Mục đích của những sửa đổi và cải cách này là nhằm thiết lập một hệ thông các cơ quan tài phán kinh tế phù hợp với cơ chế thị trường, Từ đó phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của các c
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
Trang 3L Ờ I NÓI Đ Ầ U 1
CHƯƠNG 1 : VAI TRÒ CỦA TÀ I PHÁN KINH T Ế TRONG 7
NỀN KINH T Ế TH Ị TRƯỜNG
1.1 T ài phán kinh t ế - một tất yếu khách quan 7
CHƯƠNG 2 : CÁC HÌNH THỨC TÀ I PHÁN KINH T Ê ở 26
V IỆ T NAM HIỆN NAY
2.1 C ác yếu tô" chi phối bản chất và mô hình tổ chức các cơ quan 26tài phán kinh t ế ở V iệt Nam
2.2 Đ ặc điểm của tài phán kinh t ế nói chung 362.3 Đ ặc điểm của tài phán kinh t ế bằng Tòa án 372.4 Đ ặc điểm của tài phán kinh t ế bằng trọng t à i 53
CHƯƠNG 3 : M ỘT s ô VAN đ ề c ủ a t à i p h á n k i n h t ế 67
VÀ PHƯƠNG HƯỚNG G IẢ I Q U Y ET
3.3 ĐỐÌ với cả Tòa án và trọng tài phi chính phủ 99
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đê t à i :
Đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và tiến hành đến nay đã được 10 năm Tiến trình đổi mới đã từng bước thiết lập và hình thành nền kinh tế thị trường nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa Đời sông kinh tế - xã hội của đất nước đã có những bước phát triển đáng kể Hệ thông các cơ quan nhà nước, hệ thống pháp luật cũng đã được sửa đổi và từng bước được hoàn thiện theo cơ chế thị trường Tất cả nhằm thiết lập một cơ chế quản lý hữu hiệu, một sự điều chỉnh pháp luật thích hợp nhằm đảm bảo an toàn, thuận lợi và sự phát triển lành mạnh mọi mặt đời sông kinh tế - xã hội của đất nước
Trong bối cảnh đó, các cơ quan tài phán kinh tế của Nhà nước ta cũng
đã có những đổi mới căn bản về tổ chức và hoạt động Ngày 28-04-1993 Thủ' tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định sô" 204/TTg hợp nhất Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải với tên gọi mới là Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam đặt bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp
V iệt Nam Ngày 01-07-1994 Nhà nước ta đã quyết định xóa bỏ hệ thống cơ quan trọng tài kinh tế Nhà nước và thiết lập Tòa kinh tế trong hệ thống Tòa án nhân dân để xét xử các tranh chấp kinh tế Ngày 05-09-1994 chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 116/CP quy định về tổ chức và hoạt động của các trung tâm trọng tài kinh tế phi chính phủ Mục đích của những sửa đổi và cải cách này là nhằm thiết lập một hệ thông các cơ quan tài phán kinh tế phù hợp với cơ chế thị trường, Từ đó phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tài phán kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển thông qua việc giải quyết nhanh chóng, kịp thời và đúng pháp luật các tranh chấp kinh tế, bảo
vệ quyền vàlợi ích chính đáng của các nhav kinh doanh, không phân biệt thành phần kinh t ế
Nhưng cho đến nay, thực tiễn hoạt động của các cơ quan tài phán kinh
tế ở Việt Nam cho chúng ta thấy những quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tài phán này đã bộc lộ những khiếm khuyết và tồn
Trang 5tại, ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện vai trò và chức năng của cơ quan tài phán kinh tế trong nền kinh tế thị trường và thực sự là chưa đáp ứng được những yêu câu của việc giải quyết tranh chấp kinh tế hiện nay Qua hơn 2 năm đổi mới và cải cách các cơ quan tài phán kinh tế, chỉ mới có một trung tâm trọng tài kinh tế được thành lập, số lượng các vụ án kinh tế Tòa kinh tế các địa phương trong toàn quốc thụ lý không nhiều Tòa kinh tế giải quyết các
vụ việc tranh chấp kinh tế còn kéo dài và tiếp tục phát sinh những vướng mắc
về mặt pháp luật Tổ chức và hoạt động của trọng tài phi chính phủ còn bất cập, thiếu thông nhất Hoạt động của Tòa án và trọng tài phi chính phủ còn biệt lập, thiếu sự liên kết, phôi hợp
Bên cạnh những hạn chế về mặt thực tiễn, về mặt lý luận pháp luật về tài phán kinh tế phải luôn đáp ứng được những đòi hỏi khách quan của tranh chấp kinh tế Những quy định lạc hậu, thiếu thống nhất của pháp luật về tài phán kinh tế sẽ là những nhân tô" ảnh hưởng không tốt đến hoạt động kinh doanh và sự phát triển của nền kinh tế
Trong tình hình như vậy thì việc tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật về tài phán kinh tế ở nước ta hiện nay vẫn là vấn đề có tính thời sự, rất có
ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Đây cũng là những đòi hỏi bức xúc của nền kinh tế thị trường đặt ra cho chúng ta phải giải quyết và cũng chính là lý do khiến tôi lựa chọn đề tài “ T ài phán kinh t ế ở V iệt Nam - thực trạn g và phương hướng hoàn thiện” làm luận án tốt nghiệp chương trình đào tạo Cao học luật
2 Tình hình nghiên cứu của đê t à i :
Quá trình dẫn đến mô hình tổ chức và hoạt động của các cơ quan tài phán kinh tế ở Việt Nam hiện nay là kết quả của nhiều công trình khoa học của các nhà khoa học pháp lý trong nước đã bỏ bao công sức lao động sáng tạo, đặt nền móng cho việc nghiên cứu tiếp theo về vấn đề này Trong sự vận độne và phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay việc nghiên cứu về tài phán kinh tế vẫn rất được quan tâm Đã có nhiều luận văn , luận án
Trang 6nghiên cứu về tài phán kinh tế được công bô" như :
- Luận văn của Trần Thu Hằng sinh viên khoa luật trường Đại học Tổng hợp Hà Nội nghiên cứu về “Những nội dung cơ bản của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh t ế “ (1994)
- Luận văn của Nguyễn Hữu Quốc sinh viên khoa luật trường Đại học Tổng hợp Hà Nội nghiên cứu về “Những vấn đề pháp lý cơ bản trong thủ tục giải'quyết các vụ án kinh tế tại Tòa kinh tế ở Việt Nam” (1996)
- Luận văn của Lê Thị Bích Ngọc sinh viên khoa luật trường Đại học Tổng hỢp Hà Nội nghiên cứu về “Tổ chức, thẩm quyền và tố tụng của Tòa án kinh tế ở V iệt Nam” (1993)
- Luận văn của Bùi Hoàng Lân sinh viên khoa luật trường Đại học Tổng hợp Hà Nội nghiên cứu về “Trọng tài kinh tế trong hệ thống các cơ quan tài phán trong kinh doanh ở Việt Nam” (1995)
- Luận văn của Trần Thị Thuý sinh viên khoa luật trường Đại học Tổng hợp Hà Nội nghiên cứu về “ Quy định về tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế Việt Nam” (1996)
- Luận án của Nguyễn Thị Thuận học viên cao học luật của trường Đại học luật Hà Nội nghiên cứu về “Trọng tài phi chính phủ, cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt Nam” (1996)
- Luận án của Lê Công Đồng học viên cao học luật của Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật nghiên cứu về “Thủ tục giải quyết các vụ án kinh
tế bằng Tòa án trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” (1996)
Ngoài ra còn có một số bài viết về các vấn đề cụ thẹ của tài phán kinh
tế được đăng trên các tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Dân chủ và Pháp luật,tập san Tòa án Nhân dân
Các công trình nghiên cứu về tài phán kinh tế đã góp phần làm sáng tỏ thêm về tài phán kinh tế ở Việt Nam hiện nay ở nhiều khía cạnh khác nhau Nhưng tất cả cũng chỉ mới dừng lại ở những vấn đề riêng lẻ của tài phán kinh
tế Cho đến nay chưa có một công trình khoa học pháp lý nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về thực trạng của tài phán kinh tế ở V iệt Nam,
để từ đó có thể tổng hợp và chỉ ra được những khiếm khuyết, tồn tại nổi cộm của tài phán kinh tế cần phải khắc phục, hoàn thiện
Trang 7và phương hướng hoàn thiện“, chúng tôi muôn khẳng định vai trò không thể
thiếu được của tài phán kinh tế trong nền kinh tế thị trường, làm rõ những vấn
đề cơ bản nhất trong tổ chức và hoạt động của mỗi hình thức tài phán kinh tế ở
V iệt Nam hiện nay, từ đó chỉ ra những ưu điểm và nhược điểm của mỗi hình
thức tài phán kinh tế và của cả hệ thông tài phán kinh tế, để đưa ra những đề
xuất,kiến nghị nhằm góp phần tìm ra một “khung pháp luật”tốt nhất cho các
cơ quan này hoạt động và phát triển trong nền kinh tế thị trường
Để đạt được mục đích này chúng tôi đã nghiên cứu một cách có hệ
thống các văn bản pháp luật về tài phán kinh tế ở Việt nam hiện nay, nhưng
do tính chất rộng lớn của vấn đề và giới hạn của một luận án cao học nên đề
tài chỉ giới hạn ở phạm vi tập trung nghiên cứu những vấn đề chung, cơ bản
nhất của pháp luật về tài phán kinh tế, đó là các vấn đề liên quan đến vị trí,'
vai trò của tài phán kinh tế, việc tổ chức các cơ quan tài phán kinh tế, bản
chất, đặc điểm của mỗi hình thức tài phán kinh tế,và tình hình hoạt động
của các cơ quan tài phán kinh t ế trong thời gian qua Tuy nhiên các vấn đề
được nghiên cứu trong luận án cũng chỉ dừng ở mức độ khái quát nhất Trong
phạm vi đề tài chúng tôi cố gắng đề xuất, kiến nghị những, vấn đề có tính thời
sự, nổi cộm của tài phán kinh tế cần phải được ưu tiên giải quyết sớm và có sự
quan tâm thích đáng đến những vướng mắc cơ bản trong việc thi hành pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế hiện nay
4 Phương p h áp nghiên cứu :
Luận án làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu trên cơ sở :
- Đặt vân đề nghiên cứu về tài phán kinh tế trong sự vận động và phát triển của nền kinh tế thị trường, trong mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở kinh
tế và pháp luật, giữa pháp luật về tài phán kinh tế của Việt Nam với pháp luật
về tài phán kinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường trên thế giới và căn
cứ vào các quan điểm của Đảns và Nhà nước ta về phát triển nền kinh tế thị
Trang 8trường, xây dựng cơ chế quản lý mới và cải cách tư pháp
- Vận dụng tổng hợp các phương pháp Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử, phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh và phương pháp chứng minh đồng thời kết hợp điều tra khảo sát thực
tế tại một s ố cơ quan ở tỉnh Tây Ninh và thành phô" Hồ Chí Minh
5 Đóng góp mới vê khoa học của luận án :
Có thể nói rằng đây là một công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tổng quát và toàn diện về thực trạng tổ chức và hoạt động của các loại cơ quan tài phán kinh tế ở Việt Nam, trên cơ sở hệ thông các văn bản pháp luật về tài phán kinh tế hiện hành Luận án đã tổng hợp và phân tích được đầy đủ những vấn đề cơ bản nhất của tài phán kinh tế, phát hiện và phân tích những hạn chế
và tồn tại của hệ thông pháp luật về tài phán kinh tế và mạnh dạn đề xuất những phương hướng giải pháp hoàn thiện Cụ thể những vấn đề sau đây có thể xem như những điểm mới của luận án :
- Luận án đã “ Khái quát hóa” được thực trạng tổ chức và hoạt động của các cơ quan tài phán kinh tế ở Việt Nam hiện nay
- Luận án đã nêu lên được vai trò, tác dụng của tài phán kinh tế trong nền kinh tế thị trường, phân tích làm sáng tỏ những yếu tô" ẹơ bản chi phôi bản chất và mô hình tổ chức các cơ quan tài phán kinh tế ở Việt Nam
- Luận án đã phân tích làm sáng tỏ những đặc điểm cơ bản, những ưu điểm và nhược điểm của mỗi hình thức tài phán kinh tế ở V iệt Nam hiện nay
- Luận án đã có sự đánh giá một cách tổng quát về tình hình hoạt động của các cơ quan tài phán kinh tế, đề xuất, kiến nghị những vấn đề bức xúc nhất của tài phán kinh tế ở Việt Nam hiện nay,
6 Cấu trúc của đê t à i :
Luận án bao gồm : lời nói đầu, ba chương và phần kết luận, các chương
đó là :
Chương 1 :V ai trò của tài phán kinh t ế trong nên kinh t ế thị trường
Trang 9Mặc dù đã cô gắng rất nhiều bằng tri thức thu được qua học tập, nghiên cứu và sức lao động của bản thân, sự giúp đỡ về mọi mặt của các Thầy, các cơ quan ban ngành nhưng tôi vẫn gặp phải những khó khăn nhất định do sự hạn chế về trình độ nghiên cứu khoa học, nên chắc chắn Luận án này còn có những thiếu sót tồn tại Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp thẳng thắn
và chân thành của các Thầy và tất cả các bạn đồng nghiệp để giúp đỡ tôi trưởng thành hơn trong nghiên cứu khoa học
NGUYỄN T H Ế THÀNH
Trang 10hệ đó cũng khó có thể đạt được những điều tương đồng về lợi ích kinh tế Ngược lại, nếu có đạt được điều đó thì do những nguyên nhân khác nhau trong quá trình sản xuất, trao đổi hàng hóa, sự phát sinh tranh chấp là không thể tránh khỏi Vì vậy, có thể khẳng định rằng, tranh chấp kinh tế là một hiệri tượng khách quan tất yếu tồn tại song song với chế độ xã hội có nhà nước, có giai cấp.
ở mỗi nền kinh tế hàng hóa, do tính chất và trình độ phát triển khác nhau mà tính chất và mức độ của tranh chấp kinh tế cũng được biểu hiện rất khác nhau
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế mà ở đó kinh tế hàng hóa đã pháttriển ở giai đoạn cao, tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, bản chất của kinh tế thị trường là một loại kinh tế kiểu cạnh tranh giữa các nhà kinh doanh vì lợi nhuận
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở ra một trang mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta, đánh dấu sự đổi mới đường lỗi phát triển kinh tế của Đảng ta là : xoá bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp đã tồn tại gần 30 năm, xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa Đường lối đổi mới
Trang 11của Nhà nước theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên ch ế độ
sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và
sở hữu tập thể là nền tảng” (4)
Qua 5 năm đầu tiên của thời kỳ đổi mới, nền kinh tế của đất nước ta đã
có những chuyển biến tích cực, đời sông của nhân dân ngày càng được nâng cao
Đại hội toàn quốc lần thứ VII và lần thứ VIII của Đảng Cộng sản V iệt Nam đã tiếp tục khẳng định sự đúng đắn của đường lối đổi mới kinh tế được
đề ra tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng khi nói v ề chính sách đối với các thành phần kinh tế đã chỉ rõ ,”Nắm vững định hướng X ã hội Chủ nghĩa trong việc xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần,thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần”- “ Tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước, khai thác triệt để vai trò tích cực đi đôi với khắc phục và ngăn ngừa, hạn chế những tác động tiêu cực của cơ ch ế thị trường Bảo đảm sự bình đẳng về quyền và ủghĩa vụ trước pháp luật của mọi doanh nghiệp và cá nhân không phân biệt thành phần kinh t ế ”(3)
Nền kinh t ế thị trường theo định hướng X ã hội Chủ nghĩa ở nước ta hiện nay không th ể thoát ly khỏi những quy tắc vận hành của kinh t ế thị trường nói chung Nó vẫn bao gồm các thành phần kinh tế, tức là các kiểu tố' chức kinh tế, các kiểu quan hệ sản xuất gắn liền với các hình thức sở hữu khác nhau, thậm chí đốì lập nhau, cùng tồn tại trong một cơ cấu kinh
t ế quổíc dân thông nhất Đó là kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế cá thể, tiểu chủ đương nhiên giữa các thành phần kinh tế ấy có sự thông nhất ở mức độ nhất định về lợi ích, nhưng sự cùng tồn tại ấy cũng nói lên sự không đồng nhất của chúng về bản chất kinh tế - xã hội
Trang 12Sự cùng tồn tại của các thành phần kinh tế khác nhau trong nền kinh tế thị trường được biểu hiện cụ thể dưới hình thức các loại hình doanh nghiệp khác nhau được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Các loại hình doanh nghiệp này là những tế bào của nền kinh tế cùng tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, cạnh tranh để tồn tại và phát triển theo những quy luật khắc nghiệt của kinh tế thị trường và cũng là những nhân tố" chính tạo
ra của cải, vật chất cho xã hội, giải phóng sức sản xuất, huy động những tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ ở trong nước và của nước ngoài, tạo nên một nền kinh tế thị trường đầy sức sông Nhưng vì là các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau cùng tồn tại độc lập với nhau, chịu sự chi phôi của các quy luật kinh tế thị trường, nên khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, thiết lập các quan hệ kinh tế dù cô" gắng đến mấy các doanh nghiệp này cũng không thể đạt được sự tương đồng về lợi ích kinh tế Trong quan hệ kinh tế những bất đồng về lợi ích kinh tế dẫn đến tranh chấp kinh tế giữa họ là điều không thể tránh khỏi và là một hiện tượng tất yếu khách quan
Trong một nền kinh tế có nhiều doanh nghiệp, nhưng các doanh nghiệp không được độc lập, tự chủ trong sản xuất kinh doanh, không có các lợi ích kinh tế riêng để phân đâu thì tranh chấp kinh tế cũng rất ít xảy ra và nếu có xảy ra thì tính chất, mức độ tranh chấp cũng không gay gắt Nền kinh tế k ế hoạch hóa tập trung cao độ ở nước ta trước đây chính là một nền kinh tế mà ở
đó các doanh nghiệp được thành lập đều thuộc thành phần kinh tế quốc doanh
Trang 13Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp được tiến hành theo một k ế
hoạch thông nhất của Nhà nước, vì lợi ích chung của Nhà nưđc và không hề
mang lại những lợi ích kinh tế cho chính doanh nghiệp Các doanh nghiệp
không được quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, trong quan hệ hợp đồng
kinh tế giữa các doanh nghiệp tuy có xảy ra tranh chấp, nhưng những tranh
chấp này thực chất chỉ là những khúc mắc trong việc ký kết và thực hiện hợp
đồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp lệnh, các bên tranh chấp không có những lợi
ích riêng là động lực để đấu tranh, bảo vệ và vì vậy tính chất, mức độ của
tranh châp không gay gắt và thường được giải quyết một cách dễ dàng theo
phương pháp mềm dẻo
Trong nền kinh tế thị trường tồn tại các doanh nghiệp thuộc nhiều thành
phần kinh tế khác nhau, các doanh nghiệp này hoàn toàn độc lập với nhau, có
lợi ích kinh tế riêng, được quyền tự do kinh doanh theo pháp luật và bình đẳng
trước pháp luật Doanh nghiệp kinh doanh càng có hiệu quả thì lợi ích kinh tế
của doanh nghiệp càng cao Doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ thì sẽ ảnh hưởng xấu đến lợi ích kinh tế của mình và thậm chí có nguy cơ bị phá sản
Trong quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp mọi hành vi có nguy cơ gây tổn
hại tới lợi ích kinh tế của doanh nghiệp đều có thể dẫn đến tranh chấp kinh tế
và các doanh nghiệp đều cô" gắng đấu tranh để bảo vệ lợi ích kinh tế của
mình, bởi vì lợi ích kinh tế liên quan đến sự sông còn của một doanh nghiệp
Ví dụ :
- Doanh nghiệp nhà nước được thành lập nhằm mục đích thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của Nhà nước giao cho và nhằm phát huy vai trò chủ
đạo của kinh tế quốc doanh trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo
cơ ch ế thị trường Nhưng mỗi doanh nghiệp nhà nước hoạt động trước hết là vì
lợi ích của mình, của tập thể cán bộ, công nhân viên doanh nghiệp đó Trong
cơ chế thị trường doanh nghiệp nhà nước tiến hành kinh doanh và bình đẳng
về quyền và nghĩa vụ như mọi doanh nghiệp khác Doanh nghiệp nhà nước
được Nhà nước trao quyền tự chủ về sản xuất, kinh doanh và tự chịu trách
nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình Hiệu quả kinh doanh sẽ là
thước đo cuối cùng quyết định sự tồn tại hay phá sản cũng như lợi ích kinh tế
Trang 14- 11
-của các thành viên trong doanh nghiệp
- Các doanh nghiệp tập thể (Hợp tác xã) được thành lập xuất phát từ mục đích của Nhà nước ta là phát triển kinh tế tập thể, cùng với kinh tế quốc doanh giữ vai trò nền tảng trong nền kinh tế Nhưng hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tập thể sẽ đem lại lợi ích kinh tế trước hết cho tập thể người lao động trong doanh nghiệp đó
- Các loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty, doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài được thành lập theo chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước ta nhằm khai thác tiềm năng và sức lao động, vốn, công nghệ nhưng các loại hình doanh nghiệp này cũng hoạt động trước hết nhằm đem lại lợi ích kinh tế cho mình Đó có thể là lợi ích của chủ doanh nghiệp tư nhân, của các thành viên góp vốn thành lập công ty, của các bên góp vốn liên doanh hoặc của các nhà kinh doanh nước ngoài khi
bỏ vốn vào đầu tư ở Việt Nam
Những lợi ích kinh t ế này là cụ thể, hoàn toàn khác nhau và luôn gắn
ch ặt vổi lợi ích của một doanh nghiệp cụ thể, không trừu tượng, chung chung Vì lợi ích kinh tế là khác nhau nên trong quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp không thể tránh khỏi những bất đồng về lợi ích kinh tế trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ kinh tế, tất yếu sẽ dẫn đến tranh chấp kinh tế
Thứ hai : Các yếu tô" khách quan tác động vào quá trình sản xuất kinh doanh làm cho các bên trong quan hệ kinh tế không thực hiện được cam kết với nhau dẫn đến phát sinh tranh chấp kinh t ế
Đây là các yếu tô" tác động vào quá trình sản xuất, kinh doanh nằm ngoài sự tính toán và mong muôn của nhà kinh doanh Trong quan hệ kinh tế khi có các yếu tô" này tác động vào thì các cam kết giữa các nhà kinh doanh không thể thực hiện được, nhà kinh doanh chỉ có thể bằng nỗ lực chủ quan tìm cách hạn chế và khắc phục những hậu quả thiệt hại xảy ra mà thôi
Khi tiến hành một hoạt động kinh doanh bao giờ nhà kinh doanh cũng
Trang 15phải tính toán chi tiết, cụ thể các phương án kinh doanh vđi mong muôn đem lại hiệu quả tốt nhất cho mình, hạn chế tôi đa những rủi ro, nhưng không phải bao giờ những tính toán và mong muôn của nhà kinh doanh cũng đạt được trên thực tế, bởi hiệu quả của hoạt động kinh doanh còn chịu ảnh hưởng không nhỏ của các yếu tô" mang tính khách quan chi phôi, như sự biến động về giá cả mộtcách bất thường trên thị trường, sự cạnh tranh của các nhà kinh doanh khác .1
Vì vậy, ở đây cần có sự phân biệt những yếu tô" tác động vào quá trình sản xuất kinh doanh nhưng không làm cản trở đến việc thực hiện các cam kết trong quan hệ kinh tế giữa các nhà kinh doanh mà chỉ làm ảnh hưởng xấu đến lợi ích kinh tế của các nhà kinh doanh nếu họ thực hiện đúng theo cam kết đó, chỉ là những yếu tô" khách quan ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà kinh doanh chứ không phải là những yếu tô" khách quan làm cho nhà kinh doanh không thực hiện được cam kết
Những yếu tô" khách quan làm cho các cam kết giữa các nhà kinh doanh, trong quan hệ kinh tế không thể thực hiện được thông thường đó chỉ là các sự kiện như thiên tai, địch họa,tai nạn bất ngờ, hoặc do người thứ ba gây nên Việc một bên không thực hiện được cam kết sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích kinh tế của bên kia Để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình, bên bị thiệt hại sẽ bằng mọi cách yêu cầu bên gây thiệt hại phải bồi thường cho mình và bên gây thiệt hại cũng tìm mọi cách đưa ra những lý do để làm giẫm bớt trách nhiệm của mình trong việc bồi thường, như vậy tranh chấp kinh tế sẽ xảy ra
Trên thực tế tranh chấp kinh tế do các yếu tô" khách quan gây ra không nhiều nhưng lại thường mang đến những hậu quả rất xấu cho các bên trong quan hệ kinh tế
Thứ ba : Các yếu tố chủ quan từ phía nhà kinh doanh gây nên trong quá trình tiến hành hoạt động kinh doanh dẫn đến tranh chấp kinh t ế
Quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trường mang tính cạnh tranh rất quyết liệt và rất sòng phẳng về lợi ích, rõ ràng về trách nhiệm, đòi hỏi nhà kinh doanh phải có hiểu biết về kinh tế thị trường và pháp luật kinh tế, về đối
Trang 16- 13
-tượng mà mình sẽ thiết lập quan hệ kinh tế, có ý thức tuân thủ pháp luật, tôn trọng các cam kết, tôn trọng quyền và lợi ích của các nhà kinh doanh khác Bên cạnh những nhà kinh doanh đích thực thì cũng còn không ít những nhà kinh doanh thiếu hiểu biết về kinh tế thị trường và pháp luật kinh tế, hoạt động kinh doanh không lành mạnh chỉ nghĩ đến lợi ích kinh tế của mình từ đó thực hiện nhữnh hành vi gian dốì, thiếu trách nhiệm , không thực hiện các nghĩa vụ cam kết trong quan hệ kinh tế Ớ nước ta hiện nay thì những tranh chấp kinh tế do những yếu tô" chủ quan nêu trên gây ra còn khá phổ biến
Chúng tôi xin đưa ra đây một ví dụ :
Ngày 20-09-1995 Công ty thương mại xuất nhập khẩu Tây Ninh (tên giao dịch đôi ngoại là : IM EX TAYNINH) ký hợp đồng mua bán ngoại thương số’45/M G-79 với công ty SAMYANG Co.,Ltd Hàn Quốc mua 5.000 tấn phân bón DAP Hai bên thỏa thuận thời hạn giao hàng tại hợp đồng là cuối tháng 10-1995, phương thức thanh toán L/C, nếu có tranh chấp thì sẽ đưa ra Trung, tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) để giải quyết
Ngày 25-09-1995 Công ty IM EX TAYNINH đã mở L/C số VBA5 008.0670 theo quy định tại hợp đồng cho người bán là Công ty SAMYANG Co.,Ltd Hàn quốc cho phép thời hạn giao hàng chậm nhất là ngày 15-11-1995
Ngày 08-11-1995 Công ty SAMYANG Co.,Ltd Hàn Quốc thông báo không giao được hàng vì trận bão Penang đã làm mất điện ở nhà máy sản xuất phân DAP tại Philippine Đến ngày 15-11-1995 Công ty SAMYANG Co.,LtdHàn Quốc lại thông báo tiếp là chỉ có thể giao hàng từ tháng 01-1996 Ngày 23-11-1995 Công ty IM EX Tây Ninh thông báo yêu cầu thời hạn giao hàng chậm nhất là ngày 15-12-1995 vì quá ngày này thì giây phép nhập khẩu của Công ty hết hiệu lực Công ty SAMYANG Co.,Ltd Hàn Quốc không trả lời Ngày 15-12-1995 Công ty IM EX Tây Ninh đòi Công ty SAMYANG Co.,Ltd Hàn Quốc bồi thường tổn thất do vi phạm hợp đồng, Công ty SAMYANG Co.,Ltd Hàn Quốc từ chối bồi thường với lý do gặp trường hợp bất khả kháng
Ngày 25-01-1996 Công ty IM EX Tây Ninh đã làm đơn khởi kiện công
ty SAMYANG Co., Ltd Hàn Quốc ra trước VIAC và ngày 12-07-1996 ủy ban
Trang 17trọng tài của VIAC đã mở phiến họp xét xử vụ tranh chấp tại chi nhánh của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam tại sô" 171 đường Võ thị Sáu, thành phô" Hồ Chí Minh, sau một ngày làm việc bị đơn đề nghị hoãn xét xử đến ngày 20-08-1996 để chuẩn bị thêm tài liệu Đến ngày 16-08-1996 bị đơn lại xin hoãn xét xử đến ngày 10-09-1996.
Ngày 10-09-1996 phiên họp xét xử được tiếp tục trở lại Tại phiên họp này các chứng cứ, tài liệu chứng minh lỗi của Công ty SAMYANG Co.,Ltd Hàn Quốc đã được làm sáng tỏ Bị đơn không chứng minh được mình đã gặp trường hỢp bất khả kháng do cơn bão Penang xảy ra tại Philippine Bị đơn đưa
ra bản tin trên báo “ The Manila chronicle” ngày 30-10-1995 về cơn bão Penang nhưng không chứng minh được môi quan hệ giữa Công ty này với nhà máy sản xuất phân bón DAP tại Philippine đối với việc thực hiện hợp đồng sô" 45/M G-79 ngày 20-09-1995 Lý do bị đơn không thực hiện hợp đồng thực chất
là do sự biến động về giá cả phân bón DAP không có lợi cho bị đơn Vì vậy, sau khi tính toán thiệt hại thực tế của Công ty IM EX Tây Ninh ủy ban trọng tài của VIAC đã ra phán quyết buộc Công ty SAMYANG Co., Ltd Hàn Quổc phải bồi thường cho Công ty IM EX Tây Ninh số tiền là 40.200ƯSD
Đây là một vụ tranh chấp kinh tế do nguyên nhân chủ quan gây nên Bên vi phạm hợp đồng đã tìm cách chạy trốn trách nhiệm bằng cách đưa ra lý
do gặp trường hợp bất khả kháng
Tranh chấp kinh tế xảy ra, tất yếu phát sinh nhu cầu giải quyết tranh chấp của các nhà kinh doanh Bởi vì, tranh chấp kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích kinh tế của nhà kinh doanh Nó có thể gây ra ách tắc, gián đoạn hoạt động kinh doanh, làm mất uy tín và gây thiệt hại về lợi ích kinh tế cho nhà kinh doanh Việc giải quyết tranh chấp kinh tế được kịp thời và ổn thỏa sẽ giúp cho nhà kinh doanh bảo vệ được lợi ích kinh tế của mình, giải tỏa được những ách tắc, gián đoạn trong kinh doanh Nhà kinh doanh sẽ tránh và hạn chế được những thiệt hại do tranh chấp kinh tế gây ra
Do việc giải quyết tranh chấp kinh tế đôi với nhà kinh doanh có tâm quan trọng như vậy, cho nên khi xảy ra tranh chấp các nhà kinh doanh bao giờ cũng cô" gắng lựa chọn các phương pháp giải quyết tranh chấp tối ưu nhất và thông thường họ luôn tìm cách tự thương lượng, hòa giải với nhau Tuy nhiên
Trang 18không phải bao giờ việc tự thương lượng, hòa giải giữa các nhà kinh doanh cũng đem lại những kết quả như họ mong muôn Trong nhiều trường hợp, do không thông nhất được quan điểm giải quyết tranh chấp, tính chất, mức độ của tranh chấp phức tạp và quyết liệt các nhà kinh doanh không thể tự giải quyết tranh chấp được Họ phải cần tới một “ người thứ b a ” có quyền lực đủ mạnh và
có uy tín đứng ra để giải quyết tranh chấp Mặt khác, tranh chấp kinh tế không chỉ ânh hưởng trực tiếp đến lợi ích kinh tế và hoạt động kinh doanh của cá nhân các nhà kinh doanh mà nó còn tác động xấu đến sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế Vì vậy, Nhà nước nào cũng có sự quan tâm đến việc giải quyết các tranh chấp kinh tế, bằng cách tổ chức ra các cơ quan tài phán kinh
tế dưới các hình thức khác nhau để giải quyết các tranh chấp này nhằm đạt được hai mục tiêu cơ bản là : Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tranh chấp và duy trì trật tự, kỷ cương trong hoạt động kinh doanh, thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển Và như vậy, sự xuất hiện của các cơ quan tài phán kinh tế là do nhu cầu đòi hỏi của các nhà kinh doanh khi có tranh chấp kinh tế xảy ra và xuất phát từ yêu cầu quản lý nền kinh tế của Nhà nước Một cách, khái quát hơn ta có thể nói: Sự xuất hiện của các cơ quan tài phán kinh tế là
do tính khách quan của tranh chấp kinh tế quy định
Tóm lại : Khi tranh chấp kinh t ế là một hiện tượng tất yếu khách
quan thì việc t ể chức ra các cơ quan tài phán kinh t ế để giải quyết tranh chấp kinh t ế cũng trở thành một đòi hỏi khách quan bởi vì, các tranh chấp kinh t ế là các quan hệ kinh t ế của nền kinh t ế hàng hóa, chính sự tồn tại của tran h chấp kinh t ế quyết định sự ra đời của các cơ quan tài phán kinh tế,m ột kiểu t ể chức của kiến trúc thượng tầng trong môi quan hệ biện chứng với cơ sở hạ tầng
1.2 KH ÁI NIỆM TRANH CHẤP KỈNH T Ế
Tranh chấp hiểu dưới góc độ pháp lý là những bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ một quan hệ pháp luật cụ thể Đó
có thể là tranh chấp dân sự, lao động, hành chính, kinh t ế tương ứng với mỗi loại tranh chấp có một thủ tục giải quyết riêng phù hợp với bản chất của chúng
Trang 19Ở nước ta trong một thời gian dài dưới ch ế độ kinh tế k ế hoạch hóa tập
trung cao độ, tranh chấp kinh tế chỉ được hiểu dưới khía cạnh rất hẹp là các
tranh chấp phát sinh từ hợp đồng kinh tế, thể hiện sự bất đồng về quan điểm
giữa các đơn vị kinh tế X ã hội Chủ nghĩa trong việc thực hiện quyền và nghĩa
vụ phát sinh từ quan hệ hợp đồng kinh tế
' Ngày nay trong nền kinh tế thị trường các quan hệ kinh tế trở nên sông
động, đa dạng và phức tạp hơn, nảy sinh giữa các doanh nghiệp thuộc nhiều
thành phần kinh tế khác nhau Mục đích nhằm đạt được lợi nhuận tôi đa đã trở
thành động lực trực tiếp cho các bên thiết lập quan hệ kinh tế với nhau Các
tranh chấp kinh tế đã có sự thay đổi cơ bản Tranh chấp kinh tế không chỉ đơn
thuân là tranh chấp về hợp đồng kinh tế mà còn có nhiều loại tranh chấp khác
phát sinh trong quá trình thiết lập, thực hiện các quan hệ kinh tế
Khái niệm tranh chấp kinh tế là một khái niệm được sử dụng khá rộng
rãi trong ngôn ngữ pháp lý, nhưng đi tìm trong các văn bản pháp luật hiện, hành của Nhà nước ta hiện nay chúng tôi chưa thấy có một định nghĩa chính
thức về tranh chấp kinh tế Khái niệm tranh chấp kinh tế chỉ được liệt kê mà
không định nghĩa tại điều 12 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
ngày 16-03-1994 và điều 1 Nghị định 1 16/CP ngày 05-09-1994 về tổ chức và
hoạt động của trọng tài kinh tế phi chính phủ Theo những văn bản pháp luật
này thì những tranh chấp sau đây được coi là tranh chấp kirih t ế :
1) Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân,
giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh
2) Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các
thành viên của công ty với nhau liên quan đến thành lập, hoạt động, giải thể
công ty
3) Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu
4) Các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp lu ậ t
- Khái niệm hợp đồng kinh tế được định nghĩa tại điều 1 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế hiện hành “ Là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch
giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa,
dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thỏa thuận
Trang 20khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của
mỗi bên để xây dựng và thực hiện k ế hoạch của mình”
Đây là một định nghĩa mang tính chất liệt kê và sử dụng thuật ngữ chưa
rõ ràng, thể hiện ở hai cụm từ “ tài liệu giao dịch kh ác” và “ có mục đích kinh
doanh” Đó là những tài liệu gì và mục đích kinh doanh là điều kiện đôi với cả
hai bên ký kết hợp đồng hay là chỉ cần đối với một bên Từ đây đã dẫn đến
các cách hiểu khác nhau về hợp đồng kinh t ế
v ề chủ thể của quan hệ hợp đồng kinh tế cũng được quy định tại điều 2
Pháp lệnh hợp đồng kinh tê, đó là pháp nhân với pháp nhân hoặc giữa pháp
nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh Theo định nghĩa này thì trong quan
hệ hợp đồng kinh tế ít nhất phải có một bên là pháp nhân với một bên là cá
nhân có đăng ký kinh doanh Đây cũng là một định nghĩa hẹp về chủ thể trong
quan hệ hợp đồng kinh tế, không phù hợp với bản chất của quan hệ hợp đồng
kinh tế trong nền kinh tế thị trường Cũng chính vì quan niệm hẹp như vậy về
thành phần chủ thể của hợp đồng kinh tế mà hiện nay có rất nhiều chủ th ể kinh doanh thiết lập quan hệ kinh tế bằng hợp đồng nhưng không được pháp
luật coi là hợp đồng kinh t ế
Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế, đó có thể là các tranh chấp từ việc
thực hiện các thỏa thuận về thời hạn thực hiện hợp đồng; về giao nhận sản
phẩm, hàng hóa; về chất lượng, chủng loại,quy cách của sấn phẩm, hàng hóa;
về việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán; về các chi phí phát sinh trong quá trình
thực hiện hợp đồng
- Công ty theo pháp luật Việt Nam hiện hành chỉ có hai hình thức là : công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần Đây là các doanh nghiệp
được hình thành do vốn góp của các thành viên tham gia thành lập công ty và
vì vậy họ có quyền lợi và nghĩa vụ đốì với hoạt động kinh doanh của công ty
theo quy định của Luật công ty và điều lệ của mỗi công ty
Các tranh châp giữa công ty với thành viên của công ty đó có thể là các
tranh châp về việc định giá phần vốn góp của mỗi thành viên đôi với công ty
trách nhiệm hữu hạn; về mệnh giá cổ phiếu và sô" cổ phiếu đôi với mỗi công ty
Trang 21cổ phần; về thanh lý tài sản và thanh lý các hợp đồng mà công ty đã ký kết khi giải thể công ty; về các vấn đề khác liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty.
Các tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau cũng được coi
là quan hệ kinh tế Đây có thể là các tranh chấp về trị giá phần vốn góp vào côn£ ty giữa các thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn, hoặc về việc chuyển nhượne phần vôn góp vào công ty của thành viên công ty đó cho người khác không phải là thành viên của công ty; về việc chuyển nhượng cổ phiếu không ghi tên và cố phiếu có ghi tên (của sáng lập viên, của thành viên Hội đồng quản trị) theo quy định của Luật công ty; về quyền được chia lợi nhuận hoặc về nghĩa vụ chịu lỗ, thanh toán nỢ của công ty; về việc thanh lý tài sản, phân chia nợ giữa các thành viên của công ty trong trường hợp công ty giải thể, về các vấn đề khác giữa các thành viên của công ty liên quan đến việc hoạt động, giải thể công ty
- Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu (cổ phiếu, trái phiếu là những chứng khóan dài hạn chuyển nhượng được ) Đây là các tranh chấp về mua bán cổ phiếu, trái phiếu đã phát hành trong thị trường chứng khoán Hiện nay ở V iệt Nam ta chưa có thị trường chứng khoán nhưng những công việc cho sự ra đời của thị trường chứng khoán đang được Nhà nước ta gấp rút tiến hành
- Các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật Trong khi pháp luật hiện hành chưa có quy định gì thêm về tranh chấp kinh tế thì quy định này có thể được hiểu là các tranh chấp trong tương lai khi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật trong đó có quy định đó
là các tranh chấp kinh tế và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Đây là một quy định dự phòng trong kỹ thuật lập pháp
Như vậy, bằng cách dựa vào những quy định của pháp luật tô" tụng kinh
tế và pháp luật tô' tụng trọng tài, cùng những quy định của pháp luật nội dung chúng ta đã tiếp cận được khái niện tranh chấp kinh tế, xác định được những loại tranh chấp nào là tranh chấp kinh tế và các dạng tranh chấp kinh tế cụ thể
Trang 22- 19
-ở mỗi loại tranh chấp kinh tế vấn đề tiếp theo của khái niện tranh chấp kinh
tế mà chúng tôi muôn tiếp tục phân tích để làm sáng tỏ, đó là những đặc điểm của tranh chấp kinh tế
T ran h chấp kinh t ế theo quy định của pháp luật nước ta hiện nay, theo chúng tôi có những đặc điểm cơ bản sau đây:
I
+ Tranh chấp kinh t ế là tranh chấp phát sinh giữa các chủ th ể kinh doanh (doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh) là chủ yếu.
Theo điều 3 Luật công ty và điều 2 Luật doanh nghiệp tư nhân thì
“ Kinh doanh là việc thực hiện một sô"hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư , từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm , hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời”
Pháp luật hiện hành của Nhà nước ta không định nghĩa “ nhà kinh doanh” nhưng từ định nghĩa kinh doanh ta có thể hiểu “ nhà kinh doanh” chính
là người thực hiện các hành vi kinh doanh như đã nói ở trên Họ cũng là các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Chính từ việc nhà kinh doanh thực hiện hành vi kinh doanh mới có thể phát sinh các tranh chấp kinh tế và hành vi kinh doanh của nhà kinh doanh cũng luôn diễn ra trong môi trường kinh doanh, tức là trong mối quan hệ với nhà kinh doanh khác Vì lẽ đó mà tranh chấp kinh tế chủ yếu phát sinh giữa các chủ thể kinh doanh
Tranh chấp kinh tế có thể diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh là pháp nhân với pháp nhân hoặc giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh, hoặc cũng có thể giữa các cá nhân là thành viên của công ty với công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau nhưng nếu là cá nhân thì phải có đầy
đủ năng lực hành vi, tức là những người từ đủ 18 tuổi trở lên và là những người bình thường Những người chưa đủ 18 tuổi, những người bị mất trí, mắc bệnh tâm thần không thể trở thành chủ thể của tranh chấp kinh tế được, bởi vì họ bị hạn ch ế về độ tuổi và trí tuệ cho nên không thể nhận thức được đầy đủ hành vi của mình
Do tranh chấp kinh tế chỉ phát sinh giữa các chủ thể kinh doanh là chủ yếu cho nên phạm, vi chủ thể của tranh chấp kinh tế cũng hẹp hơn phạm vi
Trang 23chủ thể của tranh chấp dân sự Mặt khác, kinh doanh là một hoạt động mang tính nghề nghiệp đặc thù không phải bất kỳ ai cũng có thể tham gia được Hoạt động kinh doanh có ảnh hưởng rất lớn tới đời sông kinh tế - xã hội của đất nước Sự đỗ vỡ của nó có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng hơn nhiều so với cùng một hành vi tương tự trong lĩnh vực dân sự Bởi vậy chỉ những người có đủ những điều kiện theo quy định của pháp luật mới được tiến hành các hoạt động kinh doanh Điều ], điều 6 của Luật doanh nghiệp tư nhân
và điều 1, điều 7 của Luật công ty quy định “Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi
có quyền thành lập doanh nghiệp tư nhân, góp vốn đầu tư hoặc tham gia thành lập công ty Người mất trí, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, hoặc người bị kết án tù mà chưa được xóa án thì không được phép thành lập doanh nghiệp tư nhân - thành lập hoặc quản lý công ty” Tại điều 2 bản quy định ban hành kèm theo Nghị định số 221/HĐBT ngày 23-07-1991 cụ thể hóa Luật doanh nghiệp tư nhân và điều 3 bản quy định ban hành kèm theo Nghị định sô" 222/HĐBT cụ thể hóa Luật công ty còn quy định “ Công chức đang làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước, những người đang giữ các chức vụ trong
bộ máy chính quyền các cấp theo chế độ bầu cử, cán bộ quản lý các liên hiệp
xí nghiệp và xí nghiệp quốc doanh, sĩ quan tại ngũ thuộc Quân đội nhân dân
và Công an nhân dân Việt Nam cũng không được phép thành lập doanh nghiệp tư nhân, thành lập và tham gia quản lý công ty và vì vậy nhìn chung họ cũng không thể là chủ thể của tranh chấp kinh tế được
+ Các chủ th ể của tranh chấp kinh tế có địa vị pháp lý độc lập với nhau :
Đặc điểm này xuất phát chủ yếu từ bản chất của hợp đồng kinh tế - là hợp đồng được ký kết giữa các nhà kinh doanh độc lập và không phụ thuộc nhau
Trong nền kinh tế thị trường các quan hệ kinh tế do các nhà kinh doanh
có địa vị pháp lý độc lập và lợi ích kinh tế khác nhau thiết lập nên trên cơ sở các cam kết, thỏa thuận tại hợp đồng kinh tế Hợp đồng kinh tế chính là quan
hệ trao đổi hàng hóa , dịch vụ hợp pháp mà tất yếu các nhà kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều phải thực hiện, mà tranh chấp kinh tế thì chủ yếu diễn ra trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế
Chính vì chủ thể ký kết hợp đồng kinh tế là các nhà kinh doanh có địa
Trang 24tự ràng buộc các quyền và nghĩa vụ đốì với nhau theo quy định của pháp luật Trên cơ sở, sự ràng buộc các quyền và nghĩa vụ này mà các nhà kinh doanh tiến hành các hành vi kinh doanh Trong quá trình kinh doanh chỉ khi có một bên thực hiện hành vi kinh doanh không đúng theo các cam kết, gây ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của bên kia thì mới có thể phát sinh các tranh chấp Như vậy, tranh chấp kinh tế chỉ phát sinh trong quá trình các nhà kinh doanh tiến hành các hành vi kinh doanh, nếu không có hoạt động kinh doanh của các nhà kinh doanh thì cũng không có tranh chấp kinh tế Nói một cách khác, tranh chấp kinh tế luôn diễn ra ừong môi trường kinh doanh mà ở đó các quan
hệ kinh tế không ngừng phát sinh, tồn tại và phát triển
Ở một số quan hệ kinh tế cụ thể , có thể phát sinh các tranh chấp kinh tế không phải trực tiếp từ hành vi kinh doanh của nhà kinh doanh nhưng trong những trường hợp này thì ữanh chấp kinh tế cũng luôn gắn liền và liên quan chặt chẽ đến hoạt động kinh doanh, không thể có tranh chấp kinh tế tách rời hoạt động kinh doanh
Ví dụ : tranh chấp giữa công ty trách nhiệm hữu hạn với thành viên của công ty về việc định giá phần vốn góp của thành viên đó vào công ty được pháp luật V iệt Nam hiện hành thừa nhận là một tranh chấp kinh tế Tranh chấp này không phát sinh từ việc công ty trách nhiệm hữu hạn thực hiện hành
vi kinh doanh, nhưng nó liên quan chặt chẽ đến hoạt động kinh doanh của công ty, bởi vì việc thành viên của công ty góp vốn vào công ty cũng như việc công ty sử dụng phần vốn góp của thành viên đó đều nhằm mục đích kinh doanh
+ Tranh chấp kinh tế luôn gắn liên với yếu tố tài sản
Trang 25Xem xét nội dung của các tranh chấp kinh tế chúng ta thấy, mọi trường hợp tranh chấp kinh tế đều liên quan đến các quyền và nghĩa vụ về tài sản, dù
đó là các tranh chấp về việc ký kết, thực hiện hợp đồng kinh tế hay là các tranh chấp phát sinh giữa công ty với thành viên của công ty, giữa thành viên của công ty với nhau việc bảo vệ các quyền và nghĩa vụ tài sản trong tranh chấp kinh tế vì thế xét cho cùng cũng là nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế và mục đích kiếm lời - mục đích cao nhất, mục đích cuối cùng của nhà kinh doanh
Những đặc điểm của tranh chấp kinh tế nói trên đã thể hiện được tương đối đầy đủ bản chất của quan hệ kinh tế và tranh chấp kinh t ế Đó là sự phản ánh việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tài sản của nhà kinh doanh trong quan
hệ hàng hóa, tiền tệ Đây cũng là những đặc điểm mà chúng ta không thể không xem xét khi phân biệt giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự, tranh chấp kinh tế và tranh chấp dân sự
Tóm lại : Mặc dù pháp luật hiện hành của Nhà nước ta chỉ mới liệt kê
mà chưa có định nghĩa cụ thể về tranh chấp kinh tế, nhưng với các đặc điểm của tranh chấp kinh tế đã được làm sáng tỏ ở trên, có thể hiểu pháp luật Việt Nam hiện hành coi tranh chấp kinh tế là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, hoặc liên quan chặt chẽ đến hoạt động kinh doanh, những tranh chấp này luôn gắn liền với yếu tố tài sản, chủ thể của tranh chấp kinh tế chủ yếu là các nhà kinh doanh có địa vị pháp lý độc lập với nhau Một cách khái quát hơn ta có thể định nghĩa về tranh chấp kinh tế như sau :
“Tranh chấp kinh t ế là những tranh chấp xảy ra trong hoạt động kinh doanh, hoặc liên quan đến hoạt động kinh doanh, th ể hiện sự bất đồng về quan điểm, sự không thống nhất về lợi ích kinh t ế của các bên vê việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ những quan hệ kinh tế*’.
1.3 TÁC DỤNG CỦA TÀI PHÁN KINH T Ế .
1.3.1.Tài phán kinh tế- công cụ đ ể Nhà nước quản lý liên kinh tế :
Quản lý kinh tế là một chức năng cơ bản của Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Trong Chủ nghĩa X ã hội Nhà nước không những là tổ chức của quyền
Trang 26-lực chính trị, mà còn là chủ sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu, trực tiếp tổ
chức và quản lý nền kinh tế đất nước Nhà nước với bộ máy quyền lực của
mình sẽ sử dụng pháp luật cùng tất cả các biện pháp hữu hiệu nhất tác động
đến nền kinh tế để hạn chế những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, tạo
lập một môi trường kinh doanh lành mạnh cho tất cả các chủ thể kinh doanh
Trong hoạt động kinh doanh việc phát sinh tranh chấp giữa các nhà kinh
doanh là điều không ở đâu và không bao giờ có thể tránh khỏi bởi những lý do
mà chúng tôi đã phân tích ở trên Trong hoàn cảnh như vậy Nhà nước nào
cũng phải đặt ra nhiệm vụ can thiệp ở các mức độ khác nhau và dưới các hình
thức khác nhau vào việc giải quyết các xung đột về lợi ích kinh tế này, bằng
cách tổ chức ra các cơ quan tài phán kinh tế nhân danh quyền lực nhà nước
hoặc quyền lực xã hội để giải quyết tranh chấp, nhằm đạt được hai mục tiêu
cơ bản là : bảo vệ lợi ích chính đáng của các bên tranh chấp và duy trì trật tự,
kỷ cương trong quan hệ kinh doanh, thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển
Hoạt động tài phán kinh tế sẽ là những đóng góp có ý nghĩa đáng kể vào việc
thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Điều này thể hiện ở những điểm cụ thể sau đây :
- Tài phán kinh tế góp phần ổn định các quan hệ kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa Hoạt động giải quyết tranh chấp kinh tế của các
cơ quan tài phán kinh tế là một hình thức tác động vào hoạt động kinh doanh làm cho nó phát triển thuận l ợ i Cùng với các công cụ quản lý khác của Nhà
nước, các cơ quan tài phán kinh tế, bằng hoạt động xét xử giải quyết tranh chấp đã tác động tích cực vào các quan hệ kinh tế thị trường, đảm bảo cho các quan hệ kinh tế này tồn tại và phát triển phù hợp với ý chí và mong muốn của Nhà nước, hướng các hành vi xử sự của các chủ thể kinh doanh vào một trật tự kinh doanh chung đã được pháp luật thiết lập Bằng những phán quyết của mình cơ quan tài phán kinh tế ghi nhận và bảo vệ những lợi ích hợp pháp, quyền tự do kinh doanh và sự bình đẳng trước pháp luật của các nhà kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, góp phần thực hiện chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời, tháo gỡ kịp thời những vướng mắc, gián đoạn trong hoạt động kinh doanh, giúp cho hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường thêm an toàn
Trang 27thuận lợi hơn
Thông qua hoạt động giải quyết tranh chấp kinh tế các cơ quan tài phán
kinh tế còn góp phần giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật cho nhà kinh doanh
khi tiến hành các hoạt động kinh doanh, giúp họ biết cách hạn chế và tránh
được các tranh chấp không đáng có do sự thiếu hiểu biết về pháp luật gây nên
và hợp tác với nhau hơn tronh kinh doanh, đồng thời nghiêm khắc phê phán
các nhà kinh doanh hoạt động kinh doanh không lành mạnh, thiếu ý thức tôn
trọng pháp luật Có thể nói rằng, khi ra một phán quyết để giải quyết tranh
chấp kinh tế, cơ quan tài phán kinh tế đã gián tiếp tuyên bô": lợi ích hợp pháp,
quyền bình đẳng và quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của nhà kinh
doanh luôn được Nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ, không một tổ chức, cá
nhân nào có quyền xâm phạm Bất kỳ một nhà kinh doanh nào cũng không
được phép lợi dụng quyền tự do kinh doanh để tiến hành các hành vi xâm hại
đến lợi ích hợp pháp, quyền bình đẳng và quyền tự do kinh doanh của một nhà
kinh doanh khác Các chủ thể kinh doanh đều phải có trách nhiệm, nghĩa vụ
tôn trọng quyền lợi hợp pháp của nhau, tôn trọng những trật tự chung trong
quan hệ kinh tế đã được pháp luật thiết lập và bảo vệ
13.2 Tài phán kinh tế- công cụ đ ể bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà kinh doanh:
Một nhà kinh doanh khôn ngoan trên thương trường, trên con đường đi
tìm kiếm lợi nhuận phải biết dựa vào pháp luật Cơ quan tàí phán kinh tế
chính là một trong những công cụ không thể thiếu được đối với các nhà kinh
doanh để bảo vệ lợi ích hợp pháp của họ khi xảy ra tranh chấp mà không thể
tự giải quyết được Trong nền kinh tế thị trường non trẻ và còn đầy phức tạp ở
nước ta hiện nay thì điều này càng có ý nghĩa quan trọng, bởi vì hoạt động
kinh doanh của nhà kinh doanh không phải lúc nào cũng thuận buồm, xuôi
gió Sẽ có những lúc quan hệ kinh doanh giữa họ có những bất đồng dẫn đến
tranh chấp về lợi ích kinh tế và khi xảy ra tranh chấp không phải bao giờ các
nhà kinh doanh cũng có thể tự thương lượng, giải quyết ổn thỏa với nhau được
Kinh tế thị trường với lợi ích kinh tế là mục đích cao nhất của nhà kinh doanh
sẽ dẫn đến những tranh chấp gay gắt, quyết liệt Trong những trường hợp như
Trang 28vậy việc tự thương lượng giữa các nhà kinh doanh thường không đạt được mục đích Họ cần phải nhờ tới sự trợ giúp của cơ quan tài phán kinh tế, một loại cơ quan có quyền lực đủ mạnh và uy tín cao để giải quyết dứt điểm tranh chấp, bảo vệ được lợi ích hợp pháp của họ Với ý nghĩa như vậy tài phán kinh tế chính là công cụ cuối cùng mà nhà kinh doanh có thể cần tới để kết thúc tranh chấp bảo vệ lợi ích kinh tế hợp pháp của.mình.
Trang 29CHƯƠNG 2
CÁC HÌNII THỨC TÀI PHÁN KINH T Ế
ở V IỆT NAM HIỆN NAY
2.1 CÁC YẾU TỐ CHI PHỐI BAN c h ấ t v à m ô h ì n h T ổ CHỨC
CHỨC CÁC C ơ QUAN TÀI PHÁN KINH T Ế Ở VIỆT N A M
2.1.1 Sự chi phôi bởi tính chất của tiên kinh tế.
Tínhỉ chất của nền kinh tế được thể hiện ở hai m ặ t Mặt khách quan, đó
là các quan hệ sản xuất hay quan hệ kinh tế đồng nhất về cơ cấu do tính khách
quan của các quy luật kinh tế quy định Mặt chủ quan, đó là cơ chế kinh tế
thể hiện toàn bộ hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người nhằm tác động
vào các quan hệ kinh tế, bao gồm một hệ thông các nguyên tắc, phương pháp
quản lý, hình thức quản lý và tổng thể các chính sách, biện pháp quản lý nền
sản xuất xã hội một cách thông nhất và đồng bộ
Cũng như mọi yếu tô" thuộc kiến trúc thượng tầng khi tính chất của nền
kinh tế thay đổi thì hệ thông các cơ quan tài phán kinh tế cũng phải có sự thay
đổi theo cho phù hợp Điều này đã được Chủ nghĩa Duy vật biện chứng về xã
hội giải thích một cách khoa học từ mốì quan hệ giữa cơ sở kinh tế và các
thiết chế thuộc kiến trúc thượng tầng
Tính chất của nền kinh tế quy định tính chất, cơ cấu tổ chức, thẩm
quyền và thủ tục tô" tụng của cơ quan tài phán kinh t ế
- Trong giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1985 nền kinh tế nước ta là nền kinh tế k ế hoạch hóa tập trung với hai hình thức sở hữu là sở hữu nhà nước và
sở hữu tập thể Nhà nước không thừa nhận sự tồn tại của các hình thức sở hữu
tư nhân Sự vận hành của nền kinh tế được điều chỉnh bằng hàng loạt các chỉ
tiêu pháp lệnh mang tính kế hoạch hóa Sản phẩm, hàng hóa sản xuât ra
không được trao đổi theo quy luật giá trị mà theo kế hoạch của Nhà nước,
thông qua các hợp đồng kinh tế đuỢc ký kết giữa các đơn vị kinh tế Xã hội
Chủ nghĩa ở thời kỳ cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao độ, hợp đồng kinh tê
Trang 30-trở thành một công cụ pháp lý chủ yếu của Nhà nước để quản lý nền kinh tế, đánh giá việc xây dựng và thực hiện k ế hoạch của Nhà nước Việc ký kết hợp đồng kinh tê được pháp luật quy định là một nghĩa vụ bắt buộc đối với các đơn
vị kinh tê Xã hội Chủ nghĩa và là kỷ luật của Nhà nước, bởi vì mọi sự chậm trễ, trì trệ trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế sẽ làm gián đoạn và ảnh hưởng xâu đên việc thực hiện kế hoạch của Nhà nước Trong giai đoạn này giữa các đơn vị kinh tế Xã hội Chủ nghĩa tuy có xảy ra tranh chấp kinh tế nhưng do giữa họ có sự gần gũi và thống nhất với nhau về lợi ích và về cơ bản đều chịu sự k ế hoạch hóa của Nhà nước nên tính chất và mức độ tranh chấp không gay gắt, phức tạp, về thực chất đây chỉ là những vướng mắc, bất đồng quan điểm giữa các đơn vị kinh tế Xã hội Chủ nghĩa trong việc thực hiện kế hoạch của Nhà nước Việc giải quyết tranh chấp kinh tế ở đây là nhằm giúp cho các bên ký kết và thực hiện bằng được hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp lệnh
Trong điều kiện của nền kinh tế như vậy thì việc tổ chức ra cơ quan tài phán kinh tế mang tính chất tư pháp là không cần thiết và không phù hợp, bởi
vì các tranh chấp kinh tế giữa các đơn vị kinh tế Xã hội Chủ nghĩa, cơ quan quản lý nhà nước hoàn toàn có thể tự giải quyết được, trong khi yêu cầu về việc quản lý chế độ hợp đồng kinh tế thì lại được hết sức coi trọng Việc tổ chức ra cơ quan trọng tài kinh tế với tính chất là cơ quan quản lý nhà nước là hoàn toàn phù hợp vì nó đáp ứng được yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp kinh tế, đồng thời lại thực hiện được chức năng quản lý kinh tế trực tiếp bằng việc duy trì, củng c ố chế độ hợp đồng kinh tế, tham gia kiểm tra, đánh giá xét duyệt việc thực hiện k ế hoạch của Nhà nước
+ Nền kinh tế k ế hoạch hóa tập trung là nền kinh tế mà ở đó quản lý nhà nước về kinh tế có sự phân biệt giữa kinh tế trung ương và kinh tế địa phương thành những cơ cấu kinh tế riêng Nền kinh tế bị chia cắt, khép kín và mang nặng lợi ích cục bộ Trung ương lo kinh tế trung ương, địa phương lo kinh tế địa phương và do đó trọng tài kinh tế cũng được tổ chức theo mô hình của kinh tế trung ương và kinh tế địa phương, ở Trung ương có Trọng tài kinh
tế Nhà nước, Trọng tài kinh tê Bộ, Tổng cục ở địa phương có Trọng tài kinh
tế cấp tỉnh và Trọng tài kinh tế cấp huyện Các tổ chức trọng tài này có nhiệm
Trang 31vụ giải quyêt các tranh chấp kinh tế, chủ yếu giữa các đơn vị kinh tế do cấp
mình quản lý
+ Quan hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế Xã hội Chủ nghĩa trong nền
kinh tế k ế hoạch hóa tập trung, được thiết lập trên cơ sở hợp đồng kinh tế
nhằm thực hiện k ế hoạch của Nhà nước và do đó tranh chấp kinh tế thực chất
là tranh chấp trong quan hệ hợp đồng kinh tế Đây cũng là loại tranh chấp
kinh tế duy nhất và mang tính đặc trưng thuộc thẩm quyền giải quyết của
trọng tài kinh t ế
Bên cạnh đó, với vai trò to lớn của hợp đồng kinh tế trong việc thực
hiện k ế hoạch của Nhà nước đã hình thành nên chức năng quản lý kinh tế trực
tiếp của trọng tài kinh tế nhằm duy trì, củng cố chế độ hợp đồng kinh tế và
xác lập thẩm quyền của trọng tài kinh tế trong việc kiểm tra, thanh tra việc
chấp hành chế độ hợp đồng kinh tế, theo dõi và đôn đốc việc thực hiện hợp
đồng kinh tế, kết luận và xử lý các hợp đồng kinh tế trái pháp lu ậ t
+ Do tranh chấp kinh tế giữa các đơn vị kinh tế Xã hội Chủ nghĩa,
không gay gắt, phức tạp, các bên tranh chấp có sự gần gũi thống nhất với nhau
về lợi ích và đều nhằm thực hiện kế hoạch của Nhà nước nên đòi hỏi tố tụng
Trọng tài kinh tế phải thể hiện được phương pháp giải quyết tranh chấp nhanh
gọn và mềm dẻo, không được làm gián đoạn việc thực hiện k ế hoạch của Nhà
nước và làm sao giúp cho các bên tranh chấp hiểu nhau hơn và hợp tác với
nhau chặt chẽ hơn vì mục tiêu chung là hoàn thành k ế hoạch của Nhà nước và
vì vậy thủ tục tô" tụng của Trọng tài kinh tế tuy có những điểm giống như
thủ tục tố" tụng của Tòa án như , xét xử sơ thẩm, xét kháng cáo, giám sát
quyết định trọng tài, nhưng lại không có sự độc lập và mang nặng tính chất
của hoạt động quản lý kinh tế, luôn gắn bó hữu cơ với việc thực hiện ch ế độ
hợp đồng kinh t ế
- Từ năm 1986 Đảng và Nhà nước ta thực hiện đường lối đổi mới về kinh tế, xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, xây dựng
và phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng Xã hội Chủ nghĩa Tính chất của nền kinh tế đã có những thay đổi sâu
Trang 32-sắc so với tính chất của nên kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây
+ Sự xuất hiện của các nhà kinh doanh thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau cùng tiến hành hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường với những lợi ích kinh tế riêng biệt đã làm cho quan hệ kinh tế trở nên phức tạp chứ không còn thuần khiết như trong nền kinh tế k ế hoạch hóa tập trung
và vì vậy khi có tranh chấp kinh tế phát sinh thì tính chất, mức độ của tranh chấp kinh tế nhiều khi trở nên gay gắt quyết liệt và phức tạp vì nó đụng chạm đến quyền lợi thiết thực của mỗi nhà kinh doanh V iệc bảo vệ lợi ích kinh tế cho các nhà kinh doanh đòi hỏi phải được tiến hành một cách nhanh chóng, khách quan và kiên quyết theo pháp luật Lợi ích kinh tế trở thành động lực trực tiếp quyết định việc thiết lập quan hệ kinh tế cũng như nhu cầu, sở thích của các nhà kinh doanh khi phát sinh tranh chấp cần phải giải q u y ết
Với tính chất của tranh chấp kinh tế và nhu cầu của nhà kinh doanh trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế như trên thì sự tồn tại của trọng tài kinh tế như trong nền kinh tế k ế hoạch hóa tập trung không còn phù hợp nữa, bởi vì trọng tài kinh tế khó có thể tiến hành tô" tụng độc lập như một cơ quan tư pháp khi giải quyết tranh chấp, với vị trí là một cơ quan quản lý nhà nước trọng tài kinh tế có thể xét xử không khách quan nghiêng về phía lợi ích của doanh nghiệp nhà nước, phán quyết của trọng tài kinh tế không đủ mạnh đốì với các tranh chấp kinh tế có tính chất, mức độ tranh chấp gay gắt, quyết liệt
Là một loại cơ quan tài phán kinh tế duy nhất, trọng tài kinh tế cũng không đáp ứng được yêu cầu về quyền lựa chọn cơ quan tài phán kinh tế để giải quyết tranh chấp kinh tế theo nhu cầu của nhà kinh doanh Vì vậy việc Nhà nước ta xóa bỏ hệ thông cơ quan Trọng tài kinh tế Nhà nước, thành lập Tòa kinh tế trong hệ thống Tòa án nhân dân đế xét xử các tranh chấp kinh tế và cho phép thành lập các Trung tâm trọng tài kinh tế phi chính phủ là hoàn toàn phù hợp vì nó không chỉ đáp ứng được những đòi hỏi khách quan của tranh chấp kinh tế diễn trong quan hệ kinh tế thị trường mà nó còn đáp ứng được nhu cầu chính đáng của nhà kinh doanh trong việc lựa chọn cơ quan tài phán kinh tế để giải quyết tranh chấp
+ Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ, dù thuộc thành phần kinh tế nào đều được quyền tự do kinh doanh theo pháp luật
Trang 33hoạt động trên một thị trường thống nhất theo quy luật của thị trường và chịu
sự quản lý (chủ yếu bằng pháp luật) của Nhà nước, không có sự chia cắt thị trường thành kinh tế trung ương và kinh tế địa phương Mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương là quan hệ phân cấp quản
lý Nhà nước về kinh tế chứ không phải là sự chia cắt cơ cấu kinh tế Quan hệ kinh tế không bị “đóng khung” theo kế hoạch của Nhà nước như trước đây nữa Các doanh nghiệp hoàn toàn tự do trong việc thiết lập quan hệ kinh tế và
do đó tranh chấp kinh tế có thể phát sinh giữa bất kỳ doanh nghiệp nào và ở nhiều mức độ khác nhau
Với những đặc điếm của quan hệ kinh tế và tranh chấp kinh tế như trên thì không thể tổ chức cơ quan tài phán kinh tế theo cơ cấu kinh tế và theo kiểu phân quyền dựa vào cấp quản lý hành chính - kinh tế như trong nền kinh tế k ế hoạch hóa tập trung được, vì làm như vậy sẽ không đáp ứng được những đòi hỏi khách quan của việc giải quyết tranh chấp kinh tế Yêu cầu đặt ra trong việc tổ chức các loại cơ quan tài phán kinh tế dù là Tòa án hay là trọng tài phi chính phủ cũng phải đảm bảo tôn trọng quyền tự do kinh doanh của nhà kinh doanh, tức là phải dành cho nhà kinh doanh quyền tự do lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế, đồng thời phải tính đến tính phức tạp của tranh chấp kinh tế và chất lượng, hiệu quả thực tế của hoạt động giải quyết tranh chấp, điều này đòi hỏi cơ câu tổ chức của mỗi loại cơ quan tài phán kinh tế cần có sự tập trung và mang tính chuyên môn hóa cao, hạn ch ế tối đa các yếu tố cục bộ trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế Sự tồn tại hoạt động của các tổ chức trọng tài phi chính phủ cần được thừa nhận là những thực thể khách quan tất yếu, xuất hiện do sự đòi hỏi của tranh chấp kinh tế trong nền kinh tế thị trường, từ đó có biện pháp tác động thích hợp chứ không nên gò ép tổ chức theo kiểu hành chính
+ Quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng về chủng loại
và do đó tranh chấp kinh tế không chỉ là tranh chấp về hợp đồng kinh tế mà còn có nhiều loại tranh chấp kinh tế khác xuất hiện như : tranh chấp giữa công
ty với thành viên của công ty, tranh chấp trong mua bán chứng khoán và vì vậy việc quy định thẩm quyền của cơ quan tài phán kinh tế cũng phải được
mở rộng theo hướng bao quát được các tranh chấp kinh tế phổ biến phát sinh
Trang 34- 31
-trong nền kinh tế thị trường
+ Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường rất khẩn trương và
năng động, quan hệ kinh tế giữa các nhà kinh doanh là dân chủ và bình đẳng,
lợi ích kinh tê luôn được đặt lên hàng đầu Những đặc điểm này đòi hỏi việc
xác lập các thủ tục tố tụng, dù là tô" tụng Tòa án hay là tô" tụng Trọng tài cũng
phải đảm bảo thể hiện sự nhanh gọn, thuận tiện, dân chủ và bình đẳng trong
quá trình giải quyết tranh chấp, giữ được uy tín, bí mật nghề nghiệp của nhà
kinh doanh, bảo vệ kịp thời và có hiệu quả quyền lợi chính đáng của nhà kinh
doanh bị vi phạm
- Cùng tồn tại với hệ thống cơ quan Trọng tài kinh tế Nhà nước có nhiệm vụ giải quyết các tranh châp hợp đồng kinh tế phát sinh giữa các đơn vị
kinh tế X ã hội Chủ nghĩa ở trong nước, thì ở V iệt Nam trong thời kỳ từ năm
1964 đến năm 1993 còn tồn tại hai loại cơ quan trọng tài phi chính phủ được
thành lập bên cạnh Phòng thương mại Việt Nam, đó là Hội đồng trọng tài
ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải Các tổ chức trọng tài này có
nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài, liên quan
đến việc mua bán, vận chuyển hàng hóa bằng đường biển và giao thông vận
tải đường biển, trong đó ít nhất một bên tranh chấp phải là cá nhân, pháp nhân
nước ngoài mà chủ yếu là các tổ chức kinh tế của các nước X ã hội Chủ nghĩa
ở Đông Âu và Liên Xô cũ
Sự tồn tại của hai hội đồng trọng tài này ở thời kỳ kinh tế k ế hoạch hóa
tập trung , chỉ vì một lý do chủ yếu là nhằm giải quyết những tranh chấp trong
quan hệ kinh tế quốc tế giữa nước ta với các nước X ã hội Chủ nghĩa anh em
trên cơ sở những hiệp định hợp tác và tương trợ kinh tế mà ở đó việc buôn
bán, trao đổi hàng hóa không phản ánh đúng giá trị, không thuần tuý xuất phát
từ lợi ích kinh tế và luôn chứa đựng yếu tô" chính trị Quan hệ kinh tế giữa
nước ta với các nước không phải là Xã hội Chủ nghĩa hầu như đã bị phong tỏa,
ngăn cách do sự cấm vận của Mỹ Các tranh chấp kinh tế tuy có xảy ra nhưng
hầu hết được giải quyết bằng thương lượng, trên tinh thần hợp tác, hữu nghị
giữa các nước Xã hội Chủ nghĩa anh em V iệc bảo vệ và đòi quyền lợi kinh tê
không phải là mục đích cuối cùng và cao nhất của việc giải quyết tranh châp
Trang 35Trong điều kiện đó hoạt động của hai Hội đồng trọng tài ngoại thương và hàng hải không thực sự cân thiết Điều này lý giải vì sao trong 30 năm qua cả hai Hội đồng trọng tài này chỉ giải quyết một sô" lượng rất nhỏ các vụ tranh châp trong quan hệ kinh tế quốc tế và ít khi phải đưa ra các phán quyết trọng tài
Bước sang thời kỳ đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường, với chủ trương mở rộng giao lưu buôn bán, hợp tác kinh tế với tất cả các nước trên thế giới không phân biệt ch ế độ chính trị, kinh tế, nước ta đã có quan hệ kinh tế với rất nhiều nước trên thế giới Với một nền kinh tế mở như vậy thì các tranh chấp trong quan hệ kinh tế quốc tế sẽ ngày càng đa dạng và phức tạp hơn nhiều so với trước đây, đòi hỏi Nhà nước phải kịp thời kiện tòan tổ chức và hoạt động của hai Hội đồng trọng tài ngoại thương và hàng hải, để nâng cao chất lượng, hiệu quảviệc giải quyết tranh chấp đáp ứng những đòi hỏi khách quan của quan hệ kinh tế quốc tế trong thời kỳ “mở cửa” Từ đó góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc tế giữa nước ta với các nước trên thế giới ngày càng phát triển
2.1.2 Sự ảnh hưởng của các nhân tô'nước ngòai.
Nền kinh tế k ế hoạch hóa tập trung cao độ với hai hình thức sở hữu là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể cùng cơ chế quản lý hành chính, quan liêu, bao cấp ở Liên Xô cũ đã khai sinh ra hệ thông cơ quan Trọng tài kinh tế Nhà nước và ở thời kỳ ấy đường lối phát triển nền kinh tế là nhất quán ở các nước
Xã hội Chủ nghĩa Chính mô hình tổ chức trọng tài kinh tế ở Liên Xô đã chi phôi trực tiếp đến việc tổ chức hệ thông trọng tài kinh tế ở Việt Nam v ề cơ bản Trọng tài kinh tế Nhà nước ở Việt Nam những năm vừa qua là sự sao chép gần như nguyên bản, từ cách thức tổ chức đến việc quy định về thẩm quyền và tô" tụng của trọng tài kinh t ế
V iệc tổ chức các cơ quan tài phán kinh tế ở nước ta hiện nay ngoài những đòi hỏi khách quan của nền kinh tế, còn chịu ảnh hưởng nhất định của yếu tô" nước ngoài Chúng ta không thể không học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm
về tổ chức cơ quan tài phán kinh tế của các nước trên thế giới, đặc biệt là ở
Trang 36- 33
-các nước có nền kinh tê thị trường phát triển Chúng ta cũng không thể không tính đến yếu tô" hòa nhập trong quan hệ kinh tế quốc tế khi xây dựng một nền kinh tế thị trường theo cơ chế mở
Sự ảnh hưởng này thể hiện rõ ở những điểm cơ bản sau đây :
Thứ n h ấ t : Mô hình tổ chức Trọng tài phi chính phủ ở nước ta hiện nay
là phổ biến, không chỉ giới hạn ở một vài quốc gia, một khu vực, một châu lục
mà có ở khắp các nước trên thế giới Hơn nữa, đây còn là một hình thức tài phán kinh tê được các nhà kinh doanh trên thế giới rất ưa chuộng bởi tính đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, kín đáo và rẻ tiền Chính vì vậy, trọng tài phi chính phủ là một hình thức tài phán kinh tế chiếm một vị trí quan trọng trên thương trường quốc tế, được nhiều quốc gia hết sức quan tâm Đã có nhiều hiệp định về trọng tài thương mại được ký kết giữa các quốc gia như : Hiệp định Châu Âu ngày 21-04-1961, Công ước NewYork 1958 về công nhận và thi hành các quyết định của trọng tài nước ngoài tạo nên những điều kiện thuận lợi và mang lại hiệu quả cao cho việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phi chính phủ
Điểm qua ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển n hư : Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển, Nhật Bản đều có tể chức loại hình trọng tài phi chính phủ để giải quyết các tranh chấp thương m ạ i
Các nước trong khu vực Đông Nam Á như Thailand, Singapore, Malaysia, Philippine, mặc dù mỗi nước có một đặc thù riêng về kinh tế, chính trị, xã hội nhưng ở các nước này đều có thiết lập trọng tài phi chính phủ để giải quyết các tranh chấp kinh tế và hoạt động theo thông lệ chung của trọng tài phi chính phủ trên thế giới
Sự khác nhau cơ bản giữa nước ta với nhiều nước có nền kinh tế thị trường phát triển là chúng ta không tổ chức trọng tài theo vụ việc (ad - hoc)
Thứ h a i : Mô hình trọng tài phi chính phủ và cơ quan tài phán kinh tế tư pháp tồn tại song song với nhau, cùng có nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp kinh tế mà nước ta đang áp dụng cũng là mô hình phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường Các nước này đều tổ chức hai hệ thông cơ quan tài phán
Trang 37kinh tê là các cơ quan tài phán tư pháp (Tòa án thương mại hoặc Tòa án thường) để giải quyết các tranh chấp kinh tế theo thủ tục tô" tụng dân sự và các
cơ quan trọng tài phi chính phủ để giải quyết các tranh chấp kinh tế theo thủ tục tố tụng trọng tài Nhà nước luôn bảo đảm nguyên tắc tự do lựa chọn cơ quan tài phán kinh tế của các bên tranh chấp, tức là nơi và người đứng ra giải quyết tranh chấp phụ thuộc vào sự lựa chọn của các bên tranh chấp
Ví dụ : Pháp và Đức là hai nước tiêu biểu cho hệ thông pháp luật Châu
Âu lục địa có nhiều điểm căn bản giông nhau, đều tổ chức hai hệ thống, trọng tài phi chính phủ và Tòa án thương mại cùng tôn tại song song với nhau để giải quyết các tranh chấp thương m ạ i
Thứ ba : Việc hợp nhất Hội đồng trọng tài ngoại thương và hàng hải thành Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam theo Quyết định số 204/TTg ngày 28-04-1993 của Thủ tướng Chính phủ và tiếp tục duy trì tổ chức này bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam cũng là một việc làm hợp với thông lệ quốc tế Nhiều nước có nền kinh tế thị trường phát triển cũng có thành lập các trung tâm trọng tài quôc tế để giải quyết các tranh chấp kinh tế quốc tế như : Tòa án trọng tài quốc tế Paris đặt bên cạnh Phòng thương mại quốc tế Paris, Tòa án trọng tài quốc tế đặt bên cạnh Phòng thương mại London, Trọng tài thương mại Stockholm chỉ trừ những nước có phát triển cao về hàng hải mới thành lập riêng trọng tài hàng hải
Thứ tư : Quy tắc tô" tụng của Trung tâm trọng tài quốc tế và của các Trung tâm trọng tài kinh tế Việt Nam về cơ bản là sự tiếp thu có chọn lọc Bản quy tắc tô" tụng UNCITRAL (ủy ban về Luật thương mại quốc tế của Liên Hợp quốc thông qua ngày 28-04-1976) Đây là Bản quy tắc tô' tụng được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trên thế g iớ i
2.1.3.Sự ảnh hưởng bởi yếu tốtruỳên thống dân tộc.
Vấn đề tổ chức cơ quan tài phán kinh tế mang tính chất tư pháp ở nước
ta hiện nay như thế nào cũng chịu ảnh hưởng một phần bởi yếu tô" truyền thống dân tộc
Trang 38-Nhìn chung ở các nước có nền kinh tế thị trường không có sự phân biệt giữa Tòa dân sự và Tòa kinh tế Một số nước có Tòa thương mại cũng chỉ áp dụng thủ tục tô" tụng dân sự khi giải quyết tranh chấp kinh tế, như : Cộng hòa Pháp và Cộng hòa Liên bang Đức, nhưng có một số thủ tục đặc thù riêng
Yếu tô" truyền thông dẫn đến Nhà nước ta tổ chức Tòa kinh tế độc lập với Tòa dân sự trong hệ thông Tòa án nhân dân, đó là việc ông cha ta từ bao đời nay vẫn có sự phân biệt rạch ròi các việc dân sự với các việc thương sự và chính vì thế các việc này luôn được điều chỉnh bằng pháp luật riêng Thời thuộc Pháp nước ta có các bộ luật dân sự và bộ luật thương mại ở các miền khác nhau Chế độ Việt Nam Cộng hòa thời thuộc Mỹ cũng ban hành bộ luật dân sự và bộ luật thương mại thành hai bộ luật riêng rẽ Ở miền Bắc chúng ta tuy chưa có các bộ luật đồ sộ như vậy nhưng suốt thời kỳ vừa kháng chiến chông Mỹ vừa xây dựng Chủ nghĩa Xã hội, những lĩnh vực sinh hoạt dân sự và hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn luôn được điều chỉnh riêng bằng luật dân
sự và luật kinh tế với những phương pháp tác động khác nhau Sự phân biệt này là rất rõ nét, không những đã được pháp luật hiện hành ghi nhận mà còn được cơ cấu nhà nước bảo hộ về mặt pháp luật, thể hiện cụ thể ở việc Nhà nước ta đã ban hành hai pháp lệnh về hai loại hợp đồng khác nhau (Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 và Pháp lệnh hợp đồng Dân sự năm 1991) Thiết lập hệ thống Trọng tài kinh tế Nhà nước để giải quyết các tranh chấp kinh tế, độc lập với hoạt động giải quyết tranh chấp dân sự của Tòa án nhân dân trong nền kinh tế k ế hoạch hóa trước đây và ngày nay sự phân biệt ấy lại tiếp tục được khẳng định bằng việc Nhà nước ta thành lập các Tòa kinh tế chuyên trách trong Tòa án Nhân dân cấp tỉnh và Tòa án Nhân dân tối cao để xét xử các tranh chấp kinh tế
Tóm lại : Tính chất, cơ cấu tổ chức, thẩm quyền và thủ tục tô" tụng của các cơ quan tài phán kinh tế như thế nào là phụ thuộc chủ yếu vào tính chất của tranh chấp kinh tế mà suy cho cùng là phụ thuộc vào tính chất của nền kinh tế trong từng thời kỳ lịch sử và biểu hiện tập trung ở cơ chế quản lý kinh
tế Bên cạnh đó việc tổ chức các cơ quan tài phán kinh tế còn chịu ảnh hưởng một phần bởi yếu tô" truyền thông dân tộc và cần phải tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm tổ chức, hoạt động của các cơ quan tài phán kinh tế ở các nước
Trang 39trên thê giới, đặc biệt là ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển, để
từ đó vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay mà vẫn đảm bảo được sự hòa nhập cao trong quan
hệ kinh tế quốc tế cũng là những yếu tố không kém phần quan trọng Đây chính là những lý do cơ bản dẫn đến việc Nhà nước ta xóa bỏ hệ thông cơ quan Trọng tài kinh tế Nhà nước, thành lập Tòa kinh tế trong hệ thông Tòa án nhân dân, cho phép thành lập các Trung tâm trọng tài kinh tế phi chính phủ và hợp nhất Hội đồng trọng tài ngoại thương và hàng hải thành Trung tâm trọng tài quốc tế
2.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA TÀI PHÁN KINH T Ế NÓI CHUNG.
Các cơ quan tài phán kinh tế ở các nước trên thế giới dù được tổ chức dưới hình thức một cơ quan tài phán kinh tế mang tính chất tư pháp hay là một
cơ quan trọng tài phi chính phủ cũng đều có những đặc điểm chung nhất sau đây :
- Có bên thứ ba ngoài đương sự quyết định vấn đê vì các bên tranh chấp không tự thương lượng, hòa giải được tranh chấp kinh tế phát sinh. Trong trường hợp này họ phải nhờ đến sự giúp đỡ của các cơ quan tài phán kinh tế, tức là ”người thứ b a ” đứng ra làm trung gian để giải quyết tranh chấp giữa họ
Đó có thể là Tòa án hoặc trọng tài phi chính phủ, tùy theo sự lựa chọn của các bên tranh chấp
Trong các quan hệ tô" tụng giữa cơ quan tài phán kinh tế với các bên tranh chấp thì các bên tranh chấp là các đương sự (nguyên đơn , bị đơn) còn cơ quan tài phán kinh tế là “ người thứ ba ” đứng ra để giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của họ
- Sự quyết định của cơ quan tài phán kinh tế luôn có tính chất quyên lực
Nếu cơ quan tài phán kinh tế là Tòa án thì quyền lực đó được thiết lập bởi pháp luật, mang tính chất Nhà nước và được thực hiện thông qua hội đồng xét
xử Nếu cơ quan tài phán kinh tế là trọng tài phi chính phủ thì quyền lực đó được thiết lập bởi chính sự thừa nhận của Nhà nước, sự thừa nhận và yêu câu
Trang 40- 37
-của các bên tranh chấp, mang tính chất là quyền lực xã hội được thực hiện
thông qua hoạt động giải quyết tranh chấp của các trọng tài viên
- Các quyết định của cơ quan tài phán kinh tế luôn được đảm bảo cuỡng
c h ế thi hành
Vì mang tính quyền lực (dù đó là quyền lực nhà nước hay quyền lực xã
hội), nên quyết định của cơ quan tài phán kinh tế luôn có tính chất ràng buộc
đôi với các bên tranh chấp Hành vi không tuân thủ những quyết định của cơ
quan tài phán kinh tế vì thế xét cho cùng chính là hành vi chống đối lại Nhà
nước và xã hội Chính vì vậy Nhà nước luôn thiết lập một cơ chế đảm bảo thi
hành các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp của cơ quan tài phán kinh
tê bằng sức mạnh cưỡng chế của mình nếu các bên đương sự không tự nguyện
thi hành Đây là biện pháp cần thiết để khôi phục quyền lợi kinh tế hợp pháp
của bên bị vi phạm, giữ gìn sự ổn định, lành mạnh trong hoạt động kinh
doanh, thể hiện thái độ nghiêm khắc của Nhà nước và xã hội đối với những
nhà kinh doanh không có ý thức tôn trọng pháp luật, trật tự kỷ cương trong
hoạt động kinh doanh Các quyết định giải quyết tranh chấp của cơ quan tài
phán kinh tế mang tính chất tư pháp (Tòa án) luôn được Nhà nước bảo đảm thi
hành Nhà nước tổ chức một bộ máy để thi hành các quyết định này và thông
thường đó là các cơ quan thi hành án dân sự Còn đối với các quyết định của
cơ quan tài phán kinh tế là trọng tài phi chính phủ ở hầu hết các nước đều có
ghi nhận và đảm bảo cưỡng chế thông qua bộ máy cưỡng ch ế của Nhà nước
sau khi đã kiểm tra, xem xét tính hợp pháp của quyết định trọng tài
Ở V iệt Nam ta, đặc điểm này chưa được thể hiện rõ ràng Cho đến nay
Nhà nước ta chưa có quy định về cơ chê cưỡng ch ế đối với các quyết định của
trọng tài phi chính phủ
2.3 CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA TÀI PHÁN KINH T Ế BẰNG t ò a á n ở
VIỆT NAM H IỆN N A Y.
Cơ quan tài phán tư pháp giải quyết tranh chấp kinh tế ở V iệt Nam hiện
nay là Tòa kinh tế được thành lập trong hệ thông Tòa án nhân dân theo Luật
sửa đổi bổ sung một sô" điều của Luật tổ chức Tòa án nhân dân được Quôc hội
khóa IX kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 28-12-1993 Đặc điểm của cơ quan tài