- Phạm vi nghiên cứu tập trung chủ yếu vào khái niệm, mục đích hình phạt và nội dung của hệ thống hình phạt được thể hiện ở Phần chung của BLHS hiện hành của CHXHCN Việt Nam và của Cộng
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ Đ À O TẠO BỘ T ư PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI• • • •
PHAN THỊ LIÊN CHÂU
HÌNH PHẠT VÀ HỆ THỐNG HÌNH PHẠT - s o SÁNH GIỮA LUẬT HÌNH Sự CỦA CỘNG HÒA PHÁP VÀ LUẬT HÌNH s ự
CỦA CHXHCN VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH : LUẬT HÌNH s ự
LUẬN VĂN THẠC SỶ LUẬT HỌC• • • •
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYÊN NGỌC HÒA
TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN, TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI!
PHÒNG DỌC c \ K V Ị
HÀ NỘI NĂM 2001
Trang 3J £ Ờ 3 & Ấ J ll Ơ Q l
'J Jác ọ iả lu â n n ă n OCỈ/H ủà/y tỏ lòn,ọ /ũ ê t ổn bâu lắc
đ ến rP/in ọr.áũ bu' - l^iên ỉũ jV fỷm ịễn JViỵ.oc M ùa, ỉỹ /ió /liê u
Arửỉỉ/Ợ ^ u ử ỉn ỹ QỀai /to e Q tiiđ l 2tdà jV ồ i đ ã tâm CmÁ /u ù ỉn a
d ã n tá c ự-iả /lũà/n tỉù m Ji lu ă n n ă n này.\
' Jác y iả cŨMỹ cùn ch â n títcm  cảm (ỉn t ă ĩ r ả rác
*ĩỉưì/ip cể ê đ ã -ùuừiýmt tỉu i n /iữ n y /đến, th ứ c (Jịi(/ỷ ếá u Amuỵ {ỊỊUÚ hì/ytA /to e tăfr ử lồỷt, C (ỏan hoe íu ã í 'Piêt - ỉỹỉiớ/ỷi, Á/lóa
đ ( j9 9 8 -2 0 0 ỵj) M ìn c ả m (ĩn ỹí,a {fì/n /t,, các đ ề n y n ợ /iiê ịi
nà /tan ểè đ ã yiúý), đữ -im lao đ iề u ỉd ê n t/u cđ n Itìl cho tá c
ự iẵ //io n y a iiá ÙùnẢ ià/yn ũ ư in năn,.
Trang 49
9911
15
1518
25
2526
263238
40
40424750
6 167
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 TÍNH CẤP TH IẾT CỦA ĐỂ TÀI
Trong cuộc đấu tranh phòng chống các vi phạm pháp luật nói chung và tội phạm nói riêng, hình phạt có một vai trò rất quan trọng Hình phạt là một bộ phận cấu thành không thể thiếu được trons hệ thống các biện pháp tác động của Nhà nước và xã hội đến tội phạm Vì vậy, hệ thống hình phạt phải luôn luôn được nghiên cứu để có nhũng thay đổi phù họp với tình hình, góp phần cung cấp nhũng luận cứ khoa học cho việc tiếp tục hoàn thiện chế định hình phạt
Trong luật hình sự, chế định hình phạt là một trong những nội dung quan trọng nhất, hình phạt được quan niệm là phương tiện đấu tranh phòns chống tội phạm, bảo đảm và phát hay dân chủ Nhung vai trò của hình phạt được phát huy đến mức nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, kể cả yếu tố khách quan cũng như yếu tố chủ quan, trong đó việc nhận thức về bản chất, mục đích và khả năng áp dụng của hình phạt có một ý nghĩa quan trọng Do vậy, việc nắm vững và áp dụng nhuần nhuyễn chế định hình phạt
là một trong nhũng yêu cầu cơ bản của hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm Vai trò xã hội và hiệu quả của luật hình sự, xét cho cùng, phụ thuộc rất nhiều vào hình phạt, vì vậy, nghiên cứu về hình phạt và hệ thống hình phạt là một trong nhũng hướng nghiên cứu có tính cấp thiết trong khoa học luật hình sự hiện nay
Mặt khác, khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hình phạt, cần tìm hiểu và chọn lọc nhữns kinh nghiệm phong phú của các nước trong việc qui định và thực tiễn áp dụng các loại hình phạt để trên cơ sở đó theo phưoìig pháp nghiên cứu so sánh luật mà hoàn thiện chế định hình phạt tronơ BLHS Việt Nam, nâns cao hiệu quả của hình phạt trong côns tác đấu tranh chống
và phòng ntĩừa tội phạm
Hơn nữa, ngày nay, khi mà chúníi ta “thực hiện chính sách hoà bình
hữu nghị, mớ rộng giao lưu và hợp tác với tất cà cúc nước trên th ế giới.
Trang 6không phân biệt chê độ chính trị và x ã hội khác nhau, trên cơ sở độc lập chú quyên vù toàn vẹn lãnh thố của nhau, không can thiệp vào côni> việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi” (9, tr 17) thì việc tìm
hiểu các quan niệm khác nhau về luật pháp của các nước trên thế giới trở thành một vấn đề cấp thiết
Những gì đang diễn ra trong quá trình ổn định xã hội và phát triển đất nước, hoà nhập vào cộng đồng quốc tế đang đật ra cho khoa học pháp lý nước ta một đòi hỏi cấp bách về sư cần thiết phải tăng cườnỉỉ nshiên cứu và phát triển luật so sánh
Trong lĩnh vực luật hình sự nói chung và lĩnh vực hình phạt nói riêng,
sự so sánh vói pháp luật nước ngoài sẽ giúp chúng ta mở mang được kiến
thức, cho phép chúng ta biết được nhũng mặt mạnh, mặt yếu trong hệ thống hình phạt của Nhà nước ta, giúp chúng ta vừa hoàn thiện được nó theo trình
độ quốc tế, vừa giữ được những nét độc đáo của Việt Nam
T ừ đòi hỏi khoa học và thực tiễn trên đây và để góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống hình phạt trong BLHS hiện hành của Việt Nam, chúng tôi
lựa chọn đề tài: “H ìn h p h ạ t và hệ thống h ìn h p h ạ t - so sánh giữa luật
h ìn h s ự của Cộng hoà P háp và luật h ỉn h sự của C H X H C N V iệt N a m ” và
hy vọng sẽ đạt được kết quả nhất định, đáp ứng yêu cầu cấp thiết nêu trên
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM v ụ CỦA ĐỂ t à i
Đề tài được nghiên cứu nhầm so sánh luật hình sự Việt Nam với luật hình sự Pháp trong việc quy định những vấn đề liên quan đến hình phạt để qua đó có thể đề xuất những kiến nghị cho việc hoàn thiện chế định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam Để đạt được mục đích này luận văn cần giai quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Phàn tích khái niệm hình phạt, mục đích hình phạt cũng như nội dung của hệ thống hình phạt theo luật hình sự Việt Nam
- Phàn tích khái niệm hình phạt, mục đích hình phạt cũns như nội duns của hệ thống hình phạt theo luật hình sự Pháp Trẽn cơ sớ đó, so sánh đối
Trang 7chiếu với luật hình sự Việt Nam để thấy những ưu điểm và những hạn chế của hệ thốns hình phạt Việt Nam.
- Từ đó, đề xuất kiến nghị để hoàn thiện hệ thống hình phạt của nước ta trên cơ sở các nguyên tắc của luật hình sự và chính sách hình sự của Nhà nước nhàm đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm cũng như nhằm làm cho hệ thống hình phạt Việt Nam có nhữns tương đồng với
xu hướng phát triển chung của thế giới
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI N GH IÊN c ứ u
- Luận văn nghiên cứu về hình phạt và hệ thống hình phạt theo luật hình
sự Pháp và luật hình sự Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu tập trung chủ yếu vào khái niệm, mục đích hình phạt và nội dung của hệ thống hình phạt được thể hiện ở Phần chung của BLHS hiện hành của CHXHCN Việt Nam và của Cộng hoà Pháp nhung không đề cập đến hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
4 C ơ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG P H Á P N G H IÊN c ứ u
- Để tài được nghiên cún dựa trên CO' sở phương pháp luận khoa học c ủ a
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác-Lênin, cũng như dựa trên cơ sở Hiến pháp, nhũng nguyên tắc cơ bản của luật hình sự, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về các mặt, nhất là về chính sách hình sự Nội dung của luận văn được trình bày trên cơ sở nghiên cún cá nhân, có tham khảo chọn lọc các tài liệu pháp
lý của các tác giả trong nước và nước ngoài
- Phu'0'ng pháp mà tác giả luận văn sử dụns đê nghiên cứu đề tài này
bao gồm các phương pháp: hệ thống, phân tích, tổng hợp, thống kê và đặc biệt là phương pháp so sánh luật
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ T H ự C T IE N c ủ a đ ể t à i n g h i ê n
CỨU
Thông qua việc nghiên cứu, phân tích, so sánh siữa luật hình sự của Pháp và của Việt Nam về một số vàn đề liên quan đến chế định hình phạt và
Trang 8hệ [hòng hình phạt, luận văn góp phán làm súns tỏ về lí luân khái niệm mục đích hình phạt cũng như nội dung hệ thống hình phạt của mỗi nước;
- Luận văn góp phán tạo ra khả năng ứng dụng nhữns kết quả nghiên cứu so sánh trong việc tham khảo học tập kinh nghiệm của Pháp nhàm hoàn
thiện và phát triển hệ thống hình phạt của nước ta theo xu hướng chuns của
thế giới đổng thời vãn giữ được nhữns nét độc đáo của Việt Nam
- Luận văn ở một mức độ nhất định là tài liệu tham khao cho cán bộ nghiên cún và giảng dạy cũng như sinh viên trong lĩnh vực luật
6 C ơ CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn bao gồm 2 chương cùng Lời nói đầu, Kết luận và danh mục các tài liệu tham khao
- C hưong 1: Khái niệm hình phạt và mục đích hình phạt Chươns này gồm 2 mục:
1 1 Khái niệm hình phạt và mục đích hình phạt theo luật hình sự của
2 2 Hệ thống hình phạt theo luật hình sự của CH Pháp
2.3 Hệ thống hình phạt theo luật hình sự của CHXHCN Việt Nam trong sự so sánh với luật hình sự của CH Pháp
Trang 9CHƯƠNG 1
K H Á I N I Ệ M H Ì N H P H Ạ T V À M Ụ C Đ Í C H H Ì N H P H Ạ T
1.1 KHÁI NIỆM HÌNH PHẠT VÀ MỤC ĐÍCH HÌNH PHẠT THEO
LUẬT HÌNH S ự CỦA CỘNG HÒA PH ÁP
1.1.1 Khái n iệm hình phạt
Bộ luật hình sự cũ năm 1810 và Bộ luật hình sự mới năm 1992 của Pháp không qui định cụ thể khái niệm hình phạt mà chỉ nêu ra các loại hình phạt.Tuy nhiên, trong khoa học luật hình sự của Pháp từ trước đến nay có nhiều quan điểm khác nhau xung quanh khái niệm hình phạt Một số người
coi hình phạt ‘7à sự phản ứng của x ã hội có tính chất trấn áp chống lại kẻ
phạm tội nhằm bảo vệ sự an toàn và trật tự x ã h ộ i \ 40, tr 390-1) Số khác
lại cho rằng hình phạt ‘7ổ sự trừng phạt của N hà nước được qui định trong
luật hình sự, do Toà án áp dụng đối với người phạm tội vì đ ã vi phạm luật hình s ứ \ 48, tr 807) Hoặc có quan điểm chỉ đơn giản cho rằng “Hình phạt
là sự trừng phạt có tính chất khổ nhục và bêu riếu nhằm giáng vào kẻ phạm
tộ i”(36, tr 331) Còn theo Từ điển thuật ngũ' luật học (49, tr 392) thì hình
phạt được định nghĩa là “sự trừng phạt theo qui định của luật hình sự giáng
vào kẻ pliạm tội buộc họ phải đền tội mà họ đ ã phạm p h á i”.
Từ những quan điểm trên đây, theo chúng tôi có thể rút ra định nghĩa
hình phạt theo luật hình sự của Pháp: “H ình phạt là m ột sự trừng phạt có
tính chất trấn, áp của Nhả nước, được qui định trung luật hình sự, do (oà ÚIỈ
áp clụiiiỊ đối với I1ỊỊƯỞÌ p h ạ m tội vì vi ph ạ m luật hình sự, nham báu vệ sự UI1 toan vả trật tự x ã hội”.
Từ các định nghĩa trên đây về hình phạt, có thể rút ra kết luận, hình phạt theo luật hình sự của Pháp có nhữnti đặc điểm sau đây:
Trang 10Hình phạt tiuoc tiên phui do luât đinh (phủi đươc CỊUÌ đinh tronơ luât hình sự), chí có luật hình sự mới được qui định các hình phạt Đây cũng chính là nguyên tắc nổi tiếng, là “nguyên tắc luật định” được qui định tại
Đicu 111 - J cuéi Bọ luật hình sự Pháp năm 1992; 1 Không có tôi pìicav vù
hình p h ạ t mà không có văn bủn pháp luật qui định” Nguyên tắc luật định
là nguyên tắc cơ bản, bao trùm và chi phôi toàn bộ luật hình sự của Pháp
N guyên tấc này có nghĩa là tất cả mọi tội phạm đều phải đuực qui định bởi luật hình sự và ứng với mỗi tội phạm đó, luật hình sự cũng qui định một hình phạt cụ thể Nguyên tắc luật định cũng được đề cập đến ở Điều 34 của Hiến pháp năm 1958 của Pháp và nó được duy trì kể từ Bộ luật hình sự đầu tiên của Pháp vào năm 1810 cho đên Bộ luật hình sự mới vào năm 1992
- Hình phạt phải đảm bảo tính công bằng, có nghĩa là phải đảm bảo mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật Nói một cách khác, khi toà
án tuyên hình phạt, không được có sự phân biệt nào về quốc tịch, giới tính giống nòi hoặc địa vị xã hội của người phạm tội, nhằm chống những biểu hiện phân biệt đối xử với những người phạm tội
Tuy nhiên, cần phải hiểu đặc điểm công bằng, bình đẳng không đổng
nhất với “bình quân, cào b ằ n g Hình phạt đối với cùng một loại tội có thể
thay đổi với từng trường họp riêng biệt dựa trên nguyên tắc cá thể hoá hình phạt, tức là, việc quyết định hình phạt không nhữns phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà còn phải phù hợp với những đặc điểm cụ thể về nhân thân của người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự Chẳng hạn, với
cùng một hình phạt tiền bằng nhau nhưng khônơ thể áp dụns như nhau đối
với người nghèo và người giàu, hoặc trons cùng một vụ việc giống nhau thì tội phạm được thực hiện bơi người có chức vụ quyền hạn phai chịu hình phạt nặng hơn là người chưa thành niên
- Hình phạt chi mang tính chất cá nhân, tức là chỉ áp dụnơ đối với riêng
b a n th â n người p h ạ m tội c h ứ k h ô n g phủi á p d u n g Scing củ n h ừ n ° r n ưười vô
tội trong gia đinh của họ Tuy nhiên, trên thực tê thì gia đình của người bi
Trang 11kết án luôn luôn phái chịu một cách gián tiếp hậu quả của hình phạt, trước hết là vé mặt tinh thần, chẳng hạn như sự xấu hố là trong sia đình có người
bị kết án phải chịu hình phạt, sau đó là những ảnh hưởng về mặt vật chất, như là những hậu quả về tài chính do bị phạt tiền hoặc mất một nauổn thu nhập từ phía ngươi bị kết án
1.1.2 Mục đích của h ình phạt
Là vấn đề quan trọng trong luật hình sự Pháp, mục đích của hình phạt là
cơ sở để nhà làm luật qui định về tùng loại hình phạt, hệ thống hình phạt cũng như là căn cứ để quyết định hình phạt Mặt khác nó cũng là cơ sở để
áp dụng hình phạt trên thực tế Tuy nhiên, cho đến nay, mục đích của hình phạt vẫn là vấn đề gây nhiều tranh luận trong giới hình sự học trên thế giới cũng như ở Pháp
Về cơ bản, khi nghiên cứu vấn đề này có 3 quan điểm chính như sau:
- Quan điểm nghiêng về trấn áp hình sự coi mục đích của hình phạt
trước hết và chủ yếu là sự đền tội (trừng trị), là sự trả thù được Nhà nước thừa nhận đối với người phạm tội vì điều ác mà người đó đã gây ra cho xã hội Đây là quan niệm về mục đích hình phạt có tính chất lâu đời nhất Một
số người cho rằng mục đích này phản ánh một xu hướng phản ứng mang tính tất yếu và bản năng của loài người là báo thù Kẻ phạm tội phải đền tội, bởi lẽ họ đã gây ra một sự rối loạn làm mất cân bằng và trật tự xã hội nên
họ phải bồi thường, phải trả món nợ cho xã hội và phải chịu sự trả thù của
xã hội, đó là sự trùng phạt bằng những hình phạt để làm dịu đi mối hận thù
của nạn nhân và của dư luận xã hội Mục đích của sự trả thù ở đây là nhằm trả đũa lại hành vi tội phạm theo nguyên tắc “talion” (hình phạt níỉans
bằng), có nghĩa là: “làm mất một con mắt phải đền một con mắt, lùm mất
m ột cliiếc răng phủi đền một cliiếc rủng”, khiến cho hình phạt có thể tác
động trực tiếp đến nsười phạm tội và đó là cách tốt nhất đế có được trật tự
xã hội và trừng phạt những kẻ phạm tội nhàm canh báo bọn còn đổ khác và thức tinh nhữníĩ người có thái độ bất phục tùng khác
Trang 12- Quan điếm truyền thống coi mục đích quan trọng hơn cả của hình phạt là răn đe nhằm phòng ngừa riêng (phònơ ngừa cá nhân) và phòng nsừa chung (phònơ ngừa tập thể) để hạn chế và loại trừ điều kiện phạm tội.
Mục đích phòng ngừa hành vi tội phạm có hai ý nghĩa: khi một người phạm tội phải chịu hình phạt thì trước hết là nhằm ngăn chặn không cho họ tái phạm trong tương lai và như vậy có ý nshĩa phòng ngừa riêng Bên cạnh
đó, việc kẻ phạm tội bị trừng trị sẽ làm gương cho nhữns người khác phài suy nghĩ và có thể khônơ dám phạm phải các hành vi tội phạm và như vậy, hình phạt mang ý nghĩa phòng ngừa chung Tuy nhiên, mục đích phòns ngừa chung chỉ có thể đạt được trong một xã hội mở mà ở đó công chúng được thông tin đầy đủ về việc áp dụng hình phạt
Trước đây, mục đích răn đe đóng vai trò chủ yếu và có ý nghĩa quan trọng Một số nhà tội phạm học cho rằng chỉ riêng việc đưa một kẻ phạm tội ra trước toà đã đủ có tác dụng răn đe có tính chất tập thể, tức là phòng ngừa chung Sở dĩ các nhà làm luật qui định hình phạt nặng đối với những tội phạm nghiêm trọng là nhằm làm cho các cá nhân khác từ bỏ ý định phạm tội Tuy nhiên, ngày nay tầm quan trọng của mục đích này đã bị giảm
đi nhiều và càng ngày người ta càng nghi ngờ hiệu quả của nó Chẳng hạn, hình phạt tử hình khôns ngãn chặn được bọn giết người và số những kẻ phạm tội có tính tái phạm không hề giảm sút mà còn có chiều hướng gia tăng Tình hình thực tế đó buộc các nhà làm luật phải xem xét lại quan điểm về mục đích của hình phạt sao cho hình phạt vừa đảm bảo tính nơhiêm khắc, vừa mang tính nhân đạo nhưng vãn đạt được hiệu quả là bảo đảm cho
xã hội được trật tự, an toàn
- Từ đổ, xuất hiện quan điểm nghiêng về đạo đức, coi mục đích của hình phạt là giáo dục, cải tạo người phạm tội để họ tái hoà nhập với xã hội.Việc tái hoà nhập phạm nhân về với xã hội là mục đích cơ bản và chủ yếu của hệ thống hình phạt của Pháp hiện nay Phươna sách cơ bán để đạt được mạc đích này là thông qua các hoạt độns lièn quan đến cải tạo lao
Trang 13động, giáo dục, văn hoá Địa bàn nơi diễn ra nhữns hoạt độnsz này chủ yếu
là tại nhà tù chứ chưa phái là tại cộng đổng dân cư, bởi lẽ, việc sử dụng các phương tiện và áp dụng các hoạt động thích họp cho tù nhân gắn chặt với quá trình phân loại được tiến hành theo mức độ nghiêm trọns của hình phạt
mà tù nhân phái chịu
Tái hoà nhập cộng đồng bắt đẩu được nhìn nhận là một mục đích mans tính ưu việt của pháp luật từ đầu thế kỉ 19 Người ta chú trọng khuyến khích, giúp đỡ nhũng người phạm tội, cải tạo họ trở thành những thành viên tốt, mang lại lợi ích cho cộng đổng xã hội Việc tái hoà nhập cộns đổng của người phạm tội được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng khác nhau Một trong số đó là hình thức tái hoà nhập theo kiểu V tế, theo đó, người phạm tội (“bệnh nhân”) được phân loại (“khám bệnh” ) theo mức độ tội lỗi (“ bệnh tật”) của mình Hội đồng phân loại ở đây bao gồm các nhà tâm lý, nhũng người làm công tác xã hội, nhữnẹ người làm côns tác chăm sóc sức khoẻ, những nhà giáo dục và một số người khác làm nhũng công việc tương
tự như vậy Họ thảo luận với nhau về những vấn đề và nhu cầu của người phạm tội và lập k ế hoạch điều trị Kế hoạch điều trị này, một khi được thực
hiện thành công sẽ làm cho người phạm tội ‘Vỡí hơn” và trở thành một
thành viên có ý thức tuân thủ luật pháp trong xã hội Chính vì vậy mà ngày nay, mục đích giáo dục, cải tạo nhàm tái hoà nhập nsười phạm tội về với xã hội được chú trọng hàng đầu vì người ta cho ràng việc đưa nsười phạm tội hoà nhập lại vào xã hội vừa là nghĩa vụ, vừa là quyền lợi của xã hội, làm cho họ trở thành một công dân có ích còn hơn là để cho họ ngoài vòng pháp luật thì sớm hav muộn họ cũng sẽ trớ thành ơánh năns cho xã hôi
Tuy nhiên khôns khỏi có những ý kiến băn khoăn như làm sao lại có thể không tính đến dư luận xã hội phẫn nộ trước một số tội phạm? Làm sao
có thể để cho những kẻ phạm tội được đối xử và chăm sóc như những bệnh nhân hơn là đối với một kẻ bất lươna;? Và cuối cùng là, liêu nsười ta có thểữ w ' »_đám báo đạt được mục đích hàns đáu là tái hoà nhập mà khônsí tính đến các
Trang 14mục đích khác như trừng trị và răn đe? Hiện nay, với sự gia tăng cua các tội phạm đã cho phép người ta nghi ngờ điều đó Do vậy, tronc hệ thống hình phạt của Pháp có rất nhiều loại hình phạt khác nhau, đa dạng và phong phú nhằm đạt được tất cả các mục đích trên và tuỳ từng trường họp cụ thể mà nhấn mạnh một hoặc hai mục đích khác nhau.
Tuy các mục đích trừng trị, răn đe và tái hoà nhập có mối quan hệ tương hỗ với nhau, song trên thực tế rất khó có thể kết họp các mục đích trẽn với nhau Mặc dù một hệ thống hình phạt về cơ bản có thể dựa trên sự kết họp hai mục đích trừng phạt và phòng ngừa, song, thật khó có thể kết
họp với một mục đích khác, ví dụ như kết hợp giữa tái hoà nhập và trừng
phạt Cũng tương tự như vậy, địa điểm tiến hành hình phạt cũn£ có thể ảnh hưởng tới hiệu quả thực hiện của từng mục đích Như đã nói ở trên, mục đích phòng ngừa chuns chỉ có thể đạt được trong một xã hội mở mà ở đó công chúng được thông tin về việc áp dụng hình phạt Mục đích trừng trị kẻ phạm tội có thể được thực hiện trong nhà tù dễ dàng hơn là được thực hiện trong một xã hội mở Việc tái hoà nhập cộng đồng sẽ đạt được hiệu quả hơn trong bối cảnh cộng đổng dân cư với những biện pháp mềm mỏng và nhân đạo, hơn là thực hiện trong môi trường nhà tù khép kín, nhưng như vậy sẽ không có tính răn đe
Tóm lại, dù là hiệu quả thế nào đi nữa thì rõ ràng rằng hệ thống hình phạt hiện nav của Pháp, với sự cá thể hoá hình phạt, vẫn có sự dung hoà giữa nhũng mục đích khác nhau của hình phạt, thể hiện sự lên án của Nhà nước và xã hội đối với người phạm tội bảo vệ xã hội, lập lại côns bàn2 xã hội, bồi thường thiệt hại cho xã hội và cho nạn nhân, cải tạo người phạm tội, hạn chế và loại trừ điều kiện phạm tội của người phạm tội, cải tạo và
g iá o d ụ c h ọ , n h ằ m đ ạ t tới m u c đ íc h chủ yếu và c u ố i c ù n s là đ ư a n s ư ờ i
phạm tội tái hoà nhập vào cộng đồng xã hội và trở thành người hữu ích cho
xã hội
Trang 151.2 KHÁI NIỆM HÌNH PHẠT VÀ MỤC ĐÍCH HÌNH PHẠT THEO LUẬT HÌNH SỤ CỦA CHXHCN VIỆT NAM TRONG s ự s o SÁNH VỚI LUẬT HÌNH S ự CỦA CH PHÁ P
1.2.1 Khái n iệ m h ìn h phạt
Luật hình sự CHXHCN Việt Nam tiếp thu những giá trị vãn minh của luật hình sự các nước, thấm nhuần sâu sắc tinh thần dân chú và nhân đạo, coi hình phạt là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Toà án áp dụng đối với người thực hiện tội phạm, nhằm mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm
Định nghĩa pháp lý của khái niệm hình phạt lần đầu tiên đã được ghi
nhận trong BLHS năm 1999 Theo đó hình phạt: ‘7à biện pháp cưỡng c h ế
nghiêm khắc nhất của N hà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn c h ế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt được quy định trong BLHS và do toà án
q u yết đ ịn h ” (Điều 26 BLHS năm 1999) Trước khi được qui định chính
thức trong BLHS, hình phạt đã được nghiên cún như là một khái niệm cơ bản của luật hình sự Kết quả nghiên cún đã được côns bố trên các tạp chí khoa học hoặc trong các giáo trình của các trường đại học Theo đó, có các quan điểm khác nhau xung quanh khái niệm hình phạt: hình phạt được hiểu
là biện pháp cưỡng c h ế rất nghiêm khắc của N hà nước được qui định trong luật hình sự do toà án ấp dụng đối với người phạm tội nhằm tước bó hoặc hạn c h ế những quyền và lợi ích với mục đích cải tạo, giáo dục người
p hạm tội và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích liựp pháp của công dân” (PGS TS Đỗ Ngọc Quang, 2,tr
47 ); ‘7ó hiện pháp cưỡng c h ế do toà án quyết định trong bân án đối với
người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và được th ể hiện ở việc tước đoạt lioặc hạn chê cúc quyền vù lợi ích hợp pháp do pháp luật qui địnli đối với người bị kết án." (TS Võ Khánh Vinh, 34, tr 194 ); ‘7ù biện pháp cưỡnq
Trang 16ciung tước bỏ hoặc hạn ch ế quyền, lợi ích của người phạm tội, nhầm trừng trị, giáo dục họ, cũng như nhằm giáo clục người khác tôn trọng plicíp luật, đấu tranh chông và phòng ngừa tội phạm ” (PGS TS Nguyễn Ngọc Hoà và
TS Lê thị Sơn, 12 ,tr 64 )
Như vậy, so với luật hình sự của CH Pháp, thì việc BLHS năm 1999 của Việt N am lần đầu tiên dành một điều qui định khái niệm hình phạt là một bước tiến trong công tác lập pháp
Theo luật hình sự Việt Nam thì hình phạt có những đặc điểm cơ bảnsau:
- Hình phạt là một biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất Tính
níihiêm khắc của hình phạt được thể hiện ở chỗ người bị kết án bị tước đi quyền tự do, quvền về tài sản, quyền chính trị, thậm chí cả quyền sống (trong trườns họp bị kết án tử hình) Hơn thế nữa, dù chỉ là hình phạt cảnh cáo hay phạt tiền thì hình phạt vẫn được coi là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc hơn các chế tài khác như chế tài hành chính, dân sự, kinh tế có mức phạt cao hơn, bởi khi bị áp dụng các chế tài khác thì người bị áp dụng không bị coi là có án tích, còn hình phạt bao giò' cũng để lại hậu quả pháp
lv là án tích cho người bị kết án
- Hình phạt phải đ ư ợ c qui định trong BLHS Hình phạt là của Nhà nước,
do đó Nhà nước mà cơ quan thay mặt Nhà nước là Quốc hội mới được đặt
ra hình phạt thông qua hình thức qui định trong BLHS Luật hình sự Việt
N am không chí không cho phép áp dụns hình phạt đối với những hành vi không được qui định trong BLHS là tội phạm mà còn không cho phép áp dụng một hình phạt nếu hình phạt ấy không được qui định trong hệ thống hình phạt hiện hành hoặc trong chế tài của điều luật cụ thể Đây là một yêu cầu nghịêm khắc của nơuyên tắc pháp chế Các dấu hiệu tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, tính trái luật hình sự gắn liền với tính chịu hình phạt của tội phạm Như vậv, khi qui định một hành vi nguy hiếm cho xã hội là tội phạm cũng đòi hỏi phai qui định nhữns loại hình phạt và mức hình phạt
Trang 17tương xứng cho hành vi đó Và như vậy hình phạt cũng là một dấu hiệu đế phân biệt hành vi phạm tội với những hành vi k h ô n s phái là tội phạm.
- Hình phạt là biện pháp cưỡng chế được áp dụng theo một trình tự riêng biệt nhất định và do toà án quyết định, v ề mặt Nhà nước, cơ quan có thẩm quyền duy nhất được áp dụng hình phạt cho người phạm tội là Toà án Điều 26 BLHS qui định: Hình phạt do Toà án quyết định Hình phạt do toà
án quyết định phủi được tuyên một cách công khai bằng một bán án và phải
là kết quả của một phiên toà hình sự theo thủ tục chặt chẽ do Bô luât tố tuncr
hình sự qui định
- Cũng như tội phạm, hình phạt mang tính chất xã hội Việc qui định
nội dung hình phạt phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội của đất
nước ở mỗi giai đoạn Việc qui định một hình phạt mới hay bỏ bớt một loại hình phạt nào đó việc tăng nặng hay giảm nhẹ hình phạt tron2 chế tài của
một điều luật cụ thể đối với một loại tôị phạm cụ thể, cũng như việc quyết định hình phạt hay đánh giá hiệu quả của hình phạt đều phải đặt tron2 điểu
kiện của từng giai đoạn lịch sử cụ thể, gắn liền với tính chất và đặc điểm
của các quan hệ xă hội ở tùng giai đoạn đó.
- Hình phạt chỉ mang tính cá nhân, vì theo luật hình sự Việt Nam, nó chỉ được áp dụng đối với riêng bản thân người bị kết án Bởi lẽ, hình phạt với ý nghĩa là biện pháp cưỡng ch ế của N hà nước, nhằm thực hiện quan hệ pháp luật hình sự phát sinh giữa N hà nước và người phạm tội, do đó chỉ áp dụng cho chính cá nhân người phạm tội Tuy nhiên, mức độ áp đ ụ n s hình phạt cho cá nhân người phạm tội cũng không được tuỳ tiện m à phải căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của người phạm tội
Tóm lại, hình phạt theo luật hình sự Việt Nam có những; đặc điểm nổi bạt: tính cưỡng chế nghiêm khắc; tính pháp chế (hav tính luật định); do toà
án quyết định; tính xả hội và tính cá nhân
TRUNG TÂM THÕNG TIN THƯ v ệ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘ
PHÒNG ĐỌC L iỉÚ L
Trang 18So sánh với luật hình sự CH Pháp, chúng tôi thấy rằng luật hình sự của
CH Pháp và Việt Nam về cơ bản là thống nhất trong quan niệm về khái niệm và đặc điểm của hình phạt Luật hình sự của cả hai nước đều khẳng định hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất, được quy định trong luật hình sự và do toà án quyết định Tuy nhiên, do quan
n iệm khác nhau về chủ thể của tội phạm cho nên luật hai nước cũng có sự khác nhau trong việc xác định đối tượng bị áp dụng hình phạt Luật hình sự Việt N am xác định đối tượng bị áp dụng hình phạt chỉ có thể là chính người
đã thực hiện hành vi phạm tội; còn luật hình sự của Pháp xác định đối tượng
bị áp dụng hình phạt có thể là người phạm tội (thể nhân) hoặc pháp nhân phạm tội Mặc dù có điểm khác nhau như vậy nhưng luật hình sự của cả hai nước vẫn khẳng định tính cá nhân của hình phạt (chỉ được áp dụng cho chính người phạm tội hoặc pháp nhân phạm tội)
Khái niệm hình phạt được khoa học luật hình sự của cả hai nước quan tâm nshiên cún và được coi là khái niệm cơ bản của luật hình sự bên cạnh khái niệm tội pham Tuy nhiên, khái niệm này mơi chi được luạt hình sự
V iệt N am luật hoá trong BLHS
Trang 19đạt được mục đích khi xây dựng và áp dụng hình phạt trong thực tiễn Ngoài ra, mục đích hình phạt còn đóng vai trò là giới hạn của hình phạt, là
cơ sớ, căn cứ xác định nội dung hình phạt Mục đích đặt ra sẽ chi phối quá trình xây dựng và áp dụns các biện pháp nhằm đạt mục đích đó Vì vậy,
m ụ c đ íc h c ủ a h ìn h p h ạ t là v ấn đề c ó ý n g h ĩa k h ô n s c h ỉ về lí lu ậ n m à đ ặ c
biệt còn cả về thực tiễn
Trong luật hình sự của Việt Nam, mục đích của hình phạt đã được qui
định cụ thể trong Điều 27 BLHS năm 1999 như sau: “Hỉnh phạt không ch ỉ
nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo clục họ trở thảnh người có ích cho x ã hội, có ỷ thức tuân theo pháp luật và các nguyên tắc của cuộc sống XHCN, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng chống tội p h ạ m ” Như vậy, theo
BLHS nước ta thì hình phạt có mục đích trừng trị, cải tạo, giáo dục nơ ười phạm tội và phòng nsừa tội phạm
Mậc dù mục đích của hình phạt đã được khẳng định trong BLHS nhưnơ trong nghiên cứu lí luận cũng như trong thực tiễn áp dụn£, nhận thức về mục đích của hình phạt vẫn không thống nhất, còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau, gây ra nhiều tranh luận, nhất là xung quanh vấn đề: trừng trị có
phủi là mục đích của hình phạt hay không, hay chỉ là nội dung, thuộc tính
của hình phạt
Phần lớn các nhà luật học quan niệm mục đích của hình phạt là cải tạo, giáo dục người phạm tội để họ trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, nsăn ngừa họ phạm tội mới cũng như là
việc giáo dục phòng nsừa chung Còn “trừng trị lả nội dung, lả thuộc tính,
lủ phươnỊịthức đế tliực hiện hình ph ạ t ”{28, tr 25) Hoặc có quan niệm
tương tự cho rằng: “ trừng trị không phải là mục đích của hình phạt Trừng
trị là bản chất, là thuộc tính tất yếu của hình ph ạ t.”(33, tr 108)
Trong nhiều siáo trình đại học của các cơ sở đào tao khác nhau và trong
“ Bình luận khoa học BLHS năm I999”(2 l, tr 172), các tác giá đều thống nhất coi trừnc trị là mục đích của hình phạt, bởi vì, đế bảo vệ các lợi ích của
Trang 20xã hội và Nhà nước, báo vệ sự công bằng xã hội thì khônơ có lí gì nmròì có lỗi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm lại không bị trừng
Có tác giá lại cho rằng, “từ góc độ hình sự và tội phạm học, có th ể phàn
m ục đích hình phụt thành các loại mục đích:
- Củi tạo, giáo dục phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung (mục đích
trực tiếp);
- Loại trừ nguyên nhân và điều kiện phạm tội (mục đích trunq gian);
- Loại trừ tội phạm (mục đích cuối cùng).”(28, tr 28)
Còn theo tác giả Nguyễn Mạnh Kháng: “CẢ trừng trị vù cải tạo, giáo
dục người phạm tội đêu không th ể là mục đích cuối cùng của hình p h ạ t và
“M ục đích cuối cùng của hình phạt là bảo đảm công bằng x ã hội và phòng ngừa tội phạm , còn trừng trị và cải tạo, giáo dục là thuộc tính, là phương thức thực hiện hình phạt, là phương thức đ ể hình p h ạ t đạt được mục đích của m ìn h ”.{14, tr 23-24)
Chúng tôi đồng tinh với quan điểm cho rằng: ‘7rừng trị là mục đích
nhưng đồng thời cũng là phương tiện đ ể đạt được mục đích cuối củng và chủ yếu của hình phạt đối với người phạm tội là giáo dục, cải tạo họ.”(l 1,
tr 10) Bới lẽ, công lí đòi hỏi người nào gây ra tội phạm phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình Hình phạt là phương tiện thích đáng để trừng trị tội lỗi của người phạm tội
Xét về nội dung thì bất cứ hình phạt nào cũng chứa đựnơ trong nó những tước bỏ và hạn chế nhất định (về thể chất, về [inh thần, tài sản) Chảng hạn: hình phạt tù tước đoạt tự do của người bị kết án; hình phạt cấm đám nhiệm những chức vụ, làm nhữns nghề hoặc công việc nhất định tước
đoạt ở người bị kết án khả năng có những quvền đó; hình phạt cấm cư trú,
quản chế tước quyền tự do lựa chọn chỗ ở của những người bị kết án Mức
độ phai chịu nhũng tước bỏ và hạn chế quyền lợi này tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhàn thân
Trang 21người phạm tội Điều đó có nghĩa là tội phạm càng nsu y hiểm thì mức độ trừng trị người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm đó càns nghiêm khác Chính vì vậy, trong hệ thống hình phạt của luật hình sự Việt Nam có một số hình phạt chủ yếu mang tính t r ừ n ơ trị (ví dụ: tù c h u n s thân, tử hình) Trừng trị là mục đích mang tính tự nhiên của hình phạt, không thừa nhận mục đích này của hình phạt là phủ nhận bản chất và đặc tính của hình phạt Tuy nhiên, khoa học luật hình sự XHCN nói chung và luật hình sự Việt nam nói riêng không thừa nhận quan điểm coi hình phạt là sự trả thù được nhà nước thừa nhận đối với người phạm tội vì điều ác mà người đó đã thực hiện Với mục đích trừng trị, hình phạt trước hết thể hiện sự lên án, thái độ nshiêm khắc của Nhà nước, của xã hội đối với người phạm tội Thái độ lên án này biểu hiện cụ thể bằng việc buộc người phạm tội phải chịu hình phạt (sự hạn
c h ế hoặc tước bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của họ) tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
Việc thừa nhận hình phạt có mục đích trừng trị không có nghĩa là xử nặng người phạm tội, bởi lẽ trên thực tế, trong hệ thống hình phạt của Việt
N am vẫn có nhũng hình phạt mang tính cưỡng chế thấp thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta như cảnh cáo, cải tạo không giam giữ Hơn nữa, khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội phải dựa vào các căn cứ qui định trong BLHS là tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hình phạt mà toà án tuyên cho bị cáo phải tương xứns với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đủ để răn đe người phạm tội, đồng thời răn đe những người không vũng vàng trong xã hội để họ có ý thức tuân thủ pháp luật
Tuy nhiên, mục đích chủ yếu của hình phạt vãn là nhầm giáo dục, cải tạo người phạm tội Thônơ qua việc trừnơ trị người phạm tội mà tác động vào tư tưởng, ý thức của người phạm tội để họ nhận ra sai lầm của mình, sửa chữa, cải tạo mình thành côns dân có ích cho xã hội, có ý thức tôn
Trang 22trọiis pháp luật, hạn chế hoặc loại trừ điều kiện phạm tội lại của neưừi phạm tội.
Giữa trừng trị và giáo dục, cải tạo người phạm tội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Không thể nói đến cải tạo, giáo dục người phạm tội nếu như hình phạt trừng trị họ khôns tu'0'ns xứng (quá nặng hoặc quá nhẹ) với tội
phạm mà họ sây ra “Trừng trị là cơ sở đ ể giáo dục, cải tạo Giáo dục, củi tạo là sư phát huy tính tích cực của trừng £/•/'”( 11, tr 10) Trùng trị côns
minh là yếu tố tiên quyết, quan trọns để đảm bảo mục đích giáo dục, cải tạo VI vậy, c h ú n ơ tôi đổns tình với quan đ iể m cho rằng: “Trừng trị là mục
đích nhưng đồng thời cũng là phương tiện đ ể đạt được mục đích cuối cùng
và chủ yếu của hình phạt đối với người phạm tội là giáo dục, cải tạo họ Hình phạt đã tuyên không chỉ là sự răn đe kẻ phạm tội nếu lặp lại hành vi phạm tội s ẽ phải gánh chịu sự lên án, sự trừng phạt của N hà nước, của x ã hội mà qua đó còn là sự tác động cần thiết, thức tỉnh người phạm tội đ ể người pliạm tội có điều kiện nhìn nhận lại hành vi phạm tội của m ìn h '\( \ l,
tr 11)
Ngoài mục đích phòng ngừa riêng như đã phân tích ở trên, hình phạt còn có mục đích phòng ngừa c h u n s Việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội trong từng trườns hợp cụ thể bao giờ cũng tác động đến các thành viên khác trong xã hội, làm cho họ nhận thức được tính nsuy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như sự cần thiết phủi áp dụns hình phạt Qua
đó giáo dục quần chúng tuân thủ pháp luật và độns viên họ tích cực tham gia công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Đối với những cô n s dàn không vững vàng hoặc có ý thức coi thườns pháp luật hoặc có ý định phạm tội thì hình phạt có mục đích răn đe, kiềm chế để họ khônơ phạm tội và có
ý thức tuân thủ pháp luật
Phòns ngừa riêng và phòng ngừa chung là hai mặt của thể thốns nhất, tác độns qua lại lẫn nhau trons mục đích chuns của hình phạt Nếu xem nhẹ phòns rtiĩừa riêns rmười phạm tội đã bị áp dụníi hình phạt vẫn coi thường pháp luật thì không thể đạt được kết quả tốt tro nu phòng ngừa
Trang 23chung, không làm người khác phải tôn trọng pháp luật Ngược lại, nếu phòng ngừa chung bị hạn chế, kỉ cương pháp luật khôns được tôn trọn®, thì người bị kết án sẽ thiếu môi trường thuân lợi để cải tao tốt, trở thành công dàn có ích cho xã hội.
Qua phân tích mục đích hình phạt theo luật hình sự CH Pháp và luật hình sự CHXHCN Việt Nam, có thể so sánh và rút ra nhũng nhận xét sau:
- Xét về hình thức lập pháp, tro n g luật hình sự Việt Nam, m ụ c đích c ủ a
hình phạt đã được các nhà làm luật của Việt Nam qui định ở Điều 20 BLHS
năm 1985 và khẳng định lại ở Điều 27 BLHS năm 1999 Cụ thể: “Hìn/i phạt
không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho x ã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các nguyên tắc củci cuộc sống XHCN, ngăn ngừa họ phạm tội mới H ình phạt còn nhầm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng chống tội phạm ”.
Trong khi đó, BLHS của CH Pháp từ trước đến nay chưa có qui phạm
riêng qui định về khái niệm hình phạt cũng như mục đích hình phạt.
- Xét về mặt nội dung, mặc dù được diễn đạt bằng nhũng cách khác nhau, nhung nhìn chung mục đích của hình phạt theo luật hình sự của CH Pháp và luật hình sự của CHXHCN Việt Nam đều có chunsỉ nội dung cơ bản là trừng trị, răn đe nhàm phòns ngừa riêng và phòns ngừa chuns và mục đích cuối cùng và chủ yếu nhất vãn là cải tạo, giáo dục người phạm tội
để họ trở thành người có ích cho xã hội Tuy nhiên, luật hình sự của CH Pháp đặc biệt chú trọng đến việc tái hoà nhập xã hội của nhữns người phạm tội sau khi phái chịu hình phạt, nó được nhìn nhận như là một mục đích
m a n s tính ưu việt, văn minh và nhân đạo Theo chúng tôi, đâv là một vấn đề
mà siới khoa học hình sự của Việt Nam nên tham khảo, học tập Bởi lẽ trước khi được trứ thành nsười có ích cho xã hội, nhữnsi người phạm tội cần
Trang 24có điều kiện tái hoà nhập xã hội để họ có cơ hội có c ô n s ăn, việc làm và để thể hiện mình là nhũng người đã ăn năn hối lỗi và tuân thủ pháp luật Thực
tế tình hình ớ Việt Nam cho thấy, vẫn còn tồn tại tư tưởng manơ tính định kiến với những người phạm tội, nsay cả khi họ còn đang trong siai đoạn tạm giam hoặc khi ra trước tòa đã phái chịu sự phàn biệt đối xử Đạc biệt là sau khi chấp hành xong hình phạt, nhiều người phạm tội đã phải chịu sự xa lánh, cô lập của mọi người, thậm chí đôi khi gia cĩinh họ cũng phải chịu chung hậu quả Điều đó đã làm cho không ít người phạm tội do mặc cảm, tự
ti vì đã có án tích đã dẫn đến bất mãn, cùng quẫn nên lại tái phạm Và như vậy thì các mục đích khác sẽ khôns thể đạt được và hình phạt sẽ không có hiệu quả Do đó, cần phải chú trọns đến mục đích tái hoà nhập xã hội của người phạm tội để luật hình sự của Việt nam không nằm ngoài khuynh hướng chung của luật hình sự thế giới
ơ khía cạnh khác, luật hình sự Việt Nam lại nhấn mạnh mục đích giáo dục ý thức đấu tranh phòng chống tội phạm Theo luật hình sự Việt Nam, trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, hình phạt tuy giữ vai trò rất quan tr ọ n g n h ư n g k h ô n g p h ả i là p h ư ơ n g tiệ n d u y n h ấ t có tín h q u y ế t địn h
Cùng với hình phạt phải là biện pháp kinh tế, biện pháp chính trị - xã hội, biện pháp giáo dục, thuyết phục Trong đó, chúng ta rất coi trọng biện pháp vận động đông đảo quần chúng nhân dân tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh phòns ch ố n s tội phạm vì hiệu quả của cuộc đấu tranh này phụ thuộc rất nhiều vào sự tham gia của quần chúns nhàn dân Do vậy, việc tuyên hình phạt cần phải đặt ra mục đích: tạo ra được sự đổnơ tình của quần
chứnỉĩ để giáo dục, vận độns họ tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh phòns
ch ố n2 tội phạm.
Trang 25Một hệ thống hình phạt hoàn chỉnh phải thoả mãn các đòi hỏi sau:
- Hệ t h ố n g hình phạt phải có tính đa đạns về thể loại, phong phú về
mức độ, linh hoạt về kết cấu và khả năns vận dụnơ, giúp cho Toà án có nhiều khả năng lựa chọn và kết hợp các loại hình phạt đối với mỗi loại tội phạm, tạo điều kiện tốt hơn để có được hình phạt thích hợp đối với từng trường hợp cụ thể, giúp cho hình phạt được áp dụns: đạt được hiệu quả mong muốn Các hình phạt trong hệ thống phải có tính kế tiếp nhau về tính
chất và mức độ nghiêm khắc, tránh tình trạng có “khoảng trống” giữa các
hình phạt Điều này cho phép trong mọi trường hợp thực hiện được nsuyên tắc công bằng trách nhiệm, nguyên tắc cá thể hoá hình phạt Ngoài ra, hệ thống hình phạt phải thể hiện tính nhân đạo, không có hình phạt có tính chất khủng bố, trả thù hay đầy đoạ thể xác hoặc trà đạp nhân phẩm con người
- Các hình phạt trong hệ thống hình phạt phải có nội d u n s rõ ràng, kết hợp hài hoà các yếu tố cưỡng chế và thuyết phục (trừng trị và giáo dục cải tạo)
- Trong hệ thốns hình phạt, phải có sự giới hạn mức tối thiểu và mức tối
đa của các loại hình phạt có thời hạn và hình phạt tiền
- Trong hệ thống hình phạt, phải qui định rõ phạm vi cũna như điều kiện áp dụns của từng loại hình phạt Đó là biểu hiện của nguyên tắc pháp
Trang 26chê (nguyên tắc luật định), nhân đao, cá thể hoá và cônc bằng trong viêc qui định hình phạt.
Căn cứ vào những tiêu chí khác nhau có thể phân các hình phạt trong hệ thống hình phạt thành các loại:
- Hình phạt chính và hình phạt bổ sung;
- Hình phạt tước tự do, hình phạt hạn chế tự do và hình phạt không tước hoặc không hạn chế tự do;
- Hình phạt có thời hạn và hình phạt không có thời hạn;
- Hình phạt mang tính chất tài sản và hình phạt mang tính chất chính
- Hệ thống hình phạt được áp dụng với thể nhân và
- Hệ thống hình phạt được áp dụng với pháp nhân(1)
Trong mỗi hệ thống hình phạt, hình phạt lại được phân và quy định theo loại tội được áp dụng Như vậy, mỗi hệ thốnơ hình phạt có các loại hình phạt sau:
- Hình phạt trọng tội;
Theo lu ậ t h ìn h s ự của P háp thi "Tât cả các p h á p n h â n , tr ừ N h à nước, đều p h ả i chịu trách n h iệ m h ìn h sự trong các trường hợp do lu ậ t q u i đ ịn h uề các tội p h ạ m được thự c h iệ n vì lợi ích của p h á p n h ã n bởi các cơ q u a n đ ạ i diện của p h á p nhản"
L u ậ t h ì n h s ự của Cộng hoà Pháp chia tội p h ạ m th à n h 3 loại: trọng tội, k h i n h tội uà tội ui cà n h nên kh i p h á p n h â n p h ạ m loại tội nào thi sẽ có h ìn h p h ạ t tương ứ ng p h ũ hợp VỚI loại tội p h ạ m đó.
Trang 27- Hình phạt khinh tội và
- Hình phạt vi cảnh.10
Như vậy, trong BLHS Pháp, tiêu chí được sử dụng để phàn loại hình phạt là đối tưọ'ns bị áp dụng hình phạt Việc quv định hình phạt trong Phán
c h u n s của BLHS Pháp cũnơ được thực hiện theo cách phân loại đó mà
k h ôna giốns như trình tự quy định các hình phạt trong BLHS Việt
N a m í2lTrong luật hình sự Pháp cũng có việc phân hình phạt thành hình phạt chính và hình phạt bổ sung.(3) Nhung ranh giới giữa hai loại hình phạt này
có tính rất tương đối Hình phạt bổ sung có thể thay thế hình phạt chính và trở thành hình phạt chính Cụ thể, trong một số trườns hợp, đối với khinh tội và tội vi cảnh, toà án có thể tuyêri hình phạt bổ sung thay thế cho hình
phạt chính Ví dụ: Phạt tiền theo ngày hoặc lao động công ích có thể thay
th ế cho hình phạt tù hoặc hình phạt tiền khi hình phạt tiền được áp dụnsi là hình phạt chính
Ngoài ra, dựa vào nội dung của hình phạt, các hình phạt được chia
thành: hình phạt tước quyền tự do (ví dụ: tù chung thân, tù có thời hạn); hình phạt hạn chế quyền tự do (ví dụ: trục xuất, cấm cư trú); hình phạt tước
qưyền hoặc hạn chế một số quyền (về chính trị, công dân, dân sự hoặc liên
T r ọ n g tội là tội p h ạ m n g h iê m trọng m à m ức th ấ p n h á t của k h u n g h ìn h p h ạ t là 10
n ă m tù (và thuộc th ả m quyền xét x ử của toà đ ạ i hinh) K h in h tội là tội p h ạ m mà
m ứ c cao n h à t của k h u n g h ì n h p h ạ t là 10 n ă m tù (và thuộc t h ả m quyền xét x ử của tòa tiêu hình) Tội ui c ả n h là tội p h ạ m m à m ứ c cao n h à t của k h u n g h in h p h ạ t là
p h ạ t tiền 10.000 Q u a n (trong trường hợp tái p h ạ m là 20.000 Q uan) (đối với p h á p
n h ả n là g ấp 5 lần) (và thuộc th a m quyền xét x ử của tòa vi cảnh)
lầ n Lượt theo trật tự từ n hẹ đến nặng.
'Jl Trước đây, trong Luật h ìn h s ự Pháp còn thừ a n h ậ n loại h ìn h p h ạ t th ứ ba là hình
p h ạ t p h ụ Đó l-à h ì n h p h ạ t được áp d ụ n g m ột cách tự động cùng h in h p h ạ t chinh,
lu ô n g ắ n VỚI h ìn h p h ạ t ch ín h uà toà án kh ô n g cần p h ả i tuyên rõ ràng và tách khói
h ì n h p h ạ t chính H ìn h p h ạ t p h ụ Là hậ u quả bắt buộc của h ìn h p h ạ t chính n h ă m
đ à m báo cho h ìn h p h ạ t ch ín h có hiệu quả Ví dụ: cảm là m n h ữ n g nghè hoặc cõng việc n h ấ t d in h hoặc cấm các quyền công d ã n và cúc quyền vẻ dân sự hay gici đỉnh
K h á i niệ m này hiện k h ô n g còn tồn tại nữa VI Điểu 132-17 B L H S n á m 1992 đã quy
đ ị n h : K h ô n g m ột h ìn h p h ạ t nào có thè dược úp d ụ n g nếu kh ò n g được toà án tuy in rõ ràng.
Trang 28quan đến gia đình); hình phạt liên quan đến tài sản (ví dụ: phạt tiền, tịch thu
tài san, đóns cửa cơ sỏ')
Trước khi trình bày hệ thốn2 hình phạt của Pháp theo cách phân của BLHS Pháp, cán khái quát hệ thốn" hình phạt đó theo cách phân cùa luật hình sự Việt Nam đế thuận so sánh.(1)
- Phạt tiền, phạt tiền theo ngày, lao động cô n s ích;
- Tước hoặc hạn chế quyền nhất định
2 Tù có thời hạn
Tù có thời hạn có mức tối thiểu là 6 tháng và tối đa là 30 năm Hình phạt này chí được áp dụng cho trọns tội và khinh tội Đối với trọng tội, mức tối thiểu là 10 năm và tối đa là 30 năm; đối với khinh tội, mức tối thiểu là 6 thánơ và mức tối đa là 10 nãm Tron^ những khoảng đó, luât còn chia thànho d > — • 7
các mức khác nhau
Tù có thời hạn là hình phạt được áp d ụ n s khá phổ biến cho trọng tội
và khinh tội Phán lớn các điều luật đều quy định hình phạt này là hình phạt
p h ạ t được trin h bàv ờ các p h ầ n tiếp theo.
Trang 29chính Vì tự do là điều quí giá nhất cho nên việc tước đi tự do bởi hình phạt
tù có tác dụníi trừng trị và phòng ngừa lớn Tuy nhiên, hình phạt này có
những bất lợi như tạo điều kiện cho nsuy cơ “lây nhiễm” từ tù nhân đã biến
chất sang tù nhân còn đang có khả năng cải tạo tốt, vì tình trạng quá tải dan đến sự chung đụng giữa các đối tượng bị án khác nhau
3 Phạt tiền; phạt tiền theo ngày; lao động công ích
Phạt tiền chỉ được áp dụnơ là hình phạt chính đối với khinh tội và tội vi cảnh Đối với trọng tội, hình phạt tiền chỉ có thể là hình phạt bổ sung nhưng BLHS k h ô n 2 quy định mức tối đa và tối thiểu Hình phạt này có mức tối thiểu là 25000 CỊuan đối với khinh tội nhưng mức tối đa thì không được quy định trons BLHS (đối với tội phạm về ma tuý có thể tới 50 triệu qu an ) và được chia thành nhiều mức Khi quyết định hình phạt tiền, toà án ngoài việc căn cứ vào mức độ nghiêm trọna của tội phạm còn phải căn cứ cả vào gia sản và thu nhập của người phạm tội Nếu hình phạt tiền không được chấp hành thì hình phạt đó trở thành hình phạt tước tự do
Hình phạt tiền được áp dụng rất phổ biến ở Pháp (cũng như ở châu Âu
và Mỹ) nhờ tính hiêu quả cũng như một số lợi thế sau:
- Mang lại nguồn thu lớn cho kho bạc nhà nước;
- Tránh được nguy cơ “lây nhiễm” của hình hạt tù;
- Giảm bớt mặc cảm cũng như gánh nặng tâm lý cho người bị án
Tuy nhiên, hình phạt này cũns có điểm hạn chế như dễ vi phạm nguyêntắc c ô n s bằng do sự chênh lệch thu nhập nếu toà án không chú ý thích đáng
đ ế n h o à n c ả n h k in h t ế v à m ứ c thu n h ậ p c ủ a n g ư ờ i bị án ; dễ là m p h á t sin h tư
tưởns có thể dùns tiền để khôns phải tù ở người giàu và qua đó hạn chế tác
dụ n a siáo dục, cải tạo của hình phạt
Phạt tiền theo nsàv là hình thức đặc biệt của hình phạt tiền Người bị tuyên hình phạt này phái nộp khoan tiền bằng số ngày (phạt) nhân với số tiền (phạt) mỗi nsày Hình phạt này chi được áp dụn2 đối với khinh tội đế
thay thế cho hình phạt tước tự do
Lao độns cônc ích là hình phạt bắt buộc lao động k h ô n í hướns lươn2 Như vậy, ỏ' một khía cạnh, hình phạt này giôYiíi hình phạt ticn vì tước thu
Trang 30nhập qua lao độns của người bị kết án Hình phạt này được áp dụng đối với khinh tội để thay thế cho hình phạt tước tự do khi người bị kết án đồng ý.
4 Tước hoặc hạn chế quyền nhất định
Hình phạt này được áp dụng cho khinh tội và tội vi cảnh hạng 5, để thay thế cho hình phạt tù hoặc tiền và bao gồm nhiều hình thức khác nhau liên quan đến quyền nhất định như quyền sở hữu xe, quyền sở hữu vũ khí Trong đó, có hình thức áp dụng cho cả hai loại tội và có thể với mức độ khác nhau, có hình thức chỉ áp dụns cho khinh tội
Theo luật hình sự Pháp, hình phạt chính được áp dụng cho pháp
n h ả n bao gồm những hình phạt tương tự như hình phạt đối với thể nhân và
những hình phạt có tích chất riêng cho pháp nhân:
+ Các hình phạt chung với thể nhân:
1 Phạt tiền (Đối với cả ba loại tội)
Mức phạt tiền tối đa áp dụng cho pháp nhân được tính ơấp 5 lần mức
p h ạ t á p d ụ n g c h o th ể n h â n p h ạ m tộ i tư ơ n g ú ng
2 N găn cấm vĩnh viễn hoặc trong thời hạn tối đa là 5 năm việc thực hiện trực tiếp hay gián tiếp một hoặc nhiều hoạt động nghề nghiệp hay hoạt động xã hội mà thông qua đó hành vi tội phạm được thực hiện, như các hoạt động thương mại, ngân hàng, y tế, xuất bản (đối với trọnơ tội và khinh tội);
3 Đóng của vĩnh viễn hoặc trong thời hạn tối đa là 5 năm cơ sở được
sử dụng để tiến hành các hoạt độns phạm pháp (đối với trọng tội và khinh tội);
4 Tước đoạt hoặc hạn chê quyền nhất định (hình phạt thav thế cho
hình phạt tiền áp dụns đối với tội vi cảnh bậc 5)
+- Các hình phạt riêns cho pháp nhân:
1 G iải thể (Đối với trọns tội và khinh tội)
2 C h ịu sự giám sát tư pháp trong thời hạn tối đa là 5 nám (đối với
trọna tội và khinh tội)
Trang 312 Cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc tiến hành hoạt động nshề nghiệp hay
xã hội (khônti quá 5 năm hoặc vĩnh viễn);
3 Trục xuất (không quá 10 năm hoặc vĩnh viễn);
4 Cấm cư trú (tối đa là 10 năm đối với trọng tội, 5 năm đối với khinh
+ Hình phạt bổ sun2 đối với tội vi cảnh:
1 Treo giấy phép lái xe, thời hạn tối đa là 3 năm;
2 Cấm giữ, mans vũ khí, thời hạn tối đa là 3 năm;
3 Tịch thu vũ khí;
4 Tước giấy phép săn bắn ;
5 Tịch thu vật đã sử dụns cho việc phạm pháp hoặc vật do hành vi
Trang 321 Không ctuực tham gia các hợp đồng công trình công cộng vĩnh viễn hoặc trong thời hạn tối đa là 5 năm;
2 Ngăn cấm vĩnh viễn hoặc trong thời hạn tối đa là 5 năm việc huy độna vốn;
3 Ngăn cấm phát hành séc trong thời hạn tối đa là 5 năm;
4 Tịch thu vật đã được sử d ụ n s cho việc phạm pháp hoặc do hành vi phạm pháp mà có;
5 Niêm yết hoặc thông báo trên các phương tiện thôns tin đại chúng
Thời gian tù có thời hạn ít nhất là 10 năm
Hình phạt tù chung thân chỉ được áp dụng cho trọng tội trong nhữnơ trường hợp đặc biệt nghiêm trọng Trong BLHS Pháp có 19 điều luật có quv
quy định về các tội chốns loài người, tội xàm phạm tính mạng, các tội xâm
phạm an ninh quốc gia, các tội phạm về ma tuý Hình phạt này không được
áp dụng cho nsười chưa thành niên dưới 16 tuổi.("Người bị tuyên hình phạt
tù chuns thân có thể được tha sau khi đã chấp hành ban án phạt tước tự do được ít nhất 18 năm
T heo q u y địn h , h ìn h p h ạ t tù (giam giữ) ch ung th â n g iả m xu ố n g còn 20 n ă m tước
tự do k h i người Ị>hạm tội là người chưa th à n h niên dưới 16 tuổi.
Trang 33Theo qui định của Điều 131-2 BLHS thì những; hình phạt chính trên đây không loại trừ một hình phạt tiền và một hoặc nhiều hình phạt bổ sung khác được qui định tại Điều 131-10 BLHS, cụ thể là các hình phạt sau đây:
- Cấm các q u y ề n công dân, quyền dân sự và q u y ề n về gia đình (Đ iều
ỉ 31-26 BLHS) như: quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền thực hiện một chức năng tư pháp (như hội thẩm, giám định hoặc là người đại diện cho các bên trước toà), quyền làm chứng trước toà, quyền làm người giám hộ hay trợ tá.(1)
Thời hạn cấm các quyền trên không được vượt quá 10 năm (đối với khinh tội là 5 năm)
- Cấm đảm nhiệm một chức vụ trong các cơ quan nhà nước hoặc tiến hành một hoạt động nghề nghiệp hay hoạt độnơ xã hội một cách vĩnh viễn hoặc tạm thời nhưng không quá thời hạn 5 năm (Điều 131-27 và 131-28 BLHS) Đây là các chức vụ hoặc các hoạt động nghề nghiệp hay hoạt động
xã hội thông qua đó hành vi phạm tội được thực hiện Tuy nhiên, hình phạt này không được áp dụng đối với người đang tronơ nhiệm kỳ được bầu cử, người phụ trách các nghiệp đoàn và người hành nghề báo chí
- Trục xuất vĩnh viễn hoặc có thời hạn tối đa là 10 năm Đây là hình
phạt được áp dụng đối với người nước ngoài phạm trọng tội hay khinh tội (Điều 131-30 BLHS) Trong thực tiễn, hình phạt này thườns có thời hạn 2 đến 5 năm Hình phạt này không được áp dụng cho người chưa thành niên phạm tội;
- Cấm cư trú trong vòng tối đa là 10 năm đối với trọng tội và 5 năm đối với khinh tội (Điều 131-31 BLHS) Cấm cư trú là cấm nsười bị kết án, sau khi được trá tự do, cư trú ở một số địa phương nhất định có kèm theo sự giám sát và giúp đỡ của thẩm phán thi hành án và chính quyền địa phương Hình phạt này được áp đụns nhằm cách ly người phạm tội khỏi nhữntí nơi
n ă n g Lực h à n h ui ;
T rự tú: Đai diện trước p h á p lu ậ t của người cỏ hạn chù về thè chất hoặc tình thẫn
Trang 34nhất định mà ở đó họ có thể có điều kiện phạm tội lại đổng thời tạo điểu kiện cho người bị án có cơ hội cải tạo, giáo dục và tái hoà nhập vào cộng đồng xã hội Hình phạt này có thể thay thế cho hình phạt chính là hình phạt
tù dưới 1 năm Hình phạt này không được áp dụnơ cho người từ 65 tuổi trở lên;
- Tịch thu vật đã sử dụng cho việc phạm pháp hoặc do hành vi phạm
2 tháng đối với trọng tội và khinh tội hoặc tối đa 15 ngày đối với tội vi cảnh Chi phí cho việc này là do người bị kết án trả
m ố i lièn hệ thường xuyê n với gia đ in h củng n h ư cùng việc) vừa tiết kiệm được chi
p h i chu trại g ia m và q u a thực tê vẫn có hiệu quá tốt.
Trang 35đe nguơi bi phạt có điêu kiện chấp hành đươc hình phat Nêu hình phat tiền không được chấp hành thì buộc người phạm tội phải chịu hình phạt giam.
3 Phạt tiền theo ngày
Đây là hình phạt thay thế cho hình phạt tù (khôns áp dụng cho naười chưa thành niên phạm tội) Điều 131-5 BLHS quy định hình phạt này như
sau: "K hi người phạm tội bị kết án p h ạ t tù, Toà án có th ể tuyên hình phạt
tiên theo ngày thay th ế cho hình p h ạ t tủ buộc người bị kết án phải nộp vào kho bục một khoản tiên clo toci án qui định trong vòng một s ố ngày Sô tiền phải, nộp m ỗi ngày được tính trên cơ sỏ mức thu nhập và nghĩa vụ của người bị kết án đối với gia đình họ, nhưng không được vượt quá 2.000 quan
Sô ngày p h ạ t cũng phải tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm nhưng không được quá 360 ngày”.
Hình phạt tiền theo ngày là hình thức đặc biệt của hình phạt tiền, thể hiện rõ hơn nguyên tắc: Hình phạt tiền phải phù họp với hoàn cảnh kinh tế của người phạm tội và tương xứng với mức độ nshiêm trọns của tội phạm Trong hình phạt này, sô ngày phản ánh mức độ nghiêm trọng của tội phạm còn số tiền mỗi ngày phan ánh hoàn cảnh kinh tế của người phạm tội
Theo qui định của Điều 131-25 BLHS thì người bị kết án phải trả một
sô tiên phạt đã được ấn định trong một số ngày, khi hết hạn mà chưa tra đủ tiền thì họ phái chịu hình phạt tù với thời hạn bàns 1/2 số ngày còn lại chưa tra tiền Phạt tiền theo ngày còn được áp dụns như hình phạt bổ sunư cho một số tội phạm về vi phạm an toàn giao thông
1 ‘—■ >—
3 Lao độnii công ích