1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh ở nước ta

219 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 219
Dung lượng 24,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, một công trình nghiên cứu một cách có hệ thống lý luận về quyền tự do kinh doanh, vai trò của pháp luật kinh tế trong việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh và nhất là thực trạng

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các s ố liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công b ổ trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Bùi Ngọc Cường

Trang 4

Chương 1: QUYỀN Tự DO KINH DOANH VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP

LUẬT KINH TÊ TRONG VIỆC ĐẢM BẢO QUYỂN Tự

DO KINH DOANH

1.2 Vai trò của pháp luật kinh tế trong việc đảm bảo quyền tự do 36

kinh doanh

Chương 2: NHỮNG NỘI DUNG c ơ BẢN CỦA QƯYỂN Tự DO KINH 61

DOANH TRONG PHÁP LUẬT KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

2.1 Quyền được đảm bảo sở hữu đối với tài sản 61

2.5 Quyén tự do định đoạt trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế 105

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP c ơ BẢN VỂ XÂY DỰNG 121

VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT KINH TẾ NHẢM ĐẢM BẢO QUYỂN Tự DO KINH DOANH Ở NƯỚC TA TRONG THÒI GIAN TỚI

3.1 Những căn cứ cho việc hình thành những định hướng và giải pháp 1213.2 Một số định hướng chủ yếu của việc hoàn thiện pháp luật kinh 132

tê đám bảo quyền tự do kinh doanh

3.3 Những giải pháp cụ thể xây dựng, hoàn thiên pháp luật kinh tế [42

đảm bảo quyền tự do kinh doanh

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bất cứ nền kinh tế hàng hóa nào cũng tồn tại nhu cầu tự do kinh doanh Tuy nhiên, trong các xã hội khác nhau và ở trong từng thời kỳ lịch sử

cụ thể thì mức độ đảm bảo việc thực hiện nhu cầu tự do kinh doanh cũng khác nhau Điều này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng Lý luận và thực tiễn đã chứng minh hệ thống pháp luật là một trong những nhân tố quyết định cho việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh Sự khác nhau về tính hoàn thiện, tính hiệu quả của hệ thống pháp luật

là một trong những nhân tố quyết định cho việc đảm bảo thực hiện quyền lự

do kinh doanh Thông thường, ở những quốc gia có hệ thống pháp luật đồng

hộ thống nhất, minh bạch, có hiệu quả là những nước có thể khơi dậy nguồn hứng khởi cho các nhà kinh doanh, thu hút được các nguồn đầu tư cho sự phát triển kinh tế Ớ nước ta và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, do áp dụng cơ chê kế hoạch hóa lập trung baơ cấp, tự dơ kinh dơanli dã không đưực pháp luật công nhận và trên thực tế không tồn tại khái niệm "quyển tự do kinh doanh" Trong các văn bản pháp luật cũng như các văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nước ta lúc đó khó có thể tìm thấy khái niệm "quyền tự do kinh doanh"

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã đề ra đường lối đổi mới nói chung và cơ chế quản lý kinh tế nói riêng Theo đó, tự do kinh doanh

đã chính thức trở thành quyền pháp định Điều 4 Luật Công ty (1990) quy định "trong khuôn khổ pháp luật, công ty có quyền tự do kinh doanh" Đến Hiến pháp (1992) thì tự do kinh doanh đã trở thành quyền hiến định: "Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật" (Điều 57) Ở nước ta, quyền tự do kinh doanh là vấn đề còn rất mới mẻ trong khoa học pháp

lý Vì vậy, việc nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất, nội dung của quyền tự do kinh doanh, trên cơ sở đó thể chế hóa kịp thời và đầy đú những yêu cầu mà

Trang 6

quyền lự do kinh doanh đặt ra có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Ở phương diện này, pháp luật nói chung và pháp luật kinh tế nói riêng có vai trò quyết định đối với việc đảm bảo tự do kinh doanh Do đó, việc nghiên cứu để tìm ra những luận cứ khoa học, những định hướng và giải pháp cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế đảm bảo tự do kinh doanh ở nước ta là đòi hỏi bức thiết cả về lý luận và thực tiễn.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trên thế giới, khái niệm quyền tự do kinh doanh từ lâu đã được sử dụng khá phổ biến và rộng rãi Quyền tự do kinh doanh gắn liền với thuyết tự

do hóa kinh tế của Adam Smith Ông cho rằng, tự do trong kinh tế là tự do chọn nghề, tự do hành nghề, tự do sở hữu và tự do cạnh tranh được pháp luật đảm bảo

Quyền tự do kinh doanh ở nước ta gắn liền với quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Đặt ra yêu cầu bức xúc trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế đang được sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực Ở những phạm vi và mức độ khác nhau đã có khá nhiều công trình trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến vấn đề quyền tự do kinh doanh và

pháp luật kinh tế, như: Quyền con người trong th ế giới hiện đại do TS Phạm Khiêm ích và GS.TS Hoàng Văn Hảo chủ biên; Pháp luật trong cơ ch ế thị trường có sự quản lý của N hà nước của PGS.TS Trần Ngọc Đường; Thực trạng pháp luật kinh t ế ở nước ta và các quan điểm đổi mới đưa pháp luật kinh t ế vào cuộc sống của PGS.TS Nguyễn Niên; Quan điểm pháp luật kinh tế Irong nên kinh tê thị trường của cố PGS.TS Trần Trọng Hựu; Một sô vấn đề cấp thiết cần giải quyết đ ể đảm bảo quyền tự do kinh doanh của TS Dương Đăng Huệ; Pháp luật kinh t ế nước ta trong bước chuyển sang kinh t ế thị trường của TS Nguyễn Như Phát; Môi trường pháp luật kinh tế đầy đủ phù hợp với cơ c h ế thị trường của TS Hoàng Thế Liên; Pháp luật và quyền tự do kinh doanh của PGS.TS Lê Hồng Hạnh; Hoàn thiện luật kinh tế ở Việt Nam

Trang 7

trong nền kinh tế thị ỉrườìig định hướng xã hội chủ nghĩa, Luận án Phó Tiến sĩ của Nguyễn Am Hiếu; Đổi mới và hoàn thiện khung pháp luật kinh tế trong điều kiện kinh tê thị trườìig Việt Nam, Luận án Phó tiến sĩ của Nguyễn Minh Mẫn; Quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tê Việt N am , Luận văn

Thạc sĩ của Bùi Ngọc Cường

Ngoài ra, vấn đề hoàn thiện pháp luật kinh tế còn thu hút sự chú ý của nhiều đề tài khoa học thuộc dự án do các tổ chức quốc tế thực hiện như: Dự án

của UNDP mang tên Tăng cườìig năng lực pháp luật tại Việt Nam (Dự án VIE/94/003), mà nội dung chính là xây dựng khung pháp luật kinh tê phù hợp với nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

Nhìn chung, các bài viết, các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh và ở các mức độ khác nhau của quyền tự do kinh doanh Tuy nhiên, một công trình nghiên cứu một cách có hệ thống lý luận về quyền

tự do kinh doanh, vai trò của pháp luật kinh tế trong việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh và nhất là thực trạng của pháp luật kinh tế trong việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh ở nước ta hiện nay, trên cơ sớ đó đưa ra những kiến nghị để xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế đảm bảo quyền tự do kinh doanh thì cho đến nay vẫn chưa có

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận án

Căn cứ vào những quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cũng như từ thực tiễn xây dựng pháp luật trong thời gian qua, mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ quan niệm về quyền

tự do kinh doanh, vai trò của pháp luật kinh tế đối với việc đảm bảo quyền tự

do kinh doanh Trên cơ sở đó tìm ra những định hướng, giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế đảm bảo quyền tự do kinh doanh ở nước ta

Để thực hiện mục đích đó, nhiệm vụ của luận án là:

Trang 8

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền tự do kinh doanh; từ đó xác định đúng đắn bản chất, nội dung, những yếu tố chi phối quyền tự do kinh doanh.

- Nghiên cứu, lý giải vai trò của pháp luật kinh tế trong việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh

- Phân tích, đánh giá thực trạng những nội dung cơ bản của quyền tự

do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành

- Đề ra những định hướng và giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế đảm bảo quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu

Quyền tự do kinh doanh là vấn đề rất nhạy cảm có quan hệ mật thiết với nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội và pháp luật Pháp luật là phương tiện quan trọng nhất đảm bảo cho quyền tự do kinh doanh được thực hiện và phát huy giá trị tích cực trong cuộc sống Tuy nhiên, luận án chỉ tập trung nghiên cứu trong khuôn khổ pháp luật kinh tế Pháp luật kinh tế là bộ phận Cấu thành của cơ chế kinh tế Với nội dung, cơ cấu, cơ chế điều chỉnh của mình, pháp luật kinh tế có mối quan hệ mật thiết và có vai trò quan trọng, trong việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh Pháp luật kinh tế được đề cập trong luận án là khái niệm tổng hợp chỉ tổng thể các quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau có quan hệ trực tiếp đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý nền kinh tế

Khi nghiên cứu hệ thống pháp luật kinh tế, luận án cũng chủ yếu chỉ đi sâu nghiên cứu những chế định pháp luật có liên quan trực tiếp nhất với sự

luận án là luôn bám sát mối quan hệ giữa yêu cầu của quyền tự do kinh doanh

mà pháp luật kinh tế phải thể chế hóa và đảm bảo

Tác giả của luận án cũng ý thức rằng để đảm bảo quyền tự do kinh doanh cần phải giải quyết nhiều vấn đề thuộc các lĩnh vực khác nhau như cải

Trang 9

cách bộ máy hành chính, nâng cao năng lực quản lý cho cán bộ, công chức nhà nước, cải cách thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh Đó là những vấn đề phức tạp cần phải được tiếp tục nghiên cứu ở các

công trình khoa học pháp lý tiếp theo sau này.

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới nhằm xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Mà thực chất là dân chủ hóa trong đời sống kinh

tế - xã hội để phát huy mọi tiềm năng phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Luận án vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của triết học Mác - Lênin, của lý luận nhà nước và pháp luật, đặc biệt là lý luận về pháp luật kinh tế trong điều kiện cơ chế kinh tế mới Trong đó, luận án đặc biệt chú ý đến việc vân dụng phương pháp biện chứng, phương pháp lịch

sử để phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp trong quá trình giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra

6 Những đóng góp mới về khoa học và thực tiễn của luận án

Luận án có những điểm mới sau:

- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống lý luận về quyền tự do kinh doanh

- Luận án phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật kinh tế đảm bảo quyền tự do kinh doanh ở nước ta hiện nay

- Luận án đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện những chế định pháp luật quan trọng có liên quan trực tiếp đến việc đảm bảo thực hiện quyền tự do kinh doanh Trong đó, đáng chú ý là hình thức sở hữu pháp nhân; thống nhất sự điều chỉnh pháp luật về doanh nghiệp; thống nhất sự điều

Trang 10

chỉnh pháp luật về hợp đồng Đó là những vấn đề mới mẻ trong khoa học pháp

lý nước ta hiện nay

Về mặt thực tiễn, trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật kinh tế đảm bảo quyền tự do kinh doanh ở nước ta, luận án đã đưa ra những kiến nghị cụ thể góp phần vào hoạt động xây dựng pháp luật kinh tế của nước ta trong thời gian tới, nhằm đảm bảo sự vận hành của nền kinh tế thị trường với nguyên tắc

cơ bản là tự do kinh doanh

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung luận án bao gồm 3 chương

Trang 11

Chương 1

QUYỂN T ự DO KINH DOANH VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT KINH TẾ TRONG VIỆC ĐẢM BẢO

QUYỂN T ự DO KINH DOANH

1.1 NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ QUYỀN Tự DO KINH DOANH

1.1.1 Khái niệm kinh doanh và quyền tự do kinh doanh

1.1.1.1 Khái niệm kinh doanh

Dưới góc độ kinh tế, kinh doanh là một phạm trù gắn liền với sản xuất hàng hóa, là tổng thể các hình thức, phương pháp và biện pháp nhằm tổ chức các hoạt động kinh tế, phản ánh quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi tiêu dùng của cải vật chất xã hội nhầm mục đích thu về một giá trị lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu

Hoạt động kinh dơanh gắn liền với quan hệ sù hữu và bị quan hệ sở hữu chi phối Trong "Tư bản", C.Mác đã phân biệt rõ hai loại tư bản: tư bản sở hữu và tư bản chức năng Tư bản sở hữu là tư bản "chết", nằm yên; tư bản chức năng là lư bản hoạt động, tư bản kinh doanh, làm cho tư bản "chết" thành tư bản "sống" Tùy thuộc vào tính chất của chế độ sở hữu sẽ có một chế độ kinh doanh nhất định Mặt khác, quan hệ kinh doanh có tác động trở lại quan hệ sở hữu Quan hệ sở hữu quyết định bản chất xã hội của quan hệ kinh doanh, mục đích và xu hướng vận động của nó Nhưng tự nó, quan hệ sở hữu không tạo ra

và không làm tăng thêm sản phẩm và giá trị Nó chỉ là điều kiện cơ bản và tiên quyết của kinh doanh Muốn làm được điều đó quan hệ sở hữu phải được thực hiện thông qua quan hê kinh doanh Nhờ có quan hê kinh doanh mà quan hê

sở hữu được thực hiện về mặt kinh tế, kinh doanh càng có hiệu quả thì mức độ thực hiện sở hữu về mặt kinh tế càng cao Kinh doanh bao giờ cũng phục vụ

Trang 12

cho chê độ sở hữu, là hành động tiếp theo của sở hữu Do đó, kinh doanh đóng vai trò làm cho sở hữu từ chỗ tồn tại về mặt hình thức trở thành tồn tại hiện thực.

Với quan niệm đó, kinh doanh được chia thành nhiều kiểu, chế độ, lĩnh vực khác nhau, như kinh doanh trong nền sản xuất hàng hóa giản đơn, kinh doanh trong nền kinh tế thị trường; kinh doanh tư bản chủ nghĩa, kinh doanh xã hội chủ nghĩa; kinh doanh trong công nghiệp, kinh doanh trong nông nghiệp, kinh doanh trong thương nghiệp, kinh doanh trong vận tải Tuy nhiên, dù phân chia như thế nào thì mục đích cuối cùng của kinh doanh là làm tăng thêm giá trị vật chất cho xã hội và đối với từng nhà kinh doanh thì đó chính là lợi nhuận

Ở nước ta, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp trước đây đã

có quan niệm không đầy đủ, không đúng về kinh doanh Kinh doanh được hiểu theo nghĩa rất hẹp, kinh doanh được coi là một phần của quá trình tái sản xuất, cụ thể là chỉ gắn với hoạt động lưu thông, trao đổi, là buôn bán Thậm chí, có người còn ác cảm với kinh doanh, coi kinh doanh là con đường dẫn tới bóc lột Do vậy, chỉ có các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh, tập thể) mới được phép kinh doanh, còn các thành phần kinh tế khác thì bị hạn chế và cấm đoán

Thực ra, kinh doanh như đã trình bày ở trên luôn gấn với quan hệ hàng hóa - tiền tệ và quy luật giá trị Trong bất cứ phương thức sản xuất nào, còn sản xuất hàng hóa và quy luật giá trị tồn tại khách quan thì còn kinh doanh với tính cách là phương thức hoạt động kinh tế của con người

Ở nước ta, khái niệm kinh doanh được định nghĩa trong Luật Công ty (1990) Theo quy định tại Điều 3 của đạo luật này thì: "Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi" Khái niệm kinh doanh được khẳng định lại trong Luật Doanh nghiệp (1999) (khoản 2 Điều 3)

Trang 13

Với khái niệm trên, kinh doanh đã được hiểu một cách đầy đủ, đúng đắn bao gồm tất cả các hoạt động như: đầu tư, sản xuất, trao đổi, dịch vụ nếu các hoạt động này nhằm mục đích sinh lợi Hoạt động này không nhất thiết phải bao gồm tất cả các công đoạn để đạt đến kết quả cuối cùng mà chỉ cần một trong các hoạt động nói trên là đủ, miễn sao hoạt động đó có mục đích sinh lợi Với khái niệm này, kinh doanh có nội dung rất rộng và ở mức độ khái quát có thể đưa ra những dấu hiệu đặc trưng sau:

- Kinh doanh là hoạt động mang tính nghề nghiệp Điều đó có nghĩa là trong xã hội đã có những người, nhóm người, tổ chức mà nghề nghiệp chính của họ là kinh doanh, sống bằng nghề kinh doanh Kinh doanh mang tính thường xuyên, liên tục, ổn định và lâu dài

- Kinh doanh là hành vi diễn ra trên thị trường Cụ thể, hoạt động kinhdoanh phản ánh mối quan hệ giữa các nhà kinh doanh với nhau, với xã hội nóichung thông qua các quan hệ mua bán, trao đổi, tiêu dùng Những quan hệ này tự nó phản ánh quan hệ hàng hóa - tiền tệ

- Mục đích của kinh doanh là lợi nhuận

Kinh doanh đã trở thành một nghề trong xã hội (và là nghề quan trọng

vì nó tạo ra của cải vật chất, tinh thần để xã hội tồn tại và phát triển), do đó nó

có những đòi hỏi riêng về chủ thể cũng như điều kiện để hoạt động kinh doanh

Một trong những đòi hỏi mang tính quy luật của nền kinh tế thị trường

là phải bảo đảm quyền tự do kinh doanh cho con người Vấn đề này bắt nguồn từ yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường là sự tồn tại những hình thức sở hữu khác nhau, của quy luật giá trị, quy luật canh tranh Đồng thời nó cũng phù

1.1.1.2 Khái niệm quyền tự do kinh doanh

Quyền tự do kinh doanh là một bộ phận hợp thành trong hệ thống các quyền tự do của công dân Để có quan niệm đúng đắn về nó, trước hết cần tìm

Trang 14

hiểu để nhận thức đầy đủ nội hàm các khái niệm quyền con người, quyền công dân nói chung dưới góc độ lịch sử, nguồn gốc và bản chất.

Quyền con người (nhân quyền), quyền công dân (dân quyền) luôn là

mối quan tâm của nhân loại ở mọi thời kỳ lịch sử Mỗi bước phát triển của lịch

sử xã hội loài người đều gắn liền với cuộc đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội nhằm giải phóng con người

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại có các quan niệm khác nhau về sự ra đời, bản chất của quyền con người

Trước khi học thuyết "pháp luật tự nhiên" ra đời, trong lịch sử nhân loại đã từng có quan niệm (tuy còn ít và rời rạc) cho rằng con người mang thuộc tính tự nhiên, con người ra đời đương nhiên có quyền tự do Quyền tự do của con người không do ai ban phát Quyền con người xuất hiện trước khi có Nhà nước, pháp luật Trong điều kiện lịch sử cụ thể đó, quan niệm này thể hiện khát vọng của con người, khi mà các quyền tự do của họ bị chà đạp, nhu cầu về quyền tự do đã trở nên bức xúc Lúc đó người ta thường tìm đến tính chất tự nhiên "tạo hóa", "bẩm sinh" các quyền tự do của con người Nhận xét

về quan niệm này, GS.TS Hoàng Văn Hảo viết: "Quan niệm này thể hiện tính triết học nhân bản, nhưng khó tránh khỏi tính trừu tượng phi lịch sử, khó tránh khỏi tính chất ảo tưởng khi xác định nội dung các quyền con người, quyền công dân trong đời sống thực tiễn" [11, tr 13]

Đến thế kỷ XVII, XVIII các nhà tư tưởng, nhà cải cách lỗi lạc như Locke, Rousseau đã đưa ra học thuyết "pháp luật tự nhiên nhân" Theo quan niệm của thuyết "pháp luật tự nhiên nhân" thì quyền con người là đặc quyền tự nhiên, quyền tự nhiên, "pháp luật tự nhiên" đứng trên, cao hơn pháp luật Nhà nước Locke cho rằng các quyền cơ bản, tự nhiên của con người bao gồm: quyền sống, quyền được tự do và quyền có tài sản Thuyết pháp luật tự nhiên

ra đời có nguyên nhân lịch sử của nó Ó thời kỳ đó, xã hội phong kiến châu

Âu đang thống trị bởi hai thứ quyền lực là "Vương quyền" - quyền lực của

Trang 15

Nhà nước và "Thần quyền" - quyền lực của chúa trời Thế kỷ thứ XVII, XVIII, chế độ quân chủ đã được thiết lập ở hầu hết các nước phong kiến châu Âu và đạt đến đỉnh cao của sự tha hóa, nô dịch Đó cũng là thời kỳ các Vua coi Chúa, Thánh thần là đồng minh để hợp pháp hóa uy quyền của họ Sự liên minh quyền lực giữa "Vương quyền" và "Thẩn quyền" đã chà đạp thô bạo các quyền con người Vì lẽ đó, thuyết "pháp luật tự nhiên" ra đời nhằm thể hiện nhu cầu tự do của con người, khẳng định quyền con người là tự nhiên vốn có Thuyết pháp luật tự nhiên ra đời để chống lại, phủ nhận quyền lực, pháp luật của Nhà nước (Vương quyền), quyền lực, luật lệ của Nhà thờ thiên chúa giáo (Thần quyền).

Xét về mặt lịch sử, thuyết pháp luật tự nhiên mang giá trị nhân bản, nhân đạo về con người Nó đưa ra những tư tưởng, nguyên tắc để bảo vệ quyền

cá nhân con người trước quyền lực nhà nước Những giá trị đó về sau đã được thấm nhuần, được tiếp thu trong khoa học chính trị, pháp lý ở các nước tư sản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 coi quyền con người là quyền sống, quyền tư do và quyền mưu cầu hanh phúc Tuyên ngôn về quyền con người của Liên Hợp Quốc 1948 đã đề ra 30 điều có tính nguyên tắc về quyền con người Các Công ước của Liên Hợp Quốc khẳng định lại và cụ thể hóa thêm những nguyên tắc đó thành các quyền trong các lĩnh vực: chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội

Quan điổm của chủ nghĩa Mác - Lênin luôn đặt con người cũng như quyền con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội Quyền tự do của con người là khái niệm mang tính lịch sử, hình thành và phát triển trong cuộc đấu tranh giai cấp vì sự tiến bộ xã hội Quyền tự do của con người không phải là khái niệm trừu tượng, cũng không chỉ là quyền cá nhân con người mang tính

tự nhiên bẩm sinh, mà luôn gắn với trình độ phát triển và tiến bộ xã hội, chịu

sự chi phối của chế độ chính trị, chế độ kinh tế Khái niệm quyền tự do của con người không thể đặt trừu tượng bên ngoài Nhà nước và pháp luật Quyền

Trang 16

tự do của con người phản ánh mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân Với quan niệm đó, quyền con người được xem là giá trị được xã hội hóa, nghĩa là phải được Nhà nước ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật thì mới trở thành hiện thực.

Một mặt, quyền con người mang tính chất tự nhiên, do đó không phải Nhà nước (hoặc bất cứ ai) là kẻ ban tặng cho con người cái quyền vốn có của họ Mật khác, khi chưa được Nhà nước quy phạm hóa bằng pháp luật thì các quyền con người chưa được xã hội thừa nhận, cũng có nghĩa là chưa chính thức ra đời Vai trò của Nhà nước chính là ở chỗ đáp ứng được nhu cầu về quyền cá nhân con người trong xã hội, biết phát hiện nhu cầu hiện thực của việc xuất hiện các quyền con người để sớm thể chế hóa và bảo vệ bằng pháp luật [11, tr 19]

Cũng cần lưu ý là khái niệm quyền con người và khái niệm quyền công dân là không đồng nhất, xét về cả hai phương diện chủ thể và nội dung Quyền con người là khái niệm rộng hơn khái niệm quyền công dân Khái niệm quyển công dân mang tính xác định gắn liền với mỗi quốc gia, được pháp luật của mỗi quốc gia quy định, khái niệm quyền công dân không chứa đựng hết khái niệm quyền con người, v ề phương diện chủ thể, quyền công dân là cá nhân được xác định là công dân (có quốc tịch) trong khi đó chủ thể quyền con người ngoài những cá nhân là công dân còn bao gồm cả những người không phải là công dân (người nước ngoài, người không có quốc tịch, người bị pháp luật tước quyền công dân) Những người này tuy không được hưởng quyền công dân nhưng vẫn được hưởng các quyền con người với tư cách là một thực thể tự nhiên - xã hội

Ở Việt nam cũng như các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, quyền con người ít được nói đến, được mặc nhiên đồng nhất với quyền công dân Trong các vãn bản pháp luật chỉ sử dụng thuật ngữ quyền công dân Trong quá trình

Trang 17

đổi mới do Đảng ta đề xướng, những tri thức hợp lý của nhân loại đã và đang được chúng ta tiếp thu Điều 50 Hiến pháp (1992) nước ta quy định: "Ở nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân

được quy định trong Hiến pháp và pháp luật." Như vậy, có thể khẳng định rằng, việc ghi nhận và bảo đảm thực hiện tốt các quyền công dân cũng chính

là đã thực hiện nội dung cơ bản của quyền con người

Các quyền tự do của công dân rất đa dạng, liên quan đến mọi mặt của đời sống xã hội Trong hệ thống các quyền tự do đó thì quyền tự do kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Giá trị to lớn của quyền tự do kinh doanh thể hiện ở chỗ nó là tự do trong hoạt động kinh tế Hoạt động kinh tế luôn giữ vị trí trung tâm trong đời sống xã hội, quyết định các hoạt động khác

Từ quan niệm chung về quyền tự do của con người, cho phép chúng la khẳng định: Quyền tự do kinh doanh là một phạm trù pháp lý Dưới góc độ này,

quyền tự do kinh doanh được hiểu theo nghĩa chủ quan và nghĩa khách quan.

+ Theo nghĩa chú quan hay nhìn nhận dưới góc độ quyền chú thể:

quyền tự do kinh doanh được hiểu là khả năng hành động một cách có ý thức của cá nhân hay pháp nhân trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Theo nghĩa này, quyền tự do kinh doanh bao hàm những khả năng mà cá nhân hay pháp nhân có thể xử sự như: tự do đầu tư tiền vốn để thành lập doanh nghiệp, tự do lựa chọn mô hình tổ chức kinh doanh; tự do lựa chọn đối tác để thiết lập các quan hệ kinh tế, tự do cạnh tranh, tự do định đoạt trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh Những khả năng xử

sự này là thuộc tính tự nhiên của cá nhân (hay pháp nhân) chứ không phải do Nhà nước ban tặng Song những khả năng xử sự đó muốn trở thành hiện thực thì phải được Nhà nước thể chế hóa bằng pháp luật và khi đó nó mới trở thành

"thực quyền" Cũng chính vì vậy mà quyền tự do kinh doanh với tư cách là quyền năng chủ thể cũng có giới hạn nhất định, vì như Lênin từng chỉ rõ:

Trang 18

"Sông trong một xã hội mà lại thoát khỏi xã hội ấy để được tự do, đó là điều không thể được" [56, tr 127].

+ Theo nghĩa khách quan hoặc được xem xét dưới góc độ là một chế định pháp luật: quyền tự do kinh doanh là hệ thống các quy phạm pháp luật và những đảm bảo pháp lý do Nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện cho các cá nhân hay pháp nhân thực hiện quyền chủ thể nói trên Với quan niệm đó, quyền tự do kinh doanh - một mặt bao gồm những quyền mà họ được hưởng; mặt khác, đó là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, công chức nhà nước

khi thực hiện chức năng quản lý của mình phải tôn trọng, bảo vệ những quyền

của chủ thể kinh doanh Hai mặt này tồn tại thống nhất trong chế định pháp lý

tự do kinh doanh Nếu chỉ thừa nhận những quyền của chủ thể mà không đảm bảo cho nó những điều kiện để thực hiện thì quyền tự do kinh doanh cũng chỉ mang tính hình thức mà thôi

Tóm lại, theo chúng tôi, quan niệm về quyền tự do kinh doanh phải được

nhìn nhận, xem xét một cách toàn diện trên những khía cạnh cơ bản sau đây:

Một là, quyền tự do kinh doanh là một phần hợp thành và đóng vai trò

quan trọng trong hệ thống các quyền tự do của con người Như vậy, quyền tự

do kinh doanh phải được xem như là một giá trị tự thân của con người mà Nhà nước phải thừa nhận và bảo vệ chứ không phải là sự ban phát, trao tặng

Hai là, quyền tự do kinh doanh có trở thành hiện thực và phát huy tác

dụng trong thực tiễn hay không, tùy thuộc vào việc Nhà nước có đáp ứng được những đòi hỏi mà quyền tự do kinh doanh đặt ra để kịp thời thể chế hóa và bảo

vệ bằng pháp luật

Ba là, quyền tự do kinh doanh của công dân tồn tại như một nhu cầu

tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, nó phải là mục tiêu mà Nhà nước hướng tới nếu như muốn thực hiện địa vị hợp pháp, tính nhân vãn tiến bộ trong quá Irình thực hiện quyền thống trị của mình

Trang 19

1.1.2 Nội dung của quyền tự do kinh doanh

1.1.2.1 Căn cứ xác định nội dung quyền tự do kinh doanh

Xác định đúng đắn, đầy đủ những yếu tô hợp thành quyền tự do kinh doanh có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng Trước hết, nó giúp chúng ta hiểu biết một cách toàn diện, có hệ thống về những yếu tố hợp thành quyền tự

do kinh doanh, vị trí vai trò của từng yếu tố và mối quan hệ giữa chúng Từ đó,

có căn cứ khoa học để hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tự do kinh doanh Việc xác định này còn giúp cho các nhà kinh doanh nắm được những quyền

mà họ được làm, cách thức thực hiện những quyền đó như thế nào Đối với các

cơ quan nhà nước, công chức nhà nước, khi thực hiện chức năng quản lý của mình, có nghĩa vụ tôn trọng và bảo đảm những quyền đó cho nhà kinh doanh

Để đảm bảo tính khách quan, việc xác định nội dung của quyền tự do kinh doanh cần phải dựa vào hai cãn cứ sau:

Thứ nhất, căn cứ vào đặc điểm của nền kinh tế thị trường để xác định

nội dung quyền tự do kinh doanh Những tính chất và đặc điểm của nền kinh

tê thị trường quy định nội dung, tính chất của các quan hệ kinh tế, đồng thời cũng xác định nội dung của hoạt động kinh doanh Để xác định những nội dung cụ thể của quyền tự do kinh doanh phải căn cứ vào yêu cầu nội tại của bản thân quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, tức là những yêu cầu mà hoạt động sản xuất kinh doanh đặt ra cho các nhà kinh doanh, ớ mức độ khái quát có thể hình dung những việc mà các nhà kinh doanh phải thực hiện: Trước hết tạo nguồn vốn, tài sản; tiếp theo lựa chọn ngành nghề kinh doanh; tiến hành thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanhy Trong quá trình hoạt

động, các nhà kinh doanh phải thực hiện rất nhiều hành vi khác như: thiết lập

các quan hệ kinh doanh (liên doanh, liên kết; mua bán, trao đổi, thực hiện các dịch vụ ) Tất cả những công việc đó, khi đã được pháp luật thừa nhận và được bảo đảm, sẽ trở thành quyền của các nhà kinh doanh, tạo thành nội dung của quyền tự do kinh doanh

Trang 20

Thứ hai, căn cứ vào những quy định của pháp luật hiện hành để xác định

nội dung của quyền tự do kinh doanh Như đã khẳng định, quyền tự do kinh doanh trước hết là quyền chủ thể, song nó phải được pháp luật thừa nhận và đảm bảo thì mới trở thành thực quyền Điều này cho thấy nếu chỉ căn cứ vào yêu cầu nội tại của hoạt động kinh doanh để xác định nội dung quyền tự do kinh doanh thì sẽ chủ quan và sinh ra tùy tiện Trong thực tiễn, có những yêu cầu, những đòi hỏi của hoạt động kinh doanh khi chưa được Nhà nước thể chế hóa hoặc thừa nhận thì các nhà kinh doanh cũng chưa được phép tiến hành Chẳng hạn, như nhu cầu tạo vốn để kinh doanh thông qua việc góp vốn thành lập công ty là yêu cầu nội tại của hoạt động kinh doanh Nếu Nhà nước không ban hành Luật Công

ty thì các nhà kinh doanh cũng không thực hiện được quyền góp vốn để thành lập công ty Dựa vào căn cứ này ta thấy rõ mức độ hoàn thiện của nội dung quyền

tự do kinh doanh luôn phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện pháp luật Việc mở rộng hay hạn chế nội dung quyền tự do kinh doanh do pháp luật quy định phù hợp với điều kiện kinh tế khách quan mà ở đó quyền tự do kinh doanh tồn tại

1.1.2.2 Những nội dung cụ thê của quyền tự do kinh doanh

Quyền tự do kinh doanh được hiểu là hệ thống các quyền gắn với chủ thể kinh doanh, mà chủ yếu và trước hết là:

- Quyền được đảm bảo sở hữu đối với tài sản;

- Quyền tự do thành lập doanh nghiệp (trong đó bao hàm quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh, địa điểm kinh doanh, lựa chọn mô hình doanh nghiệp);

- Quyền tự do hợp đồng;

- Quyền tự do cạnh tranh theo pháp luật;

- Quyền tự định đoạt trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp;

Các quyền tự do trên có mối quan hệ hữu cơ tạo thành thể thống nhất của nội dung quyền tự do kinh doanh Quá trình phát triển của nền kinh tế chắc chắn sẽ làm phong phú thêm nội dung của quyền tự do kinh doanh

Trang 21

ứ) Quyển được đảm bảo sở hữu đôi với tài sản

Sở hữu là hình thức xã hội của việc chiếm hữu Nó phản ánh mối quan

hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất về việc chiếm hữu những của cải vật chất trong xã hội, mà trước hết là tư liệu sản xuất Các hình thức sở hữu được pháp luật ghi nhận trở thành chế độ sở hữu Chế độ sở hữu là vấn đề cơ bản nhất của một chế độ kinh tế - xã hội

Đối với quyền tự do kinh doanh thì ^quyền sở hữu tư liệu sản xuất giữ

vị trí vai trò quan trọng nhất; nó được coi là nền tảng, là tiền đề cho việc hình thành và thực hiện quyền tự do kinh doanh Chỉ khi được sở hữu tư liệu sản xuất thì người ta mới có thể dùng tài sản đó đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh Không ai có thể tiến hành đầu tư để kinh doanh nếu không sở hữu một

số tư liệu sản xuất, hàng hóa hay giá trị nhất định Người nắm giữ sở hữu tài sản

sẽ nắm quyền quản lý, quyền phân phối thu nhập Điều này đã được thực tiễn chứng minh, ở các nước tư bản chủ nghĩa, sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất được coi là nguyên tắc "bất khả xâm phạm" và gắn liền với nó là quyền tự do kinh doanh được coi là lẽ tự nhiên, là điều "thiêng liêng" mà Nhà nước phải bảo vệ

ở nước ta cũng như ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa trước đây, do nhận thức chủ quan, duy ý chí, chúng ta đã nóng vội thiết lập chế độ công hữu đối với tư liệu sản xuất trên phạm vi toàn xã hội Sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất không được thừa nhận, do đó không tồn tại khái niệm quyền tự do kinh doanh Từ khi chúng ta tiến hành đổi mới mọi mặt trong đời sống kinh tế -

xã hội thì quan niệm về quyền sở hữu đã có sự thay đổi cơ bản Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu khác nhau

Sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất đã chính thức được thừa nhận Quyền

tự do kinh doanh - quyền cơ bản của công dân - đã chính thức trở thành hiện thực trong đời sống kinh tế - xã hội nước ta

Quyền được đảm bảo sở hữu đối với tài sản có tác động tích cực, mạnh

mẽ đến các quyền tự do khác, như: tự do thành lập doanh nghiệp, tự do hợp

v l h h Gí A o VI EN

1 c, ỏ b K

Trang 22

đồng, tự do cạnh tranh Đối với quyền tự do thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, quyền sở hữu tư liệu sản xuất đóng vai trò quyết định Không ai

có thể thành lập doanh nghiệp - đăng ký kinh doanh nếu không có trong tay những tư liệu sản xuất, số vốn nhất định Tư liệu sản xuất, vốn đó phải thuộc quyền sở hữu của người góp vốn, người thành lập doanh nghiệp, người đăng

ký kinh doanh Khi thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, vấn đề sở hữu bao giờ cũng nổi lên hàng đầu Chẳng hạn, như việc thành lập, đăng ký kinh doanh đối với công ty thì vấn đề góp vốn, cơ chế góp vốn luôn có ý nghĩa quyết định Theo PGS.TS Lê Hồng Hạnh, "việc góp vốn là cơ sở hình thành sở hữu doanh nghiệp Bản thân vấn đề góp vốn cũng là vấn đề thuần túy mang tính chất sở hữu" [9, tr 21]

Mặt khác, quyền sở hữu tư liệu sản xuất đã tác động tích cực làm đa dạng hóa, phong phú thêm các loại hình doanh nghiệp Trước đây, pháp luật chỉ thừa nhận sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể nên trong nền kinh tế nước ta hầu hết tồn tại doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã Từ khi pháp luật nước ta thừa nhận nhiều hình thức sở hữu đã xuất hiên nhiều loai hình doanh nghiêp mới như các loại công ty, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Đối với quyền tự do hợp đồng thì vai trò của quyền sở hữu tư liệu sản xuất càng có vai trò quan trọng Theo lôgíc của hợp đồng thì không ai có thể mua bán, trao đổi hàng hóa, nếu không xác định được sở hữu của người bán đối với tài sản là đối tượng của hợp đồng Trong quá trình kinh doanh, các quan hệ kinh tế được thiết lập bởi sự thúc đẩy của lợi ích Lợi ích chỉ có thể có được khi các quan hệ đó được hình thành trên cơ sở tư do ý chí Sự tự do ý chí trong hợp đồng là biểu hiện của việc thực hiện quyền sở hữu của các chủ thể trong quan hệ hợp đồng Quan hệ hợp đồng chính là sự vận động tự do của vốn và hàng hóa (hợp đồng là hình thức của quan hệ hàng hóa - tiền tệ xét dưới góc độ kinh tế) Suy cho cùng thì bản chất của hợp đồng là sự vận động của quan hệ sở hữu Thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ta hiện

Trang 23

nay đã khảng định vai trò của quyền sở hữu tư liệu sản xuất đối với quyền tự

do hợp đồng Các quan hộ kinh tế hiện nay đã phát triển sống động, đa dạng (thông qua hợp đồng) trên các lĩnh vực của nền kinh tế trong nước cũng như với nước ngoài; giữa các chủ sở hữu thuộc các thành phần kinh tế khác nhau; giữa các nhà kinh doanh trong nước với các thương gia nước ngoài

Để thực hiện được quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất thì các điều kiện sau đây cần phải được đáp ứng:

- Mở rộng các đối tượng có khả năng trở thành chú sở hữu tư liệu sản xuất

- Quy định nhiều hình thức sở hữu tư liệu sản xuất; các hình thức sở hữu phải được đối xử bình đẳng

- Tạo cơ sở cho sự phát triển tự giác các hình thức sở hữu tồn tại với những đặc trưng vốn có của chúng

- Đảm bảo việc chuyển dịch sở hữu được thuận lợi, nhanh chóng, an toàn và sinh lợi

- Mở rộng khách thể của quyền sở hữu.

- Phải có những biện pháp hữu hiệu để bảo vệ các hình thức sở hữu

khác nhau đối với tư liệu sản xuất Chủ sở hữu phải có những biện pháp pháp

lý để bảo vệ quyền sở hữu của mình

b) Quyền tự do thành lập doanh nghiệp

Quyền tự do thành lập doanh nghiệp là nội dung cơ bản, quan trọng trong hộ thống các quyền tự do kinh doanh Vị trí, vai trò quan trọng đó được thể hiện ở chỗ công dân muốn trở thành nhà kinh doanh hợp pháp (có tư cách pháp lý hợp pháp) thì họ phải tiến hành đăng ký kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Khi đã tiến hành đãng ký kinh doanh (được công nhận tư cách pháp lý) thì lúc đó họ mới có tư cách của nhà kinh doanh và mới được phép tiến hành các hoạt động kinh doanh như: sản xuất, trao đổi, mua bán thực hiện các dịch vụ Như vậy, quyền tự do thành lập và đăng ký kinh doanh

Trang 24

là cơ sở để cá nhân, pháp nhân được Nhà nước công nhận là chú thể kinh doanh

Đăng Huệ cho rằng, thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh chưa có nội dung kinh tế, nhưng nó là tất yếu, là cần thiết, là tiền đề để hình thành các quan hệ kinh tế thuần túy - quan hộ sản xuất kinh doanh đích thực [21, tr 3]

Nói đến quyền tự do thành lập và đăng ký kinh doanh chúng ta hiểu rằng đây là quyền của cá nhân hay pháp nhân ưong việc tạo lập tư cách pháp

lý thông qua các thủ tục thành lập, đăng ký kinh doanh Không ai có quyền can thiệp, ngăn cản trái phép quyền thành lập và đăng ký kinh doanh của họ Đồng thời với quyền của cá nhân, pháp nhân là nghĩa vụ của cơ quan nhà nước phải tạo những điều kiện đảm bảo cho họ thực hiện quyền của mình Vấn đề đặt ra là: cá nhân, pháp nhân muốn có tư cách của nhà kinh doanh hợp pháp lại phải tiến hành thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh Điều này có vi phạm quyền tự do kinh doanh hay không? Trước hết, cần khẳng định rằng, việc thành lập và đăng ký kinh doanh là thủ tục hành chính thông thường nhằm thừa nhân tư cách pháp lỷ cho các nhà đầu tư và thể hiện sự quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế Khi cá nhân, pháp nhân đã nộp đủ hồ

sơ hựp lệ thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải cấp giấy đăng ký kinh doanh cho họ Việc cấp giấy đăng ký kinh doanh là góp phần tích cực vào hoạt động quản lý nhà nước, đồng thời cũng chính là bảo vệ lợi ích cho bản thân nhà kinh doanh

Theo TS Dương Đăng Huệ thì "trong xã hội văn minh con người được

tự do kinh doanh, nhưng điều đó không có nghĩa là họ không phải làm bất cứ một thủ tục pháp lý nào trước khi trở thành nhà kinh doanh Ở các nước phát triển, thủ tục này đơn giản, gọn nhẹ được thực hiện thông qua hình thức đãng

ký kinh doanh" [21, tr 2]

Gắn liền với quyền thành lập và đãng ký kinh doanh là quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh; hình thức tổ chức trong kinh doanh và địa điểm

Trang 25

kinh doanh Khi thực hiện quyền tự do thành lập và đăng ký kinh doanh, các chủ thể kinh doanh đã quyết định lựa chọn ngành nghề kinh doanh cho mình Việc lựa chọn ngành nghề kinh doanh hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn, điều kiện và khả năng của các nhà kinh doanh, dựa trên cơ sở tìm hiểu nhu cầu thị trường Sự lựa chọn này có tác dụng rất lớn đến sự nghiệp kinh doanh của nhà doanh nghiệp trên thương trường Không ai có quyền can thiệp trái phép vào quyền này của họ, bởi lẽ người chịu trách nhiệm về những kết quả kinh doanh chính là các chủ doanh nghiệp Quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh tạo ra khả năng rộng lớn cho nhà kinh doanh trong việc tìm hiểu nhu cầu thị trường Ngành nghề kinh doanh rất đa dạng, phong phú, có thể là trong công nghiệp, nông nghiệp, ngân hàng, dịch vụ Trong từng lĩnh vực đó lại chia thành những lĩnh vực nhỏ hơn tạo nên sự đa dạng muôn màu muôn vẻ của đời sống kinh doanh, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh cũng bị giới hạn bởi một số lĩnh vực có liên quan đến an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội Trên cơ sở lựa chọn ngành nghề kinh doanh, các nhà đầu tư có quyền tự do lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh phù hợp với điều kiện của mình Các nhà đầu tư có thể thành lập và đăng ký kinh doanh theo mô hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc doanh nghiệp tư nhân

Một quyền tự do không kém phần quan trọng của các nhà đầu tư là lựa chọn địa điểm kinh doanh Địa điểm kinh doanh là nơi mà họ tiến hành các hoạt động kinh doanh, nó không chỉ phản ánh tính không gian của hoạt động kinh doanh mà tự nó còn có ý nghĩa pháp lý quan trọng

Lựa chọn ngành nghề kinh doanh, hình thức tổ chức trong kinh doanh, địa điểm kinh doanh là những quyết định đầu tiên của nhà kinh doanh Thừa nhận quyền tự do này chính là tôn trọng quyền định đoạt của chủ sở hữu và tạo ra khả năng thuận lợi ban đầu cho sự nghiệp kinh doanh của họ; đồng thời cũng giúp họ trả lời ba câu hỏi cơ bản mà nền kinh tế thị trường đặt ra Đó là

Trang 26

trả lời câu hỏi "sản xuất cái gì" và "sản xuất cho ai" Lựa chọn hình thức kinh doanh, nhà kinh doanh sẽ giải đáp được câu hỏi "sản xuất như thế nào, bằng cách gì".

Tôn trọng quyền tự do kinh doanh xét cho cùng chính là tôn trọng những quy luật trong nền kinh tế thị trường

Để đảm bảo quyền tự do thành lập và đăng ký kinh doanh, quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh, địa điểm kinh doanh thì các điều kiện sau đây cần được đáp ứng:

- Phải mở rộng đối tượng được phép kinh doanh

- Phải có nhiều mô hình tổ chức kinh doanh để nhà đầu tư lựa chọn

- Thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh phải đơn giản, thuận tiện

- Nhà nước phải quy định một cách minh bạch những ngành nghề kinh doanh nào bi cấm; những ngành nghề kinh doanh nào đòi hỏi phải có điều kiện, điều kiện đó là gì?

Ở nước ta hiện nay, kể từ khi Nhà nước ban hành Luật Doanh nghiệp (có hiệu lực từ 1-1-2000) thì về cơ bản những điều kiện trên đã được đáp ứng

c) Quyền tự do hợp đồng

"Buôn có bạn, bán có phường" là yêu cầu khách quan đối với các nhà kinh doanh Để tồn tại và phát triển; các nhà kinh doanh phải thiết lập các quan hệ kinh tế với nhau để trao đổi sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ Các quan

hệ kinh tế đó rất đa dạng và phong phú, nó xuất hiện ở tất cả các khâu của quá trình kinh doanh Việc thiết lập các quan hệ kinh tế được thực hiện thông qua hợp đồng Hợp đồng phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa các nhà kinh doanh

Đó là mối quan hệ ý chí được xác lập một cách tự nguyện, bình đẳng, cùng có

lợi Với ý nghĩa đó, tự do hợp đồng là một trong những nội dung quan trọng

Trang 27

của quyền tự do kinh doanh Nó biểu hiện cụ thể, sinh động giá trị hiện thực của quyền sở hữu, quyền tự do thành lập và đăng ký kinh doanh, tự do cạnh tranh

Các quyền sở hữu tư liệu sản xuất, tự do thành lập và đãng ký kinh doanh sẽ mất ý nghĩa nếu như không có tự do hợp đồng Hợp đồng biểu hiện những hành vi kinh doanh cụ thể Mọi hành vi kinh doanh như: góp vốn thành lập doanh nghiệp, sử dụng lao động, mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng, liên doanh liên kết, vay vốn, trao đổi hàng hóa, thực hiện các dịch vụ đều

thông qua hợp đồng Chính vì vậy, "hợp đồng có mặt trong bất cứ lĩnh vực nào

nếu ở đó có sự chuyển dịch lợi ích" [9, tr 25] Do đó, đảm bảo quyền tự do hợp đồng chính là điều kiện để thực hiện tốt các quyền tự do khác trong hệ íhống các quyền tự do kinh doanh

Tóm lại, tự do hợp đồng là quyền của các chủ thể kinh doanh, được thể

hiện ở bốn khía cạnh sau đây:

- Một là, ký kết hợp đồng là quyền của các nhà kinh doanh, không ai

có quyền áp đặt, can thiệp vào quyền này

- Hai là, các chủ thể kinh doanh có quyền tự do lựa chọn đối tác để

thiết lập các quan hệ kinh doanh

- Ba là, các chủ thể kinh doanh có quyền thỏa thuận để áp dụng các

biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng

- Bôh là, các chủ thể kinh doanh có quyền tự do thỏa thuận thay đổi

một số nội dung trong quá trình thực hiện hợp đồng

d) Quyền tự do cạnh tranh lành mạnh

Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường Nó

có vai trò quan trọng không những với tư cách là động lực của sự phát triển,

mà còn với tư cách là yếu tố quan trọng làm lành mạnh các quan hệ kinh doanh Trong cơ chế thị trường, nếu lợi nhuận thúc đẩy các nhà kinh doanh thì cạnh tranh bắt buộc họ phải điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng

Trang 28

các nguồn lực (vốn, lao động, kỹ thuật ) có hiệu quả nhất nhằm duy trì sự tồn

tại và phát triển sự nghiệp kinh doanh của mình Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu đùng và các nhà kinh doanh có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, trong đó người tiêu dùng được coi là "thượng đế" và vì vậy, luôn là đối tượng hướng tới của tất cả các nhà kinh doanh Cạnh tranh có vai trò quan trọng không chỉ đối với bản thân từng nhà kinh doanh mà còn có ý nghĩa đối với cả nền kinh tế nói chung TS Nguyễn Như Phát cho rằng, cạnh tranh mang lại những lợi ích sau [45, tr 21]:

- Thứ nhất, đáp ứng thị hiếu và nhu cầu người tiêu dùng.

- Thứ hai, người tiêu dùng nhận được cái họ muốn với giá rẻ.

- Thứ ba, khuyến khích áp dụng công nghệ mới.

- Thứ tư, tạo sức ép buộc phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực.

- Thứ năm, tạo sự đổi mới nói chung, thường xuyên và liên tục vì vậy

mang lại tăng trưởng kinh tế cao

Cạiứi tranh có nhiều hình thức và được phân ra ở nhiều cấp độ khác nhau như: cạnh tranh hoàn hảo; cạnh tranh không hoàn hảo; cạnh tranh mang tính chất độc quyền; cạnh tranh lành manh; cạnh tranh không lành mạnh [46, tr 20]

Ở đâu có kinh tế thị trường thì ở đó có cạnh tranh Tuy nhiên, không phải ở mọi nơi, mọi giai đoạn phát triển thì hình thức, mức độ cạnh tranh đều giống nhau Mặt khác, quan niệm về cạnh tranh còn phụ thuộc vào đặc điểm truyền thống kinh doanh và pháp luật của mỗi quốc gia Có nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh, song nhìn chung canh tranh được định nghĩa như sau: "Đó

là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng

về phía mình" [67, tr 11]

Định nghĩa trên cho thấy cạnh tranh là thuộc tính tự nhiên của các nhà kinh doanh Vì vậy, nó phải được pháp luật bảo hộ với tư cách là quyền của

Trang 29

các nhà kinh doanh và trở thành nội dung không thể thiếu của quyền tự do kinh doanh Cũng cần phải khẳng định rằng, quyền tự do cạnh tranh của các nhà kinh doanh là cạnh tranh lành mạnh Đó là "hình thức cạnh tranh đẹp, trong sáng và giải thoát được khỏi các thói hư tật xấu trong cuộc sống đời thường Nó đối lập với cạnh tranh không lành mạnh" [46, tr 24] Trong mối quan hệ với các quyền tự do kinh doanh khác, quyền tự do cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng Nó chính là động lực thúc đẩy việc thực hiện các quyền sở hữu tư liệu sản xuất, tự do hợp đồng Ngày nay, hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và đưa ra những đảm bảo pháp lý nhằm

thúc đẩy tự do cạnh tranh lành mạnh Để đảm bảo quyền tự do cạnh tranh lành

mạnh cho các chủ thể kinh doanh thì các yêu cầu sau đây phải được đảm bảo:

- Phải có hệ thống pháp luật về cạnh tranh hoàn thiện

- Nhà nước phải có cơ chế kiểm soát giá cả

- Phải kiểm soát được độc quyền và hạn chế tối đa sự độc quyền, dù đó

là độc quyền nhà nước

- Phải có chế tài nghiêm ngặt đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, cạnh tranh bất hợp pháp và các mặt tiêu cực khác của cạnh tranh

- Phải đảm bảo sự bình đẳng cho các thành phần kinh tế

e) Quyền tự do lựa chọn hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp

Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế ngày càng phát triển Sự sống động, đa dạng, phức tạp của các quan hệ kinh tế, sự thôi thúc của lợi nhuận, của cạnh tranh làm cho các tranh chấp kinh tế càng trở nên phức tạp hơn Tranh chấp kinh tế có những đặc thù khác với những tranh chấp trong dân sự Những đặc thù đó là:

- Lĩnh vực phát sinh tranh chấp là lĩnh vực kinh doanh

- Giá trị tranh chấp thường lớn

Trang 30

- Tranh chấp trong kinh doanh thông thường mang tính phản ứng

- Đảm bảo dân chủ trong quá trình giải quyết tranh chấp

- Bảo vệ uy tín, bí mật cho các nhà kinh doanh

- Đạt hiệu quả thi hành các quyết định của cơ quan tài phán, bảo vệ tốt

quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh luôn luôn tiềm ẩn phát sinh các tranh chấp, gắn liền với tranh chấp Do đó, về mặt khách quan phải bảo đảm quyền tự do lựa chọn hình thức, phương thức giải quyết tranh chấp cho các nhà kinh doanh, v ề mặt lý luận, phải coi đây là công việc "riêng tư" của các nhà kinh doanh, bởi lẽ việc giải quyết tranh chấp trước hết là bảo

vệ lợi ích của họ và do đó, họ có quyền tự định đoạt Cơ chế thị trường luôn gắn liền với sự tự do thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm, Nhà nước chỉ can thiệp khi họ yêu cầu Vì vậy, quyền tự do lựa chọn hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế là một bộ phận trong tổng thể quyền tự do kinh doanh Quyền này thể hiện ở chỗ, khi có tranh chấp xảy ra, các bên có quyền quyết định đưa vụ tranh chấp đó ra trước cơ quan có thẩm quyền để giải quyết hay không cũng như lựa chọn cơ quan nào và giải quyết theo thủ tục nào

Trang 31

Như vậy, khi có tranh chấp xảy ra, các bên có thể tự thương lượng, hòa giải để giải quyết tranh chấp hoặc có thể đưa ra Tòa án hay trọng tài để giải quyết vụ việc, nếu thấy thuận lợi cho mình Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự tồn tại và phát triển đa dạng các hình thức tổ chức kinh doanh thuộc nhiều thành phần kinh tế thì tính chất của các tranh chấp đã có sự thay đổi Đây không còn là tranh chấp giữa các "đồng chí" với nhau mà là tranh chấp giữa các chủ sở hữu khác nhau với những lợi ích khác nhau Do vậy, phải tôn trọng quyền tự do cho các nhà kinh doanh ưong việc giải quyết tranh chấp, cũng chính là biện pháp bảo đảm quyền sở hữu tài sản, quyền tự do hợp đồng, tự do cạnh tranh lành mạnh và cũng là biện pháp hữu hiệu đảm bảo quyền tự do kinh doanh Để thực hiện được quyền tự do này, ngoài việc phải tôn trọng quyền tự định đoạt của các nhà kinh doanh cần có nhiều hình thức, phương thức giải quyết phù hợp, khắc phục tình trạng hình sự hóa các tranh chấp kinh tế, dân sự.

1.1.3 Những yếu tô chi phối quyền tự do kinh doanh

Qua nghiên cứu ở mức khái quát chúng tôi nhận thấy, quyền tự do kinh doanh nói riêng và quyền tự do của con người nói chung phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu và trước hết là:

1.1.3.1 Chê độ chính trị

"Chế độ chính trị là tổng thể những phương pháp và thủ đoạn mà các

cơ quan nhà nước sử dụng để thực hiện quyền lực nhà nước" [49, tr 51]

Trong lịch sử, từ khi xuất hiện Nhà nước đến nay, các giai cấp thống trị

đã sử dụng nhiều phương pháp và thủ đoạn để thực hiện quyền lực nhà nước Những phương pháp và thủ đoạn đó trước hết xuất phát từ bản chất của Nhà nước, đồng thời phụ thuộc vào nhiều yếu tố của mỗi giai đoạn, trong mỗi nước cụ thể Những phương pháp và thủ đoạn này có thể được phân chia thành hai loại chính là: những phương pháp dân chủ và những phương pháp phản dân chủ

Trang 32

Đương nhiên, do những giới hạn lịch sử khách quan, mỗi giai cấp ihống trị ở mỗi thời kỳ lịch sử chỉ có thể đáp ứng và đảm bảo được quyền con

người, quyền công dân ở một mức độ, một nấc thang nhất định Lịch sử xã hội

loài người đã chứng minh điều đó Trong chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến, giai cấp nô lệ, giai cấp nông dân hoàn toàn phụ thuộc vào giai cấp chủ nô, địa chủ về chính trị, tư tưởng, kinh tế Do đó, "nô lệ không có quyền

gì cả, họ không được coi là con người Địa vị của nông dân chỉ khác rất ít địa

vị của nô lệ trong xã hội chiếm hữu nô lệ" [57, tr 87J Các quyền tự do cá nhân của con người trong chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến không được thừa nhận như một giá trị

Nhà nước tư sản với thể chế dân chủ là một tiến bộ lớn trong lịch sử so với chế độ phong kiến Chính thể dân chủ tư sản đã thúc đẩy sự phát triển của văn minh nhân loại Các quyền tự do của cá nhân đã chính thức được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật Tuyên ngôn độc lập của Mỹ (1776) khẳng định:

"Mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thổ xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền được

tự do và quyền được mưu cầu hạnh phúc" [11, tr 13]

Chủ nghĩa xã hội là kiểu chế độ chính trị dân chủ cao nhất trong lịch

sử Ở đó có những tiền đề, điều kiện để giải phóng con người gắn liền với sự

thay đổi quan hệ sở hữu, sự thiết lập chế độ chính trị mà bản chất là tất cả các

quyền lực thuộc về nhân dân Trên thực tế, chủ nghĩa xã hội hiện thực đã có những thành tựu nhất định về phương diện thực hiện quyền con người, quyền công dân Hiến pháp các nước xã hội chủ nghĩa đều quy định rộng rãi các quyền công dân Một số quyền đã thể hiện tính ưu việt như quyền bầu cử, quyền tham gia quản lý nhà nước Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, trước hết là sự hạn định của các điều kiện kinh tế - xã hội, những hạn chế của cơ ehế chính trị, cơ chế quản lý kinh tế, quyền con người, quyền công dân ở các nước

xã hội chủ nghĩa vẫn chưa được thực hiện đầy đủ và triệt để Vì vậy, trong

Trang 33

khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn trước đây không có khái niệm quyền tự do kinh doanh.

1.1.3.2 Cơ chê quản lý kinh tê

" Cơ chế quản lỷ kinh tế là khái niệm dùng để chỉ phương thức mà qua

đó Nhà nước tác động vào nền kinh tế để định hướng nền kinh tế tự vận động đến các mục tiêu đã định" [46, tr 8J Khái niệm trên cho thấy:

- Cơ chế kinh tế là phương thức vận động của nền kinh tế, nó mang tính khách quan

- Cơ chế quản lý kinh tế là phương thức tác động của Nhà nước do đó

nó mang tính chủ quan

- Nhà nước tác động vào nền kinh tế thông qua cơ chế kinh tế chứ không trực tiếp tác động vào nền kinh tế

Quan niệm như vậy đưa đến nhận thức chung là mỗi nền kinh tế đều

có một cơ chế đặc trưng của nó Dựa vào đó, người ta phân loại các nền kinh

tế thành:

- Kinh tế thị trường vận hành theo cơ chế thị trường

- Kinh tế chỉ huy, vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung

- Kinh tế hỗn hợp vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước

Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế giữa các nhà kinh doanh đều thông qua quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường Thái

độ cư xử của từng nhà kinh doanh là theo sự dẫn dắt của thị trường hay "Bàn tay vô hình” (Adam Smith) Vì vậy, cơ chế thị trường luôn gắn liền với tự do,

và tự do kinh doanh là nguyên tắc của cơ ch ế thị trườỉig.

Cơ chế thị trường có những ưu điểm và khuyết tật của nó; cho nên ngày nay, hầu hết các quốc gia đều đề cao vai trò của Nhà nước trong nền

kinh tế Sự tác động của Nhà nước là nhằm hạn chế những khuyết tật của cơ

Trang 34

Nước ta cũng như các nước xã hội chủ nghĩa trước đây theo mô hình kinh

tế chỉ huy Do đó, vấn đề chủ yếu của cơ chế quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa là:

kế hoạch tập trung được coi là công cụ số một có tính pháp lệnh bắt buộc đối với toàn xã hội Các công cụ khác đều được xếp sau công cụ kế hoạch Nhà nước trở thành "Ông chủ" của một "doanh nghiệp" khổng lồ Thông qua công cụ kế hoạch, Nhà nước trực tiếp can thiệp và quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh Cơ chế này có những đặc trưng cơ bản là:

- Cơ sở kinh tế được thiết lập trên nền tảng của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; Nhà nước thiết lập thành phần kinh tế xã hội chủ nghía với hai hình thức sở hữu: toàn dân và tập thể Sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất không được thừa nhận

- Nhà nước quản lý nền kinh tế thông qua hệ thống các chỉ tiêu kế hoạch chi tiết với chế độ cấp phát và giao nộp theo quan hệ hiện vật Nhà nước can thiêp quá sâu, quá cụ thể vào các hoat động sản xuất kinh doanh, dẫn đến các đơn vị kinh tế không có quyền tự chủ trong kinh doanh

- Quy luật giá trị hầu như không được tính tới, tiền tệ là một trong những công cụ năng động nhất không được coi trọng

- Các giá trị như đất đai, tư liệu sản xuất, sức lao động không được coi là hàng hóa

Cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp, tất yếu dẫn đến hậu quả là các quyền của công dân trong hoạt động sản xuất kinh doanh không được coi trọng và tất nhiên không có khái niệm quyền tự do kinh doanh Nhận xét về vấn đề này, TS Trần Đình Hảo cho rằng: MCơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp kéo dài đã làm nghèo đi những nội dung, phương thức quản

lý một cách dân chủ theo những trình tự thủ tục thông thường"[12, tr 1] Ở nước ta, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng đã đem lại những thắng lợi

Trang 35

hết sức to lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế Quyền tự do kinh doanh của công dân chính thức được thừa nhận Điều 3 Luật Doanh nghiệp tư nhân

(1990) quy định: "Trong khuôn khổ pháp luật, chủ doanh nghiệp tư nhân có

quyền tự do kinh doanh" Với Hiến pháp (1992), quyền tự do kinh doanh đã trở thành nguyên tắc Hiến định Điều 57 Hiến pháp (1992) quy định "Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật"

Sự trình bày khái quát trên cho thấy cơ chế quản lý kinh tế là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh

1.1.4 Ý nghĩa của quyền tự do kinh doanh

Quyền tự do kinh doanh - quyền của con người trong lĩnh vực kinh tế,

có ý nghĩa quan trọng, thiết thân nhất vì nó gắn bó với mỗi con người và toàn

xã hội Giá trị to lớn của nó thể hiện ở chỗ chúng tạo điều kiện và đảm bảo cho các thành viên trong xã hội những cơ hội mưu cầu hạnh phúc riêng, sự phồn thịnh riêng, cơ hội để thỏa mãn các nhu cầu kinh tế, cơ hội cho tiến thân theo những con đường khác nhau: con đường công danh, con đường kinh doanh, con đường sáng tạo nghiệp vụ Một xã hội phát triển nhanh hay chậm, tiến bộ hay lạc hậu phụ thuộc chủ yếu vào việc các quyền tự do nói chung, quyền tự do kinh doanh nói riêng có được đảm bảo không

Vì vậy, việc thừa nhận và đảm bảo thực hiện quyền tự do kinh doanh

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

1.1.4.1 Ý nghĩa vê chính trị pháp lý

Xét dưới góc độ chính trị thì tự do kinh doanh là một trong những biểu hiện của chế độ tự do, dân chủ, bình đẳng - những khái niệm được coi là nền tảng triết lý của mọi xã hội tiến bộ Chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội được coi

là tiến bộ nhất, dân chủ nhất không thể không thừa nhận các giá trị tự do đó

Mục tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội suy cho cùng là giải phóng con người, xây dựng một xã hội trong đó con người sống trong bầu không khí tự do,

Trang 36

dân chủ, bình đẳng, con người được phát triển toàn diện, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, thấm đưựm tính nhân văn Vì vậy, thừa nhận và bảo đảm thực hiện quyền tự do kinh doanh là tôn trọng quyền tự do của con người trong lĩnh vực kinh

tế Điều đó có nghĩa là chúng ta đang thực hiện mục tiêu của chủ nghĩa xã hội

Quyền tự do nói chung và quyền tự do kinh doanh nói riêng không chỉ

là mục tiêu của xã hội văn minh, mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ xã hội, vì nó phát huy được nhân tố con người (mà con người là tài nguyên quan trọng nhất trong xã hội) Những sản phẩm trí tuệ, tài năng, kiến thức, nghệ thuật kinh doanh là những tài sản thuộc về cá nhân, gắn liền với phẩm chất của con người, khi được giải phóng sẽ mang lại sức mạnh vô cùng

to lớn - giải phóng sức sản xuất xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển về mọi mặt

Quyền tự do kinh doanh bản thân nó là sự biểu hiện của quyền tự do, dân chủ Thừa nhận và bảo đảm thực hiện quyền tự do kinh doanh còn là biểu hiện sự tôn trọng quyền con người (nhân quyển) Chủ nghĩa xã hội coi trọng quyền con người thì càng phải tôn trọng quyền tự do đó Bản chất của nhà nước ta là Nhà nước "của dân, do dân và vì dân" Tôn trọng quyền tự do kinh doanh tức

là đề cao bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta Quyền tự do kinh doanh vừa là mục tiêu của nhà nước "vì dân", vừa là phương tiện của một Nhà nước "do dân"

Nếu như tự do kinh doanh là đòi hỏi có tính quy luật của nền kinh tế thị trường, thì việc bảo đảm quyền tự do này đã thể hiện sự phù hợp giữa pháp luật và kinh tế, khẳng định đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng và Nhà nước

ta Sự phù hợp này là nhân tố quan trọng quyết định thành công sự nghiệp đổi mới, vì suy cho cùng, thực chất đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta là dân chủ hóa đời sống xã hội Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Sự nghiệp cải cách kinh tế cũng là sự nghiệp của con người Cải cách thành công, nhanh hay chậm tùy thuộc vào khả năng giải phóng con người Phát triển nhân

tố con người, chúng ta sẽ giải phóng tiềm năng như vốn, sức lao động, tài nguyên thiên nhiên tạo điều kiện cho con người hoạt động sáng tạo, tự do hình thành

Trang 37

nhân cách con người Đó là những con người năng động, tự lập, hợp tác trong kinh doanh, biết giữ chữ tín, trung thực trong kinh doanh góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, góp phần ổn định chính trị, xã hội ở nước ta.

Như vậy, việc xây dựng thành công một xã hội dân chủ, giàu mạnh, việc thực hiện những lý tưởng cao cả của chủ nghĩa xã hội về tự do, bình đẳng không thể tách rời việc xây dựng một cơ chế thích hợp cho việc thực hiện các quyền kinh tế của mỗi cá nhân Trong điều kiện nước ta chuyển từ nền kinh tế

kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường thì việc xác định một cơ chế thích hựp cho việc thực hiện quyền tự do kinh doanh là điều có ý nghĩa rất quan trọng Tuy nhiên, về mặt chính trị, khi thực hiện cơ chế này, chúng ta cần phải lưu ý giải quyết đúng đắn những mâu thuẫn nội tại giữa quyền tự do kinh doanh và vấn đề công bằng xã hội, sự phân hóa giàu nghèo, tình trạng kinh doanh vô chính phủ chỉ biết chạy theo lợi nhuận bằng mọi giá dẫn đến việc vi phạm pháp luật, hủy hoại môi trường

Khi tiến hành cải cách nhằm đưa xã hội nước ta phát triển, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định rõ định hướng xã hội chủ nghĩa ừong nền kinh tế thị trường ở nước ta Việc khẳng định định hướng xã hội chủ nghĩa cho nền kinh tế thị trường ở nước ta có nghĩa là các giá trị tích cực của quyền tự do kinh doanh sẽ được phát huy cao độ và các tác động tiêu cực của chúng đối với lý tưởng công bằng xã hội, bình đẳng sẽ phải được hạn chế Nếu nhấn mạnh khía cạnh công bằng xã hội mà coi nhẹ bản chất cá nhân của quyền tự

do kinh doanh thì sẽ khó tạo ra sự phát triển của xã hội Ngược lại, nếu quá chú trọng các giá trị cá nhân của quyền tư do kinh doanh mà không tính đến

sự phân hóa giàu nghèo thì khó thực hiện lý tưởng công bằng xã hội Giải pháp cho mâu thuẫn này không có sẵn Chúng ta chưa có một mô hình tương

tự trong lịch sử để nghiên cứu và rút kinh nghiệm Việc xây dựng một cơ chế thích hợp cho việc thực hiện quyền tự do kinh doanh phải căn cứ vào đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội, truyền thống tâm lý của xã hội Việt Nam

Trang 38

Về mặt pháp lý, tự do kinh doanh là nguyên tắc quan trọng chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện pháp luật kinh tế Nó đặt ra những yêu cầu và nội dung cơ bản cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế của nước ta hiện nay và mai sau Trước hết, tự do kinh doanh phải được nhận thức đúng đắn trong việc hình thành tư duy pháp lý kinh tế Tư duy đúng đắn sẽ

giúp chúng ta chỉ đạo tốt toàn bộ quá trình xây dựng, thực hiện pháp luật kinh

tế Tư duy đúng ở đây là phải coi tự do kinh doanh là một giá trị tự thân gắn liền với mỗi con người mà pháp luật phải tôn trọng chứ không phải là sự ưu đãi hoặc ban phát từ phía Nhà nước Tự do kinh doanh là yêu cầu nội tại khách quan của kinh tế thị trường thì nó cũng phải là yêu cầu nội tại khách quan của bản thân pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường

Tự do kinh doanh không chỉ dừng lại ở những ý niệm chung mà phải được quy định cụ thể, rõ ràng trong pháp luật Điều đó có nghĩa là nội dung của quyền tự do kinh doanh trên các lĩnh vực phải được thể hiện đầy đủ trong các quy định Và khi các chủ thể kinh doanh có đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật thì không ai có quyền cản trở quyền tự do kinh doanh của họ

Cùng với việc quy định nội dung cúa quyền tự do kinh doanh, pháp luật còn phải đưa ra những biện pháp bảo đảm thực hiện quyền tự do đó Hai yêu cầu đó gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng được đặt ra đối với việc xây dựng, thực hiện pháp luật kinh tế

Công nhận và đảm bảo quyền tự do kinh doanh còn có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Một hệ thống pháp luật đúng đắn, phù hợp xây dựng trên nền tảng tự do kinh doanh là hợp với quy luật và sự tiến bộ xã hội Được như vậy thì người dân sẽ tự giác thực hiện một cách chủ động, vì họ tìm thấy những giá trị và lợi ích của mình trong đó Đồng thời, đây cũng là cơ sở, tiêu chí để cơ quan, nhân viên Nhà nước có thẩm quyền đưa ra những quyết định quản lý đúng đắn

Bên cạnh đó, thừa nhận và đảm bảo quyền tự do kinh doanh còn đặt ra những vấn đề có ý nghĩa lý luận trong việc nghiên cứu khoa học pháp lý Rất

Trang 39

nhiều chế định pháp luật mới ra đời trên nền tảng tự do kinh doanh Cư chế điều chỉnh pháp luật đối với kinh tế cũng có sự chuyển biến cơ bản Nếu như trước đây chúng ta chỉ thừa nhận nhà kinh doanh được làm những gì mà pháp luật cho phép, thì đến nay, với quyền tự do kinh doanh, họ có quyền làm bất

cứ cái gì mà pháp luật không cấm Sự đổi mới quan trọng đó đã tạo ra môi trường pháp lý rộng mở cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh phát triển

Như vậy tự do kinh doanh có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế cũng như quá trình xây dựng một Nhà nước pháp quyền ở nước ta

1.1.4.2 Ý nghĩa vê mặt kinh tê

Cần phải khẳng định rằng: tự do kinh doanh cần cho sự phát triển kinh

tế Điều đó đã được thực tế chứng minh Là những nước nghèo tài nguyên thiên nhiên, Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, Singapo đã phát triển và trở nên giàu có nhanh chóng chính là nhờ chính sách khuyến khích phát triển tài năng con người Nó đưa lại sức sống vô hạn cho cá nhân và cho cả cộng đồng Vì sao Hồng Kông với một diện tích chỉ rộng có 1.045 km2 bằng 0,01% diện tích Trung Quốc với số dân khoảng 6 triệu người lại có GNP bằng 18% GNP của Trung Quốc Ông Christophes Patten, vị Thống đốc cuối cùng của Hồng Kông

đã nói: "Chúng tôi đã biến mỏm đá trơ trụi này thành một trong những thành phố đồ sộ nhất thế giới Sở dĩ đạt được điều đó là nhờ có một chế độ tự do kinh doanh, nó cho phép tài năng, trí tuệ và sự khôn ngoan của người Trung Quốc được phát triển theo mức tiềm năng tối đa" [14]

Ở nước ta trước đây, trong nền kinh tế tập trung quan liêu, hoạt động sản xuất kinh doanh bị kìm hãm, không phát huy được năng lực tài nguyên con người và tài nguyên thiên nhiên, do chúng ta chưa tạo ra cơ chế bảo đảm quyền tự do kinh doanh Sản xuất cái gì, như thế nào và cho ai đều do Nhà nước ấn định Các chủ thể kinh doanh không có quyền tự chủ Hơn nữa, sự

"độc tôn, độc quyền" của kinh tế quốc doanh đã dẫn tới cảnh "một mình một

Trang 40

chợ" làm cho nền kinh tế nghèo nàn, đơn điệu Các thành phần kinh tế khác bị

đố kỵ, không có điều kiện phát triển Tiềm năng trong xã hội không được phát

huy mà còn bị lãng quên, lãng phí

Từ khi thực hiện đường lối đổi mới thực chất là dân chủ hóa đời sống

xã hội nói chung, đời sống kinh tế nói riêng, mà biểu hiện cụ thể và sinh động

là tôn trọng và đảm bảo quyền tự do kinh doanh, nền kinh tế nước ta đã có

nhiều khởi sắc cả về thế và lực Ở tầm vĩ mô có thể đưa ra những thành tựu nổi

bật do công cuộc đổi mới đem lại Có thể minh họa các thành tựu này trong

các số liệu mà chúng tôi đưa ra trong phụ lục của luận án (Phụ lục 1)

Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng, việc thực hiện chính

sách đổi mới, mà biểu hiện trực tiếp là tôn trọng quyền tự do kinh doanh, đã

mang lại những thành tựu vô cùng quan trọng, làm cho thế và lực của Việt

Nam ngày càng vững chắc trên trường quốc tế Có thể nói tự do kinh doanh

vừa là điều kiện vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế Nó là cơ sở

quan trọng cho việc giải phóng và thúc đẩy mọi tiềm năng trong xã hội, tạo ra

nhiều viêc làm cho xã hội, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp Thực

hiện lốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với các vấn đề xã hội, nâng cao

mức sống cho nhân dân, đảm bảo ổn định kinh tế, làm cho Việt Nam trở nên

hấp dãn hơn trên trường quốc tế

Nhiều học giả nước ngoài phải thừa nhận rằng Việt Nam là nước thành

công nhất trong số các nước chuyển từ cơ chế kinh tế tập trung sang kinh tế

thị trường

QUYỂN Tự DO KINH DOANH

1.2.1 Khái niệm pháp luật kinh tê

Một trong những vấn đề có tính phương pháp luận khi đánh giá vai trò

của pháp luật kinh tế trong việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh là phải làm

Ngày đăng: 02/08/2020, 20:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. PGS.TS, Lê Hồng Hạnh (2000), "Khái niệm thương mại trong pháp luật Việt Nam và những bất cập dưới góc độ thực tiễn áp dụng và chính sách hội nhập", Luật học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm thương mại trong pháp luậtViệt Nam và những bất cập dưới góc độ thực tiễn áp dụng và chính sách hội nhập
Tác giả: PGS.TS, Lê Hồng Hạnh
Năm: 2000
11. TS. Hoàng Văn Hảo và Phạm Khiêm ích chủ biên (1995), Quyền con người trong th ế giới hiện đại, Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con ngườitrong th ế giới hiện đại
Tác giả: TS. Hoàng Văn Hảo và Phạm Khiêm ích chủ biên
Năm: 1995
12. TS. Trần Đình Hảo (2000), "Nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường ở Việt Nam", Báo cáo khoa học tại Hội thảo khoa học Nhà nước pháp quyền trong bối cảnh Việt Nam , do Viện Nhà nước và pháp luật tổ chức 11-9-2000 tại Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường ởViệt Nam
Tác giả: TS. Trần Đình Hảo
Năm: 2000
14. "Hồng Kông - Cuộc đọ găng quyết liệt", Bản tin Thông tấn xã Việt Nam 27.6.1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồng Kông - Cuộc đọ găng quyết liệt
15. TS. Nguyễn Am Hiểu (1999), "Mấy vấn đề về pháp luật kinh tế Việt Nam hiện nay", Luật học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về pháp luật kinh tế ViệtNam hiện nay
Tác giả: TS. Nguyễn Am Hiểu
Năm: 1999
16. TS. Nguyễn Am Hiểu (1996), Hoàn thiện luật kinh t ế ở Việt Nam trong nền kinh t ế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Luận án PTS luật học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện luật kinh t ế ở Việt Nam trongnền kinh t ế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả: TS. Nguyễn Am Hiểu
Năm: 1996
17. Trần Ngọc Hiên (1995), "Chính sách kinh tế của quá trình đổi mới ở nước ta", Bình luận Hiến pháp 1992, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách kinh tế của quá trình đổi mới ởnước ta
Tác giả: Trần Ngọc Hiên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1995
18. TS. Phan Chí Hiếu (2000), "Tăng cường vai trò của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế", Giải quyết tranh chấp kinh tế và phá sản doanh nghiệp, Nxb Giao thông vận tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường vai trò của tòa án trong việc giảiquyết tranh chấp kinh tế
Tác giả: TS. Phan Chí Hiếu
Nhà XB: Nxb Giao thông vận tải
Năm: 2000
19. Hiến pháp 1980 (1995), "Chế độ kinh tế", Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ kinh tế
Tác giả: Hiến pháp 1980
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
20. Hiến pháp 1992 (1995), "Chế độ kinh tế", Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ kinh tế
Tác giả: Hiến pháp 1992
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
21. TS. Dương Đăng Huệ (1999), Các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật kinh tế và vai trò của các biện pháp hình sự trong việc bảo đảm trật tự quản lý kinh tế, Báo cáo khoa học tại Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp xử lý vi phạm pháp luậtkinh tế và vai trò của các biện pháp hình sự trong việc bảo đảm trật tự quản lý kinh tế
Tác giả: TS. Dương Đăng Huệ
Năm: 1999
22. TS. Dương Đăng Huệ (1996), Một s ố vấn đề về luật kinh tế Việt Nam hiện nay, Tham luận tại Bộ Tư pháp Nhật Bản, 9.1996 do JICA tổ chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một s ố vấn đề về luật kinh tế Việt Namhiện nay
Tác giả: TS. Dương Đăng Huệ
Năm: 1996
23. TS. Dương Đăng Huệ (1999), "Sự cần thiết ban hành Pháp lệnh hợp đồng kinh tế sửa đổi", Thông tin khoa học pháp lý (4), từ tr. 51-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cần thiết ban hành Pháp lệnh hợp đồngkinh tế sửa đổi
Tác giả: TS. Dương Đăng Huệ
Năm: 1999
24. TS. Dương Đăng Huệ (2000), "Luật doanh nghiêp, vai trò, quá trình thực hiện và một số vấn đề pháp lý đặt ra", Dân chủ và pháp luật, (6), tr. 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật doanh nghiêp, vai trò, quá trình thựchiện và một số vấn đề pháp lý đặt ra
Tác giả: TS. Dương Đăng Huệ
Năm: 2000
25. TS. Dương Đăng Huệ (năm 1999), "Trọng tài kinh tế phi chính phủ ở Việt Nam - thực trạng và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của nó", Thông tin khoa học pháp lý, (5), (chuyên đề về các phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế hiện nay), tò tr. 45-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trọng tài kinh tế phi chính phủ ở ViệtNam - thực trạng và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của nó
26. F.Kubler (1992), Mấy vấn đề Pháp luật kinh t ế Cộng hòa Liên bang Đức, Nxb Pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề Pháp luật kinh t ế Cộng hòa Liên bang Đức
Tác giả: F.Kubler
Nhà XB: Nxb Pháp luật
Năm: 1992
27. GS. Suzuki Ken (1999), "Đặc điểm và những khái niệm lý luận cơ bản của Luật hợp đồng thống nhất của Trung Quốc", Tài liệu hội thảo về Luật dân sự và thương mại Việt Nam - Nhật Bản tại Hà Nội 17,18-11-1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm và những khái niệm lý luận cơ bản củaLuật hợp đồng thống nhất của Trung Quốc
Tác giả: GS. Suzuki Ken
Năm: 1999
28. Francis Lemeunier (1993), Nguyên lý và thực hành Luật thương mại, Luật kinh doanh, (Bản dịch tiếng Việt), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý và thực hành Luật thương mại, Luậtkinh doanh
Tác giả: Francis Lemeunier
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
29. K ỷ yếu hội thảo giải quyết tranh chấp kinh doanh và phá sản doanh nghiệp do Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội và Konrad Adenauer Stiítung tổ chức 10-1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: K ỷ yếu hội thảo giải quyết tranh chấp kinh doanh và phá sản doanh nghiệp
30. TS. Hoàng Thế Liên (1999), "Xác định đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (sửa đổi)", Thông tin khoa học pháp lý, (4), tr. 42- 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định đối tượng và phạm vi điều chỉnhcủa Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (sửa đổi)
Tác giả: TS. Hoàng Thế Liên
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w