Bài viết sau đây của ông về các thế hệ học sinh miền Nam từng học tập, trưởng thành dưới mái trường miền Bắc XHCN trong thời gian chiến tranh mà ông là một trong số các thành viên, để th
Trang 1Lời mở đầu
Thư viện tỉnh Quảng Nam trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc tập thư mục tháng 6 năm 2020, gồm có các bài viết được sưu tầm, trích từ các báo, tạp chí của Trung ương và địa phương, về các lĩnh vực:
THƯ VIỆN TỈNH QUẢNG NAM
Trang 2QUẢNG NAM TẠO ĐIỀU KIỆN
ĐỂ THANH NIÊN THỰC HIỆN ƯỚC MƠ KHỞI NGHIỆP
Ngày 4-6, ông Phan Việt Cường - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam chủ trì diễn đàn đối thoại trực tiếp với hơn 100 cán bộ Đoàn các cấp và thanh niên tiêu biểu trên địa bàn tỉnh để lắng nghe những tâm
tư, nguyện vọng, những bức xúc và giải đáp những kiến nghị nhằm giúp thanh niên lập thân, lập nghiệp, khởi nghiệp và sáng tạo
Đại biểu tham dự diễn đàn.
Phát biểu tại diễn đàn, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Phan Việt Cường thông tin đến các đoàn viên thanh niên một số nét lớn về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam; đồng thời cho biết buổi đối thoại là cơ hội để các bạn trẻ bày tỏ suy nghĩ, nguyện vọng của bản thân góp phần vào sự phát triển của đất nước và tỉnh Quảng Nam, tạo điều kiện để thanh niên thực hiện ước mơ khởi nghiệp Đảng và Nhà nước luôn sẵn sàng tạo mọi điều kiện tốt nhất để hiện thực hóa các ý tưởng, khát vọng cống hiến của thế hệ trẻ hôm nay trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Anh Hồ Khá - Bí thư Thành đoàn Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam kiến nghị: Trong giai đoạn phát triển hiện nay Đảng và Nhà nước cần có sự quan tâm hơn nữa đối với thế hệ trẻ trên nhiều lĩnh vực như công tác phát triển đảng viên trẻ, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên Để phát triển bền vững, vấn đề quan trọng là phải bảo vệ tốt môi trường, xử lý rác thải và khuyến khích hoạt động khởi nghiệp trong thanh niên có liên quan đến giải quyết vấn đề rác thải
Phong trào khởi nghiệp sáng tạo cùng các cơ chế, chính sách hỗ trợ cho thanh niên lập thân, lập nghiệp được nhiều bạn trẻ quan tâm, chia sẻ tại diễn đàn
Chị Đặng Thị Ngọc Lân - Bí thư Huyện đoàn Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam đề xuất: Thanh niên với hoài bão, muốn thực hiện ước mơ khởi nghiệp nhưng vấn đề
Trang 3đặt ra đầu tiên là vốn và kỹ thuật Do vậy tỉnh cần thực hiện tốt các cơ chế hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp về vốn, kỹ thuật, công nghệ cũng như thị trường.
Trao đổi tại diễn đàn, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Trí Thanh ghi nhận các sản phẩm khởi nghiệp của thanh niên đang ngày càng được đầu tư bài bản, có chất lượng cao Đây là tiền đề quan trọng để tiến tới nền sản xuất hàng hóa có quy mô và chất lượng, có khả năng tạo ra chuỗi giá trị và có sức cạnh tranh cao Muốn khởi nghiệp thành công, bên cạnh những yếu tố cần thiết là vốn,
kỹ thuật, thị trường, thanh niên cần có khát vọng, tự tin, dám nghĩ, dám làm và dám đương đầu với khó khăn Tỉnh sẽ tiếp tục quan tâm và tạo mọi điều kiện thuận lợi để thanh niên thực hiện những ước mơ của mình, hỗ trợ kịp thời và có hiệu quả để thanh niên khởi nghiệp thành công
Tại diễn đàn có nhiều ý kiến, đóng góp trên các lĩnh vực; trong đó, tình trạng người trẻ vi phạm pháp luật, lạm dụng chất kích thích có chiều hướng gia tăng đã gây ra những hệ lụy cho gia đình và xã hội, cần được thế hệ trẻ hôm nay chung sức đẩy lùi
Ghi nhận các ý kiến, đóng góp tại diễn đàn, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Phan Việt Cường nhấn mạnh: Những giải pháp, kiến nghị của thế hệ trẻ hôm nay sẽ góp phần hình thành những định hướng lớn về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của tỉnh Quảng Nam trong nhiệm kỳ tới
ĐOÀN HỮU TRUNG
ĐOÀN HỮU TRUNG Quảng Nam tạo điều kiện để thanh niên thực hiện ước
mơ khởi nghiệp/ Đoàn Hữu Trung// Công an Đà Nẵng.- 2020.- Ngày 5 tháng 6.- Tr.8.
Trang 4TÁI CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG DU LỊCH QUẢNG NAM
Mới đây, tại Tp Hội An, Sở VHTTDL Quảng Nam phối hợp với Hiệp hội Du lịch tỉnh Quảng Nam tổ chức hội thảo “Tái cơ cấu thị trường
du lịch Quảng Nam” Hội thảo nhằm định hướng cơ cấu lại ngành Du lịch Quảng Nam và tìm hướng đi cho du lịch xanh, bền vững sau khi dịch bệnh COVID-19 được khống chế và đẩy lùi Hơn 200 đại biểu là các chuyên gia
về du lịch, các diễn giả trong nước và quốc tế, các công ty lữ hành, đơn vị cung cấp dịch vụ du lịch đã tham dự.
Ông Lê Trí Thanh, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam phát biểu
Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Nguyễn Thanh Hồng - Giám đốc Sở VHTTDL Quảng Nam chia sẻ, dịch bệnh COVID-19 đã gây thiệt hại nặng nề cho kinh tế du lịch nhưng cũng tạo cơ hội để cộng đồng doanh nghiệp du lịch nhìn nhận lại chặng đường hoạt động đã đi qua, thúc đẩy tư duy phát triển, cơ cấu lại ngành và tìm hướng đi cho du lịch xanh, bền vững Đây là những vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay để ngành du lịch Quảng Nam vượt qua khó khăn và lấy lại đà tăng trưởng
Đánh giá về thị trường khách du lịch đến Quảng Nam thời gian qua và cơ cấu thị trường chiến lược cho du lịch Quảng Nam trong thời gian đến, ông Trần trọng Kiên - Chủ tịch Hội đồng tư vấn du lịch cho rằng, sau đại dịch COVID-19,
xu hướng du lịch có quy mô nhỏ, quy mô hộ gia đình với loại hình du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái đã bắt đầu khôi phục Đây là cơ sở để kỳ vọng về sự thành công của chủ trương chú trọng thị trường du lịch nội địa Du lịch sinh thái, cộng đồng, trải nghiệm về văn hóa, lịch sử và sự kiện sẽ là những sản phẩm có khả năng lấy lại sự phục hồi cho ngành Du lịch Do đó, cộng đồng doanh nghiệp cần có giải pháp và sản phẩm du lịch, dịch vụ hấp dẫn để đón lấy thị trường khách du lịch này
Trang 5Nhận diện và đề xuất giải pháp xây dựng thương hiệu du lịch Xanh, bền vững cho Quảng Nam, ông Phan Xuân Thanh - Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Quảng Nam đề xuất, Nhà nước và doanh nghiệp cùng đồng hành để xây dựng và bảo trợ thương hiệu du lịch Xanh trên cơ sở giảm thiểu rác thải, khí thải gây ô nhiễm môi trường Cộng đồng doanh nghiệp du lịch cùng hợp tác để tạo ra một mạng lưới hỗ trợ rộng khắp trong quá trình bảo trợ sản phẩm du lịch xanh Điều quan trọng nhất là trong quá trình xây dựng thương hiệu du lịch Xanh, cộng đồng doanh nghiệp và các địa phương phải phối hợp chặt chẽ nhằm tạo ra sự thay đổi nhận thức trong cộng đồng, cải thiện sinh kế cho cộng đồng, bảo tồn và phát huy bền vững các giá trị thiên nhiên, di sản và văn hóa truyền thống.
Đánh giá cao vai trò của công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong phát triển du lịch Quảng Nam, ông Micheal Croft - Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam chia sẻ, nếu chúng ta coi trải nghiệm thực tế về các giá trị di sản là chìa khóa thành công thì yếu tố còn lại là tính bền vững của công tác bảo tồn Du lịch là nhân tố của sự biến đổi, ngành Du lịch cần phải đi trước để đảm bảo rằng những tác động từ du lịch đối với môi trường, với di sản đang được quản lý tốt và bền vững Đây là điều hết sức quan trọng trước khi triển khai bất kỳ dự án nào
Toàn cảnh hội thảo
Tại hội thảo, các đại biểu còn chia sẻ nhiều chủ đề như: “Các giải pháp công nghệ truyền thông và kỹ thuật số hướng đến du lịch trải nghiệm, du lịch xanh”; “Gia tăng doanh thu cho du lịch từ dữ liệu (Big database)” và “Giới thiệu
bộ tiêu chí xanh cho du lịch Quảng Nam”, đồng thời chia sẻ, tư vấn, những băn khoăn của các doanh nghiệp du lịch khi chuyển từ thị trường khách quốc tế sang thị trường khách du lịch nội địa bởi các chuyên gia đầu ngành, các nhà quản lý, hoạch định chính sách trong lĩnh vực du lịch trình bày
Kết luận tại hội thảo, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Trí Thanh nhấn mạnh, dịch bệnh COVID-19 gây thiệt hại nghiêm trọng nhưng cũng là cơ hội
Trang 6chúng ta cùng nhìn lại chặng đường du lịch đã trải qua, bắt buộc cộng đồng du lịch phải đồng hành tìm giải pháp thích nghi, đổi mới trong hoạt động du lịch nhằm tăng sức đề kháng và khả năng ứng phó khủng hoảng, sớm đón lại thị trường khách
du lịch nội địa Cộng đồng doanh nghiệp du lịch cần phát huy vai trò trong phát triển theo mô hình du lịch xanh, bền vững, thân thiện với môi trường, tạo ra sản phẩm mới nhằm tạo đột phá, phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng du lịch Đồng thời,
mở rộng không gian du lịch, xây dựng các sản phẩm, điểm đến mới gắn với tiềm năng tự nhiện, các giá trị đặc trưng để thu hút du khách, nhất là thị trường khách nội địa Đây cũng là cơ sở để cơ cấu lại ngành và tìm hướng đi cho du lịch xanh, bền vững trong thời gian tới để du lịch thật sự là ngành kinh tế mũi nhọn, là động lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam
HỒ THU
HỒ THU Tái cơ cấu thị trường du lịch Quảng Nam/ Hồ Thu// Du lịch Việt Nam.- 2020.- Ngày 16 tháng 6.- Tr.10.
Trang 7CÁC BẠN ẤY LÀ HỌC SINH MIỀN NAM
Tiến sỹ Vũ Ngọc Hoàng sinh năm 1953, quê quán tại xã Tam Xuân, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam Ông nguyên là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa 10 và khóa 11 Trước khi nghỉ hưu năm 2019, ông là Phó trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Trước đó, Tiến sỹ Vũ Ngọc Hoàng từng giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Sau khi nghỉ hưu, từ tháng 8 năm 2019 đến nay, Tiến sỹ Vũ Ngọc Hoàng đảm nhiệm cương vị Phó Chủ tịch Hiệp hội Đại học, Cao đẳng Việt Nam Bài viết sau đây của ông về các thế hệ học sinh miền Nam từng học tập, trưởng thành dưới mái trường miền Bắc XHCN trong thời gian chiến tranh mà ông là một trong số các thành viên, để tham gia tập sách Còn lại với thời gian , nhân kỷ niệm 65 năm Trường Học sinh Miền Nam, như ông tâm sự: “… tôi không định nói về một thân cây, cho dù nó khỏe mạnh rắn chắc, đứng hiên ngang sừng sững trên đồi nhưng đơn côi một mình, chơi vơi giữa nắng gió, mà ngược lại, tôi muốn nói về một rừng cây, với nhiều loại đa dạng và phong phú, bắt rễ từ trong lòng đất mẹ, và cây lớn đã sinh ra cây con, cây cháu, nối tiếp nhau lớn dần lên trở thành trùng điệp để đóng góp cho cuộc đời và đất nước…”
Các học sinh miền Nam ở Trường Học sinh miền Nam đóng ở Vĩnh Yên,
Trang 8người bạn mới Tôi hiểu câu ấy muốn nói đến những tình bạn đã được thử thách qua thời gian và sóng gió Đúng ra, cũng chẳng phải tôi viết về họ mà là muốn suy nghĩ thử xem họ có những tính cách gì và quan trọng hơn nữa là cái gì đã góp phần sản sinh ra họ? Như thế, với một cách hiểu nào đó, cũng có nghĩa là tôi nói về họ bằng một cách khác.
Từ sau hiệp định Genève 1954 cho đến cuối cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ và thống nhất đất nước, có nhiều vạn con em của miền Nam được đưa
ra miền Bắc để học tập văn hóa và chuyên môn Chủ yếu là học tập trung tại các trường nội trú đối với chương trình phổ thông, sau đó tiếp tục vào các trường đại học trong và ngoài nước Đó là tầm nhìn chiến lược của Bác Hồ và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhằm chuẩn bị một đội ngũ cán bộ để tham gia xây dựng miền Nam sau ngày thống nhất đất nước Chúng tôi là những học sinh trong số đó Ngày ấy, ngoài tên gọi riêng của từng học sinh, chúng tôi thường được mọi người gọi một cái tên chung là Học sinh miền Nam và tự chúng tôi cũng gọi nhau như thế Cái tên ấy mãi cho đến nay, đã hơn nửa thế kỷ qua rồi, hầu hết học sinh ngày đó bây giờ đã già, đã về hưu, nhiều người đã ra đi, nhưng
cứ mỗi lần nhắc đến Học sinh miền Nam chúng tôi đều cảm thấy quý mến, thân yêu, những kỷ niệm từ rất xa, tưởng đã quên rồi lại lần lượt hiện về trong ký ức Tất cả đều mang vị ngọt của thời gian với nhiều kỷ niệm đẹp về tình người và những hình bóng cũ
Sau này lớn lên ra trường về công tác nhiều nơi, có nhiều người cả đời hoặc từng một thời gian dài làm công việc giáo dục, nghiên cứu về giáo dục và các bộ môn khoa học xã hội khác, mỗi khi nhìn lại quá khứ chúng tôi đều nhận thấy mô hình các trường Học sinh miền Nam nội trú ngày đó là một sự thành công rất đáng nói, đáng nghiên cứu Sau khi thống nhất đất nước, hầu hết số học sinh ấy đã về miền Nam công tác trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau ở tất cả các tỉnh thành và nhìn chung họ đều rất trưởng thành, tham gia nòng cốt trong thực hiện các chủ trương mang ý chí thống nhất dân tộc và phát triển đất nước Kể cả những người làm cán bộ lãnh đạo (nhiều người là ủy viên Trung ương, Bộ Chính trị, Thủ tướng, Phó thủ tướng, Bộ trưởng, Thứ trưởng, Bí thư và Chủ tịch các tỉnh thành, tướng lĩnh của Quân đội và Công an); là các nhà khoa học, giáo
sư tiến sĩ, bác sĩ, phi công hay anh hùng, chiến sĩ thi đua và các nhân viên bình thường khác, họ đều có những nhân cách đáng quý trọng (tất nhiên không phải tất cả nhưng có thể nhìn thấy đa số, phổ biến là vậy) Thời kỳ học tại các trường nội trú Học sinh miền Nam ấy, về mặt kiến thức khoa học thì nói thật không phải nhiều lắm, cho dù chúng có ý nghĩa khai mở và đặt nền móng ban đầu rất quan trọng, nhưng cái lớn hơn, lớn nhất, đáng quý nhất là sự hình thành nhân cách sống
Đó là những con người yêu đất nước quê hương, có trách nhiệm cao và lương tâm trong công việc, trong cuộc đời; kiên định nhưng không bảo thủ; trung thực, thẳng thắn, cầu thị và có chính kiến; có việc chung, việc nghĩa thì sẵn sàng ghé vai vào tham gia gánh vác, xong việc thì ra đi mà không cần kể công; có lúc nóng nảy và khí khái, bất cần nhưng dũng cảm, hào hiệp, hay bênh vực những người yếu thế; có tinh thần đồng đội và trách nhiệm với bạn bè,
Trang 9người thân, với cộng đồng và đất nước Họ sống tự trọng, nghĩa tình và biết cảm thông chia sẻ Bất kể người ở địa phương nào trong cả nước, hễ đã cùng là Học sinh miền Nam, dù học ở bất kỳ trường nào, khi ở trong trường thì có lúc đánh nhau nhưng ra xã hội gặp nhau, chỉ cần nghe giới thiệu là Học sinh miền Nam thì cũng đều cảm thấy thân quen và tin tưởng như bạn bè anh em thân thiết, sẵn sàng chia sẻ với nhau việc này việc khác Nhưng không phải vì thế mà trong công việc họ bao che, châm chước thiên vị cho nhau, mà ngược lại rất thẳng thắn, tự trọng như vốn có và khách quan trong xử lý vấn đề… Kể cả những bạn ngày trước là học sinh cá biệt, đánh nhau, nghịch ngợm, đi bẻ mía hoặc hái trộm mít, hái trộm dưa của dân làng, các thầy cô giáo chủ nhiệm lớp đã phải rất vất vả với các bạn ấy, sau này cũng đều rất trưởng thành, có ý thức trách nhiệm cao với
xã hội, có thành tích xuất sắc và sự dũng cảm, sáng tạo trong công việc và trong cuộc sống
Thực tế đã cho thấy mô hình giáo dục các trường nội trú Học sinh miền Nam ngày đó là thành công, nhất là đối với mục tiêu giáo dục nhân bản và dân tộc, với phương pháp dạy học dân chủ, yêu thương và tôn trọng học trò, không
áp đặt Ngày nay có thể tiếp thu những kinh nghiệm của sự nghiệp giáo dục đó
và tất nhiên trong hoàn cảnh mới bây giờ có thể bổ sung thêm mặt giáo dục khai sáng (khai phóng và sáng tạo) và phát triển để xây dựng nền giáo dục mở của đất nước, cho đất nước Điều quan trọng cần rút ra từ câu chuyện giáo dục này là cái gì đã dẫn đến thành công trong quá trình hình thành nhân cách?
Tất cả Học sinh miền Nam đều sinh ra và lớn lên trong các gia đình giàu truyền thống yêu nước và cách mạng Ông bà, cha mẹ, anh chị và những người thân khác trong gia đình của họ là các anh hùng, liệt sĩ và những cán bộ trung kiên gan dạ trong cuộc chiến đấu sinh tử Truyền thống văn hóa và dòng máu ấy
đã thấm sâu, đọng lại trong họ, góp phần quan trọng để hình thành nhân cách
Số đông Học sinh Miền Nam đều có nếm trải sự gian khó và tang thương của chiến tranh, nhiều người đã từng là du kích, dũng sĩ, là liên lạc, tham gia công việc hiểm nguy, nuôi giấu cán bộ cách mạng hoạt động bí mật Cuộc sống ấy đã tôi luyện họ Trường đời góp vào nhân cách họ
Số Học sinh miền Nam về công tác ở Quảng Nam – Đà Nẵng khá đông, hàng trăm người đã tham gia cấp ủy và chính quyền địa phương Trong đó có Trương Quang Được, Lê Quốc Khánh, Nguyễn Đức Hạt, Lê Trí Tập, Nguyễn Hoàng Long, Bùi Công Minh, Huỳnh Năm, Võ Văn Tiên, Vũ Ngọc Hoàng, Nguyễn Bá Thanh, Hoàng Tuấn Anh, Lê Ngọc Nam, Hồ Thị Thanh Lâm, Bùi Quốc Đinh, Huỳnh Nghĩa, Diệp Thanh Phong, Ngô Binh, Võ Công Trí, Nguyễn Văn Lý, Võ Xuân Sơn, Nguyễn Văn Ngữ, Đinh Mướt, Nguyễn Bằng… Trong
đó Phan Đức Nhạn là Học sinh miền Nam, sinh ra trên mảnh đất Bình Dương (Thăng Bình, Quảng Nam) bất diệt với 3 lần được Nhà nước phong tặng danh hiệu xã anh hùng, là con của liệt sĩ và mẹ Việt Nam anh hùng, là em ruột của 3 liệt sĩ nữa Bản thân bạn ấy trước khi ra Bắc học đã từng là người cầm đầu đội thiếu sinh quân ở xã, dự Đại hội cháu ngoan Bác Hồ của Liên khu 5 năm 1969
và là du kích khi mới 14-15 tuổi, có lần đã tổ chức giải vây thành công cho 2 người nữ du kích đang bị địch vây ráp Nhà văn liệt sĩ anh hùng Chu Cẩm Phong
Trang 10đã gặp Nhạn khi anh về vùng đất Bình Dương trong những ngày lửa đạn chiến tranh, đã kịp ghi lại trong nhật ký của mình trước khi hy sinh Trong khói lửa chiến tranh ở vùng đất quyết liệt và gan góc này, Chu Cẩm Phong đã có một nhận xét: “Nhạn tuy còn nhỏ tuổi nhưng đã tỏ ra là một người đàn ông” Điều kiện và hoàn cảnh sinh ra và lớn lên trong gia đình cách mạng ấy, ở vùng đất anh hùng Bình Dương ấy đã tác động đến nhân cách của một con người Trong thời gian còn công tác ở Quảng Nam – Đà Nẵng và tại Thành phố Hồ Chí Minh, Phan Đức Nhạn làm việc ở đâu đều để lại ấn tượng thành công, có sản phẩm cụ thể trong công việc Anh Mai Thúc Lân, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam –
Đà Nẵng là người mà chúng tôi rất quý trọng cũng nhận xét như thế về Phan Đức Nhạn Từ công việc xây dựng ở Đà Nẵng và Quảng Nam, đến Trưởng Ban Quản lý Khu Kinh tế mở Chu Lai, Giám đốc Sở Giao thông tỉnh Quảng Nam và Phó giám đốc Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh… ở đâu cũng có sản phẩm Anh đã được giao nhiệm vụ làm Giám đốc Công ty Xây dựng Quảng Nam từ con số không (trong tay chỉ có duy nhất một tờ giấy đó là quyết định thành lập Công ty, còn không có gì nữa cả, chưa có bộ máy, không được cấp đồng vốn nào dù mang danh công ty nhà nước, không có một căn nhà nhỏ để làm trụ sở) Vậy mà chỉ sau mấy năm đã làm nên sự nghiệp, có thương hiệu, của ăn của để, tạo được khá nhiều vốn tích lũy) Anh là người tham mưu chính về việc chọn nhiều địa điểm xây dựng trong đó có Tháp Phát thanh và Truyền hình tỉnh Quảng Nam, cũng như ý tưởng và chủ trương xây dựng cầu Cửa Đại và con đường ven biển nối Hội An với Tam Kỳ và Chu Lai để mở ra thế chiến lược mới
về phát triển vùng đông Quảng Nam Cán bộ thì nhiều, nhưng có được sản phẩm
cụ thể rõ ràng thì không phải dễ Cán bộ ngày nay, nhiều khi có chức còn dễ hơn
có sản phẩm trong thực tế công tác
Trong lúc đang có chiến tranh ác liệt, đời sống cả xã hội rất nhiều khó khăn, thiếu thốn mọi bề, nhưng Chính phủ và bà con miền Bắc đã đùm bọc, nuôi dưỡng và chăm lo việc học hành, giành sự quan tâm chăm sóc hết lòng với những ưu tiên về chính sách cho con em của cán bộ chiến sĩ và đồng bào miền Nam đang chiến đấu tại các chiến trường với tinh thần anh em ruột thịt trong một đại gia đình Tổ quốc Việt Nam Tình cảm đó chân thật, tạo nên những xúc động đủ sức chinh phục con tim của những thanh thiếu niên sống xa quê, xa nhà
và không gần cha mẹ
Và điều quan trọng nhất chắc chắn thuộc về công lao của các thầy cô giáo, những người đã nuôi dạy Học sinh miền Nam Theo chỉ đạo của Chính phủ, các trường nội trú Học sinh miền Nam là nơi chuẩn bị cán bộ cho miền Nam, cần phải được quan tâm và ưu tiên nhiều mặt, trong đó, chọn các thầy cô giáo là những người tận tâm với công việc, là các giáo viên dạy giỏi từ nhiều tỉnh thành
ở miền Bắc được điều về đó công tác, cùng với các cô chú từ miền Nam ra tập kết đang nặng lòng với quê hương cũng được điều về đây tham gia nuôi dạy Học sinh miền Nam Họ là những con người hết lòng tận tụy, yêu thương chăm sóc học trò như con ruột, ngày đêm không quản ngại khó khăn, suốt đời hết lòng vì Học sinh miền Nam thân yêu Bằng những việc làm rất cụ thể, với kinh nghiệm, tình cảm và sự cao thượng của người thầy, đã kiên trì dìu dắt các học sinh tiến
Trang 11bộ, trưởng thành lên từng bước một Có mấy câu thơ của một tác giả nào đó mà ngày ấy tôi đã được nghe:
Ngày mai con cỡi gió mây Con bay vượt biển, con bay băng ngàn Nhưng đường cũng chẳng gian nan Bằng đi từ ghế tới bàn hôm nay
Nhân cách, hình ảnh những người thầy ở trường Học sinh miền Nam ngày
đó đã để lại trong ký ức học trò nhiều thế hệ mãi về sau này những tình cảm thật đẹp, thật xúc động, sâu lắng và bền chắc Chính những con người ấy đã nuôi dạy Học sinh miền Nam, chăm từng bữa ăn giấc ngủ, cùng vui buồn, sống và lo thay cho công việc của cha mẹ học sinh trong hoàn cảnh chúng xa nhà, không cha không mẹ, tổ chức các hoạt động xã hội phong phú dù trong hoàn cảnh bộn bề khó khăn Nhân cách là tính người, chất người, những giá trị Người được hình thành trong cuộc sống Nó bắt đầu từ con tim được cảm hóa bởi những sự xúc động chân thành, rồi chọn lọc, chuyển dần lên để ghi khắc lại trong ký ức và trong vỏ não, biến thành máu thịt và sức mạnh bền lâu ở mỗi con người Nhân cách chỉ có thể hình thành từ nhân cách NGƯỜI Từ nhân cách của ông bà, cha
mẹ, anh chị, của người thầy, người lãnh đạo đã cảm hóa và truyền nối sang người khác, sang thế hệ sau, và còn lại mãi với thời gian Văn hóa là vậy đó, là cuộc sống thực Chứ không phải những lời răn dạy ồn ào và bay bổng, cũng không phải từ những lý thuyết trừu tượng mông lung, xa vời
Viết đến đây bỗng nhiên tôi nhớ lại một câu chuyện hình như của văn học Nga mà tôi đã đọc hồi còn ở trường Học sinh miền Nam (nếu nhớ không nhầm)
Có một người anh hùng rất nổi tiếng, được nhân dân vô cùng mến mộ Các nhà điêu khắc đề nghị được tạc tượng người anh hùng đó Anh ấy thì ngược lại đề nghị không tạc tượng mình mà tạc tượng người thầy của mình Nhóm nghệ sĩ nói rằng nhân dân rất ngưỡng mộ và biết tên tuổi nổi tiếng của người anh hùng,
vì vậy mà họ muốn dựng tượng anh, còn thầy của anh thì rất ít người biết đến tên tuổi Người anh hùng vẫn giữ quan điểm của mình Anh nói rằng, nếu mọi người đã biết nhiều về tên anh và chưa biết nhiều về người thầy thì đề nghị cứ tạc tượng người thầy rồi ghi phía dưới một dòng chữ “Đây là thầy của người anh hùng…” và ghi tên anh vào đó
Bài viết này để tham gia tập sách Còn lại với thời gian , trong đó có nhiều lưu
dấu về nhiều người bạn của tôi, nhưng tôi không định nói về một thân cây, cho dù
nó khỏe mạnh rắn chắc, đứng hiên ngang sừng sững trên đồi nhưng đơn côi một mình, chơi vơi giữa nắng gió, mà ngược lại, tôi muốn nói về một rừng cây, với nhiều loại đa dạng và phong phú, bắt rễ từ trong lòng đất mẹ, và cây lớn đã sinh ra cây con, cây cháu, nối tiếp nhau lớn dần lên trở thành trùng điệp để đóng góp cho cuộc đời và đất nước, như đồi dương bất tử trên mảnh đất anh hùng…
Tam Kỳ ngày 5/1/2020 Nguồn Văn nghệ số 22/2020
VŨ NGỌC HOÀNG Các bạn ấy là học sinh miền Nam/ Vũ Ngọc Hoàng// Văn nghệ.- 2020.- Ngày 30 tháng 5.- Tr.4,5.
Trang 12KỶ NIỆM 90 NĂM BÁO ĐẢNG QUẢNG NAM (1930 - 2020)
CÓ MỘT BIÊN NIÊN SỬ BÁO CHÍ CÁCH MẠNG QUẢNG NAM
Cho đến nay, Quảng Nam - Đà Nẵng nói chung, dù có nhiều tài liệu, bài viết đâu đó trên một số tạp chí, đặc san, báo ngày, tuần báo, kỷ yếu ở địa phương, trong nước, nước ngoài, đề cập hoạt động báo chí, nhưng chậm
có một “công trình”, tác phẩm lịch sử báo chí ở vùng đất này, vì nhiều lý do khách quan
Vùng đất, non một thế kỷ qua với bao nhiêu dư chấn, biến động lịch sử, nhất là từ khi có Đảng ra đời, lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng long trời lở đất, đánh đổ các thế lực thực dân, phong kiến, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Trong đó có mũi nhọn báo chí luôn là lực lượng chủ công, tiếng nói của nhân dân, của Đảng, là sự hiện diện của cách mạng trong tâm hồn, trái tim nhân dân, dù cho phong ba bão táp, gian khổ, ác liệt tột cùng
Báo chí đất Quảng đã làm nên một biên niên sử vẻ vang, là niềm tự hào của các thế hệ cầm bút qua các thời kỳ Những sự kiện, những tên tuổi của người làm báo đất Quảng luôn để lại ấn tượng, dấu ấn khó quên trong ký ức nhiều người Về sau này, tôi có may mắn và điều kiện đọc được một số sách, tư liệu về báo chí đất Quảng, trong đó có cuốn kỷ yếu “Báo Quảng Nam - những dấu ấn không quên” nhân kỷ niệm 80 năm báo Đảng Quảng Nam (1930 - 2010), cũng như trong kháng chiến chống Mỹ, tôi có tham gia làm báo Giải phóng Quảng Nam từ những năm 1964 - 1970, và cũng từ lâu tôi đã ấp ủ ý tưởng, ghi chép, thu thập, tập hợp các nguồn tư liệu, tài liệu để thực hiện cuốn sách mà tôi tâm đắc “Chân dung nhà báo đất Quảng” Sách đã viết xong, tuy chưa ưng ý, nhưng trong ấy lấp lánh, hiển lộ những gương mặt nhà báo đất Quảng tiên phong, tài năng như Bùi Thế Mỹ, Nguyễn Bá Trác, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi, Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh), Lương Khắc Ninh, Huỳnh Thị Bảo Hòa, rồi Lê Ấm, Phan Thanh, Phan Bôi, Phan Thao, Lưu Quý Kỳ, Nguyên Ngọc, Nguyễn Văn Bổng, Đoàn Bá Từ, Vũ Hạnh, Đinh Chương
Những nhà báo cấp tiến, yêu nước, canh tân gắn liền với tên tuổi tờ báo như Tiếng Dân của Huỳnh Thúc Kháng, Sông Hương của Phan Khôi Thể hiện phong cách cách tân, đổi mới như Nguyễn Tường Tam, Huỳnh Thị Bảo Hòa Đặc biệt, tiêu biểu và trưởng thành, có vai trò nhất định trong làng báo cách mạng như Phan Bôi, Phan Thanh, Phan Thao, Lưu Quý Kỳ, Đoàn Bá Từ, Vũ Hạnh xuôi ngược trong Nam ngoài Bắc, có người bị tù đày trong nhà lao đế quốc
Có những người không phải là nhà báo, nhưng lại là những người có vai trò quyết định, lãnh đạo, chỉ đạo nòng cốt các tờ báo của Đảng qua các thời kỳ (1930 - 1975) về định hướng nội dung lẫn hình thức, như các Bí thư Tỉnh ủy, Đặc khu ủy Võ Toàn (Võ Chí Công), Phan Tốn, Phan Văn Định, Bốn Hương (Võ Trọng Hoàng), Hồ Nghinh, Hoàng Minh Thắng, Trần Thận với các tờ báo Lưỡi cày, Mõ nhà pha, Còi nhà máy, Khởi nghĩa, Dân tộc, Cứu quốc, Cờ độc
Trang 13lập, Hừng đông Từ những năm 1945 - 1975, là các báo Giải phóng, Chiến thắng, Quyết tiến, rồi Giải phóng (tục bản) Ở miền núi có báo Gung dứr (Đứng lên) - tiếng dân tộc Cơ Tu, Pru dương (Vùng lên) - tiếng dân tộc Ca Dong.
Trong từng thời điểm, yêu cầu của tình hình họat động chính thức, hợp pháp, công khai, hoặc bí mật, có một “lực lượng” là những học sinh, sinh viên, giáo chức, văn nghệ sĩ, phật tử âm ỉ làm báo, ra báo, trở thành phong trào “dấu thân, xuống đường” trong lòng đô thị Đà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ, đóng góp tiếng nói mạnh mẽ, đấu tranh chống Mỹ xâm lược và ngụy quân, ngụy quyền tay sai, vạch trần tội ác
và trò hề mị dân của chúng, đòi dân sinh, tự do, dân chủ, ủng hộ Mặt trận Dân tộc giải phóng, đòi hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước bằng văn xuôi, thơ ca, nhạc, họa, ảnh chụp sống động, kịp thời Đó là những tập san, đặc san, bản tin như Tu thư, của các nhà giáo Phạm Phú Hưu, Phan Khôi, Nguyễn Bội Liên (Hội An); Vượt sóng, của lực lượng nhân dân tranh thủ hòa bình; Đứng đầu gió, của học sinh, sinh viên đất Quảng; Tiếng gọi học sinh, của Tổng đoàn học sinh Đà Nẵng; Ý nghĩ, Tiềm lực, của nhóm Mai Đức Lộc, Huỳnh Kim Sánh; Sinh viên Quảng Đà, của nhóm Đỗ Hoàng Thiệu, có sự tham gia của nhà văn Nguyễn Văn Xuân, Ngô Thị Kim Cúc in tại Sài Gòn, phát hành về Quảng Nam, Đà Nẵng; Hồn trẻ, của nhóm Băng Huyền (Trương Ngọc Bằng), Hoàng Hương Việt, Hoài Thu, Nguyễn Văn Tám (ra được 3 số viết tay), ở nhà lao Mang Cá, Huế , được coi là những tờ báo yêu nước đã đồng hành, chia lửa cùng với báo chí của Đảng trên mặt trận truyền thông thông tin do Đảng ta lãnh đạo
Báo Giải phóng Quảng Nam và Giải phóng, Cờ giải phóng Quảng Đà có thời gian hoạt động dài nhất (1962 - 1975), phục vụ đắc lực cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của quân và dân Quảng Nam, Đà Nẵng đến ngày toàn thắng
Một vài dòng lược ghi trên đây để thấy rằng, do vị trí đặc thù của vùng đất đầu sóng gió, luôn đối mặt với nhiều kẻ thù thâm độc đánh phá, chiếm giữ,
áp đặt để thực hiện âm mưu chia cắt, cai trị, cho nên cũng là nơi luôn khởi phát của các tổ chức, tầng lớp yêu nước, trong đó có báo chí, nhất là từ khi có Đảng Báo chí đất Quảng luôn là công cụ đắc lực, kênh thông tin chân chính, trung thực của cách mạng, vạch mặt và phân hóa kẻ thù, ca ngợi cái đẹp, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trước công luận xã hội, được đông đảo người đọc đón nhận, ủng hộ Từ sơ khai đến khi trưởng thành, báo chí đất Quảng không ngừng cải tiến, đổi mới về nội dung lẫn hình thức, với một đội ngũ làm báo bản lĩnh và chuyên nghiệp đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin nhiều chiều của nhiều đối tượng bạn đọc, ngày càng phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, giữ vững và phát huy truyền thống làm báo sáng tạo, năng nổ của các thế hệ đi trước theo nền tảng tư tưởng, quan điểm, đường lối của Đảng Thực tiễn đó, thể hiện thuyết phục trên tờ Báo Quảng Nam - Cơ quan của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Nam, “Tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Nam” ngày nay
Ban Tuyên huấn Quảng Nam lúc bấy giờ (1960 - 1975) có 13 đơn vị trực thuộc gồm văn phòng ban, tiểu ban tuyên truyền (có văn nghệ, báo
Trang 14chí), tiểu ban huấn học, tiểu ban giáo dục, trường Đảng, đài minh ngữ, nhà
in giải phóng, đoàn văn công giải phóng (dân ca kịch), đoàn nghệ thuật tuồng giải phóng, đoàn ca múa dân tộc miền núi, đội chiếu bóng, đội vũ trang tuyên truyền (3 tổ), tổ sản xuất ở hậu cứ, với tổng số hơn 200 cán bộ, công nhân viên
Đội ngũ này là những anh chị em cán bộ cốt cán trụ lại sau hòa bình 1954,
số đi tập kết về, số khu 5, miền Bắc tăng cường, số rút từ các huyện, thị, thành phố, ở tù ra và trốn bắt lính lên chiến khu tham gia cách mạng Đến ngày quê hương Quảng Nam giải phóng năm 1975, có hơn 50 người là cán bộ lãnh đạo và các đơn vị thuộc Ban đã anh dũng hy sinh, bị thương tật, hoặc bị địch bắt tù đày
Có người đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt như anh Văn Đức Hiếu, cô Thanh Tuyền (quê Thăng Bình), Nguyễn Huyền Vân (quê Quế Sơn), anh Minh Tân (quê Quảng Ngãi), anh Nguyễn Ri (quê Duy Xuyên) làm ở báo Giải phóng Còn nhớ, ngày chúng tôi được điều về Ban Tuyên huấn Quảng Nam, anh Hiệp (ở bộ phận in li-tô) của ban lên đón chúng tôi, lúc đó đang nằm chờ ở trạm giao liên Ông Sở (mật danh) gần thị trấn huyện miền núi Trà My, tôi biết loáng thoáng sẽ vô làm chỗ báo Lần đầu tiên, tôi được nghe tên báo Giải phóng Quảng Nam Sở dĩ chúng tôi ở trạm giao liên Ông Sở, bởi lúc cơ sở móc nối đưa mấy anh em sinh viên chúng tôi từ Huế, Đà Nẵng ra chiến khu lên tận Ban Tuyên huấn khu 5, đóng ở Nước Xa, Nước Mỹ, giáp miền núi tỉnh Quảng Ngãi, sau đưa về Quảng Nam, Quảng Đà công tác
Khoảng tháng 10 năm 1963, Ban Tuyên huấn Quảng Nam, đóng ở thôn 4
xã Phước Sơn, huyện Tiên Phước, là một trong những xã thuộc căn cứ địa của tỉnh Tiểu ban Tuyên truyền đang có anh Triều Phương (Nguyễn Mậu Tý), Nguyễn Đình Khôi, Nguyễn Ri trọ ở nhà bác Sơn, bác Sim, nằm lưng chừng dốc núi, gần tuyến đường xuôi đèo Eo Gió xuống chợ Cẩm Khê xã Kỳ Phước, huyện Tam Kỳ và dốc Vòng Xoay đổ xuống xã Phước Cẩm, huyện Tiên Phước
Lúc đó, đồng chí Trương Minh Tân, Thường vụ Tỉnh ủy, làm Trưởng ban, đồng chí Hoàng Minh Hiệu, phó ban Tôi được ăn ở chung với các đồng chí ấy một nhà Các vị nhìn tôi có cái gì đó khang khác, có lẽ vì tôi “quá tiểu tư sản chăng”,
da trắng, tóc tai bù xù, chân mang dép rọ trắng, còn kẹp theo tấm ảnh chân dung
cỡ 18 x 24cm và tập thơ viết tay “Vẻ buồn tình yêu”, lén đem ra đọc, không ngờ ông Phó ban Hoàng Minh Hiệu bắt gặp, không nói gì, vì biết tôi vừa ở thành phố lên rừng chưa được vài tháng
Ba ngày sau, tôi được gặp Trưởng ban Tuyên huấn - Trương Minh Tân, nghe đồng chí hỏi thăm gia đình , việc học hành, hoạt động của phong trào học sinh, sinh viên và chuyện bị địch bắt cầm tù, cuối cùng giao việc, dặn dò và giới thiệu một số anh chị ở các tiểu ban, phần đông đều đi công tác ở các địa phương.Vậy là tôi được làm ở báo Giải phóng Báo chí thì tôi biết rõ, vì năm 1958, khi còn đang đi học tôi đã viết văn, làm thơ gửi đăng các báo ở Sài Gòn, Huế Khi bị bắt cầm tù ở nhà lao Mang Cá, Huế, tôi và một số bạn tù quê Quảng Nam bàn nhau làm tờ Hồn Trẻ (dạng tập san, viết tay, khổ bằng cuốn vở học trò, khoảng
16 trang), nội dung văn, thơ yêu nước, ca ngợi tình yêu cuộc sống, quê hương, đất nước và một số bài thơ Tố Hữu, danh ngôn học làm người, chuyền đọc trong
Trang 15nhà lao và gửi ra ngoài qua người thân đi thăm tù Còn báo Giải phóng, là tờ báo của cách mạng, thì tôi chưa hình dung ra được.
Trong những ngày đầu chờ việc, tôi đọc mấy tờ Giải phóng in li - tô, khổ hai tờ giấy vở học sinh nối lại, chữ nghĩa chỗ đậm chỗ lợt, nhưng nội dung xã luận, mẩu chuyện, tin tức, thơ, ca dao, tranh đả kích thì “mới lạ” phong phú, theo hướng đánh giặc, cứu nước, giải phóng quê hương bằng 3 mũi giáp công (đấu tranh chính trị, quân sự, binh địch vận), bằng 3 thứ quân (chủ lực, bộ đội, địa phương, dân quân du kích) ở cả 3 vùng (miền núi, nông thôn, đô thị)
Những cụm từ quen thuộc, bất cứ người nào ở chiến khu cũng biết Cách viết hồi ấy, kể cả sáng tác, mới nghe thì dễ, nhưng không thể nào viết hay và hấp dẫn, mặc dù hiện thực thì quá phong phú Nơi vùng đất ngày đêm đạn, bom cày xới, chất độc hóa học tanh lợm, cỏ cây, hoa màu tàn lụi, đồng ruộng hoang vắng, những cuộc càn quét và xe tăng của Mỹ lúc ngúc lủi ngủi chà xát liên miên ở các vùng giáp ranh, vùng mới giải phóng như xã Kỳ Anh, Kỳ Phú, Kỳ Thịnh, Kỳ Phước, Kỳ Sanh (Tam Kỳ), Bình Định, Bình Quý, Bình Trị, Bình Dương, Bình Đào, Bình Giang (Thăng Bình), Phú Phong, Phú Hương, Phú Diên (Quế Sơn) Nhưng ở đâu, cũng gặp bộ đội giải phóng, anh chị em du kích, dân công vận chuyển anh chị em cán bộ, các ngành đi công tác, một số trường học cấp 1, cấp
2 mới mở, thỉnh thoảng hằng đêm vẫn có văn công, tuồng biểu diễn, chiếu phim, nói chuyện thời sự phục vụ đồng bào, cán bộ, chiến sĩ
Có thể nói, tình hình từ những năm 1964 đến năm 1968, là thời kỳ cả tỉnh tiến công mở ra vùng giải phóng nối liền từ Nam Tam Kỳ ra tới Quế Sơn, từ miền núi xuống vùng đông Nhiều đồn bốt, căn cứ, nhiều khu dồn, ấp chiến lược của địch bị ta tấn công tiêu diệt, giải thoát đồng bào trở về ruộng vườn quê cũ làm ăn, tiếp tục làm chỗ dựa hợp pháp, đóng góp cho các họat động của cách mạng giữa sự bao vây, ngăn chặn đánh phá ác liệt của Mỹ - ngụy Những tấm gương người tốt việc tốt, anh hùng, dũng sĩ diệt Mỹ của quân và dân Quảng Nam xuất hiện ngày càng nhiều, là niềm tự hào, động lực thúc đẩy, hiệu triệu sức mạnh đoàn kết một lòng lao động sản xuất, công tác xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng
Báo Giải phóng Quảng Nam ngày càng định hình về nội dung lẫn hình thức, nhất là lực lượng Viết bài tại chỗ có gần như cả Tiểu ban Tuyên truyền, Văn nghệ, Báo chí, Giáo dục, Huấn học, ngay cả đội công tác vùng sâu cũng tham gia.
Còn có đội ngũ cộng tác viên từ các ban, ngành trong tỉnh, ở các huyện,
xã gửi đến, các nhà văn, nhà báo ở khu 5 gửi về, Quảng Đà gửi vô Hoặc một số anh chị ở khu đi thực tế địa phương về ở hẳn tại Ban Tuyên huấn có khi vài tháng, như nhà báo Đinh Thành Lê, Trần Phò (Phương), nhà thơ Thu Bồn, Dương Hương Ly, Hải Lê (Vương Linh), nhà văn Chu Cẩm Phong, Cao Duy Thảo, Dương Thị Xuân Quý, họa sĩ Thế Vinh, Trần Việt Sơn, nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu đều viết cho báo Giải phóng Với lượng tin, bài, thơ, nhạc, họa đa dạng, phong phú, có chất lượng như vậy, nên anh em chúng tôi có điều kiện tha
hồ chọn lựa để in
Trang 16Năm 1965, có đồng chí Phan Hiền ở miền Bắc về, được trên cử làm Phó Trưởng ban Tuyên huấn tỉnh, trực tiếp làm Trưởng tiểu ban, phụ trách báo Giải phóng, với danh nghĩa “Tổng biên tập” báo Từ năm 1966, đồng chí làm Chủ tịch Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng Quảng Nam, dưới tên gọi “Giáo sư Đông Lương” Tôi được ban điều đi phục vụ và là phóng viên báo Giải phóng, chụp ảnh, viết bài tường thuật Đại hội Mặt trận, tổ chức tại thôn 6 xã Tiên Ngọc, huyện Tiên Phước.
Đến năm 1967 báo có thêm các anh Chí Cao (Nguyễn Kiến) ở Thị ủy Tam Kỳ lên, rồi Nguyễn Việt Tiến, Dương Chí Lai (nhà giáo), Phạm Hồng (họa sĩ) từ Hà Nội về Sau Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, có thêm các chị Thu Hồng, Thanh Tuyền (giáo viên), chị Như Lại, anh Văn Đức Hiếu, Nguyễn Huyền Vân, Nguyễn Duy Hinh (quê Thăng Bình, Quế Sơn, Tam Kỳ, Tiên Phước) được giữ lại cơ quan; chị Phan Thị Minh (Phan Thị Mỹ Khanh, con gái
cụ Phan Khôi) hoạt động cơ sở ở Đà Nẵng được tổ chức móc nối đưa lên, đều bổ sung cho báo Giải phóng
Ngoài lực lượng chủ công tại tòa soạn như trên, báo tổ chức được một mạng lưới cộng tác viên đông đảo, gần như trên mọi mặt hoạt động ở khắp mọi nơi, thường xuyên gửi thư, bài phản ánh về các trận đánh diệt ác, phá kèm, mở
ra vùng giải phóng, các cuộc đấu tranh trực diện của các mẹ, các chị, vận động binh lính ngụy bỏ ngũ, chống càn, vận chuyển lương thực, phong trào xuống đường của học sinh, sinh viên ở thành phố, thị xã, những tấm gương người tốt, việc tốt trong các tổ chức hội, đoàn thể Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh v.v Trong sổ tay ghi chép còn giữ được, tôi không thể nào quên các anh chị “thông tin viên” nhiệt tình, gắn bó với báo Giải phóng Quảng Nam như: Xuân Nho, Nhị Văn, Hồ Anh Tuấn, Nguyễn Tự Phê, Đức Dũng (Thăng Bình), Nguyễn Phạm Huỳnh, Nguyễn Hữu Cần, Ngô Xuân Dương, Phạm Tăng, Lê Nho Sơn (Quế Sơn), Thu Hạnh, Hoàng Mộng Giao (Tiên Phước), Nguyễn Đình Hiến, Hữu Lượng (Tam Kỳ) Rồi có Nguyễn Công Toản, Huỳnh Phan Lê (con của Giáo
sư Huỳnh Lý) bên Ban Kinh tế; Duy Nguyễn (Trần Khảm) bên Ban Binh vận;
Võ Tuyển (bác sĩ, Trưởng ban Dân y); Nguyễn Anh Dũng bên Tỉnh đội; các anh Hoài Hà, Nguyễn Trung Hiếu, Vũ Thành Lê, Hà Phương Diệu ở Quảng Đà; nhà thơ Liên Nam, Thân Như Thơ ở báo Quân giải phóng Khu 5 và một số anh chị
em khác Có chi tiết, nhà thơ Thân Như Thơ (quê Hội An) gửi cho báo bài thơ lục bát “Vườn thơm” viết trên tờ giấy pơ-luya xanh mỏng, nay tôi còn giữ làm
kỷ niệm Quá lâu rồi tôi không có điều kiện gặp lại các anh chị ấy, biết ai người còn người mất Dù xa vắng, cách trở bao nhiêu, hình bóng các anh chị thân yêu
đã một thời gắn bó với báo Giải phóng, không bao giờ phai mờ trong ký ức nhớ thương của tôi
Về hình thức, tờ báo vẫn giữ khuôn khổ 30 x 40cm (2 trang vở học trò nối lại) Măng-sét chữ Giải phóng luôn thay đổi, là do lúc đó, tôi được giao làm thêm một số việc mà bên bộ phận viết li-tô (chữ ngược) nhà in ít khi làm được như viết chữ tít, vẽ tranh cổ động, tranh đả kích Tôi có biết vẽ, viết chút ít, nên hay ngồi phác họa các kiểu chữ “Giải phóng”, thấy chữ nào hay hay thì sử dụng, cho nên vài ba số lại có chữ “Giải phóng” khác (lúc chữ đứng, lúc nghiêng, lúc
Trang 17ba tông chân đe, lúc chữ phông-ta-di) Thay đổi xoành xoạch như vậy nhưng các anh lãnh đạo ban không có ý kiến gì, không như bây giờ, măng- sét báo phải xét duyệt và giữ cố định theo giấy phép được cấp.
Báo không ra được đều kỳ, nên không đánh số, chỉ ghi ngày in báo, có khi một tháng 2 số, có khi cả tháng không in được, do tình hình địch đánh phá, cơ quan di chuyển, chống càn, lo vận chuyển lương thực, tăng gia sản xuất, tự túc chi phối Tuy nhiên, báo vẫn đảm bảo chất lượng, nhất là những số đặc biệt về những ngày lễ lớn, ngày tết được tăng trang (4 lên 8 trang) Bài vở được đầu tư chăm chuốt công phu, nặng thể loại “văn chương, lịch sử”, có tranh cổ động 3 màu ở trang đầu Màu đỏ dùng thuốc đỏ, màu vàng dùng thuốc củ nghệ, màu xanh có sẵn mực viết, rồi dùng bút tô theo màu sắc họa sĩ vẽ, vậy mà khi báo in
ra trông cũng rực rỡ, bắt mắt Báo có mấy chuyên mục như “Trên mảnh đất này”, “Tiếng thơ đất Quảng”, “Tranh đả kích”, nhận được nhiều bài viết, tranh
vẽ của cộng tác viên, bạn đọc tham gia Thường các bài xã luận, bình luận trên báo đều do Trưởng ban Tuyên huấn (qua các thời kỳ) như đồng chí Trương Minh Tân, Nguyễn Minh Mẫn, Võ Thiếp, Việt Dũng, cũng có khi giao cho phó trưởng ban viết, các đồng chí trưởng ban xem, sửa lại, hoặc bỏ hẳn vì chưa đạt yêu cầu, rất ít khi anh em phóng viên, biên tập chúng tôi viết, nếu nhỡ các đồng chí ấy đi vắng, thì báo cũng phải chờ Còn lại, toàn bộ nội dung, chúng tôi đều quán xuyến hết Càng đi nhiều, viết nhiều, lăn lộn với thực tế, cộng với rèn luyện dần, tích lũy kinh nghiệm, tay nghề nâng lên, làm chủ được ngòi bút, thể loại, nội dung vấn đề mình viết, nên được lãnh đạo quan tâm, tin tưởng
Ở tòa soạn báo Giải phóng Quảng Nam cũng có sự phân công, mỗi anh chị theo dõi một mảng, nhưng khi cần đều viết được các mảng khác như vũ trang, đấu tranh chính trị, văn hóa, văn nghệ, giáo dục, tin trong nước, quốc tế v.v
Được giao nhiệm vụ ghi tin chậm Đài Tiếng nói Việt Nam (từ 8 giờ đến
10 giờ sáng hằng ngày) và Đài Phát thanh Giải phóng (từ 12 giờ đến 13 giờ hàng ngày), hai chị Phan Thị Minh, Phạm Thị Như Lại đi đâu, ở đâu cũng mang theo bên mình chiếc đài bán dẫn để nghe, ghi lại rồi chọn lọc làm bản tin cho báo Công việc này đòi hỏi phải tinh nhạy, có nhãn quan chính trị, phát hiện nhanh bản tin nào cần phải sử dụng nguyên văn hoặc tóm tắt
Ngoài công việc chính, báo Giải phóng có lúc còn cử phóng viên xuống tổ chức các đợt tập huấn cho cộng tác viên, hoặc nói thời sự ở một số huyện Năm
1966, báo tổ chức Cuộc thi sáng tác thơ trên toàn tỉnh Năm ấy bài thơ “Qua đồn Đất Đỏ” của tác giả Triều Phương đạt giải Nhất (đồn Đất Đỏ ở Tam Kỳ bị qquân giải phóng Quảng Nam san bằng năm 1965) Sau đó, bài thơ in trong tập thơ tuyển chọn của báo cùng các bài “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Bình Dương quê ta”, “Bài
ca chào mừng”, “Thư ra tiền tuyến”, “Đường về mùa Xuân” của các tác giả khác Năm nào báo Giải phóng cũng in được vài tập ca dao khổ nhỏ, số lượng lớn, phát hành rộng rãi, vào tận huyện lỵ, thị xã tạm chiến (Tôi còn giữ được mươi tập đến nay)
Trang 18Chưa bao giờ tòa soạn ở lâu một nơi được vài tháng, dù là ở trên núi, chỗ hiểm trở, mà luôn di dời để tránh địch càn quét, đánh phá Vất vả nhất là làm lán trại và đào hầm Có khi làm xong, chưa ở, lại phải đi nơi khác, hoặc bị tàu gáo (rọ) Mỹ lùng sục bắn cháy Suốt những năm tháng ấy, tòa soạn xê dịch, lúc đóng quân ở thôn 4 xã Phước Sơn, lúc xuống Phước Cẩm, rồi lên xã Phước Hà, huyện Tiên Phước Sau đó, tòa soạn vào ở dốc Ông Đồi xã Kỳ Quế, rồi sang Kỳ Sơn, huyện Tam Kỳ Lúc phải lên tận nóc Ông Đề gần mỏ vàng Bồng Miêu Mỹ lết, B52 nhiều quá, lại đùm túm nhau lên Phương Đông, Dương Yên, xa nhất là Tiên Lãnh, huyện Tiên Phước Cách đây 10 năm, thôn 4 Phước Sơn là nơi được đặt bia đá kỷ niệm địa chỉ lịch sử của Ban Tuyên huấn Quảng Nam đóng quân đầu tiên tại vùng căn cứ địa cách mạng Sơn Cẩm Hà của tỉnh, trong đó có báo Giải phóng Quảng Nam, ở nhà bác Sơn Bây giờ, chỗ ấy không có nhà dân, chỉ có cây cối um tùm, bao phủ bạt ngàn rừng núi.
Đi đâu, ở đâu anh em phóng viên, biên tập của chúng tôi cũng bám theo các chiến dịch, hoạt động đánh địch của bộ đội ta Rồi báo phản ánh các phong trào, các đợt phát động thi đua giết giặc lập công, tăng gia sản xuất, tòng quân, vận chuyển lương thực, đấu tranh chính trị, binh vận, xây dựng vùng giải phóng Hay các đại hội, liên hoan chiến sĩ thi đua, dũng sĩ diệt Mỹ, đoàn thể nông dân, thanh niên, phụ nữ; các hội nghị ban, ngành, tỉnh đội; các tấm gương tiên tiến, người tốt việc tốt Đi đâu chúng tôi cũng ghi chép, viết tin, bài, tích lũy tư liệu để sau này có điều kiện viết ký, truyện
Tôi đã vài lần được lãnh đạo ban, chủ yếu là tòa soạn báo, cử sang Tỉnh đội, đi theo các đồng chí chỉ huy áp sát trận địa Như trong trận đánh xáp lá cà của quân Giải phóng với bọn Mỹ ở Núi Thành năm 1966 lừng danh cả nước, được tặng 8 chữ vàng “Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ” (Tôi có viết bài thơ “Lời thề diệt Mỹ”, in trên báo Giải phóng và in trong tập thơ tuyển “Tiếng thơ đất Quảng”, nay tôi còn giữ tập thơ) Hay trận đánh đốt cháy đoàn xe quân
sự của địch trên quốc lộ 1, đoạn Mộc Bài - Bà Rén huyện Quế Sơn, năm 1967 Trong chiến dịch Tổng tấn công và nổi dậy Xuân 1968, tôi và anh Nguyễn Đình Khôi được phân công theo cánh quân Huyện đội Tam Kỳ vào thị xã trong đêm quân ta nổ súng đánh địch, làm nhiệm vụ chiếm phòng thông tin, dùng ô tô gắn loa đọc tin chiến thắng, kêu gọi ngụy quân ngụy quyền ra hàng, phát báo chí, tờ tin tới đồng bào và viết tin, bài, chụp ảnh tại chỗ Nhưng chiến sự không thuận lợi, sáng hôm sau phải rút về hậu cứ, thì anh Nguyễn Đình Khôi bị địch phản kích bắt ngay tại tỉnh đường Quảng Tín đưa đi cầm tù Mùa xuân đó, báo Giải phóng dốc toàn lực làm tờ báo Xuân Mậu Thân 8 trang, với nội dung phong phú,
in số lượng lớn, cùng với các tập thơ, ca dao chọn lọc, các tờ rơi và áp-phích được anh em tòa soạn mang theo vào các quận lỵ, thị xã được phân công đi chiến dịch
*
* *Ngày 26 tháng 3, rồi 29 tháng 3 năm 1975, Quảng Nam, Đà Nẵng hoàn toàn giải phóng Tôi không có may mắn được cùng anh chị em trong Ban Tuyên huấn, đặc biệt là báo Giải phóng Quảng Nam - nơi tôi công tác - đón chào ngày
Trang 19quê nhà sạch bóng quân thù, vì đang vào học năm đầu đại học báo chí ở Hà Nội Ngày ấy, chắc anh chị tòa soạn báo vui mừng và hạnh phúc, vì sau chặng đường xuôi ngược lại được trở về giữa lòng thành phố Đà Nẵng và đất trời xứ Quảng thân yêu, để bước vào một thời kỳ mới trong quê hương hòa bình, độc lập, bỏ lại đằng sau bao nhiêu nhọc nhằn, gian khổ, những vui buồn, mất mát không tránh khỏi trong chiến tranh Nhưng một điều khẳng định, chúng tôi có những năm tháng sống đẹp bằng cây bút, trang giấy như những chiến sĩ ngoài mặt trận, đánh giặc, cứu nước, góp một phần đáng kể vào sự nghiệp cách mạng, được Đảng và nhân dân tin yêu, nuôi dưỡng Có vinh dự và hạnh phúc nào bằng!
Với dung lượng cho phép, tôi chỉ ghi lại được bấy nhiêu chi tiết chưa đầy đủ, coi như chút ký ức của một người được làm việc trong tòa soạn báo Giải phóng Quảng Nam, một thời đã qua
HOÀNG HƯƠNG VIỆT
HOÀNG HƯƠNG VIỆT Có một biên niên sử báo chí cách mạng Quảng Nam/ Hoàng Hương Việt// Quảng Nam.- 2020.- Ngày 10 - 15 tháng 6.- Tr.6.
Trang 20BÁC HỒ TRONG TRÁI TIM CỦA A NHỨI
Chưa đủ tiền nộp học phí, giấc mơ đại học của Pơ Loong A Nhứi đành đóng lại Những tưởng tương lai của chàng thanh niên dân tộc Cơ tu
ở xã Tà Bhing, huyện Nam Giang (tỉnh Quảng Nam) sẽ cũng như ông bà, cha mẹ mình, quẩn quanh nơi miền sơn cước hẻo lánh, xa xôi Nhưng không, khát khao học tập, theo đuổi đam mê đã mở ra cánh cửa khác, giúp
A Nhứi có một ngã rẽ quyết định cuộc đời.
Pơ Loong A Nhứi (hàng đứng đầu tiên, thứ 2 từ trái qua) trong đội của mình tại công ty
(Ảnh do nhân vật cung cấp)
Sinh năm 1994, đến nay, Pơ Loong A Nhứi đã gắn bó với thành phố biển
Đà Nẵng 8 năm, trong đó anh làm việc tại Công ty TNHH Asian Tech 5 năm với mức thu nhập khá tốt “Cứ 6 tháng một lần, công ty đánh giá chất lượng công việc, năng lực và hiệu quả mỗi cá nhân mang lại, đóng góp cho công ty để xét lương, thưởng Từ mức khởi điểm hơn 4 triệu đồng, đến nay em đã được nhận mức lương gấp 5 lần như thế”, Nhứi chia sẻ về công việc hiện tại
Nhứi hiện là kỹ sư phần mềm, làm công việc “vận chuyển” và sắp xếp dữ liệu Năm 2017, Nhứi có sáng kiến áp dụng kỹ thuật công nghệ trong dự án chuyển đổi và theo dõi quá trình nhập liệu “Công việc chuyển đổi và nhập liệu rất phức tạp Nếu theo phương pháp cũ phải mất 3 ngày cho một dự án nhỏ của đội, từ khi áp dụng sáng kiến mới, thời gian này chỉ còn lại 30 phút Để có được kết quả đó là cả một quá trình kéo dài em mày mò và tìm tòi, thử nghiệm”, Nhứi cho biết
Cũng như bao người con núi rừng huyện Nam Giang, để theo đuổi con đường học tập, lên lớp 6, Nhứi đã phải xa gia đình xuống trường huyện để học
“Hồi mới lên lớp, nhiều bữa nhớ nhà, cũng khóc lóc lắm rồi cùng chúng bạn đi
bộ hơn 20 cây số đường rừng về nhà Nhưng quyết tâm phải học, em lại quay lại Hồi nhỏ, em rất thích mày mò các vật dụng điện, điện tử Cái đài radio của ba bị
hư, em cũng tháo ra để xem, vì sao nó nhỏ thế mà phát ra được âm thanh, truyền
đi giọng nói…
Trang 21Cứ thấy cái gì mới liên quan đến công nghệ, thông tin là em lao vào tìm hiểu”, Nhứi kể Lên cấp 3, Nhứi xuống Trường dân tộc nội trú ở Hội An (Quảng Nam) học “Hết cấp 3, em thi vào Khoa Công nghệ thông tin của Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng Khi biết mình đậu, niềm vui vô bờ bến Ngày nhập học là ngày cuối cùng nhà trường nhận hồ sơ tân sinh viên Em lên trường nộp học phí thì chưa đủ tiền Thất vọng, buồn và muốn khóc lắm Nhưng rồi chợt nhớ, từ tháng 4 trước đó, em từng thi vào Trung tâm Phát triển phần mềm - Đại học Đà Nẵng Em chạy qua trung tâm để tìm hiểu và biết mình đậu Em cứ nghĩ mình đã cùng đường nhưng ngã rẽ lại bắt đầu từ đó”, Nhứi hồi tưởng.
Nhờ có tài trợ, Nhứi tiếp tục theo đuổi giấc mơ học tập Nhứi không chỉ học chuyên môn phần mềm, mà còn được đào tạo tiếng Anh rất bài bản Ngay từ cấp 3, Nhứi đã theo đuổi và có ý thức trong việc học tiếng Anh để giao tiếp và
mở rộng tầm nhìn ra thế giới Đến nay, Nhứi tự tin giao tiếp tiếng Anh với đồng nghiệp là các bạn người Nhật trong công ty, kể cả tự đọc văn bản Lý giải về động lực học ngoại ngữ, Nhứi chia sẻ một điều rất thú vị: “Từ nhỏ, qua sách vở nhà trường và qua việc thờ ảnh Bác Hồ của người dân quê em, em biết về Bác
Hồ Nhưng phải lớn lên, bên cạnh việc học, em tìm hiểu thêm về Bác, biết Bác
ra đi tìm đường cứu nước khi mới 21 tuổi Từ đó, em hằng mơ về Bác Hình tượng của Bác trở thành động lực cho bản thân rèn luyện, phấn đấu Sắp tới, em
sẽ học thêm tiếng Trung, rồi học tiếng Nhật để biết thêm, hiểu thêm con người, văn hóa của các nước”, Nhứi nói
Pơ Loong A Nhứi cho biết đang nỗ lực hằng ngày để đóng góp vào thành quả của công ty bằng những sáng kiến, những ý tưởng mới mẻ để chia sẻ với đồng nghiệp và nhóm của mình Nhứi còn ấp ủ (và đang thử nghiệm) một dự án của bản thân, đó là xây dựng, lập trình một phần mềm quản lý dữ liệu chia sẻ với cộng đồng Phần mềm này sẽ giúp mọi người định hình, lưu trữ và chia sẻ
dữ liệu của mình “Em luôn xem các ý tưởng, sáng kiến là người bạn đồng hành, chung thủy với mình trong cuộc sống, công việc Hiện em đang tập trung làm việc và tìm tòi thêm các ý tưởng mới để phục vụ công việc và thỏa mãn đam mê công nghệ thông tin Mỗi lần về quê, em cũng chia sẻ câu chuyện của mình cho các em nhỏ và bạn bè để tiếp thêm cho họ niềm tin, động lực
Mình phải vượt lên khỏi cái bóng của núi rừng, phải vươn ra thế giới rộng lớn bên ngoài Em cũng mừng, quê em giờ đã nhiều đổi thay, nhiều bạn học hành đầy đủ, ra làm việc tại thành phố và có thu nhập tốt Trước hết là ơn Bác
Hồ, Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm đến đồng bào Cơ tu quê em, giúp chúng em có động lực, điều kiện để học tập, rèn luyện và phấn đấu trưởng thành”, A Nhứi kể
Năm 2018, Nhứi là một trong những tấm gương điển hình được trao tặng giấy khen tại hội nghị sơ kết 2 năm thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” của quận Sơn Trà Trước đó, năm 2017, cùng với sáng kiến mang tính “nội bộ” về phần mềm ứng dụng nhập và lưu trữ dữ liệu, Nhứi được nhận giải thưởng tập thể về nâng cao
kỹ năng tiếng Anh cho nhân viên; giải thưởng cá nhân về thuyết trình tạo cảm
Trang 22hứng, truyền động lực làm việc cho mọi người.
Trang 23Trong sự nghiệp trước tác đồ sộ để lại cho hậu thế, Phan Khôi chỉ có một cuốn tiểu thuyết Ngày nay, có người nghĩ rằng đó là điều may cho ông, nhưng cũng có người lại… tiếc!
Trở vỏ lửa ra - cuốn tiểu thuyết duy nhất của Phan Khôi.
Tiểu thuyết Trở vỏ lửa ra
Trở vỏ lửa ra là cuốn tiểu thuyết duy nhất của Phan Khôi, được Tân Dân xuất bản năm 1939 dưới hình thức khuôn khổ Phổ thông bán nguyệt san
Đây là cuốn tiểu thuyết mang tính luận đề, nhằm bênh vực cho nữ quyền vốn là một đề tài mà ông theo đuổi trong nhiều năm nhất là khi cộng tác với tờ Phụ nữ tân văn
Về hoàn cảnh ra đời tác phẩm này, người con gái của ông cho biết: “Cuối năm 1937, cha tôi vào Sài Gòn dạy Việt văn và Hán văn tại trường Trung học tư thục Chấn Thanh của ông Phan Bá Lân, đồng thời cộng tác với báo Tao Đàn Thời gian này ông sáng tác quyển tiểu thuyết đầu tay “Trở vỏ lửa ra” và bán bản quyền cho Nhà xuất bản Phổ Thông…” (Phan Thị Mỹ Khanh, Nhớ cha tôi Phan Khôi, Nxb Đà Nẵng, 2001, trang 45)
Tên tác phẩm dựa theo một phong tục ngày trước, khi trong nhà có người sinh đẻ, người ta buộc một cây ráy vào một que củi đã đun dở một đầu, rồi buộc
nó trên một cái cọc cắm ngoài ngõ, gọi bằng “khem” Đẻ con trai thì quay đầu
đã đun dở của que củi trở vào, con gái thì đầu ấy trở ra Người đi qua, thấy cái
Trang 24khem thì biết trong nhà đẻ con trai hay con gái Tục này thể hiện tư tưởng trọng nam khinh nữ, theo tinh thần của câu tục ngữ “nữ sinh ngoại hướng” hay “nữ nhi ngoại tộc” nghĩa là con gái sinh ra thì coi như người ngoài.
Tiểu thuyết Trở vỏ lửa ra được viết với lối văn giản dị và kết cấu đơn giản, nói về một câu chuyện xảy ra ở vùng Nam Trung Bộ, nhân vật chính là một cô gái sinh ra trong một gia đình khá giả ở Quy Nhơn được cha mẹ gửi vào trọ học trong nhà người dì ở Phan Thiết Cha mẹ cô không có con trai nên nhận người cháu tên Thưởng làm người kế tự Thưởng là người tham lam, dốt nát, keo kiệt nên khi mẹ mất đã tìm cách để chiếm đoạt gia tài bằng cách gả cô cho một người giàu trong vùng nhưng cô không yêu thương Tranh chấp gia tài giữa
cô và Thưởng kéo dài Cuối cùng với sự “tiếp sức” của viên quan địa phương vụ tranh chấp gia tài bị gác lại Dù khó khăn cô vẫn cố gắng tiếp tục việc học Do không muốn làm phiền những người tốt bụng luôn giúp đỡ, cô đã làm thêm để
có tiền sinh sống Lao động vất vả làm cô lâm bệnh nan y Cô gái trút hơi thở cuối cùng trong một xóm nhỏ thuộc làng Bưởi cạnh Hồ Tây vào năm 1930
Dư luận
Trở vỏ lửa ra lúc đầu xuất hiện trên văn đàn được dư luận chú ý, theo Vũ Ngọc Phan vì Phan Khôi là nhân vật uy tín, “một nhà báo viết nghị luận có tiếng” lại là “nhà Hán học tinh thông” Không chỉ có thế, lúc này ông đang rất nổi tiếng trên văn đàn, độc giả đang trông chờ để được đọc những bài viết của ông
Nhưng có lẽ vì phục vụ cho mục đích lý tưởng xã hội nên người viết ít dụng công về mặt nghệ thuật nên khi quyển tiểu thuyết ra đời, không được như những gì người ta mong đợi Có thể thấy điều này qua nhận xét của ba người
“trong cuộc” Trước hết là người con gái của ông - Phan Thị Mỹ Khanh trong tác phẩm đã dẫn cho rằng: “Tiểu thuyết không phải là sở trường của cha tôi nên ông không thành công Trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã nhận xét, đại ý: “Kém về nghệ thuật, người đọc dễ chán vì mọi việc đã được tác giả cho biết trước, còn phê phán, nghị luận đối với từng nhân vật, từng sự việc Nó chưa phải
là tiểu thuyết mà nó giống như một thiên kỹ thuật… Chính chúng tôi ngày đó mới học tiểu học, được đọc nhiều tiểu thuyết của Khái Hưng, Nhất Linh, Nguyễn Công Hoan cũng thấy nhận xét trên là đúng” (trang 45)
Kiều Thanh Quế - một nhà phê bình văn học gốc Nam Bộ, đã “bộc trực” rằng Phan Khôi viết Trở vỏ lửa ra với “mỹ ý” bênh vực cho nữ quyền là rất đáng quý Tuy nhiên “tiểu thuyết không phải là sở trường của Phan Khôi, ông nên quay về địa hạt sở trường của ông là khảo cứu đề tài tư liệu… Phan Khôi nên để dành nghệ thuật quý báu của mình mà phụng sự những điều mình sở đắc” Chính vì thế “Trở vỏ lửa ra, quyển chuyện đầu tay của Phan Khôi quyết là quyển chuyện chót của Phan Khôi vậy”, để “Phan Khôi không còn bị Phổ thông bán Nguyệt san lợi dụng tên tuổi để bán báo cho chạy” (Báo Mai số 104, ngày 29.9.1939)
Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại, tuy “nhẹ nhàng” hơn nhưng đọc qua cũng rất “thấm thía”: “Viết quyển này, Phan Khôi đã dùng ngòi bút nhà báo hơn là ngòi bút tiểu thuyết gia Những việc trong truyện đều là những việc có thể có thật và hiện đã có trong xã hội Việt Nam; tác giả đã “thuật” lại việc ấy
Trang 25một cách quá rõ ràng, làm cho nó giống một thiên kỹ thuật hơn là một thiên tiểu thuyết Bởi thế người ta chê là không có nghệ thuật… Phan Khôi đã dùng “nghệ thuật nọ vào một nghệ thuật kia, do cái tính quá khúc chiết của ông, chứ không phải quyển Trở vỏ lửa ra không có nghệ thuật…” (Nxb Văn Học, trang 247).Gần đây, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân cũng phải thừa nhận: “Ông đã từng viết truyện hư cấu, bằng chữ Hán (đăng Nam Phong) hoặc bằng chữ Quốc ngữ, tiêu biểu trong số đó là truyện dài Trở vỏ lửa ra Các mạch truyện hư cấu này không mấy thành công, do tác giả mạnh ở suy lý, logic, nhưng hơi thiếu linh hoạt, thiếu sinh động và chất sống trong mô tả, dựng người dựng cảnh” (Bài đọc trong buổi lễ trao giải Phan Châu Trinh năm 2017).
Có lẽ do “tiếp thu” sự phê bình của công luận nên Phan Khôi từ bỏ hẳn việc viết tiểu thuyết để tập trung vào thế mạnh của mình là các đề tài khảo cứu
Vì thế Trở vỏ lửa ra trở thành tiểu thuyết “duy nhất” của ông!
Chúng ta những người yêu mến Phan Khôi thì lại tiếc, ngày đó nếu không
có những nhận xét quá “thẳng thắn” của các nhà phê bình, biết đâu Phan Khôi từ
sự thất bại của quyển này sẽ rút kinh nghiệm mà cho ra đời thêm vài quyển nữa, hay hơn, hấp dẫn hơn!
Với chúng ta, đọc Phan Khôi, dù hay hoặc chưa hay, đều rất thú vị; mỗi thứ có cái… thú vị riêng
Trang 26Chu Cẩm Phong viết cho riêng anh, viết không phải để in, mọi điều trong đó không bị tô vẽ, gò gượng, cũng không nhằm làm hài lòng bất cứ cây đũa chỉ huy nào Cái thật của dạng nhật ký ấy, hôm nay đến tay chúng
ta bỗng trở thành bản tráng ca giàu sức thuyết phục nhất, sinh động nhất, lung linh huyền ảo nhất về gương mặt thật của cuộc chiến tranh mà toàn dân ta đã tiến hành
( Đọc lại “Nhật ký Chiến tranh” của Chu Cẩm Phong nhân dịp 45 năm thống
nhất đất nước)
Địa bàn mà nhà báo, nhà văn Chu Cẩm Phong sống, làm việc là một chiến trường tiêu biểu cho cả sự gian nan, thiếu đói và ác liệt của chiến trường Miền Nam Đó là những đận thiếu gạo, thiếu muối dài ngày; là bệnh sốt rét ác tính; là lam sơn chướng khí ở các cánh rừng phía Tây Tây Nguyên, Tây Quảng Nam, Tây Quảng Đà, Tây Quảng Ngãi…Đó là sự đụng độ hàng ngày với pháo bày, đạn bắn thẳng, xe tăng, giang thuyền, những cuộc càn quyét của lính Mỹ, lính Đại Hàn, lính biệt kích người Nùng khi bám dân bám đất ở các vùng tranh chấp ven biển Quảng Ngãi, Quảng Nam Những ai đã từng trải qua thử thách ở những mảnh đất chiến trường như thế , đọc nhật ký của Chu Cẩm Phong chắc chắn càng rung động hơn với từng trang viết của anh…Trong Nhật ký Chiến tranh, có thể đếm được trên đầu ngón tay những ngày anh được thơ thới, khỏe mạnh Giáp địch khi đang sốt; ngủ qua đêm cũng trong cơn mê sảng vì bệnh tật đang dày vò; lội suối, vượt dốc ngay cả khi mắt mờ, đôi chân bải hoải cơ hồ không muốn cất bước vì đói gạo, lạt muối Đã thế, cuộc sống hàng ngày của anh lại quá căng thẳng, hầu như luôn cận kề với cái chết “ Quay về C Thanh Ba ngày nay, bị ba trận bom Đi đến đâu gặp bom tới đó Sáng nay lại bị một trận bom “ ( Ngày 14-5-1968) “ Buổi chiều đang ngồi làm việc thì bị oanh tạc Một trái pháo tàu
nổ trên bờ đất cách mình 2 thước.Đất bụi đổ tối tăm phủ lên giấy tờ, sổ tay, bút ” ( Ngày 21-5-1968 ) “ Buổi sáng định đến thăm chị Ca ( vợ anh Ca, người
đã hy sinh anh dũng trong đợt Tổng Công kích ), mọi người đều ngăn Vừa lúc
đó HU1A, tàu rọ quần thảo, bắn nát rồi xe tăng trong Bình Dương càn ra Phải
Trang 27chui hầm từ 9giờ đến 15giờ ” ( 22-5-1968 ) Sống như thế mà Chu Cẩm Phong ghi được gần một ngàn trang nhật ký, ghi khá đều đặn, ghi từ năm 1967, qua
1968, 1969, 1970 và cho đến gần hết những ngày tháng 4 năm 1971- nghĩa là trước khi anh hy sinh mấy ngày Càng đáng ngạc nhiên, cảm phục hơn khi hỏi chuyện những ai được tiếp xúc với những trang nhật ký này ở dạng nguyên bản gốc; hỏi chuyện cả những người làm công tác biên tập của nhà xuất bản, chúng
ta được biết rằng câu cú, chữ nghĩa, hình ảnh, thậm chí cả mạch văn- tất cả trong trẻo, giàu chi tiết, nóng hổi cảm xúc và rất tươm tất Không phải ai sống trong hoàn cảnh Chu Cẩm Phong cũng làm được công việc ấy như anh Thành thử nghị lực, lòng lạc quan, yêu đời, nếu muốn nói- kể cả tác phong cần mẫn, chăm chỉ của một người hành nghề báo, nghề văn thì phải bắt đầu tính từ đây
Nhật ký chiến tranh còn khiến chúng ta sửng sốt vì nhiều điều khác
Sức hấp dẫn của tập sách bắt đầu ngay từ trang một, và dù là nhật ký, là truyện người thật việc thật, chúng ta vẫn bị cuốn hút như không muốn ngừng giữa chừng, như muốn nín thở mà theo đuổi cho đến tận trang cuối Càng kỳ lạ hơn, vẫn là chuyện các má , các chị, các em đưa bộ đội qua đồn bốt giặc, tham gia phá ấp chiến lược để bung về quê cũ, tham gia chống càn hoặc đánh đồn tiêu diệt bọn lính Mỹ, lính Đại Hàn, chuyện tình cảm của các bà má Quảng Đà nuôi giấu, chăm nom thương bệnh binh miền Bắc những cung cách ứng xử, suy nghĩ nội tâm, lời ăn tiếng nói, hành động anh hùng của hàng trăm nhân vật có tên hoặc không có tên mà Chu Cẩm Phong ghi vào nhật ký đều mỗi người mỗi vẻ, không ai giống ai.Nhiều nhân vật người thật việc thật ấy đã lờ mờ hiện lên hình ảnh, tính cách của những nhân vật văn học “ chồng chị kháng chiến trước cũng
là bộ đội thị, anh đi tập kết lúc chị có mang hai tháng.Ở lại quê chị vừa sinh được một tháng thì chúng bắt hai mẹ con ra phơi nắng buộc chị ly dị chồng Chị bồng con ngồi giữa nắng tháng sáu, chiếc áo bà ba đen nóng rẫy như một miếng sắt nung đỏ áp vào lưng Chị ôm chặt con vào lòng, cúi gập xuống, cố lấy thân mình che nắng cho con, chị xổ mái tóc dày của chị làm tấm rèm che nắng cho con, đứa bé đỏ hỏn vẫn nhắm nghiền cặp mắt khóc thét đến tắt cả tiếng Chị không khóc mà nước mắt cứ trào ra vì căm giận kẻ ác và xót thương hòn máu của chồng để lại Nước mắt chị nhỏ xuống mặt con, chị không lau chùi, mong nước mắt mình, nước mắt của người mẹ sẽ làm dịu bớt cơn nóng thiêu đốt “ ( 7-5-1968 ) “ Hai vợ chồng đều ở trong đội du kích Trước lúc anh ra đi, chị xé gói thuốc muối ra làm hai, một nửa nhét vào túi chồng, một nửa đem chôn với gói đồ đạc, chị dẫn con Tùy chỉ chỗ chôn giấu, dặn nếu ba về lại đau bao tử thì lấy lên cho ba uống Sau này ( tức sau khi chồng hy sinh ) chị cứ ân hận mãi, bữa đó vội quá không tìm ra miếng nilon nào gói thuốc muối cho anh Gói trong giấy báo sợ ướt mất” ( 6-6 -1968 ).” Ông Dụng kể: “ Nghe tiếng còi rúc, tôi đã thấy hắn trước mặt, đã bơi quay vào Hắn kêu đứng lại, tôi cứ bơi.Hắn nổ hai phát súng cacbin, tôi biết hắn bắn dọa để bắt mình, tôi cố bơi tới, khi thấy đạn
nổ đỏ sát mặt nước thì tôi chòi người khỏi thúng Hắn bắn rát quá tôi lặn xuống Đạn đi trên nước nóng sôi da lưng.Nhờ tôi lặn…” ” Bữa sau có vậy đừng có bơi, thà để hắn bắt hắn thả về, chứ không thì chết ”-Bà Đụng nói Ông Đụng: “ Chớ nói dai, hắn bắt lấy ai ở với bà? ” ( 22-1-1969 )
Trang 28Trong Nhật ký chiến tranh chúng ta bắt gặp tâm trạng day dứt, trăn trở của Chu Cẩm Phong khi anh không thể viết cho xong một cái ký, hoặc không thể hiện những điều tai nghe mắt thấy thành hình tượng văn học trong một truyện ngắn, truyện vừa Vì thế dễ dàng đoán được anh đã ghi nhật ký như cái cách để những việc đã trải, những người đã gặp không tuột trôi, không lẫn lộn trong trí nhớ, để lưu giữ những hạt mảy vàng nguyên sơ ấy dành cho những gì sẽ viết mai sau Nói thế, nhưng trước hết Nhật ký chiến tranh vẫn là nhật ký, Chu Cẩm Phong viết cho riêng anh, viết không phải để in, để công bố và như các cuốn nhật ký khác, mọi điều trong đó không bị tô vẽ, gò gương, chúng rất thật, chúng không minh họa một ý tưởng chủ quan nào, cũng không làm hài lòng bất
cứ cây đũa chỉ huy nào Cái thật của dạng nhật ký ấy-sau mấy chục năm-hôm nay đến tay chúng ta bỗng trở thành bản tráng ca giàu sức thuyết phục nhất, sinh động nhất,lung linh huyền ảo nhất về gương mặt thất của cuộc chiến tranh nhân dân mà toàn dân ta đã tiến hành Đọc Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong thiết nghĩ, những thế hệ lớn lên sau chiến tranh cũng có thể hiểu được thế nào là
ba thứ quân, là hai chân ba mũi, là những đòn tiến công của đội quân tóc dài, là quân sự kết hợp với chính trị Kể cả những câu hỏi bấy lâu với ai đó còn là điều
lơ mơ, bảng lảng, chưa tìm ra hoặc cố tình không muốn tìm ra lời khẳng định cụ thể, ví như bản chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh, nhân dân đứng về phía ai trong cuộc chiến tranh đó, ví sức mạnh nào giúp chúng ta đã chiến thắng được sắt thép và nền khoa học quân sự hiện đại của Mỹ Nhật ký chiến tranh cũng sẽ cung cấp những câu trả lời chính xác, đầy sức thuyết phục
Tư tưởng nhân văn trong Nhật ký chiến tranh không phải là điều gì mơ
hồ, trìu tượng Những suy ngẫm súc tích, lắng đọng về những người lao động bình thường, về một nhân dân đã không buông trôi số phận cho những thách đố
mà gan góc, hồn nhiên, quả cảm đứng lên làm chủ cuộc đời đầy ắp trong mỗi đoạn, mỗi trang Mọi điều được làm cho bừng sáng bởi ước vọng độc lập tự do- một khát vọng thẳm sâu, một lẽ sống còn mất của từng cụ già, từng em nhỏ, của người lính cầm súng gan góc xông lên trước cửa mở nhằng nhịt lửa đạn, của các
mẹ các chị san lấp từng hố bom, hố pháo lấy đất găm dặm những giây rau khoai, những hom sắn Nỗi thương cảm cá nhân và số phận nhân dân trong những năm tháng lịch sử không quên ấy đối với Chu Cẩm Phong chính là nỗi xót xa, đau đớn cho những người đồng chí, đồng bào sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng cửa tan nhà nát vì mục tiêu chiến đấu chung
Tin rằng sẽ có có những chuyên luận riêng khảo sát nhiều mặt giá trị nữa của tác phẩm này
Để kết thúc bài viết, xin được đề cập một mặt khác, một khía cạnh khác – cập nhật hơn, nóng hổi hơn mà Nhật ký chiến tranh khơi gợi trong mỗi chúng ta
Đó là mối quan hệ giữa văn học và cuộc đời; giữa nhà văn và nhân dân của mình.Những năm tháng ở chiến trường Quảng Đà, ban đầu Chu Cẩm Phong là phóng viên Việt Nam Thông tấn xã, sau chuyển qua công tác ở Tiểu ban Văn nghệ thuộc Ban Tuyên huấn Khu V Làm nhà báo, viết văn, nhưng anh đâu chỉ
có đi thực tế để gom tài liệu, để viết Giống như nhiều nhà văn, nhà báo sống ở chiến trường thời đó, Chu Cẩm Phong đã làm mọi việc mà tình huống trận mạc
Trang 29yêu cầu hoặc khả năng anh có thể làm được: hò hát, nói chuyện thời sự, viết truyền đơn địch vận, bàn phương án tổ chức làng chiến đấu với Đảng ủy xã, trực tiếp tham gia chống càn cùng anh chị em du kích địa phương lăn lộn, chia sẻ ngọt bùi với bà con cô bác, đặc biệt toàn ở những giây phút cam go, sinh tử Có
lẽ chính từ điểm mạnh này, Chu Cẩm Phong đã phát hiện được nhiều vấn đề thuộc bản chất của cuộc chiến tranh.Cũng chính vì sự gắn kết máu thịt với nhân dân như thế Chu Cẩm Phong hiểu rõ công lao và sự hy sinh vô bờ bến của người dân cho chiến công và chiến thắng Và thật xúc động biết bao, trên những trang nhật ký này, ngay từ những ngày tháng ấy, Chu Cẩm Phong đã nghĩ tới mối ân tình và sự báo đáp đối với bà con cô bác sau ngày chiến tranh kết thúc “ Mình cứ nghĩ với những gia đình rất mực trung thành và hết sức cách mạng đó sau ngày giải phóng phải có môt ưu đã đặc biệt, thật xứng đáng” ( ngày 9-8-1967 ) Đi sâu, đi sát với cuộc đời và nhân dân của mình như vậy, điều còn quan trọng hơn- đi vào thực tế với tất cả tình yêu và ý thức trách nhiệm của một người trong cuộc như Chu Cẩm Phong –chỉ bằng cách ấy, người viết mới hy vọng mang hồn cốt cho từng trang viết, mang tới sức thuyết phục và sức truyền cảm cho bạn đọc của mình
Thành thử Nhật ký chiến tranh còn tiềm ẩn một giá trị thẳm sâu khác: Cuốn sách chính là lời tự bạch của một người viết khi tự đáy sâu tâm can hiểu rõ rằng, trong những cơn biến động dữ dằn cũng như ở những khúc ngoặt của Lịch
sử, anh ta phải sống, phải cảm nhận , thâu gom chất liệu đúng, sai ra sao đây để Nhân dân bao giờ cũng là phải Nhân Vật Số Một trong các trang viết của mình
TÔ HOÀNG
TÔ HOÀNG Khi ngòi bút cần thêm một dáng đứng/ Tô Hoàng// Hồn Việt.- 2020.- Tháng 6.- Số 148.- Tr.6 - 8.
QUẢNG NAM: TẠO ĐỘT PHÁ MỚI
ĐỂ ĐƯA ĐIỆN TRUNG THÀNH XÃ NÔNG THÔN MỚI KIỂU MẪU
Trang 30Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XIV nhiệm
kỳ 2015-2020, Đảng bộ, chính quyền xã Điện Trung, thị xã Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam) đã đạt nhiều thành tựu nổi bật trên tất cả các lĩnh vực kinh tế -
xã hội Đặc biệt, cơ sở hạ tầng đã được đầu tư đồng bộ, bộ mặt nông thôn ngày càng tươi mới, đời sống nhân dân được nâng cao và thu nhập tăng gấp
2 lần so với năm 2015.
Thu nhập tăng hơn 2 lần
Ông Trần Tình – Phó Bí thư, Chủ tịch UBND xã Điện Trung cho biết, trên cơ sở phát huy những thành quả đã đạt được của nhiệm kỳ trước, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Điện Trung đã nêu cao tinh thần đoàn kết, chủ động, quyết tâm vượt khó để tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XIV đạt được nhiều kết quả quan trọng
Điện Trung đang hướng đến miền quê đáng sống và thành xã NTM kiểu mẫu
"Có thể nói, gia đoạn 2015-2020, thành quả đáng ghi nhận của xã Điện Trung là lĩnh vực kinh tế phát triển toàn diện, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân đạt 12,03%/năm, kết cấu hạ tầng nông thôn tiếp tục được hoàn thiện,
an sinh xã hội được chăm lo, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững ", ông Tình phấn khởi nói
Còn ông Phạm Trường Sơn – Phó chủ tịch UBND xã Điện Trung cho hay, lĩnh vực nông nghiệp (NN) của xã có sự chuyển đổi và pháp triển mạnh
mẽ, Điện Trung đã triển khai thực hiện tốt chương trình bê tông hóa kênh
mương, giao thông nội đồng, thủy lợi hóa đất màu, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất NN cũng như ứng dụng khoa học công nghệ mới trong sản xuất, tập
Trang 31trung chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, con vật nuôi, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất NN, giá trị trên đơn vị diện tích canh tác.
Lĩnh vực nông nghiệp của xã Điện Trung có sự pháp triển mạnh mẽ
Đặc biệt, thời gian qua, Điện Trung đã xây dựng được nhiều mô hình kinh
tế, mô hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm, qua đó nâng cao thu nhập cho bà con, như: Mô hình trồng lúa, trồng các loại cây hoa màu, mô hình trồng cây ngô, mô hình trồng cây đậu phụng, chăn nuôi bò, heo…"Nhờ đó, giá trị sản xuất ngành NN từ 55,91 tỷ đồng năm 2015 tăng lên 73,86 tỷ đồng năm 2020; tăng bình quân hàng năm 4,46% Tỷ trọng giá trị ngành NN chiếm 49,05% ", ông Sơn chia sẻ
Lĩnh vực công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp - xây dựng cơ bản tiếp tục tăng trưởng khá, hiện trên địa bàn có một số doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, tiêu biểu phải kể đến Công ty Danang PLASTIC của Hàn Quốc, chuyên sản xuất bao bì, tấm màng nhưa, áo đi mưa các loại, giải quyết việc làm cho trên 200 lao động, mức lương bình quân từ 5-6 triệu đồng/người/tháng Các ngành nghề TTCN hoạt động có hiệu quả, từng bước chuyển dịch cơ cấu lao động NN sang công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, góp phần nâng cao thu nhập cho nhân dân Nhờ đó, giá trị ngành ước đạt 65,52 tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm 25,37%,
tỷ trọng giá trị ngành chiếm 29,63%
Trang 32Mô hình chăn nuôi bò đem lại hiệu quả cao cho bà con nông dân Điện Trung
Lĩnh vực dịch vụ - thương mại (TM-DV) phát triển mạnh và đa dạng ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế, sau khi tỉnh lộ 610B được mở rộng, đã khuyến khích, tạo điều kiện cho nhiều hộ kinh doanh hàng tiêu dùng, bao tiêu hàng nông sản, vật tư phân bón nông nghiệp, vật tư xây dựng, các dịch
vụ vận chuyển, kinh doanh ăn uống, các DV-TM khác phát triển khá mạnh Nhờ
đó, giá trị ngành DV-TM năm 2020 ước đạt 104,54 tỷ đồng; tăng bình quân 20,69%/năm; tỷ trọng giá trị ngành chiếm 21,32% đã góp phần làm giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp trên địa bàn xã
"Nhiệm kỳ 2015-2020, Đảng bộ, chính quyền xã Điện Trung đã đạt nhiều thành tựu nổi bật trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhất là cơ sở hạ tầng, giao thông Nhờ đó thu nhập người dân được nâng cao, hộ nghèo giảm mạnh Đến nay, bình quân thu nhập ước đạt 50,34 triệu đồng/người/năm, tăng 27,12 triệu năm 2015 (hơn gấp 2 lần) ", Ông Trần Tình – Phó Bí thư, Chủ tịch UBND
xã Điện Trung
Nông thôn lên phố
Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới (NTM), Điện Trung là một trong 3 xã ở Gò Nổi của thị xã Điện Bàn có nhiều cách làm hay và hiệu quả nên chỉ mấy năm xã đã cán đích "Năm 2014 xã đạt chuẩn NTM là mốc son đáng tự hào của Đảng bộ, chính quyền và toàn thể nhân dân, tuy nhiên đó chỉ là bước khởi đầu cho chặng đường dài xây dựng quê hương…", ông Sơn chia sẻ
Trang 33Hầu hết các tuyến đường trên địa bàn xã Điện Trung đều đã được gắn tên đường và số
nhà, rất giống với thành thị
Đặc biệt, trong 5 năm qua, Điện Trung đã đầu tư 2,9 km GTNĐ, kiên cố hóa 2,1km KM loại III, xây dựng mới 1,5km GTNT với tổng mức đầu tư 3,6 tỷ đồng trong đó Xây dựng hoàn chỉnh tuyến đường ĐH10 ĐB Tân Bình – Điện Quang, xây dựng mới tuyến ĐX1 đoạn từ ĐT 610B (Nam Hà) đến giáp ĐH10ĐB (Tân Bình) chiều dài 1,8km với tổng kinh phí 5,6 tỷ đồng Mở rộng 6
km đường GTNT từ 3,5m lên 5,5m
Điện Trung ngày càng khang trang và hiện đại
Trang 34"Nhiệm kỳ 2015-2020, Đảng bộ, chính quyền xã Điện Trung đã đạt nhiều thành tựu nổi bật trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhất là cơ sở hạ tầng, giao thông Nhờ đó thu nhập người dân được nâng cao, hộ nghèo giảm mạnh Đến năm 2020, b ình quân thu nhập ước đạt 50,34 triệu đồng/người/năm, tăng 27,12 triệu năm 2015 (hơn gấp 2 lần) ", ông Trần Tình – Phó Bí thư, Chủ tịch UBND xã Điện Trung.
Ông Phạm Trường Sơn cho hay, hàng loạt các công trình, dự án được đầu
tư, nâng cấp, nhất là mua sắm máy bơm phục vụ nước tưới cho sản xuất NN tại các trạm bơm Đông Lãnh, Nam Hà, Tân Bình Hàng năm tiến hành nạo vét kênh dẫn dòng để đảm bảo nước tưới cho 280ha đất lúa Ngoài ra, xây dựng, sửa chữa nhiều hạng mục như: nhà xe, lợp mái tôn, tường rào, xây mới khối nhà 2 phòng trường tiểu học Nguyễn Trọng Nghĩa; thay mới toàn bộ của đi, tường rào cổng ngõ, phòng bộ môn trường Lê Đình Dương đảm bảo phục vụ cho việc dạy
và học của giáo viên và các em học sinh Nâng cấp, sửa chữa ủy ban, xây dựng nhà làm việc một cửa, sân vườn UBND xã, xây dựng khán đài và sân bóng chuyền, tường rào sân vận động xã
Nhất là sửa chữa, nâng cấp các nhà văn hóa thôn, khu thể thao thôn đạt chuẩn với đầy đủ trang thiết bị đảm bảo cho sinh hoạt văn hóa, họp hội của nhân dân Xây dựng tường rào, cổng, nhà bia tưởng niệm nghĩa trang liệt sĩ, nâng cấp
216 phần mộ liệt sỹ với tổng giá trị 2,2 tỷ đồng… Tổng nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong 5 năm là 20,45 tỷ đồng
Trụ sở UBND xã được nâng cấp, sửa chữa khang trang
Điểm đặc biệt là hiện nay, hầu hết các tuyến đường trên địa bàn xã đều đã được gắn tên đường và số nhà, rất giống với thành thị Nhờ NTM mà quê hương Điện Trung đang trở thành miền quê đáng sống của bà con nơi đây Về xây
Trang 35dựng khu dân cư NTM kiểu mẫu, xã Điện Trung đã xây dựng thành công 2 thôn dân cư NTM kiểu mẫu gồm: Đông Lãnh và Nam Hà.
Ông Đỗ Thế Mười - Trưởng thôn Đông Lãnh phấn khởi nói, qua 10 năm xây dựng NTM, nhất là 5 năm gần đây, diện mạo xã Điện Trung nói chung và các thôn, xóm nói riêng thay đổi từng ngày, nhất là cơ sở hạ tầng đã được đầu tư xây dựng hoàn thiện, bộ mặt nông thôn ngày càng tươi mới, đời sống vật chất, tinh thần người dân ngày được nâng lên",
Phấn đấu thành xã NTM kiểu mẫu
Theo ông Tình, mục tiêu nhiệm kỳ 2020-2025, Điện Trung phấn đấu tốc
độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân hàng năm 13-14% Trong đó, NN tăng 5-6%; CN-XDCB tăng 10-12% và DV-TM tăng 15-18% Đến cuối năm 2025,
NN chiếm 30,2%, tỷ trọng giá trị các ngành CN-XDCB chiếm 34,36% và DV-TM chiếm 35,44% Thu nhập bình quân đầu người đạt 65,9 triệu đồng/năm vào năm 2025 Giữ vững và nâng chuẩn 19 tiêu chí xã NTM, xây dựng hoàn thành 100% khu dân cư NTM kiểu mẫu, xã NTM nâng cao, xã NTM kiểu mẫu trước năm 2025, giữ vững xã không có hộ nghèo
Công ty Danang PLASTIC của Hàn Quốc – Đơn vị đóng chân trên địa bàn và hiện giải quyết việc làm cho trên 200 lao động tại địa phương với mức lương bình quân từ 5-6
triệu đồng/người/tháng.
Để thực hiện được mục tiêu này, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Điện Trung tập trung khai thác tốt mọi tiềm năng, lợi thế tại địa phương; phát huy nội lực, tranh thủ thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài để đầu tư phát triển kinh tế, ưu tiên phát triển thương mại dịch vụ, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý Nhất là hoàn thiện kết cấu hạ tầng, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh
Trang 36tế với phát triển văn hóa - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, bảo vệ môi trường, đảm bảo an sinh - xã hội.
"Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Điện Trung quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XV đề ra, phấn đấu hoàn thành xây dựng xã NTM nâng cao, xã NTM kiểu mẫu trước năm 2025 ", ông Trần Tình nhấn mạnh
LÊ TỚI - ĐẠI NGHĨA
LÊ TỚI - ĐẠI NGHĨA Đột phá đưa Điện Trung thành xã nông thôn mới kiểu mẫu/ Lê Tới - Đại Nghĩa// Nông thôn ngày nay.- 2020.- Ngày 10 tháng 6.- Tr.14
Trang 37ĐỀ XUẤT “LÊN HẠNG”
KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN SÔNG THANH
Ngành nông nghiệp đang kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sớm công nhận Vườn quốc gia Sông Thanh thay vì hoạt động theo chức năng của Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh như hiện nay, với mục đích để quản lý, bảo vệ nghiêm ngặt hơn đa dạng sinh học tại đây.
Khảo sát mở tour du lịch trong vùng lõi Khu bảo tồn thiên nhiên Sông
Thanh Ảnh: T.H
Chốt chặn trong rừng
Từ cầu khe Vinh, xã Tà Pơơ (Nam Giang), đi bằng ghe trong lưu vực lòng
hồ thủy điện Sông Bung 4 chừng 20 phút, chúng tôi có mặt tại Trạm bảo vệ rừng (BVR) khe Ru, đặt ngay trong vùng lõi của Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh Nơi đây gần như giữ được nguyên vẹn rừng nguyên sinh
Ông Pơlong A Nhing, trú xã Tà Bhing (Nam Giang) cho biết, trước đây ông là cán bộ nông nghiệp xã Tà Bhing Sau khi địa phương tinh giản biên chế, ông nghỉ việc và xin vào làm cán bộ BVR chuyên trách “Với người vùng cao,
đi rừng là thói quen thường ngày, được tuần tra trong rừng “biên chế” vào Trạm BVR khe Ru, anh em thấy an tâm công tác bởi thu nhập ổn định gần 3,5 triệu đồng/tháng sau khi trừ các khoản bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội” - Pơlong A Nhing nói Trạm BVR khe Ru dựng lên đầu năm 2020, được giao quản lý theo khu vực
Trang 38Hiện nay, Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh thành lập 2 đội cơ động và 16 trạm BVR Các trạm BVR làm nhiệm vụ chốt chặn, tuần tra rừng tối thiểu 15 ngày/tháng.
Theo ông Đinh Văn Hồng - Giám đốc Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, cán bộ BVR chuyên trách của đơn vị phần lớn là người dân địa phương, công an, bộ đội xuất ngũ có sức khỏe tốt Lực lượng BVR chuyên trách được tổ chức theo các hình thức khác nhau như tổ cơ động, trạm BVR, tổ tuần tra BVR, phân công đứng điểm phụ trách từng xã Trước đây, các đơn vị không bố trí lực lượng BVR chuyên trách của cộng đồng dân cư thôn làm việc tại cộng đồng của mình vì ngại va chạm, nể nang Nhưng nay thành lập lực lượng BVR chuyên trách, việc giữ rừng trở nên có trách nhiệm hơn
Theo ông Đinh Văn Hồng, ngoài xây dựng kế hoạch và thường xuyên tổ chức tuần tra theo kế hoạch thời gian cụ thể, đơn vị còn lập các trạm chốt chặn tại khu vực vùng lõi Nhờ đó, đẩy lùi tình trạng các đối tượng khai thác lâm, khoáng sản trái phép trong khu bảo tồn; bảo vệ nghiêm ngặt tại các trạm chốt chặn, nhằm mục đích ngăn chặn các đối tượng lưu thông trên lòng hồ bằng phương tiện thuyền ghe, trước khi có cơ hội vào vùng lõi khu bảo tồn Tại huyện Nam Giang và Phước Sơn, lực lượng BVR chuyên trách là 324 người, chiếm hơn 51% tổng số lực lượng BVR chuyên trách toàn tỉnh; trong đó người đồng bào dân tộc thiểu số địa phương chiếm hơn 86%
Lập hồ sơ “nâng hạng” khu bảo tồn
Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh nằm trên địa bàn hai huyện Nam Giang và Phước Sơn, giáp biên giới nước bạn Lào, có diện tích vùng lõi hơn 93.000ha và diện tích vùng đệm hơn 108.000ha Qua các đợt khảo sát, khu bảo tồn này ghi nhận có 831 loài thực vật bậc cao, trong số đó có 23 loài hữu dụng
và 38 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam Hệ động vật rừng của khu bảo tồn này cũng rất đa dạng với danh mục gồm 53 loài thú, 183 loài chim, 44 loài bò sát, 21 loài lưỡng cư
Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh cho biết, đang khẩn trương xây dựng đề
án phát triển hành lang đa dạng sinh học của khu vực Trường Sơn nhằm kết nối các Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, Khu bảo tồn loài sao la và rừng Ngọc Linh Toàn bộ khu vực này được kết nối tạo thành hành lang sinh thái bảo vệ
Theo ông Lê Minh Hưng - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, ngành nông nghiệp đã mời các đơn vị như dự án Trường Sơn Xanh, tổ chức WWF nhằm giúp tỉnh xây dựng đề án nâng hạng Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh lên Vườn quốc gia Sông Thanh Khi lên vườn quốc gia sẽ kết nối các địa phương trong bảo vệ hành lang an toàn đa dạng sinh học vùng Huế - Sê Kông - Quảng Nam - Kon Tum Thời gian qua, Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh ký kết quy chế phối hợp với các lực lượng chức năng khu vực biên giới Việt Nam - Lào nhằm bảo vệ nghiêm ngặt, đẩy đuổi các đối tượng ra khỏi khu vực khu bảo tồn
Trang 39Với ý tưởng mở tour du lịch trong Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, Quảng Nam kỳ vọng sẽ phát triển kết nối nơi đây thành điểm tham quan du lịch sinh thái lý tưởng Cùng với các giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc thiểu số, giá trị tài nguyên thiên nhiên của vùng đất này góp phần làm giàu đa dạng sinh học, phong phú về giá trị văn hóa Thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, tăng cường công tác BVR và đa dạng sinh học, UBND tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách trong lĩnh vực bảo vệ, phát triển rừng Trong đó, chú trọng gắn công tác BVR với phát triển miền núi, nâng cao đời sống người dân sống trong và ven rừng.
Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh cho rằng, song song với việc thay đổi các mô hình quản lý bảo vệ rừng ở các địa phương, các ban quản lý rừng, cần phải quan tâm các cơ chế, chính sách mới tạo sinh kế cho người dân miền núi Mục đích giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng thay các cơ chế sắp hết hạn như phát triển cây dược liệu, lâm sản phụ dưới tán rừng, trồng rừng gỗ lớn, nghiên cứu đầu tư phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng trên cơ sở phát huy các giá trị cảnh quan, tài nguyên thiên nhiên và văn hóa phi vật thể
TRẦN HỮU
TRẦN HỮU Đề xuất “lên hạng” Khu bảo tồn thiên nhiên sông Thanh/ Trần Hữu// Quảng Nam.- 2020.- Ngày 22 tháng 6.- Tr.9.
Trang 40KIỂM SOÁT NGUỒN GIỐNG SÂM NGỌC LINH
Nhằm xác định lại vùng trồng sâm Ngọc Linh cũng như số lượng cây sâm trồng trên địa bàn để tăng cường quản lý dịch hại, chính quyền huyện Nam Trà My đã lập đoàn công tác kiểm tra, hướng dẫn lập hồ sơ xác nhận nguồn gốc loại cây trồng này.
Vườn sâm ở xã Trà Linh, huyện Nam Trà My Ảnh: Đ.T
Hiện nay cây sâm Ngọc Linh đã được trồng tại 7 xã trong vùng quy hoạch bảo tồn và phát triển sâm Ngọc Linh của tỉnh với hơn 1.600ha và hơn 1.200 hộ dân tham gia Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có 6 doanh nghiệp, 2 viện đăng ký vào đầu tư trồng và nghiên cứu về sâm Ngọc Linh Đặc biệt có một số doanh nghiệp đã nghiên cứu đầu tư xây dựng nhà máy chế biến các sản phẩm từ sâm Ngọc Linh
Ông Trịnh Minh Hải - Trưởng phòng NN&PTNT huyện Nam Trà My cho biết, gần đây tình hình dịch bệnh trên cây sâm Ngọc Linh diễn biến phức tạp với nhiều nguyên nhân như thời tiết khí hậu biến đổi thất thường; tập quán canh tác cây sâm Ngọc Linh dần được thay đổi; việc phòng trừ sâu bệnh cũng hết sức khó khăn, bởi không được dùng thuốc hóa học để phun phòng trừ trong khi người dân chưa tìm ra phương pháp phòng trừ hiệu quả Cơ quan chức năng chỉ hướng dẫn người dân phòng bệnh chủ yếu bằng các biện pháp canh tác thích hợp để hạn chế việc phát sinh dịch bệnh Ngoài ra, tình hình mua bán giả sâm, sâm không rõ nguồn gốc cũng diễn ra rất phức tạp Vì vậy, việc xác nhận nguồn gốc giống sâm Ngọc Linh trên địa bàn huyện là cấp bách và cần thiết
Vừa qua UBND huyện Nam Trà My đã lập đoàn công tác hướng dẫn nhóm hộ, hộ gia đình viết đơn đăng ký xác nhận nguồn gốc giống sâm Ngọc