1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về thanh toán bằng thư tín và một số vấn đề thực tiễn

88 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 8,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận vân thạc sỹĐiều 2 của Các qui tắc và thực hành thông nhất tín dụng chứng từ, xuất bản phẩm sô 500 đã đưa ra một định nghĩa như sau: “Những thuật ngữ “Tín dụng chứng từ ” và “Thư tín

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ l ư PH Á P

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Bùi Thị Thu H iền

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin gửi tới Tiến sỹ Đinh Dũng Sỹ, chuyên viên Vụ Pháp chế Văn phòng Chính phủ lòng biết ơn chân thành của mình Trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án này, Thày đã khổng tiếc thời gian và công sức hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi Không có những gợi ý, hướng dẫn cũng như những ý kiến phê bình của Thày, luận án này đã không thể hoàn thành được như ở đây

Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin cảm ơn bô" mẹ, chồng và các em trong gia đình tôi, những người đã khuyến khích, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận án này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thày cô giáo Trường Đại học Luật Hà Nội, các thày cô giáo người Việt cũng như người Pháp đã tham gia giảng dạy lớp Cao học pháp luật Việt - Pháp khoá 1 Những năm tháng học tại Trường Đại học Luật và đặc biệt là tại khoá Cao học Việt - Pháp là những năm tháng bổ ích cho kiến thức và công việc của tôi

Sau cùng, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến các đồng nghiệp, các bạn học cùng lđp và các bạn bè khác, những người, bằng nhiều cách khác nhau đã giúp tôi SƯU tầm tài liệu và động viên tôi hoàn thành bản luận án này

Bùi Thị Thu Hiền

Trang 4

MỤC LỤC

PI1ẦN MỞ D Ầ U 1

1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỮL' 2

2 N i u í : mv i ; n g h i ê n c ữ r 2

3 G iớ i HẠN ĐỀ T À I 3

4 C ơ s ở PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 4

5 B Ố CỤC LUẬN V Ă N 4

1M1ẨN NỘI D U N G 5

CHƯƠNG I - MỘT SỐ VẤN ĐỀ l ý l u ậ n v ề t h ư t í n d ụ n g 5

1 N g u ổ n g ố c h ì n h t h à n h t h ư t í n d ụ n g 5

2 K.I1ẢI \ i i : m TIIƯTÍN D I /N G 6

„ 2.1 Dịnh nghĩa thư tin d ụ n g 6

2.2 Vai trò của thư tín dụng 9

2.3 Bản chất pháp lý rủa ihư tín d ụ n g 11

2.4 Thư liu dụng và những giao dịch iưt/ng lự 14

2.5 Ilíío lãnh ngân hàng /5

.1 C Ú I OẠI THƯTÍN D l / N G 16

CHƯƠNG II - PHÁP LUẬT VÀ CÁC M ố i QUAN HỆ CẤU THÀNH c ơ CHẾ THƯ TÍN DỤN G 20

1 CẮC QUY RỊNH VỀ THƯ TÍN DI.INO 2 0 ^ ì I Cúc quy định quốc lê vế thư tín d ụ n g 20

% 1.2 c á c qui dịnh của pháp luật Việt N a m 2 1 1.3 M ối quan hệ giữa các qui định quốc t ế và các qui định của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực thanh toán bằng thư tín d ụ n g 25

2 MỐI QUAN HỆ GIỮA THƯ TÍN DỤNG VÀ HỢP Đ ồN G MUA B Á N 2 6 2 / ĩĩợ p (Tồng mua bán là nguồn gốc của thư tín dụng 26

2.2 llự p ílồng mua bán qui Llịnh những diều khoản và/hoặc điều kiện của thư tín d ụ n g 27

2.3 Tính độc lập của thư tín dụng với Hợp đồng mua bán 28

3 MỐI QUAN HỆ GIỮA NGƯỜI MUA (NGƯỜI YÊU CÀU MỞ THƯ TÍN DỤNG) VÀ NGÂN HÀNG PHẤT H À N H 2 9 -í 1 Nội dưng thoả thuận giữa người xêu cầu mở thư tín dụng và ngân hàng phát hành và luật áf> d ụ n g 29

3.2 Quyền và nghĩa vụ cơ bản của người yêu cầu mở thư tín dụng và ngân hàng p h á t hành 31

Trang 5

Luận văn thạc sỹ

3.3 Bản chất của thỏa thuận giữa người mua - người vêu cẩu mở thư tín dụng và ngân hàng phát

h à n h 34

4 MỐI g r \ N IIH GIỮA NGÀN HÀNG PHÁT HÀNH VÀ NGƯỜI THỰ HƯỚNG VÀ NGÂN HÀNG TRUNG GIAN 3 7 4.1 Quyền và nghĩa vụ của người thụ hưởng và cua ngân hàng phát hành 37

4.2 Sự can thiệp của ngân hàng trung gian vào m ối quan hệ giữa người thụ hưởng và ngân hàng phát hành 40

5 C h ứ n g T i' VÀ TIÊU CHI ẨN CỦA CHỮNG T Ừ 4 3 5 / Tầm quan trọng của chứng từ

5.2 Tiêu chuẩn của chứng từ 44

5.3 C ác loại chứng từ 47

CHƯƠNG III - TRANH CHAP v à g i ả i q u y ế t t r a n h c h ấ p l i ê n q u a n đ e n t h ư t í n D Ụ N G 51

1 CÁ C DẠNG TRANH CHẤP 51

1.1 Tranh chấp phát sinh từ Thoả thuận giữa người yêu cầu mở thư tín dụng và ngân hàng phát h à n h 51

y 1.2 Tranh chấp phát sinh từ mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành, ngân hàng trung gian và người thụ hưởng 55

1.3 Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng mua bán giữa người yêu cẩu mở thu tín dụng - người mua và người ihụ hưởng - người b ả n 59

2 P h á p l u ậ t v ề g i ả i q u y ế t t r a n h c h ấ p l i ê n q u a n đ ế n t h ư t í n d ụ n g c ủ a V i ệ t n a m v à T H ự c TIỀN ÁP D Ụ N G 6 2 3 Q u y c h ế D O C D E X - Q u y c h ế G i á m đ ị n h đ ể g iả i q u y ế t c á c t r a n h c h ấ p t r o n g l ĩ n h v ự c TÍN DỤNG CHỨNG T ừ 6 4 3.1 Phạm vi g iả i quyết và thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến thư tín dụng theo Qui c h ế D O C D E X 65

3.2 Thủ lục giải quyêI tranh ch ấp 66

3.3 Nhận x é t và kết luận 68

CHƯƠNG rv - TỒN TẠI VÀ GIẢI PH Á P 70

1 M Ổ I Q l'A N HỆ GIỮA THƯ TÍN DỤNG VÀ H dP Đ ồN G MUA B Ấ N 7 0 2 H o à n t h i ệ n h ệ t h ố n g p h ấ p l u ậ t v ề t h ư t í n d ụ n g 7 5 2.1 Sửa đ ổ i Nghị định 91/CP ngày 25/11/1993 về thanh toán không dùng tiền m ặ t 76

2.2 C ác văn bản pháp luật liên quan đến thư tín dụng phải thống n h ấ t 76

2.J Nâng cao khả năng cưỡng chê dổi với các phán quyết của Toà án Việt nam tại nước n g o ả i 77

Trang 6

3 N â n g c a o h i ể u b i ế t v ề P H Ấ P i r  T v à c ấ c q u y t ấ c t h ô n g l ê q u ố c t ế l i ê n q u a n t ớ i t h ư t í n 1) 1' N G 7 7

K Ế T L U Ậ N 79

DANH MỤC TÀI LIỆU TtLAM K HẢO 80

Trang 7

P H Ẩ N M Ở Đ Ầ U

Thư tín dụng, với vai trò là một phương thức thanh toán trong các giao dịch

kinh tế, đã xuất hiện ở nước ta khá sớm - vào năm 1957, khi nền ngoại thương

mới hình thành của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bắt đầu thiết lập các

mốì quan hệ thương mại với các quốc gia khác trong và ngoài khôi xã hội chủ

nghĩa Cùng với thời gian và sự phát triển kinh t ế đất nước, đặc biệt là từ sau

Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, nền thương mại (bao gồm cả nội thương và

ngoại thương) đã phát triển vượt bực Sự phát triển đó không chỉ bao gồm sự

gia tăng nhanh chóng về sô^ lượng và giá trị các giao dịch, sự đa dạng hoá các

chủ thể tham gia quan hệ thương mại mà còn thể hiện ở chỗ nền thương mại

Việt Nam ngày càng hoà nhập với nền thương mại khu vực và thê giới Thư tín

dụng, một trong những phương thức thanh toán phổ biến nhất trong các môi

quan hệ thương mại quốc t ế hiện nay, ngày càng được các chủ thể kinh tế nước

ta sử dụng nhiều hơn Cùng với thực tế đó, pháp luật liên quan tới thư tín dụng

\

cũng ngày càng có những phát triển, tạo ra một khung pháp lý vừa phù hợp với

tình hình thực t ế vừa có xu hướng hội nhập với các tập quán thương mại quốc

tế

Qua tìm hiểu và nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy lằng cần phải có một cái

nhìn tổng quan về pháp luật nước ta và những tập quán cũng như các thông lệ

quốc t ế đốì với thư tín dụng và việc áp dụng chúng thực tiễn Việc chọn đề tài

nghiên cứu này, trước hết, là một nỗ lực của chúng tôi nhằm có được một sự

hiểu biết sâu hơn về pháp luật về thư tín dụng, và sau đó là hy vọng được đóng

góp một phần công sức mình vào quá trình hoàn thiện các quy định pháp luật

của nước ta về thư tín dụng

Trang 8

Luận văn thạc sỹ

Trên thực tê đã có nhiều nghiên cứu về thư tín dụng trong những năm gần đây;

tuy nhiên các nghiên cứu này chủ yếu đề cập tới khía cạnh nghiệp vụ trong

việc thực hiện thanh toán bằng thư tín dụng Hơn nữa, các nghiên cứu hiện nay thường giới hạn trong việc bình giải các tập quán và thông lệ quốc t ế đôi với

thư tín dụng và ít đề cập tới các quy định của pháp luật Yiệt Nam cũng như

môi quan hệ giữa pháp luật Việt Nam và tập quán, thông lệ quốc tế

M ặt khác, cùng vđi những điều chỉnh về chính sách thương mại trong những

năm gần đây của chính phủ với xu hướng hội nhập với nền thương mại khu vực

và th ế giới (mà điển hình là việc tham gia khu vực thương mại tự do ASEAN-

AFTA, CEF và tiến trình gia nhập WTO hiện nay), pháp luật về thư tín dụng

cũng có những bước phát triển mới cần được tổng hợp và nghiên cứu Do đó,

trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi tránh nghiên cứu, phân tích vấn đề

thư tín dụng theo khía cạnh nghiệp vụ mà tập trung vào nghiên cứu và phân tích - cả về lý luận lẫn thực t ế áp dụng - theo góc độ pháp lý

M ục tiêu mà chúng tôi mong muôn đạt được trong luận văn này là có một cái

nhìn khái quát về các quy định của pháp luật Việt Nam về thư tín dụng, tình

hình áp dụng và những tồn tại cần khắc phục Xuất phát từ mục tiêu này,

nhiệm vụ khoa học của luận văn là:

gồm (i) khái niệm, vai trò của thư tín dụng trong các quy định quốc t ế và

2

Trang 9

pháp luật Việt Nam (ii) phân tích bán chất pháp lý trong môi quan hệ giữa

các bên trong quan hệ thanh toán bằng thư tín dụng;

xem xét thực tiền áp dụng, từ đó rút ra một sô* kiến nghị theo hướng hoàn

thiện pháp luật về thư tín dụng tại Việt Nam

3 G iớ i HẠN ĐỂ TÀI

Trước hết pháp luật dược nghiên cứu trong luận văn này là pháp luật của nước

Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Công hoà(trong

giai đoạn từ 1945 tới 1976)

Với những hạn chê" về mặt thời gian và dung lượng của một luận văn thạc sỹ

trong luận văn này, clníng tôi hy vọng có thể có được một cái nhìn khái quát

dối với pháp luật về thư tín dụng Tuy nhiên luận văn không hướng tới việc I11Ô

tả lại toàn bộ những nội dung điều chỉnh của pháp luật hiện hành về thư tín

dụng mà khái quát những nội dung diều chỉnh và tập tning chủ yếu vào phân

tích kliía cạnh pháp lý của các môi quan hệ của các bên, đánh giá thực trạng

và rút ra những kiến nghị Trong quá trình phân tích, luận văn có tiến hành

việc so sánh với các qui định quôc tế, chủ yếu là hệ thông tập quán và thông

lệ quốc tế trong lĩnh vực thư tín dụng đã được Phòng Thương Mại quốc tê tập

lìỢp trong Điều lệ và thực hành thông nhất thư tín dung (các ấn phẩm UCP)

Đồng thời, luận văn sề đưa ra một sô vân đề áp dạng thanh toán bằng thư tín

dụng trên thực tiễn mà hiện nay còn vướng mắc để từ đó mạnh dạn đưa ra một

số đánh giá và phương hướng hoàn thiện

3

Trang 10

4 C ơ s ỏ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VẢ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u

Luận vãn được thực hiện trẽn cơ sớ vận dụng những quan điếm cơ bản của Đảng

và Nhà nước nói chung về đối mới kinh tế, nhằm xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chú nghĩa, phát huy hiệu quả, hiệu lực quán lý Nhà nước đôi với nền kinh tế quốc dân, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật kinh tế theo hưóìm chu động hỏi nhập vào nén kinh tế khu vực và thè giới

Phương pháp nghiên cứu được sứ dụng để hoàn thành Luận văn là phân tích tống hợp kết hợp với đối chiếu, so sánh các quy định có liên quan để đưa ra những nhận xét và kiến nghị Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu được sử dụng nhằm làm sáng tỏ các khái niệm, các vấn đề đặt ra trong các qui định và thực tiễn

áp dụng pháp luật về thư tín dụng Phương pháp tổng hợp được sử dụng chủ yếu

để đưa ra những nhận xét mang tính chất khái quát hoá, từ đó bổ sung những kiến nghị thích hợp

Một sô vấn đề lý luận về thư tín dụng;

Pháp luật và các môi quan hệ cấu thành cơ c h ế thư tín dụng;

Tranh chấp và giải quyết tranh chấp liên quan tới thư tín

dụng

Tồn tại và giải pháp

Trang 11

P H A N NỘI D U N G

CHƯƠNG I - MỘT SỐ VẤN ĐẺ LÝ LUẬN VE THƯ TÍN DỤNG

Thư tín dung ra đời từ nhu cầu hạn c h ế những rủi ro phát sinh trong thực tiền

thương mại quốc tế Những rủi ro này có thể xảy ra cả với người bán lẫn người

mua đặc biệt là khi hai bên trong giao dịch ở cách xa nhau về mặt địa lý thiếu

thông tin về lìliau và hàng phải vận chuyên qua những phương tiện đường dài

và có nlìiểu rủi ro tổn thát như tàu biển, máy bay hay tàu hoả

Thực tê cho thây là, mặc dù đôi khi người bán không thể đánh giá hết khả

năng thanh toán của người nnia qua các thông tin mà người bán có nhưng

người bán vẫn có thể gửi hàng di, và chờ đợi người rmia thanh toán khi hàng

tới nơi mà hai bên đã tlioả thuận Mặt khác, người mua khi thanh toán ngay lại

không hề có một bảo đảm nào đôi với việc liệu lìàng có được xuất đi và có

phù liỢp với yêu cầu của mình hay không

Một lý do khác dần đên sự ra đời của thư tín dụng là nhu cầu được thanh toán

nhanh chóng của người bán Khoảng cách xa và sự phức tạp trong quá trình

vận chuyển (ví dụ như hầu liêt các hàng lioá xuât từ Việt Nam sang Mỳ hoặc

Châu Âu bằng dường biến thường phải bị chuyển tàu ít nhất là I lần - thường

là tại Singapore), thường dẫn đên việc thời gian vận chuyển bị kéo dài Trong

trường liỢp này phương thức thanh toán cổ điển “giao hàng - trả tiền” thường

khiên cho cả người bán lẫn người mua không chủ động được về mặt vô”n cũng

như điều hành kinh doanh

Trang 12

Từ thực t ế đó, vấn đề đặt ra là cần phải có một phương thức thanh toán vừa

đảm bảo cho người bán nhanh chóng nhận được tiền sau khi xuất hàng đi đồng

thời lại bảo đảm cho người mua đôi với việc nhận được hàng đủ và đúng với

y êu cầu của mình Phương thức thanh toán đó phải giản tiện, linh hoạt và phải

dựa trên Iihững bằng chứng thuyết phục về việc người bán đã thực hiện nghĩa

vụ của mình Trong những tài liệu giao dịch, có một loại tài liệu có thể minh

chứng cho sự tồn tại của hàng hoá, xác nhận hiện trạng của hàng hoá, xác

nhận việc chuyển giao hàng hoá từ người bán sang người vận chuyển ; và

loại tài liệu này trong mọi trường hợp đều cần phải có trong việc giao hàng

Đó là chứng từ Chứng từ, có thể dưới dạng một văn bản xác nhận hoặc các

văn bản khác, có một vai trò rất quan trọng là “đại diện”, hoặc, nói một cách

khác là thay th ế cho hàng hoá trong quá trình thanh toán Chính dựa trên

Chứng từ mà ngàn hàng của người mua tiến hành chi trả khi Chứng từ thoả

màn những điều kiện và tiêu chuẩn đã dược quy định Việc tiến hành thanh

toán thông qua ngân hàng dựa trên xuất trình Chứng từ đã là một giải pháp cho

cả hai vấn đề nêu trên; và thực tê là thanh toán bằng thư tín dụng đã dần dần

dược hình thành trong quan hệ buôn bán quốc tế

2 K H Á I NIỆM THƯ TÍN DỤNG

2.1 Định nghĩa th ư tín dụng

2.1.1 Theo qui đinh của Các qui tắc vù thưc hành thống nhải tín duna chứnx

íừ (U C P 500).

Tín dụng chứng từ được thực hiện dựa vào sự can thiệp của một ngân hàng vào

một giao dịch thương mại theo yêu cầu của một bên, cho phép thanh toán cho

người bán trên cơ sở việc xuất trình chứng từ viết

6

Trang 13

Luận vân thạc sỹ

Điều 2 của Các qui tắc và thực hành thông nhất tín dụng chứng từ, xuất bản

phẩm sô 500 đã đưa ra một định nghĩa như sau:

“Những thuật ngữ “Tín dụng chứng từ ” và “Thư tín dụng dự p h ò n g ” (dưới đây gọi là Tín dụng) có nghĩa là bất cứ m ột sự thoả thuận nào, dù cho được gọi hoặc mô tả như th ế nào, mà theo đó m ột Ngân hàng (N gân hàng phát hành) hành động theo yêu cầu và theo chỉ thị của m ột khách hàng (Người yêu cầu phút hành tín dụng) hoặc nhân danh chính mình

phải tiến hành việc trả tiền hoặc trả tiền theo lệnh rủa một người thứ ha (Người thụ hường lợi) hoặc phải chấp nhận và trả tiền các hối phiếu do người thụ hưởng lợi ký phát,

hoặc

ủy quyền cho m ột ngân hàng khác tiến hành thanh toán như th ế hoặc chấp nhận và trả tiền các hối phiếu như thế,

hoặc

uỷ quyền cho m ột ngân hàng khác chiết khấu

khi (các) chứng từ quy định được xuất trình với điều kiện là các điều kiện của Tín dụng dược thực hiện đún g “

2.1.2 Theo qui đinh của pháp luât Viêí Nam

Không có một định nghĩa rõ ràng và chính xác cho thư tín dụng trong pháp luật

Việt nam Ngay cả trong luật các tổ chức tín dụng ban hành ngày 12/12/1997

cũng không có một định nghĩa nào về thư tín dụng Tuy nhiên vai trò và mục

đích của thư tín dụng đã được đề cập tới trong Thể lệ thanh toán không dùng

7

Trang 14

Luận văn thạc sỹ

tiền mặt ban hành kèm theo Quyết định 22/QĐ-NH1 ngày 21/2/1994 Theo

Điều 22 của Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt thì “thư tín dụng được

dùng để thanh toán tiền hàng trong điều kiện bên bán đòi hỏi phải có đủ tiền

đ ể chi trả Iigay và phù hợp với tổng sô' tiền hàng đã giao theo hợp đồng hoặc

đơn đặt hàng đã k ý ”

Như vậy, về phạm vi, thư tín dụng được dùng để thanh toán giữa người mua và

người bán cả trong quan hệ thương mại trong nước và nước ngoài Tuy nhiên

trong các quan hệ thương mại trong nước, thư tín dụng hầu như không được sử

dụng

Đồng thời với qui định nêu trên về thư tín dụng nói chung, vai trò của thư tín

dụng trả chậm được đặc biệt qui định riêng tại điều 1 Quy ch ế mở thư tín dụng

nhập hàng trả chậm ban hành kèm theo Quyết định sô" 711/2001/QĐ-NHNN

ngày 25/5/2001 như sau:

“Thanh toán bằng thư tín dụng trả chậm (sau đây gọi là “nghiệp vụ L/C trả chậm”) là một phương thức thanh toán tín dụng chứng từ có kỳ hạn do ngân

hàng thực hiện đ ể phục vụ cho việc nhập khẩu hàng hoá của các doanh

nghiệp”

Tuy rằng không có một định nghĩa rõ ràng cho thư tín dụng, thực t ế cho thấy

rằng các doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước Việt nam trong mối quan hệ

thương mại quốc t ế trong gần 40 năm qua vẫn thừa nhận thư tín dụng như được

định nghĩa bởi các thông lệ và các tập quán quốc tế, cụ thể là Các quy tắc và

thực hành thông nhất tín dụng chứng từ do Phòng Thương mại quốc t ế soạn

thảo và ban hành

8

Trang 15

Gần đây nhất, Quy c h ế Mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm ban hành kèm

theo Quyết định số 7 1 1/2001/QĐ-NHNN ngày 25/5/2001 của Ngân hàng Nhà

nước đã qui định rằng ngoài trách nhiệm phải tuân thủ pháp luật Việt nam,

việc mở thư tín dụng trả chậm để nhập khẩu hàng hoá phải đảm bảo phù hợp

với Qui tắc thực hành thông nhất về tín dụng chứng từ của Phòng Thương mại

Quốc t ế (theo phiên bản mà Ngân hàng lựa chọn đ ể thực hiện) M ột cách gián

tiếp, có thể hiểu rằng đây là một sự thừa nhận của Ngân hàng Nhà nước đối

với định nghĩa về thư tín dụng

2.2 Vai trò của th ư tín dụng

Trước tiên, thư tín dụng có vai trò thanh toán, và việc thanh toán có thể được

thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau (thanh toán Iigay, chấp nhận và

thanh toán hốì phiêu, chiết khâu hôi phiếu .)

Điều 7 Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt ban hành kèm theo Quyết định

22/QĐ-NH ngày 21/2/19994 qui định thư tín dụng là một thể lệ thanh toán qua

ngân hàng bên cạnh các thể lệ thanh toán khác như: séc; ủy nhiệm chi-chuyển

tiền; ủy nhiêm thu; ngân phiếu thanh toán; thẻ thanh toán

Thư tín dụng còn có vai trò bảo đ ả m Đôi với nhà xuất khẩu, bảo đảm này

xuất phát từ cam k ết của ngân hàng Tuy nhiên, khác với bảo lãnh, những bảo

đảm này là song phương DÌ1 cho cơ c h ế này phát sinh đ ể bảo đảm quyền lợi

của người bán, thì người mua vẫn được bảo đảm rằng việc thanh toán chỉ xảy

ra khi có sự xuất trình các chứng từ phù hợp với yêu cầu của người mua và phù

hợp với yêu cầu của ngân hàng khi ngân hàng kiểm tra dưới trách nhiệm của

mình

9

Trang 16

Theo qui định tại Điều 22.1 Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt ban hành

kèm theo Quyết định số 22/QĐ-NH1, khi có nhu cầu, bên mua lập giấy mở thư

tín dụng yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình trích tài khoản tiền gửi (hoặc tiền

vào Ngân hàng) một sô" tiền bằng tổng giá trị hàng đặt mua để lưu ký vào một tài khoản liêng

Như vậy, trong công thức đơn giảo nhất khi việc thanh toán diễn ra ngay khi

xuất trình các chứng từ, các ngân hàng tham gia không hề ứng trước vốII, mà

chỉ đơn giản là cho mượn chữ ký của mình

Tuy nhiên, ki lông hiếm các trường hợp tín dụng chứng từ được sử dụng để tài

trợ cho hoạt động nhập khẩu, ví dụ như trường hợp mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm

Khi việc xuất trình chứng từ không phải để được thanh toán ngay mà để được

chấp nhận một hôi phiếu trả chậm (như vậy đã có một tín dụng người bán),

Iigười xuất khẩu có thể dịch chuyển khoản thu nợ của mình khi tiến hành chiết

khấu hôi phiếu Vai trò bảo đảm của tín dụng chứng từ như vậy còn cho phép

người xuất khẩu có được các khoản tín dụng tài trợ trước bằng cách chiết khâu

hôi phiếu Trong khi đó, nhà nhập khẩu có thể lợi dụng tín dụng chứng từ để

trả chậm sô' hàng hoá đã được giao cho mình

10

Trang 17

2.3 Bản ch ấ t p h á p lý của th ư tín dụng

2.3.1 Phân tích

2.3.1.1. _ Tính chất của cam kết của ngân hàng phát hành

Cốt lõi của cơ c h ế thanh toán này là quyền đưực bảo đ ả m thanh toán của

người thụ hưởng tương ứng với cam kết thanh toán mang tính chắc chắn,

trực tiếp và độc lập của ngân hàng.

a/ Cam k ết chắc chắn

Cam kết của ngân hàng phát hành là chắc chắn theo nghĩa là Iigân hàng phải

thanh toán, chấp nhận hoặc chiết khấu hôi phiếu, theo đúng thời hạn qui định,

phù hợp với các điều khoản của thư tín dụng (UCP 500, Điều 9-a) Ngân hàng

chỉ có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu mở thư tín dụng sửa

đổi hoặc huỷ bỏ cam kết của mình trong trường hợp có ý chí chấp thuận của

tất cả các bên, bao gồm cả người thụ hưởng và ngân hàng xác nhận

b/ Cam k ết trực tiếp

Cam kết của ngân hàng là trực tiếp đôi với người thụ hưởng [sô 19, trang 546]

Người thụ hưởng có quyền xuất trình chứng từ hợp lệ đ ể ngân hàng thanh toán

hoặc chấp nhận thanh toán cho mình

c/ Cam k ế t độc lập

Các qui tắc và thực hành thông nhất tín dụng chứng từ cho thấy tính chất quan

trọng nhất của tín dụng chứng từ, hội tụ ở tính chất độc lập của nghĩa vụ

thanh toán của ngân hàng phát hành (và của ngân hàng xác nhận).

11

Trang 18

Cam kết của ngân hàng đôi với người thụ hưởng là độc lập đôi với các môi

quan hệ giữa họ? Câu trả lời còn rất nhiều tranh cãi Ví dụ như, trong khi Toà

án tư pháp G enève đã phán quyết rằng ngân hàng không thể đặt người thụ

khâu trừ nỢ; thì ngược lại, Toà phúc thẩm Bmxelle đã chấp nhận khoản khấu

trừ nợ giữa ngân hàng thanh toán thư tín dụng và người thụ hưởng [sô 17, trang

1914]

Cam kết của ngân hàng đôi với người thụ hưởng là độc lập với môi quan hệ

giữa ngân hàng và người yêu cầu mở thư tín dụng Việc người yêu cầu mở thư

tín dụng chết, phá sản không cho phép ngân hàng được giải phóng khỏi nghĩa

vụ thanh toán [sô' 17, trang 1914] Thêm vào đó, ngân hàng cũng không thể

viện dẫn đến việc người yêu cầu mở thư tín dụng không có những biện pháp

bảo đảm đ ể từ chối thanh toán [sô 20, trang 219] Tại Pháp, Toà phá án đã xét

xử rằng ngân hàng thậm chí vẫn phải chịu trách nhiệm thanh toán dù rằng các

qui định về hôi đoái không cho phép ngân hàng thực hiện việc chi trả [sô" 21,

trang 316]

Cam kết của ngân hàng là độc lập với các quan hệ đang tồn tại giữa người

mua - người yêu cầu mở thư tín dụng và người bán - người thụ hưởng (UCP,

Điều 3a) Ngân hàng không thể viện dẫn bất cứ một ngoại lệ nào liên quan

đến việc không thực hiện Hợp đồng mua bán nhằm không thực hiện thư tín

dụng Tiền lệ pháp tại Pháp thông nhất quan điểm như vậy đôi với vấn đề này

(Toà phá án thương mại, ngày 8/1/1991; Toà phá án thương mại, ngày

14/3/1984 .) [scf 17, trang 1914] Người yêu cầu I11Ồ thư tín dụng không thể

yêu cầu ngân hàng từ chối thanh toán với lý do không thực hiện Hợp đồng mua

bán Điều 3a Các qui tắc và thực hành thông nhất tín dụng chứng từ, xuất bản

12

Trang 19

I.uận văn thạc sỹ

phẩm 500 qui định rằng “sự cam kết của một ngân hàng đ ể trả tiền, chấp nhận

và trả tiền các hối phiếu hoặc chiết khấu và/hoặc thực hiện bất cứ một nghĩa

vụ nào khác của mình qui định trong Tín dụng không bị ràng buộc bởi các

khiếu nại hoặc sự bảo vệ nào của người xin mở Tín dạng phát sinh từ quan hệ

của họ với ngân hàng phát hành hoặc với người thụ hưởng lợi”

2.3.1.2 Phân tích trong các thế ch ế tương tư

Vấn đề cốt lõi của thư tín dụng đã được đặt vào trong nhiều giả định để nghiên

cứu nhằm tìm ra bản chất pháp lý của thư tín dụng nhưng đều không đạt được

câu trả lời toàn diện

Giả thiết bản chất của thư tín dụng là quan hệ bảo lãnh vấp phải chính tính

chất phụ của nghĩa vụ bảo lãnh Nghĩa vụ bảo lãnh chỉ được thực hiện khi

nghĩa vụ chính không được thực hiện, nghĩa là thực hiện có điều kiện, phụ

thuộc vào việc thực hiện Hợp đồng mua bán của các bên và nhất là việc thực

hiện nghĩa vụ của người được bảo lãnh Trong khi đó, cam kết của ngân hàng

trong cơ ch ế thư tín dụng là cam k ết thanh toán độc lập, vô điều kiện đốì với người thụ hưởng khi người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ hợp lệ với yêu cầu

của thư tín dụng

Giả thiết thư tín dụng là cơ c h ế uỷ quyền không hoàn toàn, một thời gian đã

được các nhà nghiên cứu đánh giá cao bởi vì nó cho phép giải thích tính độc

lập giữa hai môi quan hệ: mối quan hệ giữa ngân hàng (người được ủy quyền)

và người thụ hưởng và mối quan hệ giữa người yêu cầu mở thư tín dụng (người

ủy quyền) và ngân hàng (người được ủy quyền) Ngày nay, giả thiết này

không còn thích hợp bởi vì Các qui tắc và thực hành thông nhất tín dụng chứng

13

Trang 20

từ, xuất bản phẩm mới nhất đã cho phép ngân hàng thực hiện thư tín dụng vì

quyền lợi của chính mình (Điều 2, UCP 500)

2.3.2 K ết luân

Nhìn chung, Thư tín dụng mang tính pháp lý của ít nhất 3 chủ thể (hoặc hơn)

gồm người yêu cầu mở thư tín dụng, ngân hàng và người thụ hưởng Thư tín

dụng không thể được xem như là một trong các loại hình pháp lý nêu trên Bản

chất pháp lý của thư tín dụng là m ố t n h ổ m các hơp đổng tạo nên một tổng

thể đ ể thiết lập một cơ c h ế thanh toán bảo đảm.

2.4 Thư tín d ụ n g và những giao dịch tương tự

2.4.1 Thương phiếu

Theo qui định của Pháp lệnh thương phiếu sô' 17/1999/PL-UBTVQH10 ngày 24

tháng 12 năm 1999 của Ưy Ban Thường vụ Quốc hội, thương phiếu là chứng

chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không

điều kiện một sô' tiền xác định trong một thời gian nhất định Thương phiếu

bao gồm lệnh phiếu và hối phiếu, v ề bản châ't, hấi phiếu được chấp nhận và

lệnh phiếu là chứng từ bảo đảm quyền được thanh toán của người thụ hưởng

bởi người phát hành khi đến hạn thanh toán Hôi phiếu rất thường được sử

dạng để thực hiên thư tín dụng, tuy nhiên, hốì phiêu có thể được sử dụng mà

không cần phải có một thư tín dụng được mở

2.4.2 Thư tín d uns dư phòns

Bản thân sự gần nhau của thư tín dụng và thư tín dụng dự phòng đã được thực

t ế thừa nhận, nhất là khi cả hai loại này đều chịu sự điều chỉnh của Các qui tắc

và thực hành thông nhất tín dụng chứng từ

14

Trang 21

Tuỳ từng trường hợp, thư tín dụng dự phòng có thể bảo đảm cho những khoản

bồi thường và vì vậy thư tín dụng dự phòng chỉ là những bảo đảm ngân hàng

được phát hành dưới cùng một hình thức như thư tín dụng

Đôi khi, thư tín dụng dự phòng bảo đảm cho m ột khoản thanh toán Tuy

nhiên, có một sự khác nhau cơ bản giữa thư tín dụng và thư tín dụng dự phòng:

thư tín dụng dự phòng không phải là một phương tiện thanh toán bình thường,

nó chỉ được thực hiện trong trường hợp nghĩa vụ chính không được thực hiện

Đôi khi thư tín dụng dự phòng được sử dụng thay th ế tín dụng chứng từ đ ể bắt

buộc thanh toán Nhằm tránh chi phí, các bên thoả thuận rằng việc thanh toán

được thực hiện khi chứng từ được xuất trình; nếu không, thư tín dụng dự phòng

được phát hành theo lệnh của người mua cho người bán sẽ bị yêu cầu thanh

toán bằng cách xuất trình bản sao của chứng từ

2.5 B ảo lãnh n gân h àn g

Nếu tính chặt chẽ của các cam kết dẫn đến sự gần nhau giữa tín dụng chứng từ

và bảo lãnh thì các thao tác giữa chúng là khác nhau và vai trò là công cụ

thanh toán bình thường không được tìm thấy trong bảo lãnh

Theo qui định của Quy chế Bảo lãnh Ngân hàng ban hành kèm theo Quyết

định số 283/2000/QĐ-NHHH14 ngày 25/8/2000 của Thông đốc Ngân hàng

Nhà nước thì bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín

dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện

nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng

không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận

bảo lãnh Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã

được trả thay

15

Trang 22

Như vậy, trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng, cam kết của ngân hàng là cam

kết mang tính điều kiện, có tính chất phụ thuộc vào nghĩa vụ tài chính được

bảo lãnh Cam kết thanh toán của ngân hàng chỉ trở thành bắt buộc đôi với

ngân hàng trong trường hợp nghĩa vụ tài chính được bảo lãnh không được

người được bảo lãnh thực hiện hoặc thực hiện không đúng

Thanh toán theo hình thức thư tín dụng có nhiều loại khác nhau và được áp

dụng tuỳ thuộc vào môi quan hệ, tín nhiệm giữa hai bên

Pháp luật Việt nam không qui định về phân loại thư tín dụng Tuy nhiên, qua

các qui định của Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt và Quy c h ế mở thư tín

dụng nhập hàng trả chậm có thể thây pháp luật Việt Nam phân biệt hai loại

thư tín dụng:

- Thư tín dụng thanh toán ngay;

- Thư tín dụng thanh toán có kỳ hạn (thư tín dụng trả chậm ngắn hạn với thời

hạn dưới m ột năm hoặc thư tín dụng trả chậm trang, dài hạn với thời hạn

trên một năm)

Một số phân loại sau đây được thực hiện căn cứ vào các quy định của Các qui

tắc và thực hành thông nhất tín dụng chứng từ của Phòng Thương mại Quốc tế

- Phân loại căn cứ theo hiệu lực của cam k ết của ngân hàng:

■ Thư tín dụng không thể hủy ngang là loại thư tín dụng sau khi đã được

mở thì ngân hàng phát hành thư tín dụng không được sửa đổi, bổ sung

hoặc hủy bỏ trong thời hạn hiệu lực của nó, ngoại trừ trường hợp có ý

16

Trang 23

I.iuin \ (ìn thạc sy

chí chấp thuận của tất cả các bên liên quan UCP 500 đã qui định: “Một

tín dụng không ghi rõ thuộc loại nào, thì tín dụng đó được coi là không

thể hủy ngang”

■ Thư tín dụng có thể huỷ ngang: Theo Điều 8 UCP 500 thư tín dụng huỷ ngang có thể được ngân hàng phát hành tự mình hoặc theo yêu cầu của

người yêu cầu mở thư tín dụng, sửa đổi hoặc hủy bỏ bất cứ lúc nào và

không cần phải thông báo trước cho người thụ hưởng Tinh th ế của

người thụ hưởng như vậy rất bấp bênh và có rất nhiều rủi ro Tuy nhiên

để hạn chê rủi ro người bán có thể thoả thuận với người mua về những

diều kiện sửa đổi và/hoặc hủy bỏ thư tín dụng trong Hợp đồng mua bán

- Phân loại căn cứ theo thời hạn thực hiện:

■ Thư tín dụng thanh toán ngay: Thư tín dụng, trường hợp đơn giản nhất,

là thanh toán ngay Việc thanh toán cho người thụ hưởng được ngân

hàng thực hiện ngay trên cơ sở chứng từ được xuất trình và đã được

kiểm tra

■ Thư tín dụng thanh toán có thời hạn: đôi với thư tín dụng loại này, ngân

hàng thanh toán cho người thụ hưởng khi hết một thời hạn nhất định,

thường là sau ngày vận chuyển Cụ thể hơn, việc thanh toán chỉ xảy ra

sau khi người yêu cầu mở thư tín dụng nhận hàng hoá Vì vậy, trên thực

tế, có những trường hợp người yêu cầu mở thư tín dụng từ chổi thanh

toán vì hàng hoá được giao không phù hợp với Hợp đồng mua bán

Trang 24

Phân loại căn cứ vào các cách thức thực hiện đặc biệt:

chuyển từ người thụ hưởng ban đầu sang một hay nhiều người khác

(người thụ hưởng thứ hai) trong thời gian hiệu lực của thư tín dụng Loai

thư tín dụng này chỉ được chuyển nhượng một lần (cho một hay nhiều

người khác) nghĩa là người thụ hưởng thứ hai không được quyền chuyển

nhượng tiếp Khi người mua cho phép mở thư tín dụng có thể chuyển

nhượng là họ đã đồng ý cho người bán chỉ định người khác làm thay

việc giao hàng và xuất trình chứng từ Việc chuyển nhượng chứng từ

không có nghĩa là chuyển nhượng hợp đồng mua bán, người thụ hưởng

ban đâu vẫn chịu trách nhiệm về việc thực hiện các nghĩa vụ của mình

đôi với người mua theo hợp đồng mua bán

■ Thư tín dụng không thể chuyển nhượng: trong trường hợp thư tín dụng

không nêu rõ là “có thể chuyển nhương được” (transferable”) thì thư tín

dụng luôn luôn được coi là không thể chuyển nhượng (Điều 48-g, UCP

500) Tính chất không được chuyển nhượng của tín dụng thư đương

nhiên không ảnh hưởng đến quyền của người thụ hưởng lợi được chuyển

nhượng mọi khoản tiền mà mình nhận được hay có thể nhận được theo

thư tín dụng (Điều 49, UCP 500)

khi thực hiện xong hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại tự động có

giá trị hiệu lực như cũ và cứ như vậy, nó tuần hoàn cho đến khi nào tổng

giá trị HỢp đồng được thực hiện Thư tín dụng tuần hoàn cần ghi ngày

hết hạn cuối cùng và ghi số lần tuần hoàn, giá trị tôi thiểu của mỗi lần

đó Thư tín dụng tuần hoàn được áp dụng trong trường hợp khi hai bên

18

Trang 25

có cung cấp hàng với sô' lượng lớn thường xuyên, giao nhiều lần trong

năm với số lượng đều đặn Loại thư tín dụng này có tính Ư11 đãi đôi với

người mua vì nó giúp cho quá trình sử dụng vốn của họ có hiệu quả,

đơn giản thủ tục mở thư tín dụng

trong đó ngân hàng phát hành thư tín dụng hay ngân hàng xác nhận thư

tín dụng cam kết với người thụ hưởng sẽ thanh toán dần dần toàn bộ số

tiền của thư tín dụng trong những thời hạn qui định rõ trong thư tín dụng

đó Loại thư tín dụng này thường sử dụng hôi phiếu có kỳ hạn, mỗi lần

thanh toán ghi sổ" tiền thanh toán lên mặt sau của hối phiếu, áp dụng với

những hợp đồng có giá trị lớn, giao nhiều lần, người mua không có khả

năng thanh toán cùng một lúc

■ Thư tín dụng giáp lưng: là lọai thư tín dụng mà bên bán căn cứ vào thư

tín d ụng do người mua mở ch o mình, y ê u cầ u ngân h àn g mở m ột thư tín

dụng khác cho người khác hưởng

19

Trang 26

CHƯƠNG II - PHÁ P LUẬT VÀ CÁC MÔÌ QUAN HỆ CẤU THÀNH c ơ

CHẾ THƯ TÍN DỤNG

7 / C ác quy định quốc t ế về th ư tín dụng

Hiện nay, trên th ế giới, nội dung pháp lý chủ yếu điều chỉnh về thư tín dụng

được qui định trong “Các qui tắc và thực hành thông nhất thư tín dụng” (sau

đây gọi là “Các qui tắc và thực hành thông nhất thư tín dụng” hoặc “UCP”) là

tập hợp các tập quán và thông lệ quốc t ế trong lĩnh vực thư tín dụng, được soạn

thảo bởi các nhà thực hành (chủ yếu là các ngân hàng) dưới sự chủ trì của

Phòng thương mại quốc t ế vào năm 1933 và đã được sửa đổi nhiều lần vào các

năn 1951, 1962, 1974 và 1983 Bản áp dụng từ 1/1/1994 (Xuất bản của ICC, số

500) là k ết quả của những công việc biên soạn sửa đổi được bắt đầu từ 1989

Lần sửa đôi sau cùng này nhằm mục đích thích ứng với những kỹ thuật mới,

nhất là trong lĩnh vực vận tải và truyền tin; thích ứng với tính xác thực của

chứng từ; cũng như để thích ứng với những thực t ế mới phát sinh Bản sửa đổi

này cũng nhằm đơn giản hoá các quy tắc và khắc phục một số điểm mập mờ

nhằm củng cố giá trị hiệu lực của các cam kết của ngân hàng.

Với tư cách là một tổ chức phi chính phủ, Phòng Thương mại Quốc tê (ICC)

ban hành các UCP nhằm “làm cho việc buôn bán giữa các công ty của các

quốc gia khác nhau thuận tiện hơn”, dựa trên nguyên tắc của ICC là “kinh

doanh tự điều chỉnh” [sô 24, trang 1] Do đó, việc áp dụng các qui định của

Các qui tắc và thực hành thông nhất thư tín dụng được quyết định bởi các bên

trong giao dịch thương mại và các ngân hàng Tuy nhiên, trong một số trường

liỢp ngân hàng trung ương của một số nước có thể can thiệp trực tiêp hoặc gián

Trang 27

Luận văn thạc sỳ

tiếp đ ể các thư tín dụng phải bị điều chỉnh bởi các UCP Ví dụ như Ngân hàng

hành k èm quyết định 711/2001/QD-NHNN, quy định: “Việc mở L/C trả chậm

đ ể nhập khẩu hàng hoá phải đảm bảo phù hợp với: , Quy tắc thực hànhthông nhất về tín dụng chứng từ của Phòng Thương mại Quốc tế

Ngoài ra, còn có một liíii ý rằng, dù cho Các qui tắc và thực hành thông nhất

thư tín dụng của Phòng Thương mại Quốc tế có thể đưa ra giải pháp để giải

quyết phần lớn các khó khăn trong lĩnh vực thư tín dụng, các bên vẫn phải qui

định luật áp dụng đôi với hợp đồng cơ sở (hợp đồng mua bán) N ếu không, luật

quốc gia của ngân hàng phát hành và của nơi thực hiện thanh toán thư tín dụng

có khuynh hướng được áp dụng

1.2 C ác qui định của p h á p lu ậ t Việt Nam

chia thành hai loại như sau:

nhà nước hoặc mang tính chỉ đạo đường lôi đối với việc xử lý các tranh

châ'p và các vân đề khác liên quan tới thư tín dụng Ví dụ như Công văn

sô" 1425/VPCP-KHTH ngày 6 tháng 4 năm 1999 của Văn phòng Chính

phủ quy định cấm mở thư tín dụng trả chậm cho nhập hàng tiêu dùng

trong năm 1999 Đặc điểm chung của loại văn bản này là không điều

chỉnh trực tiếp mốì quan hệ giữa các bên mua bán và ngân hàng mà chủ

yếu nhằm vào việc đảm bảo rằng các hoạt động liên quan tới thư tín

dụng phù hợp với các chính sách vĩ mô của nhà nước về xuât nhập khẩu

và tiền tệ; và

21

Trang 28

Luận vờn ỉ hạc sỹ

thư tín dụng

Tiền lệ pháp không dược pháp luật Việt nam công nhận là một nguồn điều

chỉnh và trên thực tế, trong lĩnh vực thư tín dụng, tiền lệ pháp không được áp

dụng tại Việt nam

Đôi với các văn bản trực tiêp điều chỉnh việc mở, thực hiện và giải quyêt các

thư tín dụng, có thể chia thành các thời kỳ sau

Giai đoan 1954 đến 1988

Cơ sở pháp lý đầu tiên có quy định phương thức thanh toán bằng thư tín dụng

là Quyết định 144/TTG ngày 9/4/1957 Đ ến năm 1960, đ ể tạo một khung pháp

lý rộng rãi hơn cho các hoạt động kinh tế tại miền Bắc trong k ế hoạch 5 năm

lần thứ nhất, Hội đồng Chính phủ đã ban hành thể lệ thanh toán không dùng

tiền mặt (trong dó bao gồm cả thanh toán bằng thư tín dụng) kèm theo Nghị

định sô 4/HĐCP ngày 7/3/1960 Sau khi Mỹ ném bom miền Bắc, Chỉ thị

51/TTg của Thủ tướng Chính phủ đã ra đời ngày 17/3/1966 về thư tín dụng

trong tình hình mới Năm 1984, Nghị định 04/HĐC.P được bổ sung bằng Nghị

định 80/HĐBT ngày 27/5/1987

Nhìn chung các văn bản trong thời kỳ này quy định khá chi tiết về thể thức

thực hiện thư tín dụng, song thực tiễn có nhiều điểm vướng mắc khiến cho việc

hệ thông ngân hàng hoạt động trên miền Bắc nước ta là một pháp nhân duy

nhất Mọi ngân hàng địa phương đều là các chi nhánh của ngân hàng nhà

nước, ngoài việc thực hiện các nghiệp vạ ngân hàng ra còn phải làm nhiệm vụ

quản lý nhà nước Do đó việc thanh toán qua ngân hàng không được tiến hành

Trang 29

nhanh chóng và thuận tiện Đồng thời ngân hàng có quyền can thiệp sâu vào

các quan hệ kinh t ế của khách hàng Lý do thứ hai là việc ngân hàng Việt

Nam vừa có vai trò một ngân hàng thương mại lại vừa là một cơ quan nhà

nước khiến cho việc tiến hành các thủ tục tố" tụng và thực hiện các phán quyết của toà án và trọng tài đốì với ngân hàng là gần như không thực hiện được

Điều này thực sự làm các đốì tác làm ăn nước ngoài lo ngại

(iiai đoan từ 1988 đến nax

Năm 1988, nhà nước quyết định cải tổ hệ thông ngân hàng nhà nước, mà cải

cách quan trọng nhất là tách hệ thông này thành Ngân hàng Nhà nước với chức

năng quản lý khỏi hệ thông các ngân hàng thương mại Với sự phát triển mới

này, Nghị định 91/CP ngày 25/11/1993 đã được ban hành thay Nghị định

04/HĐCP và Nghị định 80/HĐBT Cụ thể hoá Nghị định 91/CP, Quyết định

22/QĐ-NH1 ngày 21/2/1994 và Thông tư 08/TT-NH2 ngày 2/6/1994 đã được

ban hành

Trước năm 1997, vấn đề thư tín dụng trả chậm được quy định trong các văn

bản về (i) vay và trả I1Ợ nước ngoài và (ii) bảo lãnh và tái bảo lãnh vay vốn

nước ngoài Các quy ch ế này được ban hành kèm theo Nghị định 58/CP ngày

30/8/1993 (về vay và trả nợ nước ngoài) và Quyết định 23/QĐ-NH14 ngày

21/2/1994 (về bảo lãnh vay vốn nước ngoài) Đến năm 1997, lần đầu tiên

Ngân hàng Nhà nước ban hành một quy ch ế riêng về mở thư tín dụng nhập

hàng trả chậm theo Quyết định sô' 207/QĐ-NH7 ngày 1/7/1997 của Thông đốc

Ngân hàng Nhà nước Sau đó, Quyết định sô" 711/2001/QĐ-NHNN ngày

25/5/2001 được Ngân hàng Nhà nước ban hành thay th ế quyết định trên Bản

thân Quyết định 7 1 1/2001/QĐ-NHNN cũng được sửa đổi bởi Quyết định

1233/2001/QĐ-NHNN ngày 26/9/2001 của Thông đóc Ngân hàng Nhà nước

23

Trang 30

Trong giai đoan này có một sô diêm đáng lưu ý trong các quy định là:

ngay trong pháp luật nước ta Thư tín dụng trả ngay được coi là một

trong các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng

Trong khi đó, thư tín dụng trả chậm lại được coi là một hình thức bảo

lãnh ngân hàng (Điều 9.1 của quy chê bảo lãnh và tái bảo lãnh vay

khác biệt trong nghiệp vụ ngân hàng khi phát hành thư tín dụng trả

giá trị của các thư tín dụng trả chậm chịu sự chi phôi của hạn mức

bảo lãnh, tái bảo lành áp dụng đôi với ngân hàng;

NH1 ngày 21/2/1994) và Quy ch ế mở thư tín dụng nhập hàng trả

chậm (Quyết định 71 l/2001/QĐ-NHNN) nhưng có một loại thư tín

dụng bị “lọt lưới”, không bị điều chỉnh Đó là thư tín dụng trả ngay

dùng trong thanh toán nhập khẩu hàng nước ngoài Lý do là Nghị

định 91/CP chỉ điều chỉnh các thanh toán không dùng tiền mặt trên

lãnh thổ Việt Nam Do dó, thực t ế diễn ra là các ngân hàng chủ yếu

áp dụng thông lệ quôc t ế trong việc mở và thực hiện thư tín dụng trả

ngay cho nhập khẩu hàng hoá;

24

Trang 31

Bùi Thị Thu Hiế/I

ỉ 3 M ôi quan hệ giữa các qui định quốc t ế và các qui định của ph á p luật Việt Nam trong tĩnh vực thanh toán bằn g th ư tín dụng

Trước ngày 25/5/2001, ngày Quyết định sô 7 1 1/2001/QD-NHNN ban hành Quy

chế Mở thư tín dung nhập hàng trả chậm (“Quyết định 711”) ra đời, thì không

có một quy định nào đề cập một cách cụ thể và rõ ràng đến hiệu lực của các

quy định mang tính quốc tế (mà cụ thể là các UCP) đôì với việc thanh toán

các điều ước quốc tế và pháp luật nước ngoài trong một sô” trường hợp, nhưng

các quy định này còn khá chung chung Điều đó dẫn đến việc có một sô' quan

điểm trái ngược trong việc áp dụng quy định này vào các trường hợp thanh

toán bằng thư tín dụng Tuy nhiên, thực t ế cho thấy rằng dù thiếu một quy định

rõ ràng, các UCP vẫn được các bên mua bán và các ngân hàng sử dụng, cũng

như dược các cơ quan nhà nước thừa nhận một cách không chính thức

Sự ra dời của Quyết định 711 dà chấm dứt tình trạng không rõ ràng này tương

đố\ triệt đế bằng cách qui định tại Điều 4 Quy chế này rằng, ngoài trách nhiệm

phải tuân thủ pháp luật Việt nam, việc mở thư tín dụng trả chậm để nhập khẩu

hàng hoá phải đảm bảo phù hợp với Qui tắc thực hành thông nhất về thư tín

dụng của Phòng Thương mại Quôc tế (theo phiên bản mà Ngân hàng lựa chọn

để thực hiện)

Như vậy, lần đầu tiên p h á p luật Việt nam đã thừa nhận và khẳng định việc áp

dụng tập quán và thông lệ quốc tế trong lĩnh vực thư tín dụng Tuy nhiên cần

lưu ý rằng, việc áp dụng các tập quán, thông lệ hoặc quy định quô’c tế vẫn phải

tuân thủ nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài được quy định tại điều 827

và 828 của Bộ luật Dân sự Việt Nam Theo đó, việc áp dụng pháp luật nước

ngoài (trong các trường hợp đươc pháp luật Việt Nam cho phép) phái đảm bảo

Trang 32

Luận văh thạc sỳ

rằng việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt

Nam

Tuy nhiên, trên thực tế, trong trường hợp có sự khác biệt giữa ƯCP và pháp

luật Việt Nam thì pháp luật Việt Nam sẽ được Toà án áp dụng để đưa ra phán

quyết Quan điểm này đã và đang được Phòng thương mại Quôc tế, cơ quan

soạn thảo và ban hành UCP, nêu ra và khuyến cáo các ngân hàng lưu ý trong

việc áp dụng ƯCP

Tóm lại, cùng với quá trình phát triển của pháp luật nói chung liên quan đến

sự hội nhập của nền kinh tê Việt nam vào nền kinh tê thê giới, pháp luật Việt

dụng, đã có một bước tiến bộ lổn trong việc thừa nhận các qui định của thông

lệ và tập quán quốc t ế trong lĩnh vực thư tín dụng

2.1 H ợp đ ồn g mua bán là nguồn gốc của th ư tín dụng

Phương thức thanh toán bằng thư tín dụng phải được người mua và người bán

thương lượng và thoả thuận trong HỢp đồng mua bán

Người mua, theo qui định của Hợp đồng mua bán, có nghĩa vụ cung cấp cho

người bán một cam kết ngân hàng (thư tín dụng) về việc thanh toán hoặc chấp

nhận và thanh toán hối phiếu hoặc chiết khấu do người bán phát hành, trên cơ

sở chứng từ xuất trình Nghĩa vụ của người bán về việc cung cấp thư tín dụng

là điều khoản cơ bản Theo các nguyên tắc chung về thực hiện HỢp đồng, trong trường hợp người bán không thực hiện nghĩa vụ này, người mua có thể từ

chối giao hàng, châm dứt hợp đồng và yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại Nếu

25

Trang 33

Luận vân thạc sỹ

thời hạn qui định đ ể cung cấp thư tín dụng không được tuân thủ, có thể coi như

là đã có việc không thực hiện nghĩa vụ cung cấp thư tín dụng Măc dù trên

thực tế, các bên có thể thoả thuận cho phép người mua cung cấp một bảo đảm

tương đương, ví dụ như một xác nhận ngân hàng về phong toả tài khoản để

thanh toán

Cam kết của ngân hàng (thư tín dụng) không phải là một điều khoản bổ sung

của Hợp đồng mua bán, và không phải là một nghĩa vụ thanh toán mđi đôi với

người thụ hưởng, vì vậy, trường hợp không thực hiện cam kết ngân hàng (thư

tín dụng) không đủ cần thiết để châm dứt hợp đồng giữa người mua và người

bán và không đương nhiên giải phóng người mua khỏi nghĩa vụ thanh toán

2.2 H ợp đ ồn g mua bán qui định những điều khoản và/h oặc điều kiện của

th ư tín dụng

Các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng sẽ được các bên thỏa thuận và

qui định cụ thể trong Hợp đồng mua bán, ví dụ như ngân hàng thanh toán, ngày

mở, thời hạn hiệu lực, thời hạn giao hàng, thời hạn thanh toán, giá trị thư tín

Ngoài ra, Hợp đồng mua bán còn phải qui định chính xác các cách thức thực

phiếu, chiết khâu hốì phiếu Sự tự do thoả thuận cho phép các bên thoả

Vì vậy, trong trường hợp người yêu cầu mỏ thư tín dụng đưa ra những chỉ dẫn

không phù hợp với hợp đồng mua bán và thư tín dụng bị người thụ hưởng từ

chối xác nhận chấp nhận thì nghĩa vụ cung cấp thư tín dụng của người mua

theo Hợp đồng mua bán bị coi như chưa được thực hiện đúng

27

Trang 34

Luận văn thạc sỳ

2.3 Tính độc lập của thư tín dụng với Hợp đồng miia bán

Mặc dù Hợp đồng mua bán là cơ sở của thư tín dụng, nhưng khi thư tín dụng đã

được xác lập phù hợp với những điều khoản của HỢp đồng mua bán thì việc

thực hiện thư tín dụng hoàn toàn căn cứ vào những điều khoản do thư tín dụng

qui định, mà không phu thuỏc vào viôc thức hiên HƠP đồng m ua b á n

Đ iều 3a, UCP 500 qui định rằng “về bản châ't, Tín dụng chứng từ là những

giao dịch riêng b iệt với các hợp đồng mua bán hoặc các hợp đồng khác mà

các hợp đồng này có thể làm cơ sở của tín dụng và các Ngân hàng không bị

liên can đến hoặc bị ràng buộc vào các hợp đồng như th ế thậm chí ngay cả

Đ iều 22.4 Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt ban hành kèm theo Quyết

định 22/QĐ-NH1 ngày 21/2/1994 của Ngân hàng Nhà nước cũng qui định rằng

ngân hàng phục vụ người thụ hưởng trả tiền cho bên thụ hưởng căn cứ vào hoá

đơn, vận đơn hoặc các chứng từ giao nhận hàng có chữ ký đại diện của người

trả tiền, kèm theo giấy ủy nhiệm của người trả tiền do người thụ hưởng xuất

trình phù hơp yđi các điểu khoán quy đinh thông nhất giữa hai bên mua.,

hán đươc ghi trẽn thư tín dung Việc thực hiện thư tín dụng chỉ căn cứ vào bộ chứng từ do người thụ hưởng xuất trình thoả mãn tất cả các điều kiện qui định

trong thư tín dụng mà không căn cứ vào việc thực hiện Hợp đồng mua bán giữa

hai bên

N gân hàng không thể biết và không buộc phải biết về việc hàng hoá đã giao

hay chưa, về việc hàng hoá có phù hợp với yêu cầu của người mua hay không

Điều 22.4 Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt qui định rằng “mọi

28

Trang 35

Luận vân thạc sỹ

trường hợp tranh chấp về hàng lioá đã giao, và tiền hàng đã trả do hai bên mua

và bán giải quyêt”

Việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng HỢp đồng mua bán của

người thụ hưởng không đương nhiên giải phóng nghĩa vụ thanh toán của ngân

hàng khi người thụ hưởng xuâì trình bộ chứng từ hợp lệ

Trái lại, việc không thực hiện thư tín dụng không đủ cần thiết đ ể chấm dứt

Hợp đồng mua bán và không đương nhiên giải phóng người mua khỏi nghĩa vụ

thanh toán theo Hợp đồng mua bán

D Ụ N G ) VÀ NGÂN HÀNG PHÁT HÀNH

3.1 N ội dung tỉioả thuận giữa người yêu cầu m ở th ư tín dụng và ngân

h à n g p h á t h àn h và luật áp dụ n g

Theo qui định của Hợp đồng mua bán, trong quan hệ với ngân hàng, người

mua (người yêu cầu mở thư tín dụng) lập giấy m ở th ư tín dụng ghi đầy đủ các

yếu tô qui định và nộp vào ngân hàng nơi mình mở tài khoản (Điều D 1.1

Thông tư 08/TT-NH ngày 2/6/1994 của Ngân hàng Nhà nước) Thực chất, giấy

mở t h ư tín dụng chính là đơn yêu c ầu phát hành th ư tín dụng Trên thực tế,

người mua chỉ điền vào một mẫu do ngân hàng cung câp Sự chấp thuận của

người mua thông qua việc điền và ký tên trên mẫu này sẽ tạo nên một hợp

đồng (thuộc loại hợp đồng gia nhập)

Thực tiễn các hoạt động ngân hàng cho thây, người yêu cầu mở thư tín dụng

chỉ lập đơn yêu cầu mở thư tín dụng đ ể đưa ra các chỉ thị về việc xác lập thư

tín dung Những chỉ thị do người mua đưa ra trong đơn yêu cầu phát hành thư

29

Trang 36

Luận V(ỉn ỉhạc sv

tín dụng dể qui định những nghĩa vụ của các bên phải tương ứng với nội dung

đã thoả thuận với người bán dà được nêu trong Hợp đồng mua bán

Trong khi đó quyền và nghĩa vụ của người mở thư tín dụng và ngân hàng được

quy định trong một văn bản thường được gọi là Các điều khoản và điều kiện

Bản “Các điều khoản clning” này được ngân hàng biên soạn sẵn và được đính

kèm vào đơn mở thư tín dụng như một phụ lục

hàng còn được quy định tại một văn bản khác ngoài bản “Các điều khoản

chung” thường được gọi là Hợp đồng cung câp dịch vụ ngân hàng (“Faciỉities

A greem ent”) Trường hợp này thường diễn ra ở chi nhánh các ngân hàng nước

ngoài tại Việt Nam; các chi nhánh này cung cấp nhiều dịch vụ ngân hàng như

cấp tín dụng, bảo lãnh, chiết khấu, mở thư tín dụng cho một khách hàng với

một hạn mức (Limit) nhất định Trong HỢp đồng cung c<íp dịch vụ ngân hàng

các bên có thể thỏa thuận về việc bù trừ giữa các nghĩa vụ thuộc các giao dịch ngân hàng khác nhau: ví dụ như khi khách hàng không thanh toán được nợ do

được dùng để thanh toán khoản nợ đó

Điều 18d UCP 500 qui định rằng người yêu cầu mở thư tín dụng bị ràng buộc

với mọi nghĩa vụ và trách nhiêm đền bù cho các ngân hàng theo luật pháp và

dụng đ ể điều chỉnh thỏa thuận giữa ngân hàng phát hành và người yêu cầu mở

thư tín dụng

30

Trang 37

3.2 Quyền và nghía vụ cư bản của người yêu cầu m ở th ư tín dụng và ngăn

h àn g p h á t hành.

3.2.1 Quyền và nghĩa vu cơ bản của người yêu cầu mở thư tín dung

Quyển

Người yêu cầu mở thư tín dụng có quyền đưa ra những chỉ thị đê xác lập thư

tín dụng và kiểm tra việc thực hiện các chỉ thị đó Hệ quả là người yêu cầu mở

thư tín dụng có quyền được nhận, kiểm tra và chấp nhận bộ chứng từ yêu cầu

trong t h ư tín dụng

Nghĩa vu

Nghĩa vụ quan trọng nhât của người yêu cầu mở thư tín dụng đôi với ngân

hàng phát hành là (i) nghĩa vụ ký quỹ trong trưởng hợp thư tín dụng thanh toán

ngay và (ii) nghĩa vụ hoàn trả giá trị thư tín dụng mà ngân hàng phát hành đã

thanh toán và cung cấp các khoản bảo đảm hoàn trả cho ngân hàng trong

trường hợp thư tín dụng trả chậm

Điều 22.2 Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt qui định rằng ngay khi lập

vào ngân hàng) một sô' tiền bằng 100% tổng trị giá hàng đặt mua để lưu ký

vào một tài khoản riêng Mức tiền tôi thiểu của một thư tín dụng là 10 (mười)

triệu đồng Tiền gửi thư tín dụng không được hưởng lãi

Đôi với thư tín dụng trả chậm, người yêu cầu mở thư tín dụng phải có cam kết

bằng văn bản với ngân hàng về lịch chuyển tiền cho ngân hàng đ ể ngân hàng

thanh toán cho nước ngoài, và nhất là, có nghĩa vụ cung cấp những khoản bảo

đảm hợp pháp bằng một hoặc nhiều hình thức như: ký qũy, cầm cô, thê chấp

31

Trang 38

tài sản hoặc được bên thứ ban bảo lãnh cho việc mở thư tín dụng trả chậm theo

yêu cầu của ngân hàng (Điều 8.4 Quy chê mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm

ban hành kèm theo Quyết định 711/2001/QĐ-NHNN ngày 25/5/2001); trong

trường hợp người mua muôn mở thư tín dạng trả chậm trung, dài hạn (thời hạn

trên 1 năm), người mua phải cung cấp văn bản của Ngân hàng Nhà nước xác

nhận đã đăng ký vay, trả nợ nước ngoài (Điều 9.2 Quy c h ế mở thư tín dụng

nhập hàng trả chậm ban hành kèm theo Quyết định 711/2001/QĐ-NHNN ngày 25/5/2001)

3.2.2 ()u \ền và nghĩa vu cơ bủn của ngân hàri 2 phái hành

Quyển

Đôi với thư tín dụng trả ngay, ngân hàng phát hành có quyền yêu cầu người

yêu cầu mở thư tín dụng chuyên tiền ký qũy đầy đủ trước khi thực hiên thư tíndụng

Đôi với thư tín dụng trả chậm, quyền cơ bản nhất của ngân hàng phát hành đôi

với người yêu cầu mở thư tín dụng là là quyền tmy đòi người yêu cầu mở thư

tín dụng thanh toán cho mình tất cả những khoản tiền mà ngân hàng đã hoặc

sè phải thanh toán thư tín dung, phí, hoa hồng và lãi Theo qui định của UCP

500, cam kết thanh toán thư tín dụng của ngân hàng phát hành không bị ràng

buộc bởi các khiếu nại hoặc sự bảo vệ nào của người yêu cầu mở thư tín dụng

phát sinh từ quan hệ của họ với người thụ hưởng (Điều 31, UCP 500)

Nghĩa vu

Nghĩa vụ quan trọng nhất của ngân hành phát hành đốì với người yêu cầu mở

thư tín dụng là cam kết sẽ thực hiện việc thanh toán thư tín dụng cho người thụ

32

Trang 39

Luận văn thạc sỳ

hưởng Thư tín dụng có thể được thực hiện bằng cách thanh toán ngay, chấp

nhận và thanh tóan hôi phiếu khi đến hạn, chiết khâu hôi phiếu Tuy nhiên,

trên thực tế, ngân hàng phát hành không trực tiêp thực hiện t h ư tín dụng Việc

thực hiện thư tín dung thường do các ngân hàng trung gian thanh toán đám

nhiệm Sau đó, ngân hàng phát hành có nghĩa vụ hòan trả các khỏ an đã thanh

toán cho ngân hàng trung gian

Ngoài ra, ngân hàng phát hành có nghĩa vụ thay mặt người yêu cầu mở thư tín

dụng kiểm tra chứng từ mà người thụ hưởng xuất trình để bảo đảm nguyên tắc

thực hiên thư tín dụng, một cách sâu xa là đ ể bảo đảm quyền lợi của người

Nghĩa vụ tư vấn của ngân hàng phát hành đôi với người yêu cầu mở thư tín

dụng là nghĩa vụ mang tính đặc thù trong cơ ch ế thanh toán bằng thư tín dụng

Chứng ta không tìm thây bất cứ qui định nào của pháp luật Việt nam qui định

về nghĩa vụ tư vân của ngân hàng phát hành đôi với người yêu cầu mỏ thư tín

dụng Nghĩa vụ tư vấn của ngân hàng phát hành được qui định tại Điều 5a,

UCP 500, theo đó, các ngân hàng được khuyến cáo “ngăn chặn” tất cả những

khuynh hướng qui định quá nhiều chi tiết trong thư tín dụng hoặc được khuyến

cáo đưa ra những chỉ dẫn bằng cách tham chiêu đến một thư tín cỉụng tương tự

đã được phát hành trước đó

Không nên nhầm lẫn về đôi tượng của nghĩa vụ này; nó không đề cập đến

việc lựa chọn hoặc mô tả chứng từ, việc này phụ thuộc vào giao dịch thương

mại giừa người mua và người bán mà ngân hàng không thể biết Nghĩa vụ tư

định về những nội dung chủ yếu như thời hạn của tín dụng, gia hạn, điều chỉnh,

sửa đổi Trên thực tế, ví du như về vấn đề thư tín dụng giáp lưng, Toà phúc

33

Trang 40

thẩrn Paris đã tuyên bô ngân hàng phát hành, người đứng ở vị trí bản lề giữa

hai giao dịch, phải chịu trách nhiệm vì đã không lưu ý người yêu cầu mở thư

tín dụng những hậu quả của việc sửa đổi tín dụng thư do người mua mở và đôi

với hiệu lực của việc chấp nhận những sửa đổi đó (Toà phúc thẩm Paris, ngày 13/11/1987) [số 17, trang 1913]

3.3 Bản ch ấ t của thỏa thuận giữa người mua - người yêu cầu m ở th ư tín

dụ n g và ngân /làn g p h á t hành

Ngân hàng phát hành không đương nhiên bị buộc phải chấp nhận và mở một

thư tín dụng theo yêu cầu của người yêu cầu mở thư tín dụng

Quy c h ế mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm ban hành kèm theo Quyết định

71 1/2001/QĐ-NHNN ngày 25/5/2001 của Ngân hàng Nhà nước đã qui định

Khi chấp thuận mở thư tín dụng, giữa người mua - người yêu cầu mở thư tín

dụng và ngân hàng phát hành hình thành nên một thỏa thuận ngân hàng mà

bản chất của thỏa thuận này rất phức tạp Ngân hàng cam kết với khách hàng

nghĩa vụ phải làm; ngân hàng có thể hứa những khoản ứng trước (trường hợp

cấp tín dụng) hoặc chỉ đơn giản là người thực hiện một dịch vụ ngân hàng cho người mua

Điều 22.2, Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt ban hành k èm theo Quyết định số 22/QĐ-NH1 ngày 21/2/1994 qui định rằng khi có nhu cầu thanh tóan

bằng thư tín dựng, song song với việc lập giấy yêu cầu mở thư tín dụng, người

mua phải trích tài khoản tiền gửi (hoặc nộp tiền vào ngân hàng) một sô' tiền

bằng tổng giá trị hàng đặt mua để lưu ký vào một tài khoản riêng

34

Ngày đăng: 02/08/2020, 20:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội - 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VII
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đ ại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VUI NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội - 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đ ại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VUI
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
3. Mai Bạn, “Cơ c h ế íhanh toán, những điều cần trao đ ổ i”, Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng sô 04/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cơ c h ế íhanh toán, những điều cần trao đ ổ i
4. N guyễn Hữu Đức, “M ột s ố lưu ý về việc sử dụng hối phiếu trong thư tín d ụ n g ”, Tạp chí ngân hàng S() chuyên đề 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “M ột s ố lưu ý về việc sử dụng hối phiếu trong thưtín d ụ n g
5. N guyễn Hữu Đức, “Thư tín dụng xác nhận không huỷ ngang và biến th ể của n ó " , Tạp chí ngân hàng sô' 11 - 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư tín dụng xác nhận không huỷ ngang và biến th ể của n ó
6. Phan Lê, “Trao đổi về một s ố khái niệm thanh toán không dùng tiền m ặ t”, Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng số 03/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trao đổi về một s ố khái niệm thanh toán không dùng tiền m ặ t”," Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng "số
7. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hệ thống hoá các văn bản pháp luật về ngân hàng tập 4,5,6,7, NXB Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống hoá các văn bản pháp luật về ngân hàng tập 4,5,6,7
Nhà XB: NXB Sự thật
8. Trần Nam, “Mở L/C trả chậm sẽ dễ dàng hơn”, Tạp chí ngân hàng 9/9/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Mở L/C trả chậm sẽ dễ dàng hơn
9. Đặng Thị Nhàn, “M ột sô' vấn đề pháp lý liên quan đến giao dịch tín dụng chứng từ tại Việt N a m ”, Tạp chí ngân hàng số" chuyên đề 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: M ột sô' vấn đề pháp lý liên quan đến giao dịch tín dụng chứng từ tại Việt N a m ”, Tạp chí ngân hàng số
10. Vũ Ngọc Nhung, “Cần có giải pháp tăng cường thanh toán không dùng tiền m ặ t”, Tạp chí ngân hàng số 5/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cần có giải pháp tăng cường thanh toán không dùng tiền m ặ t”
11. N guyễn Trọng Thuỳ, Bảo lãnh - Tín dụng dự phòng &amp; những điều luật áp dụng, NXB Thống kê, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo lãnh - Tín dụng dự phòng & những điều luật áp dụng
Nhà XB: NXB Thống kê
12. N guyễn Trọng Thuỳ, Hướng dẫn Điều lệ &amp; thực hành thống nhất tín dụng chứng từ, NXB Thông kê, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn Điều lệ & thực hành thống nhất tín dụng chứng từ
Nhà XB: NXB Thông kê
13. N guyễn Trọng Thuỳ, Phân tích các tình huống trong giao dịch tín dụng chứng từ, NXB Thông kê, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích các tình huống trong giao dịch tín dụng chứng từ
Nhà XB: NXB Thông kê
14. Lê Văn Tư, Các nghiệp vụ ngân hàng thương mại, NXB Thông kê, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghiệp vụ ngân hàng thương mại
Nhà XB: NXB Thông kê
15. Vũ Hừu Tửu, Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương, NXB Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương
Nhà XB: NXB Giáo dục
16. Vù Hữu Tửu, Kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán quốc tế, NXB Giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán quốc tế
Nhà XB: NXB Giáo dục
17. Pierre Brunat. Iximy Transporl Tome 2, Lamy SA, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Iximy Transporl Tome
18. Alain Couret, Jean Devèze et Gérard Hirigoyen, Lamy Droit Financement, Lamy SA, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lamy Droit Financement
19. Friedel, ỉen g a g e m e n t du banquier dans le credit documentaire irrevocable, M é l . H a m e l 1961 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ỉen g a g e m e n t du banquier dans le credit documentaire irrevocable
20. Stoufflet, Credit documentaire, Réponse commerciele Dalloz, 110 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Credit documentaire

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w