Thế nhưng do sự khai thác và sử dụng quá mức những nguồn tài nguyên mà thiên nhiên, cùng với sự phát triển và tham vọng của loài người, một loạt những hiện tượng thiên tai xảy ra như mưa
Trang 1PHÚ QUÝ - -
BÁO CÁO TỔNG KẾT
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN
ĐA DẠNG SINH HỌC Ở HẠ LƯU SÔNG THU BỒN
TỈNH QUẢNG NAM
Chủ trì thực hiện: PGS.TS Võ Văn Phú
Đơn vị tư vấn: Công ty Cổ phần DV KHCN Phú Quý
Thời gian thực hiện: 12 tháng (từ 09/2011 đến 9/2012)
Huế, 09/2012
Trang 22
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề án
Trái Đất là hành tinh duy nhất trong hệ Mặt Trời có hiện diện sự sống Thiên nhiên
đã ban tặng cho con người những ngọn núi hùng vĩ, những dòng sông êm ả, và những cánh rừng bát ngát, một hệ động thực vật vô cùng phong phú và đa dạng phải trải qua một quá trình tiến hóa hàng tỷ năm, tất cả tạo nên một hành tinh xanh Thế nhưng do sự khai thác và sử dụng quá mức những nguồn tài nguyên mà thiên nhiên, cùng với sự phát triển và tham vọng của loài người, một loạt những hiện tượng thiên tai xảy ra như mưa acid, bão lũ, sa mạc hóa, cháy rừng, hạn hán và các hiện tượng thời tiết cực đoan khác là tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu Ngôi nhà chung của mọi loài sinh vật đang bị đe doạ mà trách nhiệm phục hồi nó thuộc về con người chúng ta Những nỗ lực ngăn chặn các khí thải nhà kính, hạn chế khai thác các nguồn tài nguyên không tái tạo, sử dụng những nhiên liệu không gây ô nhiễm môi trường là vấn đề cấp bách của hoạt động phát triển Tại các Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp Quốc về biến đổi khí hậu, các nước tham gia đã cùng nhau bàn bạc về vấn đề biến đổi khí hậu và đã cho thấy sự quyết tâm của chúng ta trong việc khắc phục hậu quả Song bên cạnh đó, đây không chỉ là vấn đề của những nhà lãnh đạo các cấp mà ngay cả một công dân bình thường cũng phải góp phần vào việc bảo vệ Trái đất, bảo vệ ngôi nhà chung bằng những hành động đơn giản dễ làm như tiết kiệm điện, tham gia trồng cây xanh, tự tìm hiểu và nâng cao nhận thức của mình trong thời đại “Biến đổi khí hậu toàn cầu”
Việt Nam được Quốc tế công nhận là một trong 10 trung tâm ĐDSH cao nhất trên Thế giới Với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rạn san hô, tạo nên môi trường sống cho 3.498 loài cá, 296 loài bò sát, 162 loài lưỡng cư, 1.009 loài chim, 310 loài thú hoang
dã, 7.750 loài côn trùng, 7.894 loài động vật không xương sống thủy sinh, 1.973 loài tảo,
687 loài rong, gần 12.000 loài thực vật (Hiện trạng môi trường Việt Nam - Chuyên đề ĐDSH, 2005) Tuy nhiên, Việt Nam là một trong 5 quốc gia trên thế giới chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu và 1 trong 10 vùng báo động đỏ về điểm nóng của ĐDSH Với những điều kiện thời tiết khắc nghiệt khi khí hậu biến đổi sẽ làm cho các loài có khả năng bị giảm cả về thành phần loài, số lượng cá thể và suy thóai tài nguyên Các hệ sinh thái sẽ chịu tác động mạnh, nhất là các vùng đất ngập nước; nhiều loài có vú
và các loài chim sẽ bị giảm do điều kiện sinh sống không thích hợp, nguồn dinh dưỡng bị giảm Bảo vệ tính đa dạng sinh học chính là bảo vệ nguồn gen mà thiên nhiên đã ban tặng cho Trái đất này, cũng chính là để duy trì các nguồn tài nguyên ĐDSH trong tiến trình phát triển bền vững kinh tế - xã hội ở từng hệ sinh thái, từng vùng và từng khu vực
Trang 33
Quảng Nam, là một trong những tỉnh thành thuộc vùng Duyên hải Nam Trung bộ,
là tỉnh nằm trong vùng đa dạng sinh học cao của Trung Trường Sơn và của Tiểu vùng Mekong Rừng chiếm 2/3 diện tích tự nhiên của tỉnh Chiều dài bờ biển trên 125 km, có nhiều hệ sinh thái đặc trưng đang ẩn chứa nhiều loài sinh vật đặc hữu quý hiếm nhưng rất nhạy cảm với những tác động của môi trường Đa số người dân của tỉnh có đời sống, sinh kế lệ thuộc vào các hệ sinh thái này bằng các nghề truyền thống
Sông Thu Bồn là sông lớn của khu vực Trung và Nam Trung Bộ, với hệ thống các nhánh sông nhỏ ở hạ lưu và chảy ra biển ở Cửa Đại (Hội An) Sông có độ dốc lớn, hàng năm thường xuyên có lũ xuất hiện, gây ngập lụt và xói lở ở nhiều nơi Lưu lượng khá lớn, với dòng chảy trung bình vào mùa mưa có thể đến 850 m3
/giây Do vậy phần hạ lưu của sông đã tạo nên khu vực đất ngập nước rộng lớn, quan trọng và đáng chú ý nhất là khu vực xã Cẩm Thanh, Cẩm Kim và vùng lân cận với hơn 500 hecta diện tích mặt nước Các nhánh sông Ba Chươm, sông Cổ Cò, sông Đình, sông Đò nối với sông Thu Bồn đã tạo ra đa dạng các cồn gò như Thuận Tình, cồn Tiến, cồn Ba xã, gò Hí, gò Già…, với các
hệ sinh thái (HST) điển hình vùng nhiệt đới như rừng ngập mặn và thảm cỏ biển
Những năm gần đây , cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội diễn ra nhanh chóng ở địa phương như: Du lịch – dịch vụ, giao thông vận tải, nuôi trồng thủy sản, phát triển các khu dân cư, xây dựng cơ sở hạ tầng, cầu cảng và các khu công nghiệp
và sự biến đổi khí hậu đã gây những tác động làm suy thoái hê ̣ sinh thái hạ lưu sông Thu Bồn - Cửa Đại Vì thế công tác nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến tính ĐDSH và đề xuất các giải pháp giảm nhẹ, ứng phó là hết sức cần thiết trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế xã hội ở hạ lưu sông Thu Bồn
2 Cơ sở pháp lý của đề án
- Luật đa dạng sinh học được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009
- Quyết định 79/2007/QĐ-TTg ngày 31/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
“Kế hoa ̣ch hành đô ̣ng ĐDSH quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiê ̣n Công ước ĐDSH và Nghi ̣ định thư Cartagena về an toàn sinh ho ̣c”
- Quyết định số 73/QĐ-UBND ngày 10/01/2012 của UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt Dự án Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến đa dạng sinh học thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2015
- Quyết định số 4043 /QĐ-UBND ngày 09/12/2011 về việc phê duyệt Danh mục các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2015
Trang 43.2 Nội dung
- Tập hợp các số liệu, kế thừa có chọn lọc những kết quả đã được điều tra, đánh giá
về điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa, biến động môi trường và đa dạng sinh học ở hạ lưu sông Thu Bồn và vùng phụ cận từ trước đến nay
- Điều tra, khảo sát, tổng hợp số liệu về biến trình điều kiện khí tượng thủy văn: tổng lượng mưa, nhiệt độ và các hiện tượng thời tiết, đặc biệt là những biến động về thời tiết: bão, áp thấp nhiệt đới và nước biển dâng trong 10 năm qua (2001 - 2011) trên địa bàn nghiên cứu
- Đánh giá những tác động bởi thời tiết cực đoan trong thời gian qua đến phát triển
Đa dạng sinh học
- Đưa ra những giả định Biến đổi khí hậu (như kịch bản) cho thời gian tới
- Điều tra Đa dạng sinh học
+ Thực vật ngập mặn và thực vật có hoa thủy sinh
+ Động vật không xương sống thủy sinh
+ Thành phần các loài Cá
- Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu
+ Đánh giá tác động biến đổi khí hậu đến đa dạng sinh học, tài nguyên sinh học và môi trường sống của chúng
+ Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến các lĩnh vực sản xuất liên quan đến
hệ sinh thái hạ lưu sông Thu Bồn (nuôi trồng và khai thác thủy sản)
- Các giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị ĐDSH và phát triển KT-XH thích ứng với các tác động của BĐKH
- Xây dựng kế hoạch quản lý tổng hợp hạ lưu sông Thu Bồn theo hướng ứng phó với biến đổi khí hậu
Trang 55
PHẦN I TỔNG QUAN
Chương 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRÊN THẾ GIỚI
Trong mấy thập kỷ qua, nhân loại đã và đang chịu sự tác động từ các biến động bất thường của khí hậu toàn cầu Trên bề mặt Trái đất, khí quyển và thủy quyển không ngừng nóng lên làm xáo động môi trường sinh thái, đã và đang gây ra nhiều hệ lụy với đời sống loài người Nguyên nhân chính là do các hiện tượng biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu đang xảy ra đối với hành tinh chúng ta
Các công trình nghiên cứu có quy mô toàn cầu về hiện tượng này đã được các nhà khoa học ở những trung tâm nổi tiếng trên thế giới tiến hành từ đầu thập kỷ 90 thế kỷ
XX Năm 1990, các nghiên cứu về biến đổi khí hậu của IPCC được công bố, bao gồm hiện tượng nóng lên toàn cầu, khí nhà kính, hiệu ứng nhà kính, nước biển dâng, các tác nhân khí hậu, lịch sử thay đổi của khí hậu Trái Đất và trở thành một cơ sở khoa học khi nghiên cứu về vấn đề này Dựa trên việc mở rộng, cải thiện khối lượng lớn dữ liệu quan trắc và phân tích có độ tin cậy cao, IPCC đã đưa ra những bằng chứng mạnh mẽ rằng hiện tượng nóng lên toàn cầu quan trắc thấy trong 50 năm qua là do các hoạt động của con người
Lý thuyết về hiệu ứng nhà kính ra đời và Tổ chức Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu của Liên Hiệp quốc (IPCC) đã được thành lập Qua Chương trình Môi trường Liên Hiệp quốc và Tổ chức Khí tượng thế giới đã thu hút sự tham gia của hàng ngàn nhà khoa học quốc tế
Hội nghị Thượng đỉnh (Thủ lĩnh các Quốc gia) do Liên hiệp quốc triệu tập tại Rio de
Janeiro năm 1992 đã thông qua Hiệp định khung và Chương trình hành động quốc tế nhằm
cứu vãn tình trạng “xấu đi” nhanh chóng của bầu khí quyển Trái đất, vốn được coi là
nguyên nhân chủ yếu của sự gia tăng hiểm họa Tại Hội nghị Kyoto năm 1997, Nghị định thư Kyoto đã được thông qua và đầu tháng 2/2005 đã được nguyên thủ của 165 quốc
gia phê chuẩn Nghị định thư này bắt đầu có hiệu lực từ 10/2/2005 Việt Nam đã phê chuẩn Nghị định thư Kyoto ngày 25/9/2005 Mới đây, hội nghị lần thứ 12 của 159 nước tham gia hiệp định khung về khí hậu, phiên họp thứ 2 của các bên tham gia Nghị định thư Kyoto đã được Liên hiệp quốc tổ chức tại Nairobi, thủ đô Kenya
Vào những năm 1998 – 2003, Subbiah và cs, thuộc trung tâm sẵn sàng ứng phó với thiên tai Châu Á (ADPC) đã nghiên cứu và ứng dụng một hệ thống thông tin về khí hậu
để giảm thiểu các rủi ro thiên tai Hệ thống thông tin này bao gồm một chương trình liên tục của các hệ dự báo, sự phổ biến, sự áp dụng và đánh giá kết quả Nhờ hệ thống này mà người dân có thể chuyển đổi cơ cấu cây trồng và thay đổi mùa vụ cho phù hợp với điều kiện biến đổi của thời tiết, khí hậu [57]
Trang 66
Ramamasy và Bass (2007) đã nghiên cứu và xuất bản cuốn sách: “Biến đổi khí hậu
và sự thay đổi thích ứng với hạn hán ở Bangladesh”, đây là tài liệu quan trọng cho cán bộ khuyến nông, các nhóm chuyên về kỹ thuật, các nhóm quản lý thiên tai, đại diện cho cộng đồng để thích ứng và ứng phó với BĐKH, đặc biệt là sự gia tăng thường xuyên của hạn hán ở Bangladesh, một Quốc gia đứng đầu về tác động của BĐKH [55]
Lyndsay (2008) đã công bố công trình nghiên cứu thích ứng với BĐKH và nâng cao năng lực bảo tồn tài nguyên nước của chính quyền địa phương, chính phủ, các bên liên quan, các tổ chức quản lý tài nguyên nước tại Ontario, Canada Nghiên cứu này đã chỉ ra một số biện pháp thích ứng và nâng cao năng lực quản lý bằng các thể chế, kế hoạch, chính sách của các cấp chính quyền về các nguồn tài nguyên nước [41]
Đa Da ̣ng Sinh học (ĐDSH) là cơ sở quan trọng đảm bảo cho sự tồn ta ̣i và phát triển của các quốc gia Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trước sự tác đô ̣ng của BĐKH toàn cầu, ĐDSH đã và đang bị ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng Trong báo cáo của IPCC (International Panel on Climate Change) năm 2004, đã trình bày những kết quả nghiên cứu
để trả lời câu hỏi tại sao nhiệt độ trái đất thay đổi ảnh hưởng lớn đến khí hậu, các đặc điểm vật lý và diễn thế các đặc điểm đó của trái đất Các đặc điểm này lại tác động đến nơi sống của các loài sinh vật và sự phát triển kinh tế của con người Báo cáo cũng đã đưa ra kết luận là nhiệt độ trái đất trong thế kỷ XX đã tăng lên trung bình 0,6oC làm cho nhiều vùng băng hà, diện tích phủ tuyết, vùng băng vĩnh cửu đã bị tan chảy, dẫn đến mực nước biển dâng lên Nhiều dấu hiệu đã cho thấy tác động của biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng ngày một sâu, rộng đến các hệ sinh thái Cụ thể đó là: hàng trăm loài thực vật và động vật đã buộc phải thay đổi vùng phân bố, thời gian, chu kỳ sống của chúng để thích ứng với sự BĐKH Vùng phân bố của nhiều loài cây, côn trùng, chim, cá đã chuyển dịch lên phía Bắc
và vùng cao hơn, nhiều loài thực vật nở hoa sớm hơn, nhiều loài chim đã bắt đầu mùa di
cư sớm hơn, nhiều loài động vật đã vào mùa sinh sản sớm hơn, nhiều loài côn trùng đã xuất hiện sớm hơn ở Bắc bán cầu, san hô bị chết trắng ngày càng nhiều,…
Biến đổi khí hậu đang đe dọa đến ĐDSH, cản trở việc hoàn thành Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc (LHQ) Báo cáo triển vọng môi trường toàn cầu của LHQ (2007) đã nhận định : BĐKH đang gây ra tình trạng suy thoái môi trường trên phạm vi toàn cầu , đòi hỏi thế giới phải hành động khẩn cấ p hơn bao giờ hết Cụ thể là BĐKH đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhiều loài sinh vật và sự phát triển của con người trên phạm vi toàn cầu Theo đánh giá của IPCC (2007), biến đổi khí hậu làm quá trình acid hóa trong đại dương diễn ra ngày càng mạnh dẫn đến hiện tượng tẩy trắng các rạn san hô, với tốc độ như hiện nay có thể các rạn san hô sẽ là hệ sinh thái đầu tiên trên thế giới biến mất hoàn toàn, khả năng bảo vệ bờ biển bị mất đi, kết quả là vùng ven biển
sẽ ngày càng hứng chịu nhiều thách thức trước bão tố và lũ lụt
Trang 77
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM
1.2.1 Thực trạng về tình hình BĐKH đối với Việt Nam
Biến đổi khí hậu ở Việt Nam là vấn đề nóng bỏng nhất có tác động toàn diện đến sự phát triển bền vững của Quốc gia Do ảnh hưởng của BĐKH, thiên tai trên phạm vi toàn cầu đã, đang và sẽ xảy ra với tần suất nhiều hơn, phức tạp hơn, cường độ tăng mạnh hơn làm trầm trọng thêm mức độ ảnh hưởng của thiên tai đối với Việt nam Ước tính hàng triệu
ha đất bị ngập, hàng triệu người Việt Nam có thể bị ảnh hưởng nếu nước biển dâng cao Việt Nam trong những năm gần đây, mức độ thiên tai ngày càng gia tăng cả về quy
mô cũng như chu kỳ lặp lại, kèm theo những đột biến khó lường Chỉ tính 10 năm gần đây (1998-2007), các loại thiên tai như: bão, lũ, lốc tố, đã gây thiệt hại đáng kể về người, tài sản của nhà nước và nhân dân, làm chết, mất tích 5.155 người, bị thương 5.530 người; làm
đổ, trôi, ngập, hư hỏng khoảng 5.494.000 ngôi nhà Thiệt hại về vật chất lên tới 55.542 tỷ đồng (theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2008)
Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia về BĐKH (2008)
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành khung chương trình thích ứng với BĐKH giai đoạn 2008-2020 Gần đây nhất Chính phủ đã công bố các kịch bản BĐKH nhiệt độ tăng và nước biển dâng Theo chương trình mục tiêu quốc gia, hai chỉ tiêu thực hiện cơ bản vào năm 2010 là hoàn thành việc xây dựng cơ sở khoa học, phương pháp luận đánh giá tác động của BĐKH, đặc biệt là nước biển dâng, đến các lĩnh vực, ngành và địa phương Triển khai thí điểm đánh giá tác động của BĐKH, đặc biệt là nước biển dâng, đối với một số lĩnh vực, ngành, địa phương nhạy cảm và dễ bị tổn thương do BĐKH như: tài nguyên nước, nông nghiệp, sức khỏe, sinh kế, vùng đồng bằng và dải ven biển
Một số phác thảo kịch bản BĐKH ở Việt Nam đã được công bố tại Hội thảo BĐKH toàn cầu và giải pháp ứng phó của Việt Nam tại Hà Nội tháng 2/2008, được trình bày tóm tắt ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Thông báo Quốc gia về Biến đổi khí hậu ở Việt Nam
(so với năm 1990) Năm Nhiệt độ tăng thêm ( 0 C) Mực nước biển tăng thêm (cm)
Trang 88
Bảng 1.2 Kịch bản BĐKH các vùng của Việt Nam
(nhiệt độ tăng thêm so với năm 1990)
Đơn vị tính: 0 C
Năm Tây
Bắc
Đông Bắc
Đồng bằng
BB
Bắc Trung
Bộ
Nam Trung
Bộ
Tây nguyên Nam Bộ
Nguồn: Nguyễn Khắc Hiếu, 2008
Bảng 1.3 Kịch bản nước biển dâng ở Việt Nam so với năm 1990
Nguồn: Nguyễn Khắc Hiếu, 2008
Tính trung bình của cả 6 kịch bản thì đến cuối thế kỷ XXI nhiệt độ có khả năng tăng thêm 2,80C, mực nước biển dâng cao thêm 37cm, không tính đến tan băng chỉ tính đến sự dãn nở nước đại dương
Xu thế chung của BĐKH ở Việt Nam: Nhiệt độ ở các vùng phía Bắc tăng nhanh hơn các vùng phía Nam Nhiệt độ ở các vùng ven biển tăng chậm hơn các vùng sâu hơn trong lục địa Đến cuối thế kỷ XXI nhiệt độ có thể tăng thêm từ 4,0 - 4,50C theo kịch bản cao nhất và 2,0 - 2,20C theo kịch bản thấp nhất [Kịch bản BĐKH Vnam, 2010]
1.2.2 Các công trình đề cập đến BĐKH ở phạm vi Quốc gia và các địa phương
BĐKH là vấn đề mang tính toàn cầu, được quan tâm nghiên cứu từ những năm
1960 Ở Việt Nam, vấn đề này mới chỉ thực sự bắt đầu được nghiên cứu vào những năm
1990 Các nghiên cứu trong thời gian đầu tập trung chủ yếu vào nghiên cứu bản chất, nguyên nhân, diễn biến và đề xuất các nguyên tắc, giải pháp chung để thích ứng và giảm
Trang 9kỉ XXI [72]
Năm 2002, Trung tâm nghiên cứu học tập và hợp tác Quốc tế Canada (CECI) đã công bố công trình nghiên cứu của mình về việc: Xây dựng năng lực thích ứng với BĐKH ở miền Trung Việt Nam (2002 – 2005) Công trình nghiên cứu này nhằm củng cố năng lực để lập, xây dựng các chiến lược thích ứng cho cộng đồng thông qua việc ứng phó với thiên tai [73]
Nghiên cứu tác động của BĐKH ở lưu vực sông Hương và chính sách thích nghi ở
huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế giữa Viện Khí tượng thuỷ văn và Môi trường
(2005) đã nghiên cứu thí điểm về BĐKH tại một khu vực và đề xuất việc lồng ghép các biện pháp thích nghi Trên cơ sở phân tích các chuỗi số liệu quan trắc khí tượng thủy văn
và môi trường khu vực nghiên cứu, tổng hợp kết quả nghiên cứu kịch bản BĐKH của Ủy ban Liên quốc gia về BĐKH (IPCC), sử dụng các mô hình khu vực khác nhau và phương pháp thống kê để xây dựng và dự báo các kịch bản BĐKH cho Việt Nam và khu vực Thừa Thiên Huế Dựa trên các kịch bản, các tác giả đã dự báo các tác động, đánh giá mức độ rủi
ro và tính dễ bị tổn thương với BĐKH của tài nguyên môi trường và các ngành kinh tế, xã hội lưu vực sông Hương Kết quả nghiên cứu cho thấy ở mức độ địa phương mới chỉ có rất
ít hoạt động được tiến hành nhằm giảm thiểu khả năng bị tổn thương, bảo vệ và phục hồi nguồn tài nguyên nước Chủ yếu các hoạt động chỉ là giải quyết hậu quả thiên tai [77]
“Nghiên cứu BĐKH ở Đông Nam Á và đánh giá tác động, tổn hại và biện pháp thích ứng đối với sản xuất lúa và tài nguyên nước” (2007), do Viện Khí tượng thủy văn
môi trường (KTTVMT) hợp tác với SEA START thực hiện Mục tiêu của dự án là xây dựng các kịch bản BĐKH cho khu vực Đông Nam Á và Việt Nam, đánh giá những tác động của BĐKH đến các yếu tố như nhiệt độ, lượng mưa [78],…
Trang 1010
Dự án “Tác động của nước biển dâng và các biện pháp thích ứng ở Việt Nam”
(2009) do Viện KTTVMT thực hiện với sự tài trợ của DANIDA - Đan Mạch Mục tiêu tổng quát của dự án tập trung chủ yếu vào việc giảm thiểu các tác động do nước biển dâng gây nên bởi BĐKH ở Việt Nam thông qua việc đề xuất các biện pháp thích ứng Nâng cao hiểu biết về các phương pháp đối phó với thiên tai do BĐKH và nước biển dâng ở Việt Nam [79]
Theo nghiên cứu của Trần Thục (2008) và MONRE (2003 và 2009), trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm của Việt Nam đã tăng khoảng 0,70C, mực nước biển đã dâng khoảng 0,20 m Hiện tượng El-Nino, La-Nina ngày càng tác động mạnh mẽ đến Việt Nam BĐKH thực sự đã làm cho các thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng ác liệt Nếu nước biển dâng cao phần lớn diện tích đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập [70]
Nghiên cứu “Đánh giá sơ bộ tác động của nước biển dâng tại khu vực Đồng bằng sông Hồng, khu vực duyên hải miền trung, đồng bằng sông Cửu Long” do Viện Quy
hoạch Thủy lợi, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam và Viện Quy hoạch Thủy lợi Việt Nam thực hiện năm 2008 theo yêu cầu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Kết quả tính toán được dựa trên 2 kịch bản: nước biển dâng 0,69 cm và 1m Kết quả cho thấy với
cả 2 kịch bản, đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và khu vực Duyên hải miền Trung sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề từ ngập lụt và xâm nhập mặn [80]
Tháng VI năm 2009, Bộ TN&MT đã ban hành các kịch bản về biến đổi khí hậu ở
độ phân giải cao hơn trên phạm vi các vùng sinh thái trong toàn quốc Các kịch bản chủ yếu cung cấp cho chúng ta vấn đề biến đổi về nhiệt độ, lượng mưa và phân bố mưa cho từng vùng sinh thái của các năm tương lai đến năm 2100 trên các kịch bản phát thải thấp (B1), trung bình (B2, A1) và cao (A2) và khả năng nước biển dâng tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Thành phố Hồ Chí Minh ở các kịch bản 65,75 và 100 cm (MONRE, 2009).[Kịch bản BĐKH Việt Nam]
Phan Văn Tân (2010) - Nghiên cứu tác động của BĐKH toàn cầu đến các yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan ở Việt Nam, khả năng dự báo và giải pháp chiến lược ứng phó Mục tiêu của đề tài là làm sáng tỏ mức độ, tính chất và xu thế biến đổi của các yếu
tố và hiện tượng khí hậu cực đoan Đánh giá tác động của BĐKH đến các yếu tố, hiện tượng khí hậu cực đoan và đề xuất các giải pháp chiến lược ứng phó phục vụ phòng tránh
và giảm nhẹ tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan [60]
Nguyễn Văn Thắng (2010), Viện KTTVMT - Nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đến các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và đề xuất các giải pháp chiến lược phòng tránh, giảm nhẹ và thích nghi, phục vụ phát triển bền vững kinh tế xã hội ở Việt Nam Nghiên cứu đã làm rõ được những tác động của BĐKH đến các điều kiện tự nhiên, tài
Trang 11Nguyễn Phú Quỳnh (2011), Viện Khoa học thủy lợi Miền Nam - Nghiên cứu giải pháp xây dựng mới và nâng cấp các công trình kiểm soát mặn ở ĐBSCL nhằm thích ứng với BĐKH Mục tiêu là nghiên cứu các giải pháp xây dựng mới công trình thuỷ lợi kiểm soát mặn mới ở ĐBSCL và đề xuất được các giải pháp nâng cấp công trình thuỷ lợi kiểm soát mặn hiện có ở ĐBSCL nhằm thích ứng với BĐKH [53]
Ngoài ra, cũng có một số lượng đáng kể các dự án nghiên cứu với quy mô nhỏ do các
tổ chức quốc tế và trong nước tài trợ chủ yếu nhằm đánh giá tác động ở mức độ định tính, tình trạng dễ bị tổn thương với thiên tai và BĐKH, đề xuất các biện pháp tăng cường năng lực thể chế chính sách, nâng cao nhận thức cộng đồng và thực hiện thí điểm một số dự án
hỗ trợ cộng đồng trong quản lý bảo vệ môi trường, gắn thích ứng BĐKH với xoá đói giảm nghèo, được triển khai ở một số vùng nhạy cảm với BĐKH như đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và các tỉnh Duyên hải miền Trung
1.2.3 Những tác động của BĐKH đến ĐDSH của Việt Nam
Việt Nam được xem là một nước có tính ĐDSH cao, chủ yếu tập trung ở hệ thống khu bảo tồn Việt Nam cũng được xác định là một trong những nước sẽ bị ảnh hưởng nặng nhất do BĐKH toàn cầu Mực nước biển dâng cùng với cường độ của bão tố, thay đổi thành phần của trầm tích, độ mặn và mức độ ô nhiễm của nước sẽ đe dọa đến sự suy thoái và sống còn của rừng ngập mặn cũng như các loài sinh vật rất đa dạng trong đó Khi mức nước biển dâng lên cao, khoảng một nửa trong số 68 khu đất ngập nước có tầm quan trọng mức quốc gia, sẽ bị ảnh hưởng nặng; nước mặn sẽ xâm nhập sâu vào nội địa, đẩy lùi nhiều loài động, thực vật nước ngọt của hệ sinh thái và ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt cho sinh hoạt và hệ thống trồng trọt của nhiều vùng 36 khu bảo tồn, trong đó
có 8 vườn quốc gia, 11 khu dự trữ thiên nhiên sẽ nằm trong khu vực bị ngập
Trước những tác động của BĐKH đối với sự phát triển kinh tế - xã hội - môi trường, trong đó có vấn đề về đa ĐDSH, Cục Bảo tồn Đa dạng sinh học với sự hỗ trợ của
Chương trình SEMLA, đã tiến hành xây dựng dự án “Nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH tới các khu bảo tồn của Việt Nam và đề xuất các giải pháp thích ứng” Theo các
nhà nghiên cứu, hàng trăm loài thực vật và động vật đã buộc phải thay đổi vùng phân bố
Trang 1212
và thời gian của chu kỳ sống của chúng để thích ứng với BĐKH, cụ thể như vùng phân
bố của nhiều loài cây, côn trùng, chim và cá đã chuyển dịch lên phía Bắc và lên vùng cao hơn Nhiều loài thực vật nở hoa sớm hơn, nhiều loài chim đã bắt đầu mùa di cư sớm hơn, nhiều loài động vật đã vào mùa sinh sản sớm hơn, nhiều loài côn trùng đã xuất hiện sớm hơn ở Bắc bán cầu; san hô bị chết trắng ngày càng nhiều,…Hệ sinh thái biển sẽ bị tổn thương Các rạn san hô là nơi sinh sống của nhiều loài hải sản quan trọng và nhiều loài sinh vật biển khác, là lá chắn chống xói mòn bờ biển và bảo vệ rừng ngập mặn, sẽ bị suy thoái do nhiệt độ nước biển tăng [20]
BĐKH với những tác động đa chiều đã và đang làm thay đổi căn bản các hệ sinh thái và các nguồn tài nguyên mà xã hội loài người phụ thuộc Theo ước tính của các nhà khoa học, biến đổi khí hậu có thể góp phần làm tuyệt chủng 1/3 số loài vào năm 2050, bao gồm rất nhiều loài từng được cho là miễn dịch với hiểm họa tuyệt chủng Điều này gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với sự cân bằng HST, sinh kế của loài người và sự phát triển nền kinh tế Quốc gia
Nghiên cứu của ELI cũng nhấn mạnh, tính đến năm 2050, BĐKH có thể khiến 30%
số loài bị tuyệt chủng, hơn 20% loài động vật và thực vật bị đe dọa tuyệt chủng khi nhiệt
độ tăng từ 2-30C, số lượng cá thể các loài quý hiếm suy giảm đáng kể Đặc biệt, ELI đã chỉ
ra bốn tác động cơ bản của BĐKH xâm hại đến ĐDSH bao gồm các tác động về nhiệt độ tăng, thay đổi chế độ và lượng mưa, tăng tần suất thiên tai và nước biển dâng Mỗi một tác động lại tương ứng với các biểu hiện và mức độ xâm hại cụ thể Đơn cử, tác động nhiệt độ tăng cao với các biểu hiện tăng số ngày nóng, băng tan, nhiệt độ nước tăng, giảm độ che phủ của tuyết khiến tình trạng khô hạn thêm trầm trọng, tình trạng nhiễm mặn gia tăng, chế
độ thủy văn bị thay đổi, nhiều loài sinh vật biển cũng bị mất môi trường sống [20],… BĐKH, với các hệ quả của nó như lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, xói mòn và sụt lở đất
sẽ thúc đẩy cho sự suy thoái ÐDSH nhanh hơn, trầm trọng hơn, nhất là những hệ sinh thái rừng nhiệt đới không còn nguyên vẹn và các loài đang nguy cấp với số lượng cá thể
ít, cũng vì thế mà sẽ tăng nguy cơ diệt chủng của động thực vật, làm biến mất các nguồn gen quí hiếm, bệnh dịch mới có thể phát sinh (theo thông báo Quốc gia lần thứ nhất) Hậu quả do biến đổi khí hậu toàn cầu gây ra ngày một rõ ràng, trong đó có tác động lên ÐDSH, nguồn tài nguyên quý giá của đất nước, nhưng chúng ta cũng chưa nghiên cứu về lĩnh vực này một cách nghiêm túc
1.2.4 Tình hình nghiên cứu về tác động của BĐKH đến ĐDSH ở Việt Nam
Như đã khẳng định ở trên , Việt Nam là một trong 5 quốc gia trên thế giới bị tác động nhiều nhất của BĐKH , vì vậy vấn đề bảo vệ tài nguyên ĐDSH bởi các tác động do BĐKH cần phải được quan tâm hàng đầu Hiện đã có rất nhiều chương trình nghiên cứu
Trang 1313
về BĐKH trong nước nhằm đưa ra các giải pháp giảm nhẹ và ứng phó với BĐKH trên các quy mô khác nhau
Nghiên cứu “BĐKH châu Á: Nghiên cứu cho Việt Nam” (1994) do Viện Quy hoạch
Thủy lợi đã có đánh giá bước đầu tác động của BĐKH lên nguồn nước, ĐDSH các vùng ven biển ở Việt Nam và đề xuất các biện pháp thích ứng, giảm thiểu tác hại cho các ngành kinh tế khác nhau [81]
Nguyễn Văn Hải, (1995) đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ tăng và biến đổi lượng mưa Khi khí hậu nóng lên, các yếu tố như sự biến động nhiệt độ, lượng mưa, nước biển dâng sẽ là những yếu tố tác động mạnh nhất lên hệ sinh thái rừng ngập mặn Các đợt lạnh cực đoan thì gây ra hiện tượng sương muối nhiều hơn và chính là một nhân tố hạn chế sự sinh trưởng của cây, thể hiện rõ ở triệu chứng là lá cây bị khô cháy Theo Nguyễn Văn Hải (1995), ở khu Đông Bắc Việt Nam vào những ngày khô hanh trong mùa đông lạnh bất thường, thường có sương muối vào ban đêm gây tổn thất cho cây ngập mặn, nhất là vào những ngày nước triều kiệt Hiện tượng lá của một số cây ngập mặn ở ven biển
Quảng Ninh như Rhizophora stylosa, Bruguiera gymnorhiza, Excoccaria agallocha và Cerbera manga đã quan sát thấy bị khô cháy và chết từng phần do sương muối khi nhiệt
độ ban đêm xuống dưới 00
Có thể thấy tác động của BĐKH cũng như tác động từ con người, sự tương tác và vận động giữa các quá trình biển, lục địa diễn ra phức tạp hơn, ảnh hưởng lớn tới địa hình, địa mạo và hình dạng của các đầm phá ven biển miền Trung nước ta Ví dụ như hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, theo Trần Đức Thạnh (1998) và Nguyễn Đức Cử (2002), đây là hệ đầm phá có sự phát triển và biến đổi rất phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn khác
Trang 1414
nhau, và ảnh hưởng lớn HST tự nhiên trong đầm Đặc biệt là sự biến đổi của các cửa của Tam Giang - Cầu Hai Ban đầu hệ đầm phá này chỉ có 01 cửa (cửa Tư Hiền), sau đó lũ lụt đã mở thêm cửa Hoà Duân (1904), tiếp theo thay đổi vị trí và dịch chuyển dần để có
vị trí cửa Thuận An như ngày nay Sự lấp cửa, chuyển mở cửa đầm phá đột ngột do các hiện tượng thời tiết bất thường như vậy thường là những tai biến gây nhiều hậu quả nặng
nề về môi trường, sinh thái, thiệt hại lớn về dân sinh, kinh tế và tạo ra trạng thái phát triển không bền vững ở vùng ven bờ tỉnh Thừa Thiên Huế [64]
Các nguy cơ trên đã làm giảm đa dạng sinh học của các HST điển hình ven biển như rạn san hô, rừng ngập mặn,… Các HST này bị giảm diện tích phân bố, giảm năng suất và sinh khối hệ, giảm mật độ phân bố, sinh khối và kích thước cá thể nhiều loài và
hệ mất dần các chức năng sinh thái của mình Các HST này suy thoái làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả nghề cá ven bờ và ngoài khơi
Tại Việt Nam, nhiều khu vực rạn san hô bị suy giảm chất lượng hoặc biến mất đã được ghi nhận với nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có nguyên nhân từ những tác động của BĐKH BĐKH góp phần quan trọng gây nên hiện tượng san hô chết hàng loạt hoặc biến đổi chất lượng trong thời gian qua tại các vùng ven biển Việt Nam Theo nghiên cứu của Đỗ Công Thung (2008), hiện tượng El-Nino kéo dài trong các năm 1982-
1983 và 1997-1998 đã làm xuất hiện hiện tượng san hô chết trắng ở vùng biển Cát Bà Nguyên nhân được giải thích có thể là do sự tăng cao nhiệt độ, đục hoá hoặc ngọt hoá nguồn nước và ô nhiễm môi trường gây mất tảo cộng sinh, làm chết trắng san hô (bleaching coral) [71] Nghiên cứu của Nguyễn Chu Hồi và cs (2004) cũng đã đánh giá rằng hiện tượng El-Nino năm 1997 đã làm cho khoảng 16% diện tích rạn san hô trên thế giới bị ảnh hưởng và tẩy trắng, trong đó có rạn san hô ở Việt Nam [35]
Ngoài ra, các hiện tượng thời tiết cực đoan từ BĐKH như lũ lụt lớn, bão lốc, sóng bão lớn còn làm cho nhiều đầm phá khu vực miền Trung bị ngọt hoá và mặn hoá Theo Trần Đức Thạnh (1998) và Nguyễn Đức Cử (2002), tại đầm Cầu Hai thường chịu lượng mưa lớn tập trung trong vòng 4 tháng (tháng 9-12) nên thường xuyên xảy ra lũ lớn làm ngọt hoá hệ đầm phá, ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn lợi sinh vật, đặc biệt là những loài có vòng đời trên 1 năm tuổi, các loài nước mặn phải di cư từ trong phá ra biển về mùa mưa, còn các loài nước ngọt phải di cư từ sông ra phá Ngược lại trong mùa khô, với tần suất xuất hiện nhiều hơn các đợt nắng nóng bất thường, làm lượng bốc hơi trong các đầm phá cao và tập trung nhiều vào các tháng khô và nóng như tháng 5 - 7, làm cho mực nước trong đầm phá thấp hơn mực nước biển khi triều cao (với phá Tam Giang), làm nước biển chảy vào phá qua các cửa, làm tăng độ muối của nước trong phá và tạo ra sự phân tầng độ muối Điều này gây ảnh hưởng rất lớn đến các loài hẹp muối, đặc biệt là các loài
cỏ nước, các loài sinh vật đáy do khả năng di động kém [64]
Trang 1515
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở QUẢNG NAM
Quảng Nam là một trong những tỉnh miền Trung - nơi đang chịu nhiều ảnh hưởng do biến đổi khí hậu toàn cầu Các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu như bão, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh,… đã tác động không nhỏ tới kinh tế, xã hội của tỉnh, trong đó có tài nguyên ĐDSH Trong khuôn khổ dự án BĐKH cũng đã có một số công trình được công bố:
Đinh Phùng Bảo (2001) – Đặc điểm thủy văn tỉnh Quảng Nam, trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Quảng Nam Báo cáo đã trình bày, phân tích các đặc điểm về điều kiện thủy văn Qua đó nêu ra nguyên nhân chính của vấn đề và đưa ra các nhóm giải pháp nhằm giảm thiểu vấn đề này [4]
Đỗ Quang Thiên, Trần Hữu Tuyên (2005), Các kiểu xói lở bờ sông Thu Bồn và tác động của nó đến môi trường khu vực: Quá trình xói lở sông Thu Bồn đang diễn ra rất mạnh mẽ cả về mặt không gian lẫn thời gian, nhiều nơi tốc độ xói lở đến 30-40m/năm Hiện tượng xói lỡ không chỉ xảy ra vào mùa lũ lớn mà còn xuất hiện trượt lỡ sau lũ do nhiều bờ bị xói mất chân, trong đó có một số nơi xói lỡ rất khó định dạng và không tuân theo một quy luật nào cả [67]
Nguyễn Hữu Đại, Phạm Viết Tích, 2007: Gắn kết bảo tồn ĐNN hạ lưu sông Thu Bồn và khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Quảng Nam Tạp chí Khoa học & Sáng tạo tỉnh Quảng Nam, số 57 (10/2007) Kết quả đề tài để áp dụng quản lý khai thác bảo vệ tài nguyên thiên nhiên vùng bờ, quản lý lưu vực sông, rừng đầu nguồn những nơi mà lợi ích cộng đồng phải được hiểu đúng mực, đầy đủ và cần phải có những giải pháp tích cực nhằm giải quyết các mâu thuẫn lợi ích [26]
Nguyễn Hữu Đại, 2007: Đánh giá hiện trạng tài nguyên ĐNN (chủ yếu là dừa nước
- DN) ở hạ lưu sông Thu Bồn, Quảng Nam và các giải pháp quản lý, bảo vệ, phục hồi” Báo cáo lưu trữ Ban quản lý khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm [27]
Vũ Huấn và cs (2010) - Mô hình hóa mối quan hệ giữa BĐKH và trượt lở đất ở các khu vực nghiên cứu (tỉnh Quảng Nam) Báo cáo đã nghiên cứu phân tích nguyên nhân, cơ chế hình thành trượt lở đất và mô hình hóa mối quan hệ giữa trượt lở đất với BĐKH Từ đó xây dựng bản đồ chuyên đề về hiện trạng và nguy cơ trượt lở đất trên địa bàn tỉnh để nghiên cứu ứng dụng cho công tác quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương [36]
Nguyễn Trọng Xuân (2010) - Đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đối với phát triển kinh tế ở tỉnh Quảng Nam Qua báo cáo đã nêu lên được những tác động của BĐKH đến sinh kế và nguồn lực sinh kế của tỉnh Quảng Nam, cũng như tác động của BĐKH cơ cấu sản xuất, tính đa dạng của hoạt động sinh kế [82]
Vũ Thu Lan và cs (2010) nghiên cứu tác động của BĐKH đến ngập lụt lưu vực sông Thu Bồn – Vu Gia [38] và Vũ Thu Lan (2010) [39], đánh giá tác động của BĐKH
Trang 1616
đến các thiên tai liên quan đến dòng chảy (lũ lụt, khô hạn) tỉnh Quảng Nam Hai báo cáo này là một công trình nghiên cứu sử dụng mô hình Mike 11 – GIS để đưa ra những dự báo trong tương lai về hai loại thiên tai liên quan đến dòng chảy là lũ lụt và hạn hán theo kịch bản phát thải
Trần Văn Tương (2010), nghiên cứu tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp
ở Quảng Nam và các giải pháp thích ứng Nghiên cứu này đã chỉ ra những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nông, lâm, ngư nghiệp và các giải pháp thích ứng hiệu quả trong từng lĩnh vực Góp phần giúp cho người dân, các cơ quan và chính quyền có những giải pháp thích hợp nhằm đối phó với vấn đề an ninh lương thực của tỉnh Quảng Nam nói riêng và của cả nước nói chung [76]
Mặc dù vấn đề BÐKH bắt đầu được quan tâm nghiên cứu từ những nãm 1990 nhưng đến nay chúng ta vẫn chưa có một chương trình khoa học công nghệ chính thức để
có thể nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về BÐKH cũng như các giải pháp giảm nhẹ, thích ứng với BÐKH Một số ít các đề tài, dự án liên quan tới BÐKH, đã được triển khai độc lập hoặc nằm trong các chương trình khoa học công nghệ về phòng chống giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường và tài nguyên ÐDSH, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, phát triển các giống cây trồng, vật nuôi thích ứng với điều kiện khắc nghiệt của môi trường,… Các đề tài, dự án này vẫn dừng ở mức độ nghiên cứu thí điểm, thiếu sự điều phối, chia sẻ thông tin về kết quả nghiên cứu Việc quan trắc, sử dụng và chia sẻ các thông tin, dữ liệu liên quan đến khí tượng thủy văn, môi trường, để dự báo tác động của BĐKH còn nhiều bất cập
Vấn đề đánh giá tác động của BÐKH đến ÐDSH, nghiên cứu tìm ra giải pháp thích ứng, giảm thiểu tác động tiêu cực, tăng cường tác động tích cực của BÐKH và lồng ghép các vấn đề này trong các chương trình phát triển bền vững ÐDSH, phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Nam vẫn chưa có một nghiên cứu nào đầy đủ Mặt khác, những năm gần đây trên địa bàn toàn tỉnh nói chung và vùng hạ lưu Sông Thu Bồn nói riêng đã hứng chịu rất nhiều tác động xấu của các hiện tượng thời tiết cực đoan Vì vậy việc nghiên cứu đánh giá những tác động của BÐKH đến ÐDSH trên địa bàn tỉnh Quảng Nam là một yêu cầu cấp thiết
1.4 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG HẠ LƯU SÔNG THU BỒN, TỈNH QUẢNG NAM
1.4.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên vùng hạ lưu sông Thu Bồn
1.4.1.1 Vị trí địa lý, địa hình
- Vị trí địa lý: Vùng hạ lưu sông Thu Bồn nằm ở vùng cửa sông - ven biển, cuối tả
ngạn sông Thu Bồn, từ 15026’0” đến 15015’15” độ vĩ Bắc và từ 108023’10” đến
Trang 1717
108017’08” độ kinh Đông Với diện tích tự nhiên: 6.146,88 ha, trong đó đất liền chỉ có 4.597,76 ha (chiếm 73,50%) [14], [21], [22]
Phía Đông giáp biển Đông
Phía Tây giáp huyện Điện Bàn và huyện Duy Xuyên
Phía Nam giáp huyện Duy Xuyên
Phía Bắc giáp huyện Điện Bàn
Hình 1.1 - Sơ đồ vị trí địa lý vùng hạ lưu sông Thu Bồn
- Địa hình: Đồng bằng ven biển, bị chia cắt bởi các con sông, độ cao trung bình 5 – 7m
so với mực nước biển, độ dốc nhỏ, có xu hướng thấp từ Tây Bắc xuống Đông Nam [21]
Trang 1818
1.4.1.2 Chế độ khí hậu, thời tiết
Khí hậu, thời tiết là một nhân tố quyết định đến cảnh quan tự nhiên và đời sống của sinh
vật Cùng với địa hình, khí hậu tác động đến đa dạng sinh học, chế độ thủy văn của vùng [22]
a Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 24 - 260C Nhiệt trung bình hàng tháng dao động
230C - 300C Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng VI – VII, thấp nhất là tháng XII – I [14]
Bảng 1.4 Chế độ khí hậu, thời tiết trong năm 2011 ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn Tháng
Trang 19390C và kéo dài gây ảnh hưởng tới giới hạn sinh lý, quang hợp của thực vật thủy sinh làm cho quá trình hô hấp tăng, ôxy hóa các hợp chất hữu cơ xảy ra nhanh chóng Nhiệt
độ môi trường luôn luôn thay đổi theo các tháng trong năm đã tạo ra những nhóm sinh vật có khả năng thích nghi khác nhau
b Nắng
Khu vực Hội An mỗi năm có khoảng 2200 – 2300 giờ nắng Tháng có giờ nắng cao nhất là tháng VI và thấp nhất là tháng I Trong năm số giờ nắng tăng nhanh nhất vào tháng IV, V và giảm tương đối nhanh từ tháng X đến tháng XI (bảng 1.4)
Nằm trong khu vực nội chí tuyến nên độ dài ban ngày từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn tại Hội An biến đổi trong khoảng 11 - 13 giờ Thời gian chiếu sáng của mặt trời dài và ít biến đổi nên Hội An nhận được lượng bức xạ mặt trời dưới dạng bức xạ trực tiếp và khuyếch tán khá lớn [14]
Hình 1.3 Đồ thị biểu thị số giờ nắng các tháng trong năm 2011
Qua hình 1.3 cho thấy, Hội An có số giờ nắng nhiều, đây là điều kiện thuận lợi cho quá trình quang hợp của thực vật, có vai trò to lớn trong việc tạo ra năng suất sinh học sơ
Trang 2020
cấp và tạo ra thảm thực vật phong phú của hệ thống sông Bên cạnh đó, nắng nóng kéo dài sẽ làm tăng thêm nhiệt độ nước, tăng khả năng bốc hơi nước, đưa đến những biến đổi khác của các nhân tố môi trường tạo thuận lợi cho tảo phát triển làm dồi dào dinh dưỡng
của nguồn hữu cơ trong sông
c Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí trung bình tương đối cao, dao động 84 - 90% Độ ẩm cao ở tháng XII, với giá trị nhiều năm là 90%, tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng VII, với giá trị trung bình nhiều năm là 75% Trong mùa khô, khi có sự hoạt động của gió Tây Nam khô nóng mạnh, độ ẩm không khí thấp có thể xuống 25 - 30% Tuy nhiên, ở vùng ven biển mức độ ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng không mạnh như ở những vùng nằm sâu trong đất liền [22]
d Lượng mưa
Mưa trung bình hằng năm từ 2100 - 2500mm Do độ dốc của địa hình lớn nên hằng năm vùng hạ lưu sông vùng ven biển thường xuyên bị ngập lụt ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của đại bộ phận nông – ngư dân [21], [22]
Hình 1.4 Biểu đồ mô tả lượng mưa trung bình các tháng trong năm 2011
Qua hình 1.4 cho thấy lượng mưa lớn thường tập trung từ tháng IX đến tháng XII hàng năm, các tháng X và XI là những tháng mưa nhiều nhất Lượng mưa ngày lớn nhất đạt từ: 400 – 670 mm Mùa khô từ tháng I đến tháng VIII, trong đó tháng III có lượng mưa thường nhỏ nhất
Trang 2121
Như vậy, sông Thu Bồn, Hội An nhận nước từ các con sông đổ về, vì thế khi mùa mưa mực nước sông ở vùng hạ lưu dâng cao Tạo ra “sự ngọt hóa” ở vùng hạ lưu, điều này đã ảnh hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng của các loài thủy sinh vùng hạ lưu
độ gió lớn hơn mùa khô Tần suất lặng gió từ 18 - 32% [21], [22]
* Gió mùa Đông Bắc
Gió mùa Đông Bắc ảnh hưởng đến Hội An chia thành 2 giai đoạn: Giai đoạn đầu: từ tháng IX đến tháng XII, giai đoạn này thường gây ra những đợt mưa vừa, mưa to và lạnh Một số đợt xuất hiện cùng các nhiễu động Nam biển Đông tạo nên những đợt mưa lớn, kéo dài gây nên lũ lụt lớn; Giai đoạn sau, từ tháng I đến tháng IV, lượng mưa giảm hơn Gió mùa Đông Bắc xuất hiện từ tháng XII đến tháng III thường gây mưa phùn, rét lạnh, trời
âm u ảnh hưởng nhiều đến sản xuất và sức khoẻ của con người [21], [22]
* Gió Tây Nam
Nằm ở dải đất Miền Trung, trong mùa hè Quảng Nam chịu sự chi phối của gió mùa Tây Nam, có nguồn gốc từ vịnh Bengan thổi đến Việt Nam theo các hướng:
- Hướng gió Nam và Đông Nam: Gió Tây Nam có nguồn gốc từ vịnh Bengan khi đến Việt Nam chuyển hướng tạo thành gió Nam và Đông Nam Hàng năm xuất hiện khoảng từ tháng II đến tháng IX, mang không khí mát mẻ [21]
- Gió Tây Nam khô nóng: Thổi theo hướng Tây Nam, sau khi đã tiêu hao gần hết hơi nước do gây mưa ở phía Tây Trường Sơn và mang đến miền Trung Việt Nam một luồng khí nóng và độ ẩm thấp Hội An, hàng năm thường chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng
từ tháng V đến tháng VIII Trung bình hàng năm có 35 - 40 ngày có gió Tây Nam khô nóng Trung bình mỗi đợt gió Tây Nam khô nóng kéo dài từ 3 – 3,5 ngày, dài nhất có thể đến 20 –
21 ngày Chính trong thời gian này, Hội An và vùng phụ cận ít mưa, nên nước sông thường
“mặn hóa”, ảnh hưởng đến sự phân bố các nhóm thủy sinh vật [22]
1.4.1.3 Điều kiện thủy văn, thủy triều
a Điều kiện thủy văn
Đặc điểm thủy văn phản ánh rõ nét nhất tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa, đồng thời phản ánh mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên trong sông
Trang 2222
Sông ngòi là một thành phần khá đặc biệt của môi trường tự nhiên, đóng vai trò quan trọng trong việc tuần hoàn và trao đổi vật chất, năng lượng của khu vực nói chung
và Hạ lưu sông Thu Bồn nói riêng [91]
Hầu hết các sông suối xuất phát từ các vùng núi cao, có sườn dốc đứng và được bao phủ bởi một lớp thảm thực vật tốt, nên về mùa mưa chúng chuyển tiếp vào một lượng lớn nước ngọt và theo một lượng chất hữu cơ màu mỡ Đây chính là nguồn thức ăn dồi dào cho các loài thủy sinh sống trong sông
Dòng chảy trên các sông chia thành hai mùa: mùa lũ và mùa cạn Mùa lũ gồm 4 tháng liên tục từ tháng IX đến tháng XII, mùa cạn gồm 8 tháng còn lại từ tháng I đến tháng VIII Trong đó tháng I là tháng chuyển tiếp từ mùa lũ sang mùa cạn và tháng VIII là tháng chuyển tiếp từ mùa cạn sang mùa mưa lũ, do đó ở những tháng này vẫn có khả năng xuất hiện lũ muộn hoặc lũ sớm
Dòng chảy Hạ lưu sông Thu Bồn - Hội An có chế độ dòng chảy của vùng sông ảnh hưởng triều Sự biến đổi về dòng chảy theo thời gian chịu sự chi phối trực tiếp của dòng chảy từ thượng nguồn đổ về và dòng triều từ Cửa Đại chảy ngược lên Trong mùa cạn, dòng chảy từ thượng nguồn đổ về ít biến đổi nên tốc độ, lưu lượng dòng chảy ở đây chủ yếu là do dòng triều chi phối Dòng chảy trên các sông khu vực này có 2 chiều thay đổi phụ thuộc vào quy luật lên xuống của thuỷ triều
Vào mùa lũ, do lưu lượng dòng chảy từ thượng nguồn lớn nên tốc độ dòng triều lên giảm đi và tốc độ dòng chảy xuôi tăng lên đáng kể Khi có lũ lớn thì sự ảnh hưởng của thuỷ triều sẽ giảm dần, dòng chảy ngược sẽ không còn, biên độ dao động mực nước triều cũng giảm dần và mất hẳn khi lũ trên thượng nguồn đạt đến một độ lớn nào đó Khi đó dòng chảy trên sông chỉ hoàn toàn là dòng chảy lũ
b Chế độ thủy triều
Chế độ triều tại khu vực Hội An, Cửa Đại chiếm ưu thế là chế độ bán nhật triều Trung bình trong mỗi tháng có 12 ngày nhật triều và 18 ngày bán nhật triều; tháng có số ngày bán nhật triều nhiều nhất là 29 ngày và ít nhất cũng phải có 4 ngày Tháng III -V, tháng VII, VIII thường là tháng có chế độ bán nhật triều chiếm hơn 2/3 số ngày trong tháng Tháng XII là tháng có chế độ nhật triều chiếm ưu thế hơn Tháng I và XI thường
có số ngày nhật triều và bán nhật triều tương đương nhau (bảng 1.5)[91], [21]
Trang 23Bán nhật triều
Nhật triều
Bán nhật triều
Nhật triều
Bán nhật triều
1.4.1.4 Nồng độ muối
Độ muối tại các điểm khảo sát giao động từ 0 – 270/00, có sự phân hóa rõ giữa các điểm khảo sát (bảng 1.6) Sông Thu Bồn do được tiếp nhận nước ngọt từ các con sông, đồng thời chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều nên độ mặn của sông thay đổi đáng kể Nồng độ muối ở đây thay đổi theo mùa rõ rệt Mùa khô, tại một vài thủy vực có nồng độ muối khá cao như V1 (Cửa Đại 270
/00), V2 (Cẩm Thanh 220
/00), V3 (Cẩm Châu 180
/00), V4 (Cẩm Nam 140/00), V7 (Duy Vinh 160/00), V10 (Duy Nghĩa 220/00) Vào đầu mùa mưa (tháng IX), nồng độ muối tại các thủy vực này giảm xuống đáng kể, giao động từ 3 –
Trang 2424
80/00 Như vậy biên độ giao động giữa mùa mưa và mùa khô tại các thủy vực này khá lớn
từ 3 – 270/00 (hình 1.5) Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến toàn bộ sinh vật sống trong sông, đặc biệt là ảnh hưởng đến sự phân bố của các loài cá [89]
Bảng 1.6 Nồng độ muối tại các điểm qua các đợt khảo sát
Đơn vị tính: 0
/ 00
Tháng
Cửa Đại – Hội An 1,6 1,7 25,0 27,0 20,0 10,3 8,3 Cẩm Thanh – Hội An 1,4 0,8 20,0 22,0 14,8 6,5 3,5 Cẩm Châu – Hội An 1,0 0,4 16,0 18,0 14,3 3,5 1,5 Cẩm Nam – Hội An 0,3 0,2 12,0 14,0 10,3 2,0 1,0
(Nguồn: Kết quả quan trắc mặt nước trong các đợt thu mẫu)
Hình 1.5 Sự biến động độ muối qua các đợt khảo sát
(Nguồn: Kết quả quan trắc mặt nước trong các đợt thu mẫu)
S0/00
Trang 25Tốc độ triều lên (Vmax)
(Nguồn: Kết quả quan trắc, 2011)
1.4.2 Các nguồn tài nguyên
1.4.2.1 Tài nguyên rừng
Tỉnh Quảng Nam có 457.418 ha rừng, tỷ lệ che phủ đạt 44% Diện tích rừng tự nhiên là 392.686 ha, rừng trồng là 64.732 ha có khoảng 389.600 ha, với trữ lượng gỗ khoảng 30 triệu m3 và 50 triệu cây tre nứa, trong đó rừng giàu khoảng 10.000ha, phân bố chủ yếu là các đỉnh núi cao Diện tích rừng còn lại chủ yếu là rừng nghèo, rừng trung bình và rừng tái sinh Ngoài gỗ, rừng Quảng Nam còn nhiều lâm sản khác, như tre nứa, song mây [90],
1.4.2.2 Tài nguyên nước
Tổng chiều dài hệ thống sông ngòi nằm trên địa phận tỉnh Quảng Nam khoảng 900
km, bao gồm 9 con sông lớn Nguồn nước mặt lớn, với diện tích lưu vực sông Vu Gia 5.500 km2 , Thu Bồn 3.350 km2, Tam Kỳ 755 km2 Hiện trên toàn tỉnh có khoảng 30 hồ (loại hồ có dung tích trên 1triệu m3 nước), tổng dung tích là 500 triệu m3, trong đó đáng
kể có hồ Phú Ninh 343 triệu m3, hồ Khe Tân 54 triệu m3, hồ Thạch Bàn 9,6 triệu m3, Nguồn nước ở Quảng Nam khá dồi dào, cung cấp cho hoạt động của nhiều nghành kinh
tế nói chung, trong đó quan trọng nhất là sản xuất nông nghiệp, các ngành nghề nông thôn khác [90]
Đặc điểm tài nguyên nước lưu vực sông Thu Bồn: Hệ thống sông Thu Bồn bao gồm dòng chính Thu Bồn và sông Vu Gia kết hợp với chiều dài sông 205km đổ ra biển tại vịnh Đà Nẵng qua 3 phân lưu: sông Hàn (Đà Nẵng), cửa Đại (Hội An) và Trường Giang (cửa Lở) Do tác động của điều kiện địa hình mạng lưới sông suối trong lưu vực phát triển mạnh dạng tia toả với độ cao bình quân (552m) cũng như độ dốc bình quân lưu
Trang 2626
vực (25%) thuộc vào loại lớn nhất so với các lưu vực sông dải duyên hải Việt Nam Đây
là điều kiện tập trung lũ nhanh nhưng khả năng thoát lũ kém vì vậy tình trạng ngập lụt ở vùng đồng bằng tỉnh Quảng Nam rất nghiêm trọng Hàng năm lưu vực Hạ lưu sông Thu Bồn tiếp nhận 27,9tỷ m3
nước mưa và đã sinh ra 21,8 tỷ m3 chảy vào mạng lưới sông suối, nếu tính trung bình cho toàn diện tích vùng nghiên cứu sẽ được một lớp dòng chảy
2100 mm tương ứng với moduyn dòng chảy 65,6l/s.km2 có hệ số dòng chảy (α) đạt khá cao tới 0,71% so với toàn lãnh thổ Việt Nam đây là khu vực có tiềm năng nguồn nước mặt vào loại phong phú Tuy nhiên, do có sự phân mùa dòng chảy sâu sắc nên lượng nước cả năm tập trung tới 62,5 - 69,2% trong 3 tháng mùa lũ (từ tháng X đến tháng XII)
và tháng XI có dòng chảy lớn nhất, đạt 26,5 - 30,9% lượng nước cả năm Do điều kiện tự nhiên quy định lũ trên các sông suối của lưu vực sông Thu Bồn với các đặc trưng: cường suất lũ lớn, thời gian lũ ngắn (cả thời gian lũ lên lẫn thời gian lũ xuống), đỉnh lũ nhọn, biên độ lũ lớn Lũ lớn nhất trong năm thường xuất hiện trong tháng X và XI; và có tới 50% số năm quan trắc xuất hiện những trận lũ vượt báo động III (tại Câu Lâu) và moduyn đỉnh lũ trung bình tại trạm quan trắc đạt từ 1,6 - 1,7m3/s.km2 Lũ đặc biệt lớn đã xảy ra trên sông Thu Bồn vào tháng XI/1964 có lưu lượng đỉnh lũ tại trạm Nông Sơn là 18.250m3/s ứng với moduyn đỉnh lũ 5,79m3/s.km2 Gần đây lũ năm 2007 được đánh giá
là lũ lớn nhất trong thời kỳ quan trắc với tần suất xuất hiện lũ 1% Lũ lớn kèm theo ngập lũ trong mùa mưa gây nên những tổn thất to lớn cả về người và của cải đồng thời gây ô nhiễm môi trường, đây là nguyên nhân làm chậm sự phát triển kinh tế - xã hội của các địa
phương trên lưu vực [90]
1.4.2.3 Nguồn lợi thuỷ sản
Quảng Nam có bờ biển dài 125 km và thềm lục địa rộng lớn Diện tích ngư trường rộng trên 40.000 km2, có trữ lượng gần 90.000 tấn hải sản các loại Trên đất liền có khoảng 30.000 ha mặt nước (cả 3 loại: nước lợ, nước ngọt và nước mặn) trong đó có gần 10.000
ha bãi triều, hàng chục nghìn ha eo biển, thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ hải đặc sản [89] Với đặc điểm sông nước do thiên nhiên ưu đãi kể trên, Quảng Nam có nhiều thuận lợi trong việc phát triển các nghề khai thác, nuôi trồng và chế biến thuỷ sản, có ý nghĩa lớn trong việc tái tạo nguồn lợi và tạo nguồn nguyên liệu có giá trị xuất khẩu cao
1.4.3 Đặc điểm kinh tế xã hội vùng nghiên cứu
1.4.3.1 Hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản
Nghề nuôi trồng thủy sản của thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam hình thành từ những năm 80 Trong 30 năm qua, thành phố đã có nhiều chủ trương nhằm hỗ trợ người nuôi trồng thủy sản Hằng năm, bằng nguồn kinh phí khuyến ngư, thành phố đều tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật, xây dựng các mô hình nhằm giới thiệu, hỗ trợ người nuôi các
Trang 2727
loại giống mới, kỹ thuật nuôi trồng mới Đặc biệt, sau Hội nhị bàn giải pháp phát triển ngành thủy sản thị xã Hội An (1998), thành phố đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ phát triển ngành thủy sản như cho vay vốn có hỗ trợ lãi suất để đóng mới tàu thuyền công suất lớn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người nuôi thủy sản vay vốn đầu tư nuôi tôm Trong thời gian từ năm 1998 đến 2006, ngành thủy sản Hội An đã có những bước phát triển đáng kể: diện tích nuôi trồng thủy sản tăng nhanh, năng suất nuôi tôm tăng từ
273 kg/ha (1997) lên 1.100kg/ha (2006), tăng gần 8 lần so với năm 1997 [14], [89]
Ngày 28/02/2009, Uỷ ban nhân dân thành phố đã ban hành quyết định số 459 phê duyệt dự án kinh phí để hỗ trợ nuôi tôm vụ 1 năm 2009 Thành phố đã trích 109 triệu đồng
từ nguồn ngân sách thành phố để hỗ trợ 1 phần chi phí cho các hộ dân xây mô hình nuôi tôm ở tổ cộng đồng có sự tham gia quản lý hưỡng dẫn của Nhà nước
Từ năm 2006 đến 2011 diện tích nuôi trồng thủy sản không tăng, cùng với tình hình chung của cả nước, nghề nuôi trồng thủy sản ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn cũng gặp rất nhiều khó khăn Giá tôm sú rớt thê thảm trong khi giá các vật tư như thức ăn thủy sản, dầu ngày càng tăng, đã làm cho hiệu quả của nghề nuôi tôm không cao Bên cạnh đó, tình hình thời tiết biến đổi, thiên tai thường xuyên xảy ra, môi trường thủy vực bị suy thoái và ô nhiễm đã ảnh hưởng rất lớn đến người nuôi trồng thủy sản
Theo thống kê của phòng kinh tế năm 2009, diện tích nuôi tôm là 237,96 ha, nhưng năm 2010 chỉ còn 195,5 ha Sản lượng nuôi tôm đạt 321,59 tấn (2009), năm 2011 sản lượng nuôi tôm không đạt theo kế hoạch và không tăng do diện tích nuôi trồng giảm, chỉ còn 304,00 tấn
Nghề nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh ở các địa phương xã Cẩm Thanh, Cẩm Châu, Cẩm An, Cửa Đại, Cẩm Hà với diện tích 247,5 ha trên tổng diện tích nuôi trồng là 270,46 ha Riêng Cẩm Thanh có 310 hộ tham gia nuôi trồng với diện tích gần 140 ha Sản lượng thu hoạch mỗi năm trên dưới 140 tấn, giá trị sản lượng đạt trên 7 tỷ đồng
1.4.3.2 Hoạt động sản xuất nông nghiệp
Như chủ trương chung của nhà nước, sản xuất lúa từ 3 vụ bấp bênh đã được nhân dân chuyển sang 2 vụ Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, con vật bước đầu cũng giặt hái nhiều thành công Nhiều hộ gia đình đã cải tạo vườn tạp để trồng cau, hoa cây cảnh và các loại rau màu có giá trị kinh tế cao hơn Việc tăng cường sản xuất một số cây công nghiệp ngắn ngày như bắp nếp, bông vải và rau đậu các loại đã đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho nông dân Riêng hoa, cây cảnh đạt giá trị sản xuất 20,4 tỷ đồng năng 2010, tăng 3 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2009 Đặc biệt, hiện nay đã đẩy mạnh hoạt động du lịch tại làng rau Trà Quế, người dân trực tiếp tham gia vào các dịch vụ, góp phần tăng thu nhập của nông dân ngoài thu nhập từ rau màu [22], [91]
Trang 2828
1.4.3.3 Hoạt động thương mại du lịch
Hoạt động du lịch tại Hội An được đẩy mạnh hơn khi hệ sinh thái vùng ngập mặn thuộc hạ lưu sông Thu Bồn và Cù Lao Chàm được Unesco công nhận là Khu dự trữ sinh quyển Thế giới (năm 2009) Năm 2010 có 1.275.824 lượt khách đến Hội An tăng 22,86% so với cùng kỳ năm 2009 Riêng hoạt động du lịch tại Cù Lao Chàm đã thu hút được 56.430 lượt khách Thành phố đã đẩy mạnh các hoạt động kích cầu, đặc biệt là công tác tuyên truyền quảng bá, chú trọng tổ chức nhiều sự kiện lễ hội, đầu tư cơ sở vật chất, tạo môi trường du lịch thân thiện, an toàn để thu hút du khách [22], [91]
1.4.3.4 Đời sống văn hóa – xã hội
Đời sống nhân dân ở các địa phương đã thực sự có những đổi thay cơ bản Từ chỗ phần lớn các hộ gia đình được thường xuyên cứu đói, trợ cấp xã hội với cuộc sống khó khăn Đến nay, xã Cẩm Thanh không còn hộ đói ăn, hộ nghèo Đời sống tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt Được sự giúp đỡ của các tổ chức trong và ngoài Thành phố, những năm gần đây, các ngôi nhà của hộ chính sách và hộ nghèo ở đây hầu như đã được tu bổ hoặc xây mới
Trên khắp các thôn của xã Cẩm Thanh đều đã có điện thắp sáng, hệ thống nước thủy lợi được đưa đến tận thôn xóm, phục vụ tốt nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân Tuy nhiên, tình trạng thiếu nước ngọt của một số hộ gia đình ở thôn 1, 2 Cẩm Thanh vẫn còn xảy ra khi tới mùa khô
Với nét đặc trưng và lịch sử đấu tranh của nhân dân rừng dừa Bảy mẫu, việc phát triển du lịch sinh thái ở khu vực này đã phần nào giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân địa phương, cải thiện đời sống cho nhân dân Hiện nay, Thành phố đang xúc tiến để lập hồ sơ để đầu tư xây dựng Trung tâm làng nghề Tre - dừa nước Cẩm Thanh, tạo điểm thăm quan mới cho du khách Đây là bước thúc đẩy mạnh hơn nữa cho việc phát triển du lịch ở Cẩm Thanh, mở rộng hình thức du lịch của Thành phố Hội An [90], [91]
Trang 2929
Chương 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, CÁCH TIẾP CẬN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Thời gian thực hiện dự án: từ tháng VII/2011 đến tháng VII/2012
2.2 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Vùng hạ lưu sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam và một số vùng phụ cận
Hình 2.1 Sơ đồ vùng khảo sát ở hạ lưu sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam và một số
vùng phụ cận
V7 V10
V1
V11
V5
V3 V4
Trang 3030
Bảng 2.1 Địa điểm và vị trí thu mẫu
8 Đập Para, Duy Thành, huyện Duy Xuyên V8
9 Bà Rén, Xã Duy Thành, huyện Duy Xuyên V9
10 Xã Duy Nghĩa, huyện Duy Xuyên V10
11 Xã Bình Giang, huyện Thăng Bình V11
12 Xã Bình Dương, huyện Thăng Bình V12
2.3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Những tác động của Biến đổi khí hậu đến một số nhóm động, thực vật đặc trưng trong các hệ sinh thái đất ngập nước ở hạ lưu sông Thu Bồn
- tỉnh Quảng Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu (BĐKH) đến tài nguyên đa dạng sinh học ở hạ lưu sông Thu Bồn
2.4 CÁCH TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU
Sử dụng cách tiếp cận tổng hợp để thực hiện nghiên cứu, cụ thể là:
- Sử dụng các nguồn tài liệu sơ cấp và thứ cấp
+ Tiến hành thu thập tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu ở các Sở, ban ngành khác nhau trên toàn tỉnh và của khu vực nghiên cứu Đặc biệt là sở Tài nguyên Môi trường, sở Khoa học Công nghệ, sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, các trạm khí tượng thủy văn trên địa bàn toàn tỉnh
+ Tìm kiếm tài liệu trên sách, báo, các báo cáo khoa học, các hội thảo có liên quan đến BĐKH, ĐDSH trên địa bàn toàn tỉnh và trong nước
Trang 3131
+ Sử dụng các nguồn tài liệu đáng tin cậy trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên internet,
- Điều tra thực tế để bổ sung, kiểm tra
- Tiếp cận những chuyên gia về đa dạng sinh học, các nhà quản lý Tài nguyên và nhà hoạch định chính sách tổng hợp
2.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Tiến hành thu thập thông tin cơ sở ban đầu về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu ở các ủy ban nhân dân huyện, ủy ban nhân dân xã, các trung tâm thông tin thuộc sở Tài nguyên môi trường, sở Khoa học Công nghệ, sở Thủy sản nhằm đánh giá hiện trạng ban đầu về đối tượng nghiên cứu để có một cách nhìn tổng quan hơn trong quá trình thực hiện đề tài
- Tổng hợp các số liệu thống kê từ các ban ngành trong tỉnh, các phần của các công trình nghiên cứu, các bài báo, các báo cáo trước đây liên quan đến các đặc điểm về kinh
tế, xã hội, lịch sử văn hóa và đa dạng sinh học của vùng nghiên cứu
- Những tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của toàn tỉnh trong những năm gần đây
- Kế thừa có chọn lọc các tài liệu khoa học do các tác giả trong và ngoài nước đã công bố về biến động môi trường và đa dạng sinh học thế giới và ở Việt Nam
- Thu thập, tổng hợp thông tin trên các website, các cuộc hội thảo khoa học về biến đổi khí hậu, đa dạng sinh học,…
2.5.2 Phương pháp điều tra thực địa
2.5.2.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa
- Tiến hành thu mẫu ngoài thực địa bằng cách đánh bắt cùng ngư dân, thu mua mẫu
từ ngư dân, các chợ trong vùng nghiên cứu
- Gửi thẩu đựng mẫu nhờ người dân thu mẫu giúp, sau đó tập hợp lại
- Lập các điểm khảo sát, các tuyến khảo sát, điều tra thực địa và tiến hành ghi chép, chụp ảnh để về phân tích và tổng hợp
2.5.2.2 Phương pháp PRA (Partipatory Rural Apraisa)
Trong phương pháp này, chúng tôi sử dụng một số công cụ như sau:
+ Lịch thời vụ: Chúng tôi dùng lịch thời vụ để xác định mùa vụ khai thác và sử dụng nguồn lợi, số ngày tham gia hoạt động khai thác/tháng của các loại nghề khai thác
Trang 3232
+ Bảng phân hạng: nhằm xác định các đối tượng Thân mềm hai mảnh vỏ, các loài
cá, thực vật thủy sinh và ngập mặn có giá trị kinh tế cao và có vai trò quan trọng đối với sinh kế của người dân
- Sử dụng các phương pháp điều tra, khảo sát truyền thống và chuyên ngành, đa ngành, tổng hợp như: Phương pháp RRA (Rapid Rural Apraisal) - Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn và PRA (Participatory Rural Apraisal) - Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng: Phỏng vấn người dân địa phương, cán bộ (khuyến nông, khuyến ngư; tài nguyên môi trường, bảo vệ thực vật, chăn nuôi, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, nuôi trồng thuỷ sản) sưu tầm các mẫu vật, di vật, ảnh còn lưu giữ trong nhân dân,…
- Khảo sát bằng bảng hỏi Phỏng vấn nhằm khai thác các biểu hiện của BĐKH ở Quảng Nam từ quá khứ đến hiện tại và tương lai Phỏng vấn cán bộ đại diện cho các ngành khác nhau của tỉnh, huyện và xã cũng như những người già, người am hiểu, nông dân tại vùng nghiên cứu Thu thập thông tin thông qua phiếu điều tra
+ Định loại các loài thân mềm hai mảnh vỏ, giáp xác theo khóa định loại của Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên,1980 Nguyễn Xuân Quýnh, 2001 The non – marique aquatic Mollusca of Thailand of RolfA M.Brandt (1974) [54], [62]
+ Định loại cá Theo các khoá phân loại lưỡng phân và mô tả của Vương Dĩ Khang (1963) [37], Nguyễn Khắc Hường (1991, 1993), Nguyễn Nhật Thi (2000), Nguyễn Viết Trương và Trần Thị Tuý Hoa (1972), Y.Taki (1974), Mai Đình Yên (1978, 1992), Trần Thị Thu Hương và Trương Thủ Khoa (1993), W.J Rainboth (1996), Nguyễn Hữu Phụng (1994, 1995), Nguyễn Văn Hảo (2001, 2005) [28], [29]; FAO (1998), Maurine Kottelat (2001)
- Mỗi loài cá được nêu tên khoa học và tên Việt Nam Trình tự các bộ, họ, giống, loài được sắp xếp theo hệ thống phân loại của FAO (1998) [88] và Eschmeyer (2005) [86]
Trang 3333
2.5.4 Phương pháp chuyên gia
Tiến hành seminar số liệu để lấy các ý kiến đánh giá, góp ý của các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh nghiên cứu Từ các ý kiến đó, tổng hợp và chọn lọc các ý kiến phù hợp
để đưa vào quá trình thực hiện đề tài
Ngoài ra chúng tôi còn tổ chức các buổi hội thảo lấy ý kiến của các cá nhân, tổ chức có liên quan để đưa vào đề tài
2.5.5 Phương pháp bản đồ
Đây là một phương pháp đặc thù và rất quan trọng cho phép ta nắm bắt một cách khái quát và nhanh chóng về khu vực nghiên cứu, để từ đó vạch ra các tuyến khảo sát chi tiết, điểm khảo sát đặc trưng cho vùng nghiên cứu Trong nội dung nghiên cứu của đề tài
đã thành lập được các bản đồ tuyến/vùng thu mẫu, sơ đồ xâm nhập mặn, nước biển dâng,
sơ đồ phân bố các loài động, thực vật trong vùng nghiên cứu
2.5.6 Phương pháp phân tích và đánh giá tổng hợp
Sau khi có đầy đủ các thông tin về khu vực nghiên cứu, chúng tôi tiến hành sử dụng phương pháp phân tích và đánh giá tổng hợp (sử dụng mô hình toán, ma trận, các phần mềm vi tính và xác suất thống kê để quản lý và đánh giá số liệu) để đưa ra những nhận xét và những hướng phát triển đúng đắn nhất phù hợp với tiềm năng vốn có của khu vực nghiên cứu
Trang 3434
PHẦN II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Chương 3 TÌNH HÌNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN
ĐỔI KHÍ HẬU LÊN TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC Ở HẠ LƯU
SÔNG THU BỒN, TỈNH QUẢNG NAM
3.1 TÌNH HÌNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở HẠ LƯU SÔNG THU BỒN
3.1.1 Tình hình biến đổi khí hậu trong vòng 30 năm qua ở hạ lưu sông Thu Bồn
BĐKH trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo BĐKH là sự thay đổi của khí hậu theo thời gian Theo yêu cầu quan trắc khí tượng quy định: các điểm có cự ly khoảng 50 km, có điều kiện địa lý tương đồng thì được coi như điều kiện khí hậu tương ứng Từ lý do đó, khi xét sự BĐKH của Hạ lưu sông Thu Bồn – Hội An chúng tôi lấy số liệu của 2 trạm đo Tam kỳ và Đà Nẵng và các số đo mà chúng tôi thu thập được làm dẫn liệu cho BĐKH của khu vực nghiên cứu
3.1.1.1 Biến đổi nhiệt độ
Nhiệt độ có xu hướng tăng dần cho đến cuối thế kỉ XXI trong tất cả các kịch bản phát thải từ thấp đến cao của Việt Nam, trong đó nhiệt độ mùa Đông sẽ tăng nhanh hơn mùa Hè Lưu vực hạ lưu sông Thu Bồn được đánh giá là một trong những khu vực có nhiệt độ năm tăng nhiều nhất Đến cuối thế kỉ XXI, nhiệt độ năm tăng so với trung bình nhiều năm thời kỳ 1980 - 2011 tăng khoảng 0,2 – 0,70
Trang 3535
Hình 3.1 Biểu đồ nhiệt độ trung bình ở vùng Hội An qua các thời kỳ
Phân tích số liệu trên, chúng ta thấy nhiệt độ trung bình tại 2 trạm đo Tam Kỳ, Đà nẵng đều có xu hướng tăng từ 0,3 – 0,60C trong vòng 30 năm qua Điều đó chứng tỏ khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng bao gồm vùng Hạ lưu sông Thu Bồn – Hội An đang ấm dần lên
Sự gia tăng nhiệt độ còn được thể hiện qua số liệu nhiệt độ cao nhất của các địa phương qua các thời kỳ (bảng 3.2)
Bảng 3.2 Nhiệt độ cao nhất ở vùng Hội An qua các thời kỳ (0
Trang 3636
Hình 3.2 Nhiệt độ cao nhất ở vùng Hội An qua các thời kỳ
Nhiệt độ cao nhất của các địa phương luôn dao động quanh ngưỡng trên 380C Đặc biệt trong giai đoạn từ đầu thế kỷ XXI đến nay nhiệt độ cao nhất có xu hương tăng lên rõ rệt
Sự gia tăng nhiệt độ còn được thể hiện qua số liệu nhiệt độ tối thấp nhất của các địa phương qua các thời kỳ (bảng 3.3)
Bảng 3.3 Nhiệt độ thấp nhất ở vùng Hội An qua các thời kỳ (0C)
Nguồn: (*) Trung tâm khí tượng thủy văn khu vực III
Kết quả trong bảng 3.3 cho thấy nhiệt độ tối thấp qua các thời kỳ tăng dần lên Và cũng tương tự như sự gia tăng nhiệt độ tối cao, nhiệt độ tối thấp cũng có xu hướng gia tăng rõ rệt hơn trong giai đoạn từ đầu thế kỉ XXI đến nay
Trang 3737
Hình 3.3 Nhiệt độ thấp nhất ở vùng Hội An qua các thời kỳ
Tất cả các số liệu quan trắc về nhiệt độ đều thể hiện sự gia tăng về nhiệt độ trong thời gian hơn 30 năm qua của các địa phương lân cận Hạ lưu sông Thu Bồn và sự gia tăng này phù hợp với dự báo theo kịch bản phát thải trung bình (B2) Trên cơ sở đó các nhà khoa học đưa ra dự báo mức tăng nhiệt độ trung bình trong những năm 2050, 2070
và 2100 cho Hạ lưu sông Thu Bồn – Hội An (bảng 3.4)
Bảng 3.4 Khả năng tăng nhiệt độ theo kịch bản phát thải trung bình B2 ( 0 C)
(Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn khu vực III)
Như vậy nhiệt độ các tháng mùa Đông tăng nhanh hơn so với các tháng mùa Hè ở tất cả các thời điểm Tốc độ tăng trung bình khoảng 0,3 – 1,00
C trong vòng 20 – 30 năm Kết quả này phù hợp với các thực tế đã sảy ra tại Quảng Nam
Điều đáng quan tâm là sự gia tăng nhiệt độ có khả năng ảnh hưởng đến hệ sinh thái biển đảo, sông suối của khu vực Vì vậy để bảo vệ lưu vực Hạ lưu sông Thu Bồn – Hội
Trang 3838
An, chúng ta cần xây dựng chương trình, kế hoạch hành động ngắn hạn, trung hạn và dài hạn với mục tiêu duy nhất là phải dữ gìn và bảo vệ môi trường tự nhiên
3.1.1.2 Biến đổi về lượng mưa
Tổng lượng mưa năm trung bình tăng qua các thời kỳ và được trình bày trong bảng 3.5
Bảng 3.5 Lƣợng mƣa năm trung bình ở vùng Hội An qua các thời kỳ
Nguồn: (*) Trung tâm khí tượng thủy văn khu vực III
Hình 3.4 Biểu đồ lượng mưa năm trung bình ở vùng Hội An qua các thời kỳ (mm)
Biểu đồ cho thấy giai đoạn từ năm 1985 – 1989 đến nay, lượng mưa có xu hướng tăng, riêng giai đoạn 1995 – 1999 lượng mưa tăng đột biến là do thời kỳ này nước ta chịu ảnh hưởng mạnh của hiện tượng La Nina (đi kèm với cơn lũ lịch lịch sử năm 1999) Bên cạnh sự gia tăng của tổng lượng mưa, lượng mưa theo mùa cũng tăng nhiều Lượng mưa thực tế mùa mưa, mùa khô qua các thời kỳ ở các địa phương lân cận Hạ lưu sông Thu Bồn – Hội An như bảng 3.6
Trang 3939
Bảng 3.6 Lƣợng mƣa trung bình mùa khô, mùa mƣa qua các thời kỳ (mm)
Mùa khô Mùa mưa Mùa khô Mùa mưa Mùa khô Mùa mưa
Nguồn: (*) Trung tâm khí tượng thủy văn khu vực III
Hình 3.5 Biểu đồ lượng mưa trung bình vào mùa mưa (mm)
Các số liệu về lượng mưa cũng cho thấy lượng mưa có xu hướng gia tăng rõ rệt vào thời kỳ từ 1990 cho đến nay
Theo kịch bản phát thải trung bình (B2), lượng mưa cuối thế kỷ XXI tại lưu vực Hạ lưu sông Thu Bồn có khả năng diễn biến như bảng 3.7
Trang 40Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn khu vực III
Như vậy, lượng mưa có thể giảm trong các tháng Xuân Hè nhưng lại tăng trong các tháng Thu Đông và tổng lượng mưa tăng trung bình 0,7% trong vòng 20 - 30 năm tới
3.1.1.3 Nước biển dâng
Khí hậu địa cầu biến đổi rất phức tạp nhưng chung quy lại có 2 điều kiện biến đổi cơ bản đó là khí hậu lạnh đi hoặc nóng lên và tương ứng với 2 xu hướng này sẽ làm cho mực nước biển hạ thấp hoặc ngược lại Khí hậu hiện nay của toàn địa cầu đang có xu hướng nóng lên và nóng lên rất nhanh, tất yếu dẫn đến sự dâng cao mực nước biển do sự tan băng
ở hai địa cực và sự giãn nở của các phân tử nước trong đại dương thế giới
Do ảnh hưởng của mực nước biển dâng cao của đại dương thế giới kết hợp với sự giãn nở thể tích nước trong nội bộ biển Đông làm cho mức nước biển Đông cũng đang dâng lên và dâng với tốc độ ngày càng nhanh Dựa theo phương pháp xây dựng kịch bản của IPCC, năm 2011 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam dựa trên chuỗi số liệu tại các trạm điển hình kéo dài
từ Bắc tới Nam, kịch bản đã đưa ra được thực trạng nước biển dâng ở Việt Nam theo kịch bản phát thải trung bình (B2) ứng với từng mốc thời gian (bảng 3.8)
Bảng 3.8 Mực nước biển dâng (cm) so với mực nước biển trước giai đoạn năm 1991 – 2010 ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) Khu vực 2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100
Móng Cái-Hòn Dáu 7-8 11-12 15-17 20-24 25-31 31-38 36-47 42-55 49-64
Hòn Dáu-Đèo Ngang 7-8 11-13 15-18 20-24 25-32 31-39 37-48 43-56 49-65 Đèo Ngang-Đèo Hải Vân 8-9 12-13 17-19 23-25 30-33 37-42 45-51 52-61 60-71 Đèo Hải Vân-Mũi Đại Lãnh 8-9 12-13 18-19 24-26 31-35 38-44 45-53 53-63 61-74 Mũi Đại Lãnh-Mũi Kê Gà 8-9 12-13 17-20 24-27 31-36 38-45 46-55 54-66 62-77 Mũi Kê Gà-Mũi Cà Mau 8-9 12-14 17-20 23-27 30-35 37-44 44-54 51-64 59-75 Mũi Cà Mau-Kiên Giang 9-10 13-15 19-22 25-30 32-39 39-49 47-59 55-70 62-82
Nguồn: Kịch bản BĐKH, nước biển dâng Việt Nam, 2011