Thể chế hóa chủ trương của Đảng, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm 1987, mở đầu cho việc thu hút có hiệu quả và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo phư
Trang 2Đ ỗ NHẤT HOÀNG
Sự HỈNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA LUẬT ĐẦU Tư NƯỚC NGOÀI
TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM■a m m
Chuyên ngành : Lý luận Nhà nước và Pháp luật
Mã số : 5.05.01 1 :: T
-I T 3 ƯƠNG Í.-.H l i ' át H/VNỌI
ĩhưvíện; giỊ d v Ể
'ị _o < ^ 6
LUẬN ÁN TIẾN S ĩ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Hùng Cường
TS Trần Ngọc Dũng
HÀ NỘI - 2002
Trang 3T ô i xin cam đoan đây là công trình nghiên cứii của riêng tôi C ác sô' liệu nêu trong luận án là trung thực N hữ ng kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công b ố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Đỗ Nhất Hoàng
Trang 41.1 Sự cần thiết phải có pháp luật đầu tư nước ngoài trong hộ 7
thống pháp luật Việt Nam
1.2 Khái niệm và đặc trưng cơ bản của pháp luật đầu tư nước ngoài 13
tại Việt Nam
1.4 Mối quan hệ của pháp luật đầu tư nước ngoài với các đạo luật 54
thuộc những ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Chương 2: s ự HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT 67
ĐẰU TƯ NUỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
2.1 \ Sự hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài tại 67
Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử
2.2 Sự hình thành và phát triển của một số chế định pháp lý chủ yếu 93
của pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
2.3 Đánh giá, nhận xét về sự hình thành và phát triển của pháp 127
luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Chương 3: x u HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP 137
LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
3.1 Các nguyên tắc tiếp tục hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài 137
tại Việt Nam
3.2 Xu hướng và các giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật đầu tư 151
nước ngoài tại Việt Nam
Trang 5: ủ y ban nhân dân : Tổ chức thương mại thế giới
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thắng lợi quan trọng trên nhiều lĩnh vực Đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước đã có nhiều khởi sắc, được nhân dân ta và quốc tế đánh giá cao
Chủ trương hợp tác đầu tư với nước ngoài nhầm tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và thị trường thế giới phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đã được xác định và cụ thể hóa trong các văn kiện của Đảng Thể chế hóa chủ trương của Đảng, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm 1987, mở đầu cho việc thu hút có hiệu quả và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo phương châm
đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, góp phần thực hiện chủ trương phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế
Trong gần mười lăm năm qua, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đạt được những thành tựu quan trọng, đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH, mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo việc làm và tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước neoài là một bộ phận của nền kinh tế đang kinh doanh năng động, hiệu quả, tạo ra nhiều sản phẩm có hàm lượng trí tuệ và chất lượng cao, tạo thêm thế và lực cho Việt Nam chủ động hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới
Trong các thành tựu nói trèn, pháp luật đầu tư nước ngoài có sự đóng góp to lớn Pháp luật đầu tư nước ngoài đã tạo dựng được khung pháp lý cơ bản, điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng về mở cừa và hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng về cơ
Trang 7bản yêu cầu của thực tiễn, ngày càng phù hợp hơn với thôns lệ quốc tế và có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên, nhu cầu tiếp tục đổi mới toàn diện nền kinh tế, đẩy mạnh CNH, HĐH, chủ động hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới đã và đang đặt ra nhiệm vụ phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật đầu tư nước nsoài hiện hành Bên cạnh đó, chính sách nhất quán thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đã được khẳng định lại tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng: "Tiếp tục chính sách mở cửa và chủ động hội nhập kinh tế để phát triển" [27, tr 330]
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Sự hình thành và p h á t triển của L uật
Đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt N a m " hiện nay mang tính
cấp thiết, không những về lý luận, mà còn là đòi hỏi của thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Thuật ngữ
"Luật Đầu tư nước ngoài" trong luận án này được hiểu là pháp luật đầu tư nước ngoài, trong đó đạo luật về đầu tư nước ngoài (năm 1987 và năm 1996)
là vãn bản pháp lý quan trọng nhất
2 Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, một số tác giả đã có các công trình nghiên cứu về Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, như: tác giả Hoàng Phước Hiệp có
Luận án Tiến sĩ luật học năm 1996 về "Cơ c h ế điều chỉnh pháp luật trong
lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt N am 4 , tác giả Lê Mạnh Tuấn có
Luận án Tiến sĩ luật học năm 1996 về "Cơ sở khoa học của việc hoàn thiện
khung pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam; tác giả Nguyễn
Hải Hà có Luận án Tiến sĩ luật học năm 2000 tại Pháp về "Luật Đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam; Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho in tập bài giảng năm 2000: Những vấn đề cơ bản về quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam; Bộ
Tư pháp có Dự án VIE/94-03 năm 1998 - Tập II - Phần I: Pháp luật về các
loại hình doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;
Trang 8Bộ Kế hoạch và Đầu tư có Dự án VIE/97-016 năm 1997: Tăng cường môi
trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh, trong đó có đề tài nhánh về doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Tuy nhiên, các công trình nói trên chỉ đề cập đến khía cạnh cơ chế điều chỉnh pháp luật đầu tư nước ngoài, pháp luật đầu tư nước ngoài hoặc quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về
sự hình thành và phát triển của Luật Đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án là trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống
sự hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài, đánh giá đúng thực trạng, dự báo xu hướng phát triển và kiến nghị phương hướng, nội dung hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam thời gian tới
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Để đạt được mục đích trên, việc nghiên cứu luận án có các nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ các khái niệm: Đầu tư nước ngoài, pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; đặc điểm của pháp luật đầu tư nước ngoài và vai trò,
vị trí của nó trong hệ thống pháp luật Việt Nam
- Phàn tích, làm rõ sự hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài qua từng thời kỳ lịch sử; đánh giá thực trạng của pháp luật đầu tư nước ngoài về cả ưu điểm và hạn chế
- Dự báo xu hướng phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài và từ đó, kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Trang 9Đòi tượng nghiên cứu của luận án
Luận án nghiên cứu sự hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư
nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Phạm vỉ nghiên cứu của luận án
- Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ lý luận chung về Nhà nước và pháp luật Thuật ngữ "Luật Đầu tư nước ngoài" được hiểu theo nghĩa rộng
gồm ba bộ phận: thứ nhất, đạo luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài (được Quốc
hội ban hành năm 1987 và 1996 cũng như các đạo luật sửa đổi, bổ sung hai
đạo luật này) và các vãn bản trực tiếp hướng dẫn thi hành; thứ hai, các chế
định điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài được quy định trong
các đạo luật khác như chế định phá sản trong Luật Phá sản doanh nghiệp, chế
định lao động trong Bộ luật Lao động ; thứ ba, các điều ước quốc tế mà Việt
nam ký kết hoặc gia nhập điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước nsoài tại
Việt Nam
Về thời gian, luận án nghièn cứu những vấn đề về đầu tư trực tiếp
nước ngoài từ năm 1975 đến nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về xây dựng Nhà nước và pháp luật,
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về mở cửa, hội nhập kinh tế
quốc tế trong nền kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định
hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta; những thành tựu của các khoa
học: triết học, kinh tế học, luật học và đặc biệt của khoa học quan hệ kinh tế
quốc tế
Luận án được trình bày dựa trên cơ sờ nghiên cứu các Chỉ thị, Nghị
quyết của Đảng về đầu tư nước ngoài, các văn bản pháp luật đầu tư nước
ngoài của Nhà nước, các báo cáo tổng kết về tình hình đầu tư trực tiếp nước
Trang 10ngoài tại Việt Nam của Chính phủ và các cơ quan của Chính phủ; các công trình nghiên cứu về pháp luật đầu tư nước ngoài của các nước trong khu vực
và trên thế giới
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, luận án sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống, so sánh pháp luật, dự báo để nghiên cứu những vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong thời gian qua
5 Những đóng góp mới của luận án
Đây là luận án Tiến sĩ luật học đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về sự hình thành và phát triển của pháp luật đầu
tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả dự báo xu hướng phát triển và kiến nghị phương hướng, nội dung hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài hiện hành Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới của luận án:
1 Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm của pháp luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam và vai trò, vị trí của nó trong hệ thống pháp luật Việt Nam
2 Trình bày quá trình hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử từ năm 1975 đến nay
3 Đánh giá thực trạng của pháp luật đầu tư nước ngoài hiện hành xét trong tổng thể hệ thống pháp luật Việt Nam, phân tích những ưu điểm và hạn chế của nó và dự báo xu hướng phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài
4 Đề cập các nguyên tắc hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài, đồng thời dự báo lộ trình và nội dung hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài trong thời gian tới
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Thông qua những kết quả nghiên cứu và kiến nghị của luận án, tác giả mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào sự phát triển của kho tàng lý
Trang 11luận và thực tiễn về hoạt độns đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam nói chung và pháp luật đầu tư nước ngoài nói riêng Với việc dự báo xu hướng và
đề xuất các giải pháp phát triển pháp luật đầu tư nước ngoài hiện hành, tác giả
hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học cho việc đổi mới pháp luật đầu tư nước ngoài trong khuôn khổ đổi mới hệ thống pháp luật nói chung của Việt Nam, theo hướng tạo môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, tạo sức cạnh tranh cao hơn trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài so với các nước trong khu vực Vì vậy, luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy về
lý luận pháp luật đầu tư nước ngoài cũng như đào tạo cán bộ chuyên ngành về pháp luật đầu tư nước ngoài thuộc các ngành Kế hoạch và Đầu tư, Tư pháp, Tài chính, Địa chính, Hải quan, Thương mại
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm 187 trang Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án có 3 chương, 9 mục
Trang 12Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ s ự HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
PHÁP LUẬT ĐẦU T ư NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
1.1 S ự CẦN THIẾT PHẢI CÓ PHÁP LUẬT ĐẦU T ư NƯỚC NGOÀI TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1.1 Tính tất yếu khách quan của việc thu hút đầu tư nước ngoài
Trong lịch sử thế giới, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã xuất hiện từ thế
kỷ thứ XVI Các nước tư bản phát triển nhất thời kỳ đó như Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha đã đầu tư vốn vào các nước châu Á, châu Phi để mở đồn điền, lchai thác khoáng sản, cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp ở chính quốc Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước công nghiệp phát triển ngày càng có phạm
vi, quy mô lớn hơn với những hình thức ngày càng phong phú hơn
Trong thế kỷ thứ XIX, các nước tư bản phát triển đã tích lũy được những khoản tư bản khổng lổ Đó là tiền đề quan trọng cho việc xuất khẩu tư bản Theo nhận định của V.I Lênin trong tác phẩm "Chủ nghĩa đế quốc - Giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản", thì xuất khẩu tư bản là một trong nãm đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại, tức chủ nghĩa tư bản độc quyền V.I Lênin cho rằng, "chủ nghĩa tư bản tăng thêm lợi nhuận bằng cách xuất khẩu tư bản ra nước ngoài vào những nước lạc hậu Trong các nước lạc hậu này, lợi nhuận thường cao, vì tư bản hãy còn ít, giá đất đai tương đối thấp, tiền công hạ, nguyên liệu rẻ" [45, tr 456]
Khoa học kinh tế đã chỉ ra rằng, đó là một hiện tượng kinh tế mang tính tất yếu khách quan Khi quá trình tích tụ và tập truns tư bản đạt đến một mức độ nhất định, sẽ xuất hiện nhu cầu đầu tư ra nước ngoài Đây chính là quá trình phát triển của sức sản xuất xã hội, đến độ vượt ra khỏi khuôn khổ
Trang 13chật hẹp của một quốc gia, theo quy luật sẽ hình thành quy mô sản xuất xuyên quốc gia Để tãng thêm lợi nhuận, các nhà tư bản ờ các nước phát triển phải thực hiện đầu tư ra nước ngoài, thời gian đầu thường là vào các nước lạc hậu hơn, vì ở đó các yếu tố đầu vào của sản xuất còn rẻ, lợi nhuận thu được thường cao hơn.
Khi đưa ra "Chính sách kinh tế mới" V.I Lênin đã cho rằng, những người cộng sản phải biết lợi dụng những thành tựu kinh tế và khoa học kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản thông qua hình thức "tư bản nhà nước" Theo quan điểm này, nhiều nước đã "chấp nhận" phần nào sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản để phát triển kinh tế, vì như thế có thể đi nhanh hơn là tự thân vận động hay đi vay vốn để mua lại kỹ thuật của các nước công nghiệp phát triển Mặt khác, mức độ "bóc lột" của các nước tư bản cũng còn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của các nước tiếp nhận tư bản Nếu như trước đây, hoạt động xuất khẩu tư bản của các nước đế quốc chỉ phải tuân theo pháp luật của chính họ, thì ngày nay, các nước nhận đầu tư đã là các quốc gia độc lập
có chủ quyền, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài phải tuân theo pháp luật,
sự quản lý của chính phủ nước sở tại và thông lệ quốc tế
Một khó khăn lớn của hầu hết các nước đang phát triển trong đó có nước ta là thiếu vốn đầu tư Có thể nói, vốn đầu tư là yếu tố quyết định để các nước này đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, cải thiện đời sống vật chất của nhàn dân Ở các nước đang phát triển, nguồn lao động và tài nguyên thiên nhiên thường chưa được sử dụng hết hoặc không được sử dụng vì thiếu các điều kiện vật chất cho quá trình lao động, sản xuất Bản thân các nước đang phái triển lại ít có khả năng tự tích lũy vì năng suất lao động thấp, sản xuất hầu như không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước Trong hoàn cảnh như vậy, nguồn vốn từ bên ngoài sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với bước phát triển ban đầu của các nước này Đặc biệt, trong xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới hiện nay, các nước đang phát triển bị đặt vào tình huống phải tạo được tốc độ phát triển nhanh để đuối kịp các nước phát triển và từng bước
Trang 14hội nhập với nền kinh tế thế giới Nguv cơ tụt hậu không cho phép các nước đang phát triển được chậm trễ hay có cách lựa chọn nào khác Trong điều kiện thè giới và khu vực có nhiều quốc gia có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài, thì các nước đang phát triển có cơ cơ hội tranh thủ nguồn vốn và kỹ thuật của nước ngoài để phát triển kinh tế.
Ngoài các đặc điểm chung của một quốc gia đang phát triển, Việt Nam còn có những đặc thù riêng của một đất nước đã phải trải qua nhiều năm chiến tranh ác liệt Nền kinh tế sau chiến tranh đã bị tàn phá nặng nề, lại vấp phải những sai lầm nghiêm trọng trong quản lý và điều hành cả trên tầm vĩ
mỏ và vi mô của thời kỳ tập trung, quan liêu, bao cấp, nên đã rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng Trong thời gian dài trước năm 1990, Việt Nam không có tích lũy từ trong nội bộ nền kinh tế M ột phần lớn tích lũy phải dựa vào vay
nợ và viện trợ chủ yếu của Liên Xô, các nước XHCN Đông Âu trước đây, sau này là từ nhiều chính phủ và các tổ chức trên thế giới
Để đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, Việt Nam phải tranh thủ vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài Đây là điểm nút để nước
ta thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói Thực tiễn và kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, quốc gia nào thực hiện chiến lược kinh tế
m ờ cửa với bên ngoài, biết tranh thủ và phát huy tác dụng của nhân tố bên ngoài, biến nó thành nhân tố bên trong, thì quốc gia đó tạo được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Có thể nói rằng, ở đâu và nước nào thu hút được nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, thì ở nước đó, nền kinh tế đạt được tốc độ phát triển nhanh chóng Vì vậy, trên thế giới đang diễn ra một cuộc cạnh tranh gay gất nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong điều kiện cụ thể của nước ta, nơi có những tiềm năng to lớn về lao động, tài nguyên nhưng không có điều kiện khai thác và sử dụng, thì việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lại càng mang tính tất yếu khách quan
và có ý nghĩa vô cùng quan trọng Muốn đạt được mục đích thu hút nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, kinh nghiệm quý báu của nhiều nước cho thấy,
Trang 15Việt Nam cần phải tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn tạo điều kiện thuận lợi
cho các nhà đầu tư nước ngoài, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định chính
trị và thực hiện cải cách nền kinh tế để từng bước hội nhập vào quỹ đạo phát
triển kinh tế thế giới
1.1.2 Sự cần thiết phải điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài bằng pháp luật
Trong xã hội, pháp luật là một phương tiện quan trọng bậc nhất không
thể thay thế để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tổ chức, quản lý đời sống xã hội,
bảo đảm cho xã hội ổn định, phát triển, phù hợp với những mục đích mà Nhà
nước và xã hội đặt ra Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 10
về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 1992, tại Điều 2 quy định: "Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân" và Điều 12 Hiến pháp năm 1992 quy định: "Nhà nước
quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăns cường pháp chế XHCN
Quản lý kinh tế nói chung, quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài nói riêng, là chức năng cơ bản hàng đầu của Nhà nước trong điều kiện
lịch sử hiện nay Để thực hiện chức năng này, Nhà nước phải nhận thức đúng đắn
các quy luật khách quan của sự vận động kinh tế - xã hội, xây dựng chiến lược
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, khai thác có hiệu quả các nguồn lực của
đất nước và các điều kiện quốc tế, sử dụng đồng bộ và hợp lý các công cụ kế
hoạch, chính sách và các đòn bẩy kinh tế Trons hệ thống các công cụ và biện
pháp để Nhà nước điều chính hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, pháp luật
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Sự cần thiết phải điểu chỉnh hoạt động đầu tư
trực tiếp nước ngoài bằng pháp luật được thế hiện ở một số nội dung sau đây:
Thứ nhất, pháp luật là công cụ quản lý của Nhà nước, luôn luôn gấn
liền với Nhà nước và chỉ Nhà nước mới sử dụng công cụ pháp luật Nhà nước
Trang 16điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, trong đó
có hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước khác với các quyền lực khác ờ chỗ, nó được thực hiện bằng một cơ chế thực thi pháp luật Nhờ có quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị thực hiện những lợi ích của mình, buộc cả xã hội phải tuân theo và phục tùng ý chí của mình bằng cách đề ra pháp luật và thực hiện pháp luật trên thực tế V.I Lènin cho rằng: "Ý chí, nếu nó là ý chí của Nhà nước, thì phải được biểu hiện dưới hình thức một đạo luật do chính quyền đặt ra, nếu không thì hai tiếng ý chí chỉ là một sự rung động không khí do những âm thanh rỗng tuếch gây nên" [112, tr 429] Trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, điều đó
có nghĩa, chỉ có điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng pháp luật, thì quyền lực nhà nước mới có ý nghĩa và mới đem lại hiệu quả thiết thực
Tuv nhiên, ý chí của Nhà nước thể hiện trong pháp luật, xét đến cùng, không phải do ý chí chủ quan của một người nào, mà chính nó được hình thành một cách khách quan đo các quan hệ kinh tế khách quan quy định Nói pháp luật là sự thể hiện quyền lực và ý chí của Nhà nước cũng có nghĩa là khẳng định tính bị quy định một cách khách quan của pháp luật Ph Ảngghen cho rằng, ý chí được đề lên thành luật là ý chí có nội dung do những điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp quyết định [59, tr 42]
Qua việc phân tích sự cần thiết phải điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng pháp luật cũng có thể khẳng định, pháp luật đầu tư nước ngoài ra đời từ nhu cầu bảo vệ lợi ích của nhân dân, trước hết là lợi ích kinh tế
và lợi ích chính trị Ph Ảngghen cho rằng: "Tất cả hiện tượng pháp lý đều lấy bản chất chính trị làm cơ sở" [59, tr 635] V.I Lênin khẳng định: "Một đạo luật là một biện pháp chính trị, là chính trị” [111, tr 129] Nội dung và mục ticu của biện pháp chính trị đó là kinh tế, lợi ích kinh tế và địa vị thống trị của nhân dân lao động nước ta
Thứ hai, để điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, Nhà nước
có thể và cần phải sử dụng nhiều công cụ, biện pháp và hình thức khác nhau
Trang 17Đó là các chính sách, kế hoạch đầu tư trực tiếp nước ngoài, đòn bẩy kinh tế, pháp luật đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, trong số các công cụ, biên pháp đó, việc điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng pháp luật đã trờ thành thiết yếu và cấp bách hiện nay, bởi lẽ với những đặc điểm riêng của mình, pháp luật
có khả năng triển khai những chủ trương, chính sách của Nhà nước một cách nhanh nhất, đồng bộ và có hiệu quả nhất trên quy mô toàn xã hội Chính vì vậy, chúng tôi hoàn toàn tán thành ý kiến của GS.TSKH Đào Trí úc: "Nhà nước chỉ có thể thể hiện được ý chí phổ biến và uy quyền công khai của mình qua một loại đại lượng có tính phổ biến, có tính bắt buộc chung Đó là pháp luật" [84, tr 205]
Thứ ba, trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại của pháp luật là một
nhu cầu khách quan bất nguồn từ những đòi hỏi của các quan hệ kinh tế Đây
là điểm khác biệt so với thời kỳ quan liêu, bao cấp ở thời kỳ này, sự tồn tại của pháp luật như quan điểm của PGS.TS Chu Hồng Thanh, là: "một nhu cầu chủ quan bắt nguồn từ những đòi hỏi của Nhà nước, là một phương tiện trong tay Nhà nước để kìm hãm, xóa bỏ những quan hệ kinh tế nào đó một cách duy ý chí" [79, tr 29]
Đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, pháp luật đầu tư nước ngoài được hình thành trên cơ sở những đòi hỏi của quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài, tồn tại như một quan hệ nội tại của sự vận động, phát triển kinh tế đối ngoại Pháp luật đầu tư nước ngoài là hệ thống các quy phạm, chuẩn mực,
mà dựa vào đó các nhà đầu tư nước ngoài tìm được "sân chơi", các nhà quản
lý có phương tiện để điều khiển "cuộc chơi" Pháp luật đầu tư nước ngoài là mực thước để phân định đúng, sai, kiểm nghiệm và điều chỉnh hoạt động đầu
tư trực tiếp nước ngoài cho phù hợp với nhu cầu xã hội
Sự điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài bàng pháp luật phải bảo đảm cho hoạt động đầu tư vận động theo đúng những quy luật khách quan, không thể áp đặt và thay thế các quy luật khách quan ấy Bằng pháp luật, Nhà nước tạo môi trường và hành lang pháp lý để chủ thể quan hệ đầu tư
Trang 18nước ngoài có thể tự chủ sản xuất kinh doanh, tự bảo vệ lợi ích của mình,
đồng thời không làm tổn hại đến lợi ích của các chủ thể khác và toàn xã hội
Bằng pháp luật, Nhà nước xác định địa vị pháp lý của các doanh nghiệp có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước về
đầu tư trực tiếp nước ngoài và thẩm qúyền của các cơ quan có chức năng giải
quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thứ tư, trong việc điều chỉnh quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài,
pháp luật quy định cho các bên tham gia các quan hệ đó có một số quyền và
nghĩa vụ pháp lý nhất định, đồng thời thiết lập cả những điều kiện để đảm bảo
cho các quyền và nghĩa vụ pháp lý đó được thực hiện Vì vậy, khi tham gia
vào các quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài do pháp luật điều chỉnh, các chủ
thể phải có hành vi phù hợp với các yêu cầu của pháp luật Tuy nhiên, việc
điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng pháp luật, không chỉ
tác động tới các hành vi của các chủ thể tham gia quan hệ đầu tư trực tiếp
nước ngoài, mà còn tác động về tư tưởng đối với toàn xã hội nói chung
Thứ năm, dối với sự điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
bằng pháp luật, sự tồn tại của pháp luật đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào nhận
thức và ý chí của Nhà nước Tuy nhiên, sau khi pháp luật đầu tư nước ngoài
đã được ban hành, các cơ quan nhà nước phải triệt để tuân thủ trong quá trình
thực hiện chức năng quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài Đây cũng là một
trong những nội dung cơ bản của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam hiện nay
NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
1.2.1 Khái niệm pháp luật đầu tư nước ngoài
Để có thể làm sáng tỏ khái niệm pháp luật đầu tư nước ngoài, trước
hết cần làm rõ khái niệm đầu tư nước ngoài, các hình thức, phương thức của
đầu tư nước ngoài
Trang 19Việc nghiên cứu các tài liệu ở một số nước trên thế giới cho thấy, thuật ngữ "đầu tư" được hiểu khác nhau, phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế -
xã hội nhất định Trước đây, Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) đã đưa ra khái niệm đầu tư nước ngoài như sau: "đầu tư nước ngoài được hiểu là tất cả những loại giá trị vật chất mà nhà đầu tư đưa từ nước ký kết này sang nước ký kết hữu quan theo pháp luật của nước sử dụnơ đầu tư" [110, tr 19] ở khái niệm này, đầu tư nước ngoài được hiểu với nghĩa rất hẹp chỉ bao gồm các giá trị vật chất, còn các loại tài sản vô hình thì lại chưa được đề cập đến Trong tài liệu Hội thảo về thương mại và phát triển của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu rộng hơn khái niệm trên: "Đầu tư với mục đích thiết lập các quan hệ kinh tế bền vững với một công việc kinh doanh, đem lại khả năng thực hiện một ảnh hưởng có hiệu quả đối với quản lý của việc đầu tư ấy" [106, tr 17] Trong báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 1996: "Đầu tư thương mại và các thỏa thuận chính sách quốc tế", không đưa ra khái niệm đầu tư, nhưng có đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài: "là một khoản đầu tư liên quan đến các quan hệ dài hạn và phản ánh một lợi ích lâu dài và sự kiểm soát một thực thể trong một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hay công ty mẹ) thông qua một doanh nghiệp thuộc về một nền kinh tế khác, nền kinh tế của nước có nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài" [108, tr 219-220]
Dưới góc độ khoa học, khái niệm đầu tư được hiểu trong mối quan hệ với các khái niệm khác thuộc phạm trù kinh tế thị trường Cuốn Từ điển kinh doanh xuất bản bằng tiếng Anh tại Luân Đôn năm 1982 đã đưa ra các khái niệm khác nhau về đầu tư (investment) như: "đó là việc dùng tiền để nhận được thu nhập hoặc lợi nhuận; đó là tiền được đầu tư " [105, tr 255]
ở nước ta, ngay từ nãm 1977, khái niệm đầu tư nước ngoài đã chính thức được ghi nhận trong Điều lệ Đầu tư của nước ngoài ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được ban hành kèm theo Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977 (sau đây gọi tắt là Điều lộ Đầu tư nước ngoài năm 1977):
Trang 20Được coi là đầu tư của nước ngoài ở Việt Nam việc đưa vào
sử dụng ở Việt Nam những tài sản và vốn sau đây, nhằm xây dựng những cơ sở mới hoặc đổi mới trang bị kỹ thuật, mở rộng các cơ sở hiện có:
- Các loại thiết bị, máy móc, dụng cụ (gồm cả những thứ dùng cho việc thí nghiệm), phương tiện vận tải, vật tư kỹ thuật cần thiết cho mục đích nói trẽn;
- Các quyền sở hữu công nghiệp, bằng sáng chế, phát minh, phương pháp công nghệ, bí mật kỹ thuật (know - how), nhãn hiệu chế tạo
- Vốn bằng ngoại tệ hoặc vật tư có giá trị ngoại tệ, nếu phía Việt Nam thấy cần thiết;
- Vốn bằng ngoại tệ để chi lương cho nhân viên và công nhân làm việc ở các cơ sở hoặc tiến hành những dịch vụ theo quy định của Điều lệ này [18, tr 66]
Như vậy, trong khái niệm trên, không phải bất cứ sự vận động vốn (tư bản) nào từ nước ngoài vào Việt Nam đều là đầu tư nước ngoài, mà chỉ việc đưa vào sử dụng ở Việt Nam những tài sản và vốn đã được quy định tại Điều 2 Điều lệ đầu tư nước ngoài ở Việt Nam mới được coi là đầu tư nước ngoài
Trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm 1987, khái niệm đầu tư nước ngoài đã được ghi nhận tại khoản 3 Điều 2 như sau:
"Đầu tư nước ngoài là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này" Có thể nói, với quy định mới này, khái niệm đầu tư nước ngoài
đã được mờ rộng hơn so với khái niệm đầu tư nước ngoài trong Điều lệ đầu tư nước ngoài năm 1977
Trang 21Trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, khái niệm đầu tư được hiểu một cách rộng hơn: "là mọi hình thức đầu tư trên lãnh thổ của một Bên do các công dân hoặc công ty của Bên kia sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp, bao gồm các hình thức: một công ty hoặc một doanh nghiệp; cổ phần, cổ phiếu và các hình thức góp vốn khác, trái phiếu, giấy ghi nợ và các quyền lợi đối với các khoản nợ dưới các hình thức khác trong công ty; các quyền theo hợp đồng như quyền theo các hợp đổng chìa khóa trao tay, hợp đổng xây dựng hoặc hợp đổng quản lý, các hợp đổng sản xuất hoặc hợp đổng phân chia doanh thu, tô nhượng hoặc các hợp đồng tương tự khác; tài sản hữu hình, gồm cả bất động sản và tài sản vô hình, gồm cả các quyền như giao dịch thuê, thế chấp, cầm cố và quyền lưu giữ tài sản; quyền sở hữu trí tuệ, gồm quyền tác giả và các quyền có liên quan, nhãn hiệu hàng hóa, sáng chế, thiết kế bố trí, mạch tích hợp, tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hóa, thông tin
bí mật (bí mật thương mại, kiểu dáns công nghiệp và quyền với giống cây trổng
và các quyền theo quy định của pháp luật như các giấy phép và sự cho phép"
Dưới góc độ khoa học, theo quan điểm của chúng tôi, đầu tư (investment)
là việc sử dụng vốn vào quá trình tái sản xuất xã hội nhằm tạo ra nãng lực sản xuất lớn hơn Dưới góc độ của doanh nhân hoặc doanh nghiệp, đầu tư là việc đưa vốn vào một hoạt động nào đó nhằm mục đích thu lợi nhuận Vốn đầu tư bao gồm tiền và các tài sản khác như động sản, bất động sản, tài sản hữu hình, tài sản vô hình
Như vậy, ngoài những khái niệm về đầu tư nước ngoài đã được trình bày ở trên, về mặt lý luận, có thể đưa ra khái niệm đầu tư nước ngoài như sau:
đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư của nước này đưa vốn bằng tiền hoặc tài sản khác vào nước khác đ ể thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm thu lợi nhuận.
Trong khái niệm này, yếu tố nước ngoài trong đầu tư nước ngoài được
thể hiện ở hai dấu hiệu đặc trưng chính, một là: có sự tham gia của chủ thể nước ngoài và hai là: có sự di chuyển vốn từ nước này sang nước khác.
Trang 22Đầu tư nước ngoài được phân làm hai loại: đầu tư nước ngoài trực tiếp
và đầu tư nước ngoài gián tiếp Đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình kinh
doanh, trong đó nhà đầu tư nước ngoài tự bỏ vốn thiết lập ra cơ sở sản xuất, kinh doanh cho riêng mình, tự đứng ra làm chủ sở hữu, tự quản lý hoặc thuê người quản lý cơ sở này (đầu tư 100% vốn), hoặc hợp tác với một hay nhiều doanh nghiệp của nước sở tại thành lập một doanh nghiệp liên doanh hoặc hợp đổng hợp tác kinh doanh, cùng làm chủ sở hữu, cùng quản lý cơ sở sản
xuất, kinh doanh này Đầu tư gián tiếp nước ngoài là loại hình đầu tư, trong
đó nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của cơ
sở kinh tế, nhưng không tham gia điều hành cơ sở kinh tế đó
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chỉ là một trong bốn nguồn tài chính nước ngoài đổ vào một quốc gia, đó là: 1) Viện trợ phát triển chính thức (ODA) và phi chính phủ (NGO); 2) Tín dụng thương mại; 3) Tín phiếu, trái phiếu, cổ phiếu; 4) Vốn đầu tư trực tiếp Viện trợ phát triển chính thức thường
do các Chính phủ cấp không hoặc cho vay ưu đãi nhằm tạo dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cần thiết cho hoạt động thương mại, đầu tư Tín dụng thương mại là nguồn vốn chủ yếu nhằm hỗ trợ cho các hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu và xét đến cùng cũng là hỗ trợ cho đầu tư Tín phiếu là nguồn vốn mà Chính phủ các nước muốn thu về bằng cách bán cổ phiếu, trái phiếu, công trái cho người nước ngoài Vốn đầu tư trực tiếp chủ yếu là nguồn vốn tư nhân đầu tư vào quốc gia khác nhằm tìm kiếm lợi nhuận Bốn nguồn vốn này
có mối quan hệ hữu cơ, tác độns qua lại lẫn nhau Nếu một nước kém phát triển không nhận được vốn ODA đủ mức cần thiết để hiện đại hóa kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, thì khó có thể thu hút được nguồn vốn FDI và các nguồn vốn tín dụng khác Nhưng nếu chỉ chú trọng nguồn vốn ODA, mà không tìm
sẽ không thể có thu nhập để trả nợ cho vốn
Trang 23Hình thức đầu tư
Trên thế giới, các hình thức đầu tư rất đa dạng từ hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hình thức liên doanh, hình thức công ty cổ phần, công ty quản lý vốn, chi nhánh công ty nước ngoài, đến hình thức gia công, lắp ráp Còn ở nước ta, theo pháp luật đầu tư nước ngoài hiện hành, đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm ba hình thức:
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là loại hình đầu tư, trong đó nhà đầu tư nước ngoài tự bỏ vốn thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh ở nước
sở tại và có tư cách pháp nhân của nước sở tại
- Doanh nghiệp liên doanh là loại hình đầu tư, trong đó nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước cùng góp vốn thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh là loại hình đầu tư, trong đó nhà đầu
tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước cùng bỏ vốn kinh doanh theo một hợp đồng, mỗi bên giữ tư cách pháp nhân riêng, không thành lập pháp nhân mới
Phương thức đầu tư
Ngoài khái niệm các hình thức đầu tư, còn có khái niệm phương thức đầu tư Phương thức đầu tư là cách tổ chức đưa vốn vào kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài Hiện nay, theo pháp luật đầu tư nước naoài tại Việt Nam
có các phương thức sau:
- BOT (Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao) là phương thức nhà đầu tư nước ngoài ký kết với cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, tự kinh doanh để thu hồi vốn, lợi nhuận trong thời hạn nhất định, sau thời hạn đó chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam [5, tr 4]
- BTO (Hợp đổng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh) là phương thức nhà đầu tư nước naoài ký kết với cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong,
Trang 24nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam Nhà nước Việt Nam dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn và lợi nhuận [5, tr 4].
- BT (Hợp đồng xây dựng - chuyển giao) là phương thức nhà đầu tư ký kết với cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận [5, tr 4]
- Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định do Chính phủ thành lập hoặc cho phép thành lập [5, tr 4]
- Khu cồng nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng cồng nghiệp và thực hiộn các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp do Chính phủ thành lập hoặc cho phép thành lập [5, tr 4]
Trên cơ sở khái niệm đầu tư nước ngoài, các hình thức đầu tư, phương thức đầu tư nước ngoài, cần làm sáng tỏ khái niệm pháp luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
Hiện nay, khoa học pháp lý của nước ta thống nhất nhận thức rằng, pháp luật đầu tư nước ngoài là một bộ phận trong hệ thống pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, xung quanh khái niệm pháp luật đầu tư nước ngoài còn có các quan điểm trái ngược nhau sau đây:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, pháp luật đầu tư nước ngoài là một
ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, vì nó có đối tượng, phương pháp, điều chỉnh riêng
Quan điểm thứ hai cho rằng, pháp luật đầu tư nước ngoài là một bộ
phận của ngành Tư pháp quốc tế, bời lẽ quan hộ đầu tư nước ngoài là một loại quan hệ có yếu tố nước ngoài Đây là quan điểm được thừa nhận ở Liên bang
Trang 25Nga và Luật Đầu tư nước naoài được viết thành một chương trong Giáo trình Luật Tư pháp quốc tế.
Quan điểm thứ ba cho rằng, pháp luật đầu tư nước ngoài là một bộ
phận của Luật Kinh tế Đây là quan điểm phổ biến được thừa nhận trong các giáo trình Luật Kinh tế của Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Luật thành phố Hổ Chí Minh Vấn
đề địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được viết thành một chương trong các giáo trình đó
Quan điểm thứ tư cho rằng, pháp luật đầu tư nước ngoài không thuộc
một ngành luật nào Việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt độns đầu tư nước ngoài có sự tham gia của nhiều ngành luật, trong đó các ngành luật như Luật Kinh tế, Luật Tư pháp quốc tế, Luật Dân sự, Luật Lao động, Luật Đất đai đóng vai trò rất quan trọng Nói cách khác, pháp luật đầu tư nước ngoài là nơi giao thoa của nhiều ngành luật khác nhau như Luật Kinh tế, Luật Tư pháp quốc tế, Luật Dân sự, Luật Lao động, Luật Đất đai
Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ tư, bởi lẽ:
Thứ nhất, quan điểm thứ nhất thiếu tính thuyết phục, bởi lẽ nếu giả
định pháp luật đầu tư nước ngoài là một ngành luật độc lập, thì nó phải có đối tượng, phương pháp, điều chỉnh đặc thù và phải tồn tại trong một thời gian dài Tuy nhiên, phương pháp điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài thực chất cũng là phương pháp điều chỉnh của Luật Kinh tế hoặc Tư pháp quốc tế mặc dù việc sử dụng có khác nhau về cấp độ, cho nên không thể nói có đặc thù hoàn toàn riêng Mặt khác, pháp luật đầu tư nước ngoài không thể tổn tại lâu dài, bởi lẽ trong xu thế của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đầu tư nước ngoài và đầu tư troQg nước ngày càng xích lại gần nhau và sẽ có mặt bằng pháp lý chung Nói cách khác, trong tương lai gần, ở nước ta có thể sẽ không tổn tại pháp luật đầu tư nước ngoài mà chỉ có pháp luật khuyến khích đầu tư nước ngoài hoặc pháp luật đầu tư chung cho cả đầu tư trong nước và đầu tư
Trang 26nước ngoài Hiện tại, do nước ta đans rất cần vốn đầu tư nước ngoài, kết cấu
hạ tầng thấp kém so với các nước trong khu vực, nền kinh tế đang trong quá trình hội nhập, nên nước ta vẫn phải có cả Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước Nếu so sánh với các nước phát triển như Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức thì ở các nước này không có pháp luật đầu tư nước ngoài mà chỉ có pháp luật đầu
tư chung cho cả trong nước và nước ngoài với nhiều tên gọi khác nhau, thí dụ: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 2ỌĨ là Luật Công ty, Cộng hòa Liên bang Đức gọi là Luật Kinh doanh Các nước trong khu vực tương đối phát triển như Singapore, Hàn Quốc cũng không có Luật Đầu tư nước ngoài mà chỉ có Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài
Mặt khác, pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không chỉ thuần túy là Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm 1987, 1996
và các văn bản hướng dẫn trực tiếp mà còn là các quy định trong các đạo luật khác như Luật Phá sản doanh nghiệp, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự cũng như trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia Với sự phân tích như vậy, rõ ràng, quan điểm coi pháp luật đầu tư nước ngoài là một ngành luật độc lập là không hợp lý, thiếu cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn
Thứ hai, lý luận chung về Nhà nước và pháp luật đã chỉ ra rằng, muốn
kết luận một lĩnh vực nào đó thuộc về một ngành luật, thì tiêu chí quan trọng nhất là các quan hộ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đó phải thuộc phạm vi điều chỉnh của ngành luật đó Từ luận điểm này cho thấy, nếu coi pháp luật đầu tư nước ngoài thuộc Luật Tư pháp quốc tế, thì các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải do Luật Tư pháp quốc tế điều chỉnh, mà đây lại là những quan hệ xã hội không thuộc phạm vi điều chỉnh của ngành luật này
Thứ ba, quan điểm coi pháp luật đầu tư nước ngoài là một bộ phận của
Luật Kinh tế có hạt nhân hợp lý, bởi lẽ Luật Kinh tế điều chỉnh những quan
Trang 27hệ kinh tế phát sinh trong lĩnh vực quản lý, lãnh đạo kinh tế của Nhà nước và
tổ chức thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ
sở Như vậy, hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và chức năng quản lý đầu tư nước ngoài của Nhà nước cũng nằm trong phạm vi đối tượng điều chỉnh của Luật Kinh tế Tuy nhiên, trong hoạt động đầu tư nước ngoài, ngoài quan hệ kinh tế, thương mại là các quan hệ chủ yếu, còn có các quan hệ dân sự, lao động, tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài, mà các quan hệ này lại không thuộc phạm vi đối tượng điều chỉnh của Luật Kinh tế, mà thuộc phạm vi đối tượng điều chỉnh của Luật Tư pháp quốc tế Chính vì vậy, cũng không thể coi pháp luật đầu tư nước ngoài là một bộ phận của Luật Kinh tế
Như vậy, quan điểm coi pháp luật đầu tư nước ngoài không thuộc một ngành luật nào, mà chỉ là nơi giao thoa của nhiều ngành luật và gần gũi với Luật Kinh tế, là hợp lý hơn cả Pháp luật đầu tư nước ngoài được hiểu theo nghĩa rộng, gồm ba bộ phận cấu thành:
Bộ phận thứ nhất: là đạo luật Đầu tư nước ngoài và các văn bản hướng
dẫn trực tiếp thi hành
Bộ phận thứ hai: là các chế định có liên quan đến đầu tư nước ngoài
được quy định trong các đạo luật khác
Bộ phận thứ ba: là các quy phạm pháp luật có liên quan đến đầu tư
nước ngoài được quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia
Pháp luật đầu tư nước ngoài được hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm đạo luật Đầu tư nước ngoài và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành trực tiếp
v ề đối tượng điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài
Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật đã chỉ ra rằng, đối tượng điều chỉnh của pháp luật là các quan hệ xã hội, nhưng không phải là tất cả các
Trang 28quan hệ xã hội Pháp luật chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội có liên quan đến đời sống cộng đổng, liên quan tới việc củng cố địa vị và lợi ích của công dân trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, vãn hóa, xã h ộ i còn những quan hệ
xã hội như quan hệ tinh cảm, quan hệ trong phạm vi nội bộ của các tổ chức xã
h ộ i không chịu sự điều chỉnh của pháp luật Đối tượng điều chỉnh của pháp luật có thể thay đổi tùy theo từng giai đoạn lịch sử, phụ thuộc vào ý thức chủ quan của giai cấp thống trị và các điều kiện chính trị, xã hội khác
Trên quan điểm như vậy, đối tượng điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Các quan hệ này bao gồm:
- Quan hộ giữa nhà đầu tư nước ngoài với Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam mà đại diện là các cơ quan có thẩm quyền, trong quá trình tìm hiểu mỏi trường đầu tư, cấp Giấy phép đầu tư và quản lý các hoạt động đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
- Quan hệ hợp tác kinh doanh, liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà đầu tư trong nước
- Quan hệ giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế
- Quan hệ giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các tổ chức, cá nhân nước ngoài
- Quan hộ giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền
- Quan hệ giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư trong nước với người lao động
- Quan hệ giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư trong nước với các cơ quan tài phán trong nước và quốc tế
- Các quan hệ khác
Trang 29Các quan hệ xã hội phát sinh trons hoạt động đầu tư nước ngoài ở Việt Nam và được pháp luật điều chỉnh được gọi là các quan hệ pháp luật đầu
tư nước ngoài Đặc trưng có tính chất bao trùm của các quan hộ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài là yếu tố nước ngoài Các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của các ngành luật khác như Luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Kinh tế có thể cũng có yếu tố nước ngoài, nhưng không có tính chất bao trùm như quan hộ đầu tư nước ngoài
V ề phương pháp điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài
Xét dưới góc độ lý luận chung về N hà nước và pháp luật, phương pháp điều chỉnh của pháp luật là tổng hợp tất cả những cách thức tác động của pháp luật lên các quan hộ xã hội Phương pháp điều chỉnh của pháp luật phụ thuộc vào nội dung, tính chất của các quan hộ xã hội là đối tượng điều chỉnh của pháp luật và ý muốn chủ quan của nhà làm luật thông qua sự nhận thức của họ về lợi ích của giai cấp, của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử Phương pháp điều chỉnh của pháp luật có những đặc điểm: do Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền đặt ra; được ghi nhận trong quy phạm pháp luật; được Nhà nước đảm bảo thực hiện trên cơ sở có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước
Luật Đầu tư nước ngoài, theo chúng tôi, có ba phương pháp điều chỉnh:
Phương pháp thứ nhất - phương pháp thỏa thuận hay còn gọi là phương pháp tự nguyện
Đây cũng là phương pháp điều chỉnh của Luật Kinh tế, Luật Dân sự, Luật Lao động Quan hệ đầu tư nước ngoài là quan hộ tự nguyện được thiết lập trên cơ sở thỏa thuận về hình thức đầu tư, nội dung, mục tiêu, thời hạn đầu
tư Trong cơ chế thị trường, không chủ thể nào trong quan hệ kinh tế nói chung, quan hệ đầu tư nước ngoài nói riêng có quyền ra lệnh, bất buộc chủ thể khác phải làm theo ý mình; các chủ thể đều phải tuân theo các quy luật kinh tế khách quan Nhà nước hoặc các chủ thể trong nước có thể đưa ra danh
Trang 30mục kêu gọi đầu tư, nhưng nhà đầu tư nước ngoài có quvền quyết định có đầu
tư vào nước sở tại hay không Để đạt được sự thỏa thuận, các bên phải có sự bàn bạc, trao đổi, có những sự nhân nhượng cần thiết theo nguyên tắc đảm bảo các bên đều có lợi Vấn đề quan trọng là biết thỏa thuận sao cho phù hợp với lợi ích của mỗi bèn Những yêu cầu mang tính chất áp đặt của bất cứ bên nào, đều không thể dẫn đến quá trình đầu tư Nếu ta quá nhân nhượng, sẽ dẫn đến vi phạm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, nhưng nếu không chú
ý đúng mức đến lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài, cũng không thể thu hút họ vào đầu tư ở nước ta
Quan hệ đầu tư nước ngoài diễn ra theo nhữns quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, cho nên Nhà nước không thể can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất - kinh doanh của họ, mà chỉ tạo hành lang pháp lý cho hoạt động đầu tư nước ngoài Vấn đề ở chỗ, Nhà nước chỉ can thiệp bằng biện pháp hành chính trong các trường hợp cần thiết liên quan đến các vấn đề quan trọng của quốc gia và trong trường hợp các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vi phạm các quy định của pháp luật Do đó, các thủ tục pháp lý cần được quy định rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu, dễ nhớ Pháp luật với tính chất là một
bộ phận quan trọng của môi trường đầu tư, về lâu dài phải tạo ra "sân chơi" bình đẳng cho các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư trong nước
Phương pháp thứ hai - phương pháp mệnh lệnh hay còn gọi là phương pháp bắt buộc
Phương pháp mệnh lệnh là phương pháp điều chỉnh của một số ngành luật có mối quan hệ tương tác, giao thoa với pháp luật đầu tư nước ngoài như Luật Hành chính, Luật Kinh tế nhưng trong pháp luật đầu tư nước ngoài, nó được sử dụng ở cấp độ khác
Bên cạnh những mặt tích cực, đầu tư nước ngoài cũng có mặt trái, mặt tiêu cực cần hạn chế, bởi lẽ đầu tư nước ngoài có bản chất của quan hộ thị trường, có mục đích là lợi nhuận nên dễ bất chấp, bỏ qua các lợi ích xã hội
Trang 31Vì vậv, ngoài phươns pháp thỏa thuận, pháp luật đầu tư nước nsoài còn sử dụng phương pháp mệnh lệnh hay còn gọi là phương pháp bắt buộc Để định hướng cho các hoạt động đầu tư nước ngoài theo một trật tự nhất định, phát huy tối đa những ưu điểm của nó, đồng thời hạn chế những tác động tièu cực của nó, pháp luật đầu tư nước ngoài vừa tạo ra "sân chơi" cho các hoạt động đầu tư nước ngoài, vừa tạo ra "hàng rào pháp lý" với những biện pháp chế tài nhất định và cơ chế đảm bảo thực hiện một cách chặt chẽ.
Để bảo vệ độc lập, chủ quvền của đất nước, thì phương pháp được thực hiện không thể là "thỏa thuận", mà phải mang tính chất mệnh lệnh, buộc các bên tham gia quan hệ đầu tư nước ngoài phải tuân thủ pháp luật của Việt Nam Nhà nước Việt Nam với chức năng điều hành, quản lý xã hội có quyền buộc mọi người có mặt trên đất nước Việt Nam phải tuân thủ những quy định của pháp luật, tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam Trong trường hợp nhà đầu tư cố tình vi phạm các quy định của pháp luật, xâm phạm độc lập, chủ quyền của Việt Nam, Nhà nước Việt Nam
có quyền áp dụng các biện pháp chế tài cần thiết đối với người vi phạm Do không tuân thủ pháp luật Việt Nam, thực hiện những hành vi gây thiệt hại cho các lợi ích xã hội được Nhà nước bảo vệ, nhà đầu tư nước ngoài phải chịu trách nhiệm pháp lý về những gì họ gây ra
Phương pháp thứ ba - phương pháp khuyến khích
Ngoài hai phươna pháp trên, pháp luật đầu tư nước ngoài còn sử dụng phương pháp điều chỉnh thứ ba, đó là phương pháp khuyến khích Phương pháp này mang tính chất khuyến khích các cá nhân, tổ chức nước ngoài đầu
tư vào các lĩnh vực mà ta đang cần như: thực hiện các chương trình kinh tế lớn, sản xuất hàng xuất khẩu và thay thế hàng nhập khẩu; sử dụng kỹ thuật cao, đào tạo công nhân lành nghề; đầu tư theo chiều sâu để khai thác, tận dụng các khả năng và nâng cao công suất của các cơ sở kinh tế hiện có; sử dụng nhiều lao động, nguyên liệu và tài nguyên thiên nhiên sẵn có ở Việt
Trang 32Nam; xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng; đầu tư vào những vùng sâu, vùng xa, kinh tế khó khăn Để có thể sử dụng phương pháp này, pháp luật đầu
tư nước ngoài phải có những quy định mang tính chất ưu đãi về thuế, về sử dụng đất và các biện pháp khuyến khích, bảo đảm đầu tư khác
Ba phương pháp điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau và được sử dụng trong sự kết hợp với nhau Sẽ là sai lầm nếu như tuyệt đối hóa bất cứ phương pháp nào, kể cả việc tuyệt đối hóa phương pháp thỏa thuận là phương pháp mang tính chất đặc trưng của pháp luật đầu tư nước ngoài
Việc nghiên cứu pháp luật đầu tư nước ngoài hoặc pháp luật khuyến khích đầu tư nước ngoài của một số nước trên thế giới như Indonesia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc, cho thấy, các nước này đều
sử dụng cả ba phương pháp điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài, chỉ khác nhau ở sự kết hợp ba phương pháp
Ở Indonesia, Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành năm 1967 và được bổ sung, sửa đổi nãm 1970 Theo luật này, căn cứ vào nhu cầu và mục tiêu phát triển kinh tế quốc dân trong từng thời kỳ, Chính phủ có thể ban hành danh mục các lĩnh vực khuyến khích, hạn chế và cấm đầu tư Danh mục cấm đầu tư nước ngoài bao gồm: khai thác lâm sản, kinh doanh sòng bạc, sử dụng
và nuôi trồng rong biển, sơ chế nguyên liệu gỗ, trồng trọt và chế biến cần sa Danh mục lĩnh vực không cho phép người nước ngoài sở hữu 100% vốn bao gồm: xây dựng và kinh doanh cảng biển, sản xuất và phân phối điện, viễn thông; vận tải biển, vận chuyển hàng không, sản xuất điện nguyên tử [9, tr 29]
Khác với Indonesia, Luật Đầu tư nước ngoài của Malaysia không cấm người nước ngoài đầu tư trên bất kỳ lĩnh vực nào, mà chỉ quy định một tỉ lệ tham gia tối thiểu của các công ty Malaysia tại các dự án nước ngoài trong một số lĩnh vực nhất định Trong Luật Đầu tư nước ngoài của Malaysia, phương pháp khuyến khích được sử dụng tối đa Malaysia khuyến khích đầu
Trang 33tư nước ngoài, đặc biệt đối với các ngành công nghiệp có sử dụng công nghệ mới, công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và ngành du lịch [9, tr 30].
Luật Đầu tư nước ngoài của Philippines khuyến khích đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực được coi là quan trọng đối với việc phát triển các ngành công nghiệp nội địa và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước như: cải thiện mức sống và tạo việc làm cho người Philippines; nàng cao giá trị hàng nông sản, chất lượng, sản lượng và các mặt hàng xuất khẩu; tãng cường cạnh tranh trên thị trường quốc tế; chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và cung cấp dịch vụ
Các lĩnh vực hạn chế hoặc cấm đầu tư nước ngoài của Philippines được quy định tại danh mục kèm theo Luật Đầu tư nước ngoài năm 1991 và được sửa đổi, bổ sung theo từng thời kỳ Quy định mới nhất được ban hành cuối nám 1994, theo đó danh mục A quy định các lĩnh vực ưu tiên dành cho công dân Philippines Đối với những lĩnh vực này, đầu tư nước ngoài có thể bị cấm hoặc chỉ được tham gia cổ phần ở mức không vượt quá 40% Danh mục
B quy định những lĩnh vực đầu tư nước ngoài chỉ được tham gia hạn chế, đó
là các lĩnh vực liên quan đến an ninh, quốc phòng, y tế, các lĩnh vực ảnh hưởng xấu tới thuần phong, mỹ tục Danh mục c quy định các lĩnK vực mà nhu cầu của nền kinh tế và của người tiêu dùng đã được thỏa mãn, không cần phải có thêm đầu tư nước ngoài
Theo Luật Đầu tư nước ngoài của Thái Lan, đầu tư nước ngoài trong một số lĩnh vực như ngân hàng, thủy sản, vận chuyển hàng không, xuất khẩu, khai khoáng có thể bị hạn chế theo các đạo luật riêng [9, tr 30]
ở Singapore, không có đạo luật riêng về đầu tư nước ngoài, nhưng đầu
tư nước ngoài, đặc biệt là đầu tư vào các dự án có sử dụng công nghệ hiện đại, sản xuất hàng xuất khẩu được đặc biệt khuyến khích [9, tr 31]
ở Trung Quốc, trong Luật Đầu tư nước ngoài có quy định cụ thể ba loại danh mục:
Trang 34- Danh mục các ngành công nghiệp khuyến khích đầu tư nước ngoài.
- Danh mục các ngành công nghiệp cấm đầu tư nước ngoài
- Danh mục các ngành công nghiệp hạn chế đầu tư nước ngoài
Từ năm 1995 trở lại đây, phương pháp khuyến khích đã được Trung Quốc sử dụng tối đa Phạm vi các ngành công nghiệp khuyến khích đầu tư nước ngoài đã được mở rộng hơn trước Một số ngành và lĩnh vực trước đây bị cấm nay đã cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia như: vận tải hàng không, tài chính, bảo hiểm, kinh doanh chứng khoán, kiểm toán và thương mại Mục đích của việc ban hành các danh mục nói trên nhằm xác định hướng thu hút đầu tư nước ngoài vào một số ngành công nghiệp nhất định, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài trong việc cập nhật thông tin về chính sách thu hút đầu tư nước ngoài trong từng thời kỳ [9, tr 28]
Như vậy, pháp luật đầu tư nước ngoài có đối tượng và phương pháp điều chỉnh mang tính đặc thù ở cấp độ nhất định Sự khác nhau về đối tượng điều chỉnh, theo chúng tôi, xuất phát từ chức nãng của mỗi ngành luật Pháp luật đầu tư nước ngoài không điều chỉnh các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như các ngành luật khác, nó chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm về pháp luật đầu tư nước ngoài như sau:
Pháp luật đầu tư nước ngoài là hệ thống những quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong tĩnh vực đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
Về nội dung của pháp luật đầu tư nước ngoài (hệ thống pháp luật đầu
tư nước ngoài):
Pháp luật đầu tư nước ngoài không phải là tổng hợp một cách máy móc, giản đơn các quy phạm pháp luật đầu tư nước ngoài, mà là một hệ thống, một chỉnh thể thống nhất các nhóm quy phạm có quan hộ hữu cơ với nhau Pháp luật đầu tư nước ngoài gồm hai phần: Phần chung và Phần riêng
Trang 35Phần chung của pháp luật đầu tư nước ngoài bao gồm các quy phạm điều chỉnh các quan hộ có tính chất chung, phát sinh trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài như các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam, nguyên tấc bảo đảm quyền sở hữu đói với vốn đầu tư và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài ; các quy phạm định nghĩa về các khái niệm cơ bản trong hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam như "Bèn nước ngoài", "Bên Việt Nam", "Đầu tư nước ngoài", "Xí nghiệp liên doanh"
Phần riêng của pháp luật đầu tư nước ngoài bao gồm các nhóm quy phạm điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài cụ thể, nói cách khác là các quy định cụ thể sau đây:
- Những quy định về hình thức đầu tư, phương thức đầu tư
- Những quy định về thuế, ngân hàng, tài chính, k ế toán, thống kẻ
- Những quy định về chuyển giao công nghệ, sở hữu công nghiệp
- Những quy định về Hải quan, xuất nhập khẩu
- Những quy định về đất đai, xây dựng, lao động
- Những quy định về hợp đồng kinh tế, trọng tài, xử lý tranh chấp
- Những quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư nước ngoài
1.2.2 Đặc trưng cơ bản của pháp luật đầu tư nước ngoài
Từ khái niệm pháp luật đầu tư nước ngoài đã được trình bày ở trên và qua nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật đầu tư nước ngoài hiện hành,
có thể rút ra những đặc trưng cơ bản của nó như sau:
Đặc trưng thứ nhất - Pháp luật đầu tư nước ngoài ra dời trước khi có quan hệ đầu tư nước ngoài trên thực tế ở Việt Nam.
Thông thường, trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, các quan hộ xã hội được hình thành một cách tự nhiên, vận động theo các quy luật khách quan Để điều chỉnh các quan hệ xã hội tổn tại, phát triển theo
Trang 36hướng mà Nhà nước mong muốn và để phản ánh đúns thực tiễn khách quan,
N hà nước xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật Khi chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, chúng ta chưa đổng thời và chưa kịp thời chuẩn bị được một hộ thống các quy tắc xử sự trong đời sống kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước Như vậy, so sánh với tiến trình của các quan hệ kinh tế, pháp luật thường xuất hiện chậm
so với sự biến động và phát triển của các quan hệ kinh tế Năm 1977, khi các quy phạm pháp luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam lần đầu tiên được ban hành, thì trên thực tế ở Việt Nam hoàn toàn chưa có quan hệ đầu tư nước ngoài Đây là vấn đề có thể lý giải được, vì lúc đó cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp đang ngự trị trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế -
xã hội Các nhân tố của kinh tế thị trường như tự do thương mại, tự do cạnh tranh, thị trường vốn, thị trường lao động, xuất nhập khẩu tư bản chưa được chấp nhận chính thức trong các vãn bản của Đảng và Nhà nước ta Đầu tư nước ngoài với tính chất là sự vận động trực tiếp của tư bản nước ngoài vào Việt Nam vào thời điểm đó chưa được nhiẻu người tán thành Chỉ sau khi có chính sách đổi mới tư duy lý luận và tư duy kinh tế của Đảng và Nhà nước, thì đạo luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mới có cơ hội ra đời, các quan
hệ đầu tư nước ngoài mới hình thành và phát triển trên cơ sở pháp lý đó Vì những lẽ đó, chúng tôi chia sẻ quan điểm của TS Hoàng Phước Hiệp cho rằng
"hệ thống các quy phạm pháp luật đầu tư nước ngoài được ban hành trước khi
có quan hệ đầu tư nước ngoài theo đúng nghĩa của từ đó trên thực tế tại Việt Nam" [37, tr 51]
Việc pháp luật đầu tư nước ngoài "vượt trước” hoạt động đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, không phải là hiện tượng trái quy luật Dưới góc độ của triết học Mác - Lênin, cơ sở hạ tầng có mối quan hộ biện chứng với kiến trúc thượng tầng Trong mối quan hệ này, pháp luật với tính chất là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng chịu sự quy định của cơ cấu kinh tế Tuy chịu sự quy định của cơ sở hạ tầng, nhưng pháp luật vẫn có tính độc lập tương đối, tác
Trang 37động trờ lại cơ sở hạ tầng Sự tác động của pháp luật nếu phù hợp với quy luật kinh tế - xã hội, với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, thì thúc đẩy sự phát triển của xã hội; ngược lại, nếu sự tác động của pháp luật không phù hợp với quy luật kinh tế - xã hội, không phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, sẽ cản trở sự phát triển của sản xuất, xã hội Trong một số trường hợp nhất định, pháp luật có thể "vượt trước”, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội Hơn nữa, nếu xem xét nền kinh tế nước ta dưới góc độ là một
bộ phận của nền kinh tế khu vực và trên thế giới, thì hoạt động đầu tư nước ngoài đã tồn tại từ rất lâu ở nhiều nước trên thế giới với các mức độ khác nhau Như vậy, pháp luật về đầu tư nước ngoài và hoạt động đầu tư nước ngoài ở Việt Nam là cái có sau so với nhiều nước trên thế giới và đương nhiên
bị chi phối bởi quá trình quốc tế hóa nền kinh tế của các nước Đây có thể coi
là vấn đề hợp quy luật trong tiến trinh hội nhập của nước ta vào đời sống kinh
tế của các nước trong khu vực và trên thế giới
So với các ngành luật truyền thống như Luật Hiến pháp, Luật Dân sự, Luật Lao động, Luật Đất đai pháp luật đầu tư nước ngoài ra đời muộn hơn nhiều Tuy còn rất non ưẻ, nhung pháp luật đầu tư nước ngoài đã nhanh chóng khẳng định được vị trí quan trọng, không thể thiếu trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay Trong tương lai, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước và xu thế hội nhập kinh tế khu vực và trên thế giới, pháp luật đầu tư nước ngoài có xu hướng xích lại ngày càng gần hơn, với tốc độ nhanh hơn với pháp luật đầu tư trong nước Đây có thể coi là một đặc trưng của pháp luật đầu tư nước ngoài mà các ngành luật khác không có và cần được lưu ý dưới góc độ lý luận
Đặc triơig thứ hai - Trong hệ thống pháp luật V iệt Nam, pháp luật đầu tư nước ngoài có một s ố quy phạm pháp luật đầu tiên hướng tới nền kinh
t ế thị trường
Vào thời điểm nãm 1977, sau hai năm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, nhân dân ta mới bắt tay vào công cuộc xây dựng và phát triển
Trang 38kinh tế với cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp và nền kinh tế cơ bản có hai thành phần là kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, thì sự ra đời của Điều lộ Đầu
tư nước ngoài năm 1977 là một bước đột phá vào nền kinh tế thị trường Vì lẽ
đó, Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977 là văn bản pháp lý đầu tiên trong hộ thống pháp luật của Việt Nam tạo hành lang pháp lý cho hoạt động đầu tư nước ngoài Trong Điều lệ này, Nhà nước ta đã khuyến khích, kêu gọi đầu tư nước ngoài vào mọi lĩnh vực của nền kinh tế, trừ những ngành bị cấm Điều đó thể hiện chủ trương cởi mở, đa dạng hóa các lĩnh vực đầu tư của nước ta Như vậy, xét dưới góc độ lý luận, có thể khẳng định, công cuộc đổi mới do Đảng và Nhà nước khởi xướng chính thức được tính từ năm 1986, nhưng tiền đề của nó đã xuất hiện ngay từ năm 1977 trong Điều lệ Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thời kỳ từ nãm 1977 đến năm
1986, Điều lộ Đầu tư nước ngoài năm 1977 cũng là văn bản pháp lý đầu tiên hướng tới nền kinh tế thị trường, thể hiện chính sách "mở cửa" của Đảng và Nhà nước ta Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 cũng có một số quy định
"vượt rào” so với Hiến pháp nãm 1980 như không quốc hữu hóa, thừa nhận thành phần kinh tế tư bản, tư nhân Đây có thể coi là một đặc trưng của pháp luật đẩu tư nước ngoài cần được lưu ý dưới góc độ lý luận
Đặc trưng thứ ba - pháp luật đầu tư nước ngoài có một s ố chủ th ể đặc thừ.
Pháp luật đầu tư nước ngoài điều chỉnh quan hệ đầu tư nước ngoài, trong đó ít nhất một bên là cá nhân, tổ chức kinh tế hoặc cơ quan nhà nước Việt Nam và bên kia là tổ chức, cá nhân nước ngoài Tổ chức kinh tế Việt Nam được hiếu là các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập, tổ chức và hoạt động theo các quy định của pháp luật Việt Nam; cơ quan nhà nuớc ở đây là cơ quan được Chính phủ ủy quyền ký kết với các cá nhàn,
tổ chức nước ngoài thực hiện các hợp đồng BOT, BT, BTO; tổ chức, cá nhân nước ngoài là các tổ chức kinh tế nước ngoài hoặc cá nhân nước ngoài tham
Trang 39gia quan hệ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Nếu giả định trong quan hệ đầu
tư nước ngoài không có sự tham gia của tổ chức, cá nhân nước ngoài, mà chỉ
có sự tham gia của các cá nhân, tổ chức trong nước, thì đây rõ ràng không còn
là quan hệ đầu tư nước ngoài nữa mà chỉ là quan hộ đầu tư giữa các cá nhân,
tổ chức trong nước với nhau Điều đó có nghĩa là ưong các quan hệ đầu tư nước ngoài có sự tham gia của tổ chức, cá nhàn nước ngoài và tổ chức, cá nhân trong nước, hoặc có sự tham gia của các cá nhân, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam Chủ thể của quan hệ pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam gồm có:
1) Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam
2) Các nhà đầu tư nước ngoài tham gia quan hộ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
3) Các nhà đầu tư Việt Nam tham gia quan hộ đầu tư nước ngoài.4) Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp BOT, BT, BTO
5) Người lao động
6) Các cơ quan tài phán trong nước và quốc tế
Trong số các chủ thể nói trên, có ba chủ thể có tính đặc thù như sau:a) Cơ quan nhà nước được Chính phủ ủy quyền ký kết và thực hiện hợp đồng BOT, BT, BTO theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài
Đây là chủ thể đặc biệt tham gia quan hộ pháp luật đầu tư nước ngoài với những quyền hạn và nghĩa vụ có tính đặc thù Nói cách khác, Nhà nước Việt Nam có thể tham gia quan hệ pháp luật đầu tư nước ngoài với tư cách là chủ thể có chủ quyền
b) Nhà đầu tư nước ngoài
Đây là công dân hoặc tổ chức kinh tế nước ngoài trực tiếp đưa vốn, tài sản công nghệ được Chính phủ Việt Nam chấp thuận vào Việt Nam để thành lập doanh nghiệp liên doanh với doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành
Trang 40phần kinh tế, để thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc để hợptác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh theo quy định củapháp luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
c) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước có quyền lựa chọn quy chế nhà đầu tư nước ngoài hoặc quy chế "chủ đầu tư" theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước Trong trường hợp họ lựa chọn quy chế nhà đầu tư nước nsoài, thì họ là chủ thể của quan hệ pháp luật đầu tư nước ngoài Mặt khác, theo quy định của pháp luật đầu tư nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài cũng có thể trở thành "nhà đầu tư Việt Nam" khi họ cùng với doanh nghiệp Việt Nam hợp thành Bên Việt Nam tham gia quan hệ đầu tư nước ngoài Việc pháp luật Việt Nam cho phép người Việt Nam định
cư ở nước ngoài được quyền lựa chọn một trong hai luật điều chỉnh, theo chúng tôi, là một biện pháp khuyến khích họ đầu tư trong nước, thể hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng; nó hoàn toàn mang tính đặc thù của Việt Nam mà các quốc gia khác không có Đây có thể coi là đặc điểm về chủ thể quan hộ pháp luật đầu tư nước ngoài cần được chú ý về mặt lý luận
Vê quyền và nghĩa vụ của chủ th ể quan hệ pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Cơ sở pháp lý để hình thành quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quan
hệ pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có những nét đặc thù riêng so với các ngành luật khác Khi tham gia vào quan hệ pháp luật đầu tư nước nsoài tại Việt Nam, các chủ thể của quan hệ pháp luật đó có các quyền và nghĩa vụ nhất định trên cơ sở các quy phạm pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, pháp luật của nước mà cá nhân, tổ chức kinh tế nước ngoài mang quốc tịch và các quy phạm của điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, hoặc trên cơ sở kết hợp ba loại quy phạm đó Trong khi đó, quyền
và nghĩa vụ của chủ thể các quan hệ pháp luật khác thường chỉ được hình