Xuất phát từ mục tiêu đó, nhiệm vụ khoa học của Luận văn là: - Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về thuế CÌTGT và pháp luật về thuế GTGT; - Trên cơ sở mô hình lý thuyết và thực tiễ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ T Ư P H Á P
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRUỜNG ĐẠI HỌC PARIS II PANTHÉON - ASSAS
I
LÊ THI BÍCH LIÊN
MỘT SỐ VÂN ĐỂ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIẺN • • •
Trang 3Chương 1: M ột số vấn đề !ý luận cơ bản về th uế giá trị gia tăng
«•
1.1.2 Sự cồn thiết, áp dụng thuế GTGT thay thế thuế doanh thu 10
ỉ.ì Khái quát thực tiễn áp dụng chế độ thuếGTGT ở một số nước 151.2.1 Nhu cầu áp dụng chế độ thuế GTGT ở một số khu vực kinh tế điển hình 15
Trang 4Chưong 3: M ột số giẳí p h á p về việc hoàn thiệrt
p h á p lu ậ t iììuế giá trị gia tàn g ở Việt N am 57
3.2 Qiton điểm cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật th u ế GTGT ở Việt Nam 60
3.3 Một số nội dung cụ thể vê hoàn thiện pháp luậí íhuế GTGT 62
Tài liệu tham khảo
Tnilìf»
Trang 5CÁC C H Ữ V IẾT TẮT
Tfrong Luận văn này, các chữ viết tắt được hiểu như sau:
1 Các chữ viết tắt tiếng Việt:
Công ty trách nhiệm hữu hạn
T h u ế giá trị gỉa tăng
T h u ế thu nhập doanh nghiệp
Ưỷ ban thường vụ Quốc hội
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products)Quỹ Tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund)
Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Deveỉopment Assistance)
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế(Organizafion C)f Economic Cooperation and Development)
Tổ chức Thương mại T hế giới (Worlđ Trade Oiganizafion)
Trang 6LỜ I M Ở ĐÂU
Pháp luật thuế là công cụ chủ yếu để động viên tài chính cho Ngủn sách nhà nước và thực hiện các chính sách kinh tế xã hội của nhà nước Thuế giá (rị gia tăng (“thuế G TG T”) là sắc thuế gián thu cơ bản và đặc biệt quan trọng trong việc huy động Iiguồn thu cho Ngân sách nhà nước, đem lại số thu chiếm tỷ trọng đáng
kể trong tổng số thu Ngân sách nhà nước Do vậy, trong hệ thống pháp luật (huế, pháp luật về thuế GTGT có vị trí rất quan trọng
Việc áp dụng ch ế độ thuế GTGT ở Việt Nam thay th ế ch ế độ thuế doanh thu trong thời gian qua có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế - xã hội Trong gần ba năm triển khai thực hiện, bên cạnh những thành công bước đáu và những giá trị kinh tế - xã hội đáng ghi nhận của chế độ thuế GTGT đã chứng tỏ sự lựa chọn đúng đắn và sự cần thiết của việc áp dụng ch ế độ thuế mới này ở Việt Nam Mặc dù trong thời gian này các văn bản pháp luật về thuế GTGT đã được nhà nước sửa đổi bổ sung nhưng vẫn bộc lộ những bất cập cần được nghiên cứu đánh gin để hoàn thiện
Một trong những mục tiêu quan trọng của công cuộc cải cách thuế giai đoạn II của Nhà nưóc phù hợp với mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội
2001 - 2010 được nêu tại Đại hội Đảng lần thứ IX là phải tạp trung vào xây dựng một nền kinh tế độc lập lự chủ, phát huy cao độ nội lực, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nến kinh tế Việt Nam Công cuộc cải cách thuế đo vậy c;ìn phải được tiếp ỉục thực hiện để phát huy những kết quả đạt được và góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu của chiến lược phát triển của đất nước
Bên cạnh đó, trong bối cảnh phát triển kinh tế trong thời kỳ mới, xu thế toài) cầu hoá và hội nhập quốc tế đang diễn ra sôi ỉiổi fạo ra nhiều nhân lố ánh
Trang 7Thực tế đó đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu cho Luật học là phải nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật, phát hiện những bất cập của pháp luật hiện hành về thuế G TG T và hướng hoàn thiện.
Với những nhận thức như vậy, tác giả Luận văn “M ộí sô vấn đ ề lý luận và thực tiễn vê pháp luật th u ế giá trị gia tăng ở Việt N am '’ mong muốn góp sức nghiên cứu để giải quyết một vấn để có tính cấp thiết của lý luận và thực tiễn ờ nước ta
Trên thực tế vì thuế GTGT là một sắc thuế mới và có tầm quan trọng đối với nền kinh tế nên đã có nhiều công trình nghiên cứu, hội thảo bàn luận về thuế GTGT và hoàn thiện thuế GTGT trong thời gian qua Tuy nhiên việc nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến khía cạnh kinh tế tài chính, còn nhiều hạn chế về khía cạnh pháp lý của thuế GTGT Trong số các công trình nghiên cứu đó có các công trình nghiên cứu điển hình là: Báo cáo khảo sát về thuế GTGT ở các nước Pháp, Thuỵ Điển, Trung Quốc (Tổng Cục thuế, Bộ Tài chính, năm 1993); Mô hình áp dụng thuế GTGT ở Việt Nam (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bô của Tổng Cục thuế, Bộ Tài chính, năm 1993); Báo cáo tổng kết công tác triển khai thực hiện cácLuật thuế mới (Tổng Cục thuế, Bộ Tài chính, 5/2000)
(
»■
Hơn nữa, pháp luật thuế GTGT mới được triển khai thực hiện trong VÒ118Ị gần ba năm trở lại đây, trong quá trình thực hiện bên cạnh những ưu điểm còn bộc [ộ những bất cập cần phải được thường xuyên nghiên cứu, đánh giá đê sửa đổi bảo đám phù hợp với thực tiễn phát triền không ngùng của đời sống kinh tế xã hợi Luận văn tập trung xem xét các vấn đề tồn tại của các qui định về thuế CiTGT hiện hành và những vấn đề pháp lý phát sinh trong thòi gian gần đây nên có ơjá trị cua một công trình nghiên cứu độc lập
hưởng đến việc cải cách th u ế trên th ế giới, đòi hỏi các quốc g ia đều phải có cácchính sách mới thích hợp về cải cách nhằm làm phù hợp với xu th ế chung
Trang 83 Nhiệm vụ và m ục đích nghiên cứu đề tài
Mục tiêu của Luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về thuế GTGT và pháp luật thuế GTGT để trên cơ sở đó đánh giá thực trạng pháp luật và xãy dựng đề án hoàn thiện Xuất phát từ mục tiêu đó, nhiệm vụ khoa học của Luận văn là:
- Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về thuế CÌTGT và pháp luật về thuế GTGT;
- Trên cơ sở mô hình lý thuyết và thực tiễn áp đụng, đánh giá thực trạng về thuế GTGT, pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam và phát hiện những vấn đề cần giải quyết;
- Nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về thuế GTGT tại Việt Nam, những quan điểm có tính nguyên tắc và nội dung hoàn thiện của pháp luật về thuế GTGT ở Việt Nam
Phù hợp với mục đích nghiên cứu đề tài và trong khuôn khổ của một Luận văn Thạc sỹ, phạm vi nghiên cứu của đề tài M ột số vấn đê lý luận và thực tiễn vé pháp luật th u ế giá trị gia tăng ở Việt Nam không nhằm mục tiêu mô tả lại toàn
bộ những nội dung điều chỉnh của pháp luật hiện hành về thuế GTGT ở Việt Nam,
m à chỉ giới hạn tập trung phân tích các nội dung chủ yếu của các quy phạm pháp luật về thuế GTGT, đánh giá thực trạng, những ưu điểm nhược điểm, trên cơ sở đó rút ra những kết luận và luận giải cho một số kiến nghị về các nội đung cần hoàn thiện
Để đánh giá thực trạng pháp luật về thuế GTG T của Việt Nam luận văn cũng đề cập đến các qui định của pháp luật về thuế GTGT và tìm hiểu kinh nghiệm
áp dụng của một số nước trên thế giới
Trang 95 Cơ sở phương pháp luận và phưong pháp nghiên cứu
Luận vãn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới kinh tế, nhằm xây đựng một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy hiệu quả, hiệu lực quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật kinh tế theo hướng chủ động hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giói, và cụ thể là quan điểm cải cách hệ thống thuế và pháp luật về thuế
Phương pháp luận nghiên cứu đề tài là phép duy vật biện chứng Phương pháp nghiên cứu được sử dụng để hoàn thành Luận văn là phân tích tổng hợp kết hợp với đối chiếu, so sánh các quy định có liên quan để đưa ra những nhận xét và kiến Iighị Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu được sử dụng nhằm làm sáng tỏ các khái niệm, các vấn đề đặt ra trong các qui định và thực tiễn vận dụng pháp luật thuế GTGT Phương pháp tổng hợp được sử dụng chủ yếu để đưa ra những nhận xét m ang tính chất khái quát hoá, từ đó luận chứng cho những kiến nghị thích hợp ,
Luận văn đã phân tích làm rõ một số vấn đề cơ bản về lý luận về thuế GTGT và pháp luật thuế GTGT, xem xét những kinh nghiệm áp dụng ở các nước, đánh giá các kết quả đạt được và những tổn tại trong quá trình gần ba năm thực hiện luật thuế GTGT ừ Việt Nam; luận chứng về thực trạng pháp luật về thuế GTGT ở Viêt Nam và xây dựng đề án hoàn thiện
Luận văn M ộ t s ố vấn đ ề lý luận và thực tiễn về p h á p ỉuât th u ế giá (rị gia tăng ở Việt N a m , ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài íiệu tham khno, đượckết cấu gồm ba chương:
Trang 10Chương 2: Pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam và những vấn đề
pháp lý đặt ra
Chương 3: Một số giải pháp về việc hoàp thiện pháp luật thuế giá trị gia
tăng ở Việt Nam
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng Luận văn cũng không thể tránh khỏi những hạn chế Tác giả rất mong nhận được sự góp ý kiến của các thầy cô giáo, các nhà nghiên cứu, bạn bè và đồng nghiệp để trong những công trình tiếp theo tác giả có địrth hướng nghiên cứu phù hợp và giá trị hơn
Tồi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sỹ Luật học Võ Đình Toàn, người thầy đã dành nhiều thời gian và công sức để hướng dẫn hoàn thành Luận văn này Xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Luật
Hà Nội đã giúp trang bị kiến thức cho chúng tôi trong thời gian đào tạo tại nhà trường, và các thầy cô giáo Khoa Sau đại học đã giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi để Luận văn được hoàn thành Xin chân thành cảm ơn các bạn
bè đồng nghiệp, những người bạn và cũng là người thầy đã cung cấp nhiều thông tin, tài liệu liên quan và giúp đỡ, góp ý trong việc nghiên cứu đề tài trong thời gian qua
Hà Nội, tháng 11 năm 2001
Lê Thị Bích Liên
Chương ì : M ột số vấn đề lý luận cơ bản về th u ế g iá trị gia tăng và pháp
luật th u ế g iá trị gia tăng
5
Trang 11C H Ư Ơ N G 1
M ỘT SỐ VÂN ĐỀ LÝ LU ẬN c ơ BẢ N VỂ T H Ú Ế G IÁ TRỊ GIA TẢNG VẢ
PH ÁP LU Ậ T TH U Ế G IÁ TR Ị G IA TẢ NG
1.1 KHÁI NIỆM VÀ CÁC ƯU ĐIỂM CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TẢNG
1.1.1 K hái niệm th u ế giá trị gia tăng
T h u ế giá trị gia tăng (sau đây gọi tắt là “ th u ế G T G T ”), tiếng Anh là Value A d d e d Tax (VAT), là m ộ t loại th u ế gián thu phổ thông đánh vào việc sử dụng thu nhập, có n g hĩa ỉà đánh vào sự tiêu dùng h àn g h o á và dịch vụ T h u ế này do các n h à sản xuất kin h doanh và cung cấp dịch vạ nộp, nhưng người chịu thuế cuối cùng chính là người tiêu đùng
K hi nói th u ế G T G T do người tiêu dùrig chịu, có nghĩa là tiền thuế mà trên d an h n ghía được trả bởi tổ chức hay cá n h â n kinh d oanh bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ sẽ được chuyển q u a cho ng#ười tiẽu d ù n g chịu dưới dạng cộng thêm vào giá bán h àn g hoá, dịch vụ đó
Tính phổ thông của th u ế G T G T thể h iện ở chỗ nó được thiết k ế để áp đụng cho hầu như m ọi loại h à n g h o á và dịch vụ tiêu dùng, trừ lứiững trường hợp ngoại lệ (khác với loại th u ế gián thu khác, lứiư th u ế tiêu thụ đặc biệt chỉ đánh hạn c h ế vào m ộ t số các loại h àng hoá, dịch vụ nhất định) T h u ế G T G T có phạm
vi thu rất l ộng, đối tượng chịu th u ế là hầu hết c,ác sản phẩm hàng hoá và dịch vụ tiêu thụ trong liước
Đối tượng tính th u ế G T G T là giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ
“Giá trị gia tăng” là giá trị m à người sản xuất kinh d o an h làm tăng thêm vào giá nguyên vật liệu ha)' hàng hod m u a vào tm ớc khi bán ra sản phẩm hay dịch vụ
6
Trang 12M ột sô' vấn đê lý luận cơ bản vê thuếGTGT và pháp luật thuê C K ĩl
mới V ề bản chất kinh tế đó là chênh lệch giữa giá đầu ra và giá đáu vào do
đơ n vị kinh tế tạo ra trong quá trình sản xuất lưu thông
V ề m ặt nguyên tắc n h à nước chỉ đánh th u ế vào phần giá trị tăng thêm của h àn g hoá, dịch vụ, Tuy vậy, cách hiểu “ th u ế G T G T chỉ đánh trên giá trị tăng th ê m ” chỉ đúng khi xét trên góc độ m ỗi công đ oạn sản xuất h ay lưu thông Trên thực tế, thuế G T G T được tính theo m ộ t tỷ lệ n h ấ t định trên toàn bộ giá
h àn g hoá dịch vụ cuối cùng đến người tiêu dùng N hư vậy tên gọi “ thuế
G T G T ” hoàn toàn k hông phải với ý nghĩa là loại th u ế chỉ đánh khi phát sinh giá trị tăng thêm, m à nó thể h iện phương pháp th,u th u ế theo phần trên giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ ở từng công đoạn sản x u ất h o ặc lưu thông (điều này cũng giải thích cho việc ở khâu nhập khẩu, th u ế G T G T đáiih trên toàn bộ giá trị
h àn g chứ không xác định trên giá trị tăng thêm) T h u ế G T G T do mỗi tổ chức
h ay cá n hân kinh doanh phải nộp được xác định trên “giá trị” m à tổ chức hay cá nhân đó làm tăng thêm cho h àn g hoá h ay d ịch vụ m à họ bán ra, có nghĩa là
th u ế này được tính đối với m ỗi doanh nghiệp trên phần chênh lệch giữa tổng giá trị bán ra nội địa (không tính giá trị xuất khẩu) và tổng giá trị m u a vào Nói cách khác, th u ế G T G T được tính và nộp qua từng khâu, và tổng số th u ế G TGT
m à từng d oanh nghiệp nộp cho các công đoạỉì từ sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ cho đến chu kỳ lưu thông cuối cùng sẽ đúng bằng số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng
N h ư vậy, nguyên tắc cơ bản của th u ế G T G T là sản phẩm hàng hoá dù
q ua Iihiều khâu hay ít khâu từ sản xuất đến tiêu d ù n g thì đều chịu thuế như nhau Mỗi lần chuyển sang m ộ t khâu sản xuất kinh doanh tiếp theo thì sản phẩm đó chỉ chịu thêm phần th u ế tíiih trên phần doanh thu tăng thêm Hiệu quả của th u ế G T G T như vậy không phụ thuộc vào sự tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế, cho dù sản phẩm có trải qu a bao nhiêu giai đoạn sản xuất lưu thông thì tổng số thuế Nhà Iiước thu được cũng chỉ hằng thuế suất (tỷ lệ phán trăm) nhân với giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng
Trang 13Một sô' vấn đ ề lý luận cơ bàn vê íhuếGTGT và pháp luật thuê GI GI
Bảỉig sau đây m in h hoạ cho việc tính th ủ ế trên giá trị tăng (hôm Giả sử
m ột n h à sản xuất nhập khẩu sợi vải để m ay áo sơ mi đem bán; th u ế suất thuế
G T G T áp dụng là 10% Có thể thấy tổng các số th u ế phải nộp ở lừng khâu đúng bằng số thuế tính trên giá bán lẻ cuối cùng
Bảng 1: T huếG T G T qua các khâu sẩn xuất kinh doanh
(tổng thuế trênchênh lệch) 42
N hư vậy, ờ mỗi khâu tiêu thụ h àn g hoá, th u ế G T G T đều được tính trên giá trị bán ra (cột 6) T h u ế phải nộp ở giai đoạn sau được trừ số th u ế đã nộp ở giai đoạn trước nên không bị thu trùng lắp (cột 5) (riêng giai đoạn nhập khẩu số thuế phải nộp tính trên toàn bộ giá trị nhập khẩu), tổng số th u ế phải nộp qua từng giai đoạn bằng giá m u a cuối cùng của người tiêu dùng nhân với thuế suất
T h u ế được thu dần q u a các giai đoạn sản xuất kinh doanh, do người bán đưa vào giá hàng hoá, n ên được chuyển toàn bô cho người m ua hàng cuối cùng chịu
Từ th á i niệm về giá trị gia tăng nêu trên, về lý thuyết có thể biểu thị giá trị gia tăng bằng công thức sau:
8
Trang 14M ột sô' vấn d ề lý luận cơ bàn về th u ế (77 GT và pháp luật thui' (7VGT
t
Giá trị gia tăng = Tiền công + Lợi nhuận
Hoặc: Giá trị gia tăng = G iá đầu ra - Giá đầu vào
N hư vậy trên lý thuyết có bốn cách tíỉủi th u ế GTGT, với th uế suất là t%
trên giá trị gia tăng như sau
1) T h u ế G T G T = t X (tiền công + lợi nhuận) (phương pháp CỘI 1 ÍỊ trực tiếp)
2) T h u ế GTGT = t X (tiền công) + t X (lợi nhuận) (phươỉtg pháp cộng gián tiếp)
3) T h u ế G T G T = t X (Giá đầu ra - G iá đầu vào) (phương pháp trừ trực tiếp)
4) T h u ế G T G T = t X (Giá đầu ra) - 1 X (Giá đầu vào) (phương pháp trữ gián tiếp)
Phẩn lớn các loại th u ế được thu bằng cách xác đ ịnh căn cứ tính th u ế (íhti Iihập, d oanh thu, giá trị tài sản, vốn ) và áp dụng th u ế suất đối với giá trị đó Phương pháp rương tự như vậy có thể được cho là thích hợp đối với thuế GTGT
G iá trị gia tăng có thể tính trực tiếp (phương pháp 1 và 3) hoặc gián tiếp (phương pháp 2 và 4) như trên, và áp dụng th u ế suất để xác định số thuế phải nộp
Tuy nhiên, phương pháp 1 và 3 là các phương pháp k ế toán, vì vậy cần phcải xác định được lợi nhuận, giá đầu ra và đầu vào của từng kỳ nộp thuế Trên thực tế, điều này là rất phức tạp, n hất là đối với trường hợp nhiều nguyên vạt liệu đầu vào khác Ììhau, mức tiêu hao khác Ịihau, và còn phải chia doanh thu bán hàng cửa từng loại sản phẩm có th u ế suất áp dụng khác nhau Các cách tính này không áp dụng được nếu sử dụng th u ế G T G T có nhiều thuế suất Vì vậy các phương pháp này chỉ tổn tại về m ặ t lý thuyết Phương pháp 2 cũng là
1 X e m “ 'I1iuế g iá trị g i a l á n g ” , tài liệu tluim k h ả o , Bộ Tài c h í n h , 19 93 ( 3 -5 ).
0
Trang 15Một s ố vấn đ ề lý luận cơ bản vé thuếGTGT và pháp luật thui' G T C ĩI
phương pháp lý thuyết, vì việc phải xác địiứi lợi nhuận kịp thời hì không khả thi
Thực tế hành thu th u ế G T G T ở các nước cho thây chi có phương phcáp thứ tư là m an g tính thực tế hon cả Bởi vì chỉ cần xác định tổng số thuế nộp trên doanh thu bán ra, và tổng số th u ế nộp trên h àn g ho á địch vụ m ua vào (bất
kể th u ế suất áp dụng là bao nhiêu), chênh lệch giữa hai tổng trên chính là số thuế phải nộp vào cuối kỳ Phương pháp này còn gọi là phương pháp khấu trừ, hay phương pháp h o á đơn, nhờ đó có thể dễ dàng tính được ng h ĩa vụ thuế một cách kịp thời theo từng tháng, từng quý hoặc theo năm , và cho phép áp dụng Ìihiều hơn m ột loại th u ế suất
1.1.2 S ự cần thiết áp dụng thuê G TG T thay th ế thuê doanh thu
T h u ế doanh thu (th uế hàng hoá) được các n h à nước áp dụng ở thời kỳ sơ khai là loại th u ế tính thẳng (tính trực tiếp) theo m ộ t tỷ lệ thường là rất thấp (khoảng 0,2% ) trên tổng doanh thu kinh d oanh ở giai đo ạn cuối cùng của quá trình lưu thông hàng hoá (khâu bán lẻ) Sau đó, nó được m ở rộng áp dụng đánh vào từng khâu của quá trình sản xuất k inh doanh, cho đến khâu bán lẻ Cách đánh th u ế nhy tạo ra sự “ tích đồn thuế” , làm cho quá h ìn h sản xuất ra sản phíỉm càng q u a nhiều khâu thì càng phải chịu th u ế cao vì th u ế đátìh trùng lên thuế
V iệc đánh trùng còn xảy ra khi sử dụng các loại th u ế đ án h vào doanh thu khác nhau (thuế doanh thu, th u ế tiêu thụ đặc biệt)
Nhược điểm này buộc đ a số các nước phải chuyểti đổi, hoàn thiện dẩn
ch ế độ th u ế doanh thu Phương pháp tốt n h ấ t là cho phép khấu trừ tương tự như hệ thống khấu trừ đối với thu ế GTGT, dù là không được trừ toàn bộ thuế đa nộp trên đđu vào, mà chỉ vói m ộ t số m ặt hàng m u a vào (ví dụ trong trường hợp
m iễn thuế) Đ ây có thể coi là m ột dạng tiến bộ hem của thuế doanh thu và là
m ột bước tiến đến th u ế G T G T toàn diện Hình thức thu như vậy gọi là (huế
10
Trang 16Một sô' vấn d ề lý luận cơ bản v ề thuếGTGT và pháp luật thui’ GTCtT
doanh thu có khấu trừ, có nghĩa là việc tính th u ế phải nộp của giai đoạn sau
được khấu trừ (một phần) số th u ế đã nộp ở giai đoạn trước Đi đầu trong việc
áp dụng cách tính này chính là các nước trong khối thị trường chung chau Âu trước đây
Ưu th ế của hệ thống th u ế doanli thu có khấu trừ này là th u ế được phân bổ
trong cả quá trình sản xuất kinh doanh, chứ không chỉ được thu ở khâu bán lẻ,
và nhà kinh doanh đ ã phải chịu m ộ t phần th u ế khi m u a hàng đầu vào, nên bất
cứ hành động nào sau đó của nhà kinh doanh với ý định trốn th u ế thì chỉ làm
thất thu m ộ t pỈỊần nhỏ số thuế M ột ưu th ế nữa là I1Ó làm cho n h à kinh doanh
quen với cơ c h ế khấu trừ thu ế đã nộp dựa trên hoá đơn chứng từ, và đó có thể
xem là nửa đường đến vói m ô hình th u ế G T G T ngày nay
Cho đến nay, th u ế G TG T là loại th u ế gián thu được áp dụng phổ biên
nhất vì nó tỏ ra thích nghi nhất với nền kinh tế cạnh tranh, có tính công bằng và
trung lập hơn so với các loại th u ế đánh vào doanh thu đã được áp dụng
Ngày nay việc áp dụng th u ế G T G T m a n g tính phổ biến trên thế giới
Điều này phát sinh từ các ưu điểm nhược điểm của nó so với th u ế doanh thu thể
hiện trên các m ặt sau:
- T hứ Iihất, th u ế G T G T cũng như th u ế doanh thu đều là th u ế gián thu, là
m ột yếu tố trong giá hắng h oá địch vụ do người tiêu dùng phải trả Là thuế
gián thu nên thực tế loại th u ế này được nộp bởi người sản xuất hàn g hoá, cung
cấp dịch vụ, tránh được sự quan hệ trực tiếp giữa người chịu th u ế và cơ quan thu
thuế, vì th ế đễ thu hưii các loại th u ế trực thu Là th u ế đánh vào tiêu dùng liên
dễ điều chỉnh vì người chịu th u ế thường không cảm nh ận được đẩy đủ gánh
nặng của thuế Diện đánh thuế rộng, bao trùm hầu Iihư m ọi hoạt động sản xuất
kinh doanh của nền kinh tế
Trang 17Một s ố vấn d ề lý luận cơ bản về thuếG TG l’ và pháp luật thuê GTGT
L à thu ế đánh vào tiêu dùng nên thu ế G T G T có ưu điểm của thuế doanh thu là hơn hẳn so vói bất cứ loại th uế thu nhập nào trong việc khuyến khích đàu
tư vốn, và kích thích phát triển kinh tế Bởi vì việc thu thu ế của nhà nước không ảnh hưởng tới thu nhập của nhà đầu tư
Tuy nhiên, cũng vì lý do này, nó lại là loại th u ế m an g tính luỹ thoái, không đảm bảo sự công bằng trong động viên giữa các tầng lớp dân cư Tỷ lệ tiêu dùng trên thu nhập là giảm đi theo mức độ tăng của thu nhập, do vậy thuế
sẽ đánh vào các tầng lóp thu nhập thấp nhiều hơn so với người có thu nhập cao, nếu tính trên tỷ lệ với thu nhập dân cư Có nghĩa ỉà nếu so sánh tỷ lệ th uế gián thu phải chịu khi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trên thu nhập của người dân thì người nghèo thường có tỷ lệ nộp th u ế cao hơn so với người giàu
- Thứ hai, th u ế GTGT có tính trung lập, có n gh ĩa là khác với th u ế doanh
thu, nó khô n g phải là m ộ t yếu tố trong chi p h í củ a doanh nghiệp (về m ặt lý thuyết) Nó kh ô ng làm ảnh hưởng đến giá cả của hàn g hoá, vì khi nó phải nộp bởi doanh nghiệp này thì nó cũng được khấu trừ ở do an h nghiệp khác, chỉ có người tiêu dùng cuối cùng mới không được khấu trừ Đ ây là điểm lợi th ế của việc áp dụng th u ế G T G T vì việc không tính th u ế gián thu vào trong chi phí sản xuất, và cũng như vậy đối với giá thành h àn g hoá xuất khẩu nên không làm tăng giá m ộ t cách giả tạo
- Thứ ba, hiệu quả của th u ế G T G T không phụ thuộc vào sự tổ chức và phân chia các chu trìiih kinh tế Các khâu sản xuất kinh doaiứi của m ột sản phẩm dù được tập trung tại m ộ t doaiih nghiệp hoặc ph ân chia cho nhiều doanh nghiệp khác nhau thì tổng số th u ế N hà nước thu được luôn bằng với số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng Đ ây là ưu th ế nổi bật của thuế
G TG T so với th uế doanh thu Bởi vì, đối với th u ế doanh thu, hiệu quả lại phụ thuộc vào sự tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế, sản phẩm càng trải qua nhiều công đoạn sản xuất lưu thông thì càng chịu th u ế cao do thuế ở giai đoạn
12
Trang 18Một s ố vấn đ ề lý luận cơ bàn về thuê GTGT và pháp luật thuê CìTCil
sau đánh trùng trên (huế của giai đoạn trước Điều này phát sinh từ lý do kỹ
thuật tính th u ế là th u ế G TG T được nộp ở từ n gìchâu trên giá trị tăng thêm của
sản phẩm ở khau đó, trong khi thu ế doanh thu đán h trên toàn bộ doanh thu của
m ỗi khâu sản xuất, kinh doanh
- Thứ tư, m ộ t điểm khác biệt nữa là th u ế G T G T có khấu trừ số thuế nộp ư
giai đoạn trước, nhưng th uế doanh thu thì kh ô n g được khấu trừ (tất nhiên không
tính đến loại th u ế doanh thu có khấu trừ được các nước châu Âu áp dụng trước
khi chuyển sang áp dụng th uế GTGT, và loại th u ế doanh thu này cũng khôns;
được khấu trừ đầy đủ), v ề cơ bản, các khâu sản xuất kinh doanh dịch vụ trung
gian không tạo ra số thu thu ế G T G T cho nhà nước, vì số th u ế nộp ở những giai
đ oạn này sẽ được khấu trừ hoặc hoàn lại, cho đến khi sản phẩm cuối cùng được
tiêu dùng
N hư vậy, th u ế G T G T vẫn đảm bảo được số thu kịp thời và thường xuyên
cho N gân sách nh à nước dơ được thu qua từng công đo ạn của quá trình từ sản
xuất đến lưu thông, và lại khắc phục được sự đ án h trùng th uế của thuế doanh
thu T h u ế G T G T được đánh đến tận khâu cuối cùng là bán lẻ, nên diệu chịu
th u ế rất rộng, v ề m ặ t tài chính, vói m ộ t th u ế suất thấp cũng có thể đem lại
nguồn thu lớn cho N gân sách n h à nước
D o th u ế G T G T m à nhà nước thu được k h ô n g phụ thuộc vào sự tổ chức và
phân chia các chu trình kinh tế nên tạo ra cơ sở đ ể nhà nước áp dụng cơ cấu ít
th u ế suất hơn th u ế doanh thu, bảo đảm đơn giản và rõ ràng hơn trong tính và
thu thuế Tuy nhiên, nếu Iihằm vào m ục tiêu điều tiết các ngành sản xuất kinh
doanh thì sử dụng công cụ thu ế G T G T không đạt được, do tính trung lạp của
th u ế G T G T rất cao
Do phương pháp khấu trừ thuế nên thuế G T G T với th u ế suất 0% áp dụng
cho hàng hoá xuất khẩu đảm bảo n h à xuất khẩu được hoàn lại số thuế dã nộp
1.3
Trang 19Một sô' vấn đ ề lý luận cơ bản về thu ếG T Ơ Ĩ vả plưíp luật thui’ ("Ỉ1CỈT
đối với các công đoạn sản xuất kinh doanh trong thị trường nội địa của hàim hoá xuất khẩu đó, do đó chi phí thực tế của hàng ho á xuất khẩu giảm so với chê
độ th u ế doanh thu, vì vậy tạo cơ hội thuận lợi cho hà n g xuất khẩu có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế
M ặt khác, do tính th u ế theo phương pháp khấu trừ nên việc qui định
h àn g h o á nhập khẩu cũng phải chịu th u ế G T G T n hư h àn g hoá tương ứng được tiêu thụ trên thị trường trong nước, tạo ra sự công bằng hơn và bảo hộ sản xuất trong nước, cũng như tạo thêm nguồn thu cho N gân sách n h à nước
(
- T hứ năm , áp dụng th u ế G T G T tạo ra sự kiểm soát chặt chẽ hơn về thuế, góp phần chống trốn lậu th u ế có hiệu quả Do việc khấu trừ th u ế đầu vào phải dựa trên cơ sở h o á đơn chứng từ, nên buộc doan h nghiệp phải lưu giữ sổ sách k ế toán đầy đủ, h o ạt động m u a bán phải có hoá đơn thì m ới được khấu trừ thuế
D o an h thu hay giá bán ra của người bán phải là giá m u a vào hay chi phí của người mua, nên các đơn vị m u a và bán kh ô n g thể thông đổn g trốn th u ế vì quyền lợi m âu thuẫn nhau
- Thứ sáu, ngoài những ưu đ iểm k ể trên, việc quản lý thu th u ế G TG T
khá phức tạp Đ ể thu th u ế đòi hỏi phải có sự quản lý thống n h ất và chặt chẽ
h o ạt độ n g sản xuất kinh doanh và trình độ n ghiệp vụ chuyên m ô n của cán bộ
th u ế phải được tăng cường Yêu cầu cơ bản là các do an h nghiệp phải ghi chép
sổ sách chứng từ k ế toán đầy đủ, m inh bạch Công việc k iểm soát tờ khai thuế
c ủ a đối tượng nộp th u ế chi phí rất lớn và đòi hỏi phải được điện toán hoá Quản
lý không chặt chẽ có thể dẫn đến tình trạng số th u ế khấu trừ và hoàn th u ế cao hơn so với số thu được của N hà nước
Tóm lại, áp dụng thuế G T G T thay thế th u ế doanh thu là m ột sự thay đổi lớn về nội dung tư tưởng chính sách, đòi hỏi phải thay đổi m ột cách cơ bản về
c h ế độ thuế Phải m ạnh dạn từ bỏ cái cũ, iạc hậu, chấp nhận khó khăn ban đáu
Trang 20Một s ố vấn để lý luận cơ bẩn về tlìuếGTGT và plìáp luậi iliut’ C K l l
khi tiếp nliẠn và thực hiện cái mới nếu t h í y được tínli rõ r à n g vổ niặl hiệu cỊiin líUi dài
1.2 KHÁI QUÁT THỰC TIÊN ÁP DỤNG CHẾ ĐỘ THUẾ GTGT ở MỘT s u
NƯỚC
1.2.1 N h u cầu áp dụng c h ế độ th u ế G TGT ỏ m ột sô kh u vực kinh tế điển hình
Có nguồn gốc từ thuế hàng h oá (th u ế doanh thu), th u ế GTGT được áp dụng trên thực tế xuất phát từ Châu Âu Do yêu cầu cải cách hệ thống thuế cho một khu vực kinh tế thống nhất, các quốc gia châu Âu đ ã ban hành và áp dụng
th u ế G TG T thay th ế th u ế doanh thu cũ không còn đáp ứng được đòi hỏi của sự phát triển kinh tế
Hội đồng các Bộ trưởng sáu nước thành viên ban đầu của Cộng đổng kinh tế Châu Âu (EEC) đã có các chỉ thị vào ngày 11 thẩng 4 năm 1967 về việc hài h o à cân đối hệ thống thuế doanh thu của các nước thành viên, trong đổ khuyến nghị các nước thành viên thống nhất thực hiện th u ế G TG T trước ngày I tháng 1 nă m 1970 Các chỉ thị ban đầu này đ ã nêu ra các nguyên tắc cơ bản
củ a m ộ t hệ thống th u ế áp dụng chung tính trên giá trị tăng thêm, và các qui định chi tiết để thi hành, tuy nhiên về m ộ t m ức th u ế suất chung thì chỉ được xác lộp kể rừ năm 1970, nhưng trên thực tế cho đến nay các nước thành viên cũng chưa áp dụng được m ột th u ế suất chung
Pháp và Đức là hai nước đầu tiên áp dụng th u ế GTGT, kể từ ctổu năm
1968 thay th ế c h ế độ th u ế doanh thu cũ (tuy nhiên Đức vẫn giữ tên gọi cũ là
th u ế doanh thu) Sau đó, đến lượt Hà Lan đưa luật th u ế G T G T vào áp (lụng kể
từ năm 1969 Tluiỵ Điển và Đan Mạch, lúc đó tu V chưn là thìinh viC'1) Cô ne đồng kinh tế CM u Âu nhưng với m ục đích hội'đủ điều kiện để thnm uin CọuR đổng, cũng đã xem xét áp dụng thu ế G TG T ngay tù' ĩigày 1 tháng 1 năm 1969
15
Trang 21Một sỏ' vấn đ ề lý luận cơ bản về íhuếCỉTGT và pháp luật íhiâ’ G T G l
Từ điển hình áp dụng ở các nước Châu Âu, th u ế C T G T dẩn dẩn được chấp nhộn và lan lộng sang các nước khác T h u ế G T G T cho đến nay được phổ biến áp dụng trên th ế giới bởi vì thực tế cho thấy đây là m ộ t sắc th u ế tiến bô và khắc phục được tính trùng lắp của thuế doanh thu Nhiều nước không chỉ xem việc áp dụng th u ế GTG T để thay th ế thu ế doanh thu trưóc đó để loại bỏ yếu tố đánh trùng thu ế m à còn tihư là m ộ t công cụ tăng nguồn thu và tăng cường công tác quản lý M ôt số nước coi loại th u ế này như m ộ t nguồn thu m ới để cho phép giảm hoặc huỷ bỏ các loại th u ế khác, n hư giảm th u ế thu nhập, bỏ th u ế đánh vào
q u ỹ lương V í dụ như các nghiên cứu ở A nh trước khi áp dụng th u ế GTGT cho thấy việc tính thêm 2% th u ế G T C T tương đương với việc có thể giảm thuế thu nhập khoảng 7/4%
Tuy nhiên, đối với những nước có hệ thống th u ế tinh vi và sự chấp hành tốt của người nộp th u ế thì áp dụng thuế doanh thu khâu bán ]ẻ là m ột giải pháp thích hợp V í dụ như ở Mỹ, th uế doanh thu chỉ đánh trên khâu bán lẻ, do đó về nguyên tắc không có sự đánh thu ế trùng, và việc thực hiện hoá đơn chứng từ trong m u a bán rất tự giác trong các tầng lớp nh ân dân Qui định chỉ đánh thuế
ở khâu bái) lẻ có nhược điểm là việc thu thu ế sẽ bị chậm trễ hơn, do nhà nước chỉ thu được th u ế khi sản phẩm , hàn g hoá được đưa vào lưu thông tiêu dùng
M ột điểm nữa phải lưu ý là hệ thống qu ản lý và thu th u ế của M ỹ được tổ chức
theo cấp tỉnh, bang và cấp liên bang riêng biệt và độc lập với nhau, và VỘI1 hành
rất hiệu quả trên thực tế Hệ thống quản lý bằng vi tính của liên bang cho phép
cơ quan th u ế đối chiếu chính xác và nhanh chóng giữa doanh thu và chi phí của các đối tượng nộp thuế V iệc chuyển đổi sàng th u ế G T G T sẽ ảnh hưởng đến hệ thống này, và đòi hùi phải cải tổ lại m ộ t cách cơ bản và toàn diện Điểu này găy ra nhiều tranh cãi, vì căn cứ để sửa đổi m ộ t hô thống đang hoạt động tốt là
k h ô n g hợp lý Vì vậy, vấn đề th u ế G T G T m ặc dù đã được nêu ra nhiều lán nhiều nghiên cứu về việc áp dụng ở M ỹ đã được tiến hành m ột cách qui mô và
16
Trang 22Một sô' vấn đề lý luận cơ bản về thuê GTGT và pháp lìtậl llmr C K7I
nghiêm túc, nhưng cuối cùng ở M ỹ nhà nước văn quyết định không đưa vào áp dụng trong thực tế
A ustralia cũng là m ộ t trong số ít các nưóc trong Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (O EC D ) kh ô n g áp dụng th u ế GTGT Mãi cho đến gần đay,
A ustralia trong q uá trình thực h iện cải cách hệ thống th u ế m ộ t cách cơ bản mới bắt đáu áp dụ n g th u ế G T G T từ tháng 7 năm 2000 (năm tài chính của A ustralia được tính từ 1 tháng 7 năm này đến 30 tháng 6 n ăm sau)
Các nước thanh viên C ộng đồng châu Âu, ngay từ những năm 1960, đã hướng tới việc lựa chọn th u ế G T G T như m ộ t giải pháp tốt n hất để tăng tính trung lộp và thống nhất của việc đánh thuế, đả m bảo khuyên khích quá trình công nghiệp h ó a và tăng năn g suất
Tại Pháp, th u ế G T G T chính thức được bắt đầu thực hiện từ ngày 1 tháng
I năm 1968 n h ằ m thay th ế các loại th u ế gián thu trước đây và m ở rộng diện thu thuế ở tất cả các cô n g đo ạn của sản xuất và lưu thông phân phối Hiện nay,
th u ế G T G T củ a P h áp là loại th u ế chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số thu từ
th u ế (số thu nă m 1990 là 4 1% ) Thực ra, trước đó, từ năm 1954, Pháp đã áp dụng th uế doanh thu có khấu trừ, tức là đối tượng nộp th u ế là cá nhân, cơ sở sản xuất kinh doanh được khấu trừ m ộ t phần số th u ế doanh thu đã nộ p ở khâu trước
T h u ế doanh thu này chỉ đán h vào khâu sản xuất và bán buôn Sau nhiều lẩn sửa
đổi, cải tổ, hoàn thiện dần, th u ế doanh thu có khấu trừ trở thành m ộ t sắc th u ế
mới với tên gọi t h u ế G T G T và áp dụng đến 'tận khâu bán lẻ đến người tiêu dùng M ột m ặt, th u ế G T G T đ á n h vào khâu bán lẻ tạo ra nhiều phiền phức đối với hoạt động kinh d o an h vốn quen với hệ thống thuế đánh th u ế khá đơn giản trước đây M ặt khác, việc lưu giữ sổ sách hoá đơn chứng từ cũ n g thêm m ột trách nhiệm nặn g nề và làm phức tạp thêm hoạt động sản xuất kinh doanh, vì đổ được khấu trừ, người nộp th u ế phải có hoá đơn để xác định
Trang 23M ột s ố vấn d ề lý luận cơ bản v ề thuếGTGT và pliáp luật lliut’ (11(71
Trung Q uốc là nước X H C N đầu tiên áp dụng th u ế G T G T từ năm 1984 Ban đáu Trung Q uốc tiến hành theo phương pháp áp dụng thí điểm, đúc rút kinh nghiệm nhiều lán trước khi đi vào thực hiện chính thức trên phạm vi rộnẹ
Một trong những nước đưa vào áp dụng th u ế G T G T trong nluiiií’ năm gần đíìy là Thái Lan C hế độ th u ế G T G T bắt đầu có hiệu lực áp dụng ử Thái Lan kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1992, thay th ế c h ế độ th u ế kinh doanh cũ theo Luật sửa đổi Bộ luật thuế (N o.30) B.E.2534 năm 1991, hay thường được gọi là Luật th u ế G T G T của Thái Lan T h u ế kinh doaiíh trước đây áp dụng ở Thái Lan được coi là phức tạp và phiền hà, và chủ yếu chỉ tác động trong lĩnh vực san xuất, trong m ột số trường hợp làm tăng giá thành h àng hoá lên đến xấp xỉ 40% Việc áp dụng th u ế G T G T được coi là góp phần vào sự phát triển của đất nước trong giai đoạn nhanh chóng tiếp cận quá trình công nghiệp hoá thông qua hội
nhập, xoá bỏ căn bản th u ế cũ tíìầ không tạo thêm gánh nặn g về th u ế đối với đâu
tư cơ ban Bởi vì, theo c h ế độ th u ế GTGT, chi p hí hoạt động đầu tư cơ bản được khấu trừ toàn bộ th u ế đầu vào Bên cạnh đó, xuất khẩu được hưởng thuế suất 0% nên hoạt động xuất khẩu của Thái Lan được tạo điều kiện hơn về lợi thế cạnh tranh trên trường quốc tế
Các phân tích đều chỉ ra rằng bước đầu khi triển khai thực hiện thuế GTGT ở các nước, cụ thể là ở châu Âu, có thể gây ảnh hưởng tới kinh tế như làm tăng giá gây ra Ịạm phát, nhưng nếu chuẩn bị tốt và có những biện pháp quản lý đồng bộ chặt chẽ thì tác động này không nhiều và nhanh chóng đi vào
ổn định (theo Báo cáo khảo sát của T ổng cục th u ế n ă m 1993)
Có các bằng chứng về ảnh hưởng của sự thay đổi c h ế độ Ihuế này có g;1\
ra lạm phái, tuy nhiên nít khó để khẳng định bản thân việc đưa vào áp dụng thuế G T G T chính là nguyên nhủn của lạm phát Do có rất nhiều tha}' đổi đồ!)” (hời xảy ra (rong nền kinh tế khi áp dụng thu ế GTGT, các cải ciícl) tlmố ciìiụi diễn in với những thay dổi về chính sách tài chính, tiền lệ, và các biến '.lõ 11!.',
Trang 24Một sô vấn d ề lý luận cơ bản về lliuếGTGT và pháp liiậl ilmr (7/(7/
llico chu kỳ của nền kinh tế nói chung Vì vậy không dễ “ bóc tách ” ảnh hương
l iêng của thuế G T G T đối với sự tăng giá cả
Theo nghiên cứu của chuyên gia Quỹ T iền tệ quốc tế IM F đối với 3 I quốc gia áp dụng th u ế G TG T để tách biệt ảnh hưởng của th u ế G T G T đối với giá
cả thông qua phân tích các yếu tố bên ngoài cũng như nội tại của nền kinh tế tại 21 nước không có ảnh hưởng nào về tăng giá, 6 nước có sự chuyển đổi về giá m ột lần, ví dụ ảnh hưởng của thu ế G TG T có liên quan đến chỉ số giá cả tiêu
dùng tăng 5% ở Đ an mạch, ở Pháp giá cả tăng khoảng 1% và ở Đức là 0,6%
Ba trong bốn nước còn lại lạm phát tăng cao, tuy nhiên các chính sách khác như
sự tăng đột biến của chi tiêu của chính phủ và cải cách về tỷ giá làm tăng đẩu tư
và m ở rộng nền tảng tín dụng trong nước đã có tác động nhiều đến sự tăng giá hơn thuế GTGT Nước duy nh ất có diễn ra cả sự chuyển đổi về giá và lạm phái
là Na uy
Theo thực tiễn áp dụng th u ế G T G T ở các nước, th u ế G TG T được đặt ra nhằm m ục tiêu chính là đảm bảo nguồn thu 1Ớ11 cho N gân sách nhà nước, chứ không để điều chỉnh thu nhập như các loại th u ế tiạrc thu Đ ể khắc phục phán nào tính luỹ thoái củ a thuế GTGT, các nước áp dụ n g mức th u ế thấp hơn đối với
m ộ t số hàng hoá dịch vụ thiết yếu Tuy nhiên, đây chỉ là biện pháp có tác động
m ột phần, chủ yếu là cần phải kết hợp với việc điều chỉnh bằng các sắc thuế trực thu và các chính sách phúc lợi x ã hội
K hồng nên vận dụng nhiều các qui định ưu đãi, vì cơ c h ế th uế G TGT có tính trung lập cao, rất khác so với th u ế doanh thu trước đây Đ ể thực hiện các chính sách điều tiết vĩ mô về kinh tế, xã hội cần thông qua các luật (huế kliííc phù hợp hơn
T iên thực tế, các vấn đề phức tạp gặp phải trong việc áp đ ụ n ? thuế GTCÌT
là do các trường hợp ngoại lệ qui định trong luật (huế chứ không phai là Ivin
Trang 25Một sô' vấn đ ề lý luận cơ bàn về ihuếGTGT và pháp luật llmê (77 (7/
ỉliAn luật thuế Các vấn đề này đã được dần đần làm rõ và giải quyết trong quá trình thực hiện, và kinh nghiêm của Pháp là m ột hệ thống th u ế G TG T lỵ tưởng cần phải có: (1) diện chịu th u ế rộng bao trùm hầu hết mọi đối tượng; (2) mộ!
th uế suất thống nhất; và (3) m ột cơ c h ế cho phép khấu trừ moi khoản thuế sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh (tức là không phải cho m ục đích tiêu dùng)
T óm lại, kinh nghiệm áp dụng th u ế G T G T ở các nước cho thấy, chính sách th u ế G T G T càng đơn giản, ít th u ế suất càng dễ áp dụng, phát huy hiệu quả cao và thuận lợi trong công tác quản lý Đ ãy cũng là lời khụyên của các
ch u y ên gia của IM F và các r-huyên gia nước ngoài khác đóng góp trong quá trình xây dựng và thực hiện luật th u ế G T G T ở V iệt Nam
1.2.2 Cơ cấu c h ế độ thue GTGT
Tương tự các loại th u ế khác, việc thu th u ế G T G T gắn liền với quyền lực nhà nước Việc qui định, sửa đổi, bãi bỏ th u ế G T G T thuộc quyền hạn của cơ quan lập pháp (Q uốc hội hoặc Nghị viện) M ặt khác, việc thu thuế OTGT không những ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước và xã hội m à còn do kỹ thuật tính toán phức tạp của loại th u ế này đòi hỏi nhà nước phải ban hành các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước tổ chức thu thuế Tập hợp các quy phạm pháp luật này tạo thành c h ế độ tlniế G T G T ử mỗi quốc gia
M ặc dù tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - x ã hội cụ thể và quan điểm lập pháp ở từng nước ìnn nội dung điều chỉnh của pháp luật về th u ế GTG T cỏ những nét đặc thù nhưng xét về phương diện cấu trúc, c h ế độ thuê G TGT phổ biến có các bộ phận sau:
Trang 26Một s ố vấn đê lý luận cơ bản vê' thuếGTGT và pháp luậl llmí' CTCI'
T h ử nhất, p hạ m vi áp dụng th u ếG T G T
Đối tượng nộp th u ế G TG T là những thể nhân, pháp nhân có hoạt động kinh doanh sản xuất, nhập khẩu và bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ Đối tượng nộp th u ế như vậy bao trùm hầu hết mọi đối tượng kinh doanh, và không chỉ bao
g ồ m các cơ sở kinh doanh trong nước, m à còn gồm cả các tổ chức cá nhân Iiước ngoài có hoạt động kinh doanh tại nước đánh cthuế (ví dụ theo phần 82, phíin 77/1 Bộ luật th u ế của Thái Lan)
Ở nhiều nước, để đảm bảo hiệu quả công tác quản lý thu th u ế GTGT, đối với đại bộ phận các hộ kinh doanh ở qui m ô nhỏ kh ô n g nên áp dụng thuê
G T G T m à nên áp dụng ch ế độ th u ế khoán D iện m iễ n th u ế G T G T áp dụng cho
n hững đối tượng kinh doanh nhỏ có doanh thu hàn g n ăm dưới m ức qui định (ví dụ: 600.000 bạt ở Thái Lan, 200.000 pê xô ở Philippines, 1.000.000 đô la Singapore ở Singapore ) Qui định loại trừ m ộ t phần cơ sở kinh doanh không thuộc đối tượng nộp th u ế có tác dụng làm giảm gánh n ặn g quản lý th u ế các đối tượng kinh doanh nhỏ Vì ở các đối tượng này, công tác k ế toán tlurờug không
đ ả m bảo, và chi phí quản lý thu th u ế G T G T thường kh ô n g hiệu qu ả so với số thu được
Khi bắt đầu thực hiện luật thu ế GTGT, m ột số nước áp dụng ngay đối với
m ọi đối tượng thuộc các lĩnh vực sản xuất kinh do an h hơạt động bán buôn và
b án lẻ (áp dụng toàn phẩn), ví dụ như Pháp, Thuỵ Điển, Thái Lan Tuy nhiên
m ộ t số nước khác lại thực hiện áp dụng từng phần, điển hình như Inđônêxin thực hiện từng bước, ban đầu áp dụng đối với các đối tượng là sản xuất (năm 1985), tiếp đến áp dụng đối với các đại lý bán buôn (năm 1989) sau cùng mới
áp dụns; cho đối tượng là cửa hàng bán lẻ (năm 1993); còn Trung Quốc thì thí điểm áp dụng đối với một số ngành như ô tô, làu biển, sau (tổ m ở rộng thêm la các sản phẩm cơ khí khác, rồi mới đến các sản phẩm công nghiệp nhẹ, vật liệu xây dựng, khoáng san
21
Trang 27Một s ố vấn đ ề lý luận cơ bản về thuếGTGT và pháp luật ílìiié CtìTTì'
Việc áp dụn g thuế G T G T toàn phần được xem là hiệu qua nliất, vì (lo áp dụng đồng loạt chung cho mọi đối tượng nên thuận lợi cho việc khấu trừ thuế
và bảo đảm sự bình đẳng Tuy nhiên, đòi hỏi n h à nước phải có sự chuẩn bị kỹ càng, đầy đủ về pháp luật, các văn bản hướng dẫn, tuyên truyền nang cao trình
độ hiểu biết về th u ế của đối tượng nộp thuế, trình độ quản lý của cơ quan thuế, chấp hành c h ế độ chứng từ hoá đơn Cách áp dụng đối với từng ngành như Trung Quốc thể hiện không hiệu quả, được đ án h giá là sai lầm, gây ra nhiều vướng m ắc khó xử lý, ví dụ như việc khấu trừ th u ế G T G T giữa đơn vị áp dụng
th u ế G T G T và đơn vị chưa thực hiện th u ế GTGT, sự cùng tổn tại song song
th u ế G T G T và th u ế sản phẩm (thuế doanh thu) nên có nhiều th u ế suất khác nhau và gây phức tạp, tốn kém , không hiệu qu ả trong công tác quản lý
Về đối tượng chịu thuế, hầu hết luật của các nước qui định các hoạt dộng kỉnh doanh đều thuộc diện phải nộp th u ế GTGT, trừ m ộ t số hoạt động không thuộc diện chịu th u ế theo những điều khoản quy đ ịn h cụ thể trong luật pháp của từng nước, điển hình là: hoạt động báo chí, m ộ t số hoạt động của iigAn hàng; bảo hiểm ; nhận cầm cố, th ế chấp; kinh dóanh b ất động sản; kinh doanh chứng khoán; dịch vụ y tế; phúc lợi xã hội; và hoạt độ ng nông ngư nghiệp Riêng hoạt động ngân b àn g và bảo hiểm hay kinh doan h chứng khoán ở niộí số nước
không nằm trong diện chịu th u ế GTGT m à chịu th u ế kinh doanh đặc biệt Ớ
Thái Lan các hoạt độ n g chịu thu ế kinh doanh đặc biệt là hoạt động ngAn hàng, bảo hiểm , nhận cầm cố, th ế chấp, kinh doaiứi bất độ n g sản, kinh doanh chứng khoán (riêng kinh doan h chứng khoán hiện 'đang tạm thời được miễn lluiế)
T h u ế kinh doanh đặc biệt của Thái Lan có th u ế suất 10% (tương đương với thuế suất th u ế GTGT) tuy nhiên đối tượng nộp th u ế khôn g được khấu trừ thuế CiTGT đđu vào, cũng như không được tính th u ế G TG T đầu ra đối với khách hàng
2 Plutn 7 7 / ? BỌ luẠt I h u ế c ủ a ' H u n L an
21
Trang 28Một sô' vấn đ ề lý luận cơ bản về thuếGTGT và pháp luật thiii’ (ì 1(1 ì
Thứ hai, căn cử tính thuê
G iá tính th u ế G TG T về [ý thuyết có hai cách xác định như sau:
T hứ nhất: giá tính thuế là giá đã bao gồm th u ế GTGT Ví dụ như ử Pháp,
th u ế G T G T được tính vào giá bán và là yếu tố,cấu thành giá bán sản phẩm hàng hoá Có nghĩa là th u ế được tính trên giá bán đã bao gồm thuế
Thứ hai: giá tính th u ế là giá chưa bao g ồm thuế Cách tính này áp dụng
ở hầu hết các nước Cách tính này làm cho bên m u a và bên bán thấy rõ l àng hon giá chưa có th u ế và số th u ế GTGT
Thời điểm tính th u ế thường được qui định là khi m ộ t trong nhũng yếu tố sau phát sinh: giao hàng, chuyển giao quyền sở hữu, nhận thanh toán, phát hành hoá đơn th u ế GTGT, sử dụng hàn g hóa, địch vụ N hư vậy, thông thường đối vói hàng hoá là khi h àn g hoá được bán, còn đối vôi địch vụ là khi người cung cấp dịch vụ nhận được tiền trả cho dịch vụ
Về th u ế suất thuê GTGT, m ỗi nước tuỳ vào đặc điểm kinh tế - xã hội và
c h ế độ thu th u ế do anh thu trước đó và m ục tiêu đặt ra cho chính sách m á có các qui định về th u ế suất th u ế G T G T phù hợp Bên cạnh cơ c h ế th u ế suất đương đối với hàng hoá địch vụ bán trong nội địa, tất cả các nước đều áp dụng thuế suất 0% đối với liàng ho á xuất khẩu
Rõ ràng là với bất kỳ loại th u ế doanh thu nào, th u ế suất càng cao thì càng kích thích người nộp th u ế trốn thuế D o vậy cần phải tĩnh toán để xác định th u ế suất phù hợp, khô n g quá cao, và dựa trên diện đánh thuế rộng, bảo đảm về số thu cho Ngân sách nhà nước
M ột số nước áp dụng cơ cấu nhiều thuế suất như Italia (4 mức thuế suất:
4 % , 9 % , 19% và 38%), Áo (ba ÌĨHÍC 10%, 20% và 32% ), Bỉ (5 mức: ị %,
Trang 29Một sô' vấn dể lý luận cơ bản về llutếGTGT vã pháp luật thui’ GìCĩì'
6% , 17%, 19%, 25%, 33%), L uxem bourg (ba mức 3%, 6% , 12%), Hàn quốc (ha
m ứ c 2 % , 3 , 5 % và 10%), nhiều nưức k h á c lựa chọn CƯ cliế lluiố suốt đưn gian hai th u ế suất như Đức (7% và 14%), Nhật (3% và 6%) và đặc biệt một số IIước
áp dụng cơ c h ế m ột íh u ế suất duy nhất (ngoài th u ế suất 0%) như Anh (15%),
Đ an M ạch 22% , Brasil 17%, Inđônêxia 10%, Philippines 10%, và Thái Lan
1 0% \
Với các nước áp dụng cơ cấu nhiều th u ế suất, thì m ức th uế suất tiêu
ch uẩn được áp dụng với hầu hết các hàng hoá, dịch vụ Mức th u ế suất thấp hơn
m ức tiêu chuẩn được áp dụng cho những loại hàn g hoá dịch vụ được coi là thiết yếu và mức cao hơn được áp dụng cho các loại hàng hoá, dịch vụ được coi là xa
xỉ h o ặc cần phải điềụ tiết nhiều hơn
Theo kinh nghiệm áp dụng ở các nước cũng như phân tích của các chu y ên gia, cơ cấu th u ế suất lý tường nhất là ngoài th u ế suất bằng không đối với hàn g hoá xuất khẩu, chỉ áp dụ ng thống nhất m ộ t th u ế suất dương Theo như
ý kiến không chính thức của Phòng Thương m ại Đức trong thời gian đẩu áp
d ụ n g th u ế G T G T đ ã cho rằng khoảng 80% sự phức tạp tạo ra đối với doanh
n ghiệp là do áp dụ n g cơ cấu nhiều th u ế suất4 Các nước đều cố gắng giảm số lượng th u ế suất áp dụng, như V ương quốc A nh ban đầu chuyển từ cơ c h ế m ột
th u ế suất sang hai th u ế suất rồi lại phải quay trở lại áp dụng m ộ t thu ế suất
1 Sớ liệu llico Máo c á o k h ả o s á t c ủ a T ổ n g C ụ c tlm ế, LỈỌ Tài c h ín h
1 T h e o • Ilie V a lu e-tK ld ed tax, th e U K p o s i t io n a n d tlic I ìu r o p e a n e x p e r i e n e e ” , (ran g 9, O a v id Slou t
Trang 30Một s ố vấn đề lý luận cơ bân vé thuê GTGT vả pháp luật lliní' ( ì r a i'
mức Ihuế suất lluiế G TG T thấp hơn đối với hniig hoá dịch vụ tliiết yếu mặc (lù
có thể giiíp đỡ được chút ít cho các tầng lớp dân cư có thu nluỊp thấp, Iihưnụ không h ề có ảnh hưởng định hướng khuyến khích sảti xuất (cần phải nhắc lại rằng th u ế G T G T không phải là chi phí của nhà k in h doanh) Hơn nữa, thuế
G TG T tỏ ra là m ộ t công cụ tồi để thực hiện trợ giúp xã hội đối với người nghèo;
rõ ràng các c h ế độ điều tiết thu nhập, trợ gia, trợ cấp x ã hội có thể dễ ciàng đạt được m ục tiêu giúp đỡ người nghèo trực tiếp và hữu hiệu hơn ĩihiều Còn ngược lại, đối với việc áp dụng m ộ t mức th u ế suất th u ế G T G T cao hơn trên hàng hoá dịch vụ được coi là xa xỉ cũng chỉ chiếm m ộ t tỷ trọng rất nhỏ trong tổng hàng tiêu dùng Sử dụng nhũng công cụ như thu ế tiêu thụ đặc biệt và các khoản phụ thu là những phần bổ sung tốt nhất cho th u ế G T G T đ ể thu th u ế cao hơn đối vứi
m ột số loại hàng hoá dịch vụ này Đó là chứa tính đến chi phí quản lý hành chính th u ế tăng rất nhiều theo số lượng của th u ế suất được áp dụng, làm cho hiệu quả của th u ế G T G T bị giảm sút
K hác với th u ế doanh thu để tính th u ế chỉ cần xác định doanh thu và áp dụng th u ế suất, còn đối với th u ế GTGT, với cơ cấu m ột th u ế suất nhtr nêu ở trôn (bên cạnh th u ế suất 0% và m ộ t số diện không chịu thuế), đối tượng nộp thuế khỉ áp dụng đòi hỏi phải có tối thiểu 9 loại thông tin trên tờ khai thuế: ba thông tin về giá hàng hoá dịch vụ bán ra theo hai th u ế suất và hà n g hoá dịch vụ không chịu thuế, hai thông tin về giá trị hàn g m u a vào tương ứng theo hai thuế suất, hai con số phảií ánh Ĩighĩa vụ th u ế G T G T trên đầu ra và hai con số phản ánli nghĩa vụ th u ế G T G T trên đầu vào Nếu áp dụng cơ cấu 3 th u ế suất đương thì tối thiểu cán tới 17 loại thông tin Số lượng thu ế suất càng tăng, mẫu tờ khai
th u ế càng phức tạp, và không chỉ tạo cơ hội tăng sai sót nhầm lãn từ cả hai phin người nộp thuế và cán bộ thu thuế, m à còn khó kiểm soát về quản lý lluiế tạo khả năng trốn thuê càng cao
ặc dù coi th u ế G TG T lý tưởng nên chỉ áp dụ n g m ộ t th u ế suất duy nhíìỉ, nhưng thực tế khi ban hành ở Pháp nhà nước vẫn áp dụng tới bốn loại (huế S!i:ll
Trang 31Một s ố vấn d ề lý luận cơ bản về ih u ếG T m ' và pháp lnậl iliué CĩT< i l
kíi ác nlmn: (Imế suất cơ bản 16%%, th u ế suất thấp 6% , th u ế suất trung bình 12%, và thuế suất cao 20% , không kể đến mức th u ế suất 0% dối với hàng XIIÍÍI khẩu Tuy nhiên, thuế suất này là thuế suất tính trên giá hàng hoá dịch vụ đã cổ thuế, có nghĩa là nếu xác định tỷ lệ phẩn trăm trên giá chưa bao gồm thuế (như
th u ế G T G T của V iệt N am ) thì th u ế suất trên sẽ tương ứng là 20%, 6,4%, 13,6%
và 25% M ức th u ế suất tiêu chuẩn, áp dụng đối với hầu hết tất cả các loại hàng hoá dịch vụ, đã được điều chỉnh xuống 18,6%, và kể từ ngày 1 tháng 8 năm
1995 được tăng lên 20,6% Mức th u ế suất thấp áp dụng đối với các thực pliẩrn
cơ bản như bánh mì, sản phẩm sữa, thịt, rau h b a quả T h u ế suất trung bình áp
d ụng đối với các thực phẩm khác, than, điện, ga, tài sản dùng trong gia đình, rượu vang và đồ uống nhẹ và m ộ t số loại dịòh vụ công cộng CÒ11 thuế suất cao chủ yếu đánh vào hàng hoá xa xỉ: trang sức, lông thú, và các vật dụng cho giai
trí như đài, tivi, dụng cụ nhiếp ảnh, thuốc lá, và ôtô N hư vây, Pháp là một trong những nước có th u ế suất th u ế G T G T cao ở châu Âu, và việc áp dụng nhiều th u ế suất đã tạo ra phức tạp trong quản lý tính thuế
Trước tháng 8 năm 1997, Thái Lan áp d ụn g th u ế suất 7%, sau đó mức
th u ế suất tiêu chuẩn được tăng lên 10%, tuy nhiên m ức 1% vẫn tiếp tục áp dụng đối với m ộ t số giao dịch cho đến tháng 8 năm 1999 nếu được chấp thuận theo
qu y ết định củ a Sở thuế N hà nước M ức 0% áp d ụ n g cho h àng hoá xuất khẩu và những dịch vụ xuất khẩu theo qui định của G iám đốc sở thuế, hàng hoá dịch vụ cung cấp cho dự án hỗ trợ phát triển quốc tế hoặc sứ quán, lãnh sự và cờ quan Liên hợp quốc theo qui định Tuy nhiên, riêng đối với đối tượng kinh doanh nhỏ, mức th u ế suất áp dụng là 2,5% trên tổng số thu Đối tượng kinh doanh nhỏ là đối tượng có du anh thu hàng năm từ trên 600.000 bạt nhưng không vượt quá 1.200.000 bạt một năm Các đối tượng được lựa chọn nộp thuế theo mức
an định 2,5% trên doanh thu và không được khấu trừ th u ế đẩu vào, hoặc theo đúng plurưng pháp có nghĩa !à 10% trên chênh lệch giữa số thuếđíìu vào và số
Trang 32Một s ố vấn để lý luận cơ bản vé thu ế G ì GI' vờ pháp luật ilmr < i K i I'
tluiế đàu la Như vây, Thái Lan áp dụng hai phương pháp tính thuế GTGT cho các đỏi lưựng khá c nhau, phủi) biệt theo doanh thu hàng năm -
Thứ ha, cắc qui định về khấn trừ íh u ế G T G T
K hấu trừ th u ế là nội dung đặc trung của phương pháp tính thuế GTGT
D o đó, pháp luật của các nước về th u ế G T G T đều có các qui định về khấu trữ thuế Các qui phạm pháp luật Iiày xác định đối tượng nộp th u ế được tính giam trừ cho số th u ế tính trên giá trị số th u ế G TG T đã nộp
Đối tượng nộp thu ế được tính khấu trừ số th u ế đã nộp trên các khoản
m ua nguyên vật liệu và dịch vụ cho hoạt động chịu th u ế của mình, v ề mặt hình thức, thuế G T G T đánh vào các thành phần củ a m ộ t hoạt động chịu thuế chỉ được khấu trừ khi được thể hiện rõ trong chứng từ (thường là hoá đơn) của hoạt động chịu thuế
Đối với các doánh nghiệp vừa có hoạt độ n g chịu th u ế vừa có hoạt động không thuộc diện chịu thu ế hoặc nằm ngoài phạm vi áp dụng thì việc khấu trù thuế bị hạn chế T ron g trường hợp này áp dụn g phương pháp phân bổ tiền thuế khấu trừ theo tỷ lệ với hoạt động chịu th u ế GTGT
Cơ sơ để quản lý th u ế G T G T là thu th u ế và khấu trừ dựa trên hoá đơn thuế, đo đó h oá đơn th u ế là yếu tố quan trọng làm bằn g chứng xác định để khấu trừ th u ế cho người m u a hàng hoá dịch vụ Các nước đều qui định cụ thể các yếu tố cơ bản phải co của m ộ t hoá đơn th uế hợp lệ Mọi đối tượng có hoạt động bán hàng hoá dịch vụ chịu th u ế đều phải cấp ho á đơn khi bán hàng hoá, cung cấp dịch vu cho người mua Hoá đơn phải thể hiện rõ giá hàng hoá dịch
vụ chưa có tluiế, và số thuế G T G T tính trên giá hàng
C h ế độ k ế toán cũng là yếu tố bắt buộc để các doanh ngliiộp llniv hiẹn luạt thuế G T G T như: các đối tượng nộp th uế phải ghi sổ đầy đii (.loanh số lirny
Trang 33Một sô' vấn đ ề lý luận cơ bản về thuểGTGI’ và pháp luật tlmê CỈKÌT
lđu bán hàng, và phân biệt theo từng loại hàng chịu th u ế và không chịu thuế (nếu có), và mọi chi phí m u a nguyên vật liệu, hà n g hoá, dịch vụ đẩu vào; các
h o á đơn chứng từ liên quan đến các h o ạt động có thể được khấu trừ phải là chứng từ gốc và hợp lệ; sổ sách và hoá đơn chứng từ phải được lưu giữ theo thời
h ạn qui định của pháp luật
t
Ở Pháp, theo qui định chung, th uế được k ê khai nộp hàng tháng, tuy
n h iên chỉ có thu ế G T G T đánh vào bất động sản, m á y m óc, xe cộ và các tài sán
k hác thuộc bất độ n g sản thì được khấu trừ ngay trong tháng phát sinh, còn lại
th u ế G T G T đánh vào các hàng hoá dịch vụ thì chỉ được khấu trừ vào tháng tiếp sau tháng phát sinh, gọi là qui định về việc “khấu trừ sau m ộ t th án g” Qui định này đ ã được xem xét lại trong cải cách th u ế n ăm 1993 để loại bỏ sự chênh lệch
về m ặ t thời gian n h ằm làm cho người nộp th u ế được khấu trừ ngay số thuế họ
đ ã nộp trong giai đo ạn trứớc Có m ộ t số hạn c h ế về việc được khấu trừ thuế
G T G T đối với m ộ t số hán g hoá, địch vụ m ua vào, v í dụ như ăn uống, khách sạn,
xe ôtô riêng, xăng xe thì không được khấu trừ, kể cả nếu có được sử dụng vào
m ụ c đích kinh doanh Đối với bất động sản, th u ế G T G T được khấu trừ theo cách phân bổ dần Tuy nhiên quyền được khấu trừ sẽ chấm dứt khi các bất
đ ộ n g sản này kh ô n g còn được sử dụng vào m ục đích kinh doaiih hằng ho á dịch
vụ chịu th u ế nữa Q uyền được khấu trừ cũng có thể được chuyển giao cho Iigười riếp tục sử dụng, tuỳ thuộc vào người sở hữu tra o cho người sử dụng một giấy chứng nhận theo qui định của pháp luật, trong đó ghi rõ số th uế G TG T ban đầu, s ố th u ế đ ã khấu trừ và số còn lại được khấu trừ dần theo tỷ lệ
Nếu như trong tháng số th u ế phải Iiộp nhỏ hơn số được khấu trừ, thì số
th u ế không được khấu trừ hết sẽ được chuyển dẩn sang các tháng sau Việc hoan th u ế có thể được thực hiện vào đầu năm sau cho số th u ế nộp quá của năm trước, hoặc được hoàn theo quý, nếu số tiền chưa đtrực khấu trừ lớn hơn một mức nhốt định
Trang 34Một s ố vấn đề lý luận cơ tíản về thuê GTGT và pháp luật thuê Gỉ GI
Theo qui định của luật th uế G T G T của Thái Lan, về nguyên tắc chmm thuê G T G T được kê khai nộp hàng tháng bằng cách khấu trừ số th u ế đáu vào vào số th u ế đầu ra để xác định số thuế phải nộp Bất kỳ tháng nào m à thuế chiu vào lớn hơn số thuế đầu ra thì đều được quyền xin hoàn thuế T h u ế đẩu vào phát sinh trong tháng m à chưa khấu trừ có thể được khấu trừ vào số thuế đẩu ra trong vòng 3 năm tiếp theo, với điều kiện được phép của Giám đốc Sở thuế
Qui định về khấu trừ và hoàn th u ế của Thái L an rất linh hoạt, đảin bảo cho đối tượng nộp th u ế được nhận số tiền th u ế nôp thừa m ộ t cách nhanh clióiig Hoàn th u ế được thực hiện hàng tháng nếu có số th u ế đầu vào trong tháng lớn hơn số đầu ra, hoặc từng lần đối với kinh doanh xuất khẩu Đối tượng nộp thuế được lựa chọn xin hoàn th u ế hoặc khấu trò vào kỳ sau 6
T óm lại các nước đều có qui định đảm bảo cho phép đối tượng nộp thuế được khấu trừ số th u ế đã nộp khi m u a h àn g hoá dịch vụ đầu vào khi có đầy đủ chứng từ hợp lệ, tuy nhiên về thòi hạn đứợc khấu trừ thì có thể khác nhau, và càng được khấu trừ nhanh chóng càng có tác d ụ n g đối với doanh nghiệp trong việc sử d ụ n g hiệu quả vốn trong kinh doanh
Thứ tư, cắc qui định ưu đãi, miễn giảm th u ế
Ban đầu, các nước cũng áp đụng qui định về m iễn giảm th u ế cho m ộ t số đối tượng nhất định, nhưng k h ông phổ biến
V í dụ thời gian đầu Pháp áp dụng m ức th u ế suất thấp cho các thợ thủ công, và giảm th u ế đối với những người kinh doanh nhỏ V iệc này không đúng nguyên lý đối với m ột loại th u ế như th u ế G T G T là th u ế đánh vào hàng hoá dịch
vụ chứ k hông phải là thuế đánh vào đối tượng nộp thuế, do đó lam phức tạp ho á
hệ thống thuế, và tạo ra nghịch iv là có trường hợp người bán được lính thuế
e' Ph;in X ' / ? , va phán 84 Bộ luẠl llm ếc ủ a 'Iliái
Trang 35Một s ố vấn đ ề lý luận cơ bản vê lliu ế ơ l GT và pháp luật IÌIKC ( ì! (71'
G T G T trên hoá đơn bán ra, nhưng thực tế thì họ lại k hông phải tra số thuê (16 đẩy đủ cho Nhà nước, trong khi người m u a lại được khấu trừ số thuế đó một cách hợp pháp
Kinh nghiệm cho thấy các qui định m iễn giảm k hô n g có nhiều tác dụng trên thực tế m à CÒ11 lihiều khi làm sai lệch bản chất của thu ế GTGT, giảm tính hiệu quả của c h ế độ th u ế này
Thứ năm, các qui định về kê khai nộp th u ế
Tương tự như các loại th u ế khác, đối với th u ế G T G T các nước đều ban hành các qui định về kê khai nộp thuế
Việc kê khai nộp th u ế G T G T phổ biến ở các nước được qui định (hực hiện h àn g tháng, và dựa trên cơ c h ế tự kê khai của doanh nghiệp Thuỵ Đ iển là nước thực h iện có hiệu quả cơ c h ế tự kê khai nộp th u ế G T G T (theo Báo cáo khảo sát của T ổng cục th u ế năm 1993)
Bền cạnh đó, các qui định về quản lý th u ế và x ử phạt vi pliạm cũng được chú trọng, n h ậm nâng cao ý thức pháp luật của đối tượng nộp th u ế và ngăn ngừa các hành vi gian lộn thuế
Thực tiễn ở nhiều nước cho thấy, th u ế G T G T của các nước đều do cơ quan lập pháp cao nhất ban hành, bằng m ộ t đạo luật riêng biệt hoặc là m ộ t phần sửa đổi bổ sung trong Bộ luật th u ế và thu Iigân sách ở các nước Nhiều hoại động khảo sát, nghiên cứu được thực hiệu và đánh giá trước khi ban hành luật,
và bao giờ luật th u ế G T G T cũng được ban h àn h trước một thời gian so với thời điểm có hiệu lực, thưòng là hon m ột năm, để các đối tượng nộp th u ế có đủ thời gian làm quen cũng Ìihư chuẩn bị và tổ chức, lại các công việc san xuất kinh doanh, công tác hạch toán, k ế toán V í dụ ở Inđônêxia, Đ ạo luật thuế G T G T được ban hành năm 1983 nhưng đến năm 1985 mói có hiệu lực thi hnnh
?()
Trang 36Một s ố vấn đ ề lý luận cơ bản về thuểGTGT và pliáp lnậi thuê <11(11
rỏm lại, nghiỏn cứu lliực liốn pháp lý áp đụng c h ế độ IỈHIÔ G T G T ờ mọi
số nước và khu vực kinh tế điển hình có thể rút ra m ộ t số nhạn xét sau:
1 Là m ột hình thức th u ế trong h ệ thống th u ế quốc gia nên th u ế G TG T cũng do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (Q uốc hội, Nghị viện) qui định, sửa đổi, bãi bỏ;
2 Do tính phức tạp về kỹ thuật tính toán n ên Iigoài các qui phạm pháp luật m ang tính phổ biên như các c h ế độ th u ế khác, pháp luật của các nước về th u ế G T G T CÒ11 có các qui định chi tiết về khấu trừ thuế và hoàn thuế Các qui định về khấu Itừ th u ế và hoàn th u ế là đặc trưng của c h ế dọ thuế GTGT;
3 Tính phức tạp về kỹ thuật tính th u ế G T G T đòi hỏi Nhà nước phải tạo
ra những điều kiện và biện pháp đổng bộ để bảo đ ảm thực hiện c h ế độ
th u ế GTGT
Trang 37CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT TH UẾ GIÁ TRỊ GIA TĂ N G Ở VIỆT NAM
VÀ NHŨNG VÂN ĐỂ PHÁP LỶ Đ Ậ T RA
2.1 QUÁ TRÌNH XÂY DựNG VÀ TRl ỂN k h a i á p d ụ n g p h á p l u ậ t t h u ế
GTGT Ở VIỆT NAM
N hững nghiên cứu về việc áp dụng th u ế G T G T được bắt đầu từ cuối giai
đ o ạn cải cách th u ế bước I năm 1990-1995 Từ tháng 7 n ăm 1993, Bộ Tài chính
đã ban hành c h ế độ th uế GTGT, và chủ trương áp d ụ n g thí điểm m ô hình thuế
G T G T ở m ột số do an h nghiệp từ tháng 9 năm 1993 V iệc thực.hiện thí điểm chỉ là bước đầu quá trìiih tập dượt cho các doanh n ghiệp và các cán bộ ngành thuế, có tác dụng giúp các cơ quan quản lý và các doan h nghiệp nhộn thức và hiểu thêm về loại th u ế mới này, làm tiền đề cho việc thực h iện chính thức sau này Việc thực h iện thí điểm trên phạm vi hẹp và m ới chỉ là bước khởi đầu nên chưa thể đem lại những nh ận xét đánh giá m ộ t cách đầy đủ, toàn điện về kết
q u ả thực hiện
Trên cơ sở các nghiên cứu đánh giá tổng thể, ph ân tích tổng hợp kinh
n g hiệm của các nước đã áp dụ n g th u ế GTGT, qua n hiều lần soạn thcảo, sửa đổi, lấy ý kiến đóng góp của các Bộ ngành, cấc địa phương và doanh nghiệp, chuẩn
bị các điều kiện thi hành, Quốc hội khoá IX, kỳ họ p thứ 11 đã thông qua Luật
th u ế G T G T ngày 10 tháng 5 năm 1997 L uât này đã được Chủ tịch nước ký lệnh công bố vào ngày 22 tháng 5 năm 1997, và có hiệu lực kể từ ngày I tháng
I năm 1999 Cùng với viộc ban hành đồng bộ các Luột th u ế khác như b;m lììuil)
L uật th u ế thu nhập doanh nghiệp thay th ế Luật th uế lợi tức, các Luật sửa dổi bổ sung Luật th u ế tiêu thụ đặc biệt, Luật th u ế xuất nhập khẩu và các Luật có liên quan: Luật Ngãn sách, Luật khuyến khích đầu lư trong nước, Luật đầu tư nước
Trang 38Pháp luật thuếGTGT â Việt Nam và những vẩn d ề pháp lý dặt rn
ngoài , đây là tiền đ ề tạo cơ sở pháp lý vững chắc để đưa vào thực hiện cliưưng trình cải cách th u ế bước II giai đoạn 1996-2000 n hằm phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại ho á đất nước
L uật th u ế G T G T là m ộ t luật thuế hoàn toàn m ới trong lịch sử pháp lu ạt tài chính nước ta và trong nhận thức của các tầng lớp nhân dân Việc thực hiện các Luật thu ế m ới nói chung và Luật th u ế G T G T nói riêng có tầm quan trọng đặc biệt, có tác động nhiều m ặt đến tình hình kinh tế x ã hội, thòi gian đẩu không tránh khỏi nhũng khó khăn, và nhất là trong điều kiện phát triển kinh tế -
xã hội chưa cao, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn thấp
Trong thời gian dự kiến chuẩn bị đưa L u ật th u ế G T G T vào thi hành từ tháng 5 năm 1997 đến đầu tháng 1 năm 1999 là hơ n m ộ t năm rưỡi, tình hình diễn biến kinh tế x ã hội có nhiều thay đổi, nằm ngoài dự kiến của các nhà làm luật V iệt Nam Sự suy giảm kinh tế do tác độ n g ảnh hưởng hệ quả của cuộc khủng h o ản g tài chính tiền tệ th ế giới và trong khu vực, cùng với thiên tai liên tiếp diễn ra đ ã càng tạo ra nhiều khó khăn hơn trong việc triển khai áp dụng trên thực tế
N hận thức được những yếu tố này, lường trước những khó khăn có thể xảy ra, Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Q uốc hội và Chính phủ
đ ã cân nhắc, bàn bạc kỹ càng và quyết định vẫn thực hiộn triển khai các Luật
th u ế mới vào đúng thời điểm đ ã định trước là ng ày 1 tháng I năm 1999, nhằm phát huy tác dụ ng kịp thòi ưu điểm của các L u ậ t th u ế này, đặc biệt là thuế
G T G T đối với hoạt động sản xuất kinh doanh Việc lùi thời điểm thi hành không thể coi là giải pháp tháo gỡ khó khăn, hơn nữa cần phải m ạnh dạn thay đổi cơ c h ế th u ế cũ bằng cơ c h ế thuế mới tiến bộ hơn, chấp nhận đương ctđu với khổ khăn, sau khi đã cân nhắc đánh giá kỹ lưỡng các yếu tố ảnh hường
Trang 39Pháp luật thuếGTGT ỞViệt Nam và những vấn dề pháp lý (lặt ru
Để (hống nhất chí đạo việc triển khai thực hiện, Bộ Chính (lị đã có Chí thị số 44CT/TW ngày 4 t h á n g 1 1 năm 1998 về việc tăng cường sự lãnh đạo của
Đ ảng trong việc triển khai thực hiện các Luật th u ế mới, tập trung chính vào Luật th u ế G T G T vì đây là luật th u ế mới lại có quan hệ điều chỉnh và tác động tới mọi doanh nghiệp, người kinh doanh và toàn xã hội
Chỉ thị này nêu rõ ba yêu cầu cần phải đạt được là:
i) Bảo đ ảm công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh trong nền kinh tế; giúp các doanh nghiệp ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng cường hạch toán kinh tế, nâng cao năng lực quản lý, nâng cao khả năng cạnh tranh trong nước và trên thị trường quốc tế;
ii) Bảo đảm không ảnh hưởng 1Ó11 đến k ế h o ạc h thu của Ngân sách
T rung ương trong những năm đầu thực hiện Tạo điều kiện để Ngán sách địa phương ổn định được ng uồn thu, n â n g dần tỉ lệ các địa phương cân đối ngân sách và có đóng góp cho N gân sách Trung ương;
iii) Bảo đ ảm ổn định thị trường trong nước, tránh gAy ra những biến động í ỚI1 về giá cả, đặc biệt là giá vật tư, hàng hoá quan trọng dùng cho sản xuất và tiêu đùng thiết yếu để ổn định sản xuất, không ảnh hưởng ctến đời sông của Iiliíln dân
Q uốc hội cũng có Nghị quyết số 18/1998/Q H 10 n gày 25 tháng 1 1 năm
1998 trong đó chỉ đạo:
“C hính phủ cần tập trung ch ỉ đạo thực hiện các luật th u ế mới, nììốt
ỉ à L u ậ t thuê GTGT Đ ể chủ độỉìg giải quyết kịp thời những khó khán cho các doanh nghiệp khi thực hiện L uật th u ế G T G T nhằm ổn dinh
và p h á t triển sản xu ấ t, kinh doanh Q uốc hội cho phép Chính I>ìiủ
3 !
Trang 40Pháp luật lliuếCĩTGl' à V iệ t Nam và những vấn đề pháp lý dật ra
tron (Ị Ihời gian đầu thực hiện được áp dụng quy cíiiìỉì tụi D iều 2S
L uật thuê GTGT đ ể giảm thuế Sau m ột thời gian thực hiện, Chinh pliủ trình u ỷ ban thường vụ Q uốc hội sửa đổi, b ổ sung và báo cáo
Q uốc hội trong kỳ họp gẩn nhất.”
Q uán triệt Chỉ thị của Bộ Chính trị, Nghị quyết của Q uốc hội, Chính phủ
đã xác định việc triển khai thực hiện các Luật th u ế m ới là m ộ t nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ trong năm 1999, có tác động đến phát triển sản xuất, kinh doanh, tốc độ tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế và x ã hội Chĩnh phủ đã thành lập Ban chỉ đạo triển khai thực hiện các L uật th u ế mới, và có Chỉ thị 41/CT-TTg Iigày 7 tháng 12 năm 1998 về việc tổ chức thực hiện các L uật th uế mới
So với việc triển khai thực hiện các luật th u ế vào các năm 1 9 9 0 -19 9 1 (giai đoạn cải cách th u ế bước I) trước đây, công tác chuẩn bị thực hiện các Luật
th u ế m ói, đặc biệt là th u ế G T G T có nhiều tiến bộ hơn, việc triển khai tương đối đồng bộ, toàn diện và khẩn trương
V iệc xây dựng các văn bản pháp quy hướng dẫn thực hiện Luật th u ế
G TG T khá đầy đủ, m ặc dù chưa phải đ ã đáp ứng được các yêu cầu điều chỉnh phát sinh trong thực tế Đ ến trưóc ngày 1 tháng 1 n ăm 1999 đ ã có đủ các văn bản m a n g tính pháp quy hướng dẫn thi hành, n hư Nghị định số 102/1998/NĐ-
CP, T hông tư số 89/1998/TT-BTC và m ột loạt các T h ô n g tư hướng dẫn chi tiết
cụ thể cho từng loại hình riêng biệt Ngoài ra còn có các văn bản pháp luật liên quan như các văn bản hướng dãn về quản lý thị trường của Bộ Thương mại, văn bản hướng đẫn quản lý giá cả, bình ổn giá cả của Ban vạt giá Chính phủ
Công tác tổ chức tuyên truyền hướng dãn thi hành rất được CỈ11Í trọng Cán bộ chủ chốt các Bộ ngành, địa phương được tập huấn về m ục đích, ý nghTa, nội dung, tác dụng của Luật th u ế mới Cán bô ngành thuế, hải quan được tạp