Hiện nay ở nước ta, luật kinh tế vẫn được quan niệm là: "Tổng thể các quy phạm pháp luật..., điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, quản lý và hoạt động của sản
Trang 2NGUYỄN VIẾT TÝ
PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT KINH TẾ■ ■
TRONG ĐIÊU KIỆN c ố BỘ LUẬT DÂN s ự■ ■ ■ ■
Chuyên ngành : Luật kinh tê
M ã số : 5.05.15Z77~
Ĩ T R Ư Ơ N O OH LUẬT HA NỌI
ỊTH iíViỆH 6ỈẤỔ VIEN
LUẬN ÁN TIẾN Sĩ LUẬT HỌC • • •
Ngưòỉ hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Thê Lién
TS Đinh Trung Tụng
HÀ NỘI - 2002
Trang 3T ô i xin cam đoan đâ y là công trình nghiên cứu của riêng tôi C á c s ố liệu nêu trong luận án ìà trung thực N h ữ n g kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công b ố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Viết Tý
Trang 4Chương 1: MỐI QUAN HỆ GIỮA LUẬT DÂN s ự VÀ LUẬT KINH TÊ 81.1 Khái quát về luật kinh tế và luật dân sự Việt Nam 81.2 Mối quan hệ giữa luật dân sự và luật kinh tế trong nền kinh tế 33
kế hoạch hóa tập trung
1.3 Mối quan hệ giữa luật dân sự và luật kinh tế trong nền kinh tế 37
thị trường
1.4 Khái quát về mối quan hệ giữa luật dân sự và luật thương mại 59
dưới chế độ cũ và ở một số nước trên thế giói
Chương 2: VAI TRÒ NỂN TẢNG CỦA BỘ LUẬT DÂN s ụ TRONG 72
VIỆC ĐIỂU CHỈNH CÁC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
2.1 Kinh doanh và vai trò của hoạt động kinh doanh 722.2 Bô luật Dân sự - nền tảng pháp lý cho hoạt động kinh doanh ở 88
nước ta
Chương 3: NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP c ơ BẢN TRONG 133
VIỆC XÂY DỤNG PHÁP LUẬT KINH TẾ HIỆN NAY Ở
NƯỚC TA
3.1 Những bất cập của pháp luật kinh tế và pháp luật dân sự trong 133
việc điều chỉnh các quan hệ kinh doanh
3.2 Những định hướng cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật kinh tế i 463.3 Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật kinh tế 162
trong điều kiện có Bộ luật Dân sự
Trang 5(Hiệp hội các nước Đông Nam Á): Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
: Chủ nghĩa xã hội : Chủ nghĩa tư bản : Giáo sư viện sĩ : Nhà xuất bản : Phó giáo sư, tiến sĩ : Phó giáo sư, tiến sĩ khoa học : Xã hội chủ nghĩa
: Tư bản chủ nghĩa : Tiến sĩ
: World Trade organization (Tổ chức Thương mại thế giới)
Trang 6M Ở Đ Ầ U
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quan hệ giữa luật kinh tế và luật dân sự đã có lịch sử phát triển lâu dài ở mỗi thời kỳ, mối quan hệ này được thể hiện khác nhau Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, giữa luật kinh tế và luật dân sự có sự phân biệt rõ ràng Luật kinh tế là ngành luật độc lập, là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung Trong nền kinh tế thị trường, việc phân biệt luật kinh tế với luật dân sự gặp nhiều khó khăn Bởi vì, đối tượng điều chính của hai ngành luật này có những điểm cơ bản thống nhất với nhau (cả hai đều điều chỉnh các quan hệ tài sản trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi) Trong hoàn cảnh đó, xuất hiện vấn đề tranh luận về sự tồn tại của luật kinh tế Ở một số hội thảo khoa học, vấn đề này đã được đưa ra tranh luận
và kết quả là tiếp tục công nhận sự tồn tại của luật kinh tế với tư cách là ngành luật trong hệ thống pháp luật nước ta Tuy nhiên, nội dung của luật kinh tế không thể như trước đây mà phải được đổi mới cho phù hợp với sự thay đổi của các quan hộ kinh tế, phải phản ánh được đời sống kinh tế - xã hội của đất nước
Ở nước ta, trong một thời gian dài (suốt thời kỳ bao cấp), luật kinh
tế phát triển và hoàn íhiện hơn luật dân sự Trong giai đoạn hiện nay, đang tồn tại đồng thời luật dân sự và luật kinh tế Vấn đề đặt ra là phải làm rõ quan hệ và tác động qua lại giữa các ngành luật đó để góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật
Thực tiễn xây dựng pháp luật ở nước ta trong thời gian qua đã đạt được nhũng thành công lớn, trong đó phải kể đến việc ban hành Bộ luật Dân
sự và một loạt các văn bản luật khác về kinh tế Bộ luật Dân sự năm 1995 là
Bộ luật Dân sự đầu tiên của Nhà nước ta Sau Hiến pháp, Bộ luật Dân sự là
Trang 7đạo luật có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật, liên quan mật thiết đến mọi mặt đời sống thường ngày của người dân, trong đó có lĩnh vực kinh doanh.
Đối với hoạt động kinh doanh, Bộ luật Dân sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Thông qua việc quy định những tiền đề chủ yếu của kinh doanh như vấn đề tài sản và sở hữu, bảo vệ quyền sở hữu, hợp đồng, sở hữu trí tuệ, chuyển quyền sử dụng đất V V , Bộ luật Dân sự quy định các chuẩn mực pháp lý cho các quan hệ kinh doanh phát triển trong môi trường thuận lợi, đưa lại cho mỗi giao dịch độ tin cậy pháp lý cao Cùng với các văn bản pháp luật khác trong hệ thống pháp luật kinh tế, Bộ luật Dân sự góp phần xây dụng nên khung pháp lý cần thiết cho sự vận hành của nền kinh tế thị trường, tạo nên môi trường pháp lý thuận lợi và thống nhất cho các doanh nghiệp hoạt động và phát triển
Tuy nhiên, có vấn đề lớn đặt ra là luật dân sự nói chung và Bộ luật Dân sự nói riêng có quan hệ như thế nào đối với sự phát triển của luật kinh
tế Do vấn đề này chưa được nghiên cứu, lý giải một cách thấu đáo và có hệ thống nôn trong việc xây dựng cũng như áp dụng các quy định của luật kinh
tế gặp nhiều khó khăn Trên thực tế, do đối tượng điều chỉnh của luật kinh
tế và luật dân sự có nhũng nét tương đồng nên một số chế định của của Bộ luật Dân sự có thể được áp dụng đối với các quan hệ kinh tế nhưng vấn đề không đơn giản như vậy khi luật kinh tế cũng có nhũng quy định riêng đối với các quan hệ đó Thực tiễn áp dụng pháp luật còn phức tạp hơn nhiều, bởi vì khi giải quyết quan hệ cụ thể nào đó, có vấn đề cứ lặp đi lặp lại là quan hệ này thuộc phạm vi điều chỉnh của luật kinh tế hay luật dân sự, do
đó gây nên tình trạng đùn đẩy, dây dưa, kéo dài, rất phiền hà Nghiêm trọng hơn, cùng một vụ việc nhưng nếu áp dụng luật dân sự để giải quyết thì sẽ khác hoàn toàn, thậm chí trái với việc áp dụng luật kinh tế để giải quyết
Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự chưa điều chỉnh hết các quan hệ phát sinh trong hoạt động kinh doanh hay nói cách khác chưa đầy đủ để điều
Trang 8chỉnh các các quan hệ trong hoạt động kinh doanh Để điều chỉnh có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh cần có hệ thống pháp luật đồng bộ
và hoàn thiện Trong thực tiễn pháp luật kinh tế nước ta, bên cạnh những cái
đã đạt được, vẫn còn những khiếm khuyết nhất định
Chính vì vậy, nghiên cứu vấn đề: "Phương hướng hoàn thiện pháp
luật kinh tế trong điều kiện có Bộ luật Dân sự" có ý nghĩa cấp thiết không
chỉ ở phương diện lý luận cơ bản về luật kinh tế mà còn đa dạng về phương diện thực tiễn Ý nghĩa của đề tài này bao hàm việc định hướng hoạt động thực tiễn trên các lĩnh vực xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật và áp dụng pháp luật
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề lý luận về luật kinh tế và mối quan hệ của nó với luật dân sự, cũng như vấn đề hoàn thiện pháp luật kinh tế được giới khoa học pháp lý ở nước ta và ở nhiều nước trên thế giới quan tâm
Nghiên cứu các vấn đề ]ý luận của luật kinh tế với tư cách là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật XHCN được đặc biệt quan tâm ở các nước
có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây Nhũng tác phẩm nổi tiếng
nghiên cứu về vấn đề này có thể kể đến như "Những vấn đề lý luận về luật
kinh tê", "Đối tượng điều chỉnh và hệ thống luật kinh tể' của giáo sư, viện sĩ
Laptev; "Những vấn đề lý luận chung về luật kinh tế Xô viết" của I E Kraxko;
"Luật kinh tể ' của Uwe - Jens Heuer và một số bài tạp chí của các nhà
nghiên cứu luật kinh tế tiền bối ở Việt Nam như Tạ Hữu Khuê, Nguyễn Ngọc Minh, Nguyễn Niên
Ớ các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, những vấn đề lý luận
về hoàn thiện pháp luật kinh tế cũng được nhiều luật gia quan tâm giải quyết,
chẳng hạn như: Friedrich Kuebler, Jurgen Simon trong cuốn "Mấy vấn đề pháp
luật kinh t ế Cộng hòa Liên bang Đức" (Nxb Pháp lý, Hà nội 1992); "Các
Trang 9vấn để điều chỉnh trong luật kinh tế' của Juergen Simon (Nxb Luechterhand
1986); "Luật kinh tế công" của Reiner Schmidt (Nxb WISU 1985)
Trong những năm gần đây, ở nước ta, việc nghiên cứu pháp luật kinh
tế cũng như các vấn đề về hoàn thiện pháp luật kinh tế được nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm, đặc biệt từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
Hiện có khá nhiều công trình, bài viết về vấn đề này như: "Thực trạng pháp
luật kinh t ế ở nước ta và quan điểm đổi mới đưa pháp luật kinh tế vào cuộc sống" của PGS.TS Nguyễn Niên; "Pháp luật kinh t ế nước ta trong bước chuyển sang kinh tế thị trường" của TS Nguyễn Như Phát; "Môi trường pháp luật kinh t ế đầy đủ phù hợp với cơ chế thị trường" của TS Hoàng Thế Liên;
"Kinh t ế thị trường và sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật kinh tể' của
PGS.TS Lê Hồng Hạnh; "Hoàn thiện luật kinh tế ở Việt Nam trong nền kinh
t ế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", luận án phó tiến sĩ của Nguyễn
Am Hiểu; "Đổi mới và hoàn thiện khung pháp luật kinh tế trong điều kiện nền
kinh t ế thi trường Việt Nam", luận án phó tiến sĩ của Nguyễn Minh Mẫn
Ngoài ra, nghiên cứu pháp luật kinh tế và hoàn thiện pháp luật kinh
tế còn là đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước như đề tài KHXH 02-07
"Những luận cứ khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về kinh tế nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa" do TS Trần
Du Lịch làm chủ nhiệm hoặc các dự án do các tổ chức quốc tế tài trợ như
dự án của UNDP (VIE 94/ 003, VIE 98/ 001)
Nhìn chung, các bài viết, các công trình nghiên cún của các nhà nghiên cứu kể trên đã đề cập nhiều khía cạnh và ở mức độ khái quát khác nhau Tính hệ thống và mức độ cụ thể của từng công trình ở các mức độ nhất định Một số công trình, khi nghiên cứu pháp luật kinh tế có đặt trong mối quan hệ với luật dân sự nhưng chưa đi sâu
Do mới ra đời nên việc nghiên cứu về Bộ luật Dân sự còn có mặt chưa sâu và thiếu tính toàn diện Đặc biệt, việc nghiên cứu Bộ luật Dân sự
Trang 10trong mối quan hệ với pháp luật kinh tế nhằm tìm ra nhũng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật kinh tế, hầu như chưa được thực hiện một cách thỏa đáng.
Trong tình hình đó, việc khái quát hóa luật kinh tế và luật dân sự, xác định mối quan hệ giữa luật kinh tế và luật dân sự cũng như nghiên cứu nội dung của Bộ luật Dân sự nhằm đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật kinh tế trong điều kiện có Bộ luật Dân sự là rất cần thiết
3 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi nhằm vào ba mục đích chính sau:
Thứ nhất, xác định rõ mối quan hệ giữa luật kinh tế và luật dân sự; Thứ hai, làm rõ vai trò nền tảng của Bộ luật Dân sự trong việc điều
chỉnh các hoạt động kinh doanh Từ đó phân tích một số chế định cơ bản của
Bộ luật Dân sự có liên quan mật thiết và trực tiếp đến hoạt động kinh doanh;
Thứ ba, xác định rõ phương hướng hoàn thiện pháp luật kinh tế
trong điều kiện có Bộ iuật Dân sự
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Khái niệm "Pháp luật kinh tể ' có thể hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác
nhau Theo nghĩa rộng có thể khẳng định rằng, pháp luật kinh tế không phải là ngành luật theo tiêu chuẩn phân loại của lý luận pháp luật hiện hành mà là khái niệm tổng hợp, bao gồm toàn bộ các văn bản pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau có liên quan đến sự vận hành và quản lý nền kinh tế Trong cơ cấu của mình, pháp luật kinh tế bao gồm các ngành luật khác nhau: Luật kinh
tế, luật tài chính, luật ngân hàng, luật lao động, luật đất đai [60, tr 13-14]
Như vậy, luật kinh tế là một bộ phận của pháp luật kinh tế và có thể nói đây là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất của hệ thống pháp luật kinh tế
Trang 11Mặt khác, xuất phát từ vị trí vai trò của luật kinh tế trong hệ thống pháp luật kinh tế, nếu hiểu chữ "pháp luật" tương tự như chữ "npai30" trong tiếng Nga hoặc chữ "law" trong tiếng Anh thì khái niệm "pháp luật kinh tế"
có thể hiểu ở nghĩa hẹp hơn, pháp luật kinh tế chính là luật kinh tế
Trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi quan niệm pháp luật kinh tế theo nghĩa hẹp Chính vì vậy, để thực hiện đề tài, chúng tôi chỉ đề cập các vấn
đề lý luận của luật kinh tế cũng như vấn đề hoàn thiện nội dung của luật kinh
tế với tư cách là một ngành luật Cũng cần nhấn mạnh rằng nguồn của luật kinh tế có nhiều văn bản có chữ đầu là "Luật", cho nên chúng tôi lấy tên đề tài
là: " hoàn thiện pháp luật kinh tế " để tránh sự nhầm lẫn không cần thiết.
Luận án đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận về luật kinh tế và luật dân sự, xác định rõ mối quan hệ giữa luật kinh tế và luật dân sự đồns thời xây dựng một số khái niệm cơ bản về kinh doanh và chủ thể kinh doanh
Luận án tập trung nghiên cứu các quy định của Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1995 và tham khảo một số
Bộ luậl Dân sự của một số nước có nền kinh tế thị trường
Ngoài ra, để làm sáng tỏ nội dung của đề tài, chúng tôi còn nghiên cứu các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động kinh doanh, ví dụ như: Các luật về các loại hình doanh nghiệp, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế, Luật Phá sản doanh nghiệp V V
5 Đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, luận án chứng minh được sự tồn tại độc lập tương đối của
luật kinh tế trong mối quan hệ với luật dân sự, xác định cụ thể hơn các tiêu chí để phân biệt luật kinh tế với luật dân sự;
Thứ hai, luận án xác định được một số khái niệm cơ bản vể kinh
doanh và chủ thể kinh doanh, giải quyết được mối quan hệ giữa luật kinh tế
và luật dân sự;
Trang 12Thứ ba, luận án nêu lên được những bất cập của pháp luật kinh tế và
pháp luật dân sự trong việc điều chỉnh các quan hệ kinh doanh;
Cuối cùng, luận án đưa ra một số định hướng và giải pháp trong việc
xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế sau khi có Bộ luật Dân sự
6 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau:
- Phương pháp phân tích, tổng họp được sử dụng để khái quát hóa, đánh giá và nhận định các hiện tượng trong thực tiễn
- Phương pháp duy vật biện chứng và lịch sử được sử dụng nhằm mô
tả các tiến trình phát triển của vấn đề dựa trên nhũng điều kiện kinh tế, chính trị và lịch sử của xã hội Hơn nữa, phương pháp này được tác giả sử dụng để đánh giá và giải quyết vấn đề trên cơ sở những điều kiện lịch sử và
cụ thể của Việt Nam nhằm loại trừ sự võ đoán hay sao chép máy móc
- Phương pháp so sánh pháp luật cũng thướng được tác giả sử dụng, bởi lẽ pháp luật của kinh tế thị trường là hiện tượng mà ở Việt Nam mới được biết đến, hoàn thiện pháp luật phải được đặt trong bối cảnh quốc tế và hội nhập khu vực về pháp luật
Cuối cùng, mặc dù đề tài không theo hướng mô tả thực tiễn song trong trường hợp có thể chúng tôi có sử dụng thông tin và kiến thức từ thực tiễn để minh họa cho những kết luận và những kiến giải khoa học của mình
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
án gồm có ba chương, 9 tiết
Trang 13Chương 1
MỐI QUAN HỆ GIỮA LUẬT DÂN s ụ VÀ LUẬT KINH TÊ
1.1 KHÁI QUÁT VỂ LUẬT KINH TẾ VÀ LUẬT DÂN s ự VIỆT NAM
1.1.1 Khái quát vê luật kinh tê
Quan niệm vê luật kinh tê
Quan niệm về luật kinh tế được biết đến ở các nước tư bản từ những năm đầu của thế kỷ XX, khi trong nền kinh tế xuất hiện những nhân tố mới như: sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế, sự phát triển của kinh tế nhà nước, sự xuất hiện độc quyền V V Những người theo trường phái luật kinh tế cho rằng, sự phân chia truyền thống pháp luật tư sản ra luật công
và luật tư, trong hoàn cảnh đó không còn có ý nghĩa mà cần có một ngành luật mới đó là luật kinh tế (xcKỉUMCTBeHHoe npaBO, economic law) - ngành luật nằm ở chỗ giáp ranh giữa luật công và luật tư v ề vấn đề này, theo GS.TS Mazolin thì sự xuất hiện trường phái này (trường phái luật kinh tế) liên quan đến thời kỳ chuẩn bị chiến tranh thế giới thứ nhất, khi ở nước Đức, vấn đề tăng cường sự can thiệp của Nhà nước vào lĩnh vực các quan hệ kinh tế được đặt ra trước mắt để động viên các nguồn nhân lực, vật lực Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, cơ sở lý luận của luật kinh tế được các luật sư Đức (Keyman, Gedeman, Kleyzing), Ý (Mocca) và Tầy Ban Nha (Polo) nghiên cứu rất đầy đủ và chi tiết, v ề sau, trường phái này được thể hiện trong một số tác phẩm của các tác giả người Pháp (Amel, Lagard) [74, tr 9]
Theo quan điểm của những người theo trường phái này, luật kinh tế điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát triển dưới sự tác động và do sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế Nội dung của luật kinh tế gồm có: Luật thương mại, luật lao động, luật điều chỉnh sở hữu công nghiệp và một số chế định, quy phạm của luật dân sự có có áp dụng pháp luật công (quan hệ
Trang 14dân sự do các chế định, quy phạm này điều chính có sự can thiệp của Nhà nước) Trong nội dung của luật kinh tế theo quan niệm này thì luật thương mại có vị trí quan trọng nhất.
Cho đến nay, vấn đề này vẫn được GS.TS Friedrich Kubler khẳng định lại khi trả lời câu hỏi về sự độc lập của ngành luật kinh tế tại Hội thảo
về pháp luật kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức tháng 12/1990 tại Hà Nội Theo ông, luật kinh tế không thuần túy thuộc công pháp hoặc tư pháp mà
nó trùm lên cả công pháp và tư pháp, có vấn đề thuộc công pháp và có vấn
đề thuộc tư pháp [36, tr 223]
Sau Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, cùng với việc thiết lập chính quyền chuyên chính vô sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã thiết lập chế độ sở hữu hoàn toàn mới - chế độ sở hữu XHCN về tư liệu sản xuất Sở hữu XHCN về tư liệu sản xuất là cơ sở của nền kinh tế quốc dân XHCN Hầu hết mọi chủ trương chính sách của các đảng cộng sản và các nhà nước XHCN đều nhằm phát triển tối đa hình thức sở hữu này Các hình thức sở hữu khác (sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất) hầu như không được quan tâm đến
Mặt khác, như GS, v s Laptev khẳng định: "Nhà nước xã hội chủ nghĩa không chỉ thực hiện quyền lực chính trị, mà chính nó còn kinh doanh" [72, tr 7] Như vậy, Nhà nước XHCN không chỉ là trung tâm quyền lực chính trị mà còn là trung tâm kinh tế Với tư cách là người chủ sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu và là người nắm quyền lực chính trị, Nhà nước XHCN trực tiếp tiến hành hoạt động kinh tế và lãnh đạo hoạt động đó Tất cả các tinh tiết đó có ý nghĩa quan trọng để nhận thức bản chất của luật kinh tế trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở các nước XHCN nói chung và ở nước ta nói riêng
Mặc dù, ở các nước XHCN trước đây có các điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội tương đối giống nhau nhưng quan niệm về luật kinh tế cũng
Trang 15không hoàn toàn thống nhất với nhau TS Nguyễn Như Phát đã nhận xét:
"Ngay trong phạm vi các nước XHCN trước đây, ở Liên Xô luật kinh tế chưa được chính thức công nhận, ở Cộng hòa dân chủ Đức nó được coi là một ngành luật độc lập và Tiệp Khắc là quốc gia xã hội chủ nghĩa duy nhất
có trong hệ thống luật của mình một Bộ luật Kinh tế" [51, tr 31]
Thậm chí, ngay ở trong một nước như Liên Xô (cũ), trong mỗi thời
kỳ lịch sử, cũng có nhiều quan niệm khác nhau về luật kinh tế
- Theo Tônxtôi và Alekxaev (người theo trường phái luật kinh tế là ngành luật tổng hợp), luật kinh tế được chia ra luật dân sự kinh tế và luật hành chính kinh tế, luật kinh tế được nghiên cứu như là một "cấu trúc thứ sinh" trong hệ thống pháp luật Xô viết [75, tr 31-50]
- Có trường phái khác lại cho rằng luật kinh tế điều chỉnh các quan
hệ kinh tế trong lĩnh vực kinh tế nhà nước Các quan hệ được coi là đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế là những quan hệ sản xuất do Nhà nước tổ chức dưới hình thức hàng hóa - tiền tệ, giữa các tổ chức nhà nước và các bộ phận cấu thành của chúng [70, tr 25] Trường phái kinh tế này có thể tạm gọi là "trường phái hàng hóa", bởi vì nó chỉ bao hàm những quan hệ kinh tế dưới hình thức hàng hóa - tiền tệ
- Theo Kraxavchikov, luật kinh tế là tổng thể văn bản pháp quy chứa đựng các quy phạm của nhiều ngành luật khác nhau có liên quan mật thiết với nhau [71, tr 25]
- Theo GS.VS Laptev - người đứng đầu trường phái luật kinh tế trong những năm 60, 70 thế kỷ trước:
Là một ngành luật, luật kinh tế là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định trật tự quản lý và thực hiện các hoạt động kinh
tế và điều chỉnh các quan hệ kinh tế giữa các tổ chức kinh tế XHCN cũng như các đơn vị cấu thành bên trong của nó với việc vận dụng nhiều phương pháp điều chỉnh khác nhau [72, tr 17]
Trang 16Như vậy, những người theo trường phái luật kinh tế của GS.VS Laptev cho rằng luật kinh tế là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Xô viết, điều chỉnh các quan hệ giữa các tổ chức kinh tế XHCN và các bộ phận cấu thành của chúng trong lãnh đạo và thực hiện các hoạt động kinh tế Những quan hệ này được gọi là các quan hệ kính tế và phát sinh trong quá trình tái sản xuất XHCN Tất nhiên, đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế không phải là tất cả các quan hệ phát sinh trong quá trình tái sản xuất XHCN mà chỉ một phần các quan hệ đó - các quan hệ kinh tế, với đặc trưng quan trọng nhất của chúng là trong các quan hệ đó bao giờ cũng kết hợp hài hòa yếu tố tài sản và yếu tố tổ chức - kế hoạch Ngoài ra, những người theo trường phái này còn khẳng định rằng, luật kinh tế không chỉ có đối tượng điều chỉnh riêng mà còn có phương pháp điều chỉnh và các nguyên tắc riêng.
Ở Việt Nam, vào những năm 60, 70 của thế kỷ XX, nhân dân ta phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, đó là giải phóng miền Nam thống nhất đất nước và xây dựng CNXH ở miền Bắc Trong quá trình xây dựng CNXH ở miền Bắc chúng ta có những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cơ bản tương tự như Liên Xô và các nước Đông Âu, do đó chúng ta đã áp dụng
cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung như các nước đó Đó là lý do
cơ bản để lý giải cho sự tác động của khoa học pháp lý của Liên Xô và các nước Đông Âu đối với khoa học pháp lý nước ta Có thể nói, trong thời kỳ này, Việt Nam đã tiếp thu hoàn toàn các quan điểm lý luận về luật kinh tế
là ngành luật độc lập của GS.VS Laptev mà không có sự tranh luận gay gắt nào xảy ra Lí giải cho thực tế này, TS Nguyễn Như Phát cho rằng, có hai lý
do cơ bản:
Thứ nhất, khi lý luận về luật kinh tế được truyền bá vào khoa học pháp lý Việt Nam thì nói chung toàn bộ hệ thống khoa học pháp lý Việt Nam còn non trẻ Vì vậy, lý luận luật kinh tế không vấp phải sự phản kháng của những lực lượng khoa học
Trang 17hùng mạnh Thứ hai, vào những năm 70 các nhà khoa học tiền bối như Tạ Như Khuê, Vũ Đình Hòe, Nguyễn Ngọc Minh, Nguyễn Niên, Trần Trọng Hựu truyền bá hệ thống lý luận luật kinh tế vào Việt Nam thì lúc đó luật kinh tế ở Liên Xô và các nước Đông Âu đang thắng thế và đã trở thành một ngành luật độc lập [50, tr 15].Hơn nữa, nếu ở các nước Liên Xô và Đông Âu, sự ra đời của luật kinh tế vấp phải sự kháng cự quyết liệt của giới lý luận luật dân sự và luật hành chính thì ở Việt Nam cả luật dân sự lẫn luật hành chính tại thời điểm
lý luận về luật kinh tế được du nhập vào Việt Nam còn chưa phát triển Do
đó, lý luận về luật kinh tế đã phát triển một cách khá thuận chiều
Chính vì vậy, quan niệm về luật kinh tế trong giới lý luận cũng như các nhà thực tiễn ở nước ta lúc bấy giờ không có gì khác so với quan niệm của GS.VS Laptev như đã trình bày ở trên
Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã làm thay đổi cơ bản tính chất của các quan hệ trong kinh doanh Những quan hệ trong kinh doanh (trước đây thuộc đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế) có nhũng tính chất cơ bản giống nhũng quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh Trong hoàn cảnh đó, vào những năm 90 của thế kỷ XX, ở một số hội thảo khoa học đã xuất hiện việc tranh luận về sự tồn tại của luật kinh tế Kết quả của việc tranh luận đó
là tiếp tục công nhận sự tồn tại của luật kinh tế với tư cách là một ngành luật trong hệ thống pháp luật nước ta Tuy nhiên, nội dung của luật kinh tế phải được đổi mới cho phù hợp với sự thay đổi của các quan hệ kinh tế, phải phản ánh được đời sống kinh tế - xã hội của đất nước
Hiện nay ở nước ta, luật kinh tế vẫn được quan niệm là: "Tổng thể các quy phạm pháp luật , điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, quản lý và hoạt động của sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp với nhau và với cơ quan quản lý nhà nước" [60, tr 23]
Trang 18Như vậy, có thể nói, luật kinh tế là ngành luật điều chỉnh hai nhóm quan hệ xã hội chủ yếu, đó là những quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh và những quan hệ trong quá trình quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh đó Tương úng với các quan hệ đó, nội
dung của luật kinh tế bao gồm hai bộ phận quy phạm pháp luật chính: thứ
nhất, những quy định về việc thực hiện hoạt động kinh doanh; thứ hai,
những quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh Tùy thuộc vào bản chất của nền kinh tế trong từng giai đoạn lịch sử mà Nhà nước chú trọng ưu tiên phát triển các quy định về thực hiện hoạt động kinh doanh hoặc các quy định về quản lí nhà nước đối với hoạt động kinh doanh
Để làm sáng tỏ hơn quan niệm về luật kinh tế, cần thiết phải xem xét hai khái niệm cùng loại với khái niệm luật kinh tế, đó là luật thương mại
và luật kinh doanh
Quan niệm về luật thưong mại
Trong đời sống kinh tế xã hội cũng như trong khoa học pháp lý ở các nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, luật thương mại đã tồn tại như một ngành luật quan trọng, cùng với luật dân sự điều chỉnh các quan
hệ tài sản mang tính chất hàng hóa - tiền tệ
Luật thương mại ra đời do yêu cầu mới của đời sống kinh tế xã hội lúc bấy giờ và do các quy định của luật dân sự không thể đáp ứng được đối với những quan hệ mới phát sinh trong lĩnh vực lưu thông thương mại Như
TS Nguyễn Quang Quýnh nhận xét: "Lúc đầu người ta chỉ biết có dân luật Tới thời kỳ thương mại phát triển, người ta nhận thấy có nhu cầu đặc biệt, cần có các quy tắc riêng mới thỏa mãn được Thí dụ, nhu cầu nhanh chóng, mau lẹ về thủ tục, nhu cầu tín dụng" [53, tr 56]
Lúc khởi thủy, luật thương mại là ngành luật tư điển hình, là luật của các thương gia, điều chỉnh các quan hệ mua bán trên thị trường [32, tr 42]
Trang 19Như vậy, lúc bấy giờ luật thương mại chỉ điều chỉnh các hành vi mua bán hàng hóa nhằm mục đích kiếm lời Nhung về sau, cái gọi là "hành vi thương mại" không còn bị bó hẹp là hành vi mua bán mà được mở rộng ra, bao gồm tất cả các hành vi: đầu tư, sản xuất, trao đổi hàng hóa, cung ứng dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi Do đó, phạm vi điều chỉnh của luật thương mại ngày càng được mở rộng và nội dung của nó ngày càng phong phú hơn Nội dung của luật thương mại các nước này được thể hiện tập trung nhất trong các Bộ luật Thương mại, đề cập những vấn đề cơ bản như: địa vị pháp
lý và hoạt động của các thương nhân, các giao dịch thương mại và đại diện thương mại, các chứng khoán, thương mại hàng hải, mất khả năng thanh toán và phá sản Ngoài ra, trong Bộ luật Thương mại của một nước còn chứa đựng những quy định về giải quyết tranh chấp trong thương mại
Hiện nay, ở Việt Nam, cùng với việc ban hành Luật Thương mại năm 1997, trên thực tế đã xuất hiện khái niệm "luật thương mại" Song, do khái niệm thương mại được hệ thống pháp luật nước ta tiếp cận ở nghĩa hẹp, tức chỉ )à một khâu của hoạt động kinh doanh, cho nên luật thương mại không được coi là một ngành luật mà chỉ được coi như một bộ phận của luật kinh tế
Quan niệm về luật kinh doanh
Vào cuối thế kỷ XX, trong một số tài liệu nghiên cứu và giảng dạy pháp lý ở một số nước trên thế giới xuất hiện khái niệm luật kinh doanh Theo các tài liệu đó, ở Liên bang Nga, luật kinh doanh (npGjj,]ipMHMMâTejibCK0e npaBo) được coi là ngành luật và được hiểu là: "Tổng thể các quy phạm pháp luật, điều chỉnh các quan hệ kinh doanh và các quan hệ xã hội khác liên quan mật thiết với quan hệ kinh doanh, trong đó có các quan hệ trong lĩnh vực quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước và của xã hội" [69, tr 17] Hoặc ở Mỹ, vốn dĩ khái niệm luật dân sự và luật thương mại là ngành luật độc lập hầu như không được
Trang 20biết đến, cho nên luật kinh doanh cũng không tồn tại như là một ngành luật
mà chỉ tổn tại như là một môn học Trong cuốn "Luật kinh doanh" (Business law), ấn bản lần thứ 6, R Robert Rosenberg có giới thiệu: "Cuốn luật kinh doanh dựa trên cơ sở Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ, trình bày những vấn đề pháp lý cơ bản về pháp luật thương mại và pháp luật hành chính" [76] Các vấn đề pháp lý trình bày trong cuốn sách này có thể
chia thành hai bộ phận: Thứ nhất, bộ phận pháp luật tư bao gồm các vấn đề
về chủ thể kinh doanh, hợp đồng; sở hữu tư nhân và các biện pháp đảm bảo;
mua bán; giấy tờ có giá, bảo hiểm Thứ hai, bộ phận pháp luật công bao
gồm các vấn đề như vi phạm và tội phạm trong kinh doanh, trình tự tố tụng Với nội dung trên của cuốn "Luật kinh doanh", chúng tôi suy luận rằng luật kinh doanh bao gồm những quy định điều chỉnh các quan hệ kinh doanh, bảo vệ những lợi ích tư của các chủ thể tham gia thương trường và những quy định về khả năng và cách thức của sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh, bảo vệ những lợi công
Ớ Việt Nam, thuật ngữ "luật kinh doanh" hay "pháp luật kinh doanh" được bàn đến vào những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ XX, trong các đề tài nghiên cún khoa học và trong các hội thảo khoa học Theo PGS.TS Lê Hồng Hạnh: "Luật kinh doanh điều chỉnh các quan hệ gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh" [22] Còn theo TS Dương Đăng Huệ, pháp luật kinh doanh, nói một cách nôm na nhất là tổng hợp các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình tổ chức hoạt động và giải thể doanh nghiệp Nội dung của luật kinh doanh có bốn bộ phận cơ bản cấu thành là: pháp luật
về các loại hình doanh nghiệp; pháp luật về hành vi kinh doanh; pháp luật về
vỡ nợ, phá sản; pháp luật về cơ quan tài phán trong kinh doanh [3, tr 19]
Từ những quan niệm trên cho thấy, cho dù quan niệm luật kinh doanh
là ngành luật hay môn học thì nội dung cơ bản của nó cũng chứa đựng hai vấn đề pháp lý cơ bản, đó là: pháp luật về hoạt động kinh doanh của các chủ
Trang 21thể kinh doanh và pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh Suy cho cùng, những vấn đề trong nội dung của luật kinh doanh cơ bản giống những nội dung của luật kinh tế như đã trình bày ở trên, có chăng, chỉ khác về cách thức, mức độ can thiệp (quản lý) bằng pháp luật của các nhà nước đối với hoạt động kinh doanh trong từng thời thời kỳ lịch
sử Còn luật thương mại với tư cách là bộ phận của luật tư ở các nước TBCN
có nội dung hẹp hơn luật kinh tế và luật kinh doanh, chủ yếu điều chỉnh các quan hệ trong hoạt động thương mại Tuy nhiên, hiện đang có xu hướng mở rộng đối tượng điều chỉnh của luật thương mại Theo GS Kubler: "ớ một số nước (Pháp) có xu hướng mở rộng đối tượng điều chỉnh của luật thương mại
đề thay vào đó khái niệm luật kinh doanh" [36 tr 21]
Tóm lại, với những trình bày trên đây và hơn nữa xuất phát từ mục tiêu của luận án là không đi sâu giải quyết vấn đề lý luận này, chúng tôi muốn quán triệt một nhận định là: ở một phương diện nào đó, luật kinh tế, luật thương mại hay luật kinh doanh được sử dụng như những khái niệm cùng loại - đều là ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế, thương mại hoặc kinh doanh tại một quốc gia nào đó, trong một giai đoạn lịch sử nào đó Tuy nhiên, tùy thuộc vào cách thức và mức độ can thiệp của Nhà nước vào hoạt động nói trên mà trong nội dung của chúng cũng có nhũng điểm khác nhau
Luật kinh tế trong nên kinh tế k ế hoạch hóa tập trung
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, luật kinh tế được coi là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam Điều đó được thể hiện khá rõ nét trong các giáo ĩrình của các trung tâm đào tạo cử nhân luật ở nước ta [59, tr 342] Theo quan niệm trong các giáo trình đó, luật kinh tế được hiểu là tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình lãnh đạo và thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các tổ chức kinh tế XHCN với nhau
Trang 22Như vậy, đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế là những quan hệ xã hội phát sinh chủ yếu giữa các tổ chức XHCN với nhau trong quá trình lãnh đạo và thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh Việc xác định đối tượng điều chinh của luật kinh tế như vậy là hoàn toàn phù hợp với thực trạng của nền kinh tế nước ta lúc bấy giờ - nền kinh tế xây dựng trên cơ sở chế độ sở hữu XHCN về tư liệu sản xuất, được quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung và trong đó chỉ có sự tham gia chủ yếu của hai thành phần kinh tế (kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể).
Cơ sở quan trọng nhất mà dựa vào đó để khẳng định luật kinh tế là ngành luật độc lập và để phân biệt luật kinh tế với luật dân sự và luật hành chính là trong các quan hệ pháp luật kinh tế bao giờ cũng kết hợp hài hòa hai yếu tố: yếu tố tổ chức kế hoạch và yếu tố tài sản TS Dương Đăng Huệ cho rằng:
Hòn đá tảng (cơ sở lý luận) của quan điểm về tính độc lập của luật kinh tế, như mọi người đều biết, là sự thống nhất của hai yếu tố (yếu tố tổ chức - kế hoạch và yếu tố tài sản) trong các quan
hệ lãnh đạo kinh tế (quan hệ dọc) và quan hệ sản xuất kinh doanh (quan hệ ngang) Sở dĩ có được sự kết hợp của hai yếu tố đó trong cùng một quan hệ kinh tế là do kinh tế XHCN, theo quan niệm truyền thống trước đây, là nền kinh tế phát triển theo một kế hoạch thống nhất [3, tr 13]
Các quan hệ pháp luật kinh tế được chia ra hai loại chủ yếu:
Thứ nhất, quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình lãnh đạo kinh tế
là những quan hệ giữa cấp trên (cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế) và cấp dưới (đơn vị kinh tế) Những quan hệ này được phát sinh trong các lĩnh vực:
kế hoạch hóa, cung ứng vật tư, quản lý tài sản của Nhà nước, cấp phát kinh phí V V Về mặt hình thức, những quan hệ này giống quan hệ pháp luật hành chính nhung về thực chất, chúng có những điểm khap;njFiãĩi cơ bản
ị THƯ VIỆN GÌẢỤ VIÊN
Trang 23Điều đó thể hiện ở chỗ những quan hệ này gắn bó chặt chẽ với các quan hệ tài sản và có thể nói chúng là nhũng cơ sở làm phát sinh các quan hệ tài sản giữa các đơn vị kinh tế với nhau.
Thứ hai, quan hệ trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh là những quan
hệ tài sản giữa các đơn vị kinh tế với nhau Nhũng quan hệ này được phát sinh chủ yếu trong lĩnh vực ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế Mặc CỈÙ đây là những quan hệ tài sản, song chúng hoàn toàn khác những quan hệ tài sản trong luật dân sự Những quan hệ tài sản trong luật kinh tế liên quan mật thiết với kế hoạch nhà nước Hay nói cách khác, những quan hệ này được phát sinh, thay đổi hoặc hủy bỏ ĩheo các kế hoạch của Nhà nước
Chủ thể của luật kinh tế chủ yếu là những tổ chức XHCN sở dĩ như vậy là vì trong nền kinh tế XHCN, hoạt động sản xuất - kinh doanh được tiến hành không phải do từng cá nhân riêng biệt mà chủ yếu do tập thể người lao động tiến hành Có thể nói, luật kinh tế là luật của những chủ thể là tập thể
Bàn về chủ thể của luật kinh tế, điều đáng lun ý là giới lý luận luật kinh tế lúc bấy giờ đã đưa nhiều khái niệm, thuật ngữ mới như thẩm quyền kinh tế, quyền chủ thể, đã có những quan niệm mới về sự độc lập về tài sản của các chủ thể thay thế cho những khái niệm thường dùng trong luật dân
sự như pháp nhân, năng lực pháp luật, năng lực hành vi
Cũng cần nhấn mạnh, trong giai đoạn cuối của thời kỳ bao cấp, trong nền kinh tế của chúng ta có các thành phần kinh tế khác ngoài thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể tham gia Hơn nữa, để thu hút nhân lực, vật lực và tài lực vào việc thực hiện thắng lợi kế hoạch của nhà nước, trong một số quan hệ kinh tế cụ thể, công dân có thể tham gia với tư cách là chủ thể
Quan hệ pháp luật kinh tế là những quan hệ mà trong đó bao giờ cũng kết hợp hài hòa hai yếu tố (yếu tố tài sản và yếu tố tổ chức - kế hoạch)
Trang 24và tham gia vào các quan hệ pháp luật kinh tế chủ yếu là các tổ chức XHCN Đặc điểm đó của quan hệ pháp luật kinh tế có ý nghĩa quyết định trong việc xác định phương pháp điều chỉnh của luật kinh tế Luật kinh tế sử dụng và phối hợp nhiều phương pháp điều chỉnh Cụ thể, luật kinh tế sử dụng các phương pháp điều chỉnh như phương pháp bình đẳng, phương pháp quyền uy phục tùng, phương pháp gợi ý hướng dãn Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng loại quan hệ kinh tế mà có sự ưu tiên nhất định trong việc sử dụng các phương pháp điều chỉnh trên Chẳng hạn, phương pháp bình đẳng chủ yếu được dùng để điều chỉnh các quan hệ phát sinh Irong quá trình thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh Ngược lại, phương pháp quyền uy phục tùng chủ yếu dùng để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình íãnh đạo kinh tế.
Với tư cách là một ngành luật trong hệ thống pháp luật, luật kinh tế
có những nguyên tắc riêng của nó Các nguyên tắc của luật kinh tế gồm: sự thống nhất của lãnh đạo kinh tế và lãnh đạo chính trị, sở hữu XHCN là cơ
sở kinh doanh XHCN, tập trung dân chủ, kế hoạch hóa, hạch toán kinh tế, pháp chế trong hoạt động kinh tế Việc tuân thủ nghiêm túc các tư tưởng chỉ đạo trên có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của điều chỉnh bằng pháp luật quá trình kinh doanh XHCN trong thời gian qua ở nước ta
Trong thời kỳ bao cấp, việc kinh doanh chủ yếu được các tổ chức thuộc thành phần kinh tế quốc doanh tiến hành Chính vì vậy, để điều chỉnh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trinh kinh doanh XHCN, luật kinh tế trong thời kỳ này tập trung ghi nhận các chế độ pháp lý liên quan đến việc
tổ chức và hoạt động của các tổ chức kinh tế quốc doanh Cụ thể, nội dung của luật kinh tế gồm có những chế độ pháp lý chủ yếu như: địa vị pháp lý của các chủ thể luật kinh tế; chế độ pháp lý về tài sản của các đơn vị kinh tế quốc doanh; chế độ pháp lý về kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân; chế độ pháp lý hạch toán kinh tế; chế độ hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế
Trang 25Nói tóm lại, do tính chất của kinh doanh trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, luật kinh tế trong thời kỳ này chủ yếu ghi nhận về tổ chức và hoạt động kinh doanh của các đơn vị kinh tế quốc doanh.
Luật kinh tê trong nền kinh tế thị trường
Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VI đã ghi nhận: "Thực chất của đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh XHCN, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ" [17, tr 65] Cùng với việc khẳng định bản chất của việc đổi mới cơ chế quản lv kinh tế, văn kiện Đại hội cũng đã xác định hai đặc trưng cơ bản của cơ chế mới là
"tính kế hoạch - đặc trưng thứ nhất", "sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hóa tiền tệ - đặc trưng thứ hai" [17, tr 63]
Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã làm thay đổi cơ bản tính chất của các quan hệ trong kinh doanh Điều này cũng đưa đến yêu cầu tất yếu phải
có sự thay đổi trong luật kinh tế cho phù hợp với thực tế khách quan
Về thực chất, luật kinh tế trong giai đoạn này vãn được hiểu là tổng họp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, điều chỉnh những quan
hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp hoặc giữa chúng với cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước
Nội dung của luật kinh tế có bốn bộ phận quy phạm pháp luật cơ bản, đó là: pháp luật về chủ thể kinh doanh; chế độ hợp đồng kinh tế; pháp luật về phá sản doanh nghiệp; pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế
Pháp luật về chủ thể kinh doanh gồm các quy định pháp luật quan trọng về tổ chức và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở nước ta như quy định về bản chất của các loại doanh nghiệp; quy chế thành lập, giải thể cũng như cơ chế quản lý doanh nghiệp; quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp V V
Trang 26Chế độ hợp đồng kinh tế gồm có những quy định pháp luật quan trọng về bản chất của hợp đồng kinh tế, về các nguyên tắc cũng như thủ tục
ký kết và thực hiện hợp đổng kinh tế, về trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng kinh tế, về hợp đồng kinh tế vô hiệu và cách thức xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu
Pháp luật về phá sản doanh nghiệp là một chế định mới vừa đặc biệt của luật kinh tế, trong đó có các quy định của pháp luật nội dung điều chỉnh các quan hệ tài sản giữa chủ nợ và con nợ, đổng thời có những quy định của pháp luật hình thức quy định thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế quy định về các hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế và về các thủ tục giải quyết lianh chấp kinh tế
Nhu' vậy, thoáng nhìn phạm vi điều chỉnh của luật kinh tế, so với trước đây hầu như không có sự thay đổi, vẫn là những quan hệ phát sinh trong quá trình kinh doanh Song, quá trình kinh doanh trong giai đoạn này có những thay đổi về cả chủ thể lẫn phương thức kinh doanh, cho nên các quan
hệ trong quá trình này cũng có những sự thay đổi cơ bản Nói cách khác, đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế có nhiều thay đổi so với trước đây
Trước hết, quan hệ trong quá trình sản xuất kinh doanh là những quan hệ tài sản giữa các doanh nghiệp, được phát sinh chủ yếu thông qua các hợp đồng kinh tế Những quan hệ này khác với nhũng quan hệ cùng loại
do luật kinh tế điều chỉnh trước đây ở những điểm sau:
Thứ nhất, về tính chất, nếu như quan hệ pháp luật kinh tế trước đây
có đặc điểm quan trọng là trong quan hệ đó có sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố: yếu tố tài sản và yếu tố tổ chức - kế hoạch thì hiện nay, trong các quan hệ này, yếu tố tổ chức - kế hoạch thể hiện không rõ nét (trừ một số ít các quan hệ tài sản có liên quan mật thiết với kế hoạch của Nhà nước)
Trang 27Cũng chính vì vậy, các bên tham gia quan hệ này được tự nguyện và bình đẳng hơn.
Thứ hai, về chủ thể, do trước đây kinh doanh XHCN chủ yếu do các
đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể tiến hành nên chủ thể chủ yếu của các quan hệ trong quá trình sản xuất kinh doanh là các tổ chức kinh tế XHCN Hiện nay, tham gia vào lĩnh vực kinh doanh không chỉ các đơn vị thuộc thành phần kinh tế quốc doanh và thành phần kinh tế tập thể mà còn có các đơn vị thuộc các thành phần kinh tế khác Cho nên chủ thể tham gia các quan hệ kinh tế trong quá trình sản xuất kinh doanh được mở rộng đáng kể
Có thể nói, chủ thể của các quan hệ này bao gồm các đơn vị thuộc bất cứ thành phần kinh tế nào, miễn là có đủ các điều kiện của chủ thể kinh doanh
Cũng cần lưu ý, các quan hệ tài sản do luật kinh tế điều chỉnh hiện nay tuy có những điểm khác với những quan hệ tài sản do luật kinh tế điều chỉnh trước đây, song nó vẫn là một loại quan hệ pháp luật kinh tế và có những điểm khác biệt với quan hệ tài sản trong luật dân sự Điều đó được thể hiện ở chỗ quan hệ tài sản trong luật dân sự được hình thành do nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và bị chi phối bởi nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, quan hệ tài sản trong luật kinh tế được hình thành do nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế Hơn nữa, do bị chi phối bởi nhu cầu của sản xuất kinh doanh cho nên ngoài sự tác động của thị trường quan hệ kinh tế này còn chịu sự quản lý của Nhà nước Vì vậy, trong một số quan hệ kinh tế cụ thể do luật kinh tế điều chỉnh, ngoài yếu tố tài sản còn có yếu tố
tổ chức - kế hoạch Tuy nhiên, mức độ thể hiện của yếu tố tổ chức - kế hoạch trong các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh rõ nét hay không tùy thuộc vào mức độ tác động của Nhà nước đối với các quan hệ đó Trong các quan hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế nhằm thực hiện chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước thì yếu tố tổ chức - kế hoạch thể hiện một cách trực tiếp Ý chí của các chủ thể tham gia các quan hệ này bị
Trang 28hạn chế đáng kể bởi ý chí của Nhà nước Còn trong các quan hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế mà một bên hoặc cả hai bên không được giao kế hoạch pháp lệnh thì yếu tố tổ chức - kế hoạch thể hiện một cách gián tiếp thông qua sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế.
Sau nữa, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế không chỉ làm thay đổi tính chất các quan hệ kinh tế theo chiều ngang mà còn làm thay đổi đáng kể tính chất các quan hệ theo chiều dọc - quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế với các đơn vị kinh tế cơ sở Nếu như trước đây trong quan hệ kinh
tế này quyền và nghĩa vụ của các bên không có sự phân định rõ ràng, cơ quan quản lý thường can thiệp sâu vào các hoạt động nghiệp vụ của các đơn
vị kinh tế cơ sở như quyết định kế hoạch của các đơn vị kinh tế cơ sở, định đoạt tài sản của các đơn vị kinh tế v.v thì hiện nay, quyền và nghĩa vụ của các bên được phân định khá rõ ràng Cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế không được quyền can thiệp vào các hoạt động nghiệp vụ của các đơn vị kinh tế cơ sở mà chỉ tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các đơn vị kinh tế thực hiện quyền chủ động sản xuất kinh doanh của chúng Như vậy, có thể khẳng định, trong nội dung của các quan hệ kinh tế theo chiều dọc, quyền
và nghĩa vụ của cơ quan quản lý bị hạn chế còn quyền và nghĩa vụ của các đơn vị kinh tế được mở rộng đáng kể Mặt khác, ngoài các đơn vị kinh tế thuộc thành phần kinh tế quốc doanh và thành phần kinh tế tập thể tham gia quá trình kinh doanh còn có các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác, cho nên hoạt động quản lý của các cơ quan quản lý không chỉ đối với các đơn vị thuộc thành phần kinh tế quốc doanh mà còn đối với các đơn vị thuộc các thành phần kinh tế khác Hay nói cách khác, đối tượng quản lý được mở rộng hơn so với trước đây Mặc dù so với trước, các quan hệ kinh
tế giữa các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế với các đơn vị kinh tế cơ sở
có những thay đổi, song các quan hệ đó vẫn là đối tượng điều chỉnh của luật
Trang 29kinh tế Bởi vì, các quan hệ đó là những quan hệ phát sinh trong quá trình kinh doanh XHCN, có mối liên quan mật thiết với các quan hệ tài sản giữa các đơn vị kinh tế cơ sở.
Cuối cùng, do tính chất của các quan hệ kinh tế thay đổi, cho nên việc sử dụng các phương pháp điều chỉnh của luật kinh tế cũng có những khác biệt so với trước đây Nếu như trước đây luật kinh tế chủ yếu sử dụng phối hợp phương pháp mệnh lệnh và phương pháp thỏa thuận thì hiện nay luật kinh tế sử dụng phối hợp phương pháp thỏa thuận với phương pháp gợi
ý hướng dẫn
Quan hệ kinh tế thay đổi đòi hỏi pháp luật kinh tế cũng phải thay đổi theo Nội dung của luật kinh tế trong giai đoạn đổi mới cơ chế quản lý kinh tế có những thay đổi đáng kể Những thav đổi lớn trong nội dung của luật kinh tế tập trung vào ba điểm chính sau:
M ột là, thực chất của đổi mới cơ chế quản lý kinh tế là xóa bỏ cơ
chế quan liêu bao cấp, mở rộng quyền chủ động sản xuất kinh doanh cho các đơn vị kinh tế cơ sở Để đáp ứng yêu cầu của cơ chế quản lý kinh tế mới, Nhà nước đã ban hành một loạt văn bản pháp luật kinh tế mới thay thế cho những văn bản pháp luật được ban hành trong thời kỳ trước đây như Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Hợp tác xã, Luật Phá sản doanh nghiệp, Luật Thương mại Với những đạo luật đó, các nguyên tắc cơ bản trong kinh doanh như tự do kinh doanh, bình đẳng trong kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh v.v được xác lập; địa vị pháp lý của các loại doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường ta được xác định rõ ràng; quyền và nghĩa vụ của chúng được ghi nhận một cách đầy đủ
Tóm lại, theo quy định của các văn bản trên, chủ thể của luật kinh tế được mở rộng một cách đáng kể, cả về các loại hình lẫn tư cách pháp lý
Hai là, trong kinh doanh, dù ở bất kì giai đoạn nào, giữa các tổ chức
kinh tế (doanh nghiệp) bao giờ cũng có những mối quan hệ kinh tế với nhau
Trang 30và các mối quan hệ đó được hình thành trên cơ sở hợp đồng kinh tế Cho nên, trong nội dung của luật kinh tế ở giai đoạn đổi mới vẫn có một chế định quan trọng đó là chế độ hợp đồng kinh tế Tuy nhiên, tính chất của quan hệ hợp đồng kinh tế hiện nay khác tính chất của quan hệ họp đồng kinh tế trước đây Do đó, pháp luật về hợp đồng kinh tế trong giai đoạn đổi mới, về cơ bản, khác với pháp luật về hợp đồng kinh tế trước đây:
Có thể khẳng định, mặc dù tên của chế định hợp đồng kinh tế không
có thay đổi nhưng nội dung của những quy định pháp luật trong chế định đó hoàn toàn khác so với nhũng quy định trong nội dung của chế độ hợp đồng kinh tế trước đây Nhiều quy định trong chế độ hợp đồng kinh tế hiện nay gần giống những quy định trong pháp luật hợp đồng dân sự Điều đó đòi hỏi cần có sự giải quyết đúng đắn về phương diện lý luận để nâng cao hiệu quả của việc điều chỉnh bằng pháp luật các quan hệ hợp đồng
Cùng với những thay đổi trong chế độ hợp đồng kinh tế, những quy định của pháp luật về tài phán kinh tế cũng có những thay đổi lớn Đó là những thay đổi về hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế, về các cơ quan giải quyết tranh chấp, về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan đó cũng như những nguyên tắc thẩm quyền và trình tự giải quyết các tranh chấp hợp đồng kinh tế
Ba là, trong cơ chế bao cấp, những quy định của pháp luật về kế
hoạch hóa nền kinh tế quốc dân và hạch toán kinh tế là bộ phận chủ yếu trong nội dung của luật kinh tế Trong giai đoạn đổi mới những quy định của pháp luật về những vấn đề trên có những thay đổi lớn nhưng ở chừng mực nhất định nào đó cũng chỉ có thể áp dụng đối với một số doanh nghiệp nhà nước, còn đối với phần lớn các doanh nghiệp nhà nước khác hoặc các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác thì không còn phù hợp nữa Trong khi đó, những quy định cụ thể để đảm bảo cho Nhà nước tiến hành kế hoạch hóa ở tầm vĩ mô được ban hành Chính vì vậy, trong nội
Trang 31dung của luật kinh tế, chế độ pháp lý về kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân
và về hạch toán kinh tế không còn giữ vị trí chủ yếu như trước đây mà chí còn là bộ phận nhỏ trong hệ thống các chế định của luật kinh tế Bên cạnh
đó, có những chế định mới chưa hề được biết đến trong thời kỳ bao cấp được hình thành, chẳng hạn như Chế định pháp luật về phá sản doanh nghiệp
Tóm lại, nội dung của luật kinh tế có những thay đổi lớn cả về những chế định (chế độ pháp lý) lãn từng quy định cụ thể
1.1.2 Khái quát về luật dân sụ
Luật dân sự trong nền kinh tê k ế hoạch hóa tập trung
Từ đầu những năm 60, chúng ta bắt tay xây dựng nền kinh kế hoạch hóa tập trung Đặc điểm cơ bản của nền kinh tế đó là tổ chức quản lý vận hành nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, không phân biệt chức năng quản lý hành chính kinh tế và chức năng sản xuất kinh doanh; sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa mang tính chất hình thức, hông dựa trên quan hệ hàng hóa tiền tệ, nhất thể hóa sở hữu và ngăn chặn sự phát triển của các thành phần kinh tế ngoài kinh tế XHCN, bộ máy quản lý kinh tế quốc dân cồng kềnh, kém nhạy bén, thiếu thông tin chính xác, xa rời thực tiễn
Cơ chế kinh tế đó có ảnh hưởng rất lớn đến bản chất, nội dung, cơ cấu của các ngành luật trong hệ thống pháp luật, trong đó có luật dân sự Lúc bấy giờ, "đặc trưng của các quy địPxh pháp luật điều chỉnh giao lưu dân
sự trong thời gian này là chịu ảnh hưởng sâu sắc của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp cao độ; phương pháp hành chính được sử dụng phổ biến làm biến dạng các quan hệ dân sự " [4, tr 12]
Trong những năm của thời kỳ bao cấp, Nhà nước đã ban hành khá nhiều văn bản để điều chỉnh các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản Đặc trung của các quy định pháp luật điều chỉnh giao lưu dân sự trong thời gian này chịu ảnh hưởng sâu sắc của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, phương
Trang 32pháp mệnh lệnh hành chính được sử dụng khá phổ biến để điều chỉnh các quan hệ dân sự, các nguyên tắc cơ bản của dân luật như tự nguyện, thỏa thuận, bình đẳng mang tính chất hình thức Có thể nói, luật dân sự trong thời kỳ bao cấp không tổn tại theo nghĩa truyền thống của nó.
Nội dung của luật dân sự trong thời kỳ này cũng khá nghèo nàn, chủ yếu tập trung giải quyết vấn đề thừa kế, còn các vấn đề quan trọng khác như
sở hữu, nghĩa vụ và hợp đồng chưa được điều chỉnh hoặc được điều chỉnh chưa thỏa đáng Chẳng hạn, trong Chế định nghĩa vụ và hợp đồng chỉ có những quy định về việc cho thuê tài sản Mãi đến gần cuối thời kỳ bao cấp, các vấn đề về sở hữu công nghiệp (Nghị định số 31 ngày 23/1/1981) quyền tác giả mới bắt đầu được điều chỉnh
Nhìn chung, luật dân sự trong thời kỳ nàv rất kém phát triển cả về mặt nội dung lẫn hình thức Điều đó đã hạn chế các tiềm năng to lớn mà sự nghiệp cách mạng đã mang lại, làm cho mọi người dân rơi vào tình trạng bị động, mất nhiệt tình, thiếu chủ động, không phát huy được sáng kiến cá nhân trong lao động, sản xuất và sinh hoạt đời thường
Luật dân sự trong nền kinh tê thị trường
Thực hiện đường lối đổi mới cơ chế quản lý kinh tế cũng như chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN, nền kinh tế Việt Nam đã có những quản
lý chuyển biến sâu sắc Trong nền kinh tế tổn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, vận hành theo cơ chế thị trường, Nhà nước khõng can thiệp trực tiếp vào sản xuất cũng như tiêu dùng của nhân dân Điều đó
đă làm thay đổi căn bản tính chất của các quan hệ trong lưu thông dân sự, làm cho giao lưu dân sự trở nên sống động
Phúc đáp yêu cầu mới trong giao lưu dân sự, Nhà nước đã ban hành một loạt các văn bản luật và dưới luật, trong đó quan trọng hơn hết là Bộ luật Dân sự (1995) Hệ thống các văn bản pháp luật đó thể hiện bước phát
Trang 33triển to lớn của luật dân sự cả về nội dung lẫn hình thức và khẳng định vị trí vai trò của luật dân sự - ngành luật quan trọng trong hệ thống pháp luật nước ta.
Với tư cách là ngành luật trong hệ thống pháp luật, luật dân sự là tống hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa - tiền tệ và một số các quan hệ nhân thân phi tài sản trên cơ
sở bình đẳng, độc lập và tự định đoạt của các chủ thể tham gia vào các quan
hệ đó
Như vậy, nhìn một cách khái quát và thuần túy lý thuyết thì đối lượng điều chỉnh của luật dân sự trong nền kinh tế thị trường hầu như không
như không khác đối tượng điều chỉnh của luật dân sự trong nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung, cũng là những nhóm quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân phi tài sản phát sinh trong quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông và tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của các thành viên trong xã hội Song, về bản chất, sự hiện diện của các văn bản pháp luật dân sự, đặc biệt là của Bộ luật Dân sự đã đưa luật dân sự lên tầm phát triển mới về cả nội dung lẫn hình thức, khác hẳn luật dân sự trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
Về hình thức, nếu như trong thời kỳ trước đây nguồn cơ bản của luật dân sự chỉ là một số văn bản dưới luật, thậm chí cả báo cáo tổng kết của ngành tòa án thì nguồn cơ bản của luật dân sự hiện nay (Bộ luật Dân sự) đã đạt đến trình độ pháp điển hóa pháp luật Điều đó minh chứng cho sự phát triển và ổn định của quan hệ dân sự trong đời sống kinh tế - xã hội ở nước
ta, bởi vì pháp luật là sự phản ánh đời sống kinh tế - xã hội, nếu quan hệ xã hội không ổn định không bao giờ thực hiện được công việc hệ thống hóa pháp luật ở mức độ pháp điển hóa v ề mặt hình thức, cũng cần nhấn mạnh rằng sự hiện diện Bộ luật Dân sự là cơ sở quan trọng nhất để điều chỉnh các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân phi tài sản trong các lĩnh vực đời
Trang 34sống dân sự Thiếu sự điều chỉnh đầy đủ như vậy thì giao lưu dân sự không thể tiến hành bình thường được Đối tượng đó càng mở rộng bao nhiêu thì giao lưu dân sự càng có điều kiện phát triển bấy nhiêu và nói rộng ra là luật dân sự càng phát triển bấy nhiêu [62, tr 15] Tuy nhiên, dù phạm vi các quan
hệ có mở rộng thêm nữa thì cũng không thể nói là không còn nhu cầu phải
có những văn bản pháp luật như: Các luật về các loại hình doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Đất đai, Luật Hôn nhân và Gia đình, Bộ luật Lao động - nguồn của ngành luật khác mà trước đây theo truyền thống thuộc luật dân sự Sự hiện diện của các văn bản pháp luật này không làm yếu đi vị thế của luật dân sự mà chứng tỏ các quan hệ dân sự ngày càng được điều chỉnh một cách cụ thể hơn và Bộ luật Dân sự không phải là con số cộng các văn bản pháp luật đó
Về nội dung, sự phát triển của luật dân sự trong nền kinh tế thị trường so với luật dân sự trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung không chỉ về mặt hình thức mà còn về mặt nội dung của nó Theo quy định của Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật dân sự khác, nội dung chủ yếu của luật dàn sự bao gồm các chế định pháp lý về chủ thể quan hệ dân sự, về tài sản
và quyền sở hữu, về nghĩa vụ và hợp đồng, về quyền thừa kế, về chuyển quyền sử dụng đất, về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
Như vậy, nếu thuần túy chỉ so sánh về mặt tên gọi của các chế định cũng có thể nhận thấy rằng có nhiều chế định pháp luật dân sự hiện nay không
có trong nội dung của luật dân sự trước đây Điều đó chứng tỏ nội dung của luật dân sự trong nền kinh tế thị trường được mở rộng và phong phú hơn
Tuy nhiên, vấn đề chính cần xem xét không phải là sự so sánh về mặt hình thức hoặc tên gọi của các chế định trong nội dung của luật dân sự
mà cần xem xét sự thay đổi, phát triển trong toàn bộ các quy định, các chế định chủ yếu của luật dân sự trong nền kinh tế thị trường
Trang 35Nhìn một cách tổng quát có thể khẳng định rằng, nội dung của luật dân sự đã đề cập hầu hếl các lĩnh vực trong đời sống giao lưu dân sự, đã phản ánh được những yếu tố hạt nhân trong nền kinh tế thị trường như: Công nhận và phát triển các hình thức sở hữu khác nhau trên cơ sở bình đẳng; thừa nhận quyền tự do kinh doanh, quyền tự do hợp đồng trong các giao lưu kinh tế, dân sự Có thể xem xét cụ thể hơn một số chế định của luật dân sự hiện nay đề minh chứng cho luận điểm này:
Thứ nhất, chế định tài sản và quyền sở hữu tài sản.
Tài sản và quyền sở hữu là chế định quan trọng của luật dân sự Bởi
vì, như PGS.TS Lê Hồng Hạnh nhận xét: "Quan hệ sở hữu là nền tảng của các quan hệ kinh tế khác Nếu không giải quyết được các vấn đề cấp bách của sở hữu không thể giải quyết được các vấn đề khác phát sinh từ phạm trù
sở hữu" [26, tr 21] Trong chế định này, luật dân sự quy định về tài sản, các loại tài sản, xác định rõ khái niệm quyền sở hữu cũng như nội dung của quyền sở hữu Đặc biệt, luật dân sự không chỉ quy định về quyền và nghĩa
vụ của chủ sở hữu mà còn quy định về quyền và nghĩa vụ của những người không phải chủ sở hữu Ngoài ra, luật dân sự còn quy định cụ thể về căn cứ xác lập, chấm dứt quyền sở hữu, về các hình thức sở hữu và các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu Những quy định này của chế định sở hữu hầu như không được biết đến trong luật dân sự trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung Có chăng, vấn đề sở hữu với tư cách là một bộ phạn của luật dân sự chỉ có trong các chương trình giảng dạy đại học và ở đó cũng chỉ tập trung lý giải những quy định của Hiến pháp về hình thức sở hữu XHCN hoặc giả nêu lên một số biện pháp bảo vệ quyền sở hữu theo quy định của luật hình sự
Thứ hai, chế định về nghĩa vụ và hợp đồng.
Trong nền kinh tế thị trường với những đặc trưng của nó là tồn tại nhiều thành phần kinh tế, các chủ thể có quyền tự do kinh doanh và bình đẳng trong các hoạt kinh doanh, hợp đồng luôn đóng vai trò quan trọng, là
Trang 36hình thức pháp lý đảm bảo cho sự vận động của hàng hóa, tài sản và các lợi ích khác đúng với bản chất của nền kinh tế Việc Nhà nước ghi nhận chế định nghĩa vụ và hợp đồng trong Bộ luật Dân sự - nguồn cơ bản của luật dân sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó tạo ra cơ chế pháp lý thích hợp đề lợi ích của các chủ thể tham gia các giao kết dân sự, kinh tế được đảm bảo ở mức tối đa Trong chế định về nghĩa vụ và hợp đồng, luật dân sự xác định nghĩa vụ dân sự, quy định các căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự, thực hiện nghĩa vụ dân sự, trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ dân sự, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, chấm dút nghĩa vụ dân sự Quan trọng hơn, trong chế định này, luật dân sự đã quy định những nội dung của chế độ hợp đồng dân sự như các nguyên tắc ký kết, thủ tục ký kết, nội dung của hợp đồng dân sự, các loại hợp đồng dân sự và trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng dân sự.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung các quy định về hợp đồng dàn sự với nguyên nghĩa của nó gần như vắng bóng Điều đó có thể lý giải
là do cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp cao độ, phương pháp hành chính được sử dụng phổ biến làm biến dạng các giao lưu dân sự, các giao dịch dân sự hay kinh tế đều không được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng cùng có lợi Như vậy, có thể nói hợp đồng dân sự với nguyên nghĩa của nó là sự thỏa thuận, sự thống nhất ý chí không tồn tại và đương nhiên pháp luật về hợp đồng dân sự kém phát triển Trên thực tế, lúc bấy giờ có tồn tại cái gọi là hợp đồng kinh tế nhưng với bản chất hoàn toàn khác với bán chất thực của hợp đồng, nó chỉ là hình thức của kế hoạch của Nhà nước Loại hợp đồng này hầu như không có mối quan hệ nào với hợp đồng dân sự
Thứ ba, bên cạnh những sự thay đổi cơ bản trong nội dung của các
chế định của luật dân sự vốn dĩ tổn tại từ trước, trong nội dung của luật dân
sự hiện diện một số chế định mới chưa hề được biết đến trong nội dung của
luật dân sự trước đây như chế định về quyền sử dụng đất, chế định về sở
hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ
Trang 37Chế định về quyền sử dụng đất là chế định mới trong luật dân sự hiện nay Chế định này đã cụ thể hóa chi tiết hóa quyền sở hữu nhà nước đối với đất đai Thông qua chế định này, có thể nói rằng đất đai đã được gián tiếp đưa vào kênh giao lưu dân sự Điều đó tạo điều kiện quản lý, sử dụng đất đai của Nhà nước một cách có hiệu quả nhất Trong chế định về quyền sử dụng đất, Bộ luật Dân sự đã quy định cụ thể về các vấn đề như căn
cứ xác lập quyền sử dụng đất, hình thức và thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, điều kiện chuyển quyền sử dụng đất, giá chuyển quyền sử dụng đất, nguyên tắc chuyển quyền sử dụng đất, hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất, hậu quả của việc chuyển quyền sử dụng đất trái pháp luật và căn
cứ chấm dút quyền sử dụng đất Đặc biệt trong chế định này, đã có nhũng quy định cụ thể về hình thức cũng như nội dung của các hợp đồng liên quan đến việc chuyển quyền sử dụng đất
Sự hiện diện của chế định về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ trong nội dung của luật dân sự là sự công nhận của Nhà nước về sự tồn tại trong giao lưu dân sự một loại tài sản mới (tài sản vô hình) đồng thời tỏ
rõ thái độ của Nhà nước trong việc bảo hộ bằng pháp luật dân sự đối với loại tài sản mới mẻ này Nội dung của chế định này bao gồm các vấn đề về tác giả, người sở hữu tác phẩm, các loại tác phẩm được bảo hộ, tác phẩm không được Nhà nước bảo hộ cũng như các vấn đề về quyền tác giả, quyền của chủ sở hữu tác phẩm, thời điểm phát sinh quyền tác giả, giới hạn quyền tác giả, chuyển giao quyền tác giả và thừa kế quyền tác giả Chế định này còn bao gồm các quy định về quyền sở hữu công nghiệp, các đối tượng sở hữu công nghiệp được Nhà nước bảo hộ, quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp, vấn đề sử dụng quyền sở hữu công
nghiệp, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, chuyển giao công nghệ và hợp
đồng chuyển giao công nghệ
Trang 38Tóm lại, nội dung của luật dân sự trong nền kinh tế thị trường đã
bao quát tất cả các quan hệ trong giao lun dân sự, bắt đầu từ những nguyên
tắc chung của luật dân sự, đến chủ thể, quyền sở hữu, nghĩa vụ và hợp đồng,
thừa kế V.V So với luật dân sự trong thời kỳ bao cấp, luật dân sự trong giai
đoạn hiện nay có sự thay đổi về bản chất, có bước phát triển to lớn về nội
dung cũng như hình thức và có vai trò quan trọng trong đời sống giao lưu
dân sự
NÊN KINH TÊ KÊ HOẠCH HÓA TẬP TRUNG
Ở nước ta, luật dân sự và luật kinh tế với tư cách là hai ngành luật đã
tổn tại từ lâu trong lịch sử và có mối quan hệ khăng khít với nhau Tuy
nhiên, trong mỗi thời kỳ lịch sử, mối quan hệ của hai ngành luật này có
khác nhau
Trong thời kỳ đầu (1945 - 1959), theo tinh thần của sắc lệnh số 97
ngày 22/5/1950, các quy định của pháp luật của chế độ cũ vẫn được dùng
để điều chỉnh các quan hệ dân sự và thương mại Pháp luật của chế độ cũ ở
nước ta lúc bấy giờ chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ thống pháp luật lục địa,
cụ thể hơn là của Cộng hòa Pháp Do đó, mối quan hệ của luật thương mại
(giả định là luật kinh tế lúc bấy giờ) và luật dân sự ở nước ta lúc đó tương tự
như mối quan hệ của luật dân sự và luật thương mại ở các nước thuộc hệ
pháp luật châu Âu lục địa Có nghĩa là, luật dân sự và luật thương mại vẫn
là hai bộ phận của luật tư, luật dân sự ra đời trước luật thương mại và luật
thương mại chỉ thực hiện chức năng là luật chuyên ngành trong mối quan hệ
với luật dân sự
Từ năm 1960, ở miền Bắc Việt Nam, sau khi thực hiện xong công
cuộc cải tạo XHCN trong lĩnh vực kinh tế, Nhà nước ta bắt tay xây dựng
nền kinh tế kế hoạch Đây là nền kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu
Trang 39sản xuất và lao động sáng tạo, tự do; quản lý xã hội theo kế hoạch phù hợp với yêu cầu của quy luật phát triển có kế hoạch và cân đối nền kinh tế quốc dân Nền kinh tế kế hoạch phát triển cùng với sự phát triển của chế độ công hữu, sự mở rộng của thành phần kinh tế XHCN, sự loại trừ thành phần tư bản chủ nghĩa và cùng với công cuộc cải tạo nông nghiệp theo CNXH Nền kinh tế kế hoạch không dung hòa với chế độ tư hữu TBCN về tư liệu sản xuất [8, tr 258].
Với sự ra đời của nền kinh tế kế hoạch, một loạt quan hệ xã hội mới hình thành đã vượt khỏi phạm vi điều chỉnh của luật hành chính và luật dân
sự và xuất hiện nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật mới đối với nền kinh tế, luật kinh tế với tư cách là một ngành luật ra đời
Như trên đã phân tích, chúng ta xây dựng CNXH nói chung và nền
kinh tế XHCN nói riêng trong những điều kiện và hoàn cảnh tưưng tự như ở
Liên Xô và các nước Đông Âu Do đó, luật kinh tế ra đời, phát triển trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và chịu sự ảnh hưởng chủ yếu của khoa học pháp lý Xô viết cũng như khoa học pháp lý của các nước Đông Âu Ở Liên Xô và các nước Đông Âu, tuy vị trí, vai trò luật dân sự và luật kinh tế
cũng như mối quan hệ giữa hai ngành luật này ở mỗi giai đoạn lịch sử mỗi
khác nhưng tại thời điểm các tư tưởng của khoa học pháp lý du nhập vào Việt Nam, luật dân sự và luật kinh tế là hai ngành luật độc lập cùng song song tồn tại và có thể nói luật kinh tế lúc đó đang được các nhà nước XHCN chú trọng xây dựng và hoàn thiện
Chính vì vậy, nhìn nhận luật kinh tế trong mối quan hệ với luật dân
sự, có thể nói rằng luật kinh tế là ngành luật độc lập tổn tại song song với luật dân sự Luật kinh tế ra đời dựa trên nền tảng của các quan hệ kinh tế XHCN, nó bắt nguồn từ chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và cơ chế kế hoạch hóa tập trung Đồng thời, luật kinh tế là ngành luật được tách ra từ luật dân sự truyền thống Bởi vì, theo lí luận truyền thống luật dân sự là một
Trang 40ngành luật trong hệ thống pháp luật có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa - tiền tệ và các quan hệ nhân thân phi tài sản dựa trên nguyên tắc tự định đoạt bình đẳng về mặt pháp lý và chịu irách nhiệm vật chất của các bên tham gia quan hệ đó Từ xưa, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn, các quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh không có sự phân biệt quan hệ tài sản phát sinh trong lĩnh vực tiêu dùng hay sản xuất kinh doanh Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung,
các quan hệ tài sản mới được phân thành hai loại: thứ nhất, quan hệ tài sản
phát sinh giữa công dân với nhau và giữa công dân với tổ chức, dựa trên ý chí của các bên, nhằm mục đích tiêu dùng và được coi là các quan hệ dân
sự thuần túy do luật dân sự điều chỉnh; thứ hai, các quan hệ hàng hóa tiền tệ
phát sinh giữa các đơn vị kinh tế XHCN với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh theo chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước Các quan hệ tài sản này hoàn toàn mang thường có giá trị rất lớn, đặt dưới sự chi phối, kiểm soát trực tiếp của Nhà nước và do luật kinh tế điều chỉnh
Như vậy, các quan hệ tài sản trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung do hai ngành luật điều chỉnh là luật dân sự và luật kinh tế Qua sự khác nhau giữa các loại quan hệ tài sản, việc phân biệt luật kinh tế và luật dân sự lúc bấy giờ hầu như không gặp khó khăn nào Ngoài ra, luật kinh tế trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung không chỉ điều chỉnh quan hệ tài sản mà còn điều chỉnh các quan hệ trong quá trình lãnh đạo kinh tế Nhũng quan hệ này không bao giờ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự
Nhìn chung, từ sự phân tích khái quát trên, chúng ta có thể thấy rằng, trong mối quan hệ giữa luật kinh tế và luật dân sự trong nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung có các đặc trung: thứ nhất, luật dân sự và luật kinh tế là hai ngành luật độc lập cùng song song tồn tại; thứ hai, luật kinh tế ra đời và
phát triển mạnh trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung; cơ chế kế hoạch càng phát triển thì sự khác biệt giữa luật dân sự và luật kinh tế càng rõ ràng