Luận vân thạc sỹĐiều 2 của Các qui tắc và thực hành thông nhất tín dụng chứng từ, xuất bản phẩm sô 500 đã đưa ra một định nghĩa như sau: “Những thuật ngữ “Tín dụng chứng từ ” và “Thư tín
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ l ư PH Á P
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Bùi Thị Thu H iền
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi tới Tiến sỹ Đinh Dũng Sỹ, chuyên viên Vụ Pháp chế Văn phòng Chính phủ lòng biết ơn chân thành của mình Trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án này, Thày đã khổng tiếc thời gian và công sức hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi Không có những gợi ý, hướng dẫn cũng như những ý kiến phê bình của Thày, luận án này đã không thể hoàn thành được như ở đây
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin cảm ơn bô" mẹ, chồng và các em trong gia đình tôi, những người đã khuyến khích, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận án này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thày cô giáo Trường Đại học Luật Hà Nội, các thày cô giáo người Việt cũng như người Pháp đã tham gia giảng dạy lớp Cao học pháp luật Việt - Pháp khoá 1 Những năm tháng học tại Trường Đại học Luật và đặc biệt là tại khoá Cao học Việt - Pháp là những năm tháng bổ ích cho kiến thức và công việc của tôi
Sau cùng, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến các đồng nghiệp, các bạn học cùng lđp và các bạn bè khác, những người, bằng nhiều cách khác nhau đã giúp tôi SƯU tầm tài liệu và động viên tôi hoàn thành bản luận án này
Bùi Thị Thu Hiền
Trang 4MỤC LỤC
PI1ẦN MỞ D Ầ U 1
1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỮL' 2
2 N i u í : mv i ; n g h i ê n c ữ r 2
3 G iớ i HẠN ĐỀ T À I 3
4 C ơ s ở PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 4
5 B Ố CỤC LUẬN V Ă N 4
1M1ẨN NỘI D U N G 5
CHƯƠNG I - MỘT SỐ VẤN ĐỀ l ý l u ậ n v ề t h ư t í n d ụ n g 5
1 N g u ổ n g ố c h ì n h t h à n h t h ư t í n d ụ n g 5
2 K.I1ẢI \ i i : m TIIƯTÍN D I /N G 6
„ 2.1 Dịnh nghĩa thư tin d ụ n g 6
2.2 Vai trò của thư tín dụng 9
2.3 Bản chất pháp lý rủa ihư tín d ụ n g 11
2.4 Thư liu dụng và những giao dịch iưt/ng lự 14
2.5 Ilíío lãnh ngân hàng /5
.1 C Ú I OẠI THƯTÍN D l / N G 16
CHƯƠNG II - PHÁP LUẬT VÀ CÁC M ố i QUAN HỆ CẤU THÀNH c ơ CHẾ THƯ TÍN DỤN G 20
1 CẮC QUY RỊNH VỀ THƯ TÍN DI.INO 2 0 ^ ì I Cúc quy định quốc lê vế thư tín d ụ n g 20
% 1.2 c á c qui dịnh của pháp luật Việt N a m 2 1 1.3 M ối quan hệ giữa các qui định quốc t ế và các qui định của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực thanh toán bằng thư tín d ụ n g 25
2 MỐI QUAN HỆ GIỮA THƯ TÍN DỤNG VÀ HỢP Đ ồN G MUA B Á N 2 6 2 / ĩĩợ p (Tồng mua bán là nguồn gốc của thư tín dụng 26
2.2 llự p ílồng mua bán qui Llịnh những diều khoản và/hoặc điều kiện của thư tín d ụ n g 27
2.3 Tính độc lập của thư tín dụng với Hợp đồng mua bán 28
3 MỐI QUAN HỆ GIỮA NGƯỜI MUA (NGƯỜI YÊU CÀU MỞ THƯ TÍN DỤNG) VÀ NGÂN HÀNG PHẤT H À N H 2 9 -í 1 Nội dưng thoả thuận giữa người xêu cầu mở thư tín dụng và ngân hàng phát hành và luật áf> d ụ n g 29
3.2 Quyền và nghĩa vụ cơ bản của người yêu cầu mở thư tín dụng và ngân hàng p h á t hành 31
Trang 5Luận văn thạc sỹ
3.3 Bản chất của thỏa thuận giữa người mua - người vêu cẩu mở thư tín dụng và ngân hàng phát
h à n h 34
4 MỐI g r \ N IIH GIỮA NGÀN HÀNG PHÁT HÀNH VÀ NGƯỜI THỰ HƯỚNG VÀ NGÂN HÀNG TRUNG GIAN 3 7 4.1 Quyền và nghĩa vụ của người thụ hưởng và cua ngân hàng phát hành 37
4.2 Sự can thiệp của ngân hàng trung gian vào m ối quan hệ giữa người thụ hưởng và ngân hàng phát hành 40
5 C h ứ n g T i' VÀ TIÊU CHI ẨN CỦA CHỮNG T Ừ 4 3 5 / Tầm quan trọng của chứng từ
5.2 Tiêu chuẩn của chứng từ 44
5.3 C ác loại chứng từ 47
CHƯƠNG III - TRANH CHAP v à g i ả i q u y ế t t r a n h c h ấ p l i ê n q u a n đ e n t h ư t í n D Ụ N G 51
1 CÁ C DẠNG TRANH CHẤP 51
1.1 Tranh chấp phát sinh từ Thoả thuận giữa người yêu cầu mở thư tín dụng và ngân hàng phát h à n h 51
y 1.2 Tranh chấp phát sinh từ mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành, ngân hàng trung gian và người thụ hưởng 55
1.3 Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng mua bán giữa người yêu cẩu mở thu tín dụng - người mua và người ihụ hưởng - người b ả n 59
2 P h á p l u ậ t v ề g i ả i q u y ế t t r a n h c h ấ p l i ê n q u a n đ ế n t h ư t í n d ụ n g c ủ a V i ệ t n a m v à T H ự c TIỀN ÁP D Ụ N G 6 2 3 Q u y c h ế D O C D E X - Q u y c h ế G i á m đ ị n h đ ể g iả i q u y ế t c á c t r a n h c h ấ p t r o n g l ĩ n h v ự c TÍN DỤNG CHỨNG T ừ 6 4 3.1 Phạm vi g iả i quyết và thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến thư tín dụng theo Qui c h ế D O C D E X 65
3.2 Thủ lục giải quyêI tranh ch ấp 66
3.3 Nhận x é t và kết luận 68
CHƯƠNG rv - TỒN TẠI VÀ GIẢI PH Á P 70
1 M Ổ I Q l'A N HỆ GIỮA THƯ TÍN DỤNG VÀ H dP Đ ồN G MUA B Ấ N 7 0 2 H o à n t h i ệ n h ệ t h ố n g p h ấ p l u ậ t v ề t h ư t í n d ụ n g 7 5 2.1 Sửa đ ổ i Nghị định 91/CP ngày 25/11/1993 về thanh toán không dùng tiền m ặ t 76
2.2 C ác văn bản pháp luật liên quan đến thư tín dụng phải thống n h ấ t 76
2.J Nâng cao khả năng cưỡng chê dổi với các phán quyết của Toà án Việt nam tại nước n g o ả i 77
Trang 63 N â n g c a o h i ể u b i ế t v ề P H Ấ P i r  T v à c ấ c q u y t ấ c t h ô n g l ê q u ố c t ế l i ê n q u a n t ớ i t h ư t í n 1) 1' N G 7 7
K Ế T L U Ậ N 79
DANH MỤC TÀI LIỆU TtLAM K HẢO 80
Trang 7P H Ẩ N M Ở Đ Ầ U
Thư tín dụng, với vai trò là một phương thức thanh toán trong các giao dịch
kinh tế, đã xuất hiện ở nước ta khá sớm - vào năm 1957, khi nền ngoại thương
mới hình thành của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bắt đầu thiết lập các
mốì quan hệ thương mại với các quốc gia khác trong và ngoài khôi xã hội chủ
nghĩa Cùng với thời gian và sự phát triển kinh t ế đất nước, đặc biệt là từ sau
Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, nền thương mại (bao gồm cả nội thương và
ngoại thương) đã phát triển vượt bực Sự phát triển đó không chỉ bao gồm sự
gia tăng nhanh chóng về sô^ lượng và giá trị các giao dịch, sự đa dạng hoá các
chủ thể tham gia quan hệ thương mại mà còn thể hiện ở chỗ nền thương mại
Việt Nam ngày càng hoà nhập với nền thương mại khu vực và thê giới Thư tín
dụng, một trong những phương thức thanh toán phổ biến nhất trong các môi
quan hệ thương mại quốc t ế hiện nay, ngày càng được các chủ thể kinh tế nước
ta sử dụng nhiều hơn Cùng với thực tế đó, pháp luật liên quan tới thư tín dụng
\
cũng ngày càng có những phát triển, tạo ra một khung pháp lý vừa phù hợp với
tình hình thực t ế vừa có xu hướng hội nhập với các tập quán thương mại quốc
tế
Qua tìm hiểu và nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy lằng cần phải có một cái
nhìn tổng quan về pháp luật nước ta và những tập quán cũng như các thông lệ
quốc t ế đốì với thư tín dụng và việc áp dụng chúng thực tiễn Việc chọn đề tài
nghiên cứu này, trước hết, là một nỗ lực của chúng tôi nhằm có được một sự
hiểu biết sâu hơn về pháp luật về thư tín dụng, và sau đó là hy vọng được đóng
góp một phần công sức mình vào quá trình hoàn thiện các quy định pháp luật
của nước ta về thư tín dụng
Trang 8Luận văn thạc sỹ
Trên thực tê đã có nhiều nghiên cứu về thư tín dụng trong những năm gần đây;
tuy nhiên các nghiên cứu này chủ yếu đề cập tới khía cạnh nghiệp vụ trong
việc thực hiện thanh toán bằng thư tín dụng Hơn nữa, các nghiên cứu hiện nay thường giới hạn trong việc bình giải các tập quán và thông lệ quốc t ế đôi với
thư tín dụng và ít đề cập tới các quy định của pháp luật Yiệt Nam cũng như
môi quan hệ giữa pháp luật Việt Nam và tập quán, thông lệ quốc tế
M ặt khác, cùng vđi những điều chỉnh về chính sách thương mại trong những
năm gần đây của chính phủ với xu hướng hội nhập với nền thương mại khu vực
và th ế giới (mà điển hình là việc tham gia khu vực thương mại tự do ASEAN-
AFTA, CEF và tiến trình gia nhập WTO hiện nay), pháp luật về thư tín dụng
cũng có những bước phát triển mới cần được tổng hợp và nghiên cứu Do đó,
trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi tránh nghiên cứu, phân tích vấn đề
thư tín dụng theo khía cạnh nghiệp vụ mà tập trung vào nghiên cứu và phân tích - cả về lý luận lẫn thực t ế áp dụng - theo góc độ pháp lý
M ục tiêu mà chúng tôi mong muôn đạt được trong luận văn này là có một cái
nhìn khái quát về các quy định của pháp luật Việt Nam về thư tín dụng, tình
hình áp dụng và những tồn tại cần khắc phục Xuất phát từ mục tiêu này,
nhiệm vụ khoa học của luận văn là:
gồm (i) khái niệm, vai trò của thư tín dụng trong các quy định quốc t ế và
2
Trang 9pháp luật Việt Nam (ii) phân tích bán chất pháp lý trong môi quan hệ giữa
các bên trong quan hệ thanh toán bằng thư tín dụng;
xem xét thực tiền áp dụng, từ đó rút ra một sô* kiến nghị theo hướng hoàn
thiện pháp luật về thư tín dụng tại Việt Nam
3 G iớ i HẠN ĐỂ TÀI
Trước hết pháp luật dược nghiên cứu trong luận văn này là pháp luật của nước
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Công hoà(trong
giai đoạn từ 1945 tới 1976)
Với những hạn chê" về mặt thời gian và dung lượng của một luận văn thạc sỹ
trong luận văn này, clníng tôi hy vọng có thể có được một cái nhìn khái quát
dối với pháp luật về thư tín dụng Tuy nhiên luận văn không hướng tới việc I11Ô
tả lại toàn bộ những nội dung điều chỉnh của pháp luật hiện hành về thư tín
dụng mà khái quát những nội dung diều chỉnh và tập tning chủ yếu vào phân
tích kliía cạnh pháp lý của các môi quan hệ của các bên, đánh giá thực trạng
và rút ra những kiến nghị Trong quá trình phân tích, luận văn có tiến hành
việc so sánh với các qui định quôc tế, chủ yếu là hệ thông tập quán và thông
lệ quốc tế trong lĩnh vực thư tín dụng đã được Phòng Thương Mại quốc tê tập
lìỢp trong Điều lệ và thực hành thông nhất thư tín dung (các ấn phẩm UCP)
Đồng thời, luận văn sề đưa ra một sô vân đề áp dạng thanh toán bằng thư tín
dụng trên thực tiễn mà hiện nay còn vướng mắc để từ đó mạnh dạn đưa ra một
số đánh giá và phương hướng hoàn thiện
3
Trang 104 C ơ s ỏ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VẢ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
Luận vãn được thực hiện trẽn cơ sớ vận dụng những quan điếm cơ bản của Đảng
và Nhà nước nói chung về đối mới kinh tế, nhằm xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chú nghĩa, phát huy hiệu quả, hiệu lực quán lý Nhà nước đôi với nền kinh tế quốc dân, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật kinh tế theo hưóìm chu động hỏi nhập vào nén kinh tế khu vực và thè giới
Phương pháp nghiên cứu được sứ dụng để hoàn thành Luận văn là phân tích tống hợp kết hợp với đối chiếu, so sánh các quy định có liên quan để đưa ra những nhận xét và kiến nghị Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu được sử dụng nhằm làm sáng tỏ các khái niệm, các vấn đề đặt ra trong các qui định và thực tiễn
áp dụng pháp luật về thư tín dụng Phương pháp tổng hợp được sử dụng chủ yếu
để đưa ra những nhận xét mang tính chất khái quát hoá, từ đó bổ sung những kiến nghị thích hợp
Một sô vấn đề lý luận về thư tín dụng;
Pháp luật và các môi quan hệ cấu thành cơ c h ế thư tín dụng;
Tranh chấp và giải quyết tranh chấp liên quan tới thư tín
dụng
Tồn tại và giải pháp
Trang 11P H A N NỘI D U N G
CHƯƠNG I - MỘT SỐ VẤN ĐẺ LÝ LUẬN VE THƯ TÍN DỤNG
Thư tín dung ra đời từ nhu cầu hạn c h ế những rủi ro phát sinh trong thực tiền
thương mại quốc tế Những rủi ro này có thể xảy ra cả với người bán lẫn người
mua đặc biệt là khi hai bên trong giao dịch ở cách xa nhau về mặt địa lý thiếu
thông tin về lìliau và hàng phải vận chuyên qua những phương tiện đường dài
và có nlìiểu rủi ro tổn thát như tàu biển, máy bay hay tàu hoả
Thực tê cho thây là, mặc dù đôi khi người bán không thể đánh giá hết khả
năng thanh toán của người nnia qua các thông tin mà người bán có nhưng
người bán vẫn có thể gửi hàng di, và chờ đợi người rmia thanh toán khi hàng
tới nơi mà hai bên đã tlioả thuận Mặt khác, người mua khi thanh toán ngay lại
không hề có một bảo đảm nào đôi với việc liệu lìàng có được xuất đi và có
phù liỢp với yêu cầu của mình hay không
Một lý do khác dần đên sự ra đời của thư tín dụng là nhu cầu được thanh toán
nhanh chóng của người bán Khoảng cách xa và sự phức tạp trong quá trình
vận chuyển (ví dụ như hầu liêt các hàng lioá xuât từ Việt Nam sang Mỳ hoặc
Châu Âu bằng dường biến thường phải bị chuyển tàu ít nhất là I lần - thường
là tại Singapore), thường dẫn đên việc thời gian vận chuyển bị kéo dài Trong
trường liỢp này phương thức thanh toán cổ điển “giao hàng - trả tiền” thường
khiên cho cả người bán lẫn người mua không chủ động được về mặt vô”n cũng
như điều hành kinh doanh
Trang 12Từ thực t ế đó, vấn đề đặt ra là cần phải có một phương thức thanh toán vừa
đảm bảo cho người bán nhanh chóng nhận được tiền sau khi xuất hàng đi đồng
thời lại bảo đảm cho người mua đôi với việc nhận được hàng đủ và đúng với
y êu cầu của mình Phương thức thanh toán đó phải giản tiện, linh hoạt và phải
dựa trên Iihững bằng chứng thuyết phục về việc người bán đã thực hiện nghĩa
vụ của mình Trong những tài liệu giao dịch, có một loại tài liệu có thể minh
chứng cho sự tồn tại của hàng hoá, xác nhận hiện trạng của hàng hoá, xác
nhận việc chuyển giao hàng hoá từ người bán sang người vận chuyển ; và
loại tài liệu này trong mọi trường hợp đều cần phải có trong việc giao hàng
Đó là chứng từ Chứng từ, có thể dưới dạng một văn bản xác nhận hoặc các
văn bản khác, có một vai trò rất quan trọng là “đại diện”, hoặc, nói một cách
khác là thay th ế cho hàng hoá trong quá trình thanh toán Chính dựa trên
Chứng từ mà ngàn hàng của người mua tiến hành chi trả khi Chứng từ thoả
màn những điều kiện và tiêu chuẩn đã dược quy định Việc tiến hành thanh
toán thông qua ngân hàng dựa trên xuất trình Chứng từ đã là một giải pháp cho
cả hai vấn đề nêu trên; và thực tê là thanh toán bằng thư tín dụng đã dần dần
dược hình thành trong quan hệ buôn bán quốc tế
2 K H Á I NIỆM THƯ TÍN DỤNG
2.1 Định nghĩa th ư tín dụng
2.1.1 Theo qui đinh của Các qui tắc vù thưc hành thống nhải tín duna chứnx
íừ (U C P 500).
Tín dụng chứng từ được thực hiện dựa vào sự can thiệp của một ngân hàng vào
một giao dịch thương mại theo yêu cầu của một bên, cho phép thanh toán cho
người bán trên cơ sở việc xuất trình chứng từ viết
6
Trang 13Luận vân thạc sỹ
Điều 2 của Các qui tắc và thực hành thông nhất tín dụng chứng từ, xuất bản
phẩm sô 500 đã đưa ra một định nghĩa như sau:
“Những thuật ngữ “Tín dụng chứng từ ” và “Thư tín dụng dự p h ò n g ” (dưới đây gọi là Tín dụng) có nghĩa là bất cứ m ột sự thoả thuận nào, dù cho được gọi hoặc mô tả như th ế nào, mà theo đó m ột Ngân hàng (N gân hàng phát hành) hành động theo yêu cầu và theo chỉ thị của m ột khách hàng (Người yêu cầu phút hành tín dụng) hoặc nhân danh chính mình
phải tiến hành việc trả tiền hoặc trả tiền theo lệnh rủa một người thứ ha (Người thụ hường lợi) hoặc phải chấp nhận và trả tiền các hối phiếu do người thụ hưởng lợi ký phát,
hoặc
ủy quyền cho m ột ngân hàng khác tiến hành thanh toán như th ế hoặc chấp nhận và trả tiền các hối phiếu như thế,
hoặc
uỷ quyền cho m ột ngân hàng khác chiết khấu
khi (các) chứng từ quy định được xuất trình với điều kiện là các điều kiện của Tín dụng dược thực hiện đún g “
2.1.2 Theo qui đinh của pháp luât Viêí Nam
Không có một định nghĩa rõ ràng và chính xác cho thư tín dụng trong pháp luật
Việt nam Ngay cả trong luật các tổ chức tín dụng ban hành ngày 12/12/1997
cũng không có một định nghĩa nào về thư tín dụng Tuy nhiên vai trò và mục
đích của thư tín dụng đã được đề cập tới trong Thể lệ thanh toán không dùng
7
Trang 14Luận văn thạc sỹ
tiền mặt ban hành kèm theo Quyết định 22/QĐ-NH1 ngày 21/2/1994 Theo
Điều 22 của Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt thì “thư tín dụng được
dùng để thanh toán tiền hàng trong điều kiện bên bán đòi hỏi phải có đủ tiền
đ ể chi trả Iigay và phù hợp với tổng sô' tiền hàng đã giao theo hợp đồng hoặc
đơn đặt hàng đã k ý ”
Như vậy, về phạm vi, thư tín dụng được dùng để thanh toán giữa người mua và
người bán cả trong quan hệ thương mại trong nước và nước ngoài Tuy nhiên
trong các quan hệ thương mại trong nước, thư tín dụng hầu như không được sử
dụng
Đồng thời với qui định nêu trên về thư tín dụng nói chung, vai trò của thư tín
dụng trả chậm được đặc biệt qui định riêng tại điều 1 Quy ch ế mở thư tín dụng
nhập hàng trả chậm ban hành kèm theo Quyết định sô" 711/2001/QĐ-NHNN
ngày 25/5/2001 như sau:
“Thanh toán bằng thư tín dụng trả chậm (sau đây gọi là “nghiệp vụ L/C trả chậm”) là một phương thức thanh toán tín dụng chứng từ có kỳ hạn do ngân
hàng thực hiện đ ể phục vụ cho việc nhập khẩu hàng hoá của các doanh
nghiệp”
Tuy rằng không có một định nghĩa rõ ràng cho thư tín dụng, thực t ế cho thấy
rằng các doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước Việt nam trong mối quan hệ
thương mại quốc t ế trong gần 40 năm qua vẫn thừa nhận thư tín dụng như được
định nghĩa bởi các thông lệ và các tập quán quốc tế, cụ thể là Các quy tắc và
thực hành thông nhất tín dụng chứng từ do Phòng Thương mại quốc t ế soạn
thảo và ban hành
8
Trang 15Gần đây nhất, Quy c h ế Mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm ban hành kèm
theo Quyết định số 7 1 1/2001/QĐ-NHNN ngày 25/5/2001 của Ngân hàng Nhà
nước đã qui định rằng ngoài trách nhiệm phải tuân thủ pháp luật Việt nam,
việc mở thư tín dụng trả chậm để nhập khẩu hàng hoá phải đảm bảo phù hợp
với Qui tắc thực hành thông nhất về tín dụng chứng từ của Phòng Thương mại
Quốc t ế (theo phiên bản mà Ngân hàng lựa chọn đ ể thực hiện) M ột cách gián
tiếp, có thể hiểu rằng đây là một sự thừa nhận của Ngân hàng Nhà nước đối
với định nghĩa về thư tín dụng
2.2 Vai trò của th ư tín dụng
Trước tiên, thư tín dụng có vai trò thanh toán, và việc thanh toán có thể được
thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau (thanh toán Iigay, chấp nhận và
thanh toán hốì phiêu, chiết khâu hôi phiếu .)
Điều 7 Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt ban hành kèm theo Quyết định
22/QĐ-NH ngày 21/2/19994 qui định thư tín dụng là một thể lệ thanh toán qua
ngân hàng bên cạnh các thể lệ thanh toán khác như: séc; ủy nhiệm chi-chuyển
tiền; ủy nhiêm thu; ngân phiếu thanh toán; thẻ thanh toán
Thư tín dụng còn có vai trò bảo đ ả m Đôi với nhà xuất khẩu, bảo đảm này
xuất phát từ cam k ết của ngân hàng Tuy nhiên, khác với bảo lãnh, những bảo
đảm này là song phương DÌ1 cho cơ c h ế này phát sinh đ ể bảo đảm quyền lợi
của người bán, thì người mua vẫn được bảo đảm rằng việc thanh toán chỉ xảy
ra khi có sự xuất trình các chứng từ phù hợp với yêu cầu của người mua và phù
hợp với yêu cầu của ngân hàng khi ngân hàng kiểm tra dưới trách nhiệm của
mình
9
Trang 16Theo qui định tại Điều 22.1 Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt ban hành
kèm theo Quyết định số 22/QĐ-NH1, khi có nhu cầu, bên mua lập giấy mở thư
tín dụng yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình trích tài khoản tiền gửi (hoặc tiền
vào Ngân hàng) một sô" tiền bằng tổng giá trị hàng đặt mua để lưu ký vào một tài khoản liêng
Như vậy, trong công thức đơn giảo nhất khi việc thanh toán diễn ra ngay khi
xuất trình các chứng từ, các ngân hàng tham gia không hề ứng trước vốII, mà
chỉ đơn giản là cho mượn chữ ký của mình
Tuy nhiên, ki lông hiếm các trường hợp tín dụng chứng từ được sử dụng để tài
trợ cho hoạt động nhập khẩu, ví dụ như trường hợp mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm
Khi việc xuất trình chứng từ không phải để được thanh toán ngay mà để được
chấp nhận một hôi phiếu trả chậm (như vậy đã có một tín dụng người bán),
Iigười xuất khẩu có thể dịch chuyển khoản thu nợ của mình khi tiến hành chiết
khấu hôi phiếu Vai trò bảo đảm của tín dụng chứng từ như vậy còn cho phép
người xuất khẩu có được các khoản tín dụng tài trợ trước bằng cách chiết khâu
hôi phiếu Trong khi đó, nhà nhập khẩu có thể lợi dụng tín dụng chứng từ để
trả chậm sô' hàng hoá đã được giao cho mình
10
Trang 172.3 Bản ch ấ t p h á p lý của th ư tín dụng
2.3.1 Phân tích
2.3.1.1. _ Tính chất của cam kết của ngân hàng phát hành
Cốt lõi của cơ c h ế thanh toán này là quyền đưực bảo đ ả m thanh toán của
người thụ hưởng tương ứng với cam kết thanh toán mang tính chắc chắn,
trực tiếp và độc lập của ngân hàng.
a/ Cam k ết chắc chắn
Cam kết của ngân hàng phát hành là chắc chắn theo nghĩa là Iigân hàng phải
thanh toán, chấp nhận hoặc chiết khấu hôi phiếu, theo đúng thời hạn qui định,
phù hợp với các điều khoản của thư tín dụng (UCP 500, Điều 9-a) Ngân hàng
chỉ có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu mở thư tín dụng sửa
đổi hoặc huỷ bỏ cam kết của mình trong trường hợp có ý chí chấp thuận của
tất cả các bên, bao gồm cả người thụ hưởng và ngân hàng xác nhận
b/ Cam k ết trực tiếp
Cam kết của ngân hàng là trực tiếp đôi với người thụ hưởng [sô 19, trang 546]
Người thụ hưởng có quyền xuất trình chứng từ hợp lệ đ ể ngân hàng thanh toán
hoặc chấp nhận thanh toán cho mình
c/ Cam k ế t độc lập
Các qui tắc và thực hành thông nhất tín dụng chứng từ cho thấy tính chất quan
trọng nhất của tín dụng chứng từ, hội tụ ở tính chất độc lập của nghĩa vụ
thanh toán của ngân hàng phát hành (và của ngân hàng xác nhận).
11
Trang 18Cam kết của ngân hàng đôi với người thụ hưởng là độc lập đôi với các môi
quan hệ giữa họ? Câu trả lời còn rất nhiều tranh cãi Ví dụ như, trong khi Toà
án tư pháp G enève đã phán quyết rằng ngân hàng không thể đặt người thụ
khâu trừ nỢ; thì ngược lại, Toà phúc thẩm Bmxelle đã chấp nhận khoản khấu
trừ nợ giữa ngân hàng thanh toán thư tín dụng và người thụ hưởng [sô 17, trang
1914]
Cam kết của ngân hàng đôi với người thụ hưởng là độc lập với môi quan hệ
giữa ngân hàng và người yêu cầu mở thư tín dụng Việc người yêu cầu mở thư
tín dụng chết, phá sản không cho phép ngân hàng được giải phóng khỏi nghĩa
vụ thanh toán [sô' 17, trang 1914] Thêm vào đó, ngân hàng cũng không thể
viện dẫn đến việc người yêu cầu mở thư tín dụng không có những biện pháp
bảo đảm đ ể từ chối thanh toán [sô 20, trang 219] Tại Pháp, Toà phá án đã xét
xử rằng ngân hàng thậm chí vẫn phải chịu trách nhiệm thanh toán dù rằng các
qui định về hôi đoái không cho phép ngân hàng thực hiện việc chi trả [sô" 21,
trang 316]
Cam kết của ngân hàng là độc lập với các quan hệ đang tồn tại giữa người
mua - người yêu cầu mở thư tín dụng và người bán - người thụ hưởng (UCP,
Điều 3a) Ngân hàng không thể viện dẫn bất cứ một ngoại lệ nào liên quan
đến việc không thực hiện Hợp đồng mua bán nhằm không thực hiện thư tín
dụng Tiền lệ pháp tại Pháp thông nhất quan điểm như vậy đôi với vấn đề này
(Toà phá án thương mại, ngày 8/1/1991; Toà phá án thương mại, ngày
14/3/1984 .) [scf 17, trang 1914] Người yêu cầu I11Ồ thư tín dụng không thể
yêu cầu ngân hàng từ chối thanh toán với lý do không thực hiện Hợp đồng mua
bán Điều 3a Các qui tắc và thực hành thông nhất tín dụng chứng từ, xuất bản
12
Trang 19I.uận văn thạc sỹ
phẩm 500 qui định rằng “sự cam kết của một ngân hàng đ ể trả tiền, chấp nhận
và trả tiền các hối phiếu hoặc chiết khấu và/hoặc thực hiện bất cứ một nghĩa
vụ nào khác của mình qui định trong Tín dụng không bị ràng buộc bởi các
khiếu nại hoặc sự bảo vệ nào của người xin mở Tín dạng phát sinh từ quan hệ
của họ với ngân hàng phát hành hoặc với người thụ hưởng lợi”
2.3.1.2 Phân tích trong các thế ch ế tương tư
Vấn đề cốt lõi của thư tín dụng đã được đặt vào trong nhiều giả định để nghiên
cứu nhằm tìm ra bản chất pháp lý của thư tín dụng nhưng đều không đạt được
câu trả lời toàn diện
Giả thiết bản chất của thư tín dụng là quan hệ bảo lãnh vấp phải chính tính
chất phụ của nghĩa vụ bảo lãnh Nghĩa vụ bảo lãnh chỉ được thực hiện khi
nghĩa vụ chính không được thực hiện, nghĩa là thực hiện có điều kiện, phụ
thuộc vào việc thực hiện Hợp đồng mua bán của các bên và nhất là việc thực
hiện nghĩa vụ của người được bảo lãnh Trong khi đó, cam kết của ngân hàng
trong cơ ch ế thư tín dụng là cam k ết thanh toán độc lập, vô điều kiện đốì với người thụ hưởng khi người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ hợp lệ với yêu cầu
của thư tín dụng
Giả thiết thư tín dụng là cơ c h ế uỷ quyền không hoàn toàn, một thời gian đã
được các nhà nghiên cứu đánh giá cao bởi vì nó cho phép giải thích tính độc
lập giữa hai môi quan hệ: mối quan hệ giữa ngân hàng (người được ủy quyền)
và người thụ hưởng và mối quan hệ giữa người yêu cầu mở thư tín dụng (người
ủy quyền) và ngân hàng (người được ủy quyền) Ngày nay, giả thiết này
không còn thích hợp bởi vì Các qui tắc và thực hành thông nhất tín dụng chứng
13
Trang 20từ, xuất bản phẩm mới nhất đã cho phép ngân hàng thực hiện thư tín dụng vì
quyền lợi của chính mình (Điều 2, UCP 500)
2.3.2 K ết luân
Nhìn chung, Thư tín dụng mang tính pháp lý của ít nhất 3 chủ thể (hoặc hơn)
gồm người yêu cầu mở thư tín dụng, ngân hàng và người thụ hưởng Thư tín
dụng không thể được xem như là một trong các loại hình pháp lý nêu trên Bản
chất pháp lý của thư tín dụng là m ố t n h ổ m các hơp đổng tạo nên một tổng
thể đ ể thiết lập một cơ c h ế thanh toán bảo đảm.
2.4 Thư tín d ụ n g và những giao dịch tương tự
2.4.1 Thương phiếu
Theo qui định của Pháp lệnh thương phiếu sô' 17/1999/PL-UBTVQH10 ngày 24
tháng 12 năm 1999 của Ưy Ban Thường vụ Quốc hội, thương phiếu là chứng
chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không
điều kiện một sô' tiền xác định trong một thời gian nhất định Thương phiếu
bao gồm lệnh phiếu và hối phiếu, v ề bản châ't, hấi phiếu được chấp nhận và
lệnh phiếu là chứng từ bảo đảm quyền được thanh toán của người thụ hưởng
bởi người phát hành khi đến hạn thanh toán Hôi phiếu rất thường được sử
dạng để thực hiên thư tín dụng, tuy nhiên, hốì phiêu có thể được sử dụng mà
không cần phải có một thư tín dụng được mở
2.4.2 Thư tín d uns dư phòns
Bản thân sự gần nhau của thư tín dụng và thư tín dụng dự phòng đã được thực
t ế thừa nhận, nhất là khi cả hai loại này đều chịu sự điều chỉnh của Các qui tắc
và thực hành thông nhất tín dụng chứng từ
14
Trang 21Tuỳ từng trường hợp, thư tín dụng dự phòng có thể bảo đảm cho những khoản
bồi thường và vì vậy thư tín dụng dự phòng chỉ là những bảo đảm ngân hàng
được phát hành dưới cùng một hình thức như thư tín dụng
Đôi khi, thư tín dụng dự phòng bảo đảm cho m ột khoản thanh toán Tuy
nhiên, có một sự khác nhau cơ bản giữa thư tín dụng và thư tín dụng dự phòng:
thư tín dụng dự phòng không phải là một phương tiện thanh toán bình thường,
nó chỉ được thực hiện trong trường hợp nghĩa vụ chính không được thực hiện
Đôi khi thư tín dụng dự phòng được sử dụng thay th ế tín dụng chứng từ đ ể bắt
buộc thanh toán Nhằm tránh chi phí, các bên thoả thuận rằng việc thanh toán
được thực hiện khi chứng từ được xuất trình; nếu không, thư tín dụng dự phòng
được phát hành theo lệnh của người mua cho người bán sẽ bị yêu cầu thanh
toán bằng cách xuất trình bản sao của chứng từ
2.5 B ảo lãnh n gân h àn g
Nếu tính chặt chẽ của các cam kết dẫn đến sự gần nhau giữa tín dụng chứng từ
và bảo lãnh thì các thao tác giữa chúng là khác nhau và vai trò là công cụ
thanh toán bình thường không được tìm thấy trong bảo lãnh
Theo qui định của Quy chế Bảo lãnh Ngân hàng ban hành kèm theo Quyết
định số 283/2000/QĐ-NHHH14 ngày 25/8/2000 của Thông đốc Ngân hàng
Nhà nước thì bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín
dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện
nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận
bảo lãnh Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã
được trả thay
15
Trang 22Như vậy, trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng, cam kết của ngân hàng là cam
kết mang tính điều kiện, có tính chất phụ thuộc vào nghĩa vụ tài chính được
bảo lãnh Cam kết thanh toán của ngân hàng chỉ trở thành bắt buộc đôi với
ngân hàng trong trường hợp nghĩa vụ tài chính được bảo lãnh không được
người được bảo lãnh thực hiện hoặc thực hiện không đúng
Thanh toán theo hình thức thư tín dụng có nhiều loại khác nhau và được áp
dụng tuỳ thuộc vào môi quan hệ, tín nhiệm giữa hai bên
Pháp luật Việt nam không qui định về phân loại thư tín dụng Tuy nhiên, qua
các qui định của Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt và Quy c h ế mở thư tín
dụng nhập hàng trả chậm có thể thây pháp luật Việt Nam phân biệt hai loại
thư tín dụng:
- Thư tín dụng thanh toán ngay;
- Thư tín dụng thanh toán có kỳ hạn (thư tín dụng trả chậm ngắn hạn với thời
hạn dưới m ột năm hoặc thư tín dụng trả chậm trang, dài hạn với thời hạn
trên một năm)
Một số phân loại sau đây được thực hiện căn cứ vào các quy định của Các qui
tắc và thực hành thông nhất tín dụng chứng từ của Phòng Thương mại Quốc tế
- Phân loại căn cứ theo hiệu lực của cam k ết của ngân hàng:
■ Thư tín dụng không thể hủy ngang là loại thư tín dụng sau khi đã được
mở thì ngân hàng phát hành thư tín dụng không được sửa đổi, bổ sung
hoặc hủy bỏ trong thời hạn hiệu lực của nó, ngoại trừ trường hợp có ý
16
Trang 23I.iuin \ (ìn thạc sy
chí chấp thuận của tất cả các bên liên quan UCP 500 đã qui định: “Một
tín dụng không ghi rõ thuộc loại nào, thì tín dụng đó được coi là không
thể hủy ngang”
■ Thư tín dụng có thể huỷ ngang: Theo Điều 8 UCP 500 thư tín dụng huỷ ngang có thể được ngân hàng phát hành tự mình hoặc theo yêu cầu của
người yêu cầu mở thư tín dụng, sửa đổi hoặc hủy bỏ bất cứ lúc nào và
không cần phải thông báo trước cho người thụ hưởng Tinh th ế của
người thụ hưởng như vậy rất bấp bênh và có rất nhiều rủi ro Tuy nhiên
để hạn chê rủi ro người bán có thể thoả thuận với người mua về những
diều kiện sửa đổi và/hoặc hủy bỏ thư tín dụng trong Hợp đồng mua bán
- Phân loại căn cứ theo thời hạn thực hiện:
■ Thư tín dụng thanh toán ngay: Thư tín dụng, trường hợp đơn giản nhất,
là thanh toán ngay Việc thanh toán cho người thụ hưởng được ngân
hàng thực hiện ngay trên cơ sở chứng từ được xuất trình và đã được
kiểm tra
■ Thư tín dụng thanh toán có thời hạn: đôi với thư tín dụng loại này, ngân
hàng thanh toán cho người thụ hưởng khi hết một thời hạn nhất định,
thường là sau ngày vận chuyển Cụ thể hơn, việc thanh toán chỉ xảy ra
sau khi người yêu cầu mở thư tín dụng nhận hàng hoá Vì vậy, trên thực
tế, có những trường hợp người yêu cầu mở thư tín dụng từ chổi thanh
toán vì hàng hoá được giao không phù hợp với Hợp đồng mua bán
Trang 24Phân loại căn cứ vào các cách thức thực hiện đặc biệt:
chuyển từ người thụ hưởng ban đầu sang một hay nhiều người khác
(người thụ hưởng thứ hai) trong thời gian hiệu lực của thư tín dụng Loai
thư tín dụng này chỉ được chuyển nhượng một lần (cho một hay nhiều
người khác) nghĩa là người thụ hưởng thứ hai không được quyền chuyển
nhượng tiếp Khi người mua cho phép mở thư tín dụng có thể chuyển
nhượng là họ đã đồng ý cho người bán chỉ định người khác làm thay
việc giao hàng và xuất trình chứng từ Việc chuyển nhượng chứng từ
không có nghĩa là chuyển nhượng hợp đồng mua bán, người thụ hưởng
ban đâu vẫn chịu trách nhiệm về việc thực hiện các nghĩa vụ của mình
đôi với người mua theo hợp đồng mua bán
■ Thư tín dụng không thể chuyển nhượng: trong trường hợp thư tín dụng
không nêu rõ là “có thể chuyển nhương được” (transferable”) thì thư tín
dụng luôn luôn được coi là không thể chuyển nhượng (Điều 48-g, UCP
500) Tính chất không được chuyển nhượng của tín dụng thư đương
nhiên không ảnh hưởng đến quyền của người thụ hưởng lợi được chuyển
nhượng mọi khoản tiền mà mình nhận được hay có thể nhận được theo
thư tín dụng (Điều 49, UCP 500)
khi thực hiện xong hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại tự động có
giá trị hiệu lực như cũ và cứ như vậy, nó tuần hoàn cho đến khi nào tổng
giá trị HỢp đồng được thực hiện Thư tín dụng tuần hoàn cần ghi ngày
hết hạn cuối cùng và ghi số lần tuần hoàn, giá trị tôi thiểu của mỗi lần
đó Thư tín dụng tuần hoàn được áp dụng trong trường hợp khi hai bên
18
Trang 25có cung cấp hàng với sô' lượng lớn thường xuyên, giao nhiều lần trong
năm với số lượng đều đặn Loại thư tín dụng này có tính Ư11 đãi đôi với
người mua vì nó giúp cho quá trình sử dụng vốn của họ có hiệu quả,
đơn giản thủ tục mở thư tín dụng
trong đó ngân hàng phát hành thư tín dụng hay ngân hàng xác nhận thư
tín dụng cam kết với người thụ hưởng sẽ thanh toán dần dần toàn bộ số
tiền của thư tín dụng trong những thời hạn qui định rõ trong thư tín dụng
đó Loại thư tín dụng này thường sử dụng hôi phiếu có kỳ hạn, mỗi lần
thanh toán ghi sổ" tiền thanh toán lên mặt sau của hối phiếu, áp dụng với
những hợp đồng có giá trị lớn, giao nhiều lần, người mua không có khả
năng thanh toán cùng một lúc
■ Thư tín dụng giáp lưng: là lọai thư tín dụng mà bên bán căn cứ vào thư
tín d ụng do người mua mở ch o mình, y ê u cầ u ngân h àn g mở m ột thư tín
dụng khác cho người khác hưởng
19
Trang 26CHƯƠNG II - PHÁ P LUẬT VÀ CÁC MÔÌ QUAN HỆ CẤU THÀNH c ơ
CHẾ THƯ TÍN DỤNG
7 / C ác quy định quốc t ế về th ư tín dụng
Hiện nay, trên th ế giới, nội dung pháp lý chủ yếu điều chỉnh về thư tín dụng
được qui định trong “Các qui tắc và thực hành thông nhất thư tín dụng” (sau
đây gọi là “Các qui tắc và thực hành thông nhất thư tín dụng” hoặc “UCP”) là
tập hợp các tập quán và thông lệ quốc t ế trong lĩnh vực thư tín dụng, được soạn
thảo bởi các nhà thực hành (chủ yếu là các ngân hàng) dưới sự chủ trì của
Phòng thương mại quốc t ế vào năm 1933 và đã được sửa đổi nhiều lần vào các
năn 1951, 1962, 1974 và 1983 Bản áp dụng từ 1/1/1994 (Xuất bản của ICC, số
500) là k ết quả của những công việc biên soạn sửa đổi được bắt đầu từ 1989
Lần sửa đôi sau cùng này nhằm mục đích thích ứng với những kỹ thuật mới,
nhất là trong lĩnh vực vận tải và truyền tin; thích ứng với tính xác thực của
chứng từ; cũng như để thích ứng với những thực t ế mới phát sinh Bản sửa đổi
này cũng nhằm đơn giản hoá các quy tắc và khắc phục một số điểm mập mờ
nhằm củng cố giá trị hiệu lực của các cam kết của ngân hàng.
Với tư cách là một tổ chức phi chính phủ, Phòng Thương mại Quốc tê (ICC)
ban hành các UCP nhằm “làm cho việc buôn bán giữa các công ty của các
quốc gia khác nhau thuận tiện hơn”, dựa trên nguyên tắc của ICC là “kinh
doanh tự điều chỉnh” [sô 24, trang 1] Do đó, việc áp dụng các qui định của
Các qui tắc và thực hành thông nhất thư tín dụng được quyết định bởi các bên
trong giao dịch thương mại và các ngân hàng Tuy nhiên, trong một số trường
liỢp ngân hàng trung ương của một số nước có thể can thiệp trực tiêp hoặc gián
Trang 27Luận văn thạc sỳ
tiếp đ ể các thư tín dụng phải bị điều chỉnh bởi các UCP Ví dụ như Ngân hàng
hành k èm quyết định 711/2001/QD-NHNN, quy định: “Việc mở L/C trả chậm
đ ể nhập khẩu hàng hoá phải đảm bảo phù hợp với: , Quy tắc thực hànhthông nhất về tín dụng chứng từ của Phòng Thương mại Quốc tế
Ngoài ra, còn có một liíii ý rằng, dù cho Các qui tắc và thực hành thông nhất
thư tín dụng của Phòng Thương mại Quốc tế có thể đưa ra giải pháp để giải
quyết phần lớn các khó khăn trong lĩnh vực thư tín dụng, các bên vẫn phải qui
định luật áp dụng đôi với hợp đồng cơ sở (hợp đồng mua bán) N ếu không, luật
quốc gia của ngân hàng phát hành và của nơi thực hiện thanh toán thư tín dụng
có khuynh hướng được áp dụng
1.2 C ác qui định của p h á p lu ậ t Việt Nam
chia thành hai loại như sau:
nhà nước hoặc mang tính chỉ đạo đường lôi đối với việc xử lý các tranh
châ'p và các vân đề khác liên quan tới thư tín dụng Ví dụ như Công văn
sô" 1425/VPCP-KHTH ngày 6 tháng 4 năm 1999 của Văn phòng Chính
phủ quy định cấm mở thư tín dụng trả chậm cho nhập hàng tiêu dùng
trong năm 1999 Đặc điểm chung của loại văn bản này là không điều
chỉnh trực tiếp mốì quan hệ giữa các bên mua bán và ngân hàng mà chủ
yếu nhằm vào việc đảm bảo rằng các hoạt động liên quan tới thư tín
dụng phù hợp với các chính sách vĩ mô của nhà nước về xuât nhập khẩu
và tiền tệ; và
21
Trang 28Luận vờn ỉ hạc sỹ
thư tín dụng
Tiền lệ pháp không dược pháp luật Việt nam công nhận là một nguồn điều
chỉnh và trên thực tế, trong lĩnh vực thư tín dụng, tiền lệ pháp không được áp
dụng tại Việt nam
Đôi với các văn bản trực tiêp điều chỉnh việc mở, thực hiện và giải quyêt các
thư tín dụng, có thể chia thành các thời kỳ sau
Giai đoan 1954 đến 1988
Cơ sở pháp lý đầu tiên có quy định phương thức thanh toán bằng thư tín dụng
là Quyết định 144/TTG ngày 9/4/1957 Đ ến năm 1960, đ ể tạo một khung pháp
lý rộng rãi hơn cho các hoạt động kinh tế tại miền Bắc trong k ế hoạch 5 năm
lần thứ nhất, Hội đồng Chính phủ đã ban hành thể lệ thanh toán không dùng
tiền mặt (trong dó bao gồm cả thanh toán bằng thư tín dụng) kèm theo Nghị
định sô 4/HĐCP ngày 7/3/1960 Sau khi Mỹ ném bom miền Bắc, Chỉ thị
51/TTg của Thủ tướng Chính phủ đã ra đời ngày 17/3/1966 về thư tín dụng
trong tình hình mới Năm 1984, Nghị định 04/HĐC.P được bổ sung bằng Nghị
định 80/HĐBT ngày 27/5/1987
Nhìn chung các văn bản trong thời kỳ này quy định khá chi tiết về thể thức
thực hiện thư tín dụng, song thực tiễn có nhiều điểm vướng mắc khiến cho việc
hệ thông ngân hàng hoạt động trên miền Bắc nước ta là một pháp nhân duy
nhất Mọi ngân hàng địa phương đều là các chi nhánh của ngân hàng nhà
nước, ngoài việc thực hiện các nghiệp vạ ngân hàng ra còn phải làm nhiệm vụ
quản lý nhà nước Do đó việc thanh toán qua ngân hàng không được tiến hành
Trang 29nhanh chóng và thuận tiện Đồng thời ngân hàng có quyền can thiệp sâu vào
các quan hệ kinh t ế của khách hàng Lý do thứ hai là việc ngân hàng Việt
Nam vừa có vai trò một ngân hàng thương mại lại vừa là một cơ quan nhà
nước khiến cho việc tiến hành các thủ tục tố" tụng và thực hiện các phán quyết của toà án và trọng tài đốì với ngân hàng là gần như không thực hiện được
Điều này thực sự làm các đốì tác làm ăn nước ngoài lo ngại
(iiai đoan từ 1988 đến nax
Năm 1988, nhà nước quyết định cải tổ hệ thông ngân hàng nhà nước, mà cải
cách quan trọng nhất là tách hệ thông này thành Ngân hàng Nhà nước với chức
năng quản lý khỏi hệ thông các ngân hàng thương mại Với sự phát triển mới
này, Nghị định 91/CP ngày 25/11/1993 đã được ban hành thay Nghị định
04/HĐCP và Nghị định 80/HĐBT Cụ thể hoá Nghị định 91/CP, Quyết định
22/QĐ-NH1 ngày 21/2/1994 và Thông tư 08/TT-NH2 ngày 2/6/1994 đã được
ban hành
Trước năm 1997, vấn đề thư tín dụng trả chậm được quy định trong các văn
bản về (i) vay và trả I1Ợ nước ngoài và (ii) bảo lãnh và tái bảo lãnh vay vốn
nước ngoài Các quy ch ế này được ban hành kèm theo Nghị định 58/CP ngày
30/8/1993 (về vay và trả nợ nước ngoài) và Quyết định 23/QĐ-NH14 ngày
21/2/1994 (về bảo lãnh vay vốn nước ngoài) Đến năm 1997, lần đầu tiên
Ngân hàng Nhà nước ban hành một quy ch ế riêng về mở thư tín dụng nhập
hàng trả chậm theo Quyết định sô' 207/QĐ-NH7 ngày 1/7/1997 của Thông đốc
Ngân hàng Nhà nước Sau đó, Quyết định sô" 711/2001/QĐ-NHNN ngày
25/5/2001 được Ngân hàng Nhà nước ban hành thay th ế quyết định trên Bản
thân Quyết định 7 1 1/2001/QĐ-NHNN cũng được sửa đổi bởi Quyết định
1233/2001/QĐ-NHNN ngày 26/9/2001 của Thông đóc Ngân hàng Nhà nước
23
Trang 30Trong giai đoan này có một sô diêm đáng lưu ý trong các quy định là:
ngay trong pháp luật nước ta Thư tín dụng trả ngay được coi là một
trong các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng
Trong khi đó, thư tín dụng trả chậm lại được coi là một hình thức bảo
lãnh ngân hàng (Điều 9.1 của quy chê bảo lãnh và tái bảo lãnh vay
khác biệt trong nghiệp vụ ngân hàng khi phát hành thư tín dụng trả
giá trị của các thư tín dụng trả chậm chịu sự chi phôi của hạn mức
bảo lãnh, tái bảo lành áp dụng đôi với ngân hàng;
NH1 ngày 21/2/1994) và Quy ch ế mở thư tín dụng nhập hàng trả
chậm (Quyết định 71 l/2001/QĐ-NHNN) nhưng có một loại thư tín
dụng bị “lọt lưới”, không bị điều chỉnh Đó là thư tín dụng trả ngay
dùng trong thanh toán nhập khẩu hàng nước ngoài Lý do là Nghị
định 91/CP chỉ điều chỉnh các thanh toán không dùng tiền mặt trên
lãnh thổ Việt Nam Do dó, thực t ế diễn ra là các ngân hàng chủ yếu
áp dụng thông lệ quôc t ế trong việc mở và thực hiện thư tín dụng trả
ngay cho nhập khẩu hàng hoá;
24
Trang 31Bùi Thị Thu Hiế/I
ỉ 3 M ôi quan hệ giữa các qui định quốc t ế và các qui định của ph á p luật Việt Nam trong tĩnh vực thanh toán bằn g th ư tín dụng
Trước ngày 25/5/2001, ngày Quyết định sô 7 1 1/2001/QD-NHNN ban hành Quy
chế Mở thư tín dung nhập hàng trả chậm (“Quyết định 711”) ra đời, thì không
có một quy định nào đề cập một cách cụ thể và rõ ràng đến hiệu lực của các
quy định mang tính quốc tế (mà cụ thể là các UCP) đôì với việc thanh toán
các điều ước quốc tế và pháp luật nước ngoài trong một sô” trường hợp, nhưng
các quy định này còn khá chung chung Điều đó dẫn đến việc có một sô' quan
điểm trái ngược trong việc áp dụng quy định này vào các trường hợp thanh
toán bằng thư tín dụng Tuy nhiên, thực t ế cho thấy rằng dù thiếu một quy định
rõ ràng, các UCP vẫn được các bên mua bán và các ngân hàng sử dụng, cũng
như dược các cơ quan nhà nước thừa nhận một cách không chính thức
Sự ra dời của Quyết định 711 dà chấm dứt tình trạng không rõ ràng này tương
đố\ triệt đế bằng cách qui định tại Điều 4 Quy chế này rằng, ngoài trách nhiệm
phải tuân thủ pháp luật Việt nam, việc mở thư tín dụng trả chậm để nhập khẩu
hàng hoá phải đảm bảo phù hợp với Qui tắc thực hành thông nhất về thư tín
dụng của Phòng Thương mại Quôc tế (theo phiên bản mà Ngân hàng lựa chọn
để thực hiện)
Như vậy, lần đầu tiên p h á p luật Việt nam đã thừa nhận và khẳng định việc áp
dụng tập quán và thông lệ quốc tế trong lĩnh vực thư tín dụng Tuy nhiên cần
lưu ý rằng, việc áp dụng các tập quán, thông lệ hoặc quy định quô’c tế vẫn phải
tuân thủ nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài được quy định tại điều 827
và 828 của Bộ luật Dân sự Việt Nam Theo đó, việc áp dụng pháp luật nước
ngoài (trong các trường hợp đươc pháp luật Việt Nam cho phép) phái đảm bảo
Trang 32Luận văh thạc sỳ
rằng việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt
Nam
Tuy nhiên, trên thực tế, trong trường hợp có sự khác biệt giữa ƯCP và pháp
luật Việt Nam thì pháp luật Việt Nam sẽ được Toà án áp dụng để đưa ra phán
quyết Quan điểm này đã và đang được Phòng thương mại Quôc tế, cơ quan
soạn thảo và ban hành UCP, nêu ra và khuyến cáo các ngân hàng lưu ý trong
việc áp dụng ƯCP
Tóm lại, cùng với quá trình phát triển của pháp luật nói chung liên quan đến
sự hội nhập của nền kinh tê Việt nam vào nền kinh tê thê giới, pháp luật Việt
dụng, đã có một bước tiến bộ lổn trong việc thừa nhận các qui định của thông
lệ và tập quán quốc t ế trong lĩnh vực thư tín dụng
2.1 H ợp đ ồn g mua bán là nguồn gốc của th ư tín dụng
Phương thức thanh toán bằng thư tín dụng phải được người mua và người bán
thương lượng và thoả thuận trong HỢp đồng mua bán
Người mua, theo qui định của Hợp đồng mua bán, có nghĩa vụ cung cấp cho
người bán một cam kết ngân hàng (thư tín dụng) về việc thanh toán hoặc chấp
nhận và thanh toán hối phiếu hoặc chiết khấu do người bán phát hành, trên cơ
sở chứng từ xuất trình Nghĩa vụ của người bán về việc cung cấp thư tín dụng
là điều khoản cơ bản Theo các nguyên tắc chung về thực hiện HỢp đồng, trong trường hợp người bán không thực hiện nghĩa vụ này, người mua có thể từ
chối giao hàng, châm dứt hợp đồng và yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại Nếu
25
Trang 33Luận vân thạc sỹ
thời hạn qui định đ ể cung cấp thư tín dụng không được tuân thủ, có thể coi như
là đã có việc không thực hiện nghĩa vụ cung cấp thư tín dụng Măc dù trên
thực tế, các bên có thể thoả thuận cho phép người mua cung cấp một bảo đảm
tương đương, ví dụ như một xác nhận ngân hàng về phong toả tài khoản để
thanh toán
Cam kết của ngân hàng (thư tín dụng) không phải là một điều khoản bổ sung
của Hợp đồng mua bán, và không phải là một nghĩa vụ thanh toán mđi đôi với
người thụ hưởng, vì vậy, trường hợp không thực hiện cam kết ngân hàng (thư
tín dụng) không đủ cần thiết để châm dứt hợp đồng giữa người mua và người
bán và không đương nhiên giải phóng người mua khỏi nghĩa vụ thanh toán
2.2 H ợp đ ồn g mua bán qui định những điều khoản và/h oặc điều kiện của
th ư tín dụng
Các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng sẽ được các bên thỏa thuận và
qui định cụ thể trong Hợp đồng mua bán, ví dụ như ngân hàng thanh toán, ngày
mở, thời hạn hiệu lực, thời hạn giao hàng, thời hạn thanh toán, giá trị thư tín
Ngoài ra, Hợp đồng mua bán còn phải qui định chính xác các cách thức thực
phiếu, chiết khâu hốì phiếu Sự tự do thoả thuận cho phép các bên thoả
Vì vậy, trong trường hợp người yêu cầu mỏ thư tín dụng đưa ra những chỉ dẫn
không phù hợp với hợp đồng mua bán và thư tín dụng bị người thụ hưởng từ
chối xác nhận chấp nhận thì nghĩa vụ cung cấp thư tín dụng của người mua
theo Hợp đồng mua bán bị coi như chưa được thực hiện đúng
27
Trang 34Luận văn thạc sỳ
2.3 Tính độc lập của thư tín dụng với Hợp đồng miia bán
Mặc dù Hợp đồng mua bán là cơ sở của thư tín dụng, nhưng khi thư tín dụng đã
được xác lập phù hợp với những điều khoản của HỢp đồng mua bán thì việc
thực hiện thư tín dụng hoàn toàn căn cứ vào những điều khoản do thư tín dụng
qui định, mà không phu thuỏc vào viôc thức hiên HƠP đồng m ua b á n
Đ iều 3a, UCP 500 qui định rằng “về bản châ't, Tín dụng chứng từ là những
giao dịch riêng b iệt với các hợp đồng mua bán hoặc các hợp đồng khác mà
các hợp đồng này có thể làm cơ sở của tín dụng và các Ngân hàng không bị
liên can đến hoặc bị ràng buộc vào các hợp đồng như th ế thậm chí ngay cả
Đ iều 22.4 Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt ban hành kèm theo Quyết
định 22/QĐ-NH1 ngày 21/2/1994 của Ngân hàng Nhà nước cũng qui định rằng
ngân hàng phục vụ người thụ hưởng trả tiền cho bên thụ hưởng căn cứ vào hoá
đơn, vận đơn hoặc các chứng từ giao nhận hàng có chữ ký đại diện của người
trả tiền, kèm theo giấy ủy nhiệm của người trả tiền do người thụ hưởng xuất
trình phù hơp yđi các điểu khoán quy đinh thông nhất giữa hai bên mua.,
hán đươc ghi trẽn thư tín dung Việc thực hiện thư tín dụng chỉ căn cứ vào bộ chứng từ do người thụ hưởng xuất trình thoả mãn tất cả các điều kiện qui định
trong thư tín dụng mà không căn cứ vào việc thực hiện Hợp đồng mua bán giữa
hai bên
N gân hàng không thể biết và không buộc phải biết về việc hàng hoá đã giao
hay chưa, về việc hàng hoá có phù hợp với yêu cầu của người mua hay không
Điều 22.4 Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt qui định rằng “mọi
28
Trang 35Luận vân thạc sỹ
trường hợp tranh chấp về hàng lioá đã giao, và tiền hàng đã trả do hai bên mua
và bán giải quyêt”
Việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng HỢp đồng mua bán của
người thụ hưởng không đương nhiên giải phóng nghĩa vụ thanh toán của ngân
hàng khi người thụ hưởng xuâì trình bộ chứng từ hợp lệ
Trái lại, việc không thực hiện thư tín dụng không đủ cần thiết đ ể chấm dứt
Hợp đồng mua bán và không đương nhiên giải phóng người mua khỏi nghĩa vụ
thanh toán theo Hợp đồng mua bán
D Ụ N G ) VÀ NGÂN HÀNG PHÁT HÀNH
3.1 N ội dung tỉioả thuận giữa người yêu cầu m ở th ư tín dụng và ngân
h à n g p h á t h àn h và luật áp dụ n g
Theo qui định của Hợp đồng mua bán, trong quan hệ với ngân hàng, người
mua (người yêu cầu mở thư tín dụng) lập giấy m ở th ư tín dụng ghi đầy đủ các
yếu tô qui định và nộp vào ngân hàng nơi mình mở tài khoản (Điều D 1.1
Thông tư 08/TT-NH ngày 2/6/1994 của Ngân hàng Nhà nước) Thực chất, giấy
mở t h ư tín dụng chính là đơn yêu c ầu phát hành th ư tín dụng Trên thực tế,
người mua chỉ điền vào một mẫu do ngân hàng cung câp Sự chấp thuận của
người mua thông qua việc điền và ký tên trên mẫu này sẽ tạo nên một hợp
đồng (thuộc loại hợp đồng gia nhập)
Thực tiễn các hoạt động ngân hàng cho thây, người yêu cầu mở thư tín dụng
chỉ lập đơn yêu cầu mở thư tín dụng đ ể đưa ra các chỉ thị về việc xác lập thư
tín dung Những chỉ thị do người mua đưa ra trong đơn yêu cầu phát hành thư
29
Trang 36Luận V(ỉn ỉhạc sv
tín dụng dể qui định những nghĩa vụ của các bên phải tương ứng với nội dung
đã thoả thuận với người bán dà được nêu trong Hợp đồng mua bán
Trong khi đó quyền và nghĩa vụ của người mở thư tín dụng và ngân hàng được
quy định trong một văn bản thường được gọi là Các điều khoản và điều kiện
Bản “Các điều khoản clning” này được ngân hàng biên soạn sẵn và được đính
kèm vào đơn mở thư tín dụng như một phụ lục
hàng còn được quy định tại một văn bản khác ngoài bản “Các điều khoản
chung” thường được gọi là Hợp đồng cung câp dịch vụ ngân hàng (“Faciỉities
A greem ent”) Trường hợp này thường diễn ra ở chi nhánh các ngân hàng nước
ngoài tại Việt Nam; các chi nhánh này cung cấp nhiều dịch vụ ngân hàng như
cấp tín dụng, bảo lãnh, chiết khấu, mở thư tín dụng cho một khách hàng với
một hạn mức (Limit) nhất định Trong HỢp đồng cung c<íp dịch vụ ngân hàng
các bên có thể thỏa thuận về việc bù trừ giữa các nghĩa vụ thuộc các giao dịch ngân hàng khác nhau: ví dụ như khi khách hàng không thanh toán được nợ do
được dùng để thanh toán khoản nợ đó
Điều 18d UCP 500 qui định rằng người yêu cầu mở thư tín dụng bị ràng buộc
với mọi nghĩa vụ và trách nhiêm đền bù cho các ngân hàng theo luật pháp và
dụng đ ể điều chỉnh thỏa thuận giữa ngân hàng phát hành và người yêu cầu mở
thư tín dụng
30
Trang 373.2 Quyền và nghía vụ cư bản của người yêu cầu m ở th ư tín dụng và ngăn
h àn g p h á t hành.
3.2.1 Quyền và nghĩa vu cơ bản của người yêu cầu mở thư tín dung
Quyển
Người yêu cầu mở thư tín dụng có quyền đưa ra những chỉ thị đê xác lập thư
tín dụng và kiểm tra việc thực hiện các chỉ thị đó Hệ quả là người yêu cầu mở
thư tín dụng có quyền được nhận, kiểm tra và chấp nhận bộ chứng từ yêu cầu
trong t h ư tín dụng
Nghĩa vu
Nghĩa vụ quan trọng nhât của người yêu cầu mở thư tín dụng đôi với ngân
hàng phát hành là (i) nghĩa vụ ký quỹ trong trưởng hợp thư tín dụng thanh toán
ngay và (ii) nghĩa vụ hoàn trả giá trị thư tín dụng mà ngân hàng phát hành đã
thanh toán và cung cấp các khoản bảo đảm hoàn trả cho ngân hàng trong
trường hợp thư tín dụng trả chậm
Điều 22.2 Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt qui định rằng ngay khi lập
vào ngân hàng) một sô' tiền bằng 100% tổng trị giá hàng đặt mua để lưu ký
vào một tài khoản riêng Mức tiền tôi thiểu của một thư tín dụng là 10 (mười)
triệu đồng Tiền gửi thư tín dụng không được hưởng lãi
Đôi với thư tín dụng trả chậm, người yêu cầu mở thư tín dụng phải có cam kết
bằng văn bản với ngân hàng về lịch chuyển tiền cho ngân hàng đ ể ngân hàng
thanh toán cho nước ngoài, và nhất là, có nghĩa vụ cung cấp những khoản bảo
đảm hợp pháp bằng một hoặc nhiều hình thức như: ký qũy, cầm cô, thê chấp
31
Trang 38tài sản hoặc được bên thứ ban bảo lãnh cho việc mở thư tín dụng trả chậm theo
yêu cầu của ngân hàng (Điều 8.4 Quy chê mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm
ban hành kèm theo Quyết định 711/2001/QĐ-NHNN ngày 25/5/2001); trong
trường hợp người mua muôn mở thư tín dạng trả chậm trung, dài hạn (thời hạn
trên 1 năm), người mua phải cung cấp văn bản của Ngân hàng Nhà nước xác
nhận đã đăng ký vay, trả nợ nước ngoài (Điều 9.2 Quy c h ế mở thư tín dụng
nhập hàng trả chậm ban hành kèm theo Quyết định 711/2001/QĐ-NHNN ngày 25/5/2001)
3.2.2 ()u \ền và nghĩa vu cơ bủn của ngân hàri 2 phái hành
Quyển
Đôi với thư tín dụng trả ngay, ngân hàng phát hành có quyền yêu cầu người
yêu cầu mở thư tín dụng chuyên tiền ký qũy đầy đủ trước khi thực hiên thư tíndụng
Đôi với thư tín dụng trả chậm, quyền cơ bản nhất của ngân hàng phát hành đôi
với người yêu cầu mở thư tín dụng là là quyền tmy đòi người yêu cầu mở thư
tín dụng thanh toán cho mình tất cả những khoản tiền mà ngân hàng đã hoặc
sè phải thanh toán thư tín dung, phí, hoa hồng và lãi Theo qui định của UCP
500, cam kết thanh toán thư tín dụng của ngân hàng phát hành không bị ràng
buộc bởi các khiếu nại hoặc sự bảo vệ nào của người yêu cầu mở thư tín dụng
phát sinh từ quan hệ của họ với người thụ hưởng (Điều 31, UCP 500)
Nghĩa vu
Nghĩa vụ quan trọng nhất của ngân hành phát hành đốì với người yêu cầu mở
thư tín dụng là cam kết sẽ thực hiện việc thanh toán thư tín dụng cho người thụ
32
Trang 39Luận văn thạc sỳ
hưởng Thư tín dụng có thể được thực hiện bằng cách thanh toán ngay, chấp
nhận và thanh tóan hôi phiếu khi đến hạn, chiết khâu hôi phiếu Tuy nhiên,
trên thực tế, ngân hàng phát hành không trực tiêp thực hiện t h ư tín dụng Việc
thực hiện thư tín dung thường do các ngân hàng trung gian thanh toán đám
nhiệm Sau đó, ngân hàng phát hành có nghĩa vụ hòan trả các khỏ an đã thanh
toán cho ngân hàng trung gian
Ngoài ra, ngân hàng phát hành có nghĩa vụ thay mặt người yêu cầu mở thư tín
dụng kiểm tra chứng từ mà người thụ hưởng xuất trình để bảo đảm nguyên tắc
thực hiên thư tín dụng, một cách sâu xa là đ ể bảo đảm quyền lợi của người
Nghĩa vụ tư vấn của ngân hàng phát hành đôi với người yêu cầu mở thư tín
dụng là nghĩa vụ mang tính đặc thù trong cơ ch ế thanh toán bằng thư tín dụng
Chứng ta không tìm thây bất cứ qui định nào của pháp luật Việt nam qui định
về nghĩa vụ tư vân của ngân hàng phát hành đôi với người yêu cầu mỏ thư tín
dụng Nghĩa vụ tư vấn của ngân hàng phát hành được qui định tại Điều 5a,
UCP 500, theo đó, các ngân hàng được khuyến cáo “ngăn chặn” tất cả những
khuynh hướng qui định quá nhiều chi tiết trong thư tín dụng hoặc được khuyến
cáo đưa ra những chỉ dẫn bằng cách tham chiêu đến một thư tín cỉụng tương tự
đã được phát hành trước đó
Không nên nhầm lẫn về đôi tượng của nghĩa vụ này; nó không đề cập đến
việc lựa chọn hoặc mô tả chứng từ, việc này phụ thuộc vào giao dịch thương
mại giừa người mua và người bán mà ngân hàng không thể biết Nghĩa vụ tư
định về những nội dung chủ yếu như thời hạn của tín dụng, gia hạn, điều chỉnh,
sửa đổi Trên thực tế, ví du như về vấn đề thư tín dụng giáp lưng, Toà phúc
33
Trang 40thẩrn Paris đã tuyên bô ngân hàng phát hành, người đứng ở vị trí bản lề giữa
hai giao dịch, phải chịu trách nhiệm vì đã không lưu ý người yêu cầu mở thư
tín dụng những hậu quả của việc sửa đổi tín dụng thư do người mua mở và đôi
với hiệu lực của việc chấp nhận những sửa đổi đó (Toà phúc thẩm Paris, ngày 13/11/1987) [số 17, trang 1913]
3.3 Bản ch ấ t của thỏa thuận giữa người mua - người yêu cầu m ở th ư tín
dụ n g và ngân /làn g p h á t hành
Ngân hàng phát hành không đương nhiên bị buộc phải chấp nhận và mở một
thư tín dụng theo yêu cầu của người yêu cầu mở thư tín dụng
Quy c h ế mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm ban hành kèm theo Quyết định
71 1/2001/QĐ-NHNN ngày 25/5/2001 của Ngân hàng Nhà nước đã qui định
Khi chấp thuận mở thư tín dụng, giữa người mua - người yêu cầu mở thư tín
dụng và ngân hàng phát hành hình thành nên một thỏa thuận ngân hàng mà
bản chất của thỏa thuận này rất phức tạp Ngân hàng cam kết với khách hàng
nghĩa vụ phải làm; ngân hàng có thể hứa những khoản ứng trước (trường hợp
cấp tín dụng) hoặc chỉ đơn giản là người thực hiện một dịch vụ ngân hàng cho người mua
Điều 22.2, Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt ban hành k èm theo Quyết định số 22/QĐ-NH1 ngày 21/2/1994 qui định rằng khi có nhu cầu thanh tóan
bằng thư tín dựng, song song với việc lập giấy yêu cầu mở thư tín dụng, người
mua phải trích tài khoản tiền gửi (hoặc nộp tiền vào ngân hàng) một sô' tiền
bằng tổng giá trị hàng đặt mua để lưu ký vào một tài khoản riêng
34