Với mục đích nghiên cứu như trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau: - Thứ nhất, nghiên cứu một số vấn đề lý luận có tính chất chung nhất, về kinh tế thị trường và
Trang 2LUẬN VĂN THẠC s ĩ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Công Trứ.
r.-ỵ, r*$?ĩ*ỊT “ Ỉ9*x
Hà Nội, năm 2001
Trang 3Tôi cũng xin chân thành cẩm ơn các thầy, cô giáo, các bạn đồn ẹ nghiệp trường Đại học Luật Hà Nội, các bạn đồng khoá đã giúp đỡ để tôi hoàn thành bản luận văn này.
Tác íỊÍẩ
Trần Thị Thuỷ Lâm
Trang 4Tác giả
Trần Thị Thuý Lâm.
Trang 5Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ THOẢ
ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ
1.1 Kinh tế thị trường và quan hệ lao động tập thể 1.1.1 Kinh tế thị trường và quan hệ lao động
1.1.2 Thoả ước lao động tập thể và quan hệ lao động tập thể
1.2 Khái niệm thoả ước lao động tập thể 1.2.1 Những quan niệm và định nghĩa
1.2.2 Bản chất của thoả ước lao động tập thể
1.2.3 Đặc điểm của thoả ước lao động tập thể
1.2.4 Các loại thoả ước lao động tập thể
1.3 Vai trò và ý nghĩa của thoả ước lao động tập thể trong cơ chế thị trường
1.3.1 Thoả ưóc lao động tập thể tạo nên sự cộng đồng quyền lợi và trách nhiệm giữa hai bên
1.3.2 Thoả ước lao động tập thể góp phần điều hoà lợi ích ngãn ngừa máu thuẫn, xung đột
1.3.3 Thoả ước lao động tập thể là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết các tranh chấp lao động
1.3.4 Thoả ưóc lao động tập thể là nguồn quy phạm đặc biệt bổ sung cho nguồn luật lao động
1.4 Thoả ước !ao động tập thể theo các công ước của ĨLO và pháp
luật các nước
1.4.1 Thoả ước lao động tập thể theo các công ước ĨLO
1.4.2 Thoả ước ỉao động tập thể ĩheo pháp luật của một số nưóc
7 7
7ị 15 18 18 23 26 28
30
31
32
33
34
36 36
38
Trang 6và sự cần thiết phải chuyển đổi 41
2.1.1 Thoả ưóc lao động tập thể trong nền kinh tế tập trung bao cấp 41 2.1.2 Sự cần thiết phải chuyển đổi chế độ thoả ước lao động tập thể 44
2.2 Thoả ước lao động tập thể trong nền kinh tê thị trường 46
2.2.2 Giai đoạn từ khi có Bộ luật lao động cho đến nay 52
2.2.2.1 Nội dung của thoả ước lao động tập thể 52
2.2.2.2 Ký kết thoả ưóc lao động tập thể 57
2.2.23 Đãng ký thoả ước lao động tập thể 67
2.2.2Ả Hiệu lực của thoả ước và vấn đề thaỵ đổi thoả ước 69
2.2.2.5 Giải quyết tranh chấp thoả ước lao động tập thể và xửlý các vi phạm pháp luật về thoả ước 74
Chương 3: MỘT s ố PHƯƠNG HƯỚNG BƯỚC ĐAU n h ằ m h o à n TH Ệ N CHẾ ĐỘ THOẢ ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CỦA V Ệ C KÝ KÊT VÀ THỰC H Ệ N THOẢ ƯỚC THỂ 83 3.1 Sự cần thiết hoàn thiện chế độ thoả ước lao động tập thể 83 3.1.1 Từ thực trạng của việc ký kết và thực hiện thoả ước 83 3.1.2 Đòi hỏi khách quan của cơ chế thị trường và quan hệ lao động 91
Trang 73.2.1 Vấn đề bổ sung, hoàn thiện pháp luật về thoả ước lao động tập thể 93 3.2.1.1 Về nguyên tắc tự nguyện trong thương lượng, ký kết thoả ước lao
động tập thể 93
3.2.1.2 Vấn đề sửa đổi, bổ sung thoả ước lao động tập thể 95
3.2.1.3 Vấn đề tuyên bố thoả ước vô hiệu 96
3.2.1.4 Nội dung của thoả ước lao động tập thể 97
3.2.1.5 Xác lập cơ chế bảo đảm quyền thương lượng và ký kết íhoả ước tập thể ở những doanh nghiệp chưa thành lập tổ chức công đoàn cơ sở 98
3.2.1.6 Xác lập và hoàn thiện tổ chức đại diện của người sử dụng lao động 99 3.2.1.7 Vấn đề đại diện thương lượng thoả ước lao động tập thể 101 3.2.2 Các biện pháp về tổ chức ký kết và thực hiện thoả ước tập thể 102
3.2.2.1 Tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật lao động nói chung và pháp luật về thoả ước lao động tập thể nói riêng 102' 3.2.2.2 Nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn 104
3.2.2.3 Triển khai hướng dẫn ký kết thoả ước ngành 106
3.2.2.4 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra lao động và xử lý kịp thòi các vi phạm pháp luật lao động 107
Kết luận 108
Trang 8Trong cơ chế kinh tế thị trường, các quan hệ lao động chủ yếu được hình thành trên cơ sở nhu cầu và sự tự do thoả thuận giữa các bên: Người ỉao động và người sử dụng lao động Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào mối quan hệ lao động cụ thể mà chỉ điều tiết thông qua pháp luật bằng cách quy định các nguyên tắc, các khung pháp luật tạo hành lang pháp lý để làm cơ sở cho sự thương lượng, thoả thuận giữa các bên Còn quyền và nghĩa vụ cụ thể
sẽ do các bên tự thoả thuận cho phù hợp với điều kiện, khả năng thực tế của doanh nghiệp Song, trong quan hệ lao động, do nhiều lý do khác nhau, người lao động thường có vị thế yếu hơn so với người sử dụng lao động Trước sức
ép của vấn đề việc làm, thất nghiệp, người lao động nhiều khi đã buộc phải chấp nhận những điều kiện lao động mà họ không mong muốn Trước tình trạng đó, sự liên kết lại với nhau giữa những người lao động nhằm tạo đối trọng, tăng thêm vị thế của mình đối với người sử dụng lao động là một tất yếu Trong một số trường hợp, người lao động có thể dùng sức mạnh tập thể, tiến hành đình công phản ứng lại người sử dụng lao động, khiến cho quan hệ lao động vốn được hình thành trên cơ sở hợp đồng, có nguy cơ bị phá vỡ, sản xuất kinh doanh bị ngừng trệ, thu nhập của người lao động và lợi ích người sử dụng lao động bị ảnh hưởng, không đạt được mong muốn đặt ra như khi bọ cùng nhau thiết lập quan hệ lao động
Một trong những biện pháp pháp lý hữu hiệu giúp các bên có thể dung hoà được lợi ích, hạn chế được các mâu thuẫn, xung đột và tranh chấp lao động chính là việc thương lượng, ký kết các thoả ước lao động tập thể Vói thoả ước lao động tập thể, vị thế của ngưòi lao động không những được nâng cao mà mục đích sản xuất kinh doanh của người sử dụng lao động cũng cỉỗ
Trang 9thành công, cộng đồng quyền lợi và cộng đồng trách nhiệm giữa hai bên được phát huy, tập thể người lao động có cơ hội đạt được những điều kiện lao động tốt hơn so với quy định của pháp luật Thực tế tồn tại thoả ước lao động tập thể trong hàng trăm năm qua và hiệu quả mà nó đem lại cho các quốc gia có nền kinh tế thị trường là một minh chứng có sức thuyết phục cho vấn đề này.
Ở Việt Nam, thoả ước lao động tập thể cũng không phải là một thuật ngữ mới mẻ Ngay từ sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 cũng đã có quy định
về vấn đề này với tên gọi "tập hợp khế ước" Sau đó, để phù hợp với tính chất của nền kinh tế tập trung bao cấp, phát huy tinh thần làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của cán bộ, công nhân viên chức, Nghị định 172/CP của Chính phủ năm 1963 đã quy định về vấn đề này với tên gọi là "hợp đổng tập thể" Chuyển sang nền kinh tế thị trường, "hợp đồng tập thể" được thay thế bằng
"thoả ước lao động tập thể" Đây không chỉ đơn thuần là sự thay đổi về hình thức tên gọi mà là sự thay đổi về thực chất và nội dung của vấn đề cho phù hợp với tính chất của mối quan hệ lao động trong thời kỳ mới
Thực tiễn thương lượng, ký kết thoả ước lao động tập thể trong những năm qua cho thấy thoả ước lao động tập thể đã góp phần không nhỏ trong việc điều hoà quan hệ lao động, tạo sự ổn định và phát triển bền vững của doanh nghiệp Đổng thời nó cũng chứng tỏ được vai trò quan trọng của mình với tư cách là một công cụ pháp lý hữu hiệu, phát huy sức mạnh sáng tạo của tập thể người lao động cũng như bảo vệ quyền và lợi ích của họ trong cơ chế kinh tế thị trường
Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện pháp luật lao động cũng cho thấy việc ký kết thoả ước lao động tập thể còn chưa được coi trọng đúng mức ở các doanh nghiệp nên hiệu quả đạt được chưa cao Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, cả về chủ quan và khách quan, cả về văn bản pháp luật và cơ chế áp dụng cũng như về nhận thức và thực tiễn áp dụng Do vậy, việc nghiên cứu các quy định pháp luật về thoả ước, đối chiếu với thực liễn thực hiện, tìm
Trang 10ra nguyên nhân của những bất cập hiện có để từ đó hoàn thiện chế độ pháp lý, nâng cao chất lượng ký kết và thực hiện thoả ước là một việc làm cần thiết, có
ý nghĩa cả phương diện lý luận và thực tiễn
Chính vì vậy, tôi đã chọn vấn đề: "Thoả ước lao động tập thể trong nền kinh tế thị trường - Những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng" làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình với mong muốn góp phần vào quá trình hoàn thiện pháp luật lao động nói chung, pháp luật về thoả ước lao động tập thể nói riêng
Cũng cần phải nói rằng, trong khoa học pháp lý, thoả ước lao động tập thể là một vấn đề chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức so với nhiều vấn
đề khác nhưr hợp đồng lao động, giải quyết tranh chấp lao động, đình công Thực tế, cũng đã có một số cuốn sách, bài báo đề cập đến thoả ước lao động tập thể nhưng chỉ đơn thuần là giải thích, làm rõ quy định của pháp luật và đồng thời số lượng các công trình này cũng chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn so với các vấn đề được nghiên cứu khác Do vậy, có thể nói rằng, luận văn này ]à công trình nghiên cứu đẩu tiên ở cấp độ thạc sĩ, đặt vấn đề nghiên cứu thoả ước lao động tập thể một cách tương đối có hệ thống và toàn diện, từ lý luận khái quát đến góc độ pháp lý và thực tiễn áp dụng cũng như về những phương hướng, giải pháp hoàn thiện chế định này
2 Phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Thoả ước lao động tập thể nhìn dưới góc độ pháp luật là một lĩnh vực rất rộng lớn và phức tạp Trong luận văn này, chúng tôi chỉ đặt phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào những vấn đề thuộc về chế độ thoả ước lao động tập thể được quy định tại Bộ luật lao động của Việt Nam năm 1994 Trong một chừng mực nhất định, có đối chiếu, so sánh với những quy định về vấn đề này
ở giai đoạn trước đó, ngoài ra cũng có đề cập đến nhiều quy định có liên quan trong pháp luật lao động quốc tế (chủ yếu là của Tổ chức lao động quốc tế - ILO), cũng như kinh nghiệm và pháp luật về vấn đề này của một số quốc gia,
Trang 11nhằm làm sáng rõ những đặc điểm của thoả ước tập thể theo quy định pháp luật Việt Nam.
Mục đích mà chúng tôi đặt ra khi thực hiện đề tài là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận có tính chất khái quát chung về thoả ước lao động tập thể, đồng thời nghiên cứu một cách có hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh đến vấn đề này Trên cơ sở đó làm sáng tỏ những vấn đề của thực tiễn, rút ra những nhận xét, kết luận cần thiết về việc thực hiện pháp luật về thoả ước cũng như yêu cầu khách quan của việc sửa đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này, mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị, đề xuất, hy vọng
có thể góp phần vào việc hoàn thiện chế độ pháp lý cũng như nâng cao chất lượng của việc ký kết và thực hiện thoả ước lao động tập thể
Với mục đích nghiên cứu như trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Thứ nhất, nghiên cứu một số vấn đề lý luận có tính chất chung nhất,
về kinh tế thị trường và quan hệ lao động, về quan hệ lao động tập thể và thoả ước lao động tập thể để thấy được vai trò, ý nghĩa của thoả ước lao động tập thể trong pháp luật lao động và trong nền kinh tế thị trường
- Thứhai, nghiên cứu những quy phạm pháp luật quốc tế, chủ yếu là một
số công ước của ILO, trong chừng mực có liên quan đến quyền tự do liên kết, thương lượng và ký kết thoả ước lao động tập thể; đồng thời cũng đề cập đến pháp luật và kinh nghiệm của một số quốc gia, có ý nghĩa tham khảo trong nghiên cứu đề tài
- Thứ ba, nghiên cứu, xem xét đánh giá chế độ thoả ước lao động tập
thể hiện hành trong cơ chế kinh tế thị trường có sự đối sánh với chế độ hợp đổng tập thể trong nền kinh tế tập trung bao cấp trước đây
- Thứ tư, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng thương lượng, ký kết và thực
hiện thoả ưóc, phân tích về sự đòi hỏi khách quan của cơ chế kinh tế thị trường và sự phát triển của quan hệ lao động, luận chứng về sự cần thiết phải
Trang 12hoàn thiện pháp luật về thoả ước lao động tập thể, đổng thời đưa ra một số
kiến nghị có tính chất giải pháp bước đầu nhằm bổ sung, sửa đổi chế độ thoả
ước lao động tập thể, nâng cao chất lượng của việc ký kết và thực hiện thoả
ước
3 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình tiếp cận và giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu đặt
ra, chúng tôi lấy phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hổ Chí Minh, cũng như những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và
nhà nước ta về người lao động và quan hệ lao động trong cơ chế kinh tế thị
trường và một số vấn đề kinh tế - xã hội có liên quan làm cơ sở phương pháp
luận cho việc nghiên cứu
Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, chúng tôi còn sử dụng kết hợp các
phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với từng mặt, từng vấn đề của đề tài,
như các phương pháp thống kê, so sánh, tổng hơp, phân tích, điều tra, khảo sát
nhằm vận dụng nhuần nhuyễn giữa kiến thức lý luận và thực tiễn để góp phần
làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu
4 Những đóng góp chính và ý nghĩa của luận văn:
Luận văn là một trong những công trình khoa học đầu tiên ở cấp Thạc sĩ
Luật học đã tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn cỉiện
chế độ pháp lý về thoả ước lao động tập thể trong nền kinh tế thị trường
Thông qua quá trình xem xét một cách hệ thống đề tài, chúng tôi hy vọng rằng
những kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào việc đổi mới, hoàn thiện pháp luật
lao động nói chung và pháp luật về thoả ước lao động tập thể nói riêng Cụ thể
là:
- Làm sáng tỏ thêm về mặt lý luận các vấn đề thuộc về khái niệm, tính chất, đặc điểm cũng như vai trò, ý nghĩa của thoả ước lao động tập thể
Trang 13- Phân tích các quy phạm của luật lao động quốc tế, của nước ngoài trong lĩnh vực này, qua đó làm sáng tỏ tính chất, đặc điểm của thoả ước tập thể của VN.
- Hệ thống hóa các quy định của pháp luật hiện hành vể thoả ước lao động tập thể, đồng thời qua đó khái quát về sự phát triển của pháp luật lao động trong lĩnh vực này từ trước đến nay
- Đối chiếu các quy phạm pháp luật với thực tiễn thực hiện từ đó phân tích và đánh giá những kết quả đã đạt được, cũng như chỉ ra những mặt tổn tại
và hạn chế cần phải khắc phục trong việc ký kết và thực hiện thoả ước
- Đưa ra một số đề xuất có tính chất giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về thoả ước lao động tập thể nâng cao chất lượng ký kết và thực hiện thoả ước
5 Kết cấu của luận văn:
Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu đã nói ỏ trên, ngoài lời nói đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành thành 3 chương:
Chương I: Khái quát chung về kinh tế thị trưòng và thoả ước lao động tập thể
Chương II: Chế độ thoả ước lao động tập thể trong nền kinh tế thị trường và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam
Chương III: Một số phương hướng bước đầu nhằm hoàn thiện chế độ thoả ước lao động tập thể, nâng cao chất lượng của việc ký kết và thực hiện thoả ước
Trang 14Chương 1:
KHÁI Q JÁT CHUNG VỂ KINH TÊ THỊ TRƯỜNG
VÀ THOẢ ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ
1.1 Kinh tế thị trường và quan hệ lao động tập thể
1.1.1 Kỉnh tếthị trường và quan hệ lao động
Khởi nguyên cỉa lịch sử loài người là hình thức kinh tế tự nhiên Đấy là hình thức kinh tế mà trong đó sản phẩm sản xuất ra chủ yếu là để nhằm đáp ứng nhu cầu cá nhân chứ không phải là để trao đổi nhằm mục đích kiếm lời
Vì vậy, trong thòi kỳ này, trình độ phân công lao động xã hội thấp, còn mang nặng tính chất tự nhiên quy mô sản xuất nhỏ, cá nhân khép kín và lao động mang tính chất cá nhàn
Song, khi sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định đã làm nảy sinh
sự phân công lao động trong xã hội Chính sự phân công lao động này đã khiến cho sản xuất được chuyên môn hoá, năng suất lao động được nâng cao dẫn đến dư thừa nhiều sản phẩm Các sản phẩm dư thừa này dần dần được con người đem ra trao đổi mua bán trên thị trường nhằm mục đích kiếm lời Nền kinh tế tự nhiên dần dần đã được thay thế bằng nền kinh tế hàng hoá
Thị trường là một bộ phận tất yếu của sản xuất hàng hoá Sự ra đòi và phát triển của thị trường gắn liền với sự ra đời và sự phát triển của sản xuất hàng hoá, của phân công lao động xã hội Thị trường, theo quan điểm của Adam Smith, là không gian trao đổi, là nơi diễn ra sự chuyển nhượng, mua bán hàng hoá Tuy nhiên, thị trường không phải chỉ đơn thuần là lĩnh vực traođổi, di chuyển hàng hoá dịch vụ từ người sản xuất sang người tiêu dùng mà sựtrao đổi đó phải được tổ chức theo các quy luật của lưu thồng hàng hoá và tiền
tệ Vì vậy, có thể coi thị trường là một quá trình, trong đó người bán và người mua tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng của hàng hoá
Trang 15Kinh tế thị trường ra đời gắn liền với kinh tế hàng hoá Song, nền kinh tế hàng hoá chỉ trở thành nền kinh tế thị trường khi các quan hệ kinh tế xã hội và các sản phẩm xã hội đều mang hình thái hàng hoá, tiền tệ một cách phổ biến Tất cả các yếu tố cơ bản của nền kinh tế, như vốn, tài sản, sức lao động, hàng hoá dịch vụ đều được coi là hàng hoá và có giá cả nhất định Tất nhiên, các loại hàng hoá này đổng thời cũng phải chịu sự tác động của quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh Các quy luật này có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động bổ sung cho nhau tạo động lực làm cho các loại hàng hoá dịch vụ trên thị trường ngày càng phong phú về chủng loại, đa dạng
về hình thức, chất lượng được nâng cao đáp ứng với mọi nhu cầu của người tiêu dùng Đồng thời, kinh tế thị trường cũng khuyên khích việc nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm từ đó kích thích sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, tạo đà cho kinh tế ngày càng phát triển Đây cũng chính là mặt mạnh, ưu điểm của kinh tế thị trường
Song, bên cạnh đó, kinh tế thị trường cũng có những mặt hạn chế như tính tự phát cao, có sự phân hóa sâu sắc giữa người giàu và người nghèo, giữa chủ và thợ và phát sinh nhiều vấn đề xã hội khác
Vì vậy, khi thừa nhận và phát triển nền kinh tế thị trường, Đảng và nhà nước ta đã chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường kết hợp với vai trò quản
lý của nhà nước và tính định hướng XHCN Tư tưởng này đã được thể hiện trong văn kiện của Đại hội Đảng VII và VIII Trong văn kiện ghi rõ: “Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường,
đi đôi với vai trò tăng cường quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái"1
Như vậy, Đảng và nhà nước ta đã chủ trương phát triển kinh tế với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế trên cơ sở sự đa dạng hoá các hình thức
1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần VIII, NXB Chính trị quốc gia, trang 72.
Trang 16sở hữu Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào các quan hệ kinh tế mà chỉ điều tiết thồng qua pháp luật, gắn vấn đề kinh tê với vấn đề xã hội, vấn đề bảo
vệ môi trường và bảo vệ bản sắc dân tộc Điều đó cũng có nghĩa là chúng ta đã thừa nhận trong xã hội tồn tại nhiều loại thị trường tạo khả năng phát triển cho các hoạt động kinh tế, như thị trường hàng hoá, thị trường dịch vụ, thị trường các yếu tố sản xuất Trong thị trường các yêu tố sản xuất lại bao gồm thị trường sức lao động (hay còn gọi là thị trường lao động), thị trường vốn, công nghệ Thị trường lao động là thị trường quan trọng nhất, bởi sức lao động kết hợp với các yếu tố vốn, công nghệ, tài nguyên tạo ra sản phẩm hàng hoá dịch vụ
Thị trường lao động là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế thị trường Đó là toàn bộ những quan hệ kinh tế hình thành trong lĩnh vực mua bán một thứ hàng hoá đặc biệt- sức lao động Giữa các bên, người lao động cần việc làm để có thu nhập và người sử dụng lao động cần thuê nhân công bằng cách trả công để tiến hành sản xuất kinh doanh Các quan hệ kinh tế này được thực hiện thông qua một cơ chế nhất định gọi là cơ chế thị trường Cũng như các loại thị trường khác, thị trường lao động bao gồm các yếu tố cấu thành, như các bên tham gia thị trường, hàng hoá và cơ chế vận động của thị trường
Trong thị trường lao động, người bán là người lao động Họ là những người được tự do về thân thể và có nhu cầu bán sức lao động của mình để có tiền nuôi sống bản thân và các thành viên trong gia đình Còn người mua trẽn thị trường là người sử dụng lao động Đó là tất cả các doanh nghiệp, công ty, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân cần thuê mướn lao động để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, thông qua đó để kiếm lời Hàng hoá mà người lao động (người bán) và người sử dụng lao động (người mua) trao đổi trên thị trường chính là sức lao động Đây là một yếu tố cơ bản của chi phí sản xuất, là một dạng cơ năng, cơ bắp thần kinh trí tuệ của con người Nó cũng có giá trị
Trang 17và giá trị sử dụng như tất cả các loại hàng hoá khác Song, cũng cần lưu ý rằng, hàng hoá sức lao động là loại hàng hoá đặc biệt Tính đặc biệt của loại hàng hoá này thể hiện ở chỗ sức lao động gắn liền với cơ thể người bán (người lao động), không thể định tính hoặc định lượng được nên việc xác định giá trị đích thực của nó là rất khó khăn Hơn nữa, sức lao động lại là một loại hàng hoá mà khi sử dụng, nó tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị của chính bản thân
nó Tuy là yếu tố chi phí của quá trình sản xuất nhưng đổng thời, sức lao động cũng là yếu tố mang lại lợi ích cho quá trình này Đặc biệt, để có thể chuyển giao được hàng hoá sức lao động đòi hỏi phải có một khoảng thời gian nhất định Chỉ có thông qua quá trình lao động mới có được sức lao động và cùng với các yếu tố khác (đầu vào của quá trình sản xuất) tạo ra sản phẩm
Như vậy, thị trường lao động là không gian của sự trao đổi thoả thuận giữa người sở hữu sức lao động (người lao động) và người cần có sức lao động
để sử dụng (người sử dụng lao động) Kết quả của quá trình trao đổi thoả thuận đó là tiền lương (giá cả của sức lao động) được xác lập cùng với điều kiện, nhiệm vụ lao động cho một công việc cụ thể mà người lao động phải thực hiện
Ở nước ta, thị trường lao động mới chỉ xuất hiện và phát triển trong những năm gần đây Trong khoảng thời gian dài trước đó, nước ta với sự tồn tại của nền kinh tế kế hoạch tập trung đã không có sự hình thành và phát triển của thị trường lao động
Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), cùng với sự hình thành và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều được thừa nhận và khuyến khích phát triển, quyền tự do lựa chọn việc làm được mở rộng, thị trường lao động, do đó, cũng được hình thành và phát triển Tuy nhiên, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau nên nhìn chung, thị trường lao động Việt Nam có những đặc điểm sau:
- Cố sự mất cân đối nghiêm trọng giữa cung và cầu.
Trang 18Việt Nam là một trong 13 nước đông dân nhất thế giới, nguồn lao động hàng năm vẫn tăng cao 3,4% đến 3,5% Bình quân mỗi năm có khoảng 1,2 triệu người bước vào độ tuổi lao động và đến năm 2000 tỷ lệ này mới giảm xuống 2,8% Trong khi đó những năm qua mặc dù đã hết sức cố gắng, chúng
ta mới chỉ giải quyết việc làm cho người lao động ở năm cao nhất là 1,1 triệu người1 Như vậy số lao động chưa có việc làm tổn đọng qua các năm ngày càng cao
Hơn nữa, trong những năm qua, cùng với quá trình đổi mới của đất nước, các doanh nghiệp nhà nước cũng phải đổi mới hoạt động, sắp xếp lại tổ chức, sắp xếp lại sản xuất và lao động nên đã có một lực lượng lớn lao động ở khu vực kinh tế quốc doanh phải chuyển ra ngoài khu vực doanh nghiệp nhà nước để tìm việc làm mới (thời kỳ 1989 -1992 và năm 1993 mỗi năm có vài chục vạn người) Trong số này, đã không ít người vì các lý do khác nhau như
kỹ thuật, tay nghề, trình độ chuyên môn, đã không kiếm được việc làm dẫn đến thất nghiệp Mặt khác việc tuyển lao động mới được đào tạo hoặc lao động trẻ vào thay thế cho lao động hiện có trong các doanh nghiệp cũng rất hạn chế Chính vì vậy, việc giải quyết việc làm cho người lao động là hết sức khó khăn
- Chất lượng lao động thấp Thị trường lao động tuy có sự mất cân đối
giữa cung và cầu lao động, song, chất lượng lao động lại rất thấp Điều này
được thể hiện ở việc % đào tạo thấp, cơ cấu đào tạo không hợp lý Theo con số
thống kê của Vụ Chính sách lao động và việc làm thì năm 1995 cả nước có khoảng trên 10% lực lượng lao động đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật Trong số lao động được đào tạo thì số lao động có trình độ cao đẳng, đại học, trên đại học chiếm 16%, trình độ trung học chuyên nghiệp chiếm 26%, công nhân kỹ thuật chiếm 58% (tỷ lệ đại học - trung học chuyên nghiệp - công
1 Đ ề tài "M ột số vấn đề vể thực tiễn để xây đựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp" của Vụ Chính sách lao
động và việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và XH, tháng 4/1999.
Trang 19nhân kỹ thuật là 1 - 1,62 - 3,62) Trong khi đó, theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới và khu vực thì tỷ lệ họp lý là 1 - 4 - 101 Do vậy, mặc dù dư thừa lao động (về số lượng) nhưng trong nhiều trường hợp, ta vãn bắt buộc phải sử dụng lao động nước ngoài Mặt khác, do ảnh hưởng của cơ chế hành chính bao cấp, lại chưa quen với công nghệ, kỹ thuật hiện đại nên nhiều người lao động còn chưa có tác phong công nghiệp hoặc nếu có cũng còn ở mức độ rất hạn chế.
- Mang tính tự phát cao, bị phân tán và chia cắt Hiện nay, do tác động
của thị trường cùng với những quy định nhằm đảm bảo quyền tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc của công dân nên sự di chuyển các dòng lao động trên thị trường lao động nước ta tương đối dễ dàng và thuận tiện Sự di chuyển này chủ yếu mang tính tự phát, chưa có sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan quản lý nhà nước nên đã dẫn đến sự phân bổ lao động không đổng đều giữa thành thị
và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi
- Các quan hệ lao động đang trong thời kỳ phân hoá, chuyển đổi Trước
đây, quan hệ lao động chỉ được thừa nhận trong khu vực kinh tế quốc doanh Tất cả các quan hệ lao động từ cơ quan nhà nước đến doanh nghiệp đều được xác lập thông qua chế độ tuyển dụng vào biên chế Hiện nay, trong điều kiện kinh tế thị trường, các quan hệ lao động kể cả trong các doanh nghiệp nhà nước (trừ đối với các chức danh như Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng) đều được thiết lập thông qua hình thức ký kết hợp đổng lao động Tuy nhiên, tư tưởng bao cấp, cơ chế hành chính vẫn còn in đậm trong tư tưởng của người lao động và người sử dụng lao động, do vậy, không ít lao động trong các doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa chuyển sang hình thức họp đồng Nhìn chung, các quan hệ lao động ngày nay tuy có ổn định hơn trước song, vẫn còn đang trong thời kỳ phân hoá, chuyển đổi Hơn nữa, kể từ khi nhà nước chủ
1 Đề tài "M ột số vấn đề về thực tiễn để xây dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp" cúa Vụ Chính sách lao động và việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và XH, tháng 4/1999
Trang 20trương mở cửa, khuyến khích đầu tư nước ngoài, đã có rất nhiều doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài (liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài) hoạt động tại Việt Nam Điều này đã dẫn đến việc xuất hiện một loại quan hệ lao động mới, đó là các quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài
- Có số lượng khá lớn người lao động là thương binh và người tàn tật
Đây là hậu quả tất yếu do đất nước phải trải qua chiến tranh trong một khoảng thời gian khá dài Người lao động thuộc đối tượng này chiếm một số lượng
khá lớn trong lực lượng lao động ở nước ta.
Hình thức pháp lý cho việc trao đổi mua bán hàng hóa sức lao động trên thị trường là hình thức hợp đồng lao động Thông qua hình thức này mà quan
hệ lao động cá nhân trên cơ sở tự do, tự nguyện giữa các bên (người lao động
và người sử dụng lao động) được thiết lập, trong đó, các bên được quyền tự do thoả thuận về mọi vấn đề phát sinh trong quan hệ như tiền lương, bảo hiểm, thời gian làm việc Do vậy, hợp đồng lao động được coi là hình thức tuyển dụng lao động chủ yếu và phổ biến nhất trong nền kinh tế thị trường, là hình thức pháp lý phù họp nhất cho việc trao đổi mua bán hàng hoá sức lao động Trong thực tế, quan hệ lao động trên cơ sở họp đồng có nhiều tên gọi khác nhau như quan hệ chủ-thợ, quan hệ làm công ăn lương, quan hệ thuê mướn lao động nhưng vẻ bản chất, đó là quan hệ về sử dụng lao động giữa một bên là đại diện cho người n “.*i giữ tư liệu sản xuất, vốn và một bên là đại diện cho sức lao động xã hội Hai lực lượng này kết hợp với nhau làm ra đại bộ phận của cải cho xã hội Do vậy, quan hệ lao động hợp đồng được xem, như là loại quan hệ đặc biệt và tiêu biểu trong nền kinh tế thị trường Tính đặc biệt của quan hệ lao động này thể hiện ở chỗ:
+ Về tính chất, quan hệ lao động vừa là quan hệ kinh tế, vừa là quan hệ
xã hội;
+ Về quy mô, quan hệ lao động vừa là quan hệ cá nhân, vừa là quan hệ
có tính tập thể;
Trang 21+ Về lợi ích, quan hệ lao động vừa th5ng nhất, vừa mâu thuẫn;
+ Về pháp lý, quan hệ lao động vừa tình đẳng, vừa phụ thuộc;
+ Về nội dung, quan hệ lao động vừa cụ thể vừa không xác định
Mặc dù, được thiết lập trên cơ sở sự tioả thuận, song, trong quan hệ lao
động, giữa người lao động và người sử dụng lao động lại có sự bất bình đẳng
về địa vị kinh tế và có sự bất bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý Người lao
động thường ở vị thế yếu hơn so với người sử dụng lao động (nếu như không
muốn nói là lệ thuộc vào người sử dụng lao động) Bởi lẽ người lao động tham gia vào quan hệ lao động là người không có những tư liệu sản xuất chủ yếu,
họ chỉ có thứ tài sản quý giá nhất là sức lao động và họ mong muốn "bán" nó
để có tiền nuôi sống bản thân và các thành viên trong gia đình Còn người sử dụng lao động là người có tư liệu sản xuất cần thiết, có vốn, có kinh nghiệm quản lý, họ tham gia quan hệ lao động vói mục đích sử dụng sức lao động của người lao động để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông qua đó kiếm lời Do đó, giữa hai chủ thể có sự bất bình đẳng với nhau về địa vị kinh
tế Khi quan hệ lao động đã được thiết lập, người lao động còn phải đặt toàn
bộ trình độ chuyên môn dưới sự tổ chức và quản lý của người sử dụng lao động Vì vậy, giữa họ còn có sự bất bình đẳng vói nhau về địa vị pháp lý
Hơn nữa, thị trường lao động là một bộ phận trong nền kinh tế thị trường nên nó chịu sự tác động của các quy luật như quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh Vì vậy, một khi thị trường lao động có sự mất cân đối nghiêm trọng giữa cung và cầu thì quy luật cạnh tranh tất yếu sẽ bộc lộ rõ
sự nghiệt ngã của nó Khi đó, người lao động vì cuộc sống sẽ phải chấp nhận bán sức lao động với giá rẻ mạt, phải làm việc trong những điều kiện lao động không bình thường, bị đối xử không công bằng và sự bóc lột là điều khó tránh khỏi
Vì vậy, để hạn chế sự bóc lột của người sử dụng lao động đồng thời để cải thiện vị thế của mình trong quan hệ lao động, người lao động trong đon vị
Trang 22sản xuất kinh doanh thường liên kết lại với nhau (tự phát hoặc theo quy định của pháp luật) tạo thành tập thể để (thông qua người đại diện của mình) thiết lập quan hệ với người sử dụng lao động hình thành nên mối quan hệ lao động tập thể Mối quan hệ lao động tập thể này vừa đảm bảo cho quan hệ lao động
cá nhân duy trì và phát triển ổn định, lại vừa tạo cơ hội để người lao động có được những thoả thuận có lợi hơn so với quan hệ lao động cá nhân
Đối với những nước phát triển, đặc biệt là những nước phát triển theo nền kinh tế thị trường thì Song song với quan hệ lao động cá nhân bao giờ cũng có quan hệ lao động tập thể
1.1.2 Thoả ước lao động tập thể và quan hệ lao động tập thể
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các quan hộ lao động được thiết lập chủ yếu mang tính chất mệnh lệnh hành chính Việc tuyển dụng lao động được thực hiện theo kế hoạch và được gọi là hình thức tuyển dụng "theo biên chế nhà nước Quyền lợi của người lao động ữong giai đoạn này thường được chi trả từ ngân sách nhà nước , do nhà nước đài thọ và được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật Vì vậy, trong giai đoạn này chủ yếu tồn lại các quan hệ lao động cá nhân giữa người lao động với nhà nước , còn quan hệ lao động tập thể, tuy có đựợc pháp luật thừa nhận, nhưng mang nặng tính chất hình thức và không được thể hiện trên thực tế theo đúng nghĩa của nó
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các quan hệ lao động chủ yếu không còn mang tính chất hành chính như trước nữa Nó được hình thành trôn cơ sở
sự tự do, tự nguyộn thon thuận giữa các bên Lợi ích được coi là động lực chủ yếu để các bên thiết lập nên mối quan hệ lao động, đổng thời nó cũng là yếu
tố hạt nhân chi phối nội dung cũng như tính chất của mối quan hệ ấy Cùnc; với các quan hệ lao động cá nhân, quan hệ lao động mang tính tập thể cũng dần dần được trả về theo đúng nghĩa của nó, phù họp với yêu cầu của cơ chế kinh tế thị trường Nếu như trong quan hệ lao động cá nhân, người lao động
Trang 23bao giờ cũng trực tiếp tham gia, thì trong quan hệ lao động tập thể họ lại thường thông qua tổ chức đại diện của mình dể tham gia quan hệ với người sử dụng lao động, hoặc với giới chủ sử dụng lao động.
Vì vậy, quan hệ lao động tập thể được hiểu là quan hệ giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động, hoặc giữa tập thể lao động với giới chủ sử dụng lao động về các vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động
Trong mối quan hệ lao động mang tính íập thể này, các chủ thể tham gia thường là những lực lượng có tổ chức của người lao động và người sử dụng lao động Tuy nhiên, cũng tuỳ theo quy định pháp luật của mỗi quốc gia mà đại diện cho tập thể lao động tham gia vào quan hệ có thể là tổ chức công đoàn (nghiệp đoàn) hoặc ban đại diện do các thành viên bầu ra Pháp luật nước ta, cũng như pháp luật hầu hết các nước khác, đều thừa nhận tổ chức công đoàn là
đại diện chính thức cho tập thể lao động trong mối quan hệ với người sử dụng
lao động Còn về phía người sử dụng lao động cũng tuỳ theo quy định hoặc tập quán của mỗi nước, mà có thể đơn thuần là người sử dụng lao động (ông,
bà chủ), hoặc có thể là tập thể người sử dụng lao động (giới chủ)
Mối quan hệ lao động mang tính tập thể này thể hiện tính dân chủ trong sản xuất công nghiệp và có ý nghĩa rất quan trọng Nó quan trọng không chỉ bởi nó hỗ trợ cho quan hệ lao động cá nhân ổn định và phát triển mà còn bởi
số lượng tham gia đông đảo những người trong mối tương quan này Chẳng hạn, một thỏa ước lao động tập thể khi được ký kết có thể sẽ chi phối toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, thậm chí có khi ảnh hưởng đến cả một ngành; hoặc như một cuộc đình công do công đoàn lãnh đạo có thể sẽ lôi kéo hàng ngàn công nhân tham gia Đặc biệt, mối quan hệ lao động tập thể này còn tạo
cơ hội để người lao động có được những thoả thuận có lợi hơn cho phía người lao động so với quy định của pháp luật Đổng thời, nó cũng giúp việc kiềm chế xu hướng lạm quyến của phía người sử dụng lao động Ngoài ra, mối quan
hệ lao động tập thể trên cơ sở thoả ước ngành, vùng có thể còn thống nhất
Trang 24được quyển, lợi ích trong ngành, vùng đó, hạn chế được những cạnh tranh mang tính chất cục bộ, không cần thiết.
Quan hệ giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động, hoặc với tập thể người sử dụng lao động được biểu hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau Một trong những biểu hiện quan trọng nhất của quan hệ đó chính là thoả ước lao động tập thể Thực tế, không có thoả ước lao động tập thể thì vẫn có quan
hệ lao động tập thể (hình thành trên cơ sở những quy định của pháp luật lao động) nhưng nếu thoả ước lao động tập thể được ký kết thì quan hộ ỉao động tập thể được hình thành rõ nét hơn và nội dung cũng mang đậm dấu ấn chủ quan của cả hai bên chủ thể: tập thể lao động và người sử dụng lao động
Điều này cũng là dễ hiểu, bởi thoả ước là kết quả của sự thoả thuận giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động về các vấn đề trong quan hệ lao động.ở đó, các bên có thể thoả thuận về mọi vấn đề như tiền lương, bảo hiểm,
an toàn lao động, vệ sinh lao động trên cơ sở các quy định của pháp luật và điều kiện khả năng thực tế của từng doanh nghiệp Bởi vậy, thoả ước lao động tập thể sẽ là sự thống nhất ý chí, là tiếng nói chung của cả hai bên chủ thể trong quan hệ lao động Khi thoả ước lao động tập thể có hiệu lực pháp luật, tất cả mọi người lao động trong doanh nghiệp cũng như người sử dụng lao động đều có trách nhiệm thực hiện những điều đã cam kết trong thoả ước Vì vậy, việc thay mặt cho tập thể lao động để thương lượng và ký kết thoả ước vói
người sử dụng lao động là một trong những quyền cơ bản và quan trọng của tổ
chức công đoàn và thường được quy định trong pháp luật lao động của các quốc gia
Hơn nữa, một điều đáng lưu ý là, quan hệ giữa tạp thể lao động với người
sử dụng lao động không phải lúc nào cũng hài hoà và ổn định Do những nguyên nhân khác nhau, có thể lúc này hoặc lúc khác, giữa các bên có thể sẽ nảy sinh những bất đổng và mâu thuẫn Những bất đổng và mâu thuẫn này, nếu không được giải quyết kịp thời, sẽ làm nảy sinh các xung đột và dẫn tói
Trang 25tranh chấp lao động tập thể Khi quan hệ lao động bị phá vỡ, một mặt, người lao động có thể bị mất chỗ làm việc, mất tiền lưưng, mát nguồn thu nhập thường xuyên bảo đảm cuộc sống cho bản thân và gia đình, nên đời sống của
họ trực tiếp bị ảnh hưởng; mặt khác, người sử dụng lao động cũng phải tốn thời gian, công sức vào việc đối phó với tranh chấp, nên việc sản xuất kinh doanh thường bị gián đoạn, dễ dẫn đến mất cơ hội kinh doanh, mất một phần lợi nhuận
VI vậy, để hạn chế những mãu thuẫn và xung đột có thể phát sinh trons quan hệ lao động (đặc biệt là quan hệ lao động tập thể) thì cả tập thể lao động
và người sử dụng lao động rất cần phải có những thương lượng và cam kết chung Kết quả của những thương lượng và thoả thuận chung đó chính ỉà những bản thoả ước lao động tập thể, hay còn được gọi tắt là thoả ước tập thể,
1.2 Khái niệm thoả ước lao động tập thể
1.2.1 Những quan niệm và định nghĩa
Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ lao động chủ yếu được hình thành trên cơ sỏ' nhu cầu và sự tự do thoả thuận giữa các bên: người lao động và người sử dụng lao động Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào mối quan hệ
mà chỉ điều tiết bằng cách quy định những nguyên tắc, các khung pháp luật, tạo hành lang pháp lý làm cơ sở cho các bên tự thương lượng, thoả thuận các quyền lợi và nghĩa vụ cụ thể, phù hợp vói điều kiện khả năng thực tế của từng doanh nghiệp Song, trong quan hệ lao động, người lao động luôn phải chịu sự tác động của quy luật cung cầu sức lao động, sức ép mất việc làm, thất nghiệp Hơn nữa lại là người bị quản lý nên người ỉao động luôn rơi vào thế bất lợi trong quá trình mặc cả các quyền và lợi ích cho mình, khiến nhiều khi
họ đã buộc phải chấp nhận những cam kết mà chính họ thấy là chưa íhoả mãn.Tuy nhiên, sự bất bình đẳng và sự bóc lột sức ỉao động đến một mức nào
đó thì người lao động sẽ liên kết lại và cùng nhau phản ứng đình công chổng
Trang 26lại người sử dụng lao động Trước tình trạng đó, cả hai bên người sử dụng lao động và tập thể lao động đều thấy rằng cần thiết phải có thoả thuận chung vé những vấn đề phát sinh trong quan hệ để đảm bảo sự hoà bình, ổn định của doanh nghiệp.
Trên thế giới, những thoả ước lao động đầu tiên được kỷ kết vào CUỐI thế
kỷ thứ XVIII, đầu thế kỷ thứ XIX, khi nền kinh tế tư bản đang ở vào giai đoạn cạnh tranh tự do Đó là thoả ước lao động tập thể được ký kết giữa các chủ xưởng và tập thể công nhân ở nước Anh Điều này rất dễ hiểu bởi Anh là một trong những nước sớm có nền công nghiệp cơ khí hùng mạnh được mệnh danh
là “công xưởng của thế giới" Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Anh diễn ra quyết liệt, tổ chức công đoàn sớm nhất cũng ra đời tại đây (nước Anh cũng được ghi nhận là "cái nôi của tổ chức công đoàn") Cuộc đấu tranh
của giai cấp công nhân ở Anh dưới sự lãnh đạo của tổ chức công đoàn đã buộc
giới chủ phải chấp nhận ký kết thoả ước với họ
Đến đầu thế kỷ XIX, giai cấp công nhân các nước dưới sự lãnh đạo của
tổ chức công đoàn đã đấu tranh với quy mô rộng lớn và quyết liệt hơn, thông qua một loạt các cuộc đình công diễn ra trong thời gian dài và số lượng người tham gia đông đã gây thiệt hại không nhỏ cho giới chủ Trước tình hình đó, các nhà tư bản cũng buộc phải ký kết thoả ước lao động tập thể vói công đoàn
để tránh những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị và xã hội Việc này
đã dần trở nên phổ biến ở các nước tư bản chủ nghĩa vào cuối thế kỷ XIX
ở giai đoạn đầu, thoả ước lao động tập thể đơn thuần chỉ là kết quả của
sự thương lượng đôi bên chứ chưa có tính chất ràng buộc về mặt pháp ỉý Tuy nhiên, những thoả ước tập thể này lại được thi hành rất nghiêm chỉnh Dần dần, Chính phủ các nước đã nhận thấy tầm quan trọng, cũng như khả năng giải quyết mâu thuẫn trong lao động của thoả ước, nên đã thừa nhận nó và sử dụng pháp luật để điều chỉnh sao cho phù hợp với chế độ xã hội hiện thòi Vì vậy, đến đầu thế kỷ XX, một loạt các nước đều lần lượt thừa nhận thoả ước ỉao
Trang 27động tập thể bằng các đạo luật V í dụ: ở Đức vào năm 1918 đã ban hành Luật
về thoả ước lao động tập thể, người lao động và hội nghị thương lượng về tranh chấp lao động, đến năm 1921 ban hành Luật thoả ước lao động tập thể; tháng 7 năm 1918, Chính phủ Xô Viết cũng ban hành Điều lệ về trình tự phê chuẩn thoả ước lao động tập thể về xác định mức lương và điều kiện lao động, sau đó, những nội dung cơ bản về thoả ước đã được tổng hợp đưa vào Bộ luật lao động năm 1922, chính thức xác lập một chế độ pháp lý đối với thoả ước lao động tập thể
Tại Việt Nam, thoả ước lao động tập thể cũng đựơc chính thức ghi nhận trong các văn bản pháp luật Dưới thời chính quyền Bảo Đại trước đó và Sài Gòn sau này, thoả ước lao động tập thể cũng được quy định thành một phần riêng trong Bộ luật lao động năm 1952 với tên gọi “cộng đồng hiệp ươc lao động” Theo Điều 70, Bộ luật lao động nói trên thì “Cộng đồng hiệp ước lao động là một hiệp ước về điều kiện làm việc lập ra giữa một đằng là đại diện của một hay nhiều tổ chức nghề nghiệp của công nhân với một đằng là đại diện của một hay nhiều tổ chức nghề nghiệp của chủ nhân hoặc một hay nhiều chủ nhân lấy tư cách cá nhân mà kết ước”
Dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, khái niệm đầu tiên về thoả ước lao động tập thể được ghi nhận ở Sắc lệnh số 29/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 12/3/1947 với tên gọi “tập hợp khế ước” Trong đó, có quy định: "tập hợp khế ước là những khế ước lập ra để ấn định những quy tắc làm việc và tiền lương chung cho từng ngành nghề, từng xí nghiệp hoặc từng địa phương, do sự thoả thuận của chủ hay đại biểu của chủ và công nhân hay đại biểu của công nhân” Đến Nghị định 172/CP ngày 21/11/1963, tên gọi “tập hợp khế ước”đã được đổi thành “hợp đồng tập thể” (dựa theo cách gọi của Liên Xô và Trung Quốc thời ấy) Theo quy định tại Nghị định này, hợp đồng tập thể được hiểu là sự cam kết giữa giám đốc và công nhân viên chức trong các nhà máy, xí nghiệp của nhà nước về những vấn đề liên quan đến hoạt
Trang 28động sản xuất kinh doanh nhằm giám sát, thúc đẩy sản xuất, hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch nhà nước giao, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động Hợp đồng tập thể trong giai đoạn này chủ yếu được áp dụng đối với các xí nghiệp, công nông lâm trường Việc ký kết thoả ước là bắt buộc, mang nặng yếu tố mệnh lệnh, hành chính, trái với tên gọi của
nó là hợp đồng tập thể
Khi đất nước chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, tính chất các quan hệ lao động đã có sự thay đổi Tính chất tự nguyện thoả thuận đã được thay thế cho tính mệnh lệnh, hành chính trước đó Vì vậy, khái niệm về hợp đổng tập thể theo quy định tại Nghị định 172/CP nói trên không còn phù hợp
Để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn, ngày 26/12/1992, Chính phủ đã ban hành Nghị định 18/CP về thoả ước lao động tập thể Theo đó, thoả ước lao động tập thể được hiểu là "sự thoả thuận bằng văn bản giữa đại diện tập thể lao động và người sử dụng lao động về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của hai bên trong quan hệ lao động"
Kế thừa Nghị định 18/CP nói trên, Bộ luật lao động năm 1994 của nước
ta (sau đây viết tắt là BLLĐ) cũng gọi những cam kết chung giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động là thoả ước lao động tập thể Điều 44 BLLĐ
đã định nghĩa: "Thoả ữớc lao động tập thể là văn bản thoả thuận giữa tập thể
lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động và sử dụng lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động".
Về thực chất, thoả ước lao động tập thể là những quy định nội bộ của doanh nghiệp, trong đó bao gồm những thoả thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về những vấn đề có liên quan đến quan hệ lao động Tập thể lao động là một khái niệm "mở", có thể hiểu là toàn bộ hoặc đa số những người lao động cùng làm việc trong một bộ phận cơ cấu của doanh nghiệp, trong toàn doanh nghiệp, thậm chí trong một ngành, một vùng , Nhưng bao giờ tập thể người lao động cũng có ý chí thống nhất và cùng liên
Trang 29kết, tập hợp nhau lại trong một tổ chức và khi tiến hành thương lượng, ký kết thoả ước với người sử dụng lao động, họ thường thông qua "người" đại diện của mình Người đại diện cho tập thể lao động thường là tổ chức công đoàn,
cụ thể là Ban Chấp hành của tổ chức công đoàn đó Còn phía người sử dụng lao động tham gia vào quá trình đàm phán, thương lượng với tập thể lao động
có thể trực tiếp là giám đốc doanh nghiệp hoặc cũng có thể là những người được giám đốc doanh nghiệp uỷ quyền Nội dung mà các bên thoả thuận trong thoả ước là những vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động, như an toàn lao động, vệ sinh lao động; điều kiện lao động (thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi ); tiền lương, tiền thưởng cũng như các quyền và nghĩa vụ khác của các bên trong quan hệ lao động, Các vấn đề này hầu hết đã được pháp luật quy định, song, có nhiều vấn đề mới chỉ được quy định ở mức tối đa, tối thiểu hoặc còn để ngỏ VI vậy, các bên cần phải thoả thuận cho cụ thể hon và cho phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp
Sự thương lượng thoả thuận này giữa các bên bao giờ cũng được ghi lại thành văn bản và được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền Điều đó sẽ giúp cho các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra tính hợp pháp của thoả ước cũng như
có được căn cứ cần thiết và xác đáng để giải quyết khi có các tranh chấp lao động xảy ra
Như vậy, quan niệm về thoả ước lao động tập thể trong BLLĐ là một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh Nó không những chỉ ra được các bên của thoả ước mà còn nêu rõ hình thức, nội dung của thoả ước lao động tập thể Và đây cũng là những nội dung cơ bản của khái niệm thoả ước được thể hiện trong luật pháp của hầu hết các nước trong khu vực
ở Ma-lay-si-a, trong đạo luật công nghiệp 1967, tại phần 2 đã quy định thoả ước lao động tập thể “là một thoả thuận bằng văn bản được ký kết giữa một bên là người sử dụng lao động với nghiệp đoàn của những người lao động
về những điều kiện sử dụng lao động và việc làm của người lao động hoặc
Trang 30những mối quan hệ giữa hai bên" Điểu đó có nghĩa là, cá nhân người lao động và những người lao động không có tổ chức sẽ không có chỗ đứng trong việc thương lượng tập thể, và ngay cả một tập thể lao động, nếu không có tổ chức đại diên như công đoàn hoặc nghiệp đoàn, cũng sẽ không thể tiến hành thương lượng, ký kết thoả ước.
Ở Phi-lip-pin, thoả ước lao động tập thể được quan niệm là một đạo luật giữa hai bên đối với mối quan hệ sử dụng lao động trong khu vực tư nhân Nó điều chỉnh những điều kiện sử dụng lao động trong xí nghiệp, bao gồm tiền lương, thời giờ làm việc, phụ cấp và các quyền lợi kinh tế khác Nó xác định quyền, nghĩa vụ của công nhân và người sử dụng lao động
Các đạo luật về quan hệ lao động của Sinh-ga-po năm 1960, của Thái-lan năm 1975, đều thể hiện rất rõ nét quan điểm coi thoả ước lao động tập thể là kết quả của quá trình thương lượng và đi đến thoả thuận ký kết giữa người sử dụng lao động với đại diện tập thể lao động về các vấn đề tròng quan hệ lao động Nội dung của thoả ước bao gồm các điều kiện lao động và sử dụng lao động; thoả ước lao động tập thể được coi là một hình thức tự quản rất hữu hiệu trong công nghiệp
Nói tóm lại, tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà pháp luật có quan niệm khác nhau vé thoả ước lao động tập thể Song, về cơ bản, pháp luật các nước đểu coi thoả ước là kết quả của những cuộc thương lượng, thoả thuận trên cơ sở các quy định của pháp luật, giữa đại diện tập thể lao động vái người sử dụng lao động về các vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động
1.2.2 Bản chất của thoả ước lao động tập thể
Bản chất của thoả ước lao động tập thể là vấn đề khá phức tạp Theo một
số học giả thì thoả ước tập thể có bản chất pháp lý song hợp Sự song họp này được thể hiện ở việc thoả ước lao động tập thể vừa mang tính chất họp đổng, vừa mang tính chất quy phạm
Trang 31- Tính hợp đồng của thoả ước lao động tập thể.
Thoả ước lao động tập thể được hình thành trên cơ sở sự thương ỉượng và thoả thuận giữa các bên tập thể lao động và người sử dụng lao động nên đương nhiên thoả ước lao động tập thể phải mang tính chất của một khế ước Đó là tính hợp đổng Yếu tố hợp đồng này được thể hiện rất rõ trong việc tạo lập thoả ước Không thể có thoả ước nếu không có sự hiệp ý của cả hai bên kết ước Sự tương thuận này là đặc tính căn bản của thoả ước lao động tập thể, không gì có thể thay thế được Việc thương lượng, ký kết thoả ước lao động tập thể hoàn toàn dựa trên cơ sở tự do, tự nguyện, tự thoả thuận giữa các bên Không một chủ thể thứ ba nào (kể cả nhà nước ) có quyền ra lệnh để (hay thế
sự tự do ưng thuận của các bên, bắt buộc các bên phải ký kết thoả ước
Nếu tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động thấy rằng cần phải có thoả ước lao động tập thể để ràng buộc trách nhiệm đối với phía bên kia thì các bên có quyến đề xuất yêu cầu ký kết thoả ước và cùng nhau ngồi vào bàn đàm phán, thương lượng Trong quá trình thương lượng, mỗi bên đều được quyền đưa ra ý kiến của mình và các ý kiến đó được coi trọng ngang nhau Thoả ước lao động tập thể sẽ được ký kết nếu các bên thống nhất được vói nhau nội dung của thoả ước và những người lao động trong doanh nghiệp cũng tán thành vói nội dung của thoả ước
Mặt khác, nội dung mà các bên thoả thuận trong thoả ước thường là các điều kiện lao động (an toàn lao động, vệ sinh lao đ ộ n g ); quyén lợi và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động như tiền lương, thòi gian làm việc Những vấn đề này tuy đã được pháp luật ỉ ao động quy định nhưng các bên thoả thuận cụ thể phù hợp hơn để áp dụng cho từng doanh nghiệp, Quan trọn2 nhất là những thoả thuận này thường là có lợi hơn cho người lao động so vói quy định của pháp luật
Như vậy, thoả ước lao động tập thể là kết quả của sự íự do íhoả đìitận giữa hai bên tập thể lao động và người sử dụng lao động dưới hình thức một:
Trang 32vãn bản viết Yếu tố tự do thoả thuận này đồng thòi được coi là yếu tố quan trọng nhất của thoả ước lao động tập thể.
— Tính quy phạm của thoả ước lao động tập thể.
Mặc dù được thiết lập trên cơ sở sự thương lượng thoả thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng ỉao động, song, thoả ước lại có tính quy phạm Đâv cũng là điểm khác biệt cơ bản giữa thoả ước lao động tập thể và họp đồng lao động Tính chất này được hình thành qua nội dung thoả ước, trình tự, thủ tục
ký kết, đăng ký thoả ước v ề nội dung, thoả ước là sự cụ thể hoá pháp luật của nhà nước cho phù hợp với điều kiện, đặc điểm tính chất, khả năng của đơn vị
ký kết Vì vậy, nội dung của thoả ước thường là các cam kết về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động Các cam kết này bao giờ cũng được xây dựng dưới dạng các quy phạm, theo từng điều khoản thể hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên trong quan hệ lao động như việc làm, tiền lương, tiền thưởng và phụ cấp; thời gian làm việc; thời gian nghỉ ngơi; định mức lao động; an toàn lao động và vệ sinh lao động; bảo hiểm xã hội
Để có hiệu lực, thoả ước lao động tập thể phải tuân theo một trình tự nhất định Nếu như đối với hợp đồng lao động, trình tự giao kết hợp đồng hoàn toàn không bắt buộc và do các bên tự thống nhất với nhau thì đối với thoả ước lao động tập thể, trình tự ký kết lại là một thủ tục bắt buộc Trước khi ký kết thoả ước, Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải tổ chức lấy ý kiến của tập thể lao động về nội dung của thoả ước Thoả ước chỉ được ký kết nếu có trên 50%
số lao động trong doanh nghiệp tán hành nội dung của nó
Thoả ước được ký kết phải được đưa đi đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền Điểu này cũng giống như việc đăng ký Điều lệ doanh nghiệp hoặc bản nội quy lao động của doanh nghiệp Sau khi đăng ký, thoả ước lao động tập thể mới phát sinh hiệu lực Song, khác với hợp đồng chỉ có hiệu lực đối vói các chủ thể tham gia giao kết, thoả ước lao động tập thể khi có hiệu lực pháp luật lại có tính bắt buộc chung trong toàn bộ đơn vị Tất cả những người lao
Trang 33động, kể cả những người vào làm việc sau khi thoả ước đã được ký kếi, những
người không phải là thành viên của tổ chức công đoàn, người sử dụng ỉ ao động đều có trách nhiệm thực hiện thoả ước Tất cả những quy định nội bộ trong đơn vị, những thoả thuận trong hợp đồng mà trái với thoả ước (theo hướng bất lợi cho người lao động) đều phải được sửa đổi lại cho phù hợp Với tính chất bắt buộc đó, thoả ước lao động tập thể được coi như ỉà “luật” của doanh nghiệp Tất nhiên, luật này có tính chất "động" và nó có thể được bổ sung sửa đổi hoặc ký kết lại, nếu các bên yêu cầu miễn là tuân íhủ trình tu pháp luật quy định
Vì vậy, tuy không do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và không được xây dựng theo trình tự ban hành của văn bản quy phạm pháp luật nhưng thoả ước vẫn được coi là vãn bản có giá trị pháp lý, là nguồn bổ sung cho các quy phạm pháp luật lao động của nhà nước tại đơn vị
Tóm lại, trong thoả ước lao động tập thể luôn tổn tại đồng thời hai yếu tố thoả thuận và bắt buộc Chính sự kết hợp các yếu tố này làm nên bản chất đặc biệt của thoả ước lao động tập thể Vấn đề là ở chỗ, cần phải điều chỉnh như thế nào để hai yếu tố đó cùng phát huy tác dụng Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng bản chất của quan hệ lao động là quan hệ thoả thuận
1.2.3 Đặc điểm của thoả ước lao động tập thể
Đặc điểm cơ bản của thoả ước lao động tập thể là thoả ước bao giờ cũnq mang tính tập thể Tính tập thể của thoả ước được thể hiện ở các khía cạnh
sau:
Thứ nhất, về chủ thể, một bên của thoả ước bao giờ cũng là đại diện cho
tập thể người lao động Nếu như trong quan hệ hợp đổng, người lao động bao giờ cũng tham gia với tư cách cá nhân, thì trong quan hệ thoả ước, người lao động lại thông qua đại diện của mình để thương lượng, thoả thuận với người
sử dụng lao động hoặc đại diện của người sử dụng lao động Đây cũng là điều tất yếu, bởi nó xuất phát từ nhu cầu của quá trình thương lượng về quyền vù
Trang 34lợi ích, đây sẽ là sức mạnh để tập thể lao động đạt được những thoả thuận có lợi hơn cho mình so với các thoả thuận trong hợp đồng lao động Người lao động là người không có tư liệu sản xuất cần thiết, họ tham gia vào quan hệ lao động với mong muốn bán sức lao động của mình để có tiền nuôi sống bản thân và các thành viên trong gia đình Nhu cầu đó đã không cho phép họ có nhiều sự lựa chọn để có thể giành được những điều kiện có lợi nhất cho mình Mặt khác, nguy cơ mất việc làm, thất nghiệp thường xuyên là những sức ép rất lớn đối với người lao động trong nền kinh tế thị trường, nên nhiều khi, trong khế ước cá nhân (hợp đồng lao động), vì thế yếu người lao động bắt buộc phải chấp nhận những điều kiện bất lợi do người sử dụng lao động đặt ra Nhưng khi người lao động đã liên kết lại với nhau thành một tổ chức như công đoàn thì sự bất bình đẳng giữa hai bên sẽ rút ngắn lại Sự liên kết của những người lao động thành một tổ chức đã tái lập được thế quân bình giữa hai bên, khiến cho cuộc đối thoại có thể được tự do và bình đẳng hơn Đây cũng chính
là một đặc tính của luật lao động Nó đem những tương quan lao động đặt trên bình diện cộng đổng để bù đắp sự yếu thế về kinh tế của người lao động Nhò'
đó mà người lao động sẽ t ó những điều kiện để đạt được những thoả thuận có lợi hơn cho bản thân mình
Vì vậy, pháp luật của tất cả các nước có thừa nhận thoả ước đều công nhận tư cách chủ thể của tổ chức đại diện cho tập thể lao động Tổ chức này không chỉ đơn thuần là tập hợp số đông người lao động mà còn là sự tập hợp trí tuệ, ý thức giai cấp trong cuộc đấu tranh vì quyền lợi chung Đại diện tạp thể lao động tham gia thương lượng không phải vì lợi ích cá nhân, hay cho một số người ỉao động mà là vì lợi ích của tất cả mọi người lao động trong doanh nghiệp Tuy nhiên, tuỳ theo cơ cấu tổ chức, quy mô của từng đơn vị mà
tập thể lao động ờ đây có thể được xác định trong phạm vi một doanh nghiệp,
một công ty, một tổng công ty, một ngành hoặc cũng có thể chỉ trong mội
bộ phận cơ cấu của doanh nghiệp Cũng tuỳ theo quy định hay tập quán của
Trang 35mỗi quốc gia mà đại diện cho các tập thể lao động nói trên í à tổ chức công đoàn (nghiệp đoàn) hoặc các đại diện do các thành viên bầu ra Pháp luật nước
ta, cũng như pháp luật của hầu hết các nước khác đều thừa nhận tổ chức công đoàn là đại diện chính thức cho tập thể lao động tham gia thương lượng, ký kết thoả ước với bên sử dụng lao động
Thứ hai, về nội dung, trong thoả ước lao động tập thể thường chứa đựng
nhiều dạng thoả thuận liên quan đến điều kiện lao động, điều kiện sử dụng lao động và các vấn đề có liên quan đến quan hệ lao động Có dạng íhoả thuận là tiêu chuẩn hoá điều kiện lao động, có dạng là cụ thể hoá một chế độ (ví dụ như về trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc ), có dạng là điều đình, thương lượng như giải quyết tranh chấp Song, những nội dung đó bao giờ cũng liên quan đến quyền và nghĩa vụ hoặc lợi ích của tập thể lao động trong đơn vị Vì vậy, thoả ước lao động tập thể sau khi có hiệu lực sẽ được thực hiện chung trong tập thể lao động Nó không chỉ có hiệu lực đối với các bên kết ước, các thành viên hiện tại của doanh nghiệp mà còn có hiệu lực đối với các thành viên trong tương lai của doanh nghiệp, kể cả những người không phải là thành viên của tổ chức công đoãn
Thứ ba, tranh chấp về thoả ước bao giờ cũng là tranh chấp lao đòagịập thể Điểu này thể hiện ở việc tranh chấp luôn có sự tham gia của đông đảo
những người lao động trong doanh nghiệp Tổ chức công đoàn tham gia vói tư cách là một bên của tranh chấp Nội dung của tranh chấp luôn liên quan đến quyền và lợi ích chung của tập thể lao động Do vậy, tranh chấp về thoả ước bao giờ cũng thoả mãn các dấu hiệu của tranh chấp lao động tập thổ
1.2.4 Các loại thoả ước lao động tập thể
Thoả ước lao động tập thể là văn bản thoả thuận giữa tập thể người lao động với người sử dụng lao động về các vấn đề trong quan hệ lao động Vì vậy, tuỳ thuộc vào cơ cấu tổ chức của tập thể lao động và quy mô của doanh nghiệp mà thoả ước lao động tập thể được ký kết ỏ' những phạm vi khác nhau,
Trang 36như trong một ngành, một vùng, một doanh nghiệp hay một bộ phận của doanh nghiệp Pháp luật các nước cũng có sự quy định khác nhau về phạm vi của thoả ước Có nước thừa nhận thỏa ước được ký kết ở tất cả các phạm vi đó nhưng có những nước lại chỉ thưà nhận một hoặc một vài thoả ước trong đó
mà thôi Chẳng hạn, như ở Pháp, thoả ước được ký kết trong phạm vi một doanh nghiệp hoặc một ngành, nhưng ở Mỹ thì một công ty lại có thể ký nhiều thoả ước và mỗi thoả ước chỉ áp dụng cho một bộ phận công nhân trong công
ty Nhưng nhìn chung, ở các nước phát triển, thoả ước lao động tập thể ngành,
vùng được áp dụng một các phổ biến và rộng rãi
Ở Việt Nam, thoả ước lao động tập thể chủ yếu được ký kết trong phạm
vi doanh nghiệp Vì vậy, mà loại thoả ước cơ bản và thông dụng nhất là thoả ước doanh nghiệp Đó là loại thoả ước được ký kết giữa Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc công đoàn lâm thời với người sử dụng lao động về các vấn đề trong quan hệ lao động Tất nhiên, loại thoả ước này chỉ có hiệu lực trong phạm vi của doanh nghiệp đó mà thôi
Song, trên thực tế, mỗi doanh nghiệp lại có cơ cấu tổ chức và quy mô sản xuất khác nhau Có doanh nghiệp có cơ câú tổ chức đơn giản nhưng cũng có doanh nghiệp có cơ câú tổ chức và quy mô hết sức phức tạp Đó thường là những doanh nghiệp sản xuất theo công nghệ hiện đại, tính chuyên môn hoá cao, các bộ phận của doanh nghiệp tương đối độc lập Mỗi bộ phận lại có những yêu cầu khác nhau vế điều kiện lao động và sử dụng lao động Vì vậy, đối với những doanh nghiệp này có thể triển khai để ký kết thoả ước lao động tập thể bộ phận doanh nghiệp Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện nay chưa quy định cụ thể về loại thoả ước này, bởi đó là quan hệ nội bộ doanh nghiệp
Song, có một điều tất yếu là thoả ước bộ phận doanh nghiệp bao 9AỜ cũng phải
phù hợp với thoả ước doanh nghiệp
Ngoài ra, pháp luật lao động cũng còn thừa nhận thỏa ước lao động tập thể được ký kết trong phạm vi của một ngành Điều 54 BLLĐ có quy định:
Trang 37“Những quy định tại chương này được áp dụng cho việc thiơng lượng và lcv kết thoả ước lao động tập thể ngành” Với loại thoả ước này chủ thể thương lượng và ký kết thoả ước phải là đại diện công đoàn của ngàni và đại diện của người sử dụng lao động của ngành đó Thoả ước này có hiệu lực trên phạm vi rộng (trên toàn ngành), đối tượng áp dụng lại lổn nên chỉ thiởng phù hợp với những ngành mà ở đó các doanh nghiệp thuộc ngành phát triển đồng đều, tương đồng với nhau về điều kiện lao động và sử dụng lao độig Khi thoả ước ngành được ký kết thì những thoả ước doanh nghiệp trong phím vi ngành phải phù hợp với thoả ước ngành.
Ở Việt Nam, mặc dù loại thoả ước này đã được thừa nhại, song, để thực hiện nó cũng là một vấn đề khá phức tạp Bởi lẽ, các doanh njhiệp của chúng
ta phát triển không đổng đều, tính liên kết giữa các doanh nghệp lại chưa cao Hơn nữa, chúng ta lại chưa có nhiều kinh nghiệm trong vấn ẩề này, nên cho đến nay, thoả ước lao động tập thể ngành vẫn chưa được cụ thê hoá về mặt văn bản và áp dụng phổ biến trên thực tế Có thể một vài năm nữa ỉhi mức độ phát triển của các doanh nghiệp trong phạm vi một ngành tương đ5i đổng đều với nhau thì thoả ước lao động tập thể ngành lại được coi là mỏt loại thoả ước được áp dụng phổ biến tại Việt Nam
Đối với những nơi có đặc điểm sản xuất, lao động theo quy mô vùng công nghiệp, khu công nghiệp còn có thể ký kết thoả ước tập thể vùng Đây
là loại thoả ước được ký kết giữa đại diện công đoàn vùng và đại diện giới sử
dụng lao động trong vùng Tuy nhiên, ở nước ta, loại thoả ưcc này còn chưa
được đề cập trong luật pháp
1.3 Vai trò và ý nghĩa của thoả ước lao động tập thể trong cơ chế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ lao động chủ yếu được hình thành trên cơ sở nhu cầu và sự tự do thoả thuận giữa các bên: người lao độn GI
và người sử dụng lao động Pháp luật lao động chủ yếu điều chỉnh ỏ' tầm vĩ
Trang 38mô, bằng cách quy định những nguyên tắc định hướng, hành lang pháp lý cho
sự thoả thuận nên thoả ước lao động tập thể có một vai trò và ý nghĩa quan trọng, không chỉ đối với người lao động, người sử dụng lao động mà còn đối với cả nhà nước và xã hội, trên hầu hết các bình diện kinh tế, xã hội và pháp lý
1.3.1 Thoả ước lao động tập thể tạo nên sự cộng đồng quyền lợi và trách nhiệm giữa hai bên
Đối với quan hệ lao động trên cơ sở hợp đổng, nhà nước không quv định
cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên mà chỉ định ra khung pháp luật, các hành lang pháp lý để trên cơ sở đó các bên tự thương lượng thoả thuận Vì vậy, các doanh nghiệp cần ký kết thoả ước lao động tập thể để cụ thể hoá các quyền và nghĩa vụ của các bên cho phù hợp với điều kiện khả năng của từng doanh nghiệp Tuy nhiên, thoả ước lao động tập thể được ký kết không chỉ là
sự cụ thể hoá các quy định của pháp luật mà nó tạo ra sự cộng đổng quyền lợi cũng như trách nhiệm của các bên trong quan hệ lao động Lợi ích của các bên
sẽ thống nhất với nhau hơn, đồng thời các bên có trách nhiệm hơn trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ lao động
Dưới một góc độ nào đó, thì người sử dụng lao động và người lao động đều cần có nhau để đạt được mục đích của mình Người sử dụng lao động cẩn đến sức lao động của người lao động để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, thông qua đó kiếm lời Còn người lao động cũng cần cung ứng sức lao động của mình cho chủ sử dụng lao động để có thu nhập nuôi sống bản thân
và các thành viên khác trong gia đình Xuất phát từ nhu cầu đó mà cả người lao động và người sử dụng lao động đều cần thiết phải hợp tác với nhau trong
mối quan hệ sử dụng lao động Song, hiệu quả của sản xuất kinh doanh, lợi
nhuận của chủ sử dụng lao động cũng như thu nhập của người lao động lại
phụ thuộc rất nhiều vào ý thức trách nhiệm của các bên và việc các bên thực
hiện các cam kết của mình trên thực tế Chẳng hạn, người sử dụng lao động,
Trang 39phải tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động, động viên khuyến khích kịp thời cho người lao động cả vật chất và tinh thần; đổng thời người ỉ ao động cũng phải phát huy hết khả năng của mình để nâng cao năng suất lao động đem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp; từ đó nâng cao thu nhập Biện pháp tốt nhất và cũng là hữu hiệu nhất để nâng cao ý thức trách nhiệm của các bổn đồng thời cũng giúp các bên đạt được lợi ích kinh tế của mình chính là thoả ước lao động tập thể.
1.3.2 Thoả ước lao động tập th ể góp phần điều hoà lợi ích ngăn ngừa mâu thuẫn, xung đột
Thoả ước lao động tập thể không chỉ nâng cao ý thức trách nhiệm của các bên trong quan hệ lao động, tạo nên sự cộng đồng về quyền lợi giữa các bên
mà thoả ước lao động tập thể còn là biện pháp pháp lý hữu hiệu để hạn chế các xung đột và tranh chấp trong quan hệ lao động
Đối với người lao động, thoả ước lao động tập thể sẽ tạo điểu kiện cho họ được bình đẳng trong mối quan hệ với người sử dụng lao động; Nó nâng cao vị thế của người lao động, tạo điều kiện để người lao động có được nhũng thoả thuận có lợi hơn cho người lao động, so với các quy định của pháp iuật cả về quyền lợi cũng như điều kiện lao động Vì vậy, khi thoả ước lao động tập thể được ký kết,nó sẽ hạn chế được những yêu sách bất thường từ phía ngưòi lao động đối với chủ sử dụng lao động, ngăn ngừa được những xung đột và tranh chấp trong quan hệ lao động Mặt khác, khi thoả ước lao động tập thể được ký kết và thực hiện sẽ thống nhất được chế độ lao động đối với những người ỉao động trong cùng một doanh nghiệp hoặc một ngành, một nghề Điều này sẽ giúp loại trừ sự cạnh tranh không lành mạnh giữa những người lao động trong các bộ phận doanh nghiệp hoặc giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, một nghề, bảo đảm ổn định việc làm cho người lao động
Còn đối với người sử dụng lao động, thoả ước lao động tập thể sẽ gi Ún kiềm chế xu hướng lạm quyền đối với người lao động, đồng thời đảm bảo cho
Trang 40họ quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh, ổn định và phát triển doanh nghiệp Hơn nữa, thoả ước lao động tập thể được ký kết sẽ nâng cao ý thức trách nhiệm của người lao động đối với việc thực hiện các nghĩa vụ lao động, nhò đó mà năng suất lao động được nâng cao, kế hoạch sản xuất kinh doanh của người sử dụng lao động sẽ được hoàn thành Lợi ích của doanh nghiệp được đảm bảo sẽ hạn chế được các xung đột và tranh chấp trong quan hệ lao động (cả quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động tập thể).
Vì vậy, thoả ước lao động tập thể chính là biện pháp pháp lý quan trọng
để người lao động và người sử dụng lao động xây dựng mối quan hệ lao động hài hoà, ổn định, cùng nhau hợp tác vì sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Bằng việc tạo điều kiện cần thiết cho sự gắn bó chặt chẽ giữa cá nhân người lao động với tập thể lao động, giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động Thoả ước lao động tập thể đã tạo điều kiện cho các quan hệ lao động diễn ra tốt đẹp, đảm bảo được “hoà bình công nghiệp”, sự ổn định và phồn vinh của doanh nghiệp
1.3.3 Thoả ước lao động là cơ sở pháp lý quan trọng đ ể giải quyết các tranh chấp lao động
Trong quá trình lao động không thể tránh khỏi những bất đồng giữa ngừơi lao động hoặc tập thể lao động với người sử dụng lao động Có những bất đổng hai bên tự thương lượng, thoả thuận được với nhau nhưng cũng có những bất đồng hai bên không thể tự thương lượng được nên phải nhờ các chủ thể khác đứng ra giải quyết Việc một trong các bên yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành giải quyết bất đồng giữa các bên sẽ làm nảy sinh quan hệ về giải quyết tranh chấp lao động Điều 159 BLLĐ có quy định: “Việc giải quyết tranh chấp lao động tại các cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp lao động được tiến hành khi một bên từ chối thương lượng hoặc hai bên đã thương lượng mà vẫn không giải quyết được và một trong hai bên có đơn yêu cầu giả; quyết tranh chấp lao động”