1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường việt nam

87 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 7,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật pháp, một mặt là phương tiện hửu hiệu để Nhà nước thực thi các chức năng kinh tế của mình, mặt khác, xây đựng một hệ thống pháp luật kinh tế nhằm tạo lập được một môi trường pháp lý

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PIIÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Tác Giả Nguyễn Hữu Thủy

ĐỀ TÀI

C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TlỄN CHO VIỆC XÂY DỰNG PHÁP LUẬT KINH TẾ

TRONG NỀN KINH TỂ THỊ TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Kinh T ế

Trang 3

MỤC LỤC

Một số vấn đề lý luận về xây dựng

pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam

1.1 Kinh tế thị trường - những ưu điểm và thất bại 51.2 Nhà Nưđc vđi nền kinh tế thị trường 101.3 Pháp luật với nền kinh tế thị trường 131.4 Pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường 27định hưđng XHCN tại Việt Nam

Chương 2 :

Vài nét về thực trạng pháp luật kinh tế 382.1 Thực trạng pháp luật thực định 392.2 Thực trạng thực hiện pháp luật 56

Thay kết luận - Vài ý kiến về việc hoàn thiện

pháp luật kinh tế trong giai đoạn hiện nay

3.1 Vai trò của pháp luật kinh tế 67trong nền kinh tế thị tníờng ở nưđc ta

3.2 Vài vấn đề hoàn thiện pháp luật kinh tế 723.3 Vài suy Iighĩ về cơ chế thực hiện pháp luật 78Danh mục tài liệu tham khào 84

]

Trang 4

6^1 /u ứ l /à ỵiÁườný- ó/uéo

ỉ n d n Á tô iv /ạ õ x ã Á ộ i .

M.Ờ& (ÌĨÓ3 rf)t 4<u

Nghiên cứu những cơ sỏ lý luận và thực tiển cho việc xây dựng pháp

luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hưđng XHCN ở nước ta là một

đề tài có tính cơ sỏ cho việc nghiên cứu pháp luật kinh tế trong giai đoạn hiện nay Đề tài này đã được nhiều nhà luật học nghiên cứu và đã đưa ra nhiều lý giải gitíp làm sáng tỏ cơ sỏ lý luận và cơ sỏ thực tiển cho mục tiêu xây dựng pháp luật kinh tế trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hưđng XHCN ở nước ta, trong đó có tác giả Hoàng thế Liên với b à i :

“ Nền kinh tế thị trường và pháp luật “ , tác giầ Nguyễn như Phát vđi bài :

“ Luật kinh tế trong bước chuyển sang nền kinh tế thị trường “ , tác giả Trần đình Hảo với bài : “ Chính sách xã hội và vai trò của pháp luật “ , tác giả

Lê minh Thông vói bài : “ Nhữíig thay đổi xã hội và pháp luật “ ( 1 ) ; tấc giẳ Nguyễn minh Mẫn vđi bài : “ v ề khung pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường ỏ nước ta “ ( 22 )

Trang 5

Luận án này cững không ngoài mục đích góp phần làm sáng tỏ cơ sở

lý luận và thực tiển cho việc xây dựng pháp luật kinh tế trong điều kiện xây

dựng nền kinh tế thị trường định hưđng XHCN ò nưđc ta hiện nay

Bắt tay vào việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi gặp phải một số trỏ ngại mà chủ yếu là khó giới hạn phạm vi đề tài sao cho thỏa đáng Bởi lẽ chúng ta có thể đưa thêm vào các vấn đề về lý luận và các vấn đề về thực tiển cho phạm vi đề tài được in<3 rộng bao nhiêu tuỳ thích Nguực lại cững

có thể loại bớt một số vấn đề lý luận cũng như thực tiển để thu hẹp phạm vi

đề tài cho gọn nhẹ

Trong khả năng của mình, chtíng tôi giđi hạn phạm vi nghiên cứti những vấn đề có tính cơ bản về lý luận và thực tiển cho việc xây dựng pháp luật kinh tế trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường, định hưđng XHCN ở nưđc ta hiện nay Theo hướng này, chtíng tôi nghiên cứư nhữhg vấn đề mà chđng tôi xét thấy có tinh cơ bản, đó là các vấn đề : kinh tế thị

trường là gì, đặc điểm của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ò nước

ta hiện nay, vai trồ của pháp luật nói chung và của pháp luật kinh tế nói riêng trong nền kinh tế thị trường định hưđng XHCN, thực trạng pháp luật kinh tế và thực trạng thực thi pháp luật đó trong cuộc sống - những cái đã làm được và những cái chưa làm được và giầi pháp Ngoài những vấn đề cơ bần đó, trong khi nghiên cứủ, chứng tôi cững giải quyết các vấn đề khác có liên quan giúp làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản

Phương pháp mà chúng tôi sử dụng để nghiên cứu các vấn đề nói trên

là các phương pháp mà khoa học xã hội vẩn thường dùng, đó là các phương pháp phân tích, tổng hợp, suy lý Trong khi thực hiện đề tài, chúng tôi những mong công trình này có tính khoa học và đề ra được vài đề xuất ,

Trang 6

đóng góp mđi có giá trị Thiện chí là vậy , nhưng do khả năng có hạn nên công trình này không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong thầy

cô, bằng hửu cho ý kiến gitíp chúng tôi được học hỏi và mở rộng kiến văn

Trong luận án này, chúng tôi có sử dụng một số quan điểm, thành tựu khoa học của một số tác giả mà chúng tôi có nêu trong phần danh mục các tài liệu tham kháo Ngoài ra, để xây dựng những lập luận của mình, chúng tôi cũng sử dụng một số thành tựủ khoa học làm căn cứ, từ đó đề ra những phán đoán, đề xuất, kiến giải mđi Chúng tôi earn đoan công trình này là của chứng tôi Những tài liệu, số liệu mà chứng tôi sử dụng được thu thập

từ những nguồn tin cậy

Chứng tôi rất càm kích sự hưđng dẩn, khích lệ của thầy hướng dẩn Hoàng thế Liên, chị Đỗ thị Lan ( B ) khoa sau đại học và các thầy cô d trường đại học lu ậ t Do được sự hưđng dẩn, khích lệ nhiệt tinh đó mà công trình này được hoàn thành

■2)à iạt, nyày 311/.2//997

Người thực hiện

NGUYỄN HỦti THỦY

Trang 7

vụ đẵ hoàn thành

Có một sự bất cập giữa sự hạn hửu của các nguồn tài nguyên sản xuất

và nhu cầu to lđn của con ngiíời, do đó, con người thường xuyên phải suy nghỉ một cách căng thẳng để chọn lựa phương cách phân phối các nguồn tài nguyên sản xuất hạn hửu và hàng hóa, dịch vụ sản xuất được để thỏa mãn một cách cao nhất nhu cầu của xã h ộ i

Trang 8

Chọn lựa được phương cách tối ưu để phân phối các nguồn tài nguyên sản xuất hạn hửu và hàng hóa, dịch vụ đã hoàn thành cũng có nghĩa là chọn lựa được cách tối ưu để giải quyết các vấn đề kinh tế cơ bân

Ngày nay con người có nhiều cách khác nhau để giải quyết các vấn

đề kinh tế cơ bản Như vậy cững có nghĩa là tồn tại nhiều hệ thống kinh tế

khác nhau Khái niệm hệ thống kinh tế ồ đây được hiểu là cách thức mà

theo đó các yếu tố sẳn x u ấ t, doanh nghiệp, nhà quản lý và các cơ quan hửu quan Nhà nưđc quan hệ vđi nhau trong một tổng thể là nền kinh tế quốc dân Khó mà gọi cho đứng tên một hệ thống kinh t ế Có thể vận dụng lý luận về Phương thức sản xuất của C.Mác để đặt tên cho các hệ thống kinh

tế tương líhg như hệ thống kinh tế TBCN, hệ thống kinh tế XHCN Tuy nhiên, vấn đề mà chứng ta quan tâm là vân đề kinh tế thị trường Kinh tế thị trường được hiểu là nền kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị

trường Kinh tế hàng hóa và cơ chế thị trường không phầi là sản phẩm

riêng có của một phương thức sân xuất nào mà tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau , Robert , L Heilbroner đã phân thành 3 hệ thống kinh t ế , đó là hệ thống kinh tế cổ truyền ; hệ thống kinh tế chi huy ;

và hệ thống kinh tế thị trường

Hệ thống kinh tế cổ truyền là hệ thống kinh tế mà ỏ đó, các vấn đề kinh tế cơ bản : sân xuất cái gì ? bằng cách nào ? cho ai ? và bao nhiêu ? được phong tục tập quán giầi quyết Chính truyền thống cha truyền con nối , thế hệ tníđc truyền Iighề cho thế hệ sau đã quy định nhữhg gì sẽ làm trong tương lai cững y hệt như ở hiện tại và quá khứ

Hệ thống kinh tế chỉ huy hay còn gọi là hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung là một hệ thống kinh tế mà ở đó, các vấn đề kinh tế cơ bản

Trang 9

do Nhà nước, nghĩa là nhữìig nhà lãnh đạo chính trị và những nhà lập kế hoạch kinh t ế , giầi quyết theo một kế hoạch thống nhất, có tính bắt buộc thực hiện đối vđi mọi doanh nghiệp Chính Nhà ntfđc quyết định bao nhiêu tài nguyên sản xuất được sử đụng cho hiện tại, bao Iihiêu tài nguyên sản xuất được sử dụng cho tương l a i ; những lọai hàng hóa và dịch vụ nào được sản xuất vđi số lượng bao nhiêu ; ai và nhà máy nào phải làm việc gì , được hưởng lương ra sao, thông qua đó, Nhà nưđc quyết định mổi người đưực phân phối bao nhiêu, không chỉ là tiền lương mà COI1 là các quyền lợi khác

liậihốngkinh tế cổ truyền và hệ thống kinh tế chỉ huy giống nhau d điểm là nhữhg doanh nghiệp và cá nhân trực tiếp sản xuất kinh doanh thì

có rất ít sự tự do trong việc lựa chọn cách thức giải quyết các vấíti đề kinh

tế nảy sinh trong đời sống , dù chính họ là những người trực tiếp sản xuất kinh doanh Mọi sáng kiến cá nhân đều không thể thực thi , mọi nổ lực cá nhân là vô ích nếu không phù hợp với phong tục, tập quán, truyến thống hay không được những nhà lãnh đạo chính trị - kinh tế chấp thuận

Khác vđi các hệ thống kinh tế chi huy và hệ thống kinh tế cổ truyền,

hệ thống kinh tế thị trường được giá cả điều tiết và nổ lực thành đạt của cá nhân chi p h ố i Trong hệ thống kinh tế thị trường , hoạt động của các doanh nghiệp và các nhà kinh doanh không bị quyền lực Nhà nước hay phong tục tập quán chi phối rộng rãi Trong hệ thống kinh tế thị trường, người sản xuất và người tiêu dùng tác động lẩn nhau thông qua thị trường nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế cơ bản theo sự dẩn đất của giá cả thị trường

Thị trường sẽ quyết định sản xuất cái gì với sô' lượng bao nhiêu, hay nói cách khác, Iigười tiêu dùng sẽ bỏ phiếu bầu cho các sản phẩm hằng

Trang 10

ngày, hằng giờ bằng đồng tiền thu nhập của mình Nhà kinh doanh vđi động cơ lợi nhuận nên sẽ sản xuất sản phẩm nào, vđi sần lượng bao nhiêu

để đạt lợi nhuận cực đ ạ i

Sản xuất như thế nào thông qua sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất với nhau Thông qua môi trường cạnh tranh , động cơ lợi nhuận sẽ thúc đẩy nhà sẳn xuất phải biết phối hợp các yếu tố sản xuất như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất Giá cà là một tín hiệu cho công nghệ thích hợp, Iiếu không đạt được một công nghệ thích hợp cùng một phương pháp quản lý sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì cạnh tranh sẽ đẩy doanh nghiệp ra khỏi thương trường

Phân phối sản phẩm cho ai thông qua quy luật cung cầu , cả trên thị trường các yếu tố sản xuất và thị trường hàng hóa, dịch vụ đã hoàn thành Trên thị trường các yếu tố sần xuất , người chủ nguồn tài nguyên sản xuất bán các dịch vụ sản xuất mình có cho các xí nghiệp để lấy tiền dưđi dạng tiền lương, tiền cho thuê các xí nghiệp tổng hợp các yếu tố sản xuất để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ và bán lại cho những người chủ nguồn tài nguyên sần x u ấ t, người tiêu thụ Lực cung và cầu cho mổi loại tài nguyên sản xuất, hàng hóa và dịch vụ đã hoàn thành và cơ chế cạnh tranh sẽ xác định giá , qua đó xác định thu nhập, lợi nhuận và giải quyết vấn đề phân

Trang 11

* Trong hệ thống kinh tế cổ truyền, phong tục tập quán giữ vai trò điều chỉnh kinh t ế Trong hệ thống kinh tế chỉ huy, Nhà nước giữ vai trò điều

chinh kinh tế Còn trong hệ thống kinh tế thị tníờng thì cơ chế thị trường

giữ vai trò điều chỉnh kinh t ế

Cợ chế thị trường lấ một hệ thống cấc quvju ầ t kinh t ế , dưđi sự tác động các quy luật kinh tế này, toàn bộ nền kinh tế vận hành mà không có bất kỳ tác nhân nào tác động từ bên ngoài , không có một trung tâm chỉ huy nào cả, nên người ta nói cđ chế thị trường là cơ chế tự điều chinh

C đchế kinh tế thi trường là cơ chế vận hành nền kinh tế của hớn 120 quốc gia trên thế giđi, sần xuất ra khối lượng hàng hóa trị giá nhiều tỷ đô

la, tạo công ăn việc làm cho nhiều triệu người Tuy vậy , từ thực tế của những cơn suy thoái, khủng hoảng kinh t ế ; thất nghiệp và lạm phát thường xuyên, ngưòi ta nhận thấy cơ chế thị trường cũng có những thất bại, những nhược điểm tạo ra nhiều hậu quẳ bất lợi về kinh tế và tiêu cực về xã hội Hơn nữa, tuy cơ chế thị trường bảo đám cho một nên kinh tế phát triển năng động và có hiệu quầ cao, hàng hóa sẳn xuất ra dư thừa và phong phd, nhu cầu của người tiêu dùng được thỏa mãn một cách cao nhất , các nguồn tài nguyên sản xuất được phân phối và sử dụng một cách tối lủ i Nhưng cơ chế thị trường không chứa những bảo đẳm về mặt xã hội cho công dân, ví dụ : Tuy vđi cơ chế thị trường , các nguồn lực của xã hội được phân phối một cách tối ưu nhưng không bảo đảm phân phối một cách công bằng Tuy vđi

cơ chế thị trường , các nhu cầu của người tiêu dùng dược thỏa mãn một cách cao nhất, nhưng cơ chế thị trường chỉ bầo đảm cho những nhu cầu có khả năng thanh toán

Trang 12

1.2 NHÀ NƯỚC VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Trong lịch sử, câu trả lời cho câu hỏi Nhà nước có vai trò gì trong nền kinh tế thị trường thay đổi theo sự biến động của đời sống kinh t ế Vào thế

kỷ 18 - 19 nền kinh tế nước Anh phát triển nhanh Những thất bại của cơ chế thị trường như mất cân đối lớn cung cầu, nạn thất nghiệp chưa xảy ra Trong thực tế đó, Adam Smith ( 1723 - 1790 ) nhà kinh tế học người Anh, trong thuyết “ trật tự tự nhiên “ đẵ đặc biệt phân tích tính khách quan của các quy luật kinh t ế Ông cho rằng quy luật kinh tế là vô địch, chính sách hợp quy luật là chính sách tự do kinh tế ( 5, trang 81 ) Ông kêu gọi một thị trường tự do, Nhà nước không can thiệp vào các quá trĩnh kinh tế, nền kinh tế vận động và phát triển theo các quy luật kinh tế có tính khách quan của cơ chế thị trường

Quan điểm về nền kinh tế thị trường cạnh tranh tự do tồn tại trong một thời gian dài, được nhiều nước đeo đuổi cho đến nhữhg năm đầu đầu thế kỷ 20, cùng vđi những đợt suy thoái và khủng hoảng kinh tế đã cho thấy

cơ chế tự điều chỉnh của thị trường cững có nhữtig lức sai lầm và thất bại Bên cạnh đó, sự thành công trong thực tiển của lý luận Mác xít về kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân ỏ Liên xô ltíc đó đã khiến cho nhiều nhà kinh tế học thấy được khả năng của Nhà nưđc trong việc ổn định và điều chinh sự phát triển nền kinh tế quốc dân

Nếu ngƯỢc dồng lich sử thì ngay từ thế kỷ 16 - 17, cùng với sự phát triển nền sản xuất hàng hóa, tại các quốc gia có nền kinh tế thị trường sớm phát triển như Anh, Hà lan, Nhà nước đã có vai trò nhấí định trong nền kinh

tế thị trường Những người theo chủ nghĩa trọng thương đánh giá cao vai

ÌO

Trang 13

trò của Nhà nước trong việc bảo hộ thị trường trong nước bằng các công cụ như thuế quan, giám sát thương nhân nưđc ngoài, tích cực điều tiết lưu thông tiền tệ Mở rộng xuất nhập khẩu theo hướng tăng xuất khẩu sản phẩm hàng hóa đã hoàn thành, nhập khẩu nguyên vật liệu Như vậy, vào ldc này đã xuất hiện tình trạng mất cân đốỉ cung cầu nếu khép kín thị trường trong nưđc Nhà nưđc giữ vai trò điều tiết cán cân cung cầu bằng cách điều tiết các hoạt động ngoại thương

Cùng vđi sự tăng trưởng hay suy thoái kinh tế mà ở các nước phát triển kinh tế thị trường, có sự đấu tranh giữa hai xu hướng : tự do hoá kinh

tế và xo hưđng tăng cường sự can thiệp của Nhà nước Cực đoan theo một

xu hưđng nào đều có hại cho sự tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội “ Tất

cả là thị trường dẩn đến những thái quá tai hại cho kinh tế - xã hội không kém gì tất cả là Nhà nưđc “ ( 4, trang 2 )

Ngày nay, hầu hết chính phủ của các quốc gia có nền kinh tế thị trường đều có chức năng kinh tế nhất định Bởi vì, Nhà nước nào cũng có những mục tiêu kinh tế - xẵ hội nhất định để đeo đuổi; Thứ nữa, Nhà nưđc nào cũng có một lực lượng vật chất to lđn đó là ngân sách, tài sản công và các phương tiện điều tiết kinh tế như luật pháp ; k ế hoạch ; chính sách phát triển kinh t ế ; thuế ; lãi xuất có thể tác động chi phối mạnh mẻ đến nền kinh t ế

Trong nền kinh tế thị tníờiig Nhà nước có các chức năng kinh tế cơ

bản :

1.2.1 sứ a chữa những íhất bại của thị trường.

Trang 14

Một nền kinh tế thị trường được xem là vận hành có hiệu quả khi giá

cả thị trường bằng giá trị thị trường ; khi chi phí xã hội của sản phẩm bằng lợi ích xã hội của sản phẩm mang lại Dưđi sự điều tiết của các quy luật kinh tế thị trường như quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu nền kinh tế thị trường thường tự điều chỉnh để vận hành có hiệu quả

Nhưng cơ chế thị trường cũng có những thất bại, đó là những khi thị trường xuất hiện tình trạng mất cân bầng cung cầu ; lạm p h á t; thất nghiệp ; thiếu vắng hàng hóa công cộng ; ô nhiễm môi trường ; cơ chế cạnh tranh bị thất b ạ i

Khi thị trường có thất b ạ i, cần có sự can thiệp của Nhà nưđc nhằm ổn định nền kinh t ế , sữa chữa những thất bại của thị trường , thức đẩy kinh tế tăng trưởng

1.2.2 Bảo đẵm công bằng xẫhội và ẩn định nần kinh tế

Cơ chế thị trường có thể giúp cho việc phân phối và sử dụng tài

nguyên sản xuất và sán phẩm hàng hóa đã hoàn thành một cách có hiệu quả

n h ấ t, nhưng cơ chế thị trường không đảm bảo việc phân phối và sử dụng tài nguyên sản xuất và sàn phẩm hàng hóa đã hoàn thành một cách công bằng

Sự bất công trong xã hội diển ra đầu tiên ở lãnh vực phân phối các nguồn tài nguyên sản xuất, tiếp đến là bất công trong lãnh vực phân phối và thu nhập, có thể đưa xã hôi đến tình trạng phân cực : Một số người hưởng tất cả kết quả sản xuất của xẵ hội, số còn lại không có gì cầ Bên cạnh đô', nạn thất nghiệp ; lạm phát ; thiên tai ; rủi ro làm tăng thêm sự bất công vốn

Trang 15

Trong khi tạo môi trường thuận lợi cho cơ chế thị trường vận hành có hiệu quả, Nhà nưđc đồng thời bằng các phương tiện luật pháp, thuế và chi tiêu chính phủ, có khả năng thực tế bảo vệ và trợ giúp cho những người kém may mắn ; tạo những điều kiện để mọi công dân có cơ hội như nhau

để phát triển năng lực, nghề nghiệp và kinh doanh

1.2.3 Xẩy dựng và thực thiphắp luật

Để thực thi các chức năng kinh tế của mình, Nhà nưđc thường dựa vào các công cụ là pháp luật, k ế hoạch, chính sách phát triển kinh tế và các công cụ khác như thuế, chi tiêu chính phủ

Luật pháp, một mặt là phương tiện hửu hiệu để Nhà nước thực thi các chức năng kinh tế của mình, mặt khác, xây đựng một hệ thống pháp luật kinh tế nhằm tạo lập được một môi trường pháp lý về kinh tế để cho mọi hoạt động sẳn xuất kinh doanh diển ra một cách an toàn, ổn định, công bằng và văn minh là một điều kiện cần cho sự phát triển kinh tế thị trường

Do vậy, xây dựng và thực thi pháp luật, mà trước hết là pháp luật vế kinh tế

là một chức năng kinh tế cơ bẳn của Nhà nước trong điều kiện xây đựng nền kinh tế thị trường

Pháp luật vđi tính cách là một phương tiện để Nhà nước thực thi các chức năng kinh tế, tạo lập một môi trường pháp lý về kinh tế cho mọi hoạt

Trang 16

động sản xuất kinh doanh, tạo lập công bằng xã hội và sửa chữa những thất bại của thị trường

Việc phân tách vai trò của pháp luật trong quá trình tạo lập công bằng xã hội, sửa chữa thất bại của thị trường vđi việc tạo lập môi trường pháp lý về kinh tế chỉ để tiện cho việc nghiên cứu c ả trong lý luận và thực tiển, hệ thống pháp luật về kinh tế tạo lập môi trường pháp luật về kinh tế, trong nền kinh tế thị trường bao hàm các chế định pháp luật về công bằng

xã hội và sửa chữa thất bại của thị trường

Hệ thống pháp luật về kinh tế trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường, tạo lập một môi trường pháp luật kinh tế, phdc đáp được các yêu cầu có tính khách quan do thị trường đặt ra ( 2, trang 23 ):

- Sự an toàn của các nhà đầu tư trong và ngoài nưđc

- Sự vận động tự do nhanh chóng của vốn dầu t ư

- Sự vận động thông suốt của lực lượng lao động

- Sự bình đẳng về mặt pháp lý của các chủ thể tham gia các quan hệ kinh t ế

- Giải quyết một cách nhanh chóng, thuận tiện, hợp lý và đúng pháp luật các tranh chấp kinh tế xầy ra

- Bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, của xã h ộ i

- Bảo đảm cho Nhà nưđc quẫn lý được các tiến trình kinh tế - xã h ộ i

Mặt khác, cơ chế thị trường bẳo đảm cho nền kinh tế hoạt động có

hiệu quả, nhưng không chứa những bảo đảm về mặt xã hội Điều này có nghiẵ là, kinh tế tăng trưởng , nhưng không hẳn xã hội công bằng và tiến bộ hơn Bởi lẽ kinh tế tăng trưởng, nhưng không hẳn mọi người đều được

Trang 17

hưởng thành quả của sự tăng trưởng Do có sự bất công trong quá trinh phân phối, từ khâu phân phối các nguồn tài nguyên sàn xuất cho đến việc phân phối hàng hóa và dịch vụ đã hoàn thành, mà cùng vđi cự tăng trưởng

về kinh t ế , có thể đưa xã hội đến chổ phân hóa thành các cực Hơn nữa, khi thị trường thất bại, kinh tế suy thoái, khủng hoảng thi những người lao động, tầng lớp nghèo là nhữhg người hứhg chịu hậu quả tníđc h ế t

Do vậy, chính yêu cầu của sự tiến bộ xã hội đã đặt ra cho pháp luật yêu cầu xây dựng cơ chế bảo đảm về mặt xã hội cho công dân Nghiã là pháp luật cần có chức năng tạo lập công bằng xã hội, ngăn ngừa và xử lý các đột biến xấu do cơ chế thị trường mang l ạ i

Một môi trường pháp luật kinh tế như vậy, theo quan điểm hệ thống, cần có cấu trức :

Điều kiện khung Là những nguyên tắc pháp lý cơ bân bảo đảm cho nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, những nguyên tấc pháp lý bảo đảm quyền công dân và công bằng xã hội, gắn được tăng trưởng kinh tế vđi công bằng xã hội và tiến bộ xã h ộ i

Điều kiện khung gồm nhữhg chế định nguyên tắc, định chế nên pháp luật về kinh tế trong nền kinh tế thị trường, đó là :

- Chế định về tài sần, vđi nội dung định chế về tài sản, về quyền sở hửu tài sản, quyền tự do sđ hửii tài sần ; các hình thức sờ hửti và sự bình đẳng giữa các hình thức sỏ hửu

- Chế định về sản xuất kinh doanh, với nội dung định chế quyền tự do kinh doanh, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh và sự bình đẳng giữa các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh

Trang 18

- Chế định về mỏi trường và bầo vệ môi trường

- Chế định về lao động, học tập, nghỉ ngơi và bẳo đảm về xã hội

Hệ thông pháp luật thực định, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật thực định, qua đó vai trò và chức năng của pháp luật về kinh tế được thể hiện

1.3.1 Phổp luật kinh tê'điêu chĩnh địa vị pháp lý của các chủ thể

tham gia các quan hệ kinh t ế

Xác lập địa vị pháp lý cho các chủ thể quan hệ kinh tế trong nền kinh

tế thị trường là yêu cầu cơ bản của nền kinh tế thị trường Thực chất của vấn đề này là xác định nhữhg ai và trong những điều kiện nào thì có thể trở thành chù thể quan hệ kinh tế ; quy định thẩm quyền kinh tế và chế độ trách nhiệm một cách rỏ ràng cho các chủ thể quan hệ kinh t ế

Các nguyên tắc pháp lý cơ bản như quyền tự do kinh doanh, quyền tự

do sở hửu, nguyên tắc bình đẳng về mặt pháp lý được tôn trọng trong quá trình xác lập địa vị pháp lý của chủ thể quan hệ kinh tế

Quy định địa vị pháp lý của chủ thể, nguyên tấc bình đẳng có tầm quan trọng rất lớn , vì chi trong điều kiện được bình đẳng, các quyền tự do kinh doanh, tự do sở hửu, tự do cạnh tranh mđi không là hình thức Sự binh đẳng mà cơ chế thị trường muốn có là sự bình đẳng về mặt pháp lý, được hiểu là mọi chủ thể, không phân biệt hình thức sở hửu, thành phần kinh tế, khi tham gia vào một quan hệ pháp luật kinh tế, đều được hưởng nhữìng quyền và phải gánh chịu những nghĩa vụ như nhau Không thể hiểu bình

Trang 19

dẳng là có vai trò như nhau hoặc có thẩm quyền kinh tế như nhau, bỏi vì vai trò và thẩm quyền kinh tế của một doanh nghiệp phụ thuộc vào vị trí, vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế, phụ thuộc vào chính sách và định hưđng phát triển kinh tế - xã hội

1.3.2 Phổp luật kinh tê'điều chỉnh

cẩc quan hệ kinh tê'th ị trường

Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế rất đa dạng, phong phú và phức tạp , phát sinh và phát triển trên một diện rất rộng, trên tất cả các lãnh vực và trên tất cả các giai đoạn của các quá trình kinh t ế Tuy đa dạng và phức tạp như vậy, nhutog hình thức chủ yếu của các quan hệ kinh tế

là hợp đồng, do vậy, pháp luật điều chinh các quan hệ kinh tế thị trường chủ yếu là pháp luật về hợp đồng kinh t ế

Pháp luật điều chinh hợp đồng kinh tế là bộ phận cơ bản của pháp luật kinh tế, không chỉ riêng có trong nền kinh tế thị trường Nhưng trong nền kinh tế thị trường, hợp đồng kinh tế là phương thức thực hiện lợi ích kinh tế và các quyền tự do về kinh tế, như quyền tự do kinh doanh Do vậy, nội dung hợp đồng kinh tế phẳi phân ẳnh ý chí đích thực của các bên tham gia quan hệ, và khi xây dựhg và thực hiện hợp đồng, các bên được thật sự bình đẳng vđi nhau Nghiã là, tự do ý chí và bình đẳng về mặt pháp

lý là hai tiêu chí cơ bản của hợp đồng kinh t ế

Các quyền tự do về kinh tế cho phép các chủ thể kinh tế có thể tiến hành mọi hoạt động sân xuất kinh doanh mà mình mong muốn Nhưng lợi

ích xẩ hội lại đòi hỏi một số hàng hóa và dịch vụ cần được sản xuất, kinh

Trang 20

doanh và tiêu thụ nhiều hơn, như hàng hóa công cộng, hàng khuyến dụng một số hàng hóa và dịch vụ nên hạn chế sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ như ma ttíy, thuốc lá , rượu bia .

Vđi các quy định của pháp luật thực định như ưu đãi đầu tư, Ưu đãi về thuế và chi tiêu chính phủ có thể kích thích sức sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ những hàng hóa và dịch vụ có lợi cho xẩ hội, ngược lại, hạn chế sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ Iihữíig hàng hóa và dịch vụ có hại cho xã h ộ i

Khi tham gia vào các quan hệ kinh tế, các chủ thể nhằm vào những lợi ích, hưđng đến những đốỉ tượng nhất định Phạm vi những đối tượng, những khách thể của các quan hệ kiiih tế rất phong phứ Trong khi điều chỉnh các quan hệ kinh tế, pháp luật một mặt, quy định việc chiếm hửu, sử dụng, định đoạt đối vđi từng loại tài sân như đất đai, tài nguyên thiên nhiên hoặc đối vđi từng nhóm tài sản như tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng Từ đó hình thành nên chế độ pháp lý về tài sản và quản lý tài sân, hàng hóa và lưu thông hàng hóa

Trong khi điều chỉnh các quan hệ kinh tế, pháp luật đồng thời có chức năng bảo vệ các quan hệ kinh tế và đối tượng của các quan hệ này Chức năng bảo vệ của pháp luật có được do chính nhu cầu của chính đời sống kinh tế - xã hội đặt ra, nhằm chống lại các hành vi xâm hại các khách thể, các quan hệ mà pháp luật kinh tế bảo vệ Thực hiện chức năng này, pháp luật một mặt quy định những đối tượng, nhữhg khách thể cần được bảo

vệ, những hành vi xâm hại đến các khách thể được pháp luật bầo vệ, những chế tài được áp dụng đối vđi người vi phạm Mặt khác pháp luật quy định

những thể chế và cơ quan Nhà nưđc có trách nhiệm thực thi chức năng này

Trang 21

Trong cơ chế thị trường các tranh chấp kinh tế có tính đa dạng và phức tạp Ngoài các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng kinh tế, còn có những tranh chấp như tranh chấp quyền sở hửu công nghiệp ; tranh chấp trong các quan hệ mua bán tiền tệ, chứng khoán trên thị trường vốn ; tranh chấp giữa công ty vđi thành viên và giữa các thành viên vđi nhau trong việc thành lập, quản lý công ty, doanh nghiệp ; giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp và giải quyết công nợ do phá sản doanh nghiệp hoặc giải thể doanh nghiệp việc giẳi quyết nhanh chóng, thuận tiện và hợp lý mọi tranh chấp về kinh tế giúp cho nền kinh tế phát triển thuận lợi

Để giải quyết các tranh chấp, bất đồng về kinh tế, các bên có thể tự thương lượng, thỏa thuận hoà giải để giẩi quyết các bất đồng, tranh chấp kinh t ế Trong trường hợp không tự thỏa thuận được vđi nhau để xóa bỏ bất đồng, tranh chấp , các bên cần có một chuẩn mực chung, để căn cứ vào đó giải quyết các tranh chấp một cách khách quan và hợp lý đối vđi các bên tranh chấp, và phù hợp vđi yêu cầu phát triển kinh tế đối vđi xã h ộ i

Pháp luật, vđi tính cách là “khế ước xã hội”, có tính chuẩn mực chung làm cơ sở để giải quyết các tranh chấp, các bất đồng trong đời sống kinh t ế

1.3.4 Pháp ìuệt về lao động điều chỉnh quan hệ lao động trên thị

trường lao động là bộ phận quan trọng hợp thành nên hệ thống pháp luật kinh t ế

Trang 22

Sức lao động về mặt kinh tế là một nguồn tài nguyên sản xuất quan trọng Về mặt pháp lý, sức lao động là đối tượng của quan hệ xã hội đặc thù, đó là quan hệ lao động, giữa người lao động và người sử dụng lao động Điều chỉnh quan hệ lao động, pháp luật về lao động thông qua việc quy định quyền và nghiã vụ của các bên tham gia quan hệ lao động, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên tham gia quan hệ, đồng thời và quan trọng hơn là xác lập sự bình đẳng về mặt pháp lý giữa người lao động

và Iigười sử dụng lao động

Trên thị trường sức lao động, khác vđi thị trường hàng hóa và dịch vụ,

sự cạnh tranh tự do cùng vđi nạn thất nghiệp thường xuyên, khiến giá thị trường của sức lao động suy giảin, tác động xấu đến khả năng tái tạo sức lao động, khả năng cải thiện đời sống của người lao động Do vậy, kiểm soát sự cạnh tranh tự do trên thị trường sức lao động là cần th iế t Bên cạnh

đó, với tính cách là hàng hóa trên thị trường, sức lao động cần được tự do lưu thông thông suốt trong thị trường sức lao động Thực hiện được điều này, pháp luật đã thể chế hóa được quyền làm việc và quyền chọn nơi làm việc của người lao động

1.3.5 Phắp luật với công bằng x ã hội

Cơ chế thị trường là một cơ chế kinh tế mà nhờ đó, các nguồn tài nguyên sản xuất đưực phân phối và sử dụng một cách tốỉ 11*11, nền kinh tế phát triển một cách năng động và có hiệu quả Nhưng cơ chế thị trường không hàm chứa cơ chế đảm bảo về mặt xã h ộ i Điều này có nghiẵ là theo

cơ chế thị trường, cùng vđi sự tăng trưởng kinh tế có thể là bất công xã hội ;

là sự phân hổa và xung đột xã hội

Trang 23

Cùng vđi sự bất công trong lãnh vực kinh tế, tập quán, luật pháp và

sự thực thi pháp luật đó trong cuộc sống cũng có thể làm tăng thêm hay giảm đi sự bất công vốn có Cùng vđi sự các chính sách phát triển kinh tế

xã hội, pháp luật vđi tính cách là khế ưđc xã hội, là ý chí chung cùa toàn xã hội, do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, có ảnh hưởng rất lđn đến tình trạng công bằng xẩ h ộ i

Để có vai trò nào đó đốỉ vđi tình trạng công bằng xã hội, trước hết, pháp luật thực định phải là pháp luật công bằng Nghiã là pháp luật thực sự

là khế ưđc xã hội, phản ảnh được ý chí chung của toàn xã hội, được đại đa

số trong xã hội tán thành là đúng Thứ nữa, là tình trạng công bằng xẵ hội

có thể được cải thiện rất Iihiều bằng việc phân phối một cách hợp lý các nguồn tài nguyên sân x u ấ t Bằng các định chế pháp lý về quản lý, sử dụng các nguồn tài nguyên sản xuất như tài nguyên thiên nhiên sao cho lợi ích của xã hội, của người lao động, của doanh nghiệp được hài hòa ; pháp luật

là phương tiện quan trọng tạo lập công bằng xã hội

Sự công bằng được đánh giá theo hai phương diện khác nhau, công bằng theo chiều ngang là đối xử như nhau vđi mọi người, không phân biệt giàu nghèo, thành phần kinh tế, dân tộc, tôn giáo, giới tính Ngược vđi công bằng theo chiều ngang, công bằng theo chiều dọc giúp lấp bớt khoảng cách giàu nghèo, vùng khó khăn và vùng thuận lợ i bằng cách đối xử khác nhau vđi nhữtig người có điều kiện kinh tế không giống nhau

Thể chế hóa công bằng theo chiều ngang thành nguyên tắc bình đẳng

về mặt pháp lý, pháp luật bảo đảm cho mọi chủ thể trong nền kinh tế đều được hưởng những quyền và gánh chịu nghiã vụ như nhau khi tham gia vào một quan hệ kinh tế nhất định Thể chế hóa nguyên tấc công bằng theo

Trang 24

chiều dọc, pháp luật một mặt tạo những ưu đãi, những thuận lợi cho những vùng, những người có nhiều khó khăn về kinh tế, những lãnh vực hoạt động tạo ra nhiều lợi ích cho xã hội Mặt khác, thông qua thuế và chi tiêu chính phủ để phân phối lại thu nhập quốc dân theo nguyên tấc lấy của người nghèo giúp đỏ cho người nghèo Tuy nhiên, những cố gấng của chính phủ nhằm điều tiết một phần thu nhập của người giàu giúp người nghèo, thông qua thuế và chi tiêu chính phù, tuy giúp tăng công bằng xã hội nhưng lạilàm cơ chế thị trường vân hành kém hiệu quầ

1.3.6 Phốp luật kinh tê siỲtì chiTs thốt bại cùa cạnh tranh

Độc quyền và cạnh tranh là những hiện tượng nảy sinh trong nền kinh

tế thị trường Trong cơ chế thị trường, các quy luật kinh tế thị trường như quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh xác định sản lượng và giá cầ thị trường của hàng hóa ; còn trong cơ chế độc quyền, quyền lực độc quyền xác định sản lượng và giá cả hàng hóa thị trường Trong khi người ta dể dàng đồng ý tính tich cực của hiện tượng cạnh tranh, thì với hiện tượng độcquyền, có hai quan điểm trái ngược nhau

Quan điểm thứ nhất cho rằng, độc quyền làm cho việc phân phối và

sử dụng các nguồn tài nguyên sản xuất không hiệu quả , Độc quyền có hại cho người tiêu dùng, vì giá cả độc quyền cao hơn giá cả cạnh tranh, do quyền lực độc quyền hạn chế sẳn lượng, tăng giá bán, nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao Cũng do hạn chế sản lượng, nâng giá bán nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao, độc quyền tạo chi phí xẩ hội, do vậy, độc quyền có hại cho xã h ộ i

Trang 25

Doanh nghiệp độc quyền thường không đầu tư tìm cách hạ giá thành sần phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm vì không chịu áp lực của cạnh tranh Bên cạnh đó, do lợi nhuận độc quyền cao nên doanh nghiệp độc quyền thường đầu tư để duy trì địa vị độc quyền như tăng chi phí quảng cáo, tìm kiếm sự ủng hộ của quyền lực chính trị, các doanh nghiệp độc quyền thỏa thuận khống chế giá bán, định giá hủy diệt để loại bỏ doanh nghiệp cạnh tranh ra khỏi thị trường, hoặc các doanh nghiệp độc quyền thỏa thuận khống chế sản lượng, nâng giá bán, thu lợi nhuận độc quyền

Như vậy, bằng việc loại bỏ cạnh tranh, thủ tiêu cơ chế cạnh tranh ;

dộc quyền có hại cho người tiêu dùng, cho xã hội và có hại cho nền kinh tế nói chung Do đó, chống độc quyền cũng có nghiã là bảo vệ cạnh tranh, bảo vệ cơ chế thị trường

Luật pháp được xem là một phương tiện hửa hiệu chống độc quyền, bảo vệ cạnh tranh “Thếkỷ 19 đẵ chứng kiến một sự gia tăng Iihanh về tập trang quyền lực kinh tế dưới hình thức tơ rớt Dưđi một thỏa thuận về tơ rđt, quyền bầu cử về vốn của một hãng trong một ngành công nghiệp, của tập đoàn độc quyền, được chuyển giao cho một tơ rđt hợp pháp, tơ rớt này quản lý các hãng như một cartel hạn chế sản lượng, định giá độc quyền và thu lợi nhuận độc quyền Nhũng tơ rớt nổi tiếng là tơ rđt về dầu tiêu chuẩn,

tơ rđt thuốc lá, đường, sắt, thép Tất cả các tơ rớt này đều hoạt động trong những năm 80 của thế kỷ 19 Công chúng phẩn nộ vđi việc tập trung quyền lực kinh tế và sự lạm dụng quyền này Iiêri đẵ gây sức ép để Nhà IIƯỚC ban hành những đạo luật chống tơ r đ t ” ( 11 )

Tại Anh, chính sách về kiểm soát độc quyền và bảo vệ cạnh tranh được thực thi theo nguên tấc, đii nhữhg quyền lực độc quyền có hại cho xã

Trang 26

hội thì rnđi bị ngăn chặn và xử lý , Độc quyền hoạt động có hiệu quả, đóng góp nhiều vào việc tiết kiệm chi phí cho xã hội thì được chấp nhận, nhưng nếu lợi nhuận cao quá thì được xem là không hợp lý, quảng cáo nhiều quá nhằm tăng chi phí cô" định để loại bỏ đốỉ thủ cạnh tranh thì không được chấp nhận ( 6, trang 427 )

Quan điểm thứ hai, ngược vđi quan điểm thứ nhất, cho rằng, chi phí

xã hội, tổn thất đo độc quyền gây ra không lđn như người ta nghỉ ; lợi nhuận độc quyền không nhiều như người ta vẩn chỉ trích ; trong các ngành cạnh tranh hoàn hảo, giá cả không ổn định và ỏ mức không có lợi nhuận, ngược lại, trong những ngành tập trung, giá cả ổn định và có lợi nhuận ; cạnh tranh

là cơ chế xác lập giá cả thị trường nhưng không phầi lđc nào giá cả cạnh tranh cũng ổn định và có hiệu quả trong mọi giai đoạn phát triển, và nếu như cạnh tranh ngày càng làm cho giá cả kém ổn định và hiệu quà thấp, thì chính cạnh tranh lại làm nảy sinh ra hình thức kinh tế để khấc phục tình trạng đó : hình thức độc quyền

Nếu như thực tế kinh doanh đẵ chỉ cho doanh nghiệp một tỷ lệ lợi nhuận kinh nghiệm, một tỷ lệ mà vi phạm tổng lợi nhuận của doanh nghiệp

bị giảm sút, thì thực tế kinh doanh đó, cũng chỉ cho doanh nghiệp cái số lượng hàng hóa cần thiết để duy trì tỷ lệ lợi nhuận đó, điều mà chỉ ỏ vào vị trí độc quyền doanh nghiệp mđi làm được ( 8 ) Cho nên trong thực tế, giá

cả ỏ những ngành có mức độ tập trung độc quyền cao thường ổn định, đúng Iìhư kết quẳ khảo sát thực t ế Mặt khác vì phải tìm kiếm lợi nhuận tối đa trên tổng số mà đoanh nghiệp độc quyền thường không thể làm phương hại quá đáng đối vđi lợi ích của người tiêu dùng bằng cách nâng giá bán, cũng như lợi ích xã hội bằng cách hạ thấp quá đáng mức cung Họ phải xác định

Trang 27

mức giá và sản lượng cân bằng, lợi ích của họ và địa vị độc quyền của họ

sẽ buộc và cho phép họ thực hiện điều đó

Trong thực tế, mỗi loại hàng hóa đều phải cạnh tranh vđi những hàng hóa cùng loại hay khác loại nhưng có thể thay thế nó Hơn nữa, trong bối cảnh hoà nhập quốc tế hiện đại, không có độc quyền nào không đứng trưđc

sự cạnh tranh từ nước ngoài Vì vậy, độc quyền không thể không cạnh tranh, mà còn là điều kiện để cạnh tranh có hiệu quả Điều đó lý giẳi vì sao trong những ngành tập trung độc quyền, đầu tư nghiên cứu triển khai và chi phí quảng cáo thường cao hơn những ngành ít tập trung và trong những ngành cạnh tranh hoàn hảo thì hầu như không có

Từ đó, những người theo quan điểm này cho rằng không cần và cũng không thể xóa bỏ độc quyền mà chỉ cần kiểm soát độc quyền, không để doanh nghiệp độc quyền lợi dụng quyền lực độc quyền để có hành vi quá lạm ( 8 )

Nghiên cứu so sánh hai quan điểm trên, chđng tôi cho rằng dù chống hay ủng hộ độc quyền, cả hai quan điểm đều nhìn nhận vai trò của cạnh tranh là động lực của cơ chế thị trường, thúc đẩy sự phát triển kinh tế Do vậy, mọi thất bại của cạnh tranh là thất bại của cơ chế thị trường, nên việc bẳo vệ cạnh tranh, chống mọi hoạt động hạn chế cạnh tranh, độc chiếm Ihị tníờng hoặc cạnh tranh bất chính là bảo vệ cơ chế thị trường hoạt động có hiệu quả

Để bầo vệ cạnh tranh, pháp luật quy định ngăn chặn và xử lý những hành vi cạnh tranh không lành mạnh như làm hàng giâ, quảng cáo sai sự thật, những thỏa thuận nhằm hạn chế thị trường, hạn chế cạnh tranh như

Trang 28

cartel hạn chế sẳn lượng, ấn định giá độc quyền cao nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao

Kiểm soát độc quyền, pháp luật đề ra nhữhg quy định Iihằm ngăn chặn và xử lý doanh nghiệp độc quyền lạm dụng quyền lực độc quyền, có hành vi quá lạm gây thiệt hại đến lợi ích của xã hội, của ngiíời tiêu dừng , độc chiếm thị trường, loại hỏ cạnh tranh như định giá hủy diệt, thu lợi nhuận độc quyền cao Iĩiột cách không hợp lý, không cố gắng hạ giá thành, nâng cao chất lượng sần phẩm vì không bị cạnh tranh, nhất là trong trường hợp độc quyền do pháp luật ấn định

Để kiểm soát độc quyền và bảo vệ cạnh tranh có hiệu quả, việc xây dựng các thiết chế và tổ chức thực thi pháp luật về bầo vệ cạnh tranh, kiểm soát độc quyền một cách có hiệu quả trong thực tế là cần th iế t

1.3.7 Phắp luật và nạn ô nhiểìĩì

Thị trường cạnh tranh được xem là hoạt động tốt khi giá cả thị trường bằng chi phí và bằng giá trị thị trường Nhưng trong một số trường hợp, chi phí thực mà xã hội phải chịu lđn hơn hoặc nhỏ hơn giá cả tiiị trường của hàng hóa hay dịch vụ đó Phần chênh lệch này không được hoạch toán đầy

đủ vào giá thị trường, và xã hội được hưỡng hay chịu mất không

Trong nền kinh tế thị trường, một số hoạt động sản xuất kinh doanh

gây ra ô nhiểm môi trường, như xả nước bẩn làm ô nhiễm nguồn nưđc, xả khói bụi gây ồ nhiễm không khí Muốn hoạt động sần xuất kinh doanh không gây ra ô nhiễm, doanh nghiệp phải đầu tư chi phí để làm trong sạch môi trường, giảm ô nhiễm Việc dầu tư đổ xử lý ô nhiễm sẽ làm tăng chi

Trang 29

phí sản xuất, do đó tăng giá thành sẳn phẩm, giảm sức cạnh tranh cuả doanh nghiệp, lợi nhuận doanh nghiệp cũng giảm sút Nên doanh nghiệp không có động cơ đầu tư chi phí để giẳm ô nhiễm do chính hoạt động sân xuất kinh doanh của doanh nghiệp gây ra Do vậy, trong nhữíig hoạt động sần xuất kinh doanh có gây ra ô nhiễm, chi phí thực để sản xuất ra hàng hóa hoặc dịch vụ bao gồm cả chi phí xừ lý ô nhiễm, chi phí này không được hoạch toán đầy đủ vào giá câ thị trường, mà do xã hội chịu dưđi dạng tổn hại như tổn hại về sức khoẻ do Iiạn ô nhiễm gây ra

Để làm giâm nạn ô nhiễm, Nhà nưđc cần có những biện pháp tác động vào các doanh nghiệp sao cho trong quá trình sản xuất, doanh nghiệp phải chấp nhận áp đụng nhữlng giải pháp kỹ thuật giảm ô nhiễm Nhữhg quy định pháp luật về an toàn và bảo vệ môi trường, xử lý các hoạt động gây ô nhiễm môi trường có tác dụng làm giảm nạn ô nhiễm môi trường do các quá trình sản xuất kinh doanh gây ra

1.4 PHẤP LUẬT KINH TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ

TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM

ở Việt nam, nền kinh tế thị trường do Đảng khỏi xướng và lãnh đạo xây dựhg Có thể coi hội nghị tning ương 6, khoá 4, tháng 8 năm 1979 là bước đi đầu tiên thừa nhận phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, phát triển kinh tế sân xuất hàng hóa

Từ tổng kết thực tiển, chỉ thị 100 năm 1981 của ban hí thư trung ương

về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong các HTX nông

Trang 30

nghiệp Trong công nghiệp với quyết định 25/CP năm 1981 đã bất đầu đặt

ra cho các doanh nghiệp Nhà nước phẫi tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh

Hội nghị trung ương 8, khóa 5, nãrn 1985 đã phân tích, phê phán cơ chế tập trung - quan liêu - bao cấp, khẳng định tiếp tục đổi mđi thông qua việc cải cách giá lương tiền, vđi chủ trương là xóa bổ bao cấp, bù giá vào lương

Tuy nhiên đó mới chỉ là những đổi mđi cục bộ, bước đầu Cơ chế cũ vẩn còn tồn tại, các quan hệ hàng hóa - tiền tệ chỉ được chấp nhận trong một phạm vi hẹp ( trưđc hết là một số sản phẩm tiêu dùng)* I

Đại hội 6, tháng 12 năm 1986 là mốc đánh dấu sự đổi mới căn bản của Đảng về nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Từ tổng kết sâu sắc thực tiển , Đảng ta đã khẳng định : “ Quá trình từ sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lđn ở nưđc ta là quá trình chuyển hóa nền kinh tế còn nhiều tính tự cấp

tự túc thành nền kinh tế hàng hóa” Điều rất quan trọng ỏ đây là không chỉ thừa nhận từng khâu, từng sần phẩm là sản xuất hàng hóa mà là cả một nền kinh tế hàng hóa và coi đó là một quá trình có tính quy luật đi lên sản xuất lđn XHCN ỏ nước ta Đó là những luận điểm rnđi cực kỳ quan trọng

Tuy nhiên, Đại hội 6 chưa đề cập đến cơ chế thị írường và vẩn coi “ tính k ế ỉioạch là đặt trưng số một, quan hệ hàng hóa - tiền tệ ở vị trí thứ hai ”

Trang 31

Quyết định 217/ HĐBT ( năm 1987 ) buộc các đdn vị quốc doanh phải chuyển sang hoạch toán kinh (loanh, phải “ đối mặt “ vđi thị trường, tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình

Khoán 10 hộ xã viên đã trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, bắt đầu đi vào sản xuất hàng hóa

Tự do hóa lưu thông, xổa bỏ ngăn sông cấm chợ

Hội nghị trung ương 6, khóa 6, tháng 3 năm 1989 đã thừa nhận cơ chế thị trường thể hiện sự vận động của các quy luật sản xuất và lưu thông hàng hóa phải được vận dụng nhất quán trong kế hoạch hóa và các chính sách kinh tế “

Đại hội íần thứ 7 đã khẳng định đường lối đổi mới do đại hội 6 đề ra

là đúng đấn và đã xác định rỏ hơn vai trò cùa cơ chế thị trường : “ thị tníờng có vai trò trực tiếp hướng dẩn các đơn vị kinh tế lựa chọn lãnh vực hoạt động, mặt hàng, quy mô, công nghệ và hình thức sần xuất kinh doanh nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong môi trường cạnh tranh và hợp tác “

Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ ( khoá 7 ) đã nhận định:” cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nưđc theo định hướng XHCN đang trở thành cơ chế vận hành nền kinh tế “

Đại hội 8 của Đảng đã tổng kết 10 năm đổi mới và đề ra nhiệm vụ tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đến năm 2000, theo hướng hình thành đồng bộ cơ chế thị tníờng có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN “ (4 , trang 5 )

Trang 32

Tính định hướng XIICN của nền kinh tế thị trường ở Việt nam chủ yếu thể hiện ở các mặt sau :

tníờng để thực hiện mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”

- Ở quan hệ sở hửii, cơ chế thị trường ở nước ta vận hành trên cơ sở

cơ cấu đa dạng về các loại hình sở hữ\i Song sở hửu toàn dân, sở hửù tập

thể, sở hửu cá nhân người lao động chiếm tỷ lệ áp đảo ; có sở hửu tư nhân TBCN Iihưhg không thể trở thành nền tảng kinh tế của xã h ộ i

- Ở chế độ phân phối Nước ta thực hiện phân phốỉ theo lao động là chủ yếu, có sử dụng các hình thức phân phối khác, kể cả phân phối theo tư bản, song đây không phải là hình thức cơ bản

- ở bản chất quản lý của Nhà nước Vđi bản chất “ Nhà nước của dân, do dân, vì dân” Nhà nưđc can thiệp vào kinh tế để bảo đảm tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội, khuyến khích làm giàu hợp pháp

đi đôi vđi xóa đói giảm nghèo, ngăn chặn tình trạng phân hóa hai đầu

Như vậy vđi bản chất của Nhà nưđc ta, cơ chế thị trường được sử dụng như là công cụ để đưa đất nưđc phát triển theo con đường XHCN (4, trang 8 )

Cũng như các nền kinh tế thị tníờng ở các nước khác, nền kinh tế thị trường ở Việt nam là nền kinh tế hàng hóa vận hành theo CƯ chế thị trường,

Trang 33

được hình thành trên các cơ sở quyồn tự do sở hửu, quyền tự do kinh doanh, động cơ lợi nhuận và tự do cạnh tranh Là một hệ thống các quy luật có tính khách quan, cơ chế thị trường đã hạn chế một cách đáng kể sự can thiệp của Nhà nu’đc vào các tiến trình kinh tế Tính khách quail của các quy luật kinh tế thuộc cơ chế thị trường đòi hỏi, mọi sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế, không được vi phạm các quy luật kinh tế của cơ chế thị trường, nếu ngược lại, sự can thiệp của quyền lực Nhà nưđc vào nền kinh tế, sẽ có tác đụng kềm hãin sự phát triển kinh t ế

Trong nền kinh tế thị trường tại Việt Iiarri, Nhà nơđc có các chức năng cđ bản là sửa chữa thất bại của thị trường, ổn định nền kinh tế và tạo lập công bằng xã hội, tạo lập môi tníờng pháp lý kinh tế cho các tiến trình kinh t ế Pháp luật vđi tính cách là rnột phương tiện để Nhà nước thực thi các chức năng kinh tế xã h ộ i, có vai trò không thể thay thế được, gitíp cho Nhà nưđc thực thi các chức năng kinh tế, quản lý kinh tế - xã hội

Hơn nữa , do tính định hướng XHCN của nền kinh tế, ngoài nhữhg chức năng , vai trò vốn có, pháp luật kinh tế còn có vai trò bảo đẳm tính định hướng XHCN cho các tiến trình kinh t ế Do vậy, trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật kinh tế, tính định hướng XHCN ở các nội dung mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, cơ cấu quan hệ sở hửu, chế độ phân phôi, bàn chất quản lý của Nhà nứđc, cần được thể chế hóa trong các quy phạm pháp luật thực định Nhờ đó, trong quá trình điều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội, pháp luật, mà trước hết là pháp luật về kinh tế, định hưđng cho các tiến trình kinh tế theo mục tiêu xây dựng xã hội XHCN, “ Nền kinh

tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo con đường XHCN được chế định ờ những tầng khác nhau : Tầng Hiến pháp, các luật, các chính sách phát triển cho mọi hoạt động xẵ hội, mọi

Trang 34

thành phần và đơn vị kinh tế, mọi thành viên xã hội Mọi hoạt động và sần xuất kinh doanh theo đúng Hiến pháp và pháp luật là bảo đầm định hướng XHCN trong sự phát triển ”( 4 , trang 7 )

1.4.1 Đặc điắn cơ câu quan hệ sở hửu trong nên kinh tê ' thị trường định hướng XIICN

Một trong các nét khác biệt cơ bản giữa hai chế độ TBCN và XHCN

là cơ cấu quan hệ sở hửu Trong chế độ TBCN, tư hửu tư liệu sản xuất là hình thức sỏ hửu chủ yếu, chiếm địa vị thống trị trong xẵ hội Trong chế độ TBCN, vẩn tồn tại các hình thức sở hửu khác như sd hửu toàn dân, sở hửii tập thể nhưng không phải hình thức sở hửu chủ yếu Trong xã hội XHCN, sở hửu toàn dân về tư liệu sần xuất cùng các hình thức sở hửu tập thể, sở hửu của người lao động có vị trí nền tàng của chế độ sở hửư Tuy trong xã hội XHCN vẩn tồn tại các hình thức sỡ hửu khác như sở hữu tư nhân TBCN, nhưng đây không là hình thức sở hửu chủ yếu

Nền kinh tế định hưđng XHCN là một nền kinh tế mà trong quá trình phát triển, hình thức sở hửli toàn dân về tư liệu sản xuất, sở hửu tập thể và

sỏ hửti cuà người lao động đựơc xác lập, cũng cố và phát triển, trở thành

nền tảng của chế độ sở hửủ trong xẵ h ộ i Các hình thức sở hửu khác, kể cầ

hình thức sở hửu tư nhân TBCN vẩn được thừa nhận và được luật pháp bảo

vệ, tạo điều kiện để góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội, nhưng các hình thức sở hửu phi XHCN không thể trở thành nền tảng của chế độ sở hửu của xã hội

Trang 35

vấn đề sỡ hửu, nếu xét dưới giác độ kinh tế chính trị học thì quan hệ

sở hửu nói riêng và quan hệ sần xuất nói chung “ là một bộ phận cấu thành hửu cơ của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định CNXH có những đặc tníng riêng về sở hửu, nhCTng quan hệ sản xuất và phân phối nảy sinh từ chế

độ sở hửu đó Nền tâng của sở hửu này là chế độ công hửu XHCN về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức sở hửu Nhà nước ( quốc doanh ) và sỏ hửu tập thể ( HTX ) ” ( 12, trang 79 )

Trên cơ sỏ tự do sở hửu, kinh tế thị trường là một nền kinh tế đa hình thức sỏ hửu, đa thành phần kinh t ế Do sỏ hửu toàn dân là hình thức sở hửu nền tầng của chế độ sở hữu trong xã hội XHCN, nên trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thành phần kinh tế quốc doanh có vai trò to lớn trong nền kinh tế, đó là vai trò chủ đạo nền kinh t ế

Chính tính định hưđng XHCN của quá trình phát triển kinh tế ở nước

ta đã nảy sinh ra Iihu cầu xác lập chế độ công hửu XHCN về những tư liệu

sản xuất chủ yếu, là nền tảng của chế độ sở hửu trong xã hội và kinh tế Nhà

nưđc có vai trò chủ đạo trong nền kinh t ế Điều này không có nghiẵ là độc tôn một hình thức sở hửu, một thành phần kinh tế Trong nền kinh tế thị trường định hưđng XHCN, tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức

sỡ hửu, mổi một hình thức sỏ hửu, mỗi một thành phần kinh tế đều có vai Irò nhất định trong sự nghiệp ổn định và phát triển kinh tế - xã h ộ i

Kinh tế quốc doanh có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường ở nước ta vì đây là ” lực lượng nắm các yết hầu kinh t ế , giữ vị trí chi phối nền kinh tế, bảo đảm cho sự phát triển ổn (lịnh của nền kinh tế ; là lực lượng tạo điều kiện, giúp đở và liên kết các thành phần kinh tế cùng phát triển ; có khả năng can thiệp, điều tiết, hướng dẩii sự phát triển của các thành phần

Trang 36

kinh tế, của toàn bộ nền kinh tế quốc dân ; là tấm gương của các thành phần kinh tế về năng su ấ t, hiệu quầ ” ( 12, trang 8] )

Do vậy, vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh không Iihững không làm triệt tiêu động lực cạnh tranh của cơ chế thị trường, mà ngược lại, còn

là lực lượng giúp điều tiết thị trường, sửa chữa những thất bại của cơ chế thị

tníờng như thiếu vấng hàng hóa công cộng Nhờ lực lượng vật chất của kinh tế Nhà nưđc, Nhà nưđc có điều kiện để tác động Iỉhằin ổn định nền kinh tế, chống những đột biến xấu về cung cầu , giá cẫ, lạm phát, thất nghiệp giảm bđt bất công xã hội mà tri/đc hết là bất công trong lãnh vực kinh t ế

Trong nền kinh tế thị trường, sự bình đẳng giữa các thành phần kinh

tế là một yêu cầu có tính khách quan của cơ chế thị trường “ Nói các thành phần kinh tế đều bình đẳng nghiã là bình đẳng trước pháp luật, đều được Nhà nứổc khuyến khích phát triển theo pháp luật chứ không có nghiã

là các thành phần kinh tế đều có vai trò như nhau trong việc tạo lập hình thái kinh tế -xã hội m ớ i ” ( 12, trang 80 ) Pháp luật xác lập và củng cô' vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế quốc doanh, đồng thời, bảo đảm sự binh đẳng giữa các thành phần kinh tế, tạo lập môi trường pháp lý cho cơ chế thị trường vận hành có hiệu quả Cụ thể, xây dựng những định chế pháp lý kiểm soát các doanh nghiệp Nhà nước độc quyền, không để cho quyền lực độc quyền xâm hại cơ chế cạnh tranh , bảo vệ sức cạnh tranh của các thành phần kinh tế, của các doanh nghiệp Sự bình đẳng cững như các quyền tự

do sỏ hửu, tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh được pháp luật chế định và bảo vệ

Trang 37

1.4.2 Đặc điểm quan hệ phân phôỉ trong nền kinh tô' thị trường định hướng XHCN

Quan hệ phân phôi có liên quan mật thiết đến tình trạng công bằng

xẵ hội Bất công xã hội diển ngay từ khi phân phối các nguồn tài nguyên sản xuất trên thị trường các nguồn tài nguyên sản xuất, tiếp đến là bất công trong quá trình phân phối các kết quả sản xuất trên thị trường hàng hóa và dịch vụ đã hoàn thành

Việc công hừu hóa một scí nguồn tài nguyên sản xuất như đất đai, tài nguyên thiên nhiên có thể làm giảm đi sự bất công trong khâu phân phối các nguồn tài nguyên sản x u ấ t Nhưng độc tôn một hình thức sở hửu, một thành phần kinh tế sẽ dẩn đến hủy diệt cơ chế thị trường cạnh tranh Vì vậy, phạm vi các nguồn tài nguyên sản xuất được công hửu hóa có ý nghiã quyết định đối vđi mục tiêu kết hợp tăng trưởng kinh tế và công bằng xã

h ộ i

Việc phân phối kết quả sản xuất trên thị trường hàng hóa và dịch vụ

đã hoàn thành theo cơ chế thị trường được thực hiện dưđi hình thức phân phối theo hiệu quẳ sản xuất kinh doanh và theo giá trị của các nguồn tài nguyên sần xuất đóng góp vào kết quả sản xuất “ Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời dựa trên mức đóng góp của các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phức lợi xã hội “ ( 3, trang

9 2)

Trang 38

Bản thân cơ chế thị trường không có hình thức phân phối thông qua phúc lợi xã hội, nhưng vì mục tiêu công bằng xã hội, “ tăng trưởng kinh tế phải gắn liền vđi tiến bộ và công bằng xã hội, ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển công bằng xã hội phải thể hiện ở câ khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẩn khâu phân phối kết quầ sản xuất ; ở

việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình “ ( 3, trang 113)

Hình thức phân phối thông qua phúc lợi xã hội nhằm mục đích lấy bớt của người giàu bằng công cụ chủ yếu là thuế thu nhập và các sắc thuế khác,

để trợ giúp cho người nghèo bằng chi tiêu của chính phủ thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện các chính sách xã hội như xóa đói giảm nghèo, bảo hiểm xã hội và hoạt động nhân đạo, từ thiện, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân ( 3, trang 114 )

KẾT LUẬN§

Mặc dù kinh tế thị trường là một nền kinh tế năng động, phát triển có hiệu quả và cơ chế thị trường có tính tự điều chinh, nhưhg cơ chế thị trường cũng có nhữtig thất bại nhất định Bên cạnh đó, sự không ổn định trong quá trinh phát triển kinh tế cùng sự bất công trong cơ chế phân phối là những nguyên nhân trực tiếp đưa xẵ hội đến suy thoái, khủng hoảng và phân hóa, xung đột xã h ộ i Do vậy, để nền kinh tế thị trường hoạt động có hiệu quả, kinh tế tăng trưởng ổn định, gắn tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, cần có sự can thiệp điều tiết của Nhà nước

Trang 39

Nhà nước vđi các công cụ chủ yếu là pháp luật, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế cùng vđi các công cụ khác như tín dụng ngân hàng, thuế, chi tiêu chính phủ và với lực lượng vật chất là ngân sách quốc gia và tài sản công có khầ Iiărig thực tế để điều tiết nền kinh t ế , bảo đảin kinh tế tăng trưởng, kết hợp tăng trưởng và công bằng xã h ộ i.

Pháp luật vđi tính cách là “ khế ưđc xã hội “ , đồng thời là hệ thống các quy phạm do Nhà Iiưđc ban hành hoặc thừa nhận, được đảm bầo thực hiện bằng sức mạnh cưởng chế của Nhà nước, trở thành phương tiện quan trọng nhất điều tiết nền kinh tế, sừa chữa những thất bại của thị trường, bầo đảm cho nền kinh tế tăng trưởng năng động và ổn định, kết hợp được tăng trưởng kinh tế và công bằng xã h ộ i

Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hưđng XHCN, vai trò của pháp luật càng tăng thêm Một mặt, pháp luật bảo đầm tính định hưđng XHCN của các tiến trình kinh tế Mặt khác, pháp luật bảo đảm cho các tiến trình kinh tế diển ra phù hợp vđi các quy luật phát triển kinh t ế , không để cho quyền lực chính trị can thiệp duy ý chí vào các quá trình kinh

tế Nhờ đó, tạo lập môi trường pháp luật kinh tế, một môi trường đặc thù cho mọi quá trình kinh tế phát triển một cách ổn định, an toàn, thông suốt

và phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan ; gấn tăng trưởng kinh tế và công bằng xã h ộ i

Trang 40

Chương 2

VÀI NÉT VÊ THựC TRẠNG PHÁP LUẬT KINH TẾ

Pháp luật kinh tế ở nứơc ta trong thời gian được xây dựng nhằm phù hợp vđi nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quẳn lý của Nhà nưđc, theo định hưđng XHCN Vđi tính cách

là nhân tố điều chinh các quan hệ xã hội, pháp luật kinh tế ở nưđc ta còn nhằm tạo lập một mổi trường đặc thù cho các tiến trinh kinh tế - xã hội diển ra và vận hành một cách ổn định, có hiệu quả, có định hưđng

Trên cơ sở nội dung kinh tế ấy, có lẽ thành tựii quan trọng nhất của pháp luật thực định về kinh tế là đã xây đựng đựơc một hệ thống pháp luật thực định về kinh tế mà về cơ bẳn là phù hợp vđi cơ chế thị trường Điều này có nghiã là pháp luật thực định về kinh tế ờ nưđc ta phẳn ảnh và điều chỉnh được các quan hệ kinh tế chủ yếu phát sinh, tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường

Tính phân ảnh các quan hệ xã h ộ i, một thuộc tính có tính khách quan của pháp luật, ngày càng được nhận thức và tôn trọng trong công tác xây dựng pháp luật nói chung và pháp luật kinh tế nói riêng, đã giiíp cho pháp luật, vốn là hình thức, ngày càng phù hợp hơn vđi các quail hệ kinh tế là nội

Ngày đăng: 02/08/2020, 20:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w