1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Giáo trình luật thương mại việt nam tập 2

391 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 391
Dung lượng 7,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ví dụ, hoạt động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá phải tuân theo LTM khi chủ thể này lựa chọn áp dụng L

Trang 2

Giáo trình này đã được Hội đồng nghiệm thu giáo trình Trường Đại học Luật Hà Nội (thành lập theo Quyết định số 1281/QĐ-ĐHLHN ngày 05 tháng 5 năm 2016 của Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội) đồng ý thông qua ngày 29 tháng 7 năm 2016 và được Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội cho phép xuất bản theo Quyết định

số 249/QĐ-ĐHLHN ngày 15 tháng 02 năm 2017

MÃ SỐ: TPG/K - 19 - 14

3232-2019/CXBIPH/02-308/TP

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

GIÁO TRÌNH LUẬT THƯƠNG MẠI

Trang 4

Đồng chủ biên

PGS.TS NGUYỄN VIẾT TÝ

TS NGUYỄN THỊ DUNG

Tập thể tác giả

1 PGS.TS NGUYỄN THỊ VÂN ANH Chương 16

2 PGS.TS VŨ THỊ LAN ANH Chương 21

3 TS TRẦN THỊ BẢO ÁNH Chương 15, 20

6 PGS.TS TRẦN THỊ THU PHƯƠNG Chương 14 (Mục III)

7 PGS.TS NGUYỄN VIẾT TÝ Chương 14 (mục I, II)

8 TS NGUYỄN QUÝ TRỌNG Chương 22

9 TS VŨ ĐẶNG HẢI YẾN Chương 19

10 TS NGUYỄN THỊ YẾN Chương 23

Trang 6

LỜI GIỚI THIỆU

Trong quá trình đổi mới quản lí nhà nước về kinh tế, Luật Thương mại là lĩnh vực pháp luật có những thay đổi lớn theo xu thế

mở rộng quyền tự do kinh doanh và hội nhập kinh tế quốc tế Bắt nhịp với những thay đổi này, trong các cơ sở đào tạo luật, môn học Luật Thương mại (tiền thân là môn học Luật Kinh tế) cũng có nhiều thay đổi về kết cấu và nội dung chương trình Nhằm hướng tới mục tiêu phù hợp xu hướng phát triển về lí luận và thực tiễn của pháp luật thương mại, phù hợp với nội dung và chương trình đào tạo của nhà trường, Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội đã được biên soạn mới

Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam là học liệu chính thức sử dụng trong giảng dạy, học tập môn học Luật Thương mại và một số chuyên đề tự chọn thuộc chương trình đào tạo cử nhân luật, cử nhân chuyên ngành luật kinh tế, luật thương mại quốc tế và các lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật kinh doanh tại Trường Đại học Luật

Hà Nội Đối với các cơ sở đào tạo khác, Giáo trình Luật Thương mại cũng có thể được sử dụng làm học liệu cho các môn học có nội dung tương tự như Luật Kinh tế, Luật Kinh doanh

Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam gồm 2 tập với tổng số 23 chương, được kết cấu theo 5 phần lớn, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, đào tạo cơ bản về địa vị pháp lí của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, về hợp đồng và hoạt động thương mại, giải quyết tranh chấp thương mại ngoài Toà án:

Phần thứ nhất: Những vấn đề chung về Luật Thương mại Việt Nam Phần thứ hai: Địa vị pháp lí của các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế

Trang 7

Phần thứ ba: Quy chế pháp lí về thành lập doanh nghiệp, tổ chức lại, giải thể và phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

Phần thứ tư: Hoạt động thương mại và hợp đồng trong hoạt động thương mại

Phần thứ năm: Giải quyết tranh chấp thương mại ngoài Toà án Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam Tập I có 13 chương, cung cấp những kiến thức chung về môn học Luật Thương mại, về địa vị pháp lí của các loại chủ thể kinh doanh và quy chế pháp lí về thành lập, tổ chức lại, giải thể, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam Tập II có 10 chương, cung cấp những kiến thức lí luận và thực tiễn về hợp đồng và hoạt động thương mại, chế tài thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại ngoài Toà án Tập I và Tập II bao gồm nội dung cơ bản và nội dung chọn lọc để phù hợp với kết cấu chương trình đào tạo của mỗi ngành học đang áp dụng tại Trường Đại học Luật Hà Nội, bao gồm ngành Luật học, ngành Luật Kinh tế và ngành Luật Thương mại quốc tế Được hoàn thành có sự kế thừa các giáo trình đã xuất bản, tập thể tác giả đã tiếp tục phát triển kiến thức về lí luận, thực tiễn, nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đào tạo cử nhân luật theo học chế tín chỉ Trong lần tái bản này, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của độc giả để Giáo trình được tiếp tục hoàn chỉnh trong những lần xuất bản sau

Trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 9 năm 2019

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 8

Phần thứ tư

HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI

VÀ HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI

Chương 14

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI

I QUAN NIỆM VỀ HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC

THƯƠNG MẠI

Hợp đồng là hình thức pháp lí thích hợp nhất thể hiện bản

chất của các quan hệ tài sản Quan hệ kinh tế và quan hệ dân sự

có chung hình thức pháp lí là hợp đồng Hợp đồng dù thể hiện

dưới hình thức nào, bởi ngôn ngữ nào cũng phản ánh bản chất là

sự thỏa thuận, sự thống nhất ý chí của các bên nhằm làm phát

sinh, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lí

Ở Việt Nam, trong mỗi thời kì lịch sử khác nhau, hợp đồng

trong lĩnh vực kinh tế hay lĩnh vực thương mại có một bản chất

pháp lí riêng của nó Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung,

hợp đồng kinh tế có bản chất pháp lí hoàn toàn khác hợp đồng dân

sự (theo nghĩa truyền thống) về mục đích, về chủ thể, về hình thức

cũng như về nội dung của hợp đồng Trong thời kì này, ở Việt Nam

hầu như chỉ tồn tại hợp đồng kinh tế với tư cách là hình thức phản

ánh quan hệ kinh tế trong nền kinh tế Các văn bản đầu tiên về

hợp đồng kinh tế là Nghị định số 004/TTg ngày 04/01/1960 của

Trang 9

Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế giữa các xí nghiệp quốc doanh và cơ quan nhà nước, Nghị định số 54/CP ngày 10/3/1975 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế và đặc biệt là Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế được ban hành năm 1989 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 đã phản ánh đầy đủ bản chất của hợp đồng kinh

tế, đồng thời quy định cụ thể về thủ tục kí kết, thực hiện thay đổi, đình chỉ, hủy bỏ, thanh lí hợp đồng kinh tế Ngoài ra, trong Pháp lệnh này còn quy định một số nội dung khác về hợp đồng kinh tế như: hợp đồng kinh tế vô hiệu, trách nhiệm vật chất do vi phạm chế độ hợp đồng kinh tế…

Trong những năm từ 1986 đến 1990, cùng với việc đổi mới

cơ chế quản lí kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện các hợp đồng dân sự (đúng theo nghĩa truyền thống)

Để điều chỉnh quan hệ hợp đồng dân sự, năm 1991, Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Hợp đồng dân sự và sau đó là BLDS năm

1995 Bộ luật này đã xác định khái niệm hợp đồng dân sự (xem Điều 394 BLDS năm 1995) với một nội hàm tương đối rộng, bao gồm cả những đặc điểm của khái niệm hợp đồng kinh tế theo Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 Tuy nhiên, trong Nghị quyết ngày 28/10/1995 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc thi hành BLDS năm 1995 vẫn thừa nhận hiệu lực của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 Do đó,

từ năm 1991 đến khi BLDS năm 2005 có hiệu lực, ở Việt Nam vẫn tồn tại 2 loại hợp đồng - hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân

sự - được điều chỉnh bằng những quy định pháp luật khác nhau

về hợp đồng Cụ thể là, hợp đồng dân sự được quy định trong BLDS còn hợp đồng kinh tế lại được quy định trong Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế Chỉ đến khi BLDS năm 2005 và LTM năm

2005 có hiệu lực, hợp đồng (bao gồm hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự) mới được điều chỉnh bằng một hệ thống văn bản

Trang 10

pháp luật thống nhất về hợp đồng dân sự.1

Trong BLDS năm

2005 cũng như LTM năm 2005 và các văn bản pháp luật thương mại sau đó không còn ghi nhận khái niệm hợp đồng kinh tế Mặc dù, khái niệm hợp đồng kinh tế không còn được ghi nhận trong các văn bản pháp luật hiện hành và trên thực tế khái niệm này không còn được sử dụng để chỉ các quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực thương mại (trước đây gọi là lĩnh vực kinh tế) Nhưng điều đó không có nghĩa là hợp đồng trong lĩnh vực thương mại không còn tồn tại Bởi lẽ, khi còn các hoạt động trong lĩnh vực thương mại được coi như một loại hành vi dân sự đặc thù thì vẫn có những quy định riêng điều chỉnh các hợp đồng với tư cách

là hình thức pháp lí của các hoạt động thương mại (Các hợp đồng này được gọi chung là hợp đồng thương mại hay hợp đồng trong lĩnh vực thương mại)

Xét dưới góc độ biện chứng, hợp đồng dân sự là hình thức pháp lí của hành vi dân sự, hợp đồng trong thương mại là hình thức

pháp lí của hoạt động thương mại Xuất phát từ quan điểm: “Hành

vi thương mại là một biểu hiện của hành vi pháp lí dân sự,…”,2

hành vi thương mại là hành vi dân sự đặc thù và với logic đó, hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là loại hợp đồng dân sự đặc thù

Là loại hợp đồng dân sự, hợp đồng trong lĩnh vực thương mại

có những điểm giống hợp đồng dân sự về bản chất, tức là phản ánh bản chất là sự thỏa thuận, sự thống nhất ý chí của các bên nhằm làm phát sinh, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lí, đều phản ánh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hoá tiền tệ, đều có chủ thể là pháp nhân, cá nhân… Bên cạnh đó, hợp đồng trong lĩnh vực thương mại cũng có những đặc điểm riêng của

1

Tham khảo: Đinh Thị Mai Phương, Thống nhất luật hợp đồng ở Việt Nam, Nxb

Tư pháp, Hà Nội, 2005

2 Đào Trí Úc, “Vai trò của luật dân sự ở nước ta hiện nay”, Đề tài cấp bộ: Những

vấn đề lí luận về Bộ luật dân sự ở Việt Nam), Hà Nội, 1997, tr 20

Trang 11

nó, mà trên cơ sở đó, về cơ bản có thể phân biệt hợp đồng trong lĩnh vực thương mại với hợp đồng dân sự nói chung Cụ thể:

Thứ nhất, về chủ thể, hợp đồng trong lĩnh vực thương mại

chủ yếu được thiết lập giữa các chủ thể là thương nhân Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp và cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên, có đăng kí kinh doanh Thương nhân là chủ thể của hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài (trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế) Ngoài chủ thể là thương nhân, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng trong lĩnh vực thương mại trong những trường hợp pháp luật quy

định cụ thể Ví dụ, hoạt động của bên chủ thể không phải là

thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá phải tuân theo LTM khi chủ thể này lựa chọn áp dụng LTM1

hay ví dụ khác: Trong quan hệ ủy thác mua bán hàng hoá, bên ủy thác có thể là thương nhân hoặc không phải là thương nhân.2

Thứ hai, về hình thức, hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có

thể được thiết lập bằng hình thức lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết Tuy nhiên, do tính chất phức tạp trong hoạt động thương mại và những yêu cầu chặt chẽ trong nội dung của hợp đồng mà pháp luật quy định nhiều hợp đồng thương mại cụ thể phải được kí kết dưới hình thức văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lí tương đương văn bản.Ví dụ,

hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hoá, hợp đồng đại lí thương mại, hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường sắt, hợp đồng nhượng quyền thương mại v.v

Thứ ba, về đối tượng hợp đồng, tương tự như đối tượng của

1 Khoản 3 Điều 1 LTM năm 2005

2 Điều 157 LTM năm 2005

Trang 12

hợp đồng dân sự, hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có đối tượng là hàng hoá hoặc dịch vụ (công việc) Bên cạnh đó, trong lĩnh vực thương mại có một số loại hợp đồng có đối tượng chưa được biết đến trong hợp đồng dân sự truyền thống, đó là các hợp đồng có tính chất tổ chức như hợp đồng thành lập công ti hay hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp đồng BCC), hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư (hợp đồng PPP) Đối tượng của các loại hợp đồng này không phải là hàng hoá hoặc dịch vụ mà là một hoạt động mang tính tổ chức để hình thành nên các doanh nghiệp hoặc để thực hiện hoạt động thương mại Trên thực tế, đối tượng hợp đồng trong lĩnh vực thương mại thường có số lượng lớn và

do đó, nhìn chung, giá trị của hợp đồng thương mại thường lớn hơn giá trị của hợp đồng dân sự Điều này dẫn đến sự khác nhau trong nội dung của hợp đồng dân sự và nội dung của hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Chẳng hạn, một người nào đó mua của thương nhân kinh doanh vật liệu xây dựng vài cân xi măng về sửa chữa nhỏ trong gia đình Ở đây đối tượng hợp đồng rất nhỏ nên nội dung của hợp đồng này rất đơn giản, việc giao nhận và thanh toán được thực hiện theo kiểu “tiền trao, cháo múc” Còn trường hợp một công ti xây lắp kí hợp đồng mua của một công ti

xi măng 1000 tấn xi măng để xây dựng một công trình nào đó thì việc thỏa thuận cũng như thực hiện các điều khoản trong nội dung của hợp đồng phức tạp hơn nhiều từ việc xác định số lượng, chất của đối tượng cho đến giao nhận, thanh toán v.v Thậm chí,

để thực hiện hợp đồng với đối tượng lớn như vậy, có thể làm phát sinh các hợp đồng mới như hợp đồng bốc xếp hàng hoá hay hợp đồng vận chuyển hàng hoá v.v

Tóm lại, hiện nay, hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là hợp

đồng dân sự đặc thù Hợp đồng dân sự và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có mối quan hệ biện chứng với nhau Đây là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, trong đó, hợp đồng dân

sự là cái chung và hợp đồng thương mại là cái riêng Với tư

Trang 13

cách là cái chung và cái riêng, hợp đồng dân sự và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại đều tồn tại khách quan và độc lập tương đối với nhau; những thuộc tính vốn có của hợp đồng dân

sự được biểu hiện cụ thể trong hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, đồng thời hợp đồng trong lĩnh vực thương mại cũng có những đặc thù riêng của nó

II PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI

1 Nội dung của pháp luật điều chỉnh hợp đồng trong lĩnh vực thương mại

Pháp luật điều chỉnh hợp đồng trong lĩnh vực thương mại được hiểu là tổng thể quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình kí kết và thực hiện hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Nội dung của pháp luật điều chỉnh hợp đồng trong lĩnh vực thương mại bao gồm:

(i) Những quy định về bản chất, chủ thể của hợp đồng trong lĩnh vực thương mại;

(ii) Những quy định về giao kết và thực hiện hợp đồng trong lĩnh vực thương mại;

(iii) Những quy định về thay đổi, đình chỉ, hủy bỏ hợp đồng trong lĩnh vực thương mại;

(iv) Những quy định về trách nhiệm vật chất (chế tài thương mại) do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại;

Ngoài ra, trong nội dung của pháp luật điều chỉnh hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, còn có những quy định về hợp đồng

vô hiệu, về các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng

Ở Việt Nam, trước năm 2005, khi còn tồn tại 2 hệ thống pháp luật về hợp đồng (hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự) độc lập tương đối với nhau thì các nội dung kể trên được pháp luật ghi

Trang 14

nhận trong các văn bản về hợp đồng kinh tế mà điển hình là Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 Khi BLDS năm 2005 có hiệu lực, nội dung của pháp luật điều chỉnh hợp đồng trong lĩnh vực thương mại được quy định trong một hệ thống văn bản pháp luật thống nhất điều chỉnh quan hệ hợp đồng dân sự, trong đó

có các văn bản chủ yếu: BLDS năm 2005, BLDS năm 2015, LTM năm 2005 và các văn bản luật chuyên ngành như: Luật Đường sắt năm 2005, Luật Du lịch năm 2005, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, Luật Hàng hải năm 2015, Luật Kinh doanh bảo hiểm v.v

Những quy định của BLDS áp dụng đối với hợp đồng trong lĩnh vực thương mại: BLDS năm 2015 với 44 điều trong mục 7

Chương XV đã ghi nhận hầu hết các nội dung của pháp luật về hợp đồng nói chung và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói

riêng Cụ thể:

+ BLDS năm 2015 đã xác định khái niệm hợp đồng, theo đó:

“Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”;1

+ Cùng với việc xác định khái niệm hợp đồng làm cơ sở cho việc xác định khái niệm các hợp đồng cụ thể trong lĩnh vực thương mại, BLDS năm 2015 còn có những quy định điều chỉnh các quan

hệ hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, đó là các quy định về giao kết và thực hiện hợp đồng, về sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, về hợp đồng vô hiệu và trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng v.v 2

+ BLDS năm 2015 cũng đã quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng giao dịch dân sự, các biện pháp thực hiện nghĩa vụ dân sự cũng như trách nhiệm dân sự.3

Đây cũng là một nội dung

quan trọng của pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại;

Trang 15

+ Ngoài ra, BLDS năm 2015 còn quy định các loại hợp đồng thông dụng.1

Những quy định về các loại hợp đồng thông dụng này

có thể được áp dụng trong trường hợp pháp luật chuyên ngành về các hợp đồng cụ thể trong lĩnh vực thương mại không quy định

Tóm lại, BLDS năm 2015 là văn bản pháp luật quan trọng

quy định tương đối đầy đủ về hợp đồng nói chung và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng Các quy định của BLDS năm 2015 trực tiếp điều chỉnh quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực thương mại trong trường hợp các văn bản pháp luật chuyên ngành không quy định

Những quy định pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại trong LTM năm 2005 và các luật chuyên ngành:

Ở Việt Nam, những quy định của BLDS được áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng Bên cạnh đó, pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại còn được quy định trong LTM năm 2005 và các luật chuyên ngành khác như: Luật Đường sắt năm 2017, Luật Du lịch năm 2017, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), Bộ luật Hàng hải năm 2015, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010) v.v Đặc điểm chung nhất của LTM và các luật chuyên ngành đó là: không quy định cụ thể về các hợp đồng mà chủ yếu quy định về các bên chủ thể, quyền và nghĩa vụ của các bên trong từng hoạt động thương mại Đảm bảo tính thống nhất của pháp luật hợp đồng, khi quy định về các loại hợp đồng cụ thể trong lĩnh vực thương mại, LTM năm 2005 và các luật chuyên ngành khác không lặp lại những quy định chung về hợp đồng đã được ghi nhận trong BLDS

Quy định về từng loại hợp đồng cụ thể trong lĩnh vực thương mại, LTM và các luật chuyên ngành tập trung quy định về tính

1 Mục 1 - 13 Chương XVI Phần thứ 3 BLDS năm 2015

Trang 16

chất, chủ thể, hình thức, quyền và nghĩa vụ trong từng quan hệ hợp đồng cụ thể

Khi xác định tính chất của các hợp đồng cụ thể trong lĩnh vực thương mại, các luật chuyên ngành thường đưa ra khái niệm về hợp đồng cụ thể đó.1

Riêng LTM năm 2005 không xác định khái niệm về các hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, mà chỉ dừng lại

ở việc đặt tên cho từng loại hợp đồng tương ứng từng hoạt động

thương mại, ví dụ: Tương ứng với hoạt động mua bán hàng hoá

có hợp đồng mua bán hàng hoá; tương ứng với hoạt động đại diện cho thương nhân có hợp đồng đại diện cho thương nhân hay tương ứng với hoạt động ủy thác mua bán hàng hoá có hợp đồng

ủy thác mua bán hàng hoá Tuy nhiên, tính chất của từng hoạt động thương mại (gồm mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ thương mại) lại được LTM năm 2005 ghi nhận đầy đủ Những tính chất của từng hoạt động thương mại cụ thể đó cũng chính là tính chất hay đặc điểm của các hợp đồng tương ứng Bởi lẽ, về thực chất hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là hình thức pháp

lí của hoạt động thương mại

Việc xác định chủ thể tham gia từng quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực thương mại cũng được LTM năm 2005 và các luật chuyên ngành quy định thông qua việc xác định tư cách pháp

lí của thương nhân (doanh nghiệp) khi thực hiện một hoạt

động thương mại cụ thể Ví dụ: theo Điều 167 LTM năm 2005:

“1 Bên giao đại lí là thương nhân giao hàng hoá cho đại lí bán… 2 Bên đại lí là thương nhân nhận hàng hoá để làm đại lí bán…” Như vậy, chỉ có thương nhân mới được thực hiện đại lí

thương mại và chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đại lí thương mại phải là thương nhân

1 Điều 55 Luật Đường sắt năm 2017; Điều 41 Luật Du lịch năm 2017; Điều 128 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)

Trang 17

Hình thức của từng hợp đồng trong lĩnh vực thương mại được LTM năm 2005 và các luật chuyên ngành quy định cụ thể đối với

từng loại hợp đồng Ví dụ: (i) Hợp đồng mua bán hàng hoá được

thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành

vi cụ thể; đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó; mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên

cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lí tương đương.1

(ii) Hợp đồng đại diện cho thương nhân và hợp đồng ủy thác mua bán hàng hoá phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lí tương đương.2

(iii) Hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường không cũng phải được xác lập bằng văn bản, vận đơn hàng không.3

Quyền và nghĩa vụ của các bên trong từng quan hệ hợp đồng

cụ thể được LTM năm 2005 quy định trong nội dung của từng hoạt động thương mại cụ thể.4 Các quyền, nghĩa vụ được pháp luật quy định đối với mỗi hoạt động thương mại có ý nghĩa quan trọng trong việc kí kết và thực hiện các hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Các quyền và nghĩa vụ đó có thể là cơ sở để các thỏa thuận thành quyền và nghĩa vụ cụ thể trong hợp đồng nhằm đảm bảo các thỏa thuận trong hợp đồng không trái với quy định của pháp luật Ngoài ra, khi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác thì các bên phải tuân thủ các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định

Tóm lại, ngoài những quy định chung cho tất cả các hợp đồng trong BLDS, nội dung của pháp luật về từng hợp đồng trong lĩnh vực thương mại còn được quy định trong LTM năm 2005 và các

1

Điều 24, Điều 27 LTM năm 2005

2

Điều 142, Điều 159 LTM năm 2005

3 Điều 128, Điều 129 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)

4 Các Điều 95, 96, 150, 155… LTM năm 2005

Trang 18

luật chuyên ngành Ngoài ra, các quy định điều chỉnh quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực thương mại còn được ghi nhận trong các điều ước quốc tế song phương và đa phương mà Việt Nam tham gia với tư cách thành viên Chẳng hạn như: Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA), Hiệp định chung về thương mại dịch

vụ của WTO (GATS), Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu

Âu (FTA), Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (CISG) v.v Những quy định trong các điều ước quốc tế trực tiếp hoặc gián tiếp điều chỉnh các quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói chung và hợp đồng thương mại quốc tế nói riêng

2 Áp dụng pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại

Hợp đồng trong lĩnh vực thương mại được điều chỉnh bằng pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Các quy phạm pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có thể thuộc nhiều nguồn luật khác nhau, trong đó cơ bản phải kể đến là các văn bản pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế, tập quán thương mại Vấn đề đặt ra ở đây là việc áp dụng các nguồn luật trên đối với hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói chung cũng như đối với từng hợp đồng cụ thể trong lĩnh vực thương mại

Ở Việt Nam, việc áp dụng pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại dựa trên các nguyên tắc được quy định trong BLDS năm 2015, LTM năm 2005 và các văn bản luật chuyên ngành Trong đó, quy định các nguyên tắc về áp dụng BLDS năm

2015, LTM năm 2005 và các luật chuyên ngành, áp dụng Điều ước quốc tế, tập quán thương mại, thói quen thương mại.1

1

Điều 4, 5 BLDS năm 2015; Điều 4, 5 LTM năm 2005; Điều 2 Luật Đường sắt năm 2017; Điều 2, 3 Luật Du lịch năm 2017; Điều 3, 4 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); Điều 2, 3 Bộ luật Hàng hải năm 2015; Điều 2 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010) v.v

Trang 19

- Áp dụng các văn bản luật quốc gia

Các văn bản pháp luật quốc gia là nguồn luật cơ bản và chủ yếu nhất điều chỉnh các quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Các văn bản pháp luật hiện hành về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại ở Việt Nam bao gồm BLDS năm 2015, LTM năm 2005, các luật chuyên ngành1

và các văn bản hướng dẫn thi hành các luật đó Theo các nguyên tắc áp dụng pháp luật được quy định trong các văn bản kể trên, khi kí kết và thực hiện hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, trước hết áp dụng văn bản pháp luật chuyên ngành, nếu trong văn bản pháp luật chuyên ngành không quy định thì áp dụng LTM năm 2005 và trong trường hợp LTM năm 2005 cũng như luật chuyên ngành đó không quy định thì áp dụng những quy định của BLDS về vấn đề đó Với phạm vi áp dụng của BLDS, các quy định về hợp đồng dân sự được áp dụng chung cho hợp đồng nói chung trong các lĩnh vực dân sự, lao động, thương mại và đầu tư kinh doanh Như vậy, BLDS là văn bản gốc điều chỉnh mọi quan hệ hợp đồng, trong đó có hợp đồng trong thương mại

Ví dụ: Khi kí kết và thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng hoá

đường sắt, văn bản đầu tiên được áp dụng đó là Luật Đường sắt, nhưng trong Luật Đường sắt lại không có quy định về chế tài,

do đó, phải áp dụng những quy định về chế tài trong thương mại theo LTM Tuy nhiên, LTM, Luật Đường sắt đều không có những nội dung liên quan đến hợp đồng vận chuyển vô hiệu thì văn bản được áp dụng ở đây sẽ là BLDS

Đối với các hợp đồng thương mại quốc tế, pháp luật quốc gia

có thể được áp dụng theo những điều kiện nhất định Thông thường pháp luật quốc gia được áp dụng trong các trường hợp sau: (i) Các bên trong hợp đồng thỏa thuận lựa chọn áp dụng;

1 Ví dụ: Luật Đường sắt năm 2017, Luật Du lịch năm 2017, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), Bộ luật Hàng hải năm 2015, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010) v.v

Trang 20

(ii) Điều ước quốc tế mà các quốc gia (có các chủ thể của hợp đồng mang quốc tịch của quốc gia đó) kí kết hoặc tham gia có quy định điều khoản về luật áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế là luật của một quốc gia nhất định; (iii) Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp chọn luật áp dụng (khi các bên không đạt được thỏa thuận về luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng) Trường hợp có hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh một quan hệ hợp đồng thương mại quốc tế, xung đột pháp luật sẽ nảy sinh và đòi hỏi phải được giải quyết Thực chất của việc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế là lựa chọn một hệ thống pháp luật để áp dụng cho quan hệ hợp đồng thương mại quốc tế Khi được chọn áp dụng, luật quốc gia được hiểu là toàn

bộ hệ thống pháp luật Nếu luật của Việt Nam được chọn áp dụng, thì toàn bộ các quy định có liên quan đến hợp đồng thương mại quốc tế sẽ được áp dụng.1

- Áp dụng Điều ước quốc tế

Trong lĩnh vực thương mại nói chung và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng, có rất nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương đã được thiết lập mà Việt Nam đã hoặc sẽ

là thành viên Trong đó phải kể đến các điều ước quan trọng như: Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của WTO (GATS), có hiệu lực từ ngày 01/01/1995; Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), kí ngày 02/02/2016; Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (FTA), kết thúc đàm phán tháng 02/2016; Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA), có hiệu lực từ ngày 10/12/2001; Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (CISG), có hiệu lực tại Việt Nam ngày 01/01/2017

1 Xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb Tư

pháp, Hà Nội, 2004, tr 27 - 73; tr 136 - 143

Trang 21

Việc áp dụng Điều ước quốc tế tại Việt Nam dựa trên các nguyên tắc quy định trong BLDS, LTM1 cũng như các luật chuyên ngành Khi áp dụng điều ước quốc tế đối với các hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, cần phân biệt hai trường hợp: (i) Đối với những điều ước quốc tế mà Việt Nam đã là thành viên, nếu điều ước có quy định khác với pháp luật Việt Nam, thì

áp dụng theo quy định của Điều ước quốc tế;2

(ii) Đối với những điều ước quốc tế mà Việt Nam chưa là thành viên, thì các bên trong hợp đồng trong lĩnh vực thương mại

có quyền thỏa thuận áp dụng những nội dung không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam

- Áp dụng tập quán thương mại

Tập quán thương mại là nguồn luật rất quan trọng điều chỉnh các quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, đặc biệt là trong thương mại quốc tế Theo LTM năm 2005, tập quán thương mại là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa

vụ của các bên trong hoạt động thương mại.3

Tập quán thương mại thường được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, khi các mối quan hệ này không được điều chỉnh bởi hợp đồng giữa các bên hoặc điều ước quốc tế và

luật pháp của các quốc gia

Hiện nay, trong quan hệ thương mại hàng hoá quốc tế, khi đề cập đến tập quán thương mại cần đặc biệt quan tâm đến Các điều kiện thương mại quốc tế, gọi tắt là Incoterms (International Commercial Terms),4 Quy tắc và thực hành thống nhất về tín

1

Khoản 4 Điều 4 BLDS năm 2015; khoản 1 Điều 5 LTM năm 2005

2 Khoản 1 Điều 5 LTM năm 2005

3 Khoản 4 Điều 3 LTM năm 2005

4 Bộ Incoterms đầu tiên được ICC ban hành vào năm 1936 dưới tên gọi Incoterms

Trang 22

dụng chứng từ (Uniform Customs and Practise for Documentary Credit - UCP) do Phòng Thương mại quốc tế (International Chamber of Commerce - ICC) tập hợp và phát hành 1

- Thói quen thương mại

Thói quen thương mại cũng là nguồn quy phạm điều chỉnh quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Theo LTM, thói quen trong hoạt động thương mại là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng được hình thành và lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài giữa các bên, được các bên mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại.2

III HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1 Khái quát chung về hoạt động thương mại điện tử

a) Khái niệm về hoạt động thương mại điện tử

Hoạt động thương mại điện tử là hoạt động thương mại được thực hiện thông qua phương tiện điện tử Khác với thương mại truyền thống là thương mại được thực hiện dựa trên các tài liệu bằng giấy (hợp đồng bằng văn bản giấy, chứng cứ bằng văn bản giấy), thương mại điện tử sử dụng các phương tiện điện tử để giao dịch và lưu trữ thông tin

Hoạt động thương mại điện tử trước tiên là hoạt động thương mại Thuật ngữ “thương mại” hiện nay được hiểu theo nghĩa

1936 Để phù hợp với thực tiễn thương mại thế giới, Incoterms đã được sửa đổi,

bổ sung vào các năm 1953, 1967, 1976, 1980, 1990 và lần gần đây nhất là vào cuối năm 1999, ICC đã cho ra đời bộ Incoterms 2000 Incoterms cung cấp một bộ quy tắc quốc tế giải thích những điều kiện thương mại thông dụng trong ngoại thương Incoterms chỉ điều chỉnh những vần đề về quyền và nghĩa vụ của các bên

kí kết hợp đồng liên quan đến việc giao hàng (với ý nghĩa là hàng hoá hữu hình) Incoterms 2000 Gồm 13 điều kiện là: EXW; FCA; FAS; FOB; CFR; CIF; CPT; CIP; DAF; DES; DEQ; DDU; DDP

1 Bản hiện hành là UCP 500 được ICC ban hành năm 1993

2 Khoản 3 Điều 3 LTM năm 2005

Trang 23

rộng, là các hoạt động phát sinh lợi nhuận từ khâu sản xuất đến tiêu dùng Hoạt động thương mại không chỉ dừng lại ở việc mua bán, trao đổi hàng hoá đơn thuần mà còn bao trùm các hoạt động liên quan như quảng cáo, chào hàng, đặt hàng, giao kết hợp đồng, phân phối, giao nhận sản phẩm, thanh toán v.v Đối tượng của thương mại không chỉ bó hẹp ở lĩnh vực hàng hoá mà còn mở rộng sang các lĩnh vực khác như dịch vụ, vốn (đầu tư), tài chính

Là hoạt động thương mại, thương mại điện tử hội tụ các đặc điểm cấu thành của thương mại truyền thống Giống như thương mại truyền thống, thương mại điện tử được tạo nên bởi ba dòng chảy: dòng thông tin (người sản xuất và người tiêu dùng trao đổi thông tin cho nhau để biết nhà cung cấp đang bán gì, người tiêu dùng muốn mua cái gì), dòng hàng hoá (sau khi trao đổi thông tin nhà cung cấp sẽ sử dụng nhiều phương thức khác nhau để giao hàng đã được yêu cầu cho khách hàng, từ đó tạo nên dòng hàng hoá) và dòng tiền tệ (sau khi đã nhận được sản phẩm mong muốn, khách hàng sẽ trả tiền)

Khác với thương mại truyền thống, ba dòng chảy này trong thương mại điện tử có những đặc trưng riêng Các dòng chảy này

được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử Ví dụ, đối với

dòng thông tin, thông qua việc sử dụng internet, các doanh nghiệp có thể kết nối với khách hàng ở khắp nơi, vào bất cứ lúc nào mà không cần phải tiến hành gặp gỡ trực tiếp Với dòng tiền

tệ, khách hàng có thể sử dụng séc điện tử, thẻ tài chính điện tử để trả tiền cho người bán, cho nhà sản xuất Dòng hàng hoá cũng có thể được giao nhận thông qua phương tiện điện tử như việc số hoá các bài hát, các quyển sách

Thương mại điện tử không đòi hỏi cả ba dòng chảy này đều phải được thực hiện thông qua phương tiện điện tử Mỗi giai đoạn cấu thành giao dịch thương mại điện tử đều có thể thực hiện bằng

phương tiện điện tử hoặc không Ví dụ, việc chào hàng, đặt hàng,

Trang 24

kí kết hợp đồng, thanh toán tiền hàng có thể được thực hiện bằng phương tiện điện tử, còn việc giao nhận hàng có thể được thực hiện theo hình thức thương mại truyền thống: giao nhận hàng hữu hình Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về thương mại điện

tử được đưa ra bởi nhiều thiết chế quốc tế về thương mại như Tổ chức thương mại thế giới WTO, Ủy ban về Luật thương mại của Liên hợp quốc UNCITRAL, Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh

tế OECD.1

Tuy nhiên, các cách hiểu đều thống nhất ở một điểm chung, theo đó, thương mại điện tử là việc thực hiện các giao dịch thương mại thông qua các phương tiện điện tử

Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kĩ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự.2

Các phương tiện điện tử được sử dụng trong thương mại điện tử rất đa dạng Một

số loại phương tiện điện tử được sử dụng phổ biến là: (i) Các loại phương tiện viễn thông như điện thoại, telex, fax; (ii) Phát thanh, truyền hình; (iii) Thiết bị kĩ thuật thanh toán điện tử; (iv) Hệ thống trao đổi dữ liệu và internet

Tuy nhiên, với sự phát triển và phổ cập của internet hiện nay, thương mại điện tử dường như được hiểu là việc thực hiện các giao dịch thương mại thông qua internet Chính vì vậy, mà thuật ngữ “thương mại điện tử” thường được thể hiện theo ngôn ngữ thông dụng của thế giới là “e-commerce” với “e” là biểu tượng của internet Trên thực tế, chính các hoạt động thương mại thông qua mạng internet đã làm phát sinh thuật ngữ “thương mại điện tử” Theo một số các chuyên gia, thương mại điện tử được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ gồm các hoạt động thương mại được tiến hành trên mạng máy tính mở như internet

Trang 25

Theo pháp luật Việt Nam, hoạt động thương mại điện tử là

việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác

b) Đặc điểm của hoạt động thương mại điện tử

Từ khái niệm trên đây, hoạt động thương mại điện tử có các đặc điểm sau:

- Về hình thức thực hiện: Các hoạt động thương mại điện tử

được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử có kết nối mạng viễn thông Trong hoạt động thương mại truyền thống, các giao dịch được tiến hành chủ yếu thông qua việc các bên gặp gỡ nhau trực tiếp để tiến hành đàm phán, giao dịch và đi đến ký kết hợp đồng trên văn bản, giấy tờ v.v

- Về phạm vi hoạt động: Thông qua các phương tiện điện tử,

hoạt động thương mại được thực hiện không phụ thuộc vào vị trí địa lí, thời gian Các chủ thể có thể tiến hành các hoạt động thương mại điện tử ở bất cứ nơi nào, tại bất kì thời điểm nào

- Về chủ thể tham gia: Nếu như trong thương mại truyền

thống, một giao dịch phải có ít nhất hai chủ thể tham gia bao gồm người mua và người bán, người cung cấp dịch vụ và người nhận dịch vụ Theo quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động thương mại điện tử, các chủ thể tham gia hoạt động thương mại điện tử bao gồm:

+ Các thương nhân, tổ chức, cá nhân tự thiết lập website thương mại điện tử để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ của mình (người sở hữu website thương mại điện tử bán hàng)

+ Các thương nhân, tổ chức thiết lập website thương mại điện

tử để cung cấp môi trường cho thương nhân, tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hoá hoặc

Trang 26

cung ứng dịch vụ (thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử)

+ Các thương nhân, tổ chức, cá nhân sử dụng website của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ của mình (người bán)

+ Các thương nhân, tổ chức, cá nhân mua hàng hoá hoặc dịch

vụ trên website thương mại điện tử bán hàng và website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử (khách hàng)

+ Các thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng kĩ thuật cho người sở hữu website thương mại điện tử bán hàng và cho thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử (thương nhân,

tổ chức cung cấp hạ tầng)

+ Các thương nhân, tổ chức, cá nhân sử dụng thiết bị điện tử

có nối mạng khác để tiến hành hoạt động thương mại

Ngoài ra, trong một số trường hợp, các giao dịch thương mại điện tử còn cần có thêm cả cơ quan, tổ chức hoặc thương nhân chứng thực Bởi các giao dịch thương mại điện tử thường phải đối mặt với các vấn đề an ninh, bảo mật Do vậy, các giao dịch thương mại điện tử cần phải có sự trợ giúp của các chủ thể có khả năng và thẩm quyền xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch thương mại điện tử

- Về thời gian thực hiện giao dịch: Nhờ việc sử dụng các

phương tiện điện tử với công nghệ hiện đại và công nghệ truyền dẫn không dây, các giao dịch thương mại điện tử được thực hiện không phụ thuộc vào thời gian Đây là một lợi thế quan trọng của hoạt động thương mại điện tử Lợi thế này giúp người tham gia giao dịch tiến hành tự động hóa một số bước trong giao dịch thương mại điện tử (như mua hàng trực tuyến qua website) và loại bỏ sự chênh lệch về thời gian giữa các quốc gia Do đó, dù ở

Trang 27

bất cứ nơi đâu, vào bất cứ thời điểm nào các cá nhân, doanh nghiệp cũng có thể tiến hành được các giao dịch thương mại điện tử

c) Phân loại hoạt động thương mại điện tử

Các hoạt động thương mại điện tử có thể được thực hiện thông qua nhiều phương tiện điện tử Dựa vào loại phương tiện điện tử được thực hiện, có thể phân hoạt động thương mại điện tử thành hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng internet, hoạt động thương mại điện tử có kết nối với mạng viễn thông di động, hoạt động thương mại điện tử có kết nối với các mạng mở khác

Hiện nay, với sự phát triển không ngừng của các trang mạng trên internet, đa phần các hoạt động thương mại được thực hiện thông qua các trang mạng được thiết lập dưới các hình thức sau:

- Website thương mại điện tử (dưới đây gọi tắt là website): Đây là trang thông tin điện tử được thiết lập để phục vụ một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động mua bán hàng hoá hay cung ứng dịch vụ, từ trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ đến giao kết hợp đồng, cung ứng dịch vụ, thanh toán và dịch vụ sau bán hàng

- Sàn giao dịch thương mại điện tử: Đây là một dạng website thương mại điện tử cho phép các thương nhân, tổ chức, cá nhân không phải chủ sở hữu website có thể tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình mua bán hàng hoá, dịch vụ trên đó

- Website khuyến mại trực tuyến: Đây cũng là một dạng website thương mại điện tử do thương nhân, tổ chức thiết lập để thực hiện khuyến mại cho hàng hoá, dịch vụ của thương nhân, tổ chức, cá nhân khác theo các điều khoản của hợp đồng dịch vụ khuyến mại

- Website đấu giá trực tuyến: Đây là website thương mại điện

tử cung cấp giải pháp cho phép thương nhân, tổ chức, cá nhân không phải chủ sở hữu website có thể tổ chức đấu giá cho hàng hoá của mình trên đó

Trang 28

Với các hình thức trên, về cơ bản, có thể phân hoạt động thương mại điện tử thành hoạt động thương mại được thực hiện trên website thương mại điện tử, hoạt động thương mại được thực hiện trên sàn giao dịch thương mại điện tử, hoạt động thương mại được thực hiện trên website khuyến mại trực tuyến, hoạt động thương mại được thực hiện trên website đấu giá trực tuyến Việc phân loại các hoạt động thương mại điện tử như trên có

ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm của các chủ thể khi tham gia vào từng loại hoạt động thương mại điện tử Mỗi loại hoạt động thương mại điện tử này có những đặc điểm riêng

về chủ thể tham gia hoạt động và về loại hoạt động thương mại

được thực hiện Ví dụ, đối với hoạt động thương mại điện tử trên

website thương mại điện tử, chủ thể thực hiện hoạt động thương mại cũng là chủ thể thiết lập website thương mại điện tử Còn đối với hoạt động thương mại trên sàn giao dịch thương mại điện tử, thì chủ thể thiết lập sàn giao dịch không phải là chủ thể trực tiếp tham gia và thực hiện giao dịch Đối với hoạt động trên website khuyến mại trực tuyến, hoạt động được thực hiện là hoạt động khuyến mại hàng hoá, dịch vụ cho các thương nhân, tổ chức, cá nhân có nhu cầu trên cơ sở của hợp đồng dịch vụ khuyến mại giữa các chủ thể này với thương nhân, tổ chức thiết lập website Còn đối với hoạt động trên website đấu giá trực tuyến thì hoạt động được thực hiện ở trên thông tin này là hoạt động đấu giá

d) Pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử

Thương mại điện tử phát triển và làm thay đổi cách thức kinh doanh, giao dịch truyền thống đồng thời đem lại những lợi ích to lớn cho xã hội Tuy nhiên, sự phát triển nhanh và mạnh của thương mại điện tử cũng kéo theo nhu cầu cấp thiết phải có một khung pháp lí cho các hoạt động giao dịch bằng phương tiện điện tử này Để thương mại điện tử thực sự là công cụ kinh doanh hiệu quả và an toàn, cần phải có các giải pháp không chỉ

Trang 29

về mặt kĩ thuật, mà còn cần có một cơ sở pháp lí đầy đủ của quốc gia cũng như quốc tế

- Pháp luật quốc tế

Hiểu được tầm quan trọng của thương mại điện tử, cũng như những tác động to lớn của nó đối với nền kinh tế thế giới và sự phát triển thương mại của mỗi quốc gia, ngay từ những năm 90 của thế kỉ XX, các thiết chế quốc tế về thương mại đã quan tâm

và soạn thảo khung pháp lí cho các giao dịch thương mại điện tử

Ở phạm vi toàn cầu, Ủy ban Luật thương mại của Liên hợp quốc (UNCITRAL) đã ban hành Đạo luật mẫu về thương mại điện tử nhằm xây dựng khung pháp lí thống nhất điều chỉnh những vấn

đề phát sinh từ thương mại điện tử Đây cũng là nỗ lực nhằm hài hoà pháp luật về thương mại điện tử của các quốc gia trên thế giới, đồng thời hướng dẫn các nước đưa ra được những đạo luật phù hợp với khả năng và thực tế kinh doanh của nước mình UNCITRAL đã ban hành và cho công bố Công ước của Liên hợp quốc về việc sử dụng giao dịch điện tử trong hợp đồng quốc tế (UN Convention on the use of electronic communication in international contracts).1 Việc ban hành Công ước này một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của thương mại điện tử trong thương mại quốc tế, đặc biệt là trong việc kí kết các hợp đồng quốc tế Bên cạnh đó, UNCITRAL cũng cho ra đời một loạt các văn bản cốt lõi của hệ thống luật quốc tế về thương mại điện

tử, trong đó có Luật mẫu về chữ kí điện tử năm 2001 Những văn bản này đã đặt nền tảng chuyên môn cho việc xây dựng một

hệ thống pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam và giúp Việt Nam hoà nhập và theo kịp các nước trong khu vực cũng như trên thế giới

1 Công ước này đã được kí kết chính thức vào ngày 06/7/2006 tại trụ sở của Liên hợp quốc với đại diện của 60 nước Việt Nam đã tham gia với tư cách quan sát viên

Trang 30

- Pháp luật quốc gia

Hệ thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động thương mại điện

tử của Việt Nam bao gồm: Luật Giao dịch điện tử năm 2005, quy định một cách khái quát các hoạt động giao dịch điện tử; Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 về thương mại điện tử (sau đây viết tắt là Nghị định số 52/2013/NĐ-CP); Nghị định số 08/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 sửa đổi, bổ sung một số nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lí của Bộ Công Thương; Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27/9/2018 quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử

về chữ kí số và dịch vụ chứng thực chữ kí số (sau đây viết tắt là Nghị định số 130/2018/NĐ-CP)

Nhìn chung, Việt Nam đã ban hành tương đối đầy đủ các quy định liên quan đến giao dịch điện tử Đối với những lĩnh vực chuyên ngành, có Nghị định số 165/2018/NĐ-CP ngày 24/12/2018

về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính; Nghị định số 35/2007/NĐ-CP ngày 08/3/2007 về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng Ngoài ra còn phải kể đến các văn bản của các

Bộ, ngành về áp dụng thương mại điện tử trong các hoạt động chuyên ngành khác

Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP

và các văn bản pháp luật được ban hành kèm theo, cùng với LTM năm 2005, BLDS năm 2015 đã tạo nên một hệ thống các văn bản pháp luật về thương mại điện tử có ý nghĩa quan trọng trong việc chính thức công nhận về mặt pháp lí hoạt động thương mại điện tử, khuyến khích thương mại điện tử phát triển, bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam

Nội dung chủ yếu của các văn bản pháp luật về thương mại điện tử của Việt Nam ghi nhận giá trị pháp lí của các hình thức thông tin điện tử, vấn đề pháp lí trong đảm bảo an toàn và độ tin

Trang 31

cậy cho các giao dịch thương mại điện tử, cơ chế xử lí vi phạm, tranh chấp trong thương mại điện tử Theo quy định của pháp luật Việt Nam, có rất nhiều giao dịch thương mại phải được thực hiện dưới hình thức văn bản, đặc biệt là đối với các hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Hiện nay, chúng ta chưa có một khái niệm cụ thể, rõ ràng về văn bản Theo cách hiểu truyền thống, văn bản được đồng nghĩa với giấy tờ (dưới hình thức viết) Trong khi đó, thương mại điện tử có đặc trưng là thương mại không giấy tờ Nếu các hình thức thông tin điện tử không được ghi nhận về mặt pháp

lí như là một hình thức của văn bản, hoặc có giá trị tương đương như văn bản, các giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện

tử, chủ yếu là các hợp đồng giao kết trên mạng internet, sẽ vô hiệu vì không đáp ứng được yêu cầu về mặt hình thức của hợp đồng Ngoài ra, việc kí kết hợp đồng thương mại bằng phương tiện điện tử cũng dẫn đến việc phải thừa nhận một hình thức thay thế cho chữ kí tay trong hợp đồng thương mại truyền thống Chính vì vậy, để thương mại điện tử được thừa nhận hợp pháp ở nước ta, phải công nhận giá trị pháp lí của các thông tin điện tử cũng như các giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử Các giao dịch này thường được thực hiện thông qua hình thức thư điện tử (email) hoặc bằng việc trao đổi dữ liệu điện tử (electronic data interchange - EDI) Các thông tin điện tử trong giao dịch thương mại điện tử có thể được thể hiện dưới hình thức như: (ii) thông điệp dữ liệu, (ii) chữ kí số; (iii) giao dịch điện tử

Do vậy, đây là những nội dung pháp lí cơ bản của pháp luật về thương mại điện tử

2 Hợp đồng thương mại điện tử

a) Khái niệm hợp đồng thương mại điện tử

Có thể hiểu một cách khái quát, hợp đồng thương mại điện tử

là hình thức thể hiện của các hoạt động thương mại điện tử Hợp đồng thương mại điện tử trước tiên là hợp đồng được xác lập

Trang 32

nhằm thực hiện các hoạt động thương mại điện tử Đây là hình thức có giá trị pháp lí của các hoạt động thương mại điện tử Luật mẫu của UNCITRAL về thương mại điện tử cũng như pháp luật của nhiều nước trên thế giới không đưa ra định nghĩa thế nào là hợp đồng thương mại điện tử và thường chỉ đưa ra quy định thừa nhận giá trị pháp lí của hợp đồng được xác lập thông qua các phương tiện điện tử Hợp đồng được xác lập thông qua phương tiện điện tử được hiểu tương đối thống nhất trong quy định của pháp luật các nước Đây là hợp đồng được kí kết thông qua việc sử dụng những phương tiện truyền các thông điệp dữ liệu Các hợp đồng này được gọi chung là hợp đồng điện tử Pháp luật Việt Nam có xác định khái niệm hợp đồng điện tử,

theo đó: “Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng

thông điệp dữ liệu theo quy định của Luật này” (Điều 33 Luật

Giao dịch điện tử năm 2005) Như vậy, có thể hiểu hợp đồng

thương mại điện tử là hợp đồng thương mại được thiết lập dưới

dạng thông điệp dữ liệu theo quy định của Luật Giao dịch điện

tử Thông qua các thông điệp dữ liệu được gửi và nhận giữa các

chủ thể, hợp đồng điện tử được thiết lập Phương tiện điện tử là một trong những cơ sở để phân biệt hợp đồng điện tử với hợp đồng thông thường Nếu như phương tiện thực hiện trong giao dịch truyền thống chủ yếu được thực hiện thông qua lời nói, hành

vi hay văn bản giấy tờ thì phương tiện thực hiện trong giao dịch điện tử là những phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kĩ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự

b) Đặc điểm của hợp đồng thương mại điện tử

Hợp đồng thương mại điện tử trước hết có những đặc điểm cơ bản của hợp đồng thương mại Xét về bản chất, hợp đồng thương mại điện tử có những thuộc tính của hợp đồng thương mại truyền

Trang 33

thống Tuy nhiên, do được xác lập thông qua các phương tiện điện tử, nên hợp đồng thương mại điện tử có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng thương mại điện tử

Căn cứ vào quy định tại LTM, chủ thể của hợp đồng thương mại phải có ít nhất một bên là thương nhân Do vậy, chủ thể của hợp đồng thương mại điện tử cũng phải đáp ứng yêu cầu này Là một bên của hợp đồng thương mại điện tử, thương nhân có thể trực tiếp giao kết hợp đồng với khách hàng thông qua website thương mại điện tử do mình tự thiết lập hoặc cũng có thể thông qua sàn giao dịch thương mại điện tử hoặc website thương mại điện tử hoặc website đấu giá trực tuyến do các thương nhân, tổ chức, cá nhân khác thiết lập để giao kết hợp đồng Khách hàng có thể là thương nhân, cũng có thể là các tổ chức, cá nhân chấp nhận giao kết hợp đồng với thương nhân trên cơ sở các thông tin đã được công khai trên các trang thông tin điện tử

Khi đối tượng của hợp đồng là hàng hoá, dịch vụ kinh doanh

có điều kiện, các chủ thể của hợp đồng cũng phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh này Trường hợp pháp luật yêu cầu phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh đối với hàng hoá, dịch

vụ đó, thương nhân bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ phải cung cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh đó cho thương nhân chủ website thương mại điện tử Trường hợp thương nhân bán hàng cũng là chủ website thương mại điện tử, thì phải công

bố trên website của mình số, ngày cấp, nơi cấp giấy chứng nhận

đủ điều kiện kinh doanh

Khác với các hợp đồng thương mại truyền thống, việc xác định các chủ thể của hợp đồng hay còn gọi là các bên của hợp đồng thương mại điện tử gặp không ít khó khăn trong một số trường hợp Các bên của hợp đồng thường hay bị nhầm lẫn với các chủ thể khác tham gia hoạt động thương mại điện tử, đặc biệt khi các chủ thể này là các thương nhân, tổ chức thiết lập website

Trang 34

thương mại điện tử để cung cấp môi trường điện tử cho thương nhân, tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động xúc tiến thương

mại, bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ Ví dụ, trên các website

thương mại điện tử nhommua, cucre,… thường có sự nhầm lẫn giữa thương nhân là chủ sở hữu của website với thương nhân có hàng hoá, dịch vụ bán, cung ứng được đưa lên website

Do vậy, trong hợp đồng thương mại điện tử, cần phân biệt chủ thể của hợp đồng với chủ thể cung cấp dịch vụ thương mại điện tử,

dù trong một số trường hợp các chủ thể này có thể là một (trường hợp hoạt động thương mại trên website thương mại điện tử) Việc xác định chủ thể của hợp đồng được giao kết trên các phương tiện điện tử hết sức quan trọng, bởi khi xác định được đúng các chủ thể của hợp đồng mới xác định được rõ trách nhiệm của các chủ thể Trong trường hợp, chủ website thương mại điện tử không phân định rõ trách nhiệm của mình với chủ thể của hợp đồng, chủ website thương mại điện tử sẽ phải liên đới chịu trách nhiệm với chủ thể của hợp đồng Chủ website thương mại điện tử phải chịu trách nhiệm về các thông tin của thương nhân, tổ chức, cá nhân là người bán trên website thương mại điện tử của mình Đây là nghĩa

vụ của chủ thể cung cấp dịch vụ thương mại điện tử Do vậy, các chủ thể này có quyền yêu cầu các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng trên các website thương mại điện tử của mình phải cung cấp đầy đủ chính xác thông tin và có cơ chế giám sát, kiểm tra về tính chính xác, đầy đủ của các thông tin do các chủ thể đó cung cấp Với quy định nêu trên, trong một số trường hợp, các chủ thể cung cấp dịch vụ thương mại điện tử có thể chịu trách nhiệm khi

có tranh chấp phát sinh Cụ thể, các chủ thể cung cấp dịch vụ thương mại điện tử phải trực tiếp chịu trách nhiệm tiếp nhận, xử

lí khiếu nại của khách hàng và giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp đồng được giao kết trên website của mình, nếu không công bố rõ thông tin về giới hạn trách nhiệm của mình, cũng như

Trang 35

quy trình tiếp nhận và trách nhiệm xử lí khiếu nại của khách hàng

và cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng được giao kết trên website thương mại điện tử do mình thiết lập Quy định này tạo nên đặc thù về chủ thể hợp đồng thương mại điện tử Pháp luật về hoạt động thương mại điện tử yêu cầu trách nhiệm cụ thể về thông tin đối với từng loại chủ thể (chủ thể cung cấp dịch vụ thương mại điện tử và chủ thể của hợp đồng), khi tham gia vào từng loại hoạt động thương mại điện tử Tuy nhiên,

dù tham gia vào loại hoạt động thương mại điện tử nào thì các chủ thể cung cấp dịch vụ thương mại điện tử và các chủ thể của hợp đồng phải cung cấp đầy đủ thông tin về chủ sở hữu website,

về hàng hoá, dịch vụ và các điều khoản của hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu trên website Các thông tin này phải đáp ứng các yêu cầu như: (i) Rõ ràng, chính xác, dễ hiểu; (ii) Được sắp xếp tại các mục tương ứng trên website và có thể truy cập bằng phương pháp trực tuyến; (iii) Có khả năng lưu trữ

và hiển thị được về sau; (iv) Được hiển thị rõ đối với khách hàng trước thời điểm khách hàng gửi đề nghị giao kết hợp đồng

Thứ hai, về giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Quy trình giao kết hợp đồng thương mại điện tử cũng có một

số đặc thù so với quy trình giao kết hợp đồng thương mại thông thường Theo quy định của pháp luật chung về giao kết hợp đồng, hợp đồng được hình thành trên cơ sở một bên đưa ra đề nghị giao kết và một bên chấp nhận đề nghị giao kết Đối với hợp đồng thương mại điện tử, quy trình này có thể được tiến hành một phần hoặc toàn bộ bằng phương tiện điện tử, thông qua các thông điệp

dữ liệu Chính vì vậy, các quy định liên quan đến việc xác định

đề nghị giao kết, xác định chấp nhận đề nghị giao kết, thời điểm

có hiệu lực của đề nghị giao kết, của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và thời điểm hình thành hợp đồng có một số điểm khác

biệt so với quy định của pháp luật chung

Trang 36

Pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử có quy định điều chỉnh quy trình giao kết hợp đồng thương mại điện tử nói chung

và quy trình giao kết hợp đồng có sử dụng chức năng đặt hàng

trực tuyến trên website thương mại điện tử nói riêng

- Đối với quy trình giao kết hợp đồng thương mại điện tử nói chung

Pháp luật công nhận giá trị pháp lí như bản gốc của các chứng từ điện tử trong giao dịch thương mại khi đáp ứng một số điều kiện nhất định Các chứng từ điện tử trong giao dịch thương mại (gọi tắt là chứng từ điện tử) là thuật ngữ được sử dụng để áp dụng chung cho các hợp đồng, đề nghị, thông báo, xác nhận hoặc các tài liệu khác ở dạng thông điệp dữ liệu do các bên đưa ra liên quan đến việc giao kết hay thực hiện hợp đồng Để được công nhận giá trị pháp lí như bản gốc, các chứng từ điện tử cần phải

đáp ứng cả hai điều kiện sau:

+ Bảo đảm đủ tin cậy về tính toàn vẹn của thông tin chứa trong chứng từ điện tử từ thời điểm thông tin được khởi tạo lần đầu tiên dưới dạng chứng từ điện tử Tiêu chí để đánh giá tính vẹn toàn của thông tin chứa trong chứng từ điện tử là thông tin còn đầy đủ và chưa bị thay đổi, ngoài những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình trao đổi, lưu trữ và hiển thị chứng

từ điện tử Tính bảo đảm đủ tin cậy được xác định khi một trong những biện pháp sau được áp dụng trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên trao đổi và sử dụng chứng từ điện tử: (1) Kí chứng từ điện tử bằng chữ kí số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ kí số hợp pháp cấp; (2) Lưu trữ chứng từ điện tử tại hệ thống của một

tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử đã được cấp phép mà các bên thỏa thuận lựa chọn; (3) Có sự bảo đảm từ phía thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng cho việc khởi tạo, gửi và lưu trữ chứng từ điện tử về tính toàn vẹn của thông tin chứa trong chứng từ điện tử trong quá trình gửi và lưu trữ trên hệ thống; (4) Biện pháp khác mà các bên thống nhất lựa chọn

Trang 37

+ Bảo đảm khả năng truy cập và sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết Đây là yêu cầu đặt ra cho các thông điệp

dữ liệu nói chung khi muốn được công nhận là có giá trị pháp lí như bản gốc

Một đề nghị hay chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng được coi là gửi đi dưới dạng thông điệp dữ liệu khi thông điệp dữ liệu

đó rời khỏi hệ thống thông tin dưới sự kiểm soát của người khởi tạo hay đại diện của người khởi tạo Trong trường hợp chứng từ điện tử đó không rời hệ thống thông tin dưới sự kiểm soát của người khởi tạo hay đại diện của người khởi tạo thì thời điểm gửi

là thời điểm nhận được chứng từ điện tử đó Trường hợp các bên không có thỏa thuận khác, thời điểm nhận một chứng từ điện tử

là thời điểm chứng từ điện tử đó tới được địa chỉ điện tử do người nhận chỉ ra và có thể truy cập được Để đảm bảo bên kia nhận được chứng từ điện tử do mình gửi, bên gửi có quyền yêu cầu hoặc thỏa thuận với bên nhận về việc bên nhận phải gửi thông báo xác nhận khi nhận được chứng từ điện tử và ấn định một khoảng thời gian hợp lí để bên nhận gửi xác nhận Trong trường hợp này, chứng từ điện tử chỉ được coi là có giá trị pháp lí khi bên nhận thông báo cho bên gửi và có sự xác nhận về việc đã nhận được chứng từ điện tử đó

Các quy định này được áp dụng đối với những hợp đồng được xác lập qua thư điện tử và những hình thức điện tử khác như chat, fax,…

Quy định của pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử cũng thống nhất với quy định của pháp luật chung về các điều kiện cần phải đáp ứng để được coi là đề nghị giao kết hợp đồng Cụ thể, một thông báo bằng chứng từ điện tử về đề nghị giao kết hợp đồng mà không có bên nhận cụ thể thì chỉ là thông báo mời đề nghị giao kết hợp đồng, chứ không được coi là đề nghị giao kết hợp đồng, trừ khi bên thông báo chỉ rõ tại thông báo đó trách nhiệm của mình trong trường hợp nhận được trả lời chấp nhận

Trang 38

Với đặc thù của việc giao kết hợp đồng thông qua phương tiện điện tử, các chủ thể khó có thể thay đổi hay rút lại đề nghị giao kết hợp đồng cũng như chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng như giao kết hợp đồng bằng các phương tiện thông thường Do vậy, pháp luật không có quy định về các trường hợp này trong giao kết hợp đồng thương mại điện tử

- Đối với quy trình giao kết hợp đồng thương mại điện tử có

sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến

Pháp luật có quy định đặc thù về trường hợp giao kết hợp đồng có sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến trên website thương mại điện tử Các thông tin giới thiệu về hàng hoá, dịch vụ

và các điều khoản liên quan chỉ được coi là thông báo mời đề nghị giao kết hợp đồng của thương nhân Nếu một website thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến cho từng hàng hoá, dịch vụ cụ thể được giới thiệu trên website đó, thì các thông tin giới thiệu về hàng hoá, dịch vụ và các điều khoản có liên quan được xem là thông báo về đề nghị giao kết hợp đồng của thương nhân sở hữu hàng hoá, dịch vụ đó Chỉ chứng từ điện

tử do khách hàng khởi tạo và gửi đi bằng cách sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến mới được coi là đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng đối với hàng hoá hoặc dịch vụ gắn kèm chức năng đặt hàng trực tuyến đó

Dù không có quy định liên quan đến sửa đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng, nhưng pháp luật yêu cầu website thương mại điện tử phải có cơ chế cho phép khách hàng rà soát, bổ sung, sửa đổi và xác nhận nội dung giao dịch trước khi sử dụng chức năng trực tuyến để gửi đề nghị giao kết hợp đồng Cơ chế rà soát và xác nhận này phải đáp ứng các điều kiện sau:

+ Hiển thị cho khách hàng những thông tin sau: Tên hàng hoá hoặc dịch vụ, số lượng và chủng loại; phương thức và thời hạn giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ; tổng giá trị của hợp đồng và các

Trang 39

chi tiết liên quan đến phương thức thanh toán được khách hàng lựa chọn Những thông tin này phải có khả năng lưu trữ, in ấn được trên hệ thống thông tin của khách hàng và hiển thị được về sau + Hiển thị cho khách hàng những thông tin về cách thức trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và thời hạn trả lời đề nghị giao kết hợp đồng

+ Cho phép khách hàng sau khi rà soát những thông tin nói trên được lựa chọn hủy giao dịch hoặc xác nhận việc đề nghị giao kết hợp đồng

Trường hợp có lỗi nhập thông tin trong một chứng từ điện tử được sử dụng để trao đổi với hệ thống thông tin tự động của bên khác, nhưng hệ thống tự động này không hỗ trợ cho người đó sửa lỗi thì người đó hoặc thương nhân, tổ chức, cá nhân mà người đó đại diện có quyền rút bỏ phần chứng từ điện tử có lỗi, nếu đáp ứng hai điều kiện sau:

+ Ngay khi biết có lỗi, người đó hoặc thương nhân, tổ chức,

cá nhân mà người đó đại diện thông báo cho bên kia về lỗi và nêu

rõ đã mắc phải lỗi trong chứng từ điện tử này

+ Người đó hoặc thương nhân, tổ chức, cá nhân mà người đó đại diện vẫn chưa sử dụng hoặc có được bất kì lợi ích vật chất hay giá trị nào từ hàng hoá, dịch vụ nhận được từ bên kia

Trường hợp thương nhân bán hàng có công bố thời hạn trả lời

đề nghị giao kết hợp đồng, nếu hết thời hạn này mà khách hàng vẫn không nhận được trả lời thì đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng chấm dứt hiệu lực Việc trả lời chấp nhập sau thời hạn này được coi là một đề nghị giao kết hợp đồng khác từ phía thương nhân bán hàng

Trường hợp thương nhân bán hàng không công bố thời hạn trả lời đề nghị giao kết hợp đồng, nếu trong khoảng thời gian nhất định kể từ khi gửi đề nghị giao kết hợp đồng, khách hàng không

Trang 40

nhận được trả lời đề nghị giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng được coi là chấm dứt hiệu lực.1

Việc trả lời chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải được thể hiện dưới hình thức phù hợp để thông tin

có thể lưu trữ, in và hiển thị được tại hệ thống thông tin của khách hàng Khi trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng, thương nhân phải cung cấp các thông tin như: Danh sách toàn bộ hàng hoá hoặc dịch vụ mà khách hàng đặt mua, số lượng và giá của từng sản phẩm và tổng giá trị của hợp đồng; thời hạn giao hàng và cung ứng dịch vụ; thông tin liên hệ để khách hàng có thể hỏi về tình trạng thực hiện hợp đồng khi cần thiết Thời điểm giao kết hợp đồng khi sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến trên website thương mại điện tử là thời điểm khách hàng nhận được trả lời của thương nhân bán hàng chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Đó là thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận đề nghị giao kết Cụ thể, đối với hợp đồng được giao kết khi sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến trên website thương mại điện tử, thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm khách hàng nhận được trả lời của thương nhân, tổ chức, cá nhân bán hàng chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Thứ ba, về hiệu lực của hợp đồng thương mại điện tử

Hợp đồng thương mại điện tử được giao kết và phát sinh hiệu lực tuân theo quy định của pháp luật chung về hợp đồng Tại thời điểm chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phát sinh hiệu lực, hợp đồng sẽ hình thành Hợp đồng phát sinh hiệu lực tại thời điểm hợp đồng được giao kết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác

1 Điều 20 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 về thương mại điện tử quy định thời gian này là trong vòng 12 giờ (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 08/2018/NĐ-CP)

Ngày đăng: 02/08/2020, 13:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Vũ Thị Lan Anh, “Pháp luật hợp đồng Hoa Kỳ và những điểm khác biệt cơ bản so với pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 12/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật hợp đồng Hoa Kỳ và những điểm khác biệt cơ bản so với pháp luật Việt Nam”, "Tạp chí Luật học
2. Trần Thị Bảo Ánh, Pháp luật về mua bán doanh nghiệp, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về mua bán doanh nghiệp
3. TS. Nguyễn Thị Dung (chủ biên), Pháp luật về hợp đồng trong thương mại và đầu tư - Những vấn đề pháp lí cơ bản, sách chuyên khảo, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về hợp đồng trong thương mại và đầu tư - Những vấn đề pháp lí cơ bản
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
4. TS. Nguyễn Thị Dung (chủ biên), Kiến thức pháp lí và kĩ năng cơ bản trong đàm phán, soạn thảo và kí kết hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, sách chuyên khảo, Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức pháp lí và kĩ năng cơ bản trong đàm phán, soạn thảo và kí kết hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Nhà XB: Nxb. Chính trị - Hành chính
5. Đặng Đình Đào và Hoàng Đức Thân, Kinh tế thương mại, Trung tâm thông tin thương mại, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thương mại
6. PGS.TS. Lê Hồng Hạnh: “Khái niệm thương mại trong pháp luật Việt Nam và những bất cập dưới góc độ thực tiễn áp dụng và chính sách hội nhập”, Tạp chí Luật học, số 2/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm thương mại trong pháp luật Việt Nam và những bất cập dưới góc độ thực tiễn áp dụng và chính sách hội nhập”, "Tạp chí Luật học
8. Học viện Tư pháp, Kĩ năng giải quyết các vụ án kinh tế, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng giải quyết các vụ án kinh tế
Nhà XB: Nxb. Thống kê
9. TS. Phan Chí Hiếu, Tranh chấp hợp đồng và các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng, Tập bài giảng, Trường Đại học Luật Hà Nội, Dự án ADB-TA N0 2853-VIE, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh chấp hợp đồng và các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng
10. Đinh Thị Mai Phương, Thống nhất luật hợp đồng ở Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống nhất luật hợp đồng ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
11. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Cẩm nang hợp đồng thương mại, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang hợp đồng thương mại
12. Phạm Duy Nghĩa, Chuyên khảo luật kinh tế, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên khảo luật kinh tế
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội
13. TS. Phạm Ngọc Thúy (chủ biên), Thương mại điện tử dành cho doanh nghiệp, Nxb. Lao động Xã hội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại điện tử dành cho doanh nghiệp
Nhà XB: Nxb. Lao động Xã hội
14. Đỗ Đình Toàn, Lí thuyết quản trị kinh doanh, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí thuyết quản trị kinh doanh
Nhà XB: Nxb. Thống kê
15. GS.TS. Hồ Văn Tĩnh, “Thương mại dịch vụ - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn”, Tạp chí Cộng sản, số 108/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại dịch vụ - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn”, "Tạp chí Cộng sản
16. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tư pháp quốc tế
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
17. Trường Đại học Luật Hà Nội, Trọng tài kinh tế - một hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta, Đề tài khoa học cấp Trường, mã số: LH 95-008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trọng tài kinh tế - một hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta
18. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lí luận nhà nước và pháp luật (tái bản lần 6), chủ biên: GS.TS. Lê Minh Tâm, PGS.TS. Nguyễn Minh Đoan, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lí luận nhà nước và pháp luật
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
19. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam, Nxb. Tư pháp, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
21. Trường Đại học Thương mại, Giáo trình Kĩ thuật thương mại quốc tế, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kĩ thuật thương mại quốc tế
Nhà XB: Nxb. Thống kê
22. Lê Tài Triển, “Những hành vi thương mại thuần tuý”, Luật Thương mại Việt Nam dẫn giải, quyển 1, Kim lai ấn quán, Sài Gòn, 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những hành vi thương mại thuần tuý”, "Luật Thương mại Việt Nam dẫn giải

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm