành án chưa chặt chẽ; chưa huy động được sức manh của hệ thống

chính trị, sự tham gia tích cực của toàn xã hội " Trên cơ sở đó, Chỉ thị coi

việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật nói chung và chấp hành bản án,

quyết định của Tòa án nói riêng của cán bộ, nhân dân, phát huy vai trò của

quần chúng, của các đoàn thể trong hoạt động thi hành án là một giải pháp

quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự

Như vậy, có thể nói, trong tiến trình cải cách hành chính, cải cách tư

pháp nói chung, vấn đề xã hội hóa thi hành án dân sự đã bước đầu được

khẳng định Nội dung này đã bước đầu được thể hiện ở Dự thảo Pháp lệnh

thi hành án dân sự sửa đổi, Dự thảo Luật thi hành án đang được các cơ quan

chức năng soạn thảo

1.3 S ơ LƯỢC LỊC H s ử XÃ HỘI HÓA THI HÀNH ÁN DÂN s ự

V IỆT NAM

1.3.1 Thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

Dưới chế độ phong kiến, hoạt động thi hành án đặc biệt là thi hành

án dân sự chưa được coi trọng; các luật lệ lúc bấy giờ chưa phân định rõ

giữa thi hành án và xét xử Một số bộ luật lớn cũng như các văn bản khác

lúc bấy giờ như, Bộ luật Hồng Đức, Gia Long , chỉ đề cập đến việc xác

định tội danh, hình phạt và xét xử; việc thi hành các phán xét của quan tòa

chưa được đề cập cụ thể Cũng cần thấy rằng, với tính chất và cấu trúc bộ

máy nhà nước phong kiến, các hoạt động hành pháp, tư pháp, lập pháp

không phải đồng nhất, nhưng cũng không được thực hiện bởi các tổ chức

riêng rẽ, đặc biệt ở chính quyền địa phương Hoạt động thi hành án lúc bấy

giờ chủ yếu là thi hành các hình phạt về hình sự và thực sự mờ nhạt trong

các hoạt động có tính chất tư pháp

Trang 26

Dưới chế độ thực dân, hoạt động thi hành án dân sự được thực hiện bởi tổ chức Thừa phát lại Chế định Thừa phát lại xuất hiện ở Việt Nam cùng với sự đô hộ của thực dân Pháp Nhìn chung, Thừa phát lại được tổ chức ở Việt Nam, với nhiệm vụ: Tại phiên tòa, Thừa phát lại có nhiệm vụ thông báo tòa khai mạc và bế mạc, gọi các đương sự, nhân chứng, thi hành lệnh giữ trật tự; ngoài Tòa án, Thừa phát lại tống đạt giấy

tờ theo yêu cầu của Tòa án, thi hành án văn có hiệu lực pháp luật, triệu tập đương sự, lập các vi bằng theo quy định của pháp luật, phát mại động sản hay bất động sản Về tổ chức, Thừa phát lại (huissier) là công lại do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm và quản lý, hành nghề trên cơ sở quy định của pháp luật, được hưởng thù lao của khách hàng theo biểu giá quy định Tổ chức Thừa phát lại chủ yếu tồn tại, hoạt động ở các thành phố lớn, còn ở các vùng nông thôn việc thi hành án do chính quyền cơ sở đảm nhiệm

Tổ chức Thừa phát lại đã hình thành, tồn tại ở Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho đến năm 1950, và sau đó còn tiếp tục tồn tại dưới chế độ ngụy quyền Sài Gòn cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng

Như vậy, Thừa phát lại là một tổ chức xã hội nghề nghiệp, nhưng lại được cơ quan công quyền ủy thác thực hiện một số công việc trong lĩnh vực

tư pháp và do đó, hoạt động của Thừa phát lại mang yếu tố quyền lực nhà nước nói chung và quyền lực tư pháp nói riêng

Với chế định Thừa phát lại, vấh đề xã hội hóa thi hành án dân sự đã

đã thực hiện tương đối rộng rãi Tuy nhiên, xét dưới góc độ bản chất của Nhà nước, thì mặc dù thi hành án dân sự đã được xã hội hóa để các tổ chức phi nhà nước đảm nhận, nhưng thực chất các tổ chức đó cũng phục vụ cho Nhà nước thực dân, phong kiến, Nhà nước của giai cấp tư sản, địa chủ, không phải đại diện cho đông đảo nhân dân

Trang 27

1.3.2 Thòi kỳ từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay

1.3.2.1 Giai đoạn từ 1945 -1950

Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, tổ chức thi hành án dân sự đã được được hình thành và tồn tại dưới hai hình thức là: Thừa phát lại và Ban tư pháp xã Trên cơ sở sắc lệnh ngày 10/10/1945 của Chủ tịch

Hồ Chí Minh về việc cho giữ tạm thời các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam bộ cho đến khi ban hành những Bộ luật chung thống nhất cho toàn quốc, nếu những đạo luật ấy "không tó i với các nguyên tấc độc lập của Nhà nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa", chế định Thừa phát lại tiếp tục được duy trì Tại sắc lệnh số 130 ngày 19/7/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Viêt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quy định: Trong các xã, thị xã hoặc khu phố, chủ tịch, phó chủ tịch và thư ký đều chịu trách nhiệm thi hành những lệnh, mệnh lệnh hoặc án của các Tòa án; ở những nơi nào đã có Thừa phát lại riêng, thì đương sự có quyển nhờ Thừa phát lại riêng thi hành mệnh lệnh, sắc lệnh cũng quy định: Các bản toàn sao hoặc trích sao bản án hoặc mệnh lệnh do các phòng lục sự phát cho các người đương sự để thi hành các án, hoặc mệnh lệnh của các Tòa án hộ đều phải có thể thức thi hành, ấn định như sau: "Vậy, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa truyền cho các Thừa phát lại theo yêu cầu của đương sự thi hành bản án này, các ông Chưởng lý và Biên lý kiểm sát việc thi hành án chỉ huy binh lực giúp đỡ mỗi khi đương sự chiếu luật yêu cầu"

Có thể nói, trong giai đoạn này, vấn đề xã hội hóa thi hành án dân

sự thể hiện rất đặc thù Đó là sự kết hợp giữa Nhà nước và tổ chức phi nhà nước trong thi hành án dân sự Hoạt động thi hành án dân sự vừa được cơ quan công quyền, trực tiếp là ủy ban nhân dân xã, phường thực hiện, vừa do

tổ chức xã hội nghề nghiệp là tổ chức Thừa phát lại đảm nhận Đây là điểm đặc thù của hoạt động thi hành án trong thời gian đầu của Nhà nước mới giành được độc lập, thể hiện bước chuyến tiếp từ cơ chế, tổ chức bộ máy

Trang 28

Nhà nước cũ sang cơ chế tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước mới

Cơ chế này vừa bảo đảm tính linh hoạt, quyền chủ động và định đoạt cho các bên đương sự, vừa bảo đảm thực hiện bởi tác động của Nhà nước

ỉ.3.2.2 Giai đoạn từ năm 1950 đến tháng 10 năm 1992

Ngày 22/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 85/SL về

"cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng" Theo quy định này, việc thi hành

án dân sự do Thừa phát lại và Ban tư pháp xã thực hiện trước đây được thay thể bằng thẩm phán Tòa án huyện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chánh án Sự kiện này đã làm thay đổi căn bản cơ chế, tổ chức hoạt động thi hành án dân

sự Thi hành án dân sự từ chỗ căn cứ vào yêu cầu của đương sự đã trở thành trách nhiệm của Nhà nước Tòa án chủ động thi hành án dân sự mà không chờ yêu cầu của người được thi hành án

Tiếp đó, Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1960 đã xác định: "Tại các Tòa án nhân dân địa phương có nhân viên chấp hành án làm nhiệm vụ thi hành những bản án và quyết định dân sự, những khoản xử về bồi thường và tài sản trong các bản án, quyết định hình sự" (Điều 24), đồng thời Luật cũng xác định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của chấp hành viên, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự

Theo quy định, chánh án Tòa án nhân dân địa phương có trách nhiệm quản lý, chỉ đạo chấp hành viên của Tòa án mình; đôn đốc, kiểm tra, hướng dẫn công tác thi hành án của Tòa án nhân dân cấp dưới; chỉ đạo công tác thống kê, sơ kết, tổng kết công tác thi hành án, giải quyết khiếu nại về thi hành án và xây dựng, bồi dưỡng, quản lý đội ngũ chấp hành viên

Ngày 28/8/1989, Pháp lệnh thi hành án dân sự ra đời đã tạo cơ sở pháp lý về quyền tự định đoạt của các bên đương sự và là một nguyên tắc quan trọng trong thi hành án dân sự Bên canh quy định quyền tự định đoạt của đương sự, Pháp lệnh năm 1989 cũng có những quy định về quyền chủ động thi hành án của cơ quan thi hành án trong nhũng trường hợp nhất định,

Trang 29

nhằm bảo vệ kịp thời lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và công dân (Ví dụ: những bản án, quyết định về trả lại tài sản, hoặc bồi thường thiệt hại tài sản XHCN, phạt tiền, tịch thu, án phí; những bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay).

Như yậy, kể từ năm 1950, thi hành án dân sự chính thức do Tòa án đảm nhận; người trực tiếp thi hành là chấp hành viên - công chức thuộc Tòa

án Trong thời gian dài chúng ta quan niệm rằng, mọi bản án, quyết định nhân danh Nhà nước là bắt buộc thi hành; coi hoạt động thi hành án dân sự

là trách nhiệm của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức khi tranh chấp đã được Tòa án ra phán quyết Đây cũng là tình trạng chung trong hoạt động của bộ máy Nhà nước ta những năm trước đây, khi Nhà nước thực hiện chủ trương xây dựng nền kinh tế tập trung bao cấp Chỉ sau khi có Pháp lệnh thi hành án dân sự 1989 thì quyền tự định đoạt của các bên đương sự bắt đầu được ghi nhận Theo đó, trừ những bản án, quyết định mà cơ quan thi hành

án chủ động thi hành, số còn lại, người được thi hành án phải có đơn yêu cầu thi hành án, thì cơ quan thi hành án mới thụ lý và tổ chức thi hành

1.3.2.3 Giai đoạn từ tháng 10 năm 1992 đến nay

Tiếp tục thực hiên sự nghiệp đổi mới của đất nước, trong đó có việc cải cách nền hành chính, cải cách tư pháp, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa IX ngày 6/10/1992 đã thông qua Nghị quyết về việc bàn giao công tác thi hành án từ Tòa án nhân dân các cấp sang các cơ quan thuộc Chính phủ Trên cơ sở đó, Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993 ra đời đã tạo ra bước ngoặt về tổ chức và hoạt động của công tác thi hành án dân sự ở nước ta, theo đó công tác thi hành án dân sự được chuyển từ Tòa án nhân dân sang các cơ quan thuộc Chính phủ

Địa vị độc lập của chấp hành viên, quyền tự định đoạt của các bên trong thi hành án tiếp tục được khẳng định Trên cơ sở Pháp lệnh thi hành

án dân sự 1993, mô hình tổ chức cơ quan thi hành án dân sự được được thiết

Trang 30

lập với hai loại cơ quan: cơ quan quản lý công tác thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án dân sự Mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động được xác lập theo Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993 được củng cố, hoàn thiện và tồn tại cho đến nay.

Tóm lại, vấn đề xã hội hóa thi hành án dân sự đã được thực hiện ở nước ta trong nhiều năm trước đây Tùy từng thời kỳ mà việc xã hội hóa thi hành án dân sự được thể hiện ở các hình thức, phạm vi và mức độ khác nhau Trong thời kỳ đầu sau khi nước nhà giành được độc lập, xã hội hóa thi hành án còn mang nhiều dấu ấn của tổ chức thi hành án nước ngoài (Cộng hòa Pháp); trong thời kỳ đấu tranh thống nhất Tổ quốc và xây dựng

xã hội chủ nghĩa với chủ trương xây dựng nền kinh tế kế hoạch tập trung,

xã hội hóa thi hành án chủ yếu thể hiện khía canh bản chất nhà nước - Nhà nước của toàn dân, Nhà nước thực hiện cũng chính là xã hội thực hiện Hiện nay, với đường lối đổi mói, trên cơ sở nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang chủ trương xây dựng, xã hội hóa thi hành

án đã thể hiên ở những điểm rõ nét hơn, cu thể hơn Tuy vây, như trên đã nêu, việc xã hội hóa thi hành án dân sự hiện nay cũng mới chỉ dừng lại ở việc xác định một số nội dung về nâng cao trách nhiệm và quyền của các bên đương sự trong thi hành án dân sự Vì vậy, vấn đề đặt ra là, cần chuyển đổi căn bản cơ chế thi hành án dân sự mang nặng tính bao cấp của Nhà nước như hiện hành sang một cơ chế mới, theo đó thi hành án dân sự cần được xem như là một loại hình dịch vụ pháp lý công, Nhà nước chỉ đóng vai trò quản lý và đảm bảo quyền lực tư pháp khi cần thiết

1.4 XÃ HỘI HÓA THI HÀNH ÁN DÂN s ự MỘT s ố NƯỚC

1.4.1 Nhật Bản

Về tổ chức, ở Nhật Bản thi hành án dân sự trước đây do Thừa phát lại đảm nhận (theo Luật số 51 năm 1890 kèm theo Quy chế Thừa phát lại, Quy chế thu lệ phí Thừa phát lại) Đến 1966, khi Luật chấp hành viên ra đời

Trang 31

thì chế đinh Thừa phát lại không còn, thay vào đó là chế định Chấp hành viên Hiện nay cơ quan thi hành án Nhật Bản gồm hai bộ phận: Tòa thi hành án và chấp hành viên Tòa thi hành án là một bộ phận của Tòa án sơ cấp ở Nhật có khoảng 50 Tòa án sơ thẩm Tòa thi hành án quản lý các hoạt động thi hành án trong phạm vi chức năng của mình và trợ giúp chấp hành viên trong thi hành án Tòa thi hành án có quyền ra các quyết định về thi hành án, đặc biệt là các quyết định về kê biên tài sản (bất động sản, máy bay, tàu thuyền ); quyết định việc hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án Tòa thi hành án giải quyết các khiếu nại về thi hành án, có quyền tiến hành kiểm tra việc thi hành án, có quyền yêu cầu lực lượng cảnh sát, cơ quan nhà nước khác hỗ trợ khi thực hiện các công việc theo thẩm quyền của mình.

Cơ quan thi hành án là một cơ quan tư pháp độc lập thuộc Tòa án sơ thẩm Người trực tiếp thi hành án là các chấp hành viên Chấp hành viên là công chức nhà nước hoạt động dưới sự giám sát của Tòa thi hành án Năm

1997 Nhật Bản có 520 chấp hành viên (ở Tokyo có 45 chấp hành viên, trong đó 2/3 số chấp hành viên chuyên về bất động sản, 1/3 chuyên về động sản và 5 nhân viên điều hành)

Chấp hành viên hoạt động trong phạm vi địa hạt thuộc thẩm quyền Tòa án sơ thẩm Khi hoạt động, chấp hành viên được thu lệ phí và chi phí

Lệ phí gồm nhiều loại (có đến 22 loại) như: tống đạt giấy tờ, kê biên tài sản, nhận bàn giao tài sản, bán tài sản, tịch thu tài sản, niêm phong tài sản, kiểm tra tình trạng bất động sản Chi phí cũng bao gồm nhiều loại, như: cước bưu điện, tiền điện thoại, chi phí thông báo, chi phí ăn ở, đi lại, thù lao cho nhân viên kỹ thuật và nhân công, bảo quản tài sản Những chi phí này là chi phí thực tế đã bỏ ra Lệ phí và chi phí theo đơn yêu cầu thi hành án do người yêu cầu chịu và khi yêu cầu, người yêu cầu có thể phải đặt cọc một khoản tiền để phục vụ việc thi hành án Sau khi thi hành xong, chấp hành viên phải quvết toán ngay cho người yêu cầu thi hành án, nếu thiếu, thì vêu

Trang 32

cầu người yêu cầu nộp đủ, nếu thừa thì phải trả lại Chấp hành viên được hưởng một tỷ lộ nhất định trên số lệ phí thu được, trường hợp không đủ để hoạt động thì ngân sách nhà nước cấp bổ sung.

ở Nhật Bản có Luật bồi thường do công chức gây ra trong khi thihành nhiệm vụ Người bị gây thiệt hại phải có đơn kiện và phải chỉ ra lỗi của công chức gây thiệt hại Nếu đúng thì Chính phủ trả tiền trước cho người bị hại, sau đó bắt người gây ra thiệt hại bồi hoàn cho Chính phủ

Như vậy, xã hội hóa thi hành án dân sự Nhật Bản chủ yếu xác định quyền hạn, nghĩa vụ của các bên đương sự Sự tham gia đó thể hiện ở trách nhiệm cung cấp các thông tin về thi hành án và phải chịu các chi phí,

lệ phí thi hành án Mặc dù cơ quan thi hành án là một cơ quan nhà nước, song hoạt động của nó dựa trên kết quả công việc mà nó thực hiện Đó là nguồn tài chính bảo đảm cho hoạt động của cơ quan thi hành án được lấy từ đương sự Nhà nước chỉ đảm bảo những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động cũng như đảm bảo tính quyền lực nhà nước ữong hoạt động của cơ quan thi hành án, chấp hành viên

1.4.2 Cộng hòa Liên bang Đức

Về tổ chức, theo luật Đức, Tòa án khu vực là cơ quan chịu tráchnhiệm thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án

Hệ thống Tòa án của Cộng hòa liên bang Đức gồm: Tòa án khu vực, Tòa án liên khu vực, Tòa án cấp cao của bang và Tòa án tối cao của liên bang, ở Tòa án khu vực có thẩm phán, nhân viên Tòa án, chấp hành viên và nhân viên thi hành án

Địa vị pháp lý của chấp hành viên được quy đinh trong Luật chấp hành viên, Quy chế chấp hành viên Tuy là công chức nhưng chấp hành viên thực hiện công việc của mình một cách độc lập, có con dấu riêng, có văn phòng riêng mang tên chấp hành viên tại Tòa án, được hưởng một khoản lương cố đinh Chấp hành viên có nghĩa vụ tiếp đương sự tại văn

Trang 33

phòng của mình hai lần mỗi tuần Chấp hành viên có nghĩa vụ bảo quản hồ

sơ, lưu giữ hồ sơ các vụ đã được thi hành trong năm năm tiếp theo

Chấp hành viên được hưởng lương và số tiền thù lao được tính trên phần trăm (15%) trên số tiền lệ phí thi hành án do người được thi hành án nộp khi yêu cầu thi hành án, được nhận các khoản tiền thanh toán các chi phí khác như: đi lại, sao chụp tài liệu Chấp hành viên tự trang trải cho hoạt động của văn phòng của mình Khi không thể thi hành được theo đơn yêu cầu, thì chi phí mà chấp hành viên đã bỏ ra trên thực tế đáng lẽ được người yêu cầu thanh toán sẽ do Tòa thi hành án thanh toán từ quỹ của Tòa

án Tất cả các chấp hành viên phải mở tài khoản tại ngân hàng để phục vụ cho công việc của mình (gọi là tài khoản công vụ), mọi hoạt động thu chi từ việc thi hành án đều phải được thực hiện thông qua tài khoản này

Trong trường hợp chấp hành viên không thực hiện tốt chức năng của mình thì có thể bị chánh án Tòa án khu vực trực tiếp phụ trách chấp hành viên ra quyết định kỷ luật

Khi thực hiện nhiệm vụ chấp hành viên có quyền yêu cầu lực lượng cảnh sát, cơ quan công quyền khác hỗ trợ để áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, có quyền khám nhà, xác minh tài sản Chấp hành viên có quyền yêu cầu cảnh sát áp giải đương sự theo giấy triệu tập đến cơ quan thi hành

án, nếu đương sự có tình trốn tránh, báo gọi nhiều lần không đến

Như vậy, xã hội hóa thi hành án dân sự ở Đức thể hiện ở hình thức

tổ chức cơ quan thi hành án dưới dạng bán công Cơ quan Thi hành án (văn phòng chấp hành viên) là một bộ phận trực thuộc Tòa án, chấp hành viên là công chức nhà nước, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, nhung phải

tự trang trải các hoạt động của mình Để trang trải các chi phí đó, chấp hành viên được quyền thu phí và các chi phí về thi hành án Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết, chấp hành viên được Nhà nước hỗ trợ tài chính để hoạt động (trường hợp không thu được phí và chi phí thi hành án)

Trang 34

1.4.3 Cộng hòa Pháp

Về tổ chức, ở Cộng hòa Pháp, thi hành án dân sự do tòa thi hành án

và tổ chức Thừa phát lại đảm nhiệm Theo Đạo luật nãm 1991 về cải cách

thủ tục thi hành án, tại Tòa án sơ thẩm thẩm quyền rộng có các thẩm phán

thi hành án, được chánh tòa chỉ định và ủy quyền phụ trách thi hành án

Trong lĩnh vực thi hành án, thẩm phán thi hành án có trách nhiêm kiểm tra,

giám sát tính hợp pháp hợp lệ của quá trình thi hành án, cho phép tiến hành

các biện pháp kê biên bảo tồn, quyết định thời hạn tạm đình chỉ, đình chỉ

thi hành án, giải quyết các tranh chấp, khiếu nại phát sinh trong quá trình

thi hành án Tuy nhiên, thẩm phán thi hành án không được xem xét lại

quyết định đã có hiệu lực của Tòa án, không được làm gián đoạn việc thi

hành quyết đinh đó nếu không có cơ sở

Cơ quan chịu trách nhiệm trực tiếp thi hành án dân sự là tổ chức Thừa

phát lại Thừa phát lại được thiết lập ở 3 cấp: Hội đồng Thừa phát lại cấp

tỉnh, Hội đồng Thừa phát lại cấp vùng và Hội đồng Thừa phát lại quốc gia

Để được bổ nhiệm làm Thừa phát lại, phải có đủ các tiêu chuẩn, như: là người

mang quốc tịch Pháp, có phẩm chất đạo đức, chưa bị vỡ nợ; phải có bằng

đại học Luật và phải qua hai năm tập sự và phải qua kỳ thi sát hạch nghề

nghiệp Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thẩm quyền bổ nhiệm Thừa phát lại Hiện

nay tại Pháp có khoảng 3.300 Thừa phát lại chính thức, 600 Thừa phát lại tập

sự và khoảng 12.000 nhân viên làm việc tại các văn phòng Thừa phát lại

Về hoạt động, Thừa phát lại có hai nhóm công việc: nhóm cống việc

độc quyền và nhóm cồng việc không độc quyền:

- Trong lĩnh vực độc quyền, Thừa phát lại là người duy nhất có thẩm quyền thực hiện công việc tống đạt các văn bản, quyết định, giấy triệu tập

ra tòa, các văn bản trong quá trình tố tụng, bản án, quyết đinh của Tòa án

Ngoài ra, Thừa phát lại còn có trách ĩihiệm, thậm chí nghĩa vụ phải thông

báo cho công dân về các thủ tục tố tụng, ví dụ quyền và nghĩa vụ của họ khi

Trang 35

đi kiện; khi bản án đã được tống đạt đến cho đương sự, Thừa phát lại phải

chỉ dẫn cho họ biết các khả năng kháng cáo, khiếu nại Tất cả các hoạt động

này đều được quy định rất cụ thể, nếu không tuân thủ các quy định đó đều

bị coi là vô hiệu

Một hoạt động có tính độc quyền thứ hai của Thừa phát lại là thi

hành các bản án, quyết định của Tòa án Việc chuyển bản án, quyết đinh đã

có hiệu lực cho Thừa phát lại có giá trị như giao quyền thi hành án mà

không cần giấy ủy quyền riêng (Điều 507 Bộ luật tố tụng dân sự) Quá trình

thi hành bản án, quyết định của Tòa án, nếu việc thi hành án gặp khó khăn

do có hành vi chống đối, Thừa phát lại có thể yêu cầu can thiệp của lực

lượng công quyền

- Đối với lĩnh vực không nằm trong phạm vi độc quyền, Thừa phát lại làm những công việc như: soạn thảo các văn bản tư chứng thư, tư vấn,

tham gia tố tụng, gợi ý cho thân chủ những điều nên làm như, hỗ trợ doanh

nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc đề phòng các trường

hợp rủi ro không thanh toán tiền, bán đấu giá tài sản, làm các biên bản xác

nhận một tình huống pháp lỷ xảy ra tại một thời điểm xác định v.v Có thể

nói đây là các hoạt động bổ trợ cho các hoạt động khác như: công chứng

viên, luật sư

Thừa phát lại được trả thù lao cho công việc của mình Trong thi

hành án, thù lao được tính theo tỉ lệ khoản nợ được thu hồi do pháp luật quy

định; ngoài thù lao, người được thi hành án cũng phải trả các khoản chi phí

khác, như chi phí cưỡng chế thi hành án Riêng trường hợp Thừa phát lại

thực hiện công việc với tư cách là trợ lý tư pháp do thẩm phán giao, thì chính

thẩm phán sẽ ấn định thù lao cho Thừa phát lại và chỉ rõ bên đương sự nào

phải tạm ứng trước, nếu đương sự không phải trả, thì Nhà nước trực tiếp trả

thù lao cho Thừa phát lại Trong lĩnh vực không độc quyền, thù lao do hai

bên thỏa thuận, tuy nhiên cũng không vượt quá mức theo mật bằng chung

Trang 36

Về trách nhiệm, như trên đã nêu, Thừa phát lại hành nghề theo quy chế tự do, độc lập với chính quyền, không phải tuân thủ cấp trên hay một nhà chức trách nào trong thi hành nhiệm vụ Thừa phát lại chỉ chịu sự giám sát, chịu trách nhiệm trước Tòa án và Viện công tố bên canh Tòa án sơ thẩm có thẩm quyền rộng bởi những sai phạm trong chuyên môn Trong khi thi hành nhiệm vụ, nếu Thừa phát lại gây thiệt hại cho đương sự thì phải bồi thường Nếu Thừa phát lại có hành vi không trung thực, vi phạm pháp luật thì có thể bị đuổi việc hay xử lý về hình sự.

Như vậy, với thiết chế Thừa phát lại, có thể nói vấn đề xã hội hóa thi hành án dân sự ở Pháp đã được thực hiện một cách sâu rộng Nó không chỉ thể hiện ở cơ cấu tổ chức, mà còn thể hiện ở nội dung hoạt động, trách nhiệm của xã hội, trực tiếp là của các bên đương sự đối với hoạt động thi hành án Với mô hình này, thi hành án dân sự đã hoàn toàn giao cho cá nhân, tổ chức phi nhà nước thực hiện với tính chất là dịch vụ công Tuy nhiên, bên canh đó, Nhà nước vẫn tạo ra các điều kiện cần thiết đảm bảo tính quyền lực nhà nước trong hoạt động này v ề phần mình, các bên đương

sự vừa có trách nhiệm đồng thời thực hiện được quyền của mình theo phán quyết của Tòa án ở giai đoạn thi hành án Trách nhiệm ở chỗ, họ phải trả các chi phí, thù lao cho việc thực hiện công việc này với tính chất là chi trả cho một dịch vụ công; quyền hạn ở chỗ, họ có quyền yêu cầu thi hành phán quyết của Tòa án và khi được yêu cầu, Thừa phát lại không được từ chối yêu cầu đó, đồng thời trong quá trình thi hành án, Nhà nước, trực tiếp là Tòa án, cơ quan cảnh sát giám sát, can thiệp nhằm đảm bảo hiệu lực cũng như tính đúng đắn trong hoạt động thi hành

1.4.4 Singapore

Việc tổ chức thi hành án dân sự ở Singapore do Tòa án đảm nhiêm

Hệ thống tổ chức Tòa án ở Singapore gồm: Tòa án tối cao và Tòa án cấp dưới Ở Tòa án tối cao và Tòa án cấp dưới có bộ phận thi hành án Các nhân

Trang 37

viên thi hành án vừa có nhiệm vụ thi hành án vừa có nhiệm vụ tống đạt giấy

tờ, thực hiện các lệnh bắt giữ Nhân viên thi hành án của Tòa án nào thì thi hành bản án của Tòa án đó Nhân viên thi hành án của Tòa cấp dưới không

có quyền bắt giữ tàu biển và thi hành các bản án mà giá trị trên 250.000S$; những bản án này do nhân viên thi hành án Tòa án tối cao thi hành

Theo pháp luật tố tụng Singapore, khi thi hành án, nhân viên thi hành án có các quyền sau:

- Nhân viên thi hành án phải thi hành đúng pháp luật, công khai và không được tham nhũng; phải thực hiện bất kỳ công việc gì theo yêu cầu của tòa Trường hợp cán bộ thi hành án có hành vi tiêu cực sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật hoặc bị chuyển công tác

- Sau khi có bản án, nếu người phải thi hành án không thi hành, thì người được thi hành án làm đơn gửi Tòa án theo mẫu in sẩn Người được thi hành án phải nộp trước một khoản tiền lê phí thi hành án Số tiền đó được trả thù lao cho nhân viên thi hành án (50 s$/giờ) và trang trải cho việc tổ chức thi hành án Ngoài ra người được thi hành án còn phải nộp tiền bảo hiểm, bảo đảm cho việc khắc phục những hậu quả xấu có thể xảy ra trong quá trình cưỡng chế thi hành án

Theo pháp luật Singapore, trong trường hợp người phải thi hành án

là cá nhân thực sự khồng có tài sản để thi hành án thì có thể làm đơn yêu cầu Tòa án quyết đinh tuyên bố phá sản Nếu được Tòa án tuyên bố phá sản thì hoạt động thi hành án đối với họ chấm dứt

Như vậy, ở Singapore, vấn đề xã hội hóa thi hành án dân sự chủ yếu thể hiện ở trách nhiệm của các bên đương sự, theo đó họ phải chịu một khoản lệ phí, chi phí cho việc thi hành án Nhân viên thi hành án là công chức nhà nước, được Nhà nước đảm bảo những điều kiện vật chất, kinh phí cho hoạt động thi hành án; việc thu phí, chi phí chỉ hỗ trợ nhất đinh, giảm bớt phần nào kinh phí từ ngân sách nhà nước cho hoạt động thi hành án

Trang 38

1.4.5 Thụy Điển

Hệ thống cơ quan thi hành án ở Thụy Điển thuộc hệ thống các cơ quan nhà nước Ở cấp Trung ương, cơ quan thi hành án trực thuộc Bộ Tài chính; ở địa phương, tương đương với 10 khu vực hành chính có 10 cơ quan thi hành án khu vực Trong mỗi cơ quan thi hành án có giám đốc, chấp hành viên, nhân viên thanh tra và nhân viên hành chính

Thi hành án dân sự Thụy Điển bao gồm cả thi hành dân sự và thi hành về thuế, thi hành án giản lược Theo thủ tục thi hành án giản lược, cơ quan thi hành án được phép đưa ra thi hành những văn bản có giá trị thi hành là giấy tờ mà trong đó những quyền pháp lý được quy định rõ ràng theo Luật thi hành án Đối với những văn bản này, cơ quan thi hành án có thể ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành án giản lược trả nợ theo yêu cầu của chủ nợ khi đến hạn thanh toán nợ mà con nợ không thanh toán Nếu bên con nợ phủ nhận nợ thì có thể đệ đơn yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự

ở Thụy điển, cơ quan thi hành án được quyền thu lộ phí thi hành án theo mức do pháp luật quy định Ngoài lệ phí thi hành án, người phải thi hành án còn phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án, nếu có

1.4.6 Nhận xét

Qua xem xét mô hình và tổ chức hoạt động thi hành án dân sự một

số nước cho thấy, tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở các nước là không đồng nhất Một số nước, những người làm trong các tổ chức thi hành

án dân sự là công chức nhà nước, do Nhà nước tuyển dụng, trả lương (Đức, Nhật, Thụy Điển ) Các nước này quan niệm rằng, Tòa án nhân danh cồng

lý ra bản án, do đó Nhà nước có nghĩa vụ tổ chức đảm bảo công lý được thực thi trên thực tế Một số nước (Pháp, úc ) cơ quan thi hành án không phải là cơ quan nhà nước, người trực tiếp thi hành bản án, quyết định của Tòa án tuy do Nhà nước bổ nhiệm theo tiêu chuẩn, nhưng không phải là

Trang 39

công chức nhà nước, không hưởng lương từ ngân sách nhà nước mà hưởng lương từ thù lao do thực hiện công việc thi hành án Các nước này có quan niệm: xem thi hành án là loại dịch vụ công, Nhà nước không nên trực tiếp thực hiện, mà chia sẻ cho các tổ chức phi nhà nước thực hiện sẽ tốt hơn, Nhà nước chỉ đóng vai trò hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và ấn định mức thu phí.

Mặc dù cơ chế tổ chức và hoạt động khác nhau, nhưng nhìn chung các quốc gia đều đảm bảo hiệu lực thi hành bản án, quyết định của Tòa án, trong đó đáng chú ý là vai trò của Tòa án trong quá trình thi hành án là rất lớn, như: giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình thi hành án, quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, kiểm tra, giám sát quá trình thi hành án , đồng thời có cơ chế xác định trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc thi hành án, đặc biệt là trách nhiệm của cơ quan cảnh sát Chính vì vậy, cho dù cơ quan thi hành án không phải là một cơ quan thuộc hệ thống cơ quan nhà nước, nhưng không vì thế mà giảm hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động, v ề hoạt động, dù một số cơ quan thi hành án

là cơ quan nhà nước, nhưng Nhà nước không hoàn toàn bao cấp mà đều có quy định xác định rõ trách nhiệm và quyền đinh đoạt của của đương sự trong quá trình thi hành án, đó là việc thu lệ phí và chi phí thi hành án, xác định, trách nhiệm xác minh điều kiện của người phải thi hành án của người yêu cầu

Về chức năng, nhiệm vụ, cơ quan thi hành án ở các nước cũng có

sự khác nhau Nhìn chung, chức năng chính của cơ quan thi hành án là thi hành các bản án, quyết đinh dân sự của Tòa án (dân sự theo nghĩa rộng), ngoài ra cơ quan thi hành án cũng thi hành quyết định của trọng tài, quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, cá biệt còn thi hành các văn bản đã được công chứng, chứng thực các khoản thuế (Đức, Thụy Điển )- Ngoài nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan thi

Trang 40

hành án còn thực hiện một số công việc khác, như tống đạt các văn bản, lập các chứng thư, bán đấu giá tài sản, tư vấn cho khách hàng (Pháp, Đức, Nhật ).

Tóm lại, xã hội hóa thi hành án dân sự được thực hiện ở hầu hết các quốc gia Tuy nhiên, tùy điều kiện và quan niệm khác nhau của từng quốc gia mà việc xã hội hóa thi hành án dân sự ở các nước thể hiện ở hình thức

và mức độ khác nhau, như: xã hội hóa một cách toàn diện, theo đó thi hành

án dân sự do tổ chức phi nhà nước đảm nhiệm, không dùng kinh phí nhà nước; hoặc xã hội hóa ở mức độ nhất định, theo đó thi hành án dân sự do cơ quan nhà nước thực hiện, nhưng được thu lệ phí và các chi phí về thi hành

án, đồng thời xác định trách nhiêm của đương sự trong việc cung cấp thông tin, xác minh điều kiện thi hành của người phải thi hành án Xã hội hóa nhưng vẫn đảm bảo hiệu lực, hiệu quả hoạt động thi hành án với các yếu tố như: sự can thiệp và sử dụng quyển lực nhà nước, kể cả biện pháp bắt giam;

ý thức tôn trọng pháp luật nói chung và phán quyết của Tòa án nói riêng; thiết lập các thiết chế khác hỗ trợ cho hoạt động thi hành án

Ngày đăng: 02/08/2020, 20:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Từ điển luật học , Nhà xuất bản Bách khoa, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển luật học
Nhà XB: Nhà xuất bản Bách khoa
8. Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin
9. Từ điển tiếng Việt , Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin
16. Luật thi hành án dãn sự Nhật bản (Luật sửa đổi số 91 năm 1989) - Bản dịch tại Hội thảo Luật thi hành án dân sự Nhật Bản, Hà Nội, ngày 11/11/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thi hành án dãn sự Nhật bản
17. Luật s ố 91- 650, ngày 91711991 về cải cách thủ tục thi hành án dân sự của Cộng hòa Pháp (bản dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật s ố 91- 650, ngày 91711991 về cải cách thủ tục thi hành án dân sự của Cộng hòa Pháp
23. Giáo trình Luật tố tụng dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng dân sự
24. Nghị quyết s ố 33/Ỉ999/QHỈ0 ngày 2111211999 của Quốc hội khóa X, Kỳ họp thứ 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết s ố 33/Ỉ999/QHỈ0 ngày 2111211999
25. Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Những cơ sỏ lý luận và thực tiễn về c h ế định Thừa phát lại , Mã số 95-98/114/ĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sỏ lý luận và thực tiễn về c h ế định Thừa phát lại
26. Trần Văn Quảng (1996), Những cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự, Luận văn Thạc sĩ luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự
Tác giả: Trần Văn Quảng
Năm: 1996
27. Đề án kiện toàn tổ chức, tinh giản biên chế, Bộ Tư pháp, 8/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án kiện toàn tổ chức, tinh giản biên chế
31. Nguyễn Công Long (2000), Các biện pháp cưỡng c h ế thi hành án dân sự, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện, Luận văn Thạc sĩ luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp cưỡng c h ế thi hành án dân sự, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện
Tác giả: Nguyễn Công Long
Năm: 2000
32. Tài liệu Hội thảo pháp luật tố tụng, Nhà pháp luật Việt - pháp, Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội thảo pháp luật tố tụng
1. Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII Khác
2. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Khác
3. Văn kiện Đại hội đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Khác
4. Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 Khác
5. Pháp lệnh thi hành án dân sự 1989 Khác
6. Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993 Khác
10. Việt Nam Quốc dân Công báo 1949,1950 Khác
11. Sắc lệnh s ố 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tô' tụng Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w