1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của pháp luật trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường

208 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 23,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn lại quá trình cải cách kinh tế ở nước ta, càng cho thấy rằng không thể tách rời cải cách kinh tế với cải cách pháp luật và mỗi một thành công của quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế

Trang 2

Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VẤN QUỔC GIA

VIỆN NGHIÊN CỨU NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT ■ ■

ĐỖ NGỌC THỊNH

VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH CHUYÊN Đổl NỀN KỈNH TÊ KẾ HOẠCH HOÁ, TẬP TRUNG, BAO CẤP

SANG NỀN KINH TÊ THI TRƯỜNG

CHUYỀN NGÀNH : LÝ LUẬN NHÀ N ư ớ c VÀ THÁP LUẬT

MÃ SỐ : 50501

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Nguời hướng dán khoa hạc: P G S TS TRÁN TRỌNG Hựu

GS - TS HOÀNG VĂN HÀO

THỮ Ví ÉN .

■ II ■ ~ —

HÀ NỘI - N Ả M 2000

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sỏ

liệu, kết quả ncu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố

trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giá luận án

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

L Ò I N Ó I Đ Ẩ U 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VÁN ĐỀ LÝ LUẬN VẾ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỎI NỂN k i n h t ế ỏ n ư ớ c t a 10

1.1 Cơ SỞ lý luận về vai trò của pháp luật đối với sự phát triển kinh tế

>1.1.1 Một số đặc điểm khái quát của pháp luậl 10

1.1.2 Vai trò của pháp luật đối với sự phát triển kinh tế 18

1.1.3 Sự quy định của kinh tê đối với pháp luật 30

1.2 Sự thay đổi vai trò của pháp luật trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tê ở nước ta 38

1.2.1 Vị trí vai trò của pháp iuật trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung - bao cấp ở nước la 38

1.2.2 Đặc điểm của quá trình chuyển đổi nền kinh tế ử nước ta 48

1.2.3 Sự đổi mới vai trò của pháp luật trong quá trình cải cách kinh tế ở nước ta

CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG VỂ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH KINH TẾ Ỏ N ư ớ c TA 7 5 2.1 Thực trạng vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ kinh tế mới 76

2.1.1 Vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ sở hữu 76

2.1.2 Vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh một số loại hình thị trường ở Việt Nam 80

2.1.3 Vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh và xác lập địa vị pháp lý của các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tê thị trường Việt Nam 91

2.1.4 Vai trò pháp luật về hợp đồng kinh tế 104

Trang 5

2.2 Vai trò của pháp luật trong việc củng cô và bảo vệ các

quan hệ kinh tế trong nển kinh tẽ thị trường 10'

2-2.1 Sự đảm bảo pháp luật đôi với các quan hệ sở hữu ở nước t a 1082-2.2 Sự bảo vệ của pháp luật đôi với các quyền và lợi ích của các

chủ thể trong các quan hệ kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay 1112.2.3 Sự điều chỉnh pháp luật đối với việc giải quyết các tranh

chấp kinh tế 114

2.2.4 Thực trạng sự điều chỉnh pháp luậl đối với việc xác định và

tuyên bồ phá sản doanh nghiệp ở nước ta 120

2.3 Thực trạng vai trò của pháp luật trong quá trình hội

nhập quốc tê của nén kinh tế nước ta 123

2.3.1 Vai trò thể chế hóa các đường lối chủ trương chính sách của

Đảng và Nhà nước Ihành pháp luật trong lĩnh vực mở cửa vàhội nhập kinh tế 1252.3.2 Vai trò tạo lập cơ sở pháp lý, thu hút đầu tư nước ngoài 1272.3.3 Chuyển hóa các quy phạm điều ước quốc tế vào pháp luật

quốc gia Irong quá trình hội nhập và hợp tác kinh tế quốc tế

ở Việt Nam 133

CHƯƠNG 3 TÀNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NÊN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA 141 3.1 Sự cần thiết đổi mới pháp luật trong quá trình cải cách

cơ ché kinh tê 141 3.2 Hoàn thiện các cơ sở pháp luật đôi với sự phát triển

kinh tẻ thị trường 146

3.2.1 Pháp luật nước ta phải thể chế hóa được các vấn đề có tính

quy luật của các quan hệ kinh tế thị trường 1473.2.2 Cần thiết phải pháp luật hóa mối quan hệ qua lại giữa 3 yếu

tô cơ bản của kinh tế thị trường trong điều kiện cụ thể ở nước ta: Nhà nước - thị trường và dơanh nghiệp 1483.2.3 Tự do kinh doanh là điều kiện đầu tiên và cư bản quyết định

bản chất của thị trường 148

Trang 6

3.2.4 Tính đặc thù của kinh tê thị trường trong điều kiện lịch sử

cụ thể ở nước ta khác với nền kinh tế thị trường đang tồn

tại ở nhiều nước trên thế giới là chúng ta chủ trương một

nền kinh tế thị trưởng xã hội chủ nghĩa 149

3.2.5 Nền kinh tế thị trường ở nước ta đang trong quá trình hội

nhập mạnh mẽ vào kinh tế khu vực và kinh tế thê giới trước

xu thế toàn cầu hóa 150

3.3 Hoàn thiện các quy định pháp luật trong một sô ngành

luật liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội

3.3.1 Hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực chính sách xã hội của

Nhà nước 160

3.3.2 Hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực hành chính Nhà nước 165

3.3.3 Hoàn thiện pháp luật hình sự 167

3.4 Táng cường các biện pháp đưa pháp luật vào thực tiễn

đời sông kinh tế - xã hội 170

3.4.1 Tăng cường công tác phổ biến tuycn truyền giáo dục pháp

luật cho các nhà doanh nghiệp và tất cả các đối tượng tham

gia vào các quá trình kinh tê

3.4.2 Hoàn thiện các biện pháp kiểm soát, kiểm tra hoạt động

tuân theo pháp luật của các doanh nghiệp trong cơ chế kinh

tế thị trường ở nước ta 173

3.4.3 Nâng cao vai trò, hiệu quả của các cơ quan tài phán kinh tế,

đảm bảo việc thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật trong các

hoạt động kinh tế 176

KẾT L U Ậ N , 181 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC I

PHỤ LỤC II

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công cuộc cải cách kinh tê do Đảng chủ trương từ năm 1986 đã đưa đất nước ta vào một giai đoạn phát triển mới với việc xóa bỏ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung - bao cấp, từng bước chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đất nước đã và đang trải qua một thời kỳ chuyển đổi cơ chê kinh tê với biết bao bước phát triển đầy khó khăn, phức tạp, phải đối mặt và giải quyết nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn luôn đặt ra trong quá trình thực hiện các biện pháp cải cách kinh tế - xã hội Mỗi một bước đi trong quá trình cải cách là một bước đổi mới tư duy trong lĩnh vực tư duy kinh tế và trong mọi lĩnh vực của nhận thức xã hội, trong đó có tư duy pháp lý Đã một thời do tính chất của nền kinh tế kê hoạch hóa tập trung - bao cấp, các quan hộ kinh tế

bị hành chính hóa cao độ, pháp luật không xác định được vị trí và chỗ đứng của mình trong đời sống kinh tê mà cả trong tư duy, nhận thức của các nhà quản lý kinh tế của các tầng lớp xã hội Pháp luật được nhắc tới như một phạm trù không

có nội dung kinh tế, chỉ thuần túy là những quy định của tổ chức quyền lực hay các quy định về tội phạm và hình phạt Sự mờ nhạt vai trò của pháp luật trong đời sống kinh tế là một tất yếu khách quan, khi mà nền kinh tế được tổ chức và vận hành trên cơ sở các nguyên tắc và biện pháp hành chính Một thời đã qua, nhưng không phải không để lại các dấu ấn tiêu cực của mình trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế xã hội theo đường lối đổi mới của Đảng ta Mỗi một bước chuyển đổi cơ chế kinh tế là một bước phải giải quyết các vấn đề pháp lý

và cũng là một bước đổi mới cách nhìn, quan niệm của chúng ta về các giá trị và vai trò to lớn của pháp luật trong đời sống kinh tế đất nước

Như một điều hiển nhiên và cơ bản đã được khẳng định trong lý luận và thực tiễn vận hành cơ chế kinh tế thị trường ở các nước có nền kinh tế thị trường

Trang 8

phát triển, pháp luật đã và luôn là một bộ phận hữu cơ của cơ chế kinh tế thị trường và là một yếu tố không thể thay thế để điều chỉnh các quan hệ kinh tế thị trường Thực tiễn cải cách kinh tế ở nhiều nước cho thấy, sự thành bại của các biện pháp cải cách kinh tế lệ thuộc rất nhiều ở việc xác iập chế độ pháp lý và cải cách pháp luật Nhìn lại quá trình cải cách kinh tế ở nước ta, càng cho thấy rằng không thể tách rời cải cách kinh tế với cải cách pháp luật và mỗi một thành công của quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế ở nước ta đều gắn liền với vai trò ngày càng gia tăng của pháp luật, với những thay đổi sâu sắc diễn ra trong hệ thống pháp luật nói riêng và đời sống pháp lý nói chung.

Tuy nhiên không phải lúc nào những cải cách pháp luật cũng theo kịp các bước phát triển của cải cách kinh tế, tư duy pháp lý cũng theo kịp tư duy kinh tế Mười mấy năm qua, Nhà nước ta đã căn bản hình thành được một hệ thống pháp luật mới, tạo lập được môi trường pháp lý khá thuận lợi cho quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng

xằ hội chủ nghĩa Nhưng so với nhu cầu phát triển kinh tê đất nưóc, hệ thống pháp luật này vẫn đang đặt ra khá nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần được hoàn thiện

Đã đến lúc phải hoàn chỉnh quan điểm kinh tế và các quan điểm pháp lý, trên cơ sở đó xây dựng một chiến lược phát triển pháp luật (từ xây dựng các đạo luật, các văn bản dưới luật đến việc tổ chức thực hiện pháp luật) cho sự phát triển kinh tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền Nhu cầu này đặt ra cho công tác nghiên cứu lý luận trong lĩnh vực pháp lý hàng loạt các vấn đề phải đi sâu nghiên cứu Khoa học pháp lý trước nhu cầu xây dựng và phát triển của kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang cần thiết phải triển khai nghiên cứu c ơ bản và nghiên cứu ứng dụng các vấn đề pháp luật, hình thành vững chắc tư duy pháp lý mới, xây dựng được một hệ thống các quan điểm lý luận pháp luật phù hợp với đường lối phát triển kinh tế xã hội của Đảng,

Trang 9

góp phần xây dựng một đời sống pháp luật dân chú, lành mạnh trong đó mỗi người, mỗ; tổ chức, đơn vị kinh tế đều sống và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật Trong hàng loạt các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý ấy, vấn đề vị trí, vai trò, các giá trị của pháp luật trong quan hệ với đời sống kinh tế đang nổi lên như một vấn đề mang tính lý luận cấp thiết mà còn mang tính thực tiễn đòi hỏi phải được nghiên cứu cơ bản, tạo cơ sở để hình thành một tư duy pháp lý mới, góp phần xây dựng và hoàn thiện cả hệ thống pháp luật kinh tê điều chỉnh các quan hệ kinh tế trong cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Do vậy, đề tài: "Vai trò của pháp luật trong quá trình chuyển đổi nén

kinh tẻ kê hoạch hóa, tập trung, bao cấp sang nén kinh tê thị trường" ở nước

ta là một vấn đề có tính cấp thiết cả trên phương diện lý luận và thực tiễn, cần được xác định nghiên cứu cơ bản trong giai đoạn hiện nay

2 Tinh hình nghiên cứu đẻ tài

Các vấn đề lý luận về vai trò của pháp luật trong đời sống kinh tế, về mối quan hệ giữa pháp luật và kinh tế, về thực trạng của pháp luật trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế ở nước ta đã được nhiều nhà khoa học pháp lý

và những nhà khoa học kinh tế nghiên cứu dưới các góc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau Trong những công trình nghiên cứu đã được công bố, vấn đề vị trí vai trò của pháp luật trong đời sống kinh tế, về vai trò của pháp luật trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế là một trong các đối tượng nghiên cứu, tuy không trở thành nội dung nghiên cứu chính, nhưng đã được đề cập ở những mức

độ khác nhau Trong số các công trình khoa học này có thể kể đến: Dự án VIE/94/003 "Tăng cưòng năng lực pháp luật tại Việt Nam" với đề tài nghiên cứu

"Đánh giá chung về khung pháp luật kinh tế hiện hành và xác định chiến lược tổng thề hoàn thiện khung pháp luật đối với các hoạt động kinh tế và bảo vệ môi trường" giữa Bộ Tư pháp - Dự án VIE/94/003 và Học viện chính trị quốc gia Hồ

Trang 10

Chí Minh; Đề tài cấp Nhà nước "Hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước nhằm tăng cường hiệu lực quản lý các vấn đề chính sách xã hội" do PGS.TS Trần Trọng Hưu làm chủ nhiệm, đã đề cập nhiều vấn đề kinh tế xã hội.

Các công trình khoa học: "Pháp luật và thị trường" (NXB KHXH-1993),

"Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong thời kỳ đổi mới" (NXB KHXH-

1997) của PGS - TSKH Đào Trí ú c ; "Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước

và pháp luật" Tập thể tác giả Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, NXB Chính trị quốc gia - 1995 đã nghiên cứu một số khía cạnh về sự điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ kinh tế và vai trò của pháp luật nói chung và của các ngành luật nói riêng trong việc củng cố các quan hệ kinh tế mới ở nước ta

Bài viết của GS-TS Hoàng Văn Hảo "Tìm hiểu vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường" và các bài viết của TS Lê Minh Thông "Vấn đề hoàn thiện pháp luật phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa" ; TS Nguyễn Như Phát "Xây dựng pháp luật về cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường ở nước ta"; TS Trần Đình Hảo "Những vấn đề pháp lý trong việc tiếp tục đổi mới và hoàn thiện pháp luật về tài chính ở nước ta trong giai đoạn hiện nay"; TS Phạm Hữu Nghị "Cơ chế kinh tế thị trường và việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện pháp luật đất đai" ; TS Hà Thị Mai Hiên "Vấn đề hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu và quyền tự do kinh doanh của công dân trong giai đoạn hiện nay", đăng trong cuốn "Đại hội v i n Đảng Cộng sản Việt Nam và những vấn đề cấp bách của khoa học về Nhà nước và pháp luật" NXB KHXH - Hà Nội 1997 PGS-TS Trần Ngọc Đường "Pháp luật trong cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước" ; PGS-TS Lê Hồng Hạnh "Kinh tế thị trường và sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật kinh tế"; TS Dương Đăng Huệ "Một số vấn đề cần thiết giải quyết để đảm bảo quyền tự do kinh doanh" TS Hoàng Thế Liên "Mấy vấn

đề pháp lý của kinh tế thị trường ở nước ta " ; TS Nguyễn Minh Mẫn "Về khung pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở nước ta" Các công trình đã phân

Trang 11

tích nhiều khía cạnh về nhu cầu đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong nền kinh

tế thị trường ở nước ta

Vấn đề điều chỉnh pháp luật trong đời sống kinh tế đã được nghiên cứu dưới rất nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt được các nhà nghiên cứu pháp luật kinh tế thể hiện trong nhiều công trình, bài viết đã được công bố Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, bao quát vai trò của pháp luật trong đời sống kinh tế nói chung và trong cơ chế kinh tế thị trường nói riêng ở nước ta Luận án là công trình khoa học đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu toàn diện, khái quát các cơ sở lý luận và thực tiễn "Vai trò của pháp luật trong mối quan hệ với kinh tế" dưới góc độ và phương pháp nghiên cứu của lý luận chung về Nhà nước và pháp luật

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận án

Trước những yêu cầu của công tác nghiên cứu lý luận và thực tiễn khoa học phấp lý, luận án hướng tới mục tiêu làm sáng tỏ các cơ sở lý luận và thực tiễn của mối quan hệ giữa pháp luật và kinh tế, chỉ rõ vị trí, vai trò quan trọng của pháp luật đối với sự phát triển kinh tế trong các điều kiện đặc thù ỏ nước ta, qua đó nhằm đánh giá thực trạng pháp luật nước ta trong lĩnh vực kinh tế và kiến nghị những phương hướng nhằm tăng cường vai trò của pháp luật trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Để đạt được mục đích này luận án có nhiệm vụ:

- Phân tích cơ sở lý luận về vai trò của pháp luật trong quá trình chuyển đổi nền kinh tê ở nước ta, qua đó làm nổi rõ tính chất của quá trình chuyển đổi

cơ chế kinh tế và sự quy định của kinh tế đối với vai trò pháp luật

- Lý giải các yếu tố, nguyên nhân làm hạn chê vai trò, vị trí của pháp luật trong nén kinh tế kế hoạch hóa tập trung và bao cấp ở Việt Nam trước đây

Trang 12

- Píân tích các đặc điểm của quá trình chuyển đổi nền kinh tê nước ta từ

cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường theo định hướng

xã hội chỉ nghĩa và qua đó làm sáng tỏ những thay đổi sâu sắc trong vị trí, vai trò của phíp luật với tính cách là công cụ điều chỉnh các quan hệ kinh tê quan trọng nhất hiệu quả nhất

- Phân tích thực trạng pháp luật trong một số lĩnh vực cơ bản của đời sống kinh tế ở iước ta hiện nay để thấy rõ vai trò ngày càng tăng của pháp luật và những bất cập của sự điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ kinh tế cần được nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện

- Xìy dựng những phương hướng cơ bản nhằm tăng cường vai trò của pháp luật :rong đời sống kinh tế hiện nay và trong tương lai khi đất nước bước vào thế kỷ 21

4 Giới hạn của luận án

Đề tài luận án là vấn đề rộng lớn và phức tạp, do vậy trong khuôn khổ chuyên ngành lý luận Nhà nước và pháp luật, luận án chỉ tập trung phân tích một

số nội dung cơ bản có tính chất khái quát lý luận về vai trò của pháp luật đối vói các quan hệ kinh tế trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế ở nước ta, thực trạng vai trò của pháp luật trong quá trình cải cách kinh tế và trình bầy những định hướng chung về hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường vai trò của nó trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án là luận điểm lý luận trong học thuyết Mác- Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa thượng tầng kiến trúc và hạ tầng kinh tế, đặc biệt là mối quan hệ giữa pháp luật và kinh tế, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đường lối đổi mới đất nước, cải cách kinh tế, đổi mới hệ thống

Trang 13

chính trị được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội VI, VII, VIII và các Nghị quyết Hội nghị Trung ương, các văn bản pháp luật của Nhà nước.

Để nghiên cứu và giải quyết các vấn đề đặt ra trong luận án, tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp cụ thể như: Logic hình thức, phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống, phương pháp xã hội học và các phương pháp khác, kết hợp lý luận với thực tiễn để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra trong luận án

6 Cái mới về khoa học của luận án

Luận án là công trình chuyên khảo khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống và tổng quát vai trò của pháp luật trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế ở nước ta, dưới góc độ lý luận về Nhà nước và pháp luật Luận án có những điểm mới sau:

- Luận án thông qua việc phân tích sự thay đổi đời sống kinh tế để khẳng định vai trò của pháp luật đối với sự phát triển kinh tế được thể hiện dưới ba khả năng: thúc đẩy sự phát triển kinh tế, kìm hãm sự phát triển kinh tế và khả năng làm chệch hướng sự phát triển kinh tế

- Luận án đã làm sáng tỏ những nguyên nhân dẫn đến tình trạng pháp luật mất vai trò hoặc trở nên hình thức trong mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung

- bao cấp trước đây ở nước ta

- Luận án đã chứng minh trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế, những thay đổi trong nền kinh tế chuyển đổi đã dẫn đến những thay đổi trong vị trí, vai trò của pháp luật, biến pháp luật từ vai trò "mờ nhạt", "thứ yếu" và "hình thức” trong nền kinh tế kê hoạch hóa tập trung - bao cấp sang vai trò tích cực với tính cách là công cụ điều chỉnh quan hệ kinh tế cơ bản nhất, hiệu quả nhất, một yếu tô không thể thay thế, tham gia vào việc giải quyết sự "thành, bại" của các biện pháp cải cách kinh tế ở nước ta

Trang 14

- Luận án đã khái quát về mặt lý luận và thực tiễn vai trò cụ thể của pháp luật trong việc cụ thê hóa quyền tự do kinh doanh, xác lập chê độ nhiều hình thức sở hữu, xây dựng các loại hình thị trường, định ra quy tắc kinh doanh, thủ tục xử lý xung đột kinh tê đảm bảo vai trò quản lý, kiểm soát củng cố và bảo vệ của Nhà nước với kinh tế, đảm bảo quá trình hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới.

- Luận án đã khái quát thực trạng điều chỉnh pháp luật trong một số lĩnh vực cơ bản của đời sống kinh tế đất nước Trên cơ sở đó đề xuất những kiến nghị

về các phương hướng hoàn thiện pháp luật, táng cường vị trí, vai trò của pháp luật trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay và trong tương lai

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Những kết quả nghiên cứu của luận án là những bổ sung quan trọng vào

lý luận pháp luật, góp phần nâng cao nhận thức lý luận về các giá trị, vai trò và tầm quan trọng của pháp luật trong đời sống kinh tế, đồng thời đóng góp vào việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu các cơ sở khoa học của việc xây dựng chiến lược pháp luật trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Những kết luận, đề xuất, kiến nghị trong luận án có thể góp phần tích cực vào việc xây dựng khung pháp luật kinh tế, hoàn thiện và đổi mới các văn bản pháp luật trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước từ nay đến năm 2010

Luận án là một công trình tham khảo có ý nghĩa đối với các chuyên gia pháp luật, các nhà nghiên cứu và giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học luật và sinh viên các trường Luật

Trang 15

8 Kết cấu của luận án

Luận án gồm có:

Lời nói đầu

Chương ! : Những vấn đổ lý luận về vai trò của pháp luật trong quá trình

chuyển đổi nền kinh tê ở nước ta

Chương 2: Thực trạng về vai trò của pháp luật trơng quá trình cải cách

kinh tê ở nước ta

Chư(mg 3: Tăng cường vai trò của pháp luật trong quá trình xây dựng và

phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta

Kết luận

Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 16

CHƯƠNG 1

NHŨNG V â n đ ề L ý l u ậ n v ể v a i t r ò c ú a p h á p l u ậ t

TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN Đ ổ i NỂN k i n h t ế

Ở NƯỚC TA

1.1 C ơ s ỏ LÝ LUẬN VỂ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI SựPHÁTTRlỂN KINH TẾ

1.1.1 Mẹt sô đặc điểm khái quát của pháp luật

Piáp luật trong mọi thời đại về bản chất luôn là một hiện tượng mang tính giai cấp và tính xã hội sâu sắc Vì lẽ đó, pháp luật là hình thức pháp lý của chuyên ciính giai cấp, là công cụ để duy trì xã hội trong sự phù hợp với ý chí và lợi ích cua giai cấp thống trị, pháp luật còn là hình thức pháp lý của quan hệ kinh tế vi là công cụ để tổ chức đời sống kinh tế xã hội trong từng điều kiện lịch

sử cu thế "Đăc điểm cơ bản của pháp luât là mô hình hóa các quan hệ xã hội, trước hết và quan trọng hàng đầu là các quan hệ kinh tế, phản ánh các quan hộ đặc trưnị, phổ biến và ổn định nhất Do vậy, pháp luật là hình thức quan trọng cho sự pầát triển kinh tế Trong điều kiện Nhà nước pháp quyền, pháp luật hơn bao giờ lết, có sức mạnh rất to lớn trong quá trình tổ chức và quản lý xã hội, tổ chức và quản lý kinh tế Mọi sự chậm trễ, sai lầm hoặc duy ý chí trong điều chỉnh phíp luật đều dẫn tới ảnh hưởng không lành mạnh đối với các quá trình

kinh tế"112 33,1

Ouan niệm về pháp luật như là một trong những công cụ quan trọng nhất, hiệu quả nhất để tổ chức và quản lý các quá trình kinh tế - xã hội, đã vượt lên trên ;ác hình thức điều chỉnh khác, xuất phát từ bản thân các giá trị, thuộc tính của pháp luật, thông qua đó tạo nên sức mạnh điều chỉnh của nó được biểu hiện trêrcác phương diện sau:

Trang 17

1.1.1.1 Pháp luật là tổng hợp các quy phạm phổ biến có tính bất buộc chung

đòi hỏi mọi người phải tuân thủ

Quy phạm pháp luật là đại lượng nhỏ nhất của pháp luật, chứa đựng các khuôn mẫu, quy tắc và mô hình xử sự chung của chủ thể pháp luật Các quy tắc ứng xử, các mô hình hành vi được xác định như là những quy tắc chung nhất, phổ biến nhất để làm căn cứ hành xử của con người trong từng môi trường xã hội cụ thể Điều này xuất phát từ thực tiễn đời sống là trong một hoàn cảnh cụ thể do chịu sự chi phối của những điều kiện khách quan và chủ quan khác nhau

sẽ nảy sinh những khả năng xử sự khác nhau về hành vi của những chủ thể khác nhau Trong khi đó Nhà nước thông qua nhà làm luật chỉ lựa chọn một khả năng

có lợi cho Nhà nước và cho xã hội phù hợp với xu hướng và lợi ích chung của Nhà nước và xã hội Bằng việc quy phạm hóa các cách thức ứng xử trong các tình huống được dự liệu thông qua các loại quy phạm pháp luật khác nhau như quy phạm cấm đoán, quy phạm bắt buộc, quy phạm cho phép, pháp luật quy

định cho phép, ngăn cấm hay khuyến khích các quan hệ xã hội, đặc biệt các

quan hộ kinh tế phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định

Tính chất bắt buộc chung, phổ biến và điển hình của các quy phạm pháp luật đã làm cho pháp luật trong mối quan hệ với các chủ thể các quan hệ xã hội trở nên các quy tắc khách quan, độc lập với ý chí và lợi ích chủ quan của từng chủ thể khi tham gia các quan hệ ấy

Cố nhiên trong đời sống xã hội không phải chỉ các quy phạm pháp luật mới có tính quy phạm và không phải chỉ những hành vi pháp lý mới là những hành vi được dự liệu Các quan hộ xã hội còn được điều chỉnh bởi các quy phạm

xã hội khác như đạo đức, tập quán, tôn giáo Tuy nhiên các quy phạm xã hội này trong một chừng mực xác định không mang tính phổ biến và điển hình mà mang nặng tính chủ quan Hơn nữa tính phổ biến của pháp luật được hình thành dựa

Trang 18

trên cơ sở của nhu cầu và khả năng điều chỉnh hành vi xã hội của quyền lực Nhà nước, thể hiện ý chí Nhà nước - một hiện tượng mang tính phổ biến Pháp luật,

do có tính phổ biến và bắt buộc đã làm cho ý chí Nhà nước mang tính chủ quyền duy nhất và thống nhất trong từng quốc gia

Xét về mặt bản chất, pháp luật là những chuẩn mực chung bắt buộc và nhờ đó mọi người có được những điều kiện pháp lý bình đẳng khi tham gia vào các quan hệ, pháp luật là một đại lượng bình đẳng của những chủ thể không bình đẳng Những người tham gia vào quan hệ kinh tế có thể rất khác nhau về địa vị xã hội, về khả năng vốn, khác nhau về điều kiện xã hội, nhưng dù họ khác nhau như thê nào khi tham gia vào các quan hệ kinh tế trong một lĩnh vực nhất định, được pháp luật quy định thì họ đều là các chủ thể bình đẳng Họ đều được tồn tại, liên kết tập hợp, thu hút những chủ thể khác trong những phương diện khi tham gia vào các quan hệ kinh tế được xác lập

1.1.1.2 Pháp luật được báo đảm bằng Nhà nước

Trong một nền kinh tế vai trò của Nhà nước rất lớn, bởi ngày nay nói đến nền kinh tế dù là kinh tế thị trường cũng không thể nói tới bàn tay vô hình của thị trường thuần tuý như kiểu Adam Smít Trước đây trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản bắt đầu hình thành, Adam Smít cho rằng: Nhà nước không có vai trò đối với kinh tế, kinh tế bị chi phối bởi thị trường thông qua quy luật giá trị và quy luật cung cầu mà Adam Smít gọi là bàn tay vô hình điều khiển nền kinh tế, còn Nhà nước không can thiệp vào kinh tế Chính vì thế, họ cho rằng quyền lực Nhà nước chỉ đến các chân hàng rào của doanh nghiệp, còn bên trong doanh nghiệp là quyền lực của thị trường, quyền lực của nhà kinh tế

Học thuyết của Adam Smít ngày nay không còn phù hợp, bởi nền kinh tế hiện đại không thể phát triển được nếu thiếu bàn tay của Nhà nước Nền kinh tế thị trường hiện đại ở nhiều nước là sự kết hợp rất hài hòa giữa bàn tay vô hình và

Trang 19

bàn tay hữu hình, tức là có sự kết hợp giữa vai trò của thị trường với tính cách là bàn tay vô hình thông qua quy luật giá trị và quan hộ cung cầu với bàn tay hữu hình của Nhà nước tác động vào nền kinh tế.

Rõ ràng Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh

tế Nhà nước lại là người ban hành pháp luật, cho nên vai trò của pháp luật được nhân lên rất lớn, bởi vì pháp luật là hiện thân của sự tác động của Nhà nước đối với kinh tế Nhà nước quản lý điều chỉnh kinh tế thông qua hệ thống pháp luật của mình Pháp luật không phải là cái gì khác mà chính là hình thức pháp lý của hoạt động quản lý Nhà nước đối với đời sống kinh tế, nó xác lập ý chí của Nhà nước trong mối quan hệ tương tác đối với các quy luật chi phối thị trường Pháp luật với tính cách là hình thức pháp lý của sự can thiệp của Nhà nước đối với kinh tế, điều chỉnh nền kinh tế nhân danh Nhà nước và được thể hiện trên nhiều phương diện

Trước hết, sức mạnh điều chỉnh kinh tế của pháp luật được đảm bảo bởi sức mạnh về kinh tế mà bản thân Nhà nước với tính cách chủ thể kinh tế Nhà nước nắm trong tay một tiềm năng kinh tế to lớn và vì vậy pháp luật của Nhà nước khi ban hành để điều chỉnh các quan hệ kinh tế luôn được đảm bảo bởi toàn bộ sức mạnh kinh tế của Nhà nước Nhờ sức mạnh kinh tế của Nhà nước thông qua pháp luật, nền kinh tế có sự trợ giúp từ phía Nhà nước, đảm bảo cho các quy tắc của Nhà nước được thực hiện trên thực tế chứ không phải là những quy tắc suông, trống rỗng chỉ có tác dụng làm rung động không khí, sức mạnh kinh tế của Nhà nước làm cho sức mạnh của pháp luật có được nội dung thực tế, khi Nhà nước ban hành một đạo luật kinh tế thì thực ra Nhà nước đã có một tiềm năng đảm bảo cho đạo luật đó thực thi Thông qua các hình thức, các điều kiện kinh tế khác nhau mà pháp luật của Nhà nước đi vào đời sống, điều chỉnh các quan hệ kinh tế, pháp luật không phải là một quy tắc chung mà kèm theo nó được đảm bảo bằng điều kiện vật chất của cả Nhà nước

Trang 20

Việc Nhà nước ban hành Luật dầu tư nước ngoài không phải chỉ là sự kêu gọi đấu tư mà đã dự trù cả sức mạnh kinh tế của Nhà nước ta trong vấn đề tài sản, vấn đề khả năng tiếp ứng với nguồn vốn nước ngoài.

Hơn nữa pháp luật tác động mạnh mẽ tới kinh tế, bởi pháp luật được bảo đảm bởi cả bộ máy hành pháp của Nhà nước Nhà nước có cả một bộ máy chuyên thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống bằng chính sức mạnh cưỡng chế của bộ máy hành pháp, sự đảm bảo về mặt tổ chức được triển khai từ Chính phủ, các Bộ ngành, cho đến tất cả các cơ quan Nhà nước khác nhau

Hoạt động của bộ máy Nhà nước cụ thể hóa pháp luật vào từng vụ việc cụ thể, đến từng môi trường kinh tế cụ thể, nhờ đó thúc đẩy quá trình nhanh chóng

đi vào đời sống kinh tế của pháp luật Pháp luật được tổ chức thực hiện bằng cả một bộ máy Nhà nước, được tổ chức chặt chẽ, có năng lực, có phương tiện kỹ thuật với một đội ngũ cán bộ được đào tạo thành thạo để đưa pháp luật vào đời sống

Trong hoạt động tác nghiệp hàng ngày các cơ quan hành pháp giải thích pháp luật, áp dụng pháp luật phù hợp với từng đặc điểm của từng quan hệ kinh

tế Nhờ sức mạnh tổ chức của bộ máy Nhà nước đó mà pháp luật được tổ chức một cách hoàn hảo, kể cả những lúc xảy ra xung đột trong quan hệ kinh tế thì có

cả một bộ máy để giải quyết các xung đột kinh tế

Mặt khác pháp luật được đảm bảo bởi sức mạnh tư tưởng Pháp luật khác với các quy phạm xã hội khác còn bởi nó được tuyên truyền phổ biến rộng rãi, đưa đến từng chủ thể tham gia kinh doanh, bởi hoạt động của một bộ máy tuyên truyền giáo dục pháp luật và bản thân pháp luật có sức mạnh tư tưởng rất lớn Pháp luật tác động vào tâm lý con người, thuyết phục con người về lợi ích, về sự hợp lý, về sự an toàn, về ý chí của họ được thừa nhận, bảo vệ như thế nào ? Pháp luật sinh ra để bảo vệ lợi ích của họ, để hướng dẫn họ, để tạo cho họ môi trường

Trang 21

pháp lý an toàn chứ không chỉ cung cấp cho họ một niềm tin mà còn cả một hệ thống hướng dẫn, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, pháp luật áp đặt vào các chủ thể kinh tế, giáo dục, vận động hướng dẫn hàng ngày, nhờ đó pháp luật luôn luôn hiện hữu trong suy nghĩ, trong việc làm, trong hướng dẫn hành vi của mọi người trong xã hội nói chung và của các chủ thể kinh tế nói riêng.

Điều đặc biệt có ý nghĩa đối với sự nhận thức vai trò của pháp luật trong đời sống kinh tế là khả năng cưỡng chế của bản thân pháp luật

Pháp luật buộc người ta phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy tắc xử sự, trong trường hợp có vi phạm các quy định của pháp luật thì phải gánh chịu các hậu quả bất lợi về mặt pháp lý Pháp luật dự liệu nhiều biện pháp để xử lý các hành vi vi phạm mà người ta gọi là trách nhiệm pháp lý Pháp luật dự liệu trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm bồi thường thiột hại, trách nhiệm hình sự

Việc quy định trách nhiệm pháp lý ấy thông qua các chê tài pháp luật đảm bảo cho việc xử lý các quan hệ kinh tế, các quá trình kinh tế, các xung đột kinh tế Đương nhiên khả năng cưỡng chế của pháp luật xuất phát khồng phải chỉ là sự phản ứng thuần túy của Nhà nước đối với hành vi vi phạm kinh tế, mà còn xuất phát từ sự cần thiết khôi phục lại lẽ công bằng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc có lỗi thì phải chịu phạt, làm thiệt hại thì phải bồi thường Việc quy định ấy không phải lời kêu gọi, mà còn có cả một cơ chế

áp dụng các biện pháp chê tài làm cho các chủ thể kinh tế phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật trong trường hợp vi phạm pháp luật thì đều phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bởi những thủ tục pháp lý đặc thù

Trang 22

1.1 ỉ.3 \(ỢỈ lên các quy phạm xã hội khác, pháp luật còn được khẳng định bởi

nột ưii thê khác, đỏ là lính logíc hình thức chặt chẽ

Pláp luật là một hệ thống quy phạm pháp luật có hình thức logíc chặt chẽ nhất, (hác với các quy phạm xã hội khác ở chỗ là các quy tắc đều được hình thức hóa ất chặt chẽ theo một logíc nhất định từ ngôn ngữ lập luận, các quy tắc sắp xếp đ:u theo chuẩn mực nhất định, nhờ vậy, pháp luật trở nên rõ ràng, chính xác, mạcl lạc

Tnh xác định, hình thức chặt chẽ của pháp luật tạo ra một hệ thống các quy định 'ừa thống nhất vừa đồng bộ, loại bỏ các mâu thuẫn, xung đột trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội Nhờ vậy pháp luật tồn tại với tính cách là một hệ thống thể hiện lôgíc các mối quan hệ bên trong (các quan hộ giữa các quy phạư pháp luật, các chế định pháp luật, các ngành luật) và các mối quan hệ bên ngoài (các quan hệ giữa luật cơ bản (Hiến pháp), các bộ luật, đạo luật, pháp lệnh và cic văn bản dưới luật)

Ciính các quan hộ bên trong và quan hộ bên ngoài trong hệ thống pháp luật đã tạo ra những khả năng và mức độ điều chỉnh khác nhau của các quy phạm phép luật đối với từng loại quan hệ xã hội cụ thể Qua đó các quan hệ xã hội trong từng lĩnh vực cụ thể, từng tình huống cụ thể của đời sống kinh tế - xã hội luôn :ó được hình thức, mức độ và phạm vi điều chỉnh thích hợp, đưa lại hiệu quả nong muốn

Với ba đặc điểm quan trọng ấy, pháp luật được nhìn nhận như một hiện tượng đặc thù trong thượng tầng kiến trúc chính trị, có tác động to lớn đến các quan hệ của hạ tầng cơ sở mà biểu hiện tập trung của nó là các quan hệ kinh tế

Vai trò của pháp luật trong tư cách công cụ tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung và các quan hệ kinh tế nói riêng còn được xác định bởi các chức lăng cơ bản của pháp luật

Trang 23

Thông qua chức năng điều chỉnh, pháp luật xác lập các hành lang pháp

lý cần thiết cho sự xuất hiện, vận động, biến đổi các quan hộ kinh tế, qua đó ổn định hóa, chính xác hóa, trật tự hóa các quan hệ kinh tê theo các mục tiêu kinh

tế - xã hội được xác định Song song với việc thực hiện chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, các quan hệ kinh tế, pháp luật thể hiện khả năng bảo vệ của mình đối với trật tự xã hội, trật tự kinh tế Thông qua việc dự liệu các chế tài pháp lý và khả năng xác định các trách nhiệm pháp lý trong các trường hợp các quan hộ xã hội, quan hệ kinh tế được pháp luật điều chỉnh bị vi phạm, pháp luật loại bỏ các quan hệ kinh tế lỗi thời, bảo vệ các quan hệ kinh tế lành mạnh, đấu tranh ngăn ngừa các hành vi xâm hại đến chế độ chính trị, kinh tế xã hội của đất

nước.

Trong quá trình thực hiện các chức năng điều chỉnh và bảo vệ các quan

hệ xã hội, đặc biệt là các quan hộ kinh tế, pháp luật tác động mạnh mẽ lên ý thức của các chủ thể quan hộ pháp luật, hình thành một ý thức pháp luật tương ứng và

một lối sống theo pháp luật Nhờ đó các chủ thể chủ động lựa chọn cách thức

ứng xử trong thực tiễn đời sống phù hợp với các chuẩn mực được luật định Trong mối quan hệ tâm lý và ý thức của các chủ thể pháp luật, chức năng giáo dục của pháp luật được thể hiện, nhờ vậy hình thành mối quan hộ phụ thuộc giữa quy phạm pháp iuật - thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật và ý thức, lối sống theo pháp luật

Nội dung và quá trình thực hiện các chức năng cơ bản của pháp luật đã khẳng định vị trí vai trò và các giá trị của pháp luật mà còn chỉ ra rằng bản thân pháp luật là một khái niệm rộng lớn gồm ba phương diện cơ bản: quy phạm pháp luật; thực hiện pháp luật và ý thức pháp luật Do vậy táng cường vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội nói chung và đời sống kinh tế nói riêng phải được xác định và thực hiện đồng bộ trên cả ba phương diện của phạm trù phápluật

Trang 24

1.1.2 Vai trò của pháp luật đối với sự phát triển kinh tè

ỉ 1.2.1 Sự túc động của pháp luật đỏi với sự phái triển kinh tế

Kinh tê quyết định pháp luật cũng có nghĩa nền kinh tê nào có hệ thống pháp luật đó, điều đó không có nghĩa là, trong mối quan hệ với kinh tế, pháp luật luôn ở vị trí bị quy định, lệ thuộc và thụ động Nếu sự thừa nhận kinh tế quyết định pháp luật mà biến pháp luật thành yếu tố thụ động thì trên thực tế là làm mất đi giá trị của pháp luật Lịch sử phát triển của pháp luật cho thấy, dù pháp luật bị quy định bởi kinh tế, nhưng tuyệt nhiên đó không phải là sự quy định thụ động, nó luôn là yếu tố tác động tích cực, mạnh mẽ chi phối các quá trình kinh

tế Vì lẽ đó quan hệ kinh tế - pháp luật không phải là quan hệ một chiều Pháp luật không thuần túy bị lệ thuộc vào tính chất, trình độ, phương thức của một nền kinh tế, mà nó còn ảnh hưởng trở lại kinh tế, chi phối quan hộ kinh tế

Nghiên cứu quá trình vận động của các mô hình kinh tế trong sự chi phối của phúp luật đã cho chúng ta thấy rằng "Pháp luật trong mối quan hệ với kinh

tế luôn giữ một vai trò quan trọng: Hoặc là thúc đẩy sự phát triển kinh tế hoặc là kìm hãm, làm chệch hướng phát triển của kinh tế"

Khi pháp luật phản ánh đúng đắn các quy luật kinh tế khách quan và thực

sự là hình thức pháp lý của các quan hộ kinh tế, hay nói cách khác khi pháp luật phù hợp với tính chất, trinh độ đời sống kinh tế thì nó trở nên một yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội

Trong lịch sử, pháp luật phong kiến thay thế pháp luật chủ nô đã thúc đẩy phát triển kinh tế phong kiến, làm cho nền kinh tế cá thể phát triển, khi tính chất bóc lột kinh tế trực tiếp thay thế bằng tính chất bóc lột kinh tế gián tiếp đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển và người nông dân tự do hơn so với nô lệ, do

đó làm ra nhiều của cải cho xã hội hơn Khi pháp luật tư sản phản ánh được các quy luật kinh tế tư bản thì nó trở nên một động lực phát triển to lớn, góp phần

Trang 25

giải phóng các tiềm năng phát triển của kinh tế Sở dĩ như vậy vì thời kỳ đầu,

pháp luật tư sản đã thể hiện được các giá trị tự do (dù đó là tự do hình thức)

Pháp luật tư sản giải phóng con người trên hai bình diện thân thể và pháp lý, làm

cho con người không bị ràng buộc bởi các quan hệ kinh tế xưa nay vốn bó buộc

người lao động vào các quan hệ ruộng đất Chẳng hạn, pháp luật xác định các

quyền tự do cá nhân, nhờ vậy người lao động được quyền tự do dịch chuyển tới

những khu công nghiệp mới để bán sức lao động, thúc đẩy quá trình phát triển

của nền công nghiệp tư bản, tạo khả năng bóc lột giá trị thặng dư và tích tụ tư

bản

Các cuộc cải cách kinh tế chỉ có thể mang lại kết quả khi các chủ trương,

biện pháp cải cách được thể chế hóa thành pháp luật Ớ đây, pháp luật đóng vai

trò của yếu tố đảm bảo quá trình cải cách kinh tế không thể đảo ngược Bởi vì

khi pháp luật phản ánh đúng các đòi hỏi của cải cách sẽ làm cho các quan hệ

kinh tế mới xuất hiện và được củng cố một cách vững chắc Pháp luật mới phá

vỡ cơ chế kinh tế cũ và khẳng định quan hệ kinh tế mới thông qua những quy tắc

pháp luật chặt chẽ Vai trò của pháp luật có ý nghĩa rất lớn với thắng lợi của cải

cách kinh tế, sự thành công của các nền kinh tế các nước công nghiệp mới gắn

liền với các cải cách hộ thống pháp luật của họ Chính sự thành công trong việc

cải cách hệ thống pháp luật ấy mà thúc đẩy, cởi trói cho các quá trình kinh tế,

tạo ra các hành lang an toàn cho các quan hộ kinh tế phát triển

Như vậy, mỗi một hệ thống pháp luật đều có vai trò nhất định đối với đời

sống kinh tế Vai trò đó tựu trung lại được thể hiện:

a Pháp luật xác lập các cơ sỏ an toàn cho sự xuất hiện các quan hệ kinh

tể, đâm bảo cho các quan hệ kinh t ế luồn được điều chỉnh trong một trật tự

Pháp luật xác lập tự do và an toàn cho các quan hộ kinh tế mới xuất hiện

hoặc củng cố ngay các quan hệ kinh tế xuất hiện trước sự tấn công của các quan

hệ kinh tế cũ, làm cho các quan hệ này không ngừng lớn mạnh và phát triển

Trang 26

b Pháp luật phán ánh các quan hệ kinh tế mới thông qua việc công phú

cơ ché kinh tẽ cũ, loại bỏ những cản trở của nền kinh tê cũ

Đồng thời pháp luật cũng phá bỏ các quy tắc pháp luật cũ, vốn ỉà sản phẩm của cơ chế kinh tê cũ, mở ra một môi trường pháp lý rộng lớn cho kinh tế Nếu không, kinh tê sẽ gặp những ngổn ngang đổ vỡ và chắc chắn những ngổn ngang đổ vỡ đó không được pháp luật dọn đi, loại bỏ đi thì kinh tế không thể phát triển được

c Sự tác động của pháp luật đến kinh t ế tạo ra các hành lang an toàn cho kinh tế, dần dắt các quá trình kinh tế phát triển, tức là nó có vai trò mở đưìmg cho kinh tế

Trong một số trường hợp nhất định pháp luật thậm chí vượt lên trước các quan hộ kinh tế và giữ vai trò mở đường cho kinh tế phát triển Nếu không có pháp luật đi trước mở đường trong một số lĩnh vực thì một số quan hệ kinh tế

khó có thể hình thành được Ở đây, về mặt lý luận pháp luật phản ánh quan hệ kinh tế đương đại mà pháp luật còn phản ánh những quan hệ kinh tế trong tương lai, do đó ở chừng mực nào đó trong những lĩnh vực và hoàn cảnh nhất định, pháp luật còn đi trước kinh tế trên cơ sở các khoa học dự báo Bởi vì, pháp luật

có đặc điểm phản ánh cái thực tại, pháp luật sẽ chóng lạc hậu vì nền kinh tế luôn vận động, luôn luôn phát triển Cái hôm nay không phải là cái của ngày hôm qua nữa, cái của ngày mai chắc chắn không phải là cái của ngày hôm nay nữa Tức là sự năng động của kinh tế, sự phát triển của kinh tế đòi hỏi pháp luật phải năng động Mặc khác, sở đĩ kinh tế có được cái năng động của ngày mai là vì pháp luật đã dự liệu cho ngày mai Chính tính ổn định lâu dài của pháp luật đã nội hàm một khả năng dự báo, nội hàm một khả năng bao quát trong mình những tiềm năng của tương lai cho sự phát triển Chỉ có thể trên cơ sở những tiềm năng của tương lai ấy mà kinh tê phát triển theo Cho nên ở đây ta gọi là

Trang 27

pháp luật mở lối cho kinh tê phát triển và trong một số trường hợp nó là tiêu chí dẫn đường cho kinh tê phát triển.

Tính chất, trình độ của hệ thống pháp luật là tiền đề, là điều kiện quan trọng cho sự phát triển của một mô hình kinh tế Sự phù hợp giữa kinh tế và pháp luật tạo cho pháp luật khả năng dẫn đường cho kinh tế phát triển Điều này thể hiện rõ trong các cuộc cải cách kinh tế

Trên thế giới diễn ra nhiều cuộc cải cách kinh tế trong lịch sử nhưng không phải cuộc cải cách kinh tê nào cũng thành công Sự không thành công của các cuộc cải cách kinh tế được giải thích bởi rất nhiều lý do, điều kiện lịch sử cụ thể Nhưng một trong các lý do căn bản là nó không kèm theo việc cải cách pháp luật "Liên Xô cũ" đã tiến hành cuộc đại cải cách kinh tế năm 1965, nhu cầu cải cách rất lớn, lần đầu tiên nền kinh tế Liên Xô đặt vấn đề hạch toán Nhưng rõ ràng trong quá trình thực hiện cuộc cải cách kinh tế năm 1965 Liên

Xô đã thất bại Vì sao ? Bởi vì, cải cách kinh tế không gắn liền với cuộc cải cách pháp luật Người ta mong muốn nền kinh tế hướng tới các quan hệ hạch toán, nhưng pháp luật vẫn xác lập nguyên tắc bình quân chủ nghĩa, pháp luật Xô Viết vẫn xác lập chế độ bao cấp trong xã hội và kinh tế, như vậy làm sao thúc đẩy được quá trình hạch toán kinh doanh Pháp luật xác lập các nguyên tắc của chế

độ quản lý kinh tế kế hoạch hóa hành chính, mà đã kế hoạch hóa hành chính thì không thể đặt các chủ thể kinh tế hạch toán kinh doanh được Hơn nữa, pháp luật không xác định địa vị pháp lý của các chủ thể kinh tế với tính cách là chủ thể độc lập trong nền kinh tế thì không thể có được các chủ thể thật sự có khả năng hạch toán trong sản xuất, kinh doanh

Ở nước ta cũng vậy, trong nền kinh tế bao cấp, Đảng, Nhà nước cũng đã nhiều lần đặt vấn đề tìm kiếm mô hình đối với nền kinh tế Nhưng chỉ đến khi trong nông nghiệp có đột phá về chính sách khoán 10 TW Chính phủ ban hành

Trang 28

tiếp Nghị định số 169-HĐBT, số 170-HĐBT, số 171-HĐBT ngày 14/11/1988 để triển khai thực hiện Nghị quyết 10, thông qua Quy chế khoán đã được pháp luật quy định, nó mở đường cho nông nghiệp phát triển.

Một trong những lý do đảm bảo cho cuộc cải cách kinh tế của chúng ta thành công là nhờ kịp thời nhanh chóng sửa đổi pháp luật, những quan hệ kinh

tế mới được hình thành 1986 đã được khẳng định ngay trong quy định pháp luật Mặc dù, Hiến pháp chưa thay đổi, nhưng bản thân các quy định pháp luật đã tạo tiền đề và mở lối cho kinh tê phát triển Nếu không có các quy định pháp luật về công ty, doanh nghiệp thì chúng ta không thể nào xây dựng được mô hình kinh

tế như hiện nay, đó là kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, do đó một trong các điều kiện tiên quyết để đổi mới kinh tế thành công là phải đổi mới pháp luật

Vì vậy, những tiến bộ về mặt kinh tế bao giò cũng gắn liền với sự tiến bộ

về pháp luật, một đạo luật được đánh giá là tốt khi nó kích thích kinh tế phát triển

d Pháp luật có vai trò ìà đảm bảo cho sự mở cửa của các nền kinh tế

Khi pháp luật phù hợp với quy tắc thông lệ quốc tế, hội nhập được với pháp luật khu vực, tạo những điều kiện pháp lý rất lớn cho các nhà sản xuất kinh doanh, quan hệ hợp tác kinh tế Sự hội nhập quốc tế của nền kinh tế quốc gia đều phải dựa vào sự hội nhập quốc tế của hộ thống pháp luật quốc gia đó, làm cho sự hội nhập quốc tế về kinh tế của quốc gia đó diễn ra một cách có nguyên tắc và được bảo đảm an toàn

Hiện nay, Việt Nam đang phát triển một nền kinh tế mở cửa, nhưng đó là một nền kinh tế mở cửa có tính nguyên tắc: Tức là sự mở cửa đó đã được luật hóa, trên cơ sở đường lối chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Tính chặt chẽ của pháp luật bảo đảm cho tính nhất quán của kinh tế, tính ổn định của pháp

Trang 29

luật đảo bảm cho tính ổn định của kinh tế Đó là điều giải thích vì sao các nhà đầu tư nước ngoài đều muốn chúng ta ổn định pháp luật và có nhiều đạo luật Nhà đầu tư chỉ có thể tin, yên tâm, có thể đầu tư vốn vào một quốc gia khi họ biết rằng chính sách đầu tư đó đã được xác lập về mặt pháp luật.

Pháp luật khi đã được ban hành là khách quan, cho nên chỉ có thể khẳng định được chính sách kinh tế khi các chính sách đó đã được ban hành thành pháp luật và lúc đó mới có thể tạo ra niềm tin cho các nhà sản xuất được VI vậy, không phải ngẫu nhiên khi các nhà đầu tư có ý định tiến hành đầu tư kinh tế vào một quốc gia nào đó thì những người đầu tiên vào nghiên cứu các khả năng và

cơ hội đầu tư không phải là các nhà kinh doanh mà là các luật gia, các cố vấn pháp lý Những chuyên gia pháp lý này có nhiệm vụ đến trước nghiên cứu hệ thống pháp luật của quốc gia định đầu tư để từ đó đề xuất với nhà đầu tư quyết định có đầu tư hay không Điều đó lý giải vì sao để có một nền kinh tế phát triển thì phải có được một hệ thống pháp luật phát triển

Một nền kinh tế chỉ có thể vững vàng khi nó được khẳng định bởi một hệ thống pháp luật vững vàng, một nền kinh tế phát triển đúng hướng khi có được một hệ thống pháp luật phản ánh đầy đủ, chính xác nhu cầu khách quan của nền kinh tế Pháp luật mở lối cho kinh tế, dẫn dắt nền kinh tế, đồng thời là lá chắn bảo vệ quan hộ kinh tế

1.1.22 Khả năng tác động tiêu cực của pháp luật đối với kinh tế

Pháp luật về bản chất là một phạm trù khách quan, bị quy định bởi kinh tế

và phù hợp với kinh tế Vì vậy, sự phù hợp giữa pháp luật và kinh tế đảm bảo cho pháp luật có vai trò tích cực thúc đẩy các quá trình kinh tế Tuy nhiên pháp luật trong một ý nghĩa nào đó còn là một phạm trù chủ quan khi pháp luật phản ánh ý chí, lợi ích của nhà làm luật Chính trên phương diện này dễ tiềm ẩn một nguy cơ, pháp luật trở nên chủ quan, duy ý chí, xa rời thực tiễn Nguy cơ này khi

Trang 30

trở thành hiện thực sẽ thủ tiêu vai trò tích cực của pháp luật và biến pháp luật từ một động lực đảm bảo và thúc đẩy sự phát triển kinh tế trở thành một yếu tố cản trở sự phát triển của kinh tê - xã hội.

Sự nhận thức về khả năng tác động tiêu cực của pháp luật đối với sự phát triển kinh tế có ý nghĩa quan trọng trên phương diện lý luận và trên phương diện thực tiễn Nguy cơ về sự tác động tiêu cực của pháp luật đối với kinh tế có thể được biểu hiện trong một số trường hợp xác định sau:

a Sự lạc hậu của pháp luật so với nhu cầu phái triển kinh tế

Trong trường hợp này xuất hiện mâu thuẫn giữa pháp luật và kinh tế Pháp luật với tính cách là hình thức pháp lý của các quan hệ kinh tế, luôn là một yếu tố có tính ổn định và dễ dàng lạc hậu so với yếu tố năng động của sự phát triển kinh tế Các quan hệ kinh tế chỉ có thể dễ dàng phát triển khi có được các hình thức pháp lý thích hợp Do vậy, vấn đề có tính nguyên tắc đặt ra là mỗi bước phát triển kinh tê đều đòi hỏi một bước đổi mói của pháp luật, làm cho quan hệ giữa kinh tế và pháp luật luôn tuân theo logich của mối quan hộ biện chứng giữa nội dung và hình thức Nhưng trong thực tiễn không phải lúc nào sự thay đổi của kinh tế cũng kèm theo sự thay đổi của pháp luật Pháp luật chậm thay đổi, các quy định pháp luật vẫn duy trì, bảo vệ, củng cố các quan hệ kinh

tế, các cơ chế kinh tế cũ, trong lúc kinh tế cần có các hình thức mới, các quan hệ mới để phát triển Sự trì trệ của pháp luật sẽ thủ tiêu các khả năng phát triển của kinh tế, làm cho các quan hệ kinh tế mới không được củng cố và tất nhiên quá trình ra đời của một cơ chế kinh tế mới sẽ hết sức khó khăn Trong lịch sử phát triển của kinh tế, mâu thuẫn giữa cơ chế kinh tế mới và cơ chế pháp luật cũ thường xuất hiện rõ nét nhất trong các thời điểm cải cách kinh tế Khi một quốc gia đưa ra chủ trương cải cách kinh tế mà không kèm theo đó là chủ trương cải cách pháp luật, tất yếu sẽ dẫn đến mâu thuẫn giữa pháp luật và kinh tế Hệ thống pháp luật cũ sẽ là lực cản ghê gớm cho các hoạt động cải cách và các ý tưởng về

Trang 31

cải cách di tốt đẹp và mạnh mẽ đến đâu cũng không thể mang lại kết quả mong muốn, thậm chí thất bại Thật ra khả năng kìm hãm sự phát triển kinh tế của pháp luật cổ thể xuất hiện trong các trường hợp hệ thống pháp luật đã trở nên lạc hậu và cả tong trường hợp pháp luật đổi mới không đồng bộ với sự cải cách của nền kinh té Tinh huống này vẫn thường xuất hiện trong các giai đoạn cải cách

cơ bản mô hình kinh tế

Cuộ; cải cách nền kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường nhiều thành phầr là một cuộc cải cách có tính triệt để và đồng bộ, chúng động chạm đến mọi quan hộ kinh tế Trong bối cảnh ấy sự cải cách bộ phận (có tính cục bộ) của hệ thống pháp luật sẽ không thể đáp ứng các cải cách toàn diện của kinh tế Hơn nữa, các cải cách pháp luật nếu chỉ được tiến hành có tính cục bộ đối với từng đạo luật, từng lĩnh vực điều chỉnh, thậm chí đối với từng ngành luật mà không tiến hành cải cách toàn bộ hệ thống, tất yếu sẽ xuất hiện sự xung đột ngay trong bản thân hệ thống pháp luật, xung đột giữa các chế định pháp luật được cải cách vốd các chế định pháp luật cũ và đặc trưng của cơ chê kinh tế cũ Chính các mâu thuẫn này sẽ làm phức tạp quá trình cải cách kinh tế, chúng tạo ra nhiều vùng tối sáng trong bức tranh kinh tế và là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh ra những tiêu cực, đổ vỡ trong tiến trình cải cách các quan hộ kinh tế

b Pháp luật cũng sẽ trở thành một lực cản to lớn đối với sự phát triển kinh t ế trong các trường hợp pháp luật vượt trước sự phát triển kinh tế, phá vỡ

sự tương quan giữa kinh tế và pháp luật

Đúng ra, pháp luật như đã phân tích là sự phản ánh tập trung các quan hộ kinh tế \à luôn bị quy định bởi kinh tế Do vậy pháp luật được nhìn nhận là hình thức pháp lý của kinh tế có xu hướng bảo thủ hơn, ổn định hơn so với xu hướng năng độig và không ngừng phát triển của kinh tế Nhưng, pháp luật không phải

là sự phan ánh thụ động, một chiều các quan hệ kinh tế mà là sự phản ánh tích

Trang 32

cực, đa dạng các quan hộ kinh tế Nhờ vậy, pháp luật là một yếu tố củng cố các quan hệ kinh tế, góp phần mở đường cho các quan hệ kinh tế phát triển lên một tầm cao mới.

Ớ đây, pháp luật được nhìn nhận có vai trò tiên tiến và cho phép trong

những trường hợp cần thiết được vượt trước các quan hệ kinh tế để mở đường cho các quan hệ kinh tế mới phát triển trong tương lai Nhưng vấn đề có tính nguyên tắc ỉà tính tiên tiến của pháp luật trong mối quan hệ với kinh tế là tính tiên tiến có xác định, chỉ được xác nhận trong một phạm vi phù hợp cho phép và suy đến cùng vẫn bị quy định bởi kinh tế Do vậy, mọi sự đi trước thiếu xác định, sự vượt lên tùy tiện, duy ý chí của các quy định pháp luật đối với trình độ phát triển của kinh tế sẽ không tạo được các tiềm năng phát triển của kinh tế, mà còn kìm hãm và thậm chí làm rối loạn các quan hệ kinh tế

Sự nôn nóng muốn nhanh chóng xây dựng một hệ thống pháp luật thật sự tiên tiến phù hợp với trình độ của nền kinh tế thị trường hiện đại sẽ là một nguy hại đối với trình độ thấp kém của một nền kinh tế vừa qua khỏi tính chất tập trung bao cấp và đang hướng tới kinh tế thị trường Thực tiễn đổi mới kinh tế đòi hỏi pháp luật phải luôn bám sát thực tiễn, hỗ trợ, thúc đẩy thực tiễn, chứ không thể vượt lên quá xa thực tiễn, theo ý chí bỏ qua các bước chuyển đổi trung gian

và trở nên xa lạ với thực tiễn kinh tế Một khi pháp luật vượt quá xa sự phát triển của kinh tế, các quy phạm ấy về thực chất không có nội dung thực tiễn và trở nên các mô hình pháp lý trống rỗng, đứng ngoài đời sống kinh tế Nhưng một khi các quy phạm "vượt xa" này lại bị áp đặt vào thực tiễn theo một ý chí chủ quan, tất yếu sẽ tạo các biến dạng của kinh tế, ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình phát triển

Thật ra xét trên bình diện lý luận và thực tiễn, sự "vượt trước" một cách chủ quan duy ý chí của các quy phạm pháp luật so với tính chất và trình độ của

Trang 33

kinh tế đưa lại cho đời sống kinh tế những hậu quả tiêu cực không kém gì các

hậu quá do tình trạng lạc hậu, bảo thủ của pháp luật gây ra cho sự phát triển kinh

c Khá năng tác động tiêu cực của pháp luật diễn ra irotìg các trường hợp pháp luật lạc hậu hoặc pháp luật quá "tiên tiến " theo lối chủ quan duy ý chí so

với trình độ phái triển kinh tế đất nước và xẩy ra trong cả irưcmg hợp thể hiện

không đúng đắn điàmg lối kinh tế trong tổng th ể đường lối chính trị của Đảng

cầm quyên thông qua các biện pháp kinh tể của Nhà nước

Nếu trong trường hợp pháp luật bảo thủ, lạc hậu hoặc quá tiên tiến có thể

dẫn đến các rối loạn của đời sống kinh tế, vô hiệu hóa các tiềm năng phát triển,

thì trong trường hợp pháp luật không quán triệt đầy đủ đường lối chính trị của

Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế sẽ tạo ra nguy cơ làm chệch hướng sự

phát triển kinh tế của đất nước

Kinh tế chịu sự chi phối mạnh mẽ của chính trị và vì vậy mỗi một mô

hình kinh tế đều phản ảnh một định hướng chính trị xác định Nhưng sự phản

ảnh các nhiệm vụ chính trị được thể hiện trong đường lối chính sách của Đảng

cầm quyền về định hướng phát triển kinh tế và sự điều chỉnh các quan hộ kinh tế

không diễn ra một cách trực tiếp mà diễn ra thông qua các quy định của pháp

luật

Trong một ý nghĩa nào đó có thể thấy rằng, pháp luật đóng vai trò là yếu

tố liên kết giữa chính trị và kinh tế Nói cách cụ thể hơn, pháp luật là phương

tiện chuyển tải các quan điểm, đường lối chính trị của Đảng và Nhà nước vào

các quá trình kinh tế Vì vậy, không phải ngẫu nhiên một trong những nhiệm vụ

của hoạt động xây dựng pháp luật là thể chế hóa đường lối phát triển kinh tế của

Đảng thành các quy định pháp luật, đảm bảo điều chỉnh đúng đắn các quan hệ

kinh tế và sự phát triển kinh tê theo đường lối chính trị được xác định Do vậy,

Trang 34

định hướng phát triển kinh tế có được đảm bảo một cách nhất quán hay không, điều này lộ thuộc nhiều vào bản thân các quy phạm pháp luật.

Nền kinh tế được xây dựng ở nước ta là nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhiệm vụ của pháp luật được thể hiện ở chỗ phải thể chế hóa được các quan điểm của Đảng ta về con đường phát triển nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và phải đảm bảo cho định hướng này được quán triệt nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế Nguy cơ "chệch hướng" phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế đã được Đảng ta chỉ

rõ trong các văn kiện quan trọng của Đảng.1261

Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trong lĩnh vực kinh tế trong thê giới ngày nay diễn ra phức tạp Các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội ra sức tìm mọi cách phá hoại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

ở nước ta, thông qua các biện pháp can thiệp, âm mưu làm chệch hướng phát triển của nền kinh tế đất nước Một trong những lĩnh vực mà kẻ thù của chủ nghĩa xã hội xác định để tấn công nhằm làm chệch hướng phát triển của đất nước ta là lĩnh vực pháp luật Chủ nghĩa đế quốc âm mun thông qua các chế định pháp luật, trước hết là pháp luật kinh tế để làm chệch hướng sự phát triển kinh tế xa rời các mục tiêu của chủ nghĩa xã h ộ i[19] Sở dĩ, các thế lực thù địch nhằm vào pháp luật với ý định thông qua cải cách pháp luật để biến đổi chế độ chính trị - kinh tế đất nước, bởi lẽ họ ý thức được rằng, pháp luật nếu không được xây dựng đúng đắn theo đường lối của Đảng sẽ dễ dàng trở thành một công cụ có hiệu quả làm chệch hướng sự phái triển Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa hay kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa lệ thuộc khá lớn vào việc xác định chế độ pháp lý đối với các quan hộ sở hữu, chế độ pháp lý của các loại hình doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nước và hợp tác xã, các nguyên tắc

về quan hệ lao động, quan hệ phân phối Nói cách khác là lệ thuộc vào việc xác định một khung pháp luật kinh tế như thế nào Một khi pháp luật thể chế hóa

Trang 35

đúng đắn quan điểm, đường lối chính trị của Đảng trong phát triển kinh tế, tất yếu định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ được quán triệt Nhưng trong trường hợp các quan điểm chính trị của Đảng không được thể hiện đầy đủ, đúng đắn và nhất quán trong các quy phạm pháp luật, tất yếu sẽ biến pháp luật thành một công cụ làm chệch hướng sự phát triển kinh tế, xa rời các vấn đề có tính nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội và hướng nền kinh tế vận động theo các quy luật của kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Nhận thức về nguy cơ và khả năng làm chệch hướng phát triển kinh tế, xa rời chủ nghĩa xã hội của pháp luật có ý nghĩa to lớn trong cuộc đấu tranh chống lại các nguy cơ "diễn biến hoà bình" do các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội tiến hành trên lĩnh vực pháp luật

Pháp luật là một lĩnh vực đấu tranh tư tưởng quan trọng, ở đây nảy sinh các xung đột giữa các quan điểm pháp lý xã hội chủ nghĩa và tư bản, giữa nội dung các quy phạm pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế Chúng ta chủ

trương dùng pháp luật để quản lý xã hội, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ lợi

ích và chủ quyền quốc gia, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh

tế thị trường Các thê lực thù địch lại âm mưu sử dụng cải cách pháp luật theo

kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, thông qua các thủ đoạn gây sức ép để iàm chệch hướng sự phát triển của đất nước Chính vì vậy quá trình cải cách pháp luật ở nước ta và ở nhiều nước đang phát triển diễn ra rất phức tạp Vấn đề này đặt ra trước các nhà cải cách pháp luật những nhiệm vụ chính trị nặng nề:

Một là: Tiếp tục cải cách mạnh mẽ các chế định pháp luật phù hợp với

kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đúng với đường lối chính sách của Đảng, đảm bảo cho các quan hệ thị trường hình thành và phát triển, thúc đẩy sự hội nhập vững chắc của nền kinh tế đất nước vào kinh tế khu vực và kinh tê theo xu hướng toàn cầu hóa

Trang 36

Hai là: Nèu cao cảnh giác, loại bỏ mọi nguy cơ làm chệch hướng phát

triển kinh tế ngay trong bản thân các quy định pháp luật Đảm bảo pháp luật thể chê hóa đáng đắn các quan điểm cơ bản của Đảng về đường lối xây dựng

và phát triển tinh tế đất nước trong các điều kiện của thời đại ngày nay

1.1.3 Sự quy định của kinh tế đối với pháp luật

Pháp luật và kinh tê là hai yếu tố tuy khác nhau về vị trí nhưng lại quan

hộ chặt chẽ với nhau, chi phối và quy định lẫn nhau Là một bộ phận của thượng tầng xã hội, pháp luật xuất hiện trên cơ sở hạ tầng và bị quy định bởi hạ tầng

"Trong mối quan hộ giữa pháp luật và kinh tế thì các tiền đề kinh tế không chỉ là nguyên nhân trực tiếp quyết định sự ra đời của pháp luật mà còn quyết định toàn

bộ nội dung, tính chất và cả cơ chế điều chỉnh pháp luật" 1112 251 c Mác đã chỉ rõ

"Chính là vua chúa phải phục tùng những điều kiện kinh tế, chứ không bao giờ vua chúa lại ra lệnh cho những điều kiện kinh tế được Chẳng qua, chế độ lập pháp về chính trị cũng như dân sự chỉ là cái việc nói lên ghi chép lại những yêu cầu những quan hệ kinh tế mà thôi" [8’l59]

Trong "phê phán kinh tế chính trị học", C.Mác cũng đã chỉ ra rằng:

"Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế, tức là cái cơ sở hiện thực, trên đó xây dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị "[3’637] Như vậy, pháp luật sinh ra từ những tiền đề kinh tế và luôn bị quy định bởi các điều kiện tiền đề kinh tế Sự quy định ấy được thể hiện ở những phương diện sau:

1.1.3.1 Tính chất và trình độ của đời sông kinh t ế quy định tính chất và trình độ

của pháp luật

Tính chất của nền kinh tế căn bản dựa trên chế độ sở hữu Chế độ sở hữu

sẽ quy định nội dung, tính chất pháp luật

Trang 37

Nếu nhìn vào lịch sử ta thấy nền kinh tế chiếm hữu nô lộ với quan hộ sở hữu là sở hữu chủ nô đối với nô lệ, sản sinh ra một hệ thống pháp luật tương ứng, hệ thống pháp luật bóc lột của chủ nồ đối với nô lộ Hộ thống pháp luật này quy định tính chất bóc lột kinh tế trực tiếp của chủ nô đối với nô lệ, xác lập các đặc qụyền, đặc lợi của chủ nô trong mối quan hộ với nô lộ và địa vị vô quyền của nô lộ trong đời sống xã hội.

Quan hệ sở hữu chiếm hữu nô lệ lấy đối tượng sở hữu là bản thân con người nô lệ Người nô lệ thuộc về chủ nô với tính cách là một đồ vật biết nói Do vậy, pháp luật chủ nô là thứ pháp luật bạo tàn, dã man nhất trong lịch sử nhân loại

Nền kinh tê phong kiến với quan hệ sở hữu là các quan hệ dựa trên chế độ

tư hữu đất đai, pháp luật phong kiến xác lập chế độ sở hữu đất đai thông qua

việc quy định chế độ địa tô, làm biến đổi tính chất bóc lột của phương thức sản

xuất chiếm hữu nô lộ, từ bóc lộc kinh tế trực tiếp của chủ nô sang bóc lột kinh tế gián tiếp của địa chủ phong kiến

Tính chất tiến bộ hơn của nền kinh tế phong kiến với việc thay đổi đố! tượng sở hữu, từ con người sang đất đai, đã làm biến đổi pháp luật phong kiến Mặc dù vẫn là một hệ thống pháp luật đặc quyền, đặc lợi và dã man nhưng pháp luật phong kiến đã làm thay đổi mối quan hệ giữa địa chủ phong kiến và các tá điền Tá điền không còn thuộc về phong kiến như nô lệ thuộc về chủ nô Họ đã

là những cá nhân được giải phóng tuy rằng trên thực tế họ vẫn bị trói chặt vào địa chủ phong kiến qua chế độ địa tô Pháp luật phong kiến một mặt là pháp luật bạo lực nhưng có một ý nghĩa to lớn, nó là hình thức pháp lý của chế độ sở hữu đất đai, được xác định bởi hình thức bóc lột chủ yếu của phương thức sản xuất phong kiến là chế độ bóc lột địa tô

Trang 38

Phươrg thức sản xuất tư bản quy định tính chất của pháp luật tư bản: pháp luật tư bản xác lập chế độ tư hữu là thiêng liêng, nhưng sự tư hữu đó khác chê độ phong kiến ớ chỗ, nó không lấy đối tượng tư hữu là đất đai mà đối tượng tư hữu

là vốn Nếu như pháp luật phong kiến trói buộc con người vào đất đai, làm cho con người luòn luôn bị ràng buộc bởi quan hệ đất đai thì pháp luật tư sản đã vượt

xa điều đó Nó giải phóng con người, làm cho con người trở thành những người

tự do về mặt hình thức Do tính chất của nền kinh tế tư sản cần phải huy động lao động tự do và dịch chuyển lao động như là quá trình chuyển dịch vốn, cho nên đòi hỏi phải giải phóng con người khỏi các ràng buộc của quan hệ đất đai,

để có thể dịch chuyển, vận động theo các quan hệ kinh tế của chủ nghĩa tư bản Chính vì thế pháp luật tư bản vượt lên pháp luật phong kiến ở phương diện tính chất, tức là quy định cho con người những quyền tự do, tuy rằng những quyền tự

do đó là hình thức Tính chất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm biến đổi

pháp luật Ó đây pháp luật tư sản hướng tới việc bảo vệ chế độ tư hữu tư sản,

xem quyền tư hữu là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm Bên cạnh đó pháp

luật tư sản còn khẳng định chế độ tự do hợp đồng là điều kiện quan trọng cho sự vận hành của nền kinh tế thị trường

Sang nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ta thấy tính chất pháp luật lại một lần nữa thay đổi Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất cơ bản của xã hội, và như vậy nó quy định tính chất phi bóc lột của pháp luật

Từ đó có thể rút ra kết luận kinh tế nào thì pháp iuật ấy, vì khi phân tích tính chất của nền kinh tế trong lịch sử, thấy rằng: ứng với tính chất của mỗi một

nền kinh tế thì có tính chất tương ứng của pháp luật Ở đây pháp luật luôn luôn

lệ thuộc và bị quy định bởi tính chất của nền kinh tế

Trang 39

Pháp luật quy định bơi tính chất của nền kinh tế mà còn bị quy định bởi trình độ của nền kinh tế.

Nền kinh tế phát triển càng cao thì đòi hỏi pháp luật càng phải được hoàn

thiện, kinh tế càng phát triển thì pháp luật càng phức tạp đa dạng hơn úng với mỗi một trình độ, cấp độ phát triển kinh tế là một trình độ phát triển của pháp luật Trong nền kinh tê sản xuất nhỏ thì nhu cầu pháp luật rất thấp Bởi vì nền kinh tế không phát triển thì quá trình sản xuất không phức tạp, đương nhiên vai trò pháp luật sẽ mờ nhạt Khi nền kinh tế sản xuất nhỏ chuyển sang nền kinh tế sản xuất lớn, nhu cầu tổ chức cao lên, thì sự điều chỉnh pháp luật đối với các quan hộ xã hội càng lớn lên Một nền kinh tế thuần nhất dẫn đến một hệ thống pháp luật đơn giản, một nền kinh tế thị trường nhiều thành phần dẫn tới một hệ thống pháp luật phức tạp, nó đòi hỏi nhiều lĩnh vực điều chỉnh, nhiều quy tắc pháp luật Vì một khi trình độ của nền kinh tế cao thì trình độ quản lý kinh tế cũng phải cao, để đáp ứng yêu cầu tổ chức phân phối hợp lý, từ đó sản sinh ra một hộ thống pháp luật tương ứng với nó

Kinh tế thời kv tập trung bao cấp có pháp luật tập trung bao cấp, ở kinh tế thị trường có pháp luật của kinh tế thị trường, ở một nền kinh tế đang phát triển thì có pháp luật của nền kinh tế đang phát triển, ở một nền kinh tế phát triển thì

có pháp luật của nền kinh tế phát triển Bởi vì, cứ mỗi một bước phát triển của kinh tế lại đòi hỏi một bước hoàn thiện pháp luật Pháp luật không phải là cái gì khác mà là hình thức pháp lý của các quan hệ kinh tế, nhu cầu kinh tế, quan hệ kinh tế Khi Mác nói rằng pháp luật không có lịch sử riêng của mình không có nghĩa là pháp luật không có lịch sử, chỉ có nghĩa lịch sử gắn liền với lịch sử phát triển kinh tế, nó là lịch sử phản ánh các quan hệ kinh tế, chứ không vượt ra ngoài các quan hệ kinh tế Cho nên có thể căn cứ vào tính chất, trình độ của các nền kinh tế để suy đoán ra một nền pháp luật tương ứng và ngược lại, người ta căn cứ vào một nền pháp luật tương ứng, để biết được tính chất, trình độ của một nền

Trang 40

kinh tế Pháp luật như là một tấm gương phản ánh đời sống kinh tế ở một dạng vừa tổng quát, vừa phản ánh cô đọng nhất thông qua các quy phạm của mình Cho nên, có thể tìm thấy lịch sử phát triển quan hệ kinh tê trong bản thân hệ thống pháp luật, vì ở đó, kinh tế để lại các dấu ấn trong các quy phạm pháp luật.

Mỗi một thời đại có một quan hệ kinh tế riêng của mình, mỗi một mô hình kinh tế, một quan hệ kinh tế đều để lại hình bóng dấu ấn của mình trong bản thân quy phạm pháp luật, nó như là một tấm gương phản chiếu kinh tế, pháp luật hình thành ngay trong bản thân các quan hệ kinh tế Mỗi một thời kỳ biến đổi các quan hệ kinh tế, là kéo theo sự biến đổi của pháp luật, ở đây pháp luật phản ánh được các bước tiến, của bản thân sự vận động xã hội thông qua các biến đổi kinh tế

Ị 1.3.2 Cơ chế quản lý kinh tế quy định phươìig pháp điều chỉnh pháp luật

Mỗi mô hình kinh tế quy định phương pháp điều chỉnh riêng của mình, điều đó cũng có nghĩa là nền kinh tế đó được quản lý như thế nào? Trong một nền kinh tế được quản lý bằng phương pháp hành chính mệnh lệnh thì pháp luật hành chính rất phát triển, các quan hệ đều xuấl phát từ quyền uy, phục tùng, ra lệnh mà không tính đến tự do ý trí của các bên tham gia quan hệ kinh tế Phương pháp hành chính mệnh lệnh thông qua hệ thống kế hoạch được xác định từ cấp cao đã thu hẹp phạm vi điều chỉnh của pháp luật Thực tế cho thấy sự phát triển pháp luật chỉ có thể quan sát được trong những ngành luật mà ở đó phương pháp điều chỉnh quyền uy và phục tùng được xác định: như Luật nhà nước, Luật hành chính, Luật hình sự Tính chất kê hoạch hóa tập trung cao độ đã hành chính hóa các quan hệ kinh tế, làm cho các quan hệ kinh tế lệ thuộc vào ý chí của nhà quản

lý kinh tế

Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì pháp luật đã biến đổi, nó

không thể tồn tại trên chế độ hành chính, mệnh lệnh, áp đặt nữa Ở đây nền kinh

Ngày đăng: 02/08/2020, 20:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w